1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam

116 649 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Tác giả ThS. Hoàng Văn Tuyền, TS. Phạm Ngọc Thường, ThS. Trần Việt Hà, ThS. Phạm Ngọc Hà, ThS. Vũ Thị Kim Tuyết, ThS. Phạm Thiên Hoàng, ThS. Nguyễn Thị Minh Nga, ThS. Nguyễn Lan Anh
Trường học Viện Chiến Lược Và Chính Sách KH&CN
Thể loại Đề tài cấp bộ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu của Nguyễn Hồng Việt 2001 về một số giải pháp khuyến khích DNV&N ĐMCN theo hướng thân môi trường cũng đã đề cập đến một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động ĐMCN của các DN

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KH&CN

ĐỀ TÀI CẤP BỘ

BÁO CÁO TỔNG HỢP

TÊN ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC VÀ

HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP LỚN TẠI VIỆT NAM

Nhóm thực hiện chính Đề tài:

ThS Hoàng Văn Tuyên, CNĐT (NISTPASS)

TS Phạm Ngọc Thường (Bộ NN&PTNT) ThS Trần Việt Hà (Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội) ThS Phạm Ngọc Hà (Học viện CT-HC quốc gia HCM) ThS Vũ Thị Kim Tuyết (Trung tâm đào tạo-Bộ Nội Vụ) ThS Phạm Thiên Hoàng (CIEM)

ThS Nguyễn Thị Minh Nga (NISTPASS) ThS Nguyễn Lan Anh (NISTPASS)

i

i X

e

Y Investment

D R

1 _

&

.(

βα

i

i X

e

Y Investment

D R

1 _

Y Investment

D R

1 _

&

.(

βα

Trang 2

MỤC LỤC

1.1 Tổng quan các nghiên cứu đã có ở Việt Nam 3

1.1.1 Tổng quan chung 3

1.1.2 Nhận xét 8

1.2 Bối cảnh trong và ngoài nước tác động tới việc hình thành tổ chức và hoạt động KH&CN trong DN lớn Việt Nam 8

1.2.1 Xu thế hướng tới nền kinh tế dựa trên tri thức, dựa trên KH&CN 8

1.2.2 Đầu tư vào KH&CN của các DN trên thế giới ngày càng tăng 9

1.2.3 Tăng mạnh khoảng cách chênh lệch trong việc tạo ra công nghệ trên thế giới và những khó khăn trong CGCN 10

1.2.4 Tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài DN cần phải có năng lực nội sinh 11

1.2.5 Xu thế phát triển các trường, viện trong DN 11

1.2.6 Xu thế quốc tế hóa hoạt động R&D của các DN lớn 12

1.2.7 Định hướng phát triển KH&CN Việt Nam 12

1.2.8 Những cơ hội và thách thức đối với các DN lớn Việt Nam 12

1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 13

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 13

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 13

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu 14

CH NG 2 NH NG V N LÝ THUY T 16 2.1 Khái niệm và vai trò của TĐKT/DN lớn 16

2.1.1 Vai trò của DN lớn nói chung 16

2.1.2 So sánh DN lớn và DNV&N trên phương diện hoạt động R&D 18

2.2 Hoạt động R&D và ĐMCN của DN 20

2.2.1 Hoạt động R&D và ĐMCN 20

2.2.2 Các hình thức tiến hành hoạt động R&D của DN 22

2.2.3 Vai trò của hoạt động R&D đối với DN 24

CH NG 3 KINH NGHI M N C NGOÀI 26 3.1 Kinh nghiệm về các biện pháp khuyến khích của nhà nước 26

3.1.1 Biện pháp trực tiếp 26

3.1.2 Biện pháp gián tiếp 28

3.1.3 Xây dựng môi trường có lợi cho hoạt động R&D của DN 33

3.1.4 Khuyến khích cán bộ tiến hành nghiên cứu cùng DN 35

3.1.5 Một số nhận xét chính sách của một số nước 37

3.2 Kinh nghiệm của một số DN lớn nước ngoài 37

3.2.1 Mô hình tổ chức 37

3.2.2 Chiến lược hoạt động R&D 38

3.2.3 Đầu tư và nhân lực R&D của các DN lớn 39

3.2.4 Hoạt động SHTT 40

3.2.5 Một số nhận xét 40

CH NG 4 HI N TR NG CÁC LO I HÌNH T CH C VÀ HO T NG KH&CN TRONG CÁC DN L N 41 4.1 Tổng quan về cuộc điều tra, khảo sát của Đề tài 41

Trang 3

4.1.1 Mẫu và cách thức điều tra 41

4.1.2 Phân tích dữ liệu điều tra 43

4.2 Hiện trạng loại hình tổ chức và hoạt động KH&CN của DN 43

4.2.1 Hiện trạng tổ chức KH&CN trong các DN 44

4.2.2 Nguồn gốc hình thành các tổ chức KH&CN 44

4.2.3 Mô hình tổ chức và quản lý 44

4.2.4 Hiện trạng KH&CN trong các DN 46

4.2.5 Kết quả hoạt động KH&CN trong các DN 51

4.3 Phân tích hồi qui 61

CH NG 5 CHÍNH SÁCH NH H NG N HO T NG KH&CN VÀ PHÁT TRI N CÁC LO I HÌNH T CH C KH&CN TRONG DN VI T NAM 67 5.1 Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động KH&CN của DN 67

5.2 Chính sách hỗ trợ gián tiếp cho hoạt động KH&CN của DN 74

5.3 Phát triển môi trường liên kết Viện/trường-DN 79

5.3.1 Chính sách chuyển đổi tổ chức KH&CN 80

5.3.2 Chính sách đào tạo cán bộ KH&CN 88

5.3.3 Chính sách phát triển hạ tầng KH&CN 90

5.3.4 Chính sách phát triển thông tin và tư vấn KH&CN 91

5.3.5 Chính sách về SHTT và quản lý tài sản vô hình DN 92

5.3.6 Chính sách về tạo ra, hoàn thiện và làm chủ công nghệ 94

5.4 Khuyến khích cán bộ có trình độ hoạt động KH&CN tại DN 95

CH NG 6 KHUY N NGH CHÍNH SÁCH 100 6.1 Cơ sở cho các khuyến nghị 100

6.2 Các khuyến nghị cụ thể 101

K T LU N 107

TÀI LI U THAM KH O 108

PH L C 111

Trang 4

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VÀ HỘP Danh mục các Bảng

Bảng 1.1 Đầu tư cho R&D của một số quốc gia (%GDP) 9

Bảng 2.1 Sự khác nhau giữa DN lớn và DNV&N trên phương diện R&D 19

Bảng 3.1 Lợi ích (thuế) của DN tính trên 1 $ đầu tư cho R&D 33

Bảng 3.2 Đầu tư cho R&D của một số DN (triệu €) 39

Bảng 4.1 Các DN trả lời phiếu điều tra phân theo quy mô 43

Bảng 4.2 Tổ chức KH&CN trong các TĐKT và DN lớn, tính đến 10/2010 44

Bảng 4.3 Chức trách của các bộ phận theo các giai đoạn của quá trình đổi mới 45

Bảng 4.4 Nguồn nhân lực trong 18 Viện, Trung tâm R&D thuộc các DN lớn 46

Bảng 4.5 Những lý do mà DN đầu tư cho hoạt động KH&CN 47

Bảng 4.6 Đầu tư của một số TĐKTNN cho KH&CN 48

Bảng 4.7 Cơ cấu các nguồn thu tài chính (tr.đ.) của đơn vị R&D trong DN 49

Bảng 4.8 Cơ cấu các khoản chi tài chính (tr.đ.) của đơn vị R&D trong DN 49

Bảng 4.9 Kết quả hoạt động trung bình tính cho 01 DN lớn 51

Bảng 4.10 Thực hiện các đề tài/dự án NCKH trong một số đơn vị R&D điển hình 52

Bảng 4.11 Thực hiện công tác đào tạo trong một số đơn vị R&D điển hình 53

Bảng 4.12 Tóm tắt một số hình thức hợp tác, liên kết hoạt động KH&CN 53

Bảng 4.13 Sự hài lòng của DN mẹ đối với đơn vị R&D trực thuộc 58

Bảng 4.14 Sự hài lòng của đơn vị R&D trực thuộc đối với DN mẹ 59

Bảng 4.15 Một số trở ngại/rào cản trong hoạt động KH&CN của DN 60

Bảng 4.16 Kế hoạch tiến hành hoạt động KH&CN của các DN 61

Bảng 4.17 Tóm tắt các biến trong mô hình hồi quy 63

Bảng 4.18 Kết quả chạy mô hình Probit 65

Bảng 4.19 Kết quả chạy mô hình Tobit 66

Bảng 5.1 Tình hình hỗ trợ kinh phí cho các DN theo NĐ119 68

Bảng 5.2 Kinh phí hỗ trợ DN phân theo sở hữu DN 68

Bảng 5.3 Hỗ trợ của nhà nước hiện nay cho hoạt động KH&CN của DN 74

Bảng 5.4 Tác động của các biện pháp đến với hoạt động KH&CN của DN 99

Danh mục các Hình Hình 1.1 Tỷ lệ chi cho R&D giữa các khu vực của một số nước 9

Hình 1.2 Các bước phát triển năng lực công nghệ DN (Somchai, 6/2009) 13

Hình 1.3 Khung phân tích của Đề tài 14

Hình 2.1 Sự khác nhau DN lớn và DNV&N trên phương diện R&D 19

Hình 2.2 Hoạt động S&T theo quan niệm của UNESCO 20

Hình 2.3 Mô hình đổi mới chuỗi liên kết (Kline và Rosenberg) 21

Hình 3.1 Mô hình tổ chức R&D kiểu tập trung 38

Hình 3.2 Mô hình tổ chức R&D kiểu phi tập trung 38

Hình 3.3 Mô hình tổ chức R&D kiểu kết hợp 38

Hình 3.4 Mô hình tổ chức toàn bộ hệ thống R&D của DN lớn 39

Hình 4.1 Mô tả đối tượng điều tra 42

Hình 4.2 Tổng quan các chỉ số đánh giá KH&CN 46

Hình 4.3 Trình độ công nghệ hiện tại và dự kiến của các DN 50

Hình 4.4 Nguồn gốc hình thành đề tài/dự án R&D của DN 58

Hình 4.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới R&D của DN (HVT, 2007) 62

Hình 5.1 Các mốc liên quan đến chuyển đổi tổ chức KH&CN VN (1986-nay) 80

Danh mục các Hộp Hộp 3.1 Các hình thức khuyến khích thuế cho DN đầu tư R&D của một số nước 29

Hộp 5.1 Minh họa về quan điểm hình thành Quỹ KH&CN của DN 73

Hộp 5.2 Tóm tắt một số chính sách ưu đãi thuế cho hoạt động KH&CN 75

Hộp 5.3 Một số thành công điển hình về liên kết KH&CN-SX 85

Hộp 5.4 Một số điển hình hợp tác trường-DN về nội dung đào tạo 88

Trang 5

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO

DN KH&CN doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Trang 6

MỞ ĐẦU

Trong báo cáo nghiên cứu các chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI) năm 2008/9 của 133 quốc gia/vùng lãnh thổ trên thế giới cho thấy mức độ cạnh tranh của Việt Nam năm 2008/9 ở mức trung bình (xếp hạng 70/133) Khi xem xét đến các nhân tố đổi mới1 của Việt Nam thì bức tranh cũng không mấy sáng sủa Năm 2008, Việt Nam được xếp thứ 71 (3,59 điểm) thấp hơn rất nhiều

so với Singapore (thứ 11 và 5,16 điểm), Malaysia (thứ 23 và 4,63 điểm), Indonesia (thứ 45 và 3,98 điểm), Thái Lan (thứ 46 và 3,91 điểm), Philippines (thứ 67 và 3,65 điểm) Vậy câu hỏi đặt

ra là tại sao các DN của Việt Nam lại kém về khả năng cạnh tranh như vậy? Để cải thiện khả năng cạnh tranh của mình, mỗi DN có những kế hoạch hành động khác nhau như: đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến thiết kế, kiểm soát chất lượng, tiến hành các hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) hoặc ngay chính tại DN hoặc hợp đồng R&D với các tổ chức bên ngoài, v.v Trong các hoạt động này của DN thì hoạt động R&D được xem là hoạt động đem lại lợi ích cho DN từ nhiều khía cạnh: giúp DN đưa ra thị trường những sản phẩm/dịch vụ có chất lượng, thúc đẩy năng lực công nghệ của chính DN, hấp thụ và đồng hoá công nghệ nhập, đổi mới công nghệ đang có, v.v Tuy nhiên, việc một DN tiến hành hoạt động R&D phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, cả yếu tố bên trong DN (như quy mô DN, nguồn lực và định hướng của DN, v.v ) cũng như các yếu tố bên ngoài DN (chủ yếu là môi trường thế chế chính sách hỗ trợ, v.v ) Gần đây, ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan ít nhiều đến vấn đề này, đặc biệt là các yếu tố ảnh hưởng đến ĐMCN của DNV&N Tuy nhiên, một bức tranh tổng thể về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động KH&CN cũng như mức độ đầu tư của các DN này (đặc biệt là các DN lớn) đối với KH&CN như thế nào hoặc chưa được xem xét và phân tích một cách sâu sắc hoặc còn mờ nhạt trong các tài liệu trên Xét theo giác độ đó, vấn đề nghiên cứu về chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động KH&CN ở các TĐKT và DN lớn tại Việt Nam là cần thiết

Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài nhằm cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động KH&CN ở các TĐKT và DN lớn tại Việt Nam

Đề tài này được thực hiện bởi chủ nhiệm đề tài Hoàng Văn Tuyên với sự cộng tác của một số NCV trong Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, một số cán bộ của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Nội vụ, Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và một số cán bộ khác Các tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới

Bộ Khoa học và Công nghệ đã hỗ trợ về kinh phí cho chúng tôi hoàn thành Đề tài này Lời cảm

ơn của tập thể tác giả cũng xin gửi tới các DN, TĐKT, TCT và một số đơn vị R&D trực thuộc

DN trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận đã dành nhiều thời gian và cung cấp cho chúng tôi nhiều số liệu, tư liệu (thông qua bảng hỏi) cũng như những ý tưởng bổ ích (thông qua các cuộc tọa đàm, trao đổi ý kiến) trong quá trình thực hiện Đề tài Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến sự giúp đỡ của TS Joseph Yoon (Bộ công nghiệp Australia) đã

1 Các nhân tố về đổi mới là chỉ số thứ 12 của GCI, các biến của các nhân tố đổi mới gồm: năng lực đổi mới, chất lượng của các Viện nghiên cứu, chi phí cho R&D từ khu vực DN, hợp tác viện-trường, chính sách của Chính phủ đối với những sản phẩm tiên tiến, năng lực của đội ngũ kỹ sư và nhà khoa học, số lượng pa-tăng được áp dụng, bảo

hộ SHTT

Trang 7

cung cấp nhiều tư liệu về chính sách khuyến khích trên cơ sở thuế cho DN hoạt động KH&CN của một số nước, sự giúp đỡ chân thành của Bà Đinh Hòa Bình (Tổng cục thống kê), Bà Hoàng Thị Bình, Bà Phạm Mai Anh và một số cán bộ khác của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN cùng chúng tôi tham gia khảo sát thực địa và nhiều công việc hành chính cho việc triển khai Đề tài Lời cảm ơn cuối cùng của Chủ nhiệm Đề tài xin dành cho vợ và các con đã có nhiều giúp đỡ, tạo điều kiện cũng như những hỗ trợ về tinh thần trong suốt quá trình thực hiện Đề tài này

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn Đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Tập thể tác giả xin hoan nghênh và trân trọng mọi ý kiến góp ý, bổ sung cho sản phẩm của mình

Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2010

Chủ nhiệm Đề tài

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN, BỐI CẢNH VÀ NHỮNG VẦN ĐỀ ĐẶT RA

1.1 Tổng quan các nghiên cứu đã có ở Việt Nam

Thời gian qua, ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu được thực hiện về những chủ đề ít nhiều có liên quan đến hoạt động KH&CN của DN, chủ yếu là các nghiên cứu về ĐMCN của

DN Phần này sẽ tổng quan một số nghiên cứu đã qua cũng như những kết luận rút ra từ những nghiên cứu đó, từ đó làm nảy sinh những luận điểm, gợi suy cho nghiên cứu của Đề tài

1.1.1 Tổng quan chung

Trong khuốn khổ của Chương trình 98A “Đồng bộ hoá cơ chế đổi mới quản lý KH&CN trong các năm 1985-1990”, đề tài 98A-02-05 hoàn thiện cơ chế kích thích đổi mới kỹ thuật trong các biện pháp quản lý sản xuất (Vũ Cao Đàm, 1989) đã có những nghiên cứu bổ ích về vấn đề này Nghiên cứu này đã đề cập khá toàn diện đến nhiều vấn đề liên quan đến chính sách tài chính cho KH&CN như chính sách giá, khấu hao, tạo vốn, lợi nhuận, tiền lương và tiền thưởng

Một dự án nghiên cứu liên quan đến hoạt động ĐMCN trong các DN là Dự án điều tra năng lực công nghệ một số ngành kinh tế do NISTPASS thực hiện trong các năm 1996 và 1997 Kết quả của dự án này cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới ĐMCN (theo thang điểm 5) như sau:

(i) những yếu tố bên trong DN: thiếu nhân lực có đủ trình độ chuyên môn (2,5 điểm); thiếu cơ hội hợp tác với các tổ chức KH&CN bên ngoài (2,7 điểm); tư tưởng bảo thủ, sợ đổi mới của DN (1,5 điểm)

(ii) những yếu tố khác: thiếu nguồn tài trợ thích hợp (3,9 điểm); môi trường luật pháp không thuận lợi (2,5 điểm); chế độ thuế không khích lệ đổi mới (3,4 điểm)

Như vậy về các yếu tố ảnh hưởng có thể thấy rằng các yếu tố về môi trường chính sách là ảnh hưởng nhiều đến hoạt động ĐMCN của DN, đặc biệt là các vấn đề về tài chính và thuế cũng như cơ hội hợp tác của các DN với các tổ chức nghiên cứu

Trong một số nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp chính sách cụ thể đối với hoạt động KH&CN phải kể đến các nghiên cứu như: Hoàng Trọng Cư, Nguyễn Lan Anh, Nguyễn Minh Hạnh và một số người khác (1999) “Nghiên cứu vấn đề thuế trong hoạt động KH&CN” Các tác giả đã đánh giá một cách khá đầy đủ về các sắc thuế được thể hiện trong các văn bản pháp quy

có liên quan đến hoạt động KH&CN, bao gồm nghiên cứu-triển khai, dịch vụ KH&CN và ĐMCN Kết quả của đề tài cho thấy rằng bên cạnh những tác động tích cực, các văn bản thuế này còn bộc lộ một số điểm không phù hợp

Ngoài ra trong một số văn bản còn cho thấy có sự phân biệt đối xử giữa các loại hình DN (quy mô, sở hữu) khác nhau, tạo ra một môi trường cạnh tranh không bình đẳng Một số nghiên cứu đề cập đến tín dụng cho hoạt động KH&CN (Nguyễn Thanh Tùng, 1999; Vũ Cao Đàm, 2003) cho thấy rằng tín dụng đối với hoạt động KH&CN hầu như không phát huy được hiệu quả

do sự khác nhau giữa bản chất hoạt động của ngân hàng và hoạt động KH&CN Vấn đề dịch vụ KH&CN hỗ trợ cho DN, tác giả Nguyễn Minh Nga (2003) nhận định chúng ta đã có một hệ thống các tổ chức tư vấn KH&CN khá lớn nhưng lại chưa có nhiều tổ chức tư vấn chuyên nghiệp

Trang 9

để cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng; lực lượng cán bộ tư vấn KH&CN thiếu kiến thức và kinh nghiệm; thị trường tư vấn chưa được thiết lập, cạnh tranh không lành mạnh; các chính sách của nhà nước còn nhiều bất cập và chưa đồng bộ Vấn đề nhân lực (đào tạo, tuyển dụng và đãi ngộ) KH&CN nói chung và R&D nói riêng đã được đề cập trong một số nghiên cứu (Trần Xuân Định, 1991-1995; Ngô Quý Việt, 1998; Trần Chí Đức, 1999, 2000; Nguyễn Thị Anh Thu, 2000, 2005; Hoàng Xuân Long, 2004 và một số nghiên cứu khác) Những nghiên cứu này

đã đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện và thay đổi chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN nói chung và tất nhiên kể cả hoạt động KH&CN trong các DN Việt Nam

Trong nghiên cứu của Nguyễn Hồng Việt (2001) về một số giải pháp khuyến khích DNV&N ĐMCN theo hướng thân môi trường cũng đã đề cập đến một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động ĐMCN của các DNV&N gồm: (i) các yếu tố bên trong DN (yếu tố kỹ thuật, yếu tố con người, yếu tố quản lý tổ chức, yếu tố thông tin và khả năng tài chính); (ii) các yếu tố bên ngoài DN như thị trường, môi trường kinh doanh, các chính sách của chính quyền và cộng đồng Ngoài chính sách liên quan đến môi trường, các chính sách liên quan đến thị trường, dịch vụ hỗ trợ là những biện pháp cần thiết để kết nối hiệu quả hơn những yếu tố bên trong và bên ngoài cho đổi mới của DN Ngoài ra còn những ưu đãi về thuế, tín dụng cũng là những biện pháp khuyến khích DN ĐMCN

Nghiên cứu của Trần Ngọc Ca (2000) “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động ĐMCN và R&D trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam” đã đề cập về 2 mảng chính sách (tài chính và nhân lực) ảnh hưởng đến ĐMCN của

DN Các kết quả của nghiên cứu này chỉ ra:

- Về chính sách tài chính, bên cạnh những điểm tích cực của những chính sách này cũng cho thấy có sự chưa phù hợp của môi trường chính sách với nhu cầu của hoạt động ĐMCN trong DN;

- Về chính sách nhân lực: thứ nhất là các chính sách về giáo dục đào tạo nhân lực, mặc dù

đã có những thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của tình hình mới và có những đóng góp đáng kể nhưng còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế như cơ cấu đào tạo, trình độ ngành nghề đào tạo và chất lượng đào tạo thấp; thứ hai là chính sách tuyển dụng và di chuyển lao động, vấn đề biên chế cứng của các tổ chức kinh tế đã tạo ra tình trạng mất cân đối về tương quan tỷ lệ lao động, phương thức quản lý cũ tạo ra tình trạng sử dụng không hợp lý lao động KH&CN; thứ ba chính sách tiền công, tiền lương: lực lượng cán bộ có kỹ thuật cao chưa nhận được sự hỗ trợ của các chính sách này, mức lương không những thấp mà còn mang nặng tính bình quân, bất lợi cho lực lượng lao động có trình độ chuyên môn, lao động công nghệ và nghiên cứu-triển khai;

- Có khá nhiều các văn bản được xây dựng thúc đẩy các DN trong hoạt động ĐMCN, nhưng lại không được các DN biết đến và sử dụng (số DN không biết đến văn bản là 28-100% với đa phần là trên 50% tuỳ theo chính sách);

- Sự thiếu vắng các thể chế hỗ trợ như các cơ quan trung gian, các cơ quan tư vấn, các hình thức tạo liên kết giữa DN và trường đại học, viện nghiên cứu và giữa các DN với nhau

Trang 10

Nghiên cứu của Nguyễn Võ Hưng (2005) “Nghiên cứu cơ chế và chính sách KH&CN khuyến khích ĐMCN đối với DNV&N có vốn nhà nước” đã tập trung vào phân tích các chính sách điều chỉnh hoạt động KH&CN ảnh hưởng tới hoạt động đổi mới của DNV&N nói chung và hành vi đổi mới của DNV&N thuộc các loại hình sở hữu khác nhau Nghiên cứu này đã tập trung vào 4 nhóm vấn đề hỗ trợ ĐMCN cho các DNV&N là: (i) tạo/hoàn thiện/làm chủ những công nghệ phù hợp với DNV&N; (ii) thúc đẩy CGCN cho DNV&N; (iii) trợ giúp kỹ thuật cho DNV&N trong quá trình đổi mới; (iv) hỗ trợ tài chính cho DNV&N thực hiện đổi mới Kết quả nghiên cứu của đề tài chỉ ra rằng tuy còn thiếu những chính sách theo tư duy linh hoạt, hiện vẫn còn khá nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho DNV&N trong ĐMCN Hạn chế chung lớn nhất của những chính sách này là phần lớn chưa được thực hiện Nguyên nhân của tình trạng này là do thứ nhất, nhiều chính sách còn tham vọng, năng lực thực hiện chính sách (bao gồm cả khả năng về tài chính) của nhiều bộ, ngành, địa phương chưa cho phép thực hiện tốt chính sách đó Thứ hai,

là sự xung đột chính sách, dẫn đến việc chính sách bị giảm hiệu lực, thậm chí vô hiệu hoá Thứ

ba là công tác phổ biến chính sách còn chưa tốt khiến nhiều chính sách tuy tiến bộ nhưng không được phổ biến nên cũng làm giảm hiệu lực

Một kết quả nữa trong nghiên cứu này là tác giả đã nhấn mạnh sự “bất bình đẳng” giữa doanh nhiệp nhà nước (DNNN) và DNV&N trong các lĩnh vực nói chung và trong lĩnh vực KH&CN nói riêng Theo tác giả thì các DNNN ở Việt Nam nhận được nhiều ưu ái hơn các DN thuộc các thành phần kinh tế khác ở một số nội dung này nhưng lại gặp khó khăn ở một số nội dung khác Cũng từ nhận định này tác giả cho rằng nhà nước không nên có những cơ chế chính sách về KH&CN khuyến khích ĐMCN riêng cho các DNV&N có vốn nhà nước mà phải nhắm tới mọi loại hình DN, kể cả DN có vốn đầu tư nước ngoài

Về vấn đề mối quan hệ giữa loại hình DN và hoạt động KH&CN trong các loại hình DN khác nhau cũng đã có một số tác giả khác đề cập đến Những biểu hiện thực tế của sự khác nhau trong hoạt động KH&CN giữa DNNN và DN ngoài nhà nước (DNNNN) đã được tác giả Hoàng Xuân Long (2002) liệt kê như: Số hợp đồng KH&CN với viện/trường của DNNNN thấp hơn khá nhiều so với DNNN; Số đề tài nghiên cứu được hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách nhà nước (NSNN) ở DNNN lớn hơn nhiều so với DNNNN; Việc thu hút lao động có trình độ KH&CN vào các DNNN khó khăn hơn DNNNN

Sau khi phân tích các đặc điểm của DN ngoài quốc doanh, những khó khăn vướng mắc của các DN này trong quá trình phát triển KH&CN (vốn, năng lực công nghệ, kỹ thuật, trình độ lao động và quản lý, thiếu thông tin kiến thức, v.v ), tác giả Lê Nguyên Lương (2006) đưa ra một nhóm các giải pháp chính sách thúc đẩy các DN này phát triển KH&CN Nhóm các giải pháp này gồm: Xác định nhiệm vụ KH&CN; Ứng dụng kết quả KH&CN; Hỗ trợ dịch vụ KH&CN; Đào tạo nguồn nhân lực KH&CN; Các ưu đãi về thuế khóa

Đã có một số nghiên cứu về vấn đề liên kết, liên doanh giữa khu vực nghiên cứu, đào tạo

và khu vực DN (Nguyễn Văn Học, 1998; Hoàng Xuân Long, 1999; Nguyễn Thanh Thịnh; Nguyễn Việt Hoà, 2004 và một số người khác) Các nghiên cứu này đều nhận định là mối quan

hệ giữa khu vực nghiên cứu và đào tạo với khu vực DN còn rất yếu Nguyên nhân của vấn đề

Trang 11

này xuất phát từ cả 2 hai phía: từ chính bản thân DN và từ môi trường chính sách của nhà nước chưa thực sự thúc đẩy mối liên kết này

Trong một nghiên cứu gần đây của Hoàng Xuân Long (2006) “Phân tích một số mô hình liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với DN để phát triển công nghệ mới”, sau khi phân tích một số mô hình liên kết viện-trường-DN, tác giả đã chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến sự liên kết này, gồm: Lãnh đạo DN phải thực sự coi trọng KH&CN Đồng thời thái độ đối với KH&CN phải thể hiện cụ thể ở các mặt như đầu tư kinh phí cho R&D, chú trọng phát triển bộ phận R&D trong DN; Có chiến lược phát triển kinh doanh và định hướng phát triển công nghệ rõ ràng; DN phải nắm vững thông tin và có khả năng phân tích về các đối tác cần liên kết; Xây dựng được quan hệ tin cậy lẫn nhau; Phối hợp chặt chẽ giữa DN với viện, trường trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ liên kết, thay vì giao trọn gói cho viện hoặc trường tiến hành nghiên cứu; Chú trọng vận dụng kinh nghiệm nước ngoài vào điều kiện Việt Nam Những yếu tố này cũng có thể được xem như là những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động R&D của DN

Trong nghiên cứu của Nguyễn Việt Hoà (2007) “Nghiên cứu tác động của cơ chế, chính sách công đến việc khuyến khích DN đầu tư vào KH&CN”, tác giả so sánh hai hình thức đầu tư vào KH&CN dựa vào cơ chế chính sách và không dựa vào cơ chế chính sách Nói cách khác tác giả đã phân tích hai hình thức DN được hưởng lợi và không được hưởng lợi từ cơ chế chính sách Kết quả của đề tài cho thấy đối tượng được hưởng lợi từ cơ chế chính sách của nhà nước chủ yếu là các DN cổ phần và DN nhà nước Bên cạnh đó là một số tổ chức đã chuyển đổi từ viện/trung tâm nghiên cứu thành DN Đối tượng không được hưởng lợi từ cơ chế chính sách của nhà nước hoặc không quan tâm đến các cơ chế chính sách của nhà nước hoặc chủ yếu là các DN ngoài nhà nước Sau khi phân tích hai hình thức đầu tư dựa vào cơ chế chính sách và không dựa vào cơ chế chính sách, tác giả đã chỉ ra một số yếu tố thúc đẩy/cản trở DN đầu tư vào KH&CN

đó là: (i) hội nhập kinh tế và cạnh tranh đang diễn ra mạnh mẽ, đổi mới là một trong những vấn

đề sống còn của DN, bên cạnh đó cơ chế thị trường hiện nay tác tác động đến hành vi đầu tư vào KH&CN của DN; (ii) nguồn thông tin đối với DN (các DNNN có lợi thế nguồn thông tin hơn các DNNNN); chi tiêu quốc gia cho KH&CN còn thấp; DN thiếu cộng tác với các tổ chức KH&CN; tách biệt giữa yếu tố KT-XH với các chính sách; cam kết và nhận thức của DN; năng lực đổi mới và năng lực KH&CN của DN còn yếu; cơ chế chính sách CGCN phức tạp dẫn đến

DN hạn chế chuyển giao; thiếu liên kết và hợp tác giữa tổ chức R&D và DN xuất phát từ sự thiếu tinh thần trách nhiệm đối với xã hội; thiếu quyết đoán, thiếu sự thoả hiệp, thiếu tinh thần hợp tác, thiếu sự sẵn sàng giúp đỡ, nhiều sự né tránh bất hợp tác; thiếu sự tác động kịp thời của nhà nước;

và cuối cùng là thiếu ngôn ngữ giao tiếp, đàm phán và ký kết

Nghiên cứu của Cao Thu Anh (2007) “Nghiên cứu đánh giá chính sách hỗ trợ về tài chính cho hoạt động ĐMCN của DN theo Nghị định 119”, tác giả đã sử dụng Nghị định 119 như một trường hợp điển hình khi phân tích, đánh giá chính sách tài chính cho hoạt động ĐMCN của

DN Nghiên cứu đã sử dụng mô hình tuyến tính (đầu tư cho KH&CN sẽ dẫn tới ĐMCN và ĐMCN sẽ dẫn tới nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả SX-KD và cuối cùng là tăng năng suất) để phân tích chính sách tài chính theo tinh thần Nghị định 119 Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra: Thứ nhất, khung lý thuyết đưa ra trong Nghị định 119 còn có những chỗ hổng căn bản bởi

vì đầu tư cho KH&CN (thường là cung cấp các trợ cấp cho hoạt động R&D), một hình thức của

Trang 12

ĐMCN, không phải lúc nào cũng dẫn đến ĐMCN bởi vì những rủi ro có thể xảy ra khi thực hiện hoạt động R&D và các nguyên nhân khác Thứ hai, các khuyến khích về tài chính không phải là nhân tố quyết định việc ĐMCN của DN Các khuyến khích về tài chính sẽ mang lại những thành công nếu các điều kiện khác cho ĐMCN sẵn có Thứ ba, Nghị định 119 sử dụng công cụ thuế và các tài trợ về R&D để thúc đẩy đầu tư cho hoạt động KH&CN không hấp dẫn đối với các DN bởi vì tính không linh hoạt của các khuyến khích về thuế và quy trình khó khăn khi DN xin tài trợ Thứ tư, trong trường hợp các DN Việt Nam, các khuyến khích về tài chính không hấp dẫn đối với các DN có số lượng công nhân hạn chế hoặc ở trong các ngành dịch vụ khi nhu cầu ĐMCN của họ rất thấp và việc thực hiện các hoạt động R&D là rất khó khăn vì thiếu đội ngũ nhân lực Cuối cùng là những quy định quá khắt khe trong Nghị định (mức hỗ trợ tối đa là 30%

và thời gian được phê duyệt rất dài) buộc các DN phải tìm những cách khác để thực hiện dự án ĐMCN của mình hơn là trông chờ vào sự hỗ trợ này của nhà nước

Nghiên cứu của Hoàng Văn Tuyên (2007) “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động R&D của DN” Tác giả đã phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động R&D của DN Tuy nhiên, đây là đề tài cấp cơ sở nên nội dung nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng mới chỉ dừng lại ở nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng

Gần đây là nghiên cứu của Nguyễn Minh Hạnh (2009) “Nghiên cứu vai trò của hoạt động R&D nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNV&N trong bối cảnh hội nhập” Sau khi phân tích các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh cho các DNV&N, mối quan hệ giữa hoạt động R&D và năng lực cạnh tranh của DNV&N cũng như trường hợp điển hình ngành cơ khí ở Vĩnh Phúc, tác giả đã nêu lên một số đề xuất về chính sách cho vấn đề này đó là: tạo lập môi trường bình đẳng cho các DNV&N và đặc biệt là một số hỗ trợ cho các DNV&N thông qua R&D Tuy nhiên, nghiên cứu của Đề tài cũng chỉ đưa ra một số khuyến nghị mang tính gợi ý về tài chính cho hoạt động R&D của DN (hoàn thiện NĐ119, áp dụng cơ chế cấp tài chính cho doanh nghiệp để R&D các sản phẩm trọng điểm, các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh)

Ngoài ra, cũng có một số bài báo và tham luận hội thảo về một số điển hình tiên tiến của hoạt động KH&CN trong một số DN

Về phía Nhà nước, ở cấp Trung ương cũng đã có một số văn bản đề cập đến một số cơ chế chính sách khuyến khích DN đầu tư vào hoạt động R&D (Nghị định 119/1999/NĐ-CP ngày

18 tháng 9 năm 1999) Hiện nay Bộ KH&CN bắt đầu triển khai thực hiện đề án Quỹ đổi mới công nghệ, chương trình đổi mới công nghệ quốc gia (thực hiện Luật CGCN có hiệu lực từ ngày 01/7/2007) và một số văn bản khác Ở cấp địa phương điển hình là các chương trình của Tp Hồ Chí Minh đã xây dựng một số mô hình tổ chức nhằm đưa hoạt động KH&CN phục vụ phát triển kinh tế- xã hội (chương trình hỗ trợ DN hiện đại hóa với chi phí thấp, tạo ưu thế cạnh tranh tổng hợp và đẩy mạnh xuất khẩu – chương trình CT04 với 13 chương trình nhỏ), các địa phương như Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Vĩnh Long đang xây dựng cơ chế khuyến khích các DN trên địa bàn tỉnh đầu tư vào KH&CN Có thể nói đây chính là một số nỗ lực của nhà nước (cả Trung ương lẫn địa phương) về cơ chế chính sách tác động đến hoạt động KH&CN của các DN

Trang 13

Các nghiên cứu tập trung vào một số các khía cạnh khác nhau về môi trường chính sách ảnh hưởng đến hoạt động ĐMCN của DN (đa số là các DNV&N), đặc biệt là các vấn đề về tài chính, thuế, tín dụng và nhân lực (trừ trường hợp nghiên cứu của Hoàng Xuân Long, 2006 khi nghiên cứu một số mô hình liên kết viện/trường - DN, tác giả đã đưa ra một số yếu tố trong nội tại DN ảnh hưởng đến liên kết);

Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra có sự phân biệt đối xử về mặt chính sách liên quan đến hoạt động R&D và ĐMCN giữa DN thuộc khu vực nhà nước và DN ngoài nhà nước

Hầu như chưa có nghiên cứu nào tập trung vào tổ chức KH&CN và hoạt động KH&CN trong DN nói chung, các TĐKT, DN lớn, tổng công ty (90, 91) nói riêng nhất là trong thời kỳ

đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và công nghiệp hóa-hiện đại hóa hiện nay

Trong bối cảnh như vậy, một số vấn đề nảy sinh dẫn đến nhu cầu nghiên cứu của Đề tài là: Thứ nhất, các DN Việt Nam mới chủ yếu dừng lại ở ĐMCN (theo cách tiếp cận tuyến tính của một số tác giả)? Thứ hai, thực tế hoạt động R&D và ĐMCN của DN, đặc biệt là các DN lớn Việt Nam hiện nay chủ yếu bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nào? Thứ ba, các chính sách của nhà nước đã ban hành cho đến nay có những thành công nào cần phát huy, hạn chế nào cần khắc phục để thúc đẩy hoạt động hoạt động KH&CN của DN, đặc biệt là DN lớn?

1.2 Bối cảnh trong và ngoài nước tác động tới việc hình thành tổ chức và hoạt động KH&CN trong DN lớn Việt Nam

1.2.1 Xu thế hướng tới nền kinh tế dựa trên tri thức, dựa trên KH&CN

Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà sự tăng trưởng, phát triển của nó không còn dựa chủ yếu vào các nguồn lực tự nhiên như trong xã hội công nghiệp, mà chủ yếu dựa vào nguồn tri thức KH&CN (loại nguồn lực có khả năng tái tạo, tự sinh sản và không bao giờ bị cạn kiệt) Nền kinh tế tri thức có những đặc điểm tác động trực tiếp tới sự lựa chọn định hướng phát triển KH&CN của một quốc gia đó là: Hàm lượng kiến thức, thông tin cao trong sản phẩm và dịch vụ;

Sự phát triển dựa trên nền tảng “chất xám”, tri thức và thông tin; Sự liên kết mạng và sự tích hợp trong các hoạt động của nền kinh tế; Nhân tố con người và vai trò của tri thức, kỹ năng của nhân lực là yếu tố quyết định trong cạnh tranh và phát triển; Sự linh hoạt, uyển chuyển trong điều chỉnh và phát triển kinh tế Từ những đặc điểm trên đây, khu vực DN (đặc biệt là các DN lớn) của các nước đang phát triển như Việt Nam có thể tận dụng những lợi thế, khắc phục những bất lợi thế của xu thế này để phát triển

Trang 14

1.2.2 Đầu tư vào KH&CN của các DN trên thế giới ngày càng tăng

Như phần trên đã chỉ ra, xu thế hướng tới nền kinh tế dựa trên tri thức, dựa trên KH&CN

đòi hỏi gia tăng đầu tư của nhà nước và toàn xã hội vào hoạt động KH&CN Bảng 1.1 dưới đây

minh họa tổng mức đầu tư cho R&D của toàn xã hội so với GDP của một số nước lựa chọn

Bảng 1.1 Đầu tư cho R&D của một số quốc gia (% GDP)

Quốc gia Năm 1997 1999 2001 2003 2005 2007 2008

OECD, Main Science and Technology Indicators

Ngoài NSNN, nguồn kinh phí từ khu vực DN và nước ngoài cũng là 2 nguồn kinh phí rất quan trọng đối với hoạt động R&D, đặc biệt là nguồn kinh phí từ khu vực DN đang có xu hướng

tăng lên trong các quốc gia trong những năm gần đây Hình 1.1 dưới đây chỉ ra tỷ lệ đầu tư cho

KH&CN giữa các khu vực của một số nước Số liệu trên hình cho thấy trong các nước phát triển như châu Âu, Mỹ và Nhật Bản thì tỷ lệ đầu tư cho KH&CN từ khu vực ngoài nhà nước chiếm đa số

Nhật Bản

Mỹ Đức Pháp Anh EU-25 Trung Quốc (2007)

Việt Nam (tb 2000-nay)

% Chính phủ

% tư nhân

% nguồn khác

Hình 1.1 Tỷ lệ chi cho R&D giữa các khu vực của một số nước (UNDP 2008, WB 2009, số liệu

của Việt Nam lấy theo B/c của Bộ KH&CN)

Bên cạnh các nguồn kinh phí đầu tư vào hoạt động R&D kể trên, một nguồn kinh phí khác cũng rất quan trọng đối với các đổi mới dựa trên khoa học đó là vốn mạo hiểm/rủi ro (VC) Nguồn vốn này tập trung chủ yếu vào một số ngành được gọi là CNC như ICT, dược phẩm và CNSH và đặc biệt phát triển trong những quốc gia có thị trường tài chính phát triển mạnh

Trang 15

1.2.3 Tăng mạnh khoảng cách chênh lệch trong việc tạo ra công nghệ trên thế giới và những khó khăn trong CGCN

Trên thực tế, các sản phẩm nghiên cứu KH&CN chủ yếu được tạo ra ở các nước công nghiệp phát triển Như vậy, các nước đang phát triển chủ yếu sẽ là mua công nghệ từ bên ngoài, đặc biệt là từ 3 cực của thế giới Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản Do vậy, dù có lạc quan đến đâu, cũng không thể hy vọng xoá bỏ cách biệt giữa nước tạo ra và nước ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học

Bên cạnh đó, hoạt động CGCN đang ngày trở nên khó khăn hơn Các nước đang phát

- Công nghệ sẵn có để lựa chọn khá hạn chế vì bản chất độc quyền của bên cung cấp công nghệ - Thậm chí người ta còn nói tới xu thế trao đổi quốc tế trong tương lai sẽ chuyển sang

phương thức trao đổi “công nghệ - công nghệ” (techology for techology) nhiều hơn là “công nghệ - tiền ” (techology for money exchange)

- Thị trường giao dịch công nghệ chưa hoàn hảo, có nơi mới hình thành thành ở mức độ

sơ khai

- Vị thế yếu để mặc cả giá công nghệ chuyển giao

- Các điều kiện và thời gian CGCN bị hạn chế

- Năng lực tiếp nhận công nghệ thấp

- Năng lực hấp thụ, nghiên cứu và phát triển công nghệ còn kém

- Sự phụ thuộc ngày càng cao vào các nước cung cấp công nghệ do tốc độ đổi mới công nghệ quá nhanh, vòng đời công nghệ ngắn

- Thiếu những điều kiện vật chất, kỹ thuật cần thiết để ứng dụng và triển khai công nghệ hiện đại

- Nhiều công nghệ hiện đại của các nước công nghiệp phát triển không thích hợp lắm với những điều kiện cụ thể của các nước đang phát triển

- Phần lớn các nước đang phát triển thường tồn tại tình trạng thiết chế xã hội kém năng động, thị trường KH&CN nhỏ hẹp, không có được động lực cho việc tiếp nhận, làm chủ và đổi mới công nghệ nhập

Mặt khác, ngay khi hạn chế chủ quan đã được khắc phục thì vẫn còn những trở ngại đáng

kể từ phía chuyển giao Điều này khá rõ trong quan hệ với đối tác ở các nước phát triển Khẩu hiệu tự do hợp đồng và độc lập thương thảo được coi là nguyên tắc vàng của pháp luật về hợp đồng, nhưng trên thực tế, pháp luật của nhiều nước không chỉ hạn chế tự do của thế lực độc quyền trong việc quy định nội dung của hợp đồng chuẩn mà còn nghiêm cấm đưa vào hợp đồng những quy định vi phạm đến lợi ích của các chủ thể tham gia quá trình chuyển giao Quyền tự do giao kết hợp đồng bị pháp luật các nước hạn chế theo nhiều cách: cấm hoặc hạn chế xuất khẩu

2 Theo: Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia “Tổng luận Khoa học - Công nghệ - Kinh tế”, số 3/2005, tr 8-9

Trang 16

sản phẩm theo li-xăng; ấn định giá cho sản phẩm SX-KD theo li-xăng; ràng buộc bắt mua vật tư,

cấm tiếp nhận hoặc sử dụng các công nghệ bổ sung hoặc cạnh tranh; các hạn chế có liên quan tới cải tiến và chuyển hoá công nghệ; các điều khoản không lành mạnh khác như bắt buộc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa của bên giao li-xăng, cấm bên nhận li-xăng khiếu kiện về hiệu lực của quyền

Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra các công ty ở những nước công nghiệp phát triển thường sử dụng các thủ đoạn hạn chế đối tác trong CGCN Điển hình là những biện pháp mà các công ty

1.2.4 Tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài DN cần phải có năng lực nội sinh

Việc mua bán, sử dụng kết quả nghiên cứu từ bên ngoài nhiều khi được nhìn nhận chỉ là tìm kiếm, sử dụng những gì vốn có sẵn thay vì phải tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học thực sự Tuy nhiên, đó là quan điểm giản đơn không thực tế

tạo ra tại các nước công nghiệp phát triển ngày càng đòi hỏi phải có những năng lực nhất định

Để một nước tiếp cận được với tri thức thế giới thì nước đó phải có một đội ngũ ổn định các nhà KH&CN cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học và có khả năng trao đổi lâu dài những kiến thức mới với các cộng đồng khoa học quốc tế; mặt khác cũng phải có nền SX-KD nội sinh tạo ra tri thức và sự chuyển giao đều đặn về thông tin giữa giới nghiên cứu với giới kinh tế và chính trị trên bình diện quốc gia cũng như bình diện quốc tế

1.2.5 Xu thế phát triển các trường, viện trong DN

Trường ĐH cho công nghiệp (UfI): Vào tháng 4/1998, chính phủ Anh xây dựng chương

trình Trường Đại học cho công nghiệp (UfI) Mục tiêu trọng tâm của các trường đại học này đóng vai trò như cơ quan trung gian và môi giới giáo dục, tạo điều kiện cho DN tiếp cận đến các chuẩn về giáo dục và đào tạo, đồng thời cũng khuyến khích các nhu cầu mới và phát triển các sản phẩm và dịch vụ đổi mới từ khu vực công nghiệp: Cải tiến khả năng thiết kế và viết báo cáo, đáp ứng những kỹ năng cần thiết của các DN, đào tạo lực lượng lao động và đào tạo đội ngũ chuyên gia trong một số lĩnh vực

Trường Đại học của DN: Đây là xu thế mà một số DN tầm cỡ đang theo đuổi, điển hình

là trường Đại học Motorola, trường Đại học Ford Mô hình trường Đại học của DN xây dựng các

chương trình đào tạo nghề ngay tại DN (in-house), tập trung nhiều hơn vào chất lượng chuyên

môn và chất lượng kinh doanh để cập nhật các kỹ năng cho cán bộ-những người đã tốt nghiệp Đại học và sau đại học phục vụ cho DN

Trang 17

1.2.6 Xu thế quốc tế hóa hoạt động R&D của các DN lớn

Các công ty đa/xuyên quốc gia ngoài việc quốc tế hóa các hoạt động SX-KD, họ còn đang tập trung vào việc tăng tỷ lệ hoạt động R&D ở nước ngoài Các DN Mỹ năm 2002 đã thực hiện 10% các hoạt động R&D của họ ở nước ngoài Đặc biệt là Trung Quốc, Brasil, Ấn Độ, Singapore là các nước có nhiều chính sách ưu đãi các DN nước ngoài hình thành các đơn vị R&D ngay tại nước mình Việc đầu tư nước ngoài tập trung vào R&D có thể giúp các nước tăng cường năng lực đổi mới, nắm vững hơn việc điều khiển các thiết bị hiện đại và tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, phức tạp Tuy nhiên, xu thế này cũng tạo ra nhiều thách thức đối với các nước có các công ty đa/xuyên quốc gia thành lập đơn vị R&D bởi phải có một đội ngũ cán bộ có chất lượng cũng như thể chế về R&D và đổi mới tốt mới có thể tận dụng được những lợi ích của các đơn vị R&D nước ngoài này

1.2.7 Định hướng phát triển KH&CN Việt Nam

+ Xu thế chuyển từ nền kỹ thuật chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, sự khéo léo sang nền kỹ thuật chủ yếu dựa trên sự hiểu biết, tri thức khoa học KH&CN từ chỗ biệt lập hoặc còn tách rời hay phụ thuộc vào sản xuất thành một ngành mà sản phẩm của nó là các sản phẩm và dịch vụ khoa học, được xếp ngang hàng với sản xuất vật chất và được quy vào quỹ đạo chung của sản xuất xã hội, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp đối với nền sản xuất xã hội KH&CN được coi

là một nguồn lợi giàu có của quốc gia

+ Xu thế đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống KH&CN theo hướng xã hội hóa, kết hợp KH&CN với sản xuất, kế hoạch với thị trường, hội nhập với khu vực và quốc tế

+ Xu thế lấy việc ứng dụng, tiếp nhận CGCN là chính; đi thẳng vào công nghệ hiện đại ở những ngành và lĩnh vực đòi hỏi phải vươn lên cạnh tranh trên thị trường trong, ngoài nước, hoặc những lĩnh vực cơ sở hạ tầng, dịch vụ đòi hỏi sớm phải tương hợp quốc tế để hội nhập KH&CN phải góp phần nâng cao năng lực công nghệ quốc gia, hỗ trợ việc tiếp thu, làm chủ và cải tiến công nghệ nhập Kết hợp hài hoà giữa nhập công nghệ hiện đại và phát triển công nghệ truyền thống

+ Xu thế phát triển kinh tế, phát triển SX-KD dựa vào KH&CN

1.2.8 Những cơ hội và thách thức đối với các DN lớn Việt Nam

Những xu thế trên tạo ra nhiều cơ hội cho các DN Việt Nam, đặc biệt là các DN lớn trong việc tiếp thu, đồng hóa, CGCN để rồi dần dần tự tiến hành các hoạt động R&D (theo các bước

phát triển năng lực công nghệ như trong Hình 1.2) và chế tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới để

mở rộng thị trường và tăng lợi thế cạnh tranh

Trang 18

Labor Intensive Skill Intensive

Technology Intensive

R&D Intensive

Tuy nhiên, những vấn đề trên cũng tạo ra nhiều thách thức, đặc biệt là sức ép cạnh tranh

từ các công ty đa/xuyên quốc gia với hàm lượng chất xám chứa trong sản phẩm/dịch vụ cao Điều này hơn lúc nào hết đòi hỏi các DN Việt Nam, đặc biệt là các DN lớn cần phải ý thức được tầm quan trọng của hoạt động R&D đối với DN để có một chiến lược phát triển dựa vào R&D đúng đắn

1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là các TĐKT7, tổng công ty, các DN lớn (kể cả sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân, cổ phần) và các cơ quan KH&CN thuộc các DN lớn này (sẽ được

mô tả kỹ hơn trong phần phân tích thực trạng ở chương 4)

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về đối tượng: trong các loại hình DN lớn của Việt Nam: sản xuất-chế tạo

(manufacturing), dịch vụ (service), Đề tài tập trung chủ yếu vào khối DN mà ngành nghề chính

thuộc khu vực sản xuất-chế tạo (manufacturing); về sở hữu nhà nước và tư nhân và cổ phần, không nghiên cứu về loại hình DN 100% vốn nước ngoài

- Về không gian: nghiên cứu chủ yếu các DN lớn trên địa bàn Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh

và một số DN điển hình ở các tỉnh lân cận của 2 thành phố này

- Về thời gian: đánh giá các cơ chế, chính sách có tác động đến hoạt động KH&CN của

DN từ thời kỳ đổi mới (1986); hoạt động KH&CN của DN trong 3 năm gần đây (2007-2009)

6 Somchai Chatrana, PGĐ Cục phát triển KH&CN của Thái Lan

7 Hiện nay các TĐKTNN đang chuyển sang mô hình Công ty TNHHNN một thành viên

CN Dệt

CN nông nghiệp và thực phẩm

CN gỗ và SP gỗ Nhựa, kim loại, cao su, hóa học

Năng lượng và môi trường

Phần mềm

Y, dược

Trang 19

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu có liên quan trong và ngoài nước - desk study (thu thập

tài liệu, phân tích tài liệu, tổng hợp tài liệu);

- Phương pháp phi thực nghiệm (phương pháp chuyên gia, phương pháp hội thảo);

- Phương pháp thực nghiệm điều tra bằng phiếu hỏi (questionnaire) và nghiên cứu trường hợp (case study);

- Phương pháp thống kê và kiểm chứng số liệu;

- Phương pháp quy nạp

Các nội dung chính của Đề tài được thể hiện trong khung phân tích dưới đây (Hình 1.3):

Hình 1.3 Khung phân tích của Đề tài

Hiện trạng Việt Nam

• Kinh nghiệm cơ chế, chính

sách của một số nước lựa chọn

• Kinh nghiệm của một số DN

lớn lựa chọn

Tổng quan và Bối cảnh

(Chương 1)

• Tổng quan các nghiên cứu đã có

• Bối cảnh trong và ngoài nước

Đề xuất và khuyến nghị

Trang 20

Tổng quan, bối cảnh và những vấn đề đặt ra cho Đề tài được nêu tại Chương 1 Chương

này sẽ tổng quan lại những nghiên cứu gần đây về chủ đề liên quan đến tổ chức và hoạt động R&D và ĐMCN của DN, những nội dung đã làm được và một số nội dung cần tiếp tục nghiên cứu trong Đề tài này Đồng thời, Chương này còn xem xét bối cảnh quốc tế và trong nước tạo cơ hội và thách thức gì cho các DN lớn Từ hai nội dung này hình thành các vấn đề nghiên cứu (RQ) mà Đề tài cần đi sâu giải quyết

Những vấn đề lý thuyết được đề cập ở Chương 2 Ngoài những vấn đề liên quan đến

TĐKT, vai trò của DN lớn đối với sự phát triển KT-XH đất nước, chương này mô tả các khía cạnh khác nhau về hoạt động R&D và vai trò của hoạt động này đối với DN, các hình thức tiến

hành hoạt động R&D của DN (tiến hành ngay tại DN –in-house hoặc hợp tác tiến hành các dự án

R&D với viện nghiên cứu/ trường đại học/ DN khác hoặc kết hợp cả hai hình thức)

Phân tích kinh nghiệm nước ngoài được đề cập tại Chương 3 Chương này đưa ra kinh

nghiệm của một số nước về mặt cơ chế, chính sách của nhà nước khuyến khích DN tiến hành hoạt động R&D và ĐMCN cũng như kinh nghiệm của một số DN lớn điển hình trong việc xây dựng và phát triển hoạt động KH&CN nói chung, tổ chức KH&CN trực thuộc nói riêng

Hiện trạng các loại hình tổ chức và hoạt động KH&CN trong các TĐKT và DN lớn được

trình bày tại Chương 4 Chương này tổng quan tình hình thực tế đang diễn ra về hoạt động

KH&CN của các DN, các mô hình tổ chức cơ quan KH&CN trực thuộc và những đóng góp của KH&CN trong DN đối với sự phát triển của DN Đồng thời chương này phân tích một số trường hợp điển hình về hoạt động KH&CN cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động R&D của họ Đồng thời cuối chương này, dựa trên kết quả điều tra có được, Đề tài tiến hành phân tích định lượng (chạy thử nghiệm mô hình hồi qui Probit và Tobit) về một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động R&D của DN lớn Việt Nam

Chính sách ảnh hưởng đến hoạt động KH&CN và phát triển các loại hình tổ chức

KH&CN trong DN Việt Nam được phân tích tại Chương 5 Chương này phân tích các nhóm

chính sách cơ bản (chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động KH&CN của DN; Chính sách hỗ trợ gián tiếp-chủ yếu là ưu đãi thuế; Phát triển môi trường liên kết viện/trường-DN và cuối cùng là chính sách khuyến khích cán bộ cho hoạt động KH&CN tại DN) có ảnh hưởng đến hoạt động KH&CN và phát triển các loại hình tổ chức KH&CN trong DN nói chung, DN lớn nói riêng thời gian qua

Chương cuối cùng của Đề tài (Chương 6) trình bày một số đề xuất chính sách nhằm

khuyến khích DN hoạt động KH&CN trong thời gian tới

Trang 21

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm và vai trò của TĐKT/DN lớn

Mô hình Tập đoàn trong SX-KD đã được hình thành, phát triển từ hàng chục năm nay và

đã rất quen thuộc với các nước phát triển Quan niệm về TĐKT và nhận diện về loại hình TĐKT

là rất đa dạng TĐKT ở các nước khác nhau được gắn với những tên gọi khác nhau Ở mỗi quốc

gia có thể có những tên gọi khác nhau, ví dụ như ở Đức, Pháp, Mỹ thì gọi là: Cartel, Syndicate,

Trust, Group, hay ở Nhật Bản là Zaibatsu (trước chiến tranh thế giới thứ hai) và sau chiến tranh

là Keiretsu, Ấn Độ dùng thuật ngữ Bussiness Houses, ở Hàn Quốc là Chaebol, Trung Quốc dùng

thuật ngữ Tập đoàn DN, v.v… Ở Việt Nam dùng tên gọi là TĐKT Sự đa dạng về tên gọi hay thuật ngữ sử dụng nói lên tính đa dạng của hình thức liên kết được khái quát chung là TĐKT

Đa số các nước phân loại DN lớn, DN vừa, DN nhỏ và DN siêu nhỏ theo quy mô lao động và/hoặc doanh thu hàng năm Các nước châu Âu xác định DN lớn là các DN có trên 250 lao động hoặc doanh thu hàng năm trên 50 triệu € DN lớn ở Nhật Bản và Hàn Quốc là những

DN có trên 500 lao động Tại Việt Nam, tiêu chí DN lớn đã được thay đổi một vài lần và hiện nay theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ là những DN có tổng nguồn vốn trên 100 tỷ đồng hoặc số lao động trên 300 người (áp dụng đối với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản và khu vực công nghiệp và xây dựng), có tổng số vốn trên 50 tỷ đồng hoặc số lao động trên 100 người (áp dụng đối với khu vực thương mại và dịch vụ) Như vậy, DN lớn trong Đề tài này cũng tuân thủ tiêu chí của NĐ56

Thứ nhất, cho phép các nhà quản lý kinh doanh huy động được tối đa các nguồn lực trong

xã hội để phục vụ việc phát triển kinh tế, việc tập trung nhiều công ty vào trong một đầu mối làm cho họ có điều kiện thuận lợi cho việc chống cạnh tranh với các Tập đoàn nước ngoài

Đối với các nền kinh tế mới phát triển mà nền công nghiệp trong nước còn manh mún thì các DN lớn là một biện pháp hữu hiệu để chống sự thâm nhập một cách ồ ạt của các công ty khổng lồ trên thế giới; đồng thời giúp cho sản xuất trong nước có thể đứng vững và từng bước vươn ra được các thị trường khu vực và thế giới

Thứ hai, việc hình thành DN lớn là một đòi hỏi thực tế và khách quan nhằm khắc phục

khả năng hạn chế về vốn Trong DN lớn, nguồn vốn được huy động từ các công ty thành viên và được tập trung đầu tư vào những công ty, những dự án có hiệu quả nhất, những dự án tạo ra sức mạnh quyết định cho sự phát triển DN mình, đáp ứng nhu cầu thu lợi nhuận tối đa cho Công ty thành viên và toàn DN Hơn nữa, vốn của công ty này được huy động đầu tư vào công ty khác và ngược lại, giúp cho các công ty liên kết với nhau chặt chẽ hơn, quan tâm đến hiệu quả nhiều hơn

và giúp nhau phát huy có hiệu quả nguồn vốn của các công ty và của cả DN mẹ

Sự phối hợp và thống nhất giữa các công ty thành viên trong thực hiện một chiến lược công nghệ chung tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn khâu quan trọng có ý nghĩa đột phá với công nghệ thích hợp trong CGCN với chi phí thấp nhất, giảm lãng phí về vốn, tập trung được

8 Tham khảo nghiên cứu của Bùi Thiên Sơn, 2007

Trang 22

nguồn lực vào thực hiện những mục tiêu chiến lược có lợi cho tất cả các công ty thành viên và cho cả DN lớn

Thứ ba, DN lớn có tác dụng rất lớn trong việc cung cấp trao đối thông tin và những kinh

nghiệm quan trọng trong tổ chức nghiên cứu-triển khai và ứng dụng KH&CN vào SX-KD9 Sự hợp tác về nghiên cứu-triển khai, ứng dụng KH&CN trong DN lớn còn cho phép các công ty thành viên có khả năng đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào thực tiễn trên quy mô rộng lớn hơn, nâng cao hiệu quả của hoạt động nghiên cứu ứng dụng và thu hồi vốn nhanh Nhờ việc này mà các DN thành viên giảm được hao mòn vô hình, sự thống nhất trong việc nhập các thiết bị sẽ tránh trùng lắp và có thể chỉ cần một số loại thiết bị trong một dây chuyền, giảm chi phí và tránh

bị ép giá Sự thống nhất trong nội bộ DN lớn sẽ góp phần thúc đẩy CGCN ra nước ngoài cũng như việc thay đổi cơ cấu sản xuất một cách hợp lý Nó là cầu nối để tiếp thu nhanh chóng các thành tựu khoa học trên thế giới, làm thu hẹp khoảng cách về trình độ giữa các nước chậm phát triển và các nước phát triển

DN lớn có tác dụng lớn trong việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và triển khai, ứng dụng các thành tựu KH&CN mới vào SX-KD của các công ty thành viên Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN mới đòi hỏi một khối lượng vốn rất lớn, có sự hợp lực của đội ngũ cán bộ nghiên cứu và cần có các PTN, máy móc, thiết bị nghiên cứu mà mỗi công ty riêng lẻ khó có khả năng huy động được Chỉ có trên cơ sở liên kết các công ty lại mới tạo được tiềm năng nghiên cứu khoa học to lớn đó

DN lớn có ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp, trao đổi thông tin và những kinh nghiệm quan trọng trong tổ chức nghiên cứu-triển khai, ứng dụng khoa học công nghệ giữa các công ty thành viên Những thông tin cần thiết và kinh nghiệm trong CGCN từ các công ty thành viên được phổ biến rộng rãi trong DN lớn Nhờ đó, tránh được những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra

do thiếu những hiểu biết cơ bản trong CGCN nước ngoài

Ngoài ra, việc hình thành DN lớn còn có ý nghĩa tăng cường hiệu quả quản lý, sử dụng lợi thế về quy mô và kết hợp các ưu thế của sự chuyên môn hóa với hoạt động kinh doanh đa dạng và tách bạch được quản lý hành chính và quản lý kinh doanh đối với các công ty thành viên Phần lớn các DN lớn có cơ quan nghiên cứu thống nhất – cơ quan thực hiện chức năng mà một DN riêng lẻ khó có thể đảm đương nổi, như thu nhập thông tin, dự đoán thị trường, nghiên cứu kỹ thuật tiên tiến, dự báo xuất khẩu của các DN cùng ngành Trong kinh doanh, chúng có thể giúp DN riêng lẻ đàm phán đối ngoại khi kinh doanh ngoại thương, cùng mua cùng bán trên thị trường, vay vốn ngân hàng và xác lập tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm

Thứ tư, việc hình thành các DN lớn sẽ làm thay đổi bộ mặt xã hội cho từng địa phương

hay một quốc gia, nó giải quyết được nhiều việc làm, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyên môn hóa các ngành nghề, thúc đẩy phát triển các đặc khu kinh tế, các khu công nghiệp và làm tăng khả năng lớn mạnh của nền kinh tế

9 Vào cuối những năm 1990s các DN (trên 500 lao động) ước tính thực hiện 93% toàn bộ các R&D của DN ở Nhật Bản, 81% ở Mỹ, 78% ở EU và 74% ở các nước Bắc Âu Ở Hàn Quốc vào năm 1997 có tới 87% R&D được thực hiện ở các DN lớn, chiếm 93% của BERD, vào năm 2000, 5 DN lớn nhất ở Hàn Quốc chiếm 35% của BERD và 30% tổng số NCV trong khu vực DN

Trang 23

Thứ năm, DN lớn có ý nghĩa quan trọng đối với các nước mới công nghiệp hóa, là giải

pháp để bảo vệ sản xuất trong nước, cạnh tranh lại với các công ty đa/xuyên quốc gia, Tập đoàn lớn của các nước khác Ưu thế cạnh tranh của các DN lớn được đặt trên nền tảng các ưu thế về quy mô sản xuất, KH&CN và kể cả việc thu thập thông tin của thị trường Với việc tạo ra sản lượng lớn, các DN lớn còn chiếm được ưu thế về lao động và chuyên môn hóa về mặt sản xuất

so với các DN nội địa nhỏ hơn Tận dụng ưu thế về giá lao động rẻ của nhiều quốc gia, các DN lớn giao cho các chi nhánh hoặc công ty con của chúng ở các nước này sản xuất ra các bộ phận cấu thành khác nhau của sản phẩm Hơn thế nữa, các DN lớn và các chi nhánh của chúng thường tiếp cận tốt hơn đối với các thị trường vốn quốc tế so với các công ty thuần túy nội địa, và chính điều này tạo cho chúng một vị thế thuận lợi hơn khi tìm nguồn tài trợ cho các dự án lớn

Bên cạnh đó, trong những điều kiện cụ thể, với sự hỗ trợ tích cực của nhà nước và định hướng chiến lược đúng đắn, các DN lớn ở các nước công nghiệp mới còn có thể vươn ra và không ngừng mở rộng, củng cố thị trường trên thế giới, kể cả thị trường các nước phát triển

2.1.2 So sánh DN lớn và DNV&N trên phương diện hoạt động R&D

Nhiều tài liệu nghiên cứu nước ngoài đã đề cập đến mối quan hệ giữa quy mô DN và mức

độ các hoạt động R&D Ngay từ năm 1934 nhà kinh tế học Schumpeter đã cho rằng các DN có quy mô lớn sẽ có lợi thế hơn các DN có quy mô nhỏ trong việc đầu tư cho hoạt động R&D Sau

đó một số tác giả khác cũng đã giải thích về sự khác nhau giữa DN lớn và DN nhỏ trên phương diện hoạt động R&D và thương mại hoá kết quả R&D Sự giải thích này dựa trên một số lập luận:

- DN lớn có vốn lớn hơn các DN nhỏ nên có khả năng chi cho R&D nhiều hơn Các DN nhỏ rất khó thực hiện các dự án R&D, đặc biệt là các dự án liên ngành, đa lĩnh vực;

- Sáng chế/sáng tạo và đổi mới thường đòi hỏi phải mua sắm các trang thiết bị chuyên dùng đắt tiền và các nhà nghiên cứu ngày càng chuyên môn hóa sâu và có quan hệ rộng rãi Các điều kiện R&D như thế được sử dụng có hiệu quả hơn ở các DN có quy mô lớn;

- Mỗi dự án R&D đều có độ bất định và rủi ro, đặc biệt là khi các nghiên cứu này được thực hiện trên những lĩnh vực có ‘tính mới’ cao DN quy mô lớn có thể tiến hành đồng thời nhiều

dự án cho nên rủi ro của từng dự án có thể được chia sẻ, rủi ro của dự án này có thể được trang trải bằng thành công của dự án khác;

- Các DN lớn có thể chờ thu hồi vốn trong một thời gian dài hơn Như chúng ta đã biết, đổi mới cần có thời gian vì vậy các DN lớn có thể đầu tư và chấp nhận thời gian thu hồi vốn dài hơn các DN nhỏ;

- Hoạt động R&D hay đón nhận những kết quả không mong chờ Các DN lớn thường kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, hoạt động trên nhiều thị trường, do đó có điều kiện đa dạng hóa sản phẩm thuận lợi hơn các DN nhỏ Điều này cho phép họ khai thác kết quả của các hoạt động nghiên cứu, đổi mới sản phẩm và công nghệ một cách hiệu quả hơn, phân chia rủi ro một cách dễ dàng hơn

Trang 24

Bên cạnh đó năng lực về tài chính của DN cụ thể cũng bị tác động bởi sự sẵn có của các

nguồn vốn tài trợ đầu tư cho R&D và ĐMCN mà DN có thể tiếp cận được Sự khác nhau giữa

DN lớn và DNV&N trên phương diện hoạt động R&D được tóm tắt trong Bảng 2.1 và Hình 2.1

Bảng 2.1 Sự khác nhau giữa DN lớn và DNV&N trên phương diện R&D

DN lớn DNV&N

Ưu điểm:

- Có khả năng gia tăng chi phí cho hoạt động

R&D trong quá trình sản xuất dài;

- Có khả năng phân tán và chia sẻ rủi ro nhờ khả

năng đa dạng hoá các dự án R&D;

- Có khả năng thu hút đội ngũ cán bộ giỏi làm

công tác nghiên cứu (số lượng lớn các nhà khoa

học có thể tương tác và thảo luận ý tưởng);

- Có khả năng phát triển các mạng lưới hợp tác

KH&CN quy mô lớn với các cơ quan bên ngoài;

- Có khả năng triển khai các kết quả R&D trong

- Khó có khả năng phân tán và chia sẻ rủi ro;

Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu của Del Canto and González, 1999

Hình 2.1 Sự khác nhau DN lớn và DNV&N trên phương diện R&D

Trang 25

2.2 Hoạt động R&D và ĐMCN của DN

2.2.1 Hoạt động R&D và ĐMCN

i) Hoạt động R&D

R&D là hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách hệ thống để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hoá, xã hội và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới Thuật ngữ R&D bao gồm 3 loại hoạt động: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng

và triển khai (Frascati, 2002-23) Chúng ta có thể hình dung hoạt động R&D trong mô tả hoạt

động S&T theo quan niệm của UNESCO (Hình 2.2)

STS

Hình 2.2 Hoạt động S&T theo quan niệm của UNESCO

FR - nghiên cứu cơ bản, tạo ra các lý thuyết

AR - nghiên cứu ứng dụng, tạo ra các nguyên lý ứng dụng

D - triển khai, tạo ra các vật mẫu (prototype)

TT - chuyển giao tri thức bao gồm cả CGCN

T - phát triển công nghệ

STS - dịch vụ KH&CN, cung ứng các dịch vụ KH&CN

Ở đây cần làm rõ khái niệm “phát triển công nghệ” Phát triển công nghệ bao quát tất cả

các giai đoạn “phát triển công nghệ sau D”, là hoạt động chủ yếu trong nội dung sản xuất của

DN, trong đó khái niệm “phát triển công nghệ” bao gồm những nội dung chủ yếu: (i) Lập kế hoạch và thực hiện các kế hoạch nâng cấp hoặc mở rộng công nghệ, trong đó phát triển công nghệ được hiểu như “mở mang công nghệ”; (ii) Nhập công nghệ và CGCN nhằm mở mang các lĩnh vực công nghệ của sản xuất theo chiều rộng và chiều sâu; (iii) Quản lý kỹ thuật và công nghệ, giám định công nghệ và đánh giá trình độ công nghệ Như vậy, phát triển công nghệ phải được hiểu là sự “mở mang công nghệ” theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu (Vũ Cao Đàm, 2003)

“Mở mang công nghệ theo chiều sâu” chính là sự nâng cấp công nghệ (Upgrading) từ

trình độ thấp lên một trình độ cao hơn Nội dung này thuộc phạm trù của chính sách đổi mới

(innovation policy)10 Đó là sự ĐMCN dựa trên kết quả R&D các công nghệ của bản thân DN hoặc ký hợp đồng CGCN để nhận một công nghệ có trình độ cao hơn từ các DN khác (chuyển

giao ngang), hoặc nhận một công nghệ mới từ kết quả pilot của các tổ chức R&D (chuyển giao

dọc), hoặc thậm chí ký hợp đồng CGCN từ nước ngoài (bao gồm cả chuyển giao dọc và chuyển giao ngang)

“Mở mang công nghệ theo chiều rộng” chính là sự nhân rộng từ một dây chuyền công nghệ của DN thành hai, ba hoặc nhiều dây chuyền công nghệ có cùng chức năng và cùng trình

độ như dây chuyền công nghệ ban đầu Nội dung này thuộc phạm trù của chính sách đối với sản

10 Xem thêm Hoàng Văn Tuyên, 2006

Trang 26

xuất, nằm ngoài mối quan tâm của hệ thống KH&CN của một số quốc gia, đặc biệt là ở các quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ

Từ đây, trong nghiên cứu này khái niệm “R&D” được hiểu như là các hoạt động D và trước D và với cách quy ước này thì DN có thể tiến hành các hoạt động:

Nghiên cứu cơ bản (tạo ra các lý thuyết) để mở rộng tri thức về các quá trình cơ bản liên quan đến những gì DN sản xuất, nghiên cứu chiến lược (theo nghĩa là nghiên cứu phù hợp với ngành sản xuất của mình nhưng không có ứng dụng cụ thể) nhằm mở rộng phạm vi các dự án ứng dụng;

Nghiên cứu ứng dụng (tạo ra các nguyên lý ứng dụng) nhằm cho ra những sáng chế cụ thể hoặc những cải tiến đối với các kỹ thuật hiện có;

Triển khai: Giai đoạn này gồm: thiết kế mẫu, triển khai và thử nghiệm, nghiên cứu tiếp để cải tiến thiết kế hoặc chức năng kỹ thuật

ii) R&D và ĐMCN

Thuật ngữ R&D và ĐMCN thường được nhắc đến đồng thời trong các tài liệu nghiên cứu

về đổi mới Đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ (SP&QTCN) bao gồm các sản phẩm và qui trình mới về công nghệ được thực hiện và cải tiến công nghệ đáng kể trong sản phẩm và qui trình Một đổi mới SP&QTCN được thực hiện nếu nó đưa được ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong qui trình sản xuất (đổi mới qui trình) (Oslo, 2005-48)

Như vậy, hoạt động đổi mới SP&QTCN bao gồm một loạt các khâu liên quan đến KH&CN, tổ chức, tài chính và thương mại, kể cả đầu tư vào tri thức mới/hoàn thiện hơn về mặt

công nghệ R&D chỉ là một trong các hoạt động này và có thể được thực hiện ở các giai

đoạn khác nhau của quá trình đổi mới R&D có thể có tác dụng không chỉ với tư cách là cội

nguồn của các ý tưởng sáng tạo mà còn là phương tiện giải quyết vấn đề mà có thể cần đến ở bất

cứ thời điểm nào trước khi quyết định thực hiện (Hình 2.3)

ra mẫu

1 2 3 Thiết kế chi tiết và thử nghiệm

1 2 3 Thiết kế lại

và sản xuất

Phân phối

và tiếp thị

Đổi mới và marketing

Hình 2.3 Mô hình đổi mới chuỗi liên kết (Kline và Rosenberg)

Trang 27

Trong mô hình này, khi xuất hiện vấn đề trong quá trình đổi mới, DN sẽ cần đến cơ sở tri thức của mình vào thời điểm cụ thể Cơ sở tri thức này được tạo nên từ các kết quả R&D trước đây và từ các kinh nghiệm thực tiễn và kỹ thuật Hệ thống R&D sẽ đảm nhận chức năng mà cơ

sở tri thức hiện có không giải quyết được

2.2.2 Các hình thức tiến hành hoạt động R&D của DN

DN tiến hành hoạt động R&D dưới nhiều hình thức khác nhau như tiến hành hoạt động

R&D ngay tại DN (in-house R&D), hợp tác tiến hành hoạt động R&D (collaborative R&D) hay

hợp đồng R&D với các tổ chức, cá nhân khác trong và ngoài nước

i) Tiến hành hoạt động R&D ngay tại DN (in-house R&D)

Các DN tiến hành hoạt động R&D ngay tại DN mình để bảo vệ giá trị thương mại của những sản phẩm đầu ra, ngăn cản các đối thủ cạnh tranh tiếp cận thông tin, bí quyết kỹ thuật và những kỹ năng quan trọng Điều này đặc biệt quan trọng đối với các DN có vòng đời sản phẩm ngắn, những DN có những sản phẩm dễ thâm nhập thị trường hoặc những DN đang bảo vệ vị trí của mình trong một thị trường thích hợp có giá trị cao

Một nguyên nhân khác khiến các DN tiến hành hoạt động R&D ngay tại DN là để tận dụng năng lực bên trong đang có Những kỹ năng R&D đặc biệt hữu dụng đối với các sản phẩm, qui trình hay dịch vụ của DN

Hình thức tổ chức có thể là viện/ trung tâm/ phòng/ ban R&D độc lập, có thể là các cá nhân/tập thể cùng nhau tiến hành hoạt động R&D theo chủ đề/dự án cụ thể

Các hoạt động hợp tác có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau Những hình thức này thay đổi từ các hình thức hợp tác R&D chính thức như cùng nhau tiến hành nghiên cứu, hợp đồng nghiên cứu hay cấp phép công nghệ đến các hình thức phi chính thức khác như tài trợ nghiên cứu, tư vấn công nghệ, đào tạo, CGCN, dịch vụ R&D (dịch vụ thử nghiệm, lắp ráp), sử dụng sáng chế, cụ thể:

- Cộng tác trong R&D (cùng nhau tiến hành thực hiện các dự án R&D, hợp đồng nghiên cứu, tư vấn KH&CN, hợp tác trong đổi mới);

- Lưu chuyển cán bộ (lưu chuyển nghiên cứu viên từ DN sang viện nghiên cứu, trường đại học và ngược lại);

Trang 28

- Hợp tác trong giáo dục và đào tạo (nghiên cứu thực tế tại DN, cùng nhau hướng dẫn luận văn);

- Sử dụng quyền sở hữu trí tuệ (cấp phép công nghệ cho DN và nhận hoa hồng);

- Thương mại hoá kết quả R&D (bán sáng chế, li-xăng, các nhà khoa học thành lập các

DN dựa trên công nghệ mới - NTBF);

- Liên hệ không chính thức (tư vấn, trao đổi thông tin, tài trợ học bổng, v.v )

Ở đây cũng cần nhấn mạnh rằng các DN tiến hành hợp tác R&D với các tổ chức khác không có nghĩa là DN đó không tiến hành hoạt động R&D tại DN mình và ngược lại Nói như

vậy có nghĩa là nếu DN tiến hành R&D “in-house” hay “hợp tác” tức là hoạt động đó tiến hành

tại DN nhiều hơn và việc lựa chọn tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể Điều này sẽ được giải thích ngay dưới đây (phần 2.2.2.iii)

iii) Nên chọn in-house R&D hay hợp tác R&D?

Các DN tham gia vào hợp tác R&D bởi vì việc hợp tác cho phép các DN sử dụng những nguồn lực bên ngoài – cơ hội công nghệ - cho mục tiêu trực tiếp và hiệu quả của chính DN Cơ hội công nghệ được xác định các nguồn lực bên ngoài hiện có và có thể khai thác được của DN

(Cohen, 1995; Dosi, 1988; Klevorick et al., 1995) Những cơ hội này rất đa dạng, thay đổi theo

loại hình và tính hữu ích không chỉ giữa các ngành công nghiệp mà còn giữa các DN Sức mạnh

và nguồn các cơ hội công nghệ là những yếu tố quan trọng giải thích cho những thay đổi về cường độ R&D và năng suất R&D giữa các DN và giữa các ngành công nghiệp (Arvanitis and Hollenstein, 1994; Nelson and Wolff, 1997; Sterlacchini, 1994)

Hợp tác R&D là một chiến lược hiệu quả để thích nghi các nguồn lực bên ngoài chỉ khi mối quan hệ chi phí-lợi ích của việc cùng nhau R&D là tích cực hoặc ít nhất được mong đợi là tích cực Lợi ích của việc cùng nhau tiến hành hoạt động R&D có thể được mô tả như sau (Becker and Peters, 1998; Camagni, 1993; Robertson and Langlois, 1995):

- Cùng tài trợ cho R&D,

- Tránh sự lặp lại trong R&D,

- Giảm tính không chắc chắn,

- Tiết kiệm chi phí,

- Hiện thực hoá quy mô hoạt động,

- Rút ngắn thời gian phát triển

Những hạn chế của hợp tác R&D gây ra bởi chi phí giao dịch (Coase, 1937; Pisano, 1990; Williamson, 1989) đặc biệt trong việc điều phối, quản lý và kiểm soát các hoạt động R&D giữa các tác nhân khác nhau Chi phí giao dịch liên quan chủ yếu đến các chủ đề sau:

- Thống nhất các cấu trúc, quá trình ra quyết định, v.v ,

- Điều phối của các tổ chức khác nhau, v.v ,

Trang 29

- Phối hợp của các tài sản, nguồn lực bổ sung, v.v ,

- Giá giao dịch của những tài sản vô hình, ví dụ thông tin hay know-how,

- Khai thác kết quả từ hợp tác R&D

Ngoài ra, hợp tác R&D còn gặp phải những rủi ro ẩn không mong đợi, chẳng hạn như thất bại trong nghiên cứu, chậm trễ trong triển khai, v.v Đồng thời có thể xuất hiện hành vi mang tính cơ hội chủ nghĩa như những vấn đề nguy hại về đạo đức Bởi vì những nỗ lực R&D riêng lẻ không quan sát được trực tiếp, các bên có xu hướng tập trung vào lợi ích của chính họ khi chọn mức độ đầu tư vào R&D

Nếu việc thích nghi những nguồn lực bên ngoài rẻ hơn in-house R&D, thì ký kết hiệp

định giữa các tổ chức trong hoạt động R&D là một cách hiệu quả để mở rộng và tối ưu hoá hoạt động đổi mới của DN xét về hiệu quả nghiên cứu, lợi ích và khả năng cạnh tranh Hợp tác R&D đưa ra những khả năng chuyển giao tri thức hiệu quả, trao đổi nguồn lực và học hỏi Những tài sản bổ sung và năng lực công nghệ có thể được phối hợp, kết hợp tạo ra những động lực và hiệu quả bổ sung lẫn nhau

2.2.3 Vai trò của hoạt động R&D đối với DN

Như Hình 2.3 đã chỉ ra tầm quan trọng của hoạt động R&D đối với DN trong quá trình

đổi mới SP&QTCN Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng đầu tư vào R&D có ảnh hưởng nhiều nhất đến khả năng đổi mới của một DN (Dosi, 1998; Freeman and Soete, 1997) Theo các tác giả Guan và Ma (2003) thì năng lực R&D là một trong 7 năng lực quan trọng của đổi mới11 Các DN đổi mới xem xét hoạt động R&D như là một hợp phần chủ yếu của phát triển DN nói chung bởi

việc đưa ra thị trường các sản phẩm có chất lượng cao, tăng cường sự tự chủ và khả năng hấp

thu công nghệ, thích nghi và nâng cấp các công nghệ nhập, từ đó dẫn đến khả năng xuất khẩu của DN được cải thiện, tránh nhập các công nghệ lạc hậu và tiết kiệm ngoại tệ (Sikka, 1998)

Dưới đây tóm tắt một số vai trò của hoạt động R&D đối với DN nói chung

i) Tăng cường năng lực công nghệ cho DN

Sự cạnh tranh gay gắt về thị trường sản phẩm, buộc các DN phải tăng cường năng lực công nghệ của mình bằng việc hình thành các trung tâm R&D, trung tâm thiết kế mới để đưa ra thị trường những sản phẩm có sức cạnh tranh cao

Theo Cohen và Levinthal (1989), hoạt động R&D có một vai trò kép Các DN đầu tư vào R&D không chỉ để đổi mới mà còn để phát triển và duy trì năng lực của mình trong việc xác định, đồng hoá và sử dụng tri thức từ môi trường bên ngoài Nói cách khác, một trong những nguyên nhân mà DN tiến hành hoạt động R&D là để phát triển cái gọi là “năng lực tiếp thu” Trong ngữ cảnh đó, R&D nội tại DN đóng góp cho năng lực tri thức bên trong, cho phép sử dụng

một cách hiệu quả bí quyết kỹ thuật (know-how) bên ngoài (Arora and Gambardella, 1994)

Tương tự như vậy, Chesbrough (2003) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì khả năng lồng ghép giữa năng lực R&D bên trong và R&D bên ngoài Xét theo quan điểm này, thì DN đổi

11

Theo Guan và Ma thì 7 năng lực đổi mới của DN gồm: năng lực học hỏi, năng lực R&D, năng lực chế tạo, năng lực marketing, năng lực tổ chức, năng lực khai thác nguồn lực và năng lực chiến lược

Trang 30

mới với những thành tựu và năng lực R&D của mình được xem như là chiến lược hữu dụng, nhờ chiến lược này mà thành tựu thu được của các DN đổi mới ngày một tăng thêm bởi những nỗ lực R&D trước đó Điều này giải thích vì sao một số DN đầu tư cho nghiên cứu cơ bản - nghiên cứu

mà các kết quả không trực tiếp thương mại ngay được (Dessyllas and Hughes, 2005)

ii) Tăng vị thế của DN

Cấp phép công nghệ đang phát triển trong những năm gần đây trong các ngành công nghiệp CNC như công nghệ sinh học, hoá chất, bán dẫn và phần mềm máy tính Đây là một phần trong sự phát triển của thị trường công nghệ Cấp phép công nghệ thường được xem như một sự

thay thế cho in-house R&D Chẳng hạn, trong những mô hình cạnh tranh R&D, một khi DN

chiến thắng trong cuộc đua thì các DN khác sẽ chấm dứt in-house R&D của họ Như vậy các đối

thủ trên thị trường cạnh tranh nhau để thay thế giấy phép công nghệ bằng các dự án in-house

R&D (Gallini and Winter, 1985, Shapiro, 1985 and Katz and Shapiro, 1987)

Tuy nhiên, trên thị trường công nghệ, nếu bên mua có được thông tin tốt hơn sẽ tốt hơn

Thật vậy, rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng in-house R&D bổ sung cho việc nhận giấy phép

công nghệ bằng việc tăng cường khả năng sử dụng các cơ hội công nghệ và cho phép các DN lựa chọn hiệu quả hơn, tập trung nhiều hơn vào những nguồn công nghệ bên ngoài có giá trị hơn (Arora and Gambardella, 1994, Rosenberg, 1990, and Cohen and Levinthal, 1990)

Gans & Stern (1999) đề xuất mối quan hệ giữa R&D và nhận giấy phép công nghệ:

in-house R&D làm giảm giá của công nghệ được cấp phép bởi việc tăng cường năng lực trả giá của

người nhận giấy phép công nghệ Theo họ, in-house R&D suy cho cùng là một sự thay thế cho

công nghệ được cấp phép Tuy nhiên, đầu từ vào R&D tăng cường khả năng của người tiếp nhận công nghệ tiềm năng để phát triển đổi mới của chính họ và vì vậy cải thiện vị trí đàm phán của người nhận phép công nghệ, do đó giảm giá của công nghệ được cấp phép

iii) Tăng cường hoạt động xuất khẩu của DN

R&D là một hoạt động sản xuất thâm dụng tri thức trong một DN Các DN tham gia vào các hoạt động R&D có lợi thế cạnh tranh trong việc xuất khẩu sang các nơi khác không có loại sản phẩm đó Ngoài ra, các DN đầu tư nhiều cho R&D có thể giữ vị trí hàng đầu trong thị trường công nghệ khi họ sáng tạo ra những sản phẩm mới hoặc những quy trình sản xuất mới Các DN này sẽ có được lợi thế cạnh tranh cao hơn so với các DN khác trong cùng ngành công nghiệp

Do đó việc đầu tư vào R&D thành công sẽ đưa đến những sản phẩm có sức cạnh tranh cao và dẫn đến một chiến lược xuất khẩu của các DN và tất nhiên lợi nhuận của DN sẽ tăng lên, lợi nhuận tăng thì DN có nhiều khả năng để tái đầu tư vào R&D trong chu kỳ tiếp theo Cứ như vậy tạo ra một vòng xoáy đi lên xuất khẩu và hoạt động R&D của DN

iv) Tăng trưởng và phát triển nhanh

Rõ ràng việc đưa ra những sản phẩm mới hay những sản phẩm được cải tiến giúp cho DN chiếm lĩnh được nhiều thị phần hơn, bán được nhiều sản phẩm và thậm chí thâm nhập vào các thị trường nước ngoài như vừa đề cập ở trên Điều này dẫn đến khả năng tăng trưởng và phát triển nhanh của DN

Trang 31

CHƯƠNG 3 KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI 3.1 Kinh nghiệm về các biện pháp khuyến khích của nhà nước

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước, Đề tài tóm tắt những biện pháp sau đây

mà một số nước đã áp dụng nhằm tăng cường hoạt động R&D trong cộng đồng DN nói chung,

DN lớn nói riêng

3.1.1 Biện pháp trực tiếp

Biện pháp này chủ yếu tập trung hỗ trợ về vốn (tài trợ, cho vay, v.v ) cho DN tiến hành hoạt động R&D và ĐMCN

Vương quốc Anh

Chương trình giải thưởng SMART (Small Firms Merit Award for Research and

Technology) dành cho các DN và cá nhân trong việc nghiên cứu, phát triển và tiếp thu công nghệ

mới Tuỳ từng hoạt động (đánh giá công nghệ, nghiên cứu cơ hội công nghệ, các dự án phát triển vật mẫu, nghiên cứu khả thi, v.v ), cũng như quy mô của DN, quy mô dự án mà có những mức thưởng khác nhau

Chương trình SPUR (Support for Products Under Research) được thiết kế để tài trợ và

khuyến khích các DN tiến hành R&D Với việc phát triển các sản phẩm và qui trình đổi mới cao,

DN có thể tăng cường tính cạnh tranh cũng như việc làm cho DN Chương trình SPUR tài trợ cho các DN phát triển các sản phẩm và qui trình mới liên quan đến những lợi thế về công nghệ đối với ngành công nghiệp Anh Phần thưởng này giành cho các DN có số lao động ít hơn 250 người

Chương trình (SBRI – sáng kiến nghiên cứu DN nhỏ) nhằm nâng cao năng suất và ĐMCN cho DN bằng cung cấp các hợp đồng R&D cho các DN hoạt động dựa trên công nghệ Năm 2005, một tiêu chí bắt buộc đối với các tổ chức tham gia sáng kiến này là ít nhất 2,5% giá trị hợp đồng R&D của các tổ chức, cơ quan chính phủ phải dành cho các DNV&N

New Zealand

Chương trình GPSR&D (Grant for Private Sector Research and Development) tài trợ cho

các DN tiến hành các hoạt động R&D với 4 chương trình nhỏ tuỳ thuộc vào kiểu DN và mức độ xây dựng năng lực công nghệ của DN

- Liên kết công nghệ (TechLink): nhằm vào các DNV&N của New Zealand;

- Tài trợ cho nghiên cứu và triển khai (GPSR&D): nhằm nâng cao nhận thức cho các DNV&N về công nghệ để khuyến khích họ đầu tư vào R&D

- Công nghệ cho tăng trưởng DN (Technology for Business Growth): nhằm vào các DN

đã có một mức độ nhất định về năng lực công nghệ và sẽ tài trợ cho các DN này nâng cao năng lực công nghệ của mình lên mức độ cao hơn, vươn ra các thị trường CNC;

- Công nghệ trong cộng đồng DN (Technology in Industry Fellowships): nhằm vào các

DN đã hoạt động trong các thị trường CNC

Trang 32

Hàn Quốc

Chính phủ tài trợ trực tiếp cho hoạt động R&D của DN Bộ Khoa học và Công nghệ (MOST) và Bộ thương mại, công nghiệp và kinh tế (MOICE) là 2 bộ chính chịu trách nhiệm về vấn đề tài trợ cho R&D của DN Mục tiêu chính sách của MOST và MOICE từ năm 1997 là hỗ trợ cho sự phát triển các công nghệ đặc biệt do Hội đồng KH&CN quốc gia xây dựng (công nghệ thông tin và viễn thông, công nghệ sinh học, công nghệ nano, công nghệ môi trường, công nghệ

về văn hoá và công nghệ không gian)

Những tài trợ cho R&D của MOICE ngày càng tăng, đặc biệt là việc khuyến khích sự hình thành các liên kết DN với các viện nghiên cứu MOICE tài trợ một phần chi phí cho các liên kết này và mức độ tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là quy mô DN (DN lớn tài trợ 50% kinh phí cho dự án nghiên cứu, trong đó DN nhỏ chỉ là 20%)

MOST tài trợ cho R&D với các ứng dụng công nghiệp (chương trình HAN khuyến khích

sự tham gia của khu vực tư nhân thông qua hình thức các đối tác cùng chia sẽ chi phí và 30-50% kinh phí của chương trình đã được tài trợ liên quan đến sự tham gia của khu vực công nghiệp)

Khuyến khích R&D trong các DNV&N và DN KH&CN cũng là một ưu tiên của chính phủ Hàn Quốc Một số các chương trình đã được hình thành để hỗ trợ các khía cạnh khác nhau của mục tiêu này, kể cả hỗ trợ về tài chính mạo hiểm Hiệp hội DNV&N Hàn Quốc (SMBA) vận

hành chương trình mà mục tiêu trực tiếp nhằm hỗ trợ R&D của DN (Chương trình đổi mới công

nghệ - chương trình này bắt đầu năm 1997 đầu tư tài chính xấp xỉ 50.000 USD để hỗ trợ cho các

dự án đổi mới cho khoảng 1.000 DNV&N mỗi năm)

Canada, một chương trình mang tên “Chương trình nghiên cứu trợ giúp công nghiệp

(NRC)” được đưa ra nhằm khuyến khích ĐMCN cho các DN với việc cung cấp các tư vấn công nghệ, trợ giúp và các dịch vụ khác cho DN để các DN này xây dựng năng lực đổi mới của mình Chương trình NRC xây dựng một mạng lưới các tổ chức, cơ quan dịch vụ và các chương trình để giúp các DN của Canada phát triển và khai thác các công nghệ trong nền kinh tế dựa trên tri thức

có tính cạnh tranh cao Hàng năm chương trình này cung cấp các giải pháp khác nhau cho khoảng 12.400 DN liên quan đến nghiên cứu và ĐMCN công nghiệp

Mỹ, trong phạm vi hệ thống luật CGCN, chương trình nghiên cứu đổi mới DN nhỏ

(SBIR) được ban hành năm 1982 nhằm khuyến khích ĐMCN quốc gia, tăng cường sự tham gia của DN nhỏ vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ, thúc đẩy và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng người thiểu số và những người tàn tật vào các hoạt động ĐMCN, tăng cường thương mại hoá công nghệ xuất phát từ các kết quả nghiên cứu và phát triển liên bang

Tây Ban Nha, trong từng giai đoạn chính phủ nước này đã đưa ra các kế hoạch để phát

triển khoa học, công nghệ và ĐMCN quốc gia Giai đoạn 2004-2007 một kế hoạch quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ĐMCN được đưa ra nhằm gia tăng tỉ lệ đầu tư của DN cho nghiên cứu

và ĐMCN, tăng cường cơ sở hạ tầng phục vụ đổi mới và trao đổi tri thức giữa các DN, tăng cường sự hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu, trường đại học và DN về các hoạt động liên quan đến R&D, tăng cường số lượng các DN đổi mới cũng như sự phát triển và tồn tại của các DN này

Trang 33

Na Uy, hai chương trình tài trợ vốn ban đầu để hỗ trợ hoạt động R&D và ĐMCN cho

DNV&N và DN sử dụng công nghệ trường đại học đã được triển khai Một trong những mục tiêu của chương trình là huy động thêm vốn cho các dự án ĐMCN từ các nhà đầu tư thông qua các chính sách của chính phủ và tăng thương mại hoá cho các dự án nghiên cứu từ trường đại học Các công ty được hỗ trợ nằm ở các thành phố gần các trường đại học Oslo, Bergen, Trondheim và Stavanger

Hungary, chương trình “Baross Gabor” của Hungary hỗ trợ ĐMCN trong vùng

Del-Alfold nhằm tăng cường chuyển giao tri thức giữa viện nghiên cứu và các DN để thúc đẩy thương mại hoá các kết quả nghiên cứu thông qua các biện pháp hỗ trợ: phát triển sản phẩm và công nghệ cho các DN dựa trên công nghệ; tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác giữa các DN

và các tổ chức khác trong hoạt động đổi mới và trao đổi tri thức; tăng cường thương mại hoá các kết quả nghiên cứu trong các DN

Trung Quốc, năm 1986 để vượt qua những thách thức của cuộc cách mạng công nghệ

mới cũng như sự cạnh tranh gay gắt về công nghệ, 4 nhà khoa học Trung Quốc WANG Daheng, WANG Ganchang, YANG Jiachi và CHEN Fangyun cùng nhau đề xuất biện pháp để thúc đẩy

sự phát triển công nghệ cao Trung Quốc Với tầm nhìn và sự quyết tâm, Đặng Tiểu Bình đã phê duyệt Chương trình R&D công nghệ cao quốc gia (Chương trình 863) Chương trình này thúc đẩy sự phát triển công nghệ cao của Trung Quốc, năng lực R&D, sự phát triển kinh tế xã hội và

an ninh quốc gia Mục tiêu của chương trình nhằm thúc đẩy năng lực đổi mới quốc gia trong khu vực công nghệ cao; phấn đấu giành được sự đột phá trong các lĩnh vực công nghệ chủ chốt liên quan đến cuộc sống và an ninh quốc gia; giành được sự phát triển nhảy vọt trong các lĩnh vực công nghệ cao chủ yếu

3.1.2 Biện pháp gián tiếp

Biện pháp khuyến khích này chủ yếu dựa trên cơ sở thuế (tax-based incentives) cho hoạt

động R&D của các DN và được thể hiện chủ yếu dưới 4 hình thức sau:

(i) Khấu trừ thuế (tax allowance)

Khấu trừ thuế (với tỷ lệ lớn hơn 100% cho những chi phí vào R&D hiện tại) cho phép

DN đầu tư vào R&D được trừ thêm vào thu nhập chịu thuế của DN tùy theo mức chi phí thực tế của cho R&D

Lợi ích tính theo 1$ chi phí R&D = (thuế suất thuế TNDN/100) * ({khấu trừ thuế [%]} – 100[ %])/100

Khấu trừ thuế R&D ở mức 100% hầu như không đưa lại khuyến khích cho R&D so với các chi phí khác của DN12 (Việt Nam đang áp dụng hình thức này) Còn nếu khấu trừ thuế R&D

ở mức 200% với thuế suất thuế TNDN là 30% sẽ đem lại lợi ích bổ sung là $0.30 cho 1$ chi phí cho R&D

Các quốc gia điển hình áp dụng hình thức này là Úc, Anh, Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan và Philippines

12 Theo Yoon, 2005

Trang 34

(ii) Tín dụng thuế (tax credit)13

Một tỷ lệ chi phí cho R&D đặc biệt được cắt giảm từ thuế TNDN mà một DN phải trả

Thuế suất thuế TNDN không tác động lên giá trị tín dụng thuế vì nó được cắt giảm từ thuế phải

trả, sau khi thuế suất thuế TNDN được áp vào thu nhập chịu thuế

Lợi ích tính theo 1$ chi phí R&D = tỷ lệ % tín dụng thuế * (thuế TNDN phải trả tính theo 1$ thu nhập chịu thuế)

Các quốc gia điển hình áp dụng hình thức này là Canada, Hoa Kỳ, Pháp, Ai-rơ-len, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan và Tây Ban Nha

(iii) Bù thuế (tax-based rebate)

Hình thức này được áp dụng cho các DN làm ăn thua lỗ và một tỷ lệ miễn trừ tương đương với tỷ lệ khấu trừ thuế trên phần trăm chi phí cho R&D

Quốc gia điển hình áp dụng hình thức này là Úc

(iv) Khuyến khích trên cơ sở lũy tiến (increment-based incentives)

Các trường hợp điển hình áp dụng hình thức này là Úc (đưa ra tỷ lệ 22,5% cho những chi phí về đào tạo cán bộ vượt quá mức trung bình của 3 năm trước), Đài Loan (đưa ra tỷ lệ 50% cho những chi phí vượt quá mức trung bình của 2 năm trước), Hàn Quốc (đưa ra tỷ lệ 40% cho những chi phí vượt quá mức trung bình của 4 năm trước)

Hộp 3.1 Các hình thức khuyến khích thuế cho DN đầu tư R&D của một số nước

Australia

- Khuyến khích thuế cho các DN tiến hành các hoạt động R&D thông qua chương trình giảm

thuế R&D (R&D Tax Concession program) Chương trình được xây dựng để tăng mức độ R&D của

DN Úc Chương trình cho phép các DN khấu trừ 125% cho các hoạt động R&D từ thu nhập chịu thuế

- Các DN cũng có thể tính toán áp dụng tỷ lệ khấu trừ thuế R&D đặc biệt đến 175% (Premium

R&D Tax Concession) Trường hợp này chỉ áp dụng đối với những chi phí R&D vượt quá mức chi

R&D trung bình của DN 3 năm trước

- Bù thuế R&D (R&D Tax Offset) cho phép các DN nhỏ với mức bù tương đương với 125%,

thậm chí ở mức đặc biệt 175% Các DN với tổng doanh thu nhỏ hơn 5 triệu đô la Úc và chi phí cho R&D đến 1 triệu đô la Úc thì được áp dụng hình thức Bù thuế

- Tỷ lệ thuế thu nhập DN hiện tại là 30% thì một DN áp dụng mức khấu trừ thuế 125% sẽ thu

được 7,5 cent/1$ đầu tư R&D; 22,5 cent cho những DN áp dụng tỷ lệ khấu trừ đặc biệt 175% và 37,5 cent cho những DN áp dụng Bù thuế mức 175%

Trang 35

- Hầu hết các DN của Canada đều nhận được mức tín dụng thuế là 20% tính theo mức chi phí hiện tại hoặc chi phí lũy tiến

- Một DN lớn áp dụng hình thức tín dụng thuế R&D ở mức 20% nhận được 7,2 cent cho 1$ chi

cho R&D

Hoa Kỳ

- Hoa Kỳ đưa ra Tín dụng Thuế R&D mức 20% số tiền mà chi phí cho R&D của năm tính thuế vượt quá mức sàn Mức sàn là mức “tỷ lệ phần trăm dựa trên mức sàn cố định” của đối tượng chịu thuế và mức thuế trung bình trong 4 năm trước của đối tượng chịu thuế Mức sàn không thể thấp hơn 50% chi phí nghiên cứu hiện tại của đối tượng chịu thuế Tín dụng thuế không sử dụng có thể có thể được tính ngược trở lại 3 năm trước và tiếp theo 15 năm

Vương quốc Anh

- Vương quốc Anh khuyến khích thuế cho R&D đối với cả DNV&N và DN lớn Hỗ trợ cho các DNV&N một khoản bằng 150% đối với những chi phí R&D hiện tại DNV&N có thể thuê thầu hoạt động R&D của mình cho DNV&N khác, DN lớn hoặc những tổ chức không chịu thuế khác như trường ĐH hay tổ chức từ thiện

- Một DN lớn (hoặc DNV&N nhận thầu R&D) có thể áp dụng tỷ lệ khấu trừ 125% cho đầu tư vào R&D Một DN lớn thuê thầu R&D cho cá nhân khác thì không được áp dụng khấu trừ thuế R&D đối với những chi phí liên quan đến thuê thầu R&D, trừ phi nhà thầu là một tổ chức không chịu thuế như trường ĐH, tổ chức từ thiện hoặc cá nhân Nếu nhận thầu là một DN thì có thể áp dụng Tín dụng Thuế R&D ở tỷ lệ 125% đối với những chi phí tiến hành công việc đó bất luận là DNV&N hay DN lớn

Trang 36

Hà Lan

- Hà Lan có một hệ thống tín dụng thuế R&D đặc trưng Tín dụng thuế khuyến khích R&D của

DN thông qua việc giảm bớt gánh nặng về lương dưới hình thức thuế TNDN 2 nguyên nhân dẫn đến việc giảm thuế lương đó là: Lương R&D chiếm tới trên 50% chi phí R&D và hệ thống khuyến khích trước đây chỉ có lợi đối với những DN làm ăn phát đạt

- Tín dụng thuế tính vào lương R&D dưới hình thức giảm thuế và những đóng góp bảo hiểm xã hội trong khu vực DN

- Các DNV&N áp dụng mức giảm thuế lương cho cán bộ hoạt động R&D là 40%, trong khi đó các DN lớn áp dụng mức 13%

- Tín dụng thuế của Hà Lan áp dụng cho cả các chi phí lương R&D trong nội bộ DN và ngoài

DN (với DN khác hoặc tổ chức nghiên cứu khác)

Nauy

- Nauy xây dựng chương trình tín dụng thuế R&D từ năm 2002 và coi đây là công cụ then chốt cho việc hoàn thiện chính sách đổi mới Tín dụng thuế tính trên cơ sở quy mô DN đầu tư cho R&D hiện tại

- Tỷ lệ 20% cho các DNV&N và 18% cho DN lớn

Tây Ban Nha

- Tín dụng thuế theo quy mô đầu tư của DN cho R&D hiện tại với tỷ lệ là 30%

- Tín dụng thuế lũy tiến áp dụng cho các DN mà chi phí cho R&D trong năm hiện tại vượt quá mức chi phí trung bình của 2 năm trước đó

- Tỷ lệ tín dụng thuế là 15% đối với R&D của các DNV&N (12% từ năm 2006) và đối với R&D hợp tác với các trường ĐH và viện nghiên cứu nhà nước

- Thuế suất thuế TNDN là 30%

- Một DN áp dụng tín dụng thuế 10% sẽ nhận được 10 cent, 15% sẽ nhận được 15 cent cho 1$

chi cho R&D hiện tại

Trang 37

Hàn Quốc

- Các DNV&N có thể lựa chọn hoặc là tỷ lệ tín dụng thuế 15% tính theo mức chi phí hiện tại hoặc 40% tín dụng thuế theo lũy tiến trên mức chi phí vượt quá mức trung bình của 4 năm trước đó Riêng đối với các DN lớn chỉ áp dụng một hình thức lũy tiến là 40%

- Một DNV&N áp dụng mức tín dụng thuế 15% sẽ nhận được 15 cent cho 1$ chi phí cho R&D

hiện tại; Một DN lớn áp dụng mức lũy tiến 40% trên những chi phí vượt quá mức trung bình của 4 năm trước đó nhận được 40 cent cho 1$ của chi phí cho R&D

- Một DN nhận được một lợi ích bổ sung 20 cent cho 1$ đầu tư cho R&D

- Thái Lan tương tự như Singapore và Malaysia Thuế suất thuế TNDN là 30%

- Một DN nhận được một lợi ích bổ sung 30 cent cho 1$ đầu tư cho R&D

Philippines

- Tương tự như Singapore, Malaysia và Thái Lan Thuế suất thuế TNDN là 32%

- Một DN nhận được một lợi ích bổ sung 32 cent cho 1$ đầu tư cho R&D

Trang 38

Bảng 3.1 Lợi ích (thuế) của DN tính trên 1 $ đầu tư cho R&D

Quốc gia R&D Tax Credit/ Allowance Thuế suất thuế

TNDN (%) Lợi ích (thuế) Australia • Hỗ trợ 125% theo quy mô

• Hỗ trợ đặc biệt 175% theo R&D lũy tiến

• Bù thuế R&D cho DNV&N

Pháp • 40% theo R&D lũy tiến 34,33 13,7 cent

Italy • 30% tín dụng thuế cho DNV&N 37,25 11,2 cent

Nha • 30% tín dụng thuế theo quy mô R&D và

• 50% tín dụng thuế theo R&D lũy tiến

Hàn Quốc • 15% tín dụng thuế theo quy mô R&D và

• 40% tín dụng thuế theo R&D lũy tiến

29,7 4,45 cent ở mức 15%

11,88 cent ở mức 40% Trung Quốc • Hỗ trợ 150% đối với phần tăng 10% chi

tiêu cho R&D so với năm trước

30% đ/v FDI, DN diện ưu đãi 15%

Nguồn: Tính toán của nhóm nghiên cứu từ Hộp 3.1

3.1.3 Xây dựng môi trường có lợi cho hoạt động R&D của DN

Thứ nhất: Các chương trình nhà nước đưa ra nhằm cung cấp các nguồn lực như cho sự

Liên kết (tài chính, phương tiện) Đồng thời các chương trình còn nhằm tăng cường nhận thức của mọi người đối với vấn đề Liên kết và thay đổi hành vi và thái độ của các cá nhân những người không mặn mà với vấn đề Liên kết

Cộng hòa Áo: Kplus – Hỗ trợ các Điều kiện cho Hợp tác Nghiên cứu

Chương trình Kplus tài trợ các điều kiện cho hợp tác nghiên cứu do các DN và viện nghiên cứu (kể

cả trường đại học, PTN nghiên cứu của chính phủ,…) cùng tiến hành Tư vấn quản lý cũng được

hỗ trợ trong suốt giai đoạn dự án Chương trình này tài trợ đến 35 % kinh phí, các DN 40% và phần còn lại 25 % xuất phát từ các nguồn nhà nước khác

Trang 39

Vương quốc Anh: Chương trình liên kết (LINK), nhằm tăng cường sự hợp tác giữa DN và viện nghiên cứu Chương trình này tài trợ tới 50% tổng chi phí cho các dự án nghiên cứu hợp tác giữa

DN và viện nghiên cứu

Thụy Điển: Chương trình Tung tâm xuất sắc

Chương trình Trung tâm xuất sắc NUTEK/VINNOVA tập trung vào hình thành mạng lưới hợp tác lâu dài giữa công nghiệp và khoa học trên cơ sở cung cấp cơ sở hạ tầng nghiên cứu và tài trợ vào các lĩnh vực nghiên cứu theo chủ đề Chương trình này là một nỗ lực trong việc hình thành liên kết giữa khoa học và công nghiệp ở Thụy Điển bằng việc tạo ra các môi trường nghiên cứu trong đó các DN công nghiệp tham gia tích cực để thu được những lợi ích dài hạn

Thứ hai: Thành lập các tổ chức trung gian dưới các hình thức khác nhau như các Trung

tâm CGCN, vườn ươm, mạng lưới tư vấn để thúc đẩy Liên kết

Hoa Kỳ:

• Xây dựng các Trung tâm Nghiên cứu Đại học-Công nghiệp (UIRC)

• Hình thành cơ quan Quản lý CGCN ở các trường ĐH lớn, kể cả các Văn phòng CGCN chuyên nghiệp (TTO) hoặc các Văn phòng Tư vấn Công nghiệp (Industry Liaison Offices-ILO) đảm

nhận việc quản lý các sản phẩm thương mại hóa thông qua hình thức spin-off, pa-tăng và li-xăng Vương quốc Bỉ: LRD của trường ĐH Leuven

Các tổ chức CGCN ở trường Đại học Leuven (LRD) có thể được xem như trường hợp điển hình trong việc thực hiện chức năng như một dịch vụ Liên kết Tổ chức này có nhiệm vụ kê khai và quản lý các sáng chế, tổ chức này cung cấp những kỹ năng kỹ thuật đối với các nhóm nghiên cứu khác nhau liên quan đến các dự án nghiên cứu ứng dụng, hợp tác chặt chẽ với quỹ ươm mầm

trường đại học để thành lập DN spin-off hàng năm

Đồng thời, R&D Leuven quan hệ với trường đại học để tạo cho các NCV và các GS công nhận

rằng trường đại học là môi trường thích hợp cho việc hình thành các DN spin-off, thông báo với

họ về những nguồn lực LRD có thể cung cấp Trong các bài báo, nội san, bản tin của trường có những chú ý đặc biệt hướng tới các sinh viên về tiềm năng tăng trưởng cao của các DN dựa trên công nghệ mới và tăng cường nhận thức về IPR

Thụy Điển: ĐH Chalmers, VOLVO và Khoa học Vật liệu: Hợp tác bên nhau định hướng lâu dài

Trường ĐH Chalmers có lịch sử lâu dài về sự hợp tác với công nghiệp (các hãng Volvo, Ericsson

và SKF) Chalmers có nhiều cơ chế để tạo điều kiện thuận lợi hợp tác công nghiệp cũng như các

cơ chế khai thác và thương mại hóa Những cơ chế này gồm: Chương trình phát triển chuyên

môn; kế hoạch hỗ trợ công nghệ cho các DN; cơ chế hợp tác DN CNC; và chương trình spin-off

của các DN từ trường ĐH

Trung Quốc: Chính phủ Trung Quốc đã thành lập các trung tâm công nghệ công cho phép các doanh nghiệp CNC vừa và nhỏ có quyền tiếp cận các trang thiết bị trong các trung tâm này

Trang 40

Thu hút FDI định hướng R&D (hợp phần của chính sách đổi mới hướng vào R&D của DN) Chính sách này được đặc biệt chú ý ở Brasil, Trung Quốc và Ấn Độ, điều này đem lại 3 lợi ích: thứ nhất, công nghệ gắn kèm sản phẩm và máy móc thiết bị từ các nước tiên tiến vô hình chung có thể giúp các DN nội địa tiếp thu công nghệ Sự lan tỏa công nghệ/R&D dưới hình thức này rất quan trọng cho DN ở các nước đang phát triển Thứ hai, hoạt động R&D do các công ty

đa quốc gia thực hiện như một kênh CGCN tiên tiến dưới hình thức đào tạo, học hỏi và nhiều khía cạnh khác Thứ ba, thúc ép các DN trong nước tiến hành R&D và ĐMCN để tăng cường năng lực cạnh tranh

3.1.4 Khuyến khích cán bộ tiến hành nghiên cứu cùng DN

i) Phát triển cơ hội di chuyển giữa các khu vực thông qua trao đổi cán bộ, làm việc nửa

thời gian (part-time), nghỉ phép, vị trí danh dự hoặc các khuyến khích về tài chính

Ở Thụy Điển, trong khuôn khổ của quỹ với tên gọi “Quỹ cho nghiên cứu chiến Stiftelsen för Strategisk Forskning” đã dành một khoản kinh phí 15 triệu SEK tài trợ cho việc di chuyển cán bộ KH&CN trong thời gian 2 năm

lược-Chương trình hướng vào cán bộ KH&CN mong muốn có những đóng góp tri thức cho khu vực khác và sau đó quay trở về khu vực làm việc trước đây Chương trình tài trợ cho các nhà

khoa học từ viện/trường muốn làm việc cho khu vực công nghiệp (visiting researcher) hoặc các

NCV từ khu vực công nghiệp muốn làm việc ở viện/trường Trong thời gian làm việc cho khu vực khác, các NCV có thể làm việc ở nước ngoài hoặc đưa về một NCV người nước ngoài của khu vực khác nếu có sự giải thích về những đóng góp của người nước ngoài này Trong thời gian

di chuyển các NCV có thể tiến hành các nghiên cứu hoặc phát triển kỹ thuật

Thời gian mỗi dự án đề xuất kéo dài từ 4-12 tháng (toàn bộ thời gian), có thể chia thành các giai đoạn khác nhau (làm việc nửa thời gian)

Vương quốc Bỉ, viện IMEC đưa ra chương trình cư trú công nghiệp (research hotel) cho các NCV từ khu vực công nghiệp, những người này tham gia vào khu vực hàn lâm để bổ sung kiến thức của mình như là nhu cầu học hỏi suốt đời của NCV

ii) Phát triển hình thức cán bộ nghiên cứu làm tư vấn cho khu vực công nghiệp thông qua hợp đồng làm việc ngắn ngày Các hoạt động tư vấn có thể xem như hoạt động khởi đầu trong việc hình thành hợp tác nghiên cứu

Ví dụ, Schlumberger – Pháp, đầu tư €25.000-100.000 cho các NCV của công ty tự ý chi tiêu mà không có bất kỳ ràng buộc nào để tìm kiếm công việc tư vấn ngoài công ty Hỗ trợ này tạo ra sự hợp tác với khu vực hàn lâm và như vậy có thể xem như sự bồi thường cho số tiền đã đầu tư của công ty

MIT (Mỹ), hợp đồng làm việc kéo dài chỉ 9 tháng trong 1 năm, 3 tháng còn lại có thể tiến hành các công việc tư vấn MIT đưa ra những khuyến khích tài chính mạnh cho các NCV có thu nhập nghiên cứu trong khu vực công nghiệp: Xóa bỏ trách nhiệm giảng dạy đối với những người mang về trên 2 triệu đô la và miễn trách nhiệm hành chính cho những người mang về trên 4 triệu đô la

Ngày đăng: 26/05/2014, 14:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Thu Anh, 2007. Nghiên cứu đánh giá chính sách hỗ trợ về tài chính cho hoạt động ĐMCN của DN theo Nghị định 119. Báo cáo ĐT cơ sở, NISTPASS-2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá chính sách hỗ trợ về tài chính cho hoạt động ĐMCN của DN theo Nghị định 119
Tác giả: Cao Thu Anh
Nhà XB: Báo cáo ĐT cơ sở
Năm: 2007
3. Hoàng Văn Tuyên, 2006. Nghiên cứu quá trình phát triển chính sách đổi mới (innovation policy) – kinh nghiệm quốc tế và gợi suy cho Việt Nam, Báo cáo ĐT cơ sở, NISTPASS- 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: innovation policy
6. Nguyễn Văn Học, 2000. Nghiên cứu các loại hình cơ quan R&D và phát triển công nghệ của Việt Nam phục vụ cho việc chuyển đổi tổ chức các cơ quan R&D nhà nước, Báo cáo ĐT cấp bộ, NISTPASS, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các loại hình cơ quan R&D và phát triển công nghệ của Việt Nam phục vụ cho việc chuyển đổi tổ chức các cơ quan R&D nhà nước
Tác giả: Nguyễn Văn Học
Nhà XB: NISTPASS
Năm: 2000
9. Nguyễn Hồng Việt, 2001. Một số giải pháp khuyến khích DNV&N ĐMCN theo hướng thân môi trường. Báo cáo ĐT cơ sở, NISTPASS-2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp khuyến khích DNV&N ĐMCN theo hướng thân môi trường
Tác giả: Nguyễn Hồng Việt
Nhà XB: Báo cáo ĐT cơ sở
Năm: 2001
12. Nguyễn Thanh Tùng, 1999. Nghiên cứu về tín dụng cho hoạt động KH&CN. Báo cáo ĐT cơ sở, NISTPASS-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về tín dụng cho hoạt động KH&CN
Tác giả: Nguyễn Thanh Tùng
Nhà XB: Báo cáo ĐT cơ sở
Năm: 1999
15. NISTPASS, 2004. Khuyến nghị tiêu chuẩn thực tiễn cho điều tra R&D – tài liệu hướng dẫn Frascati 2002 của OECD. NXb lao động, Hà nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến nghị tiêu chuẩn thực tiễn cho điều tra R&D – tài liệu hướng dẫn Frascati 2002 của OECD
Tác giả: NISTPASS
Nhà XB: NXb lao động
Năm: 2004
16. NISTPASS, 2005. Khuyến nghị các nguyên tắc chỉ đạo trong thu thập và diễn giải số liệu về ĐMCN – tài liệu hướng dẫn Oslo của OECD. NXb lao động, Hà nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến nghị các nguyên tắc chỉ đạo trong thu thập và diễn giải số liệu về ĐMCN – tài liệu hướng dẫn Oslo của OECD
Tác giả: NISTPASS
Nhà XB: NXb lao động
Năm: 2005
18. Trần Ngọc Ca, 1999. Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động ĐMCN và nghiên cứu triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam. Báo cáo ĐT cấp bộ, NISTPASS-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động ĐMCN và nghiên cứu triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Ca
Nhà XB: Báo cáo ĐT cấp bộ
Năm: 1999
19. Vũ Cao Đàm, 2003. Đối mới chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN, Tài liệu trình bày tại hội thảo “đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN”, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN
22. Bộ KH&CN, 2010. Kỷ yếu Hội nghị thực hiện “Chiến lược phát triển KH&CN 2001-2010”, Nxb KHKT, Hà nội 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị thực hiện “Chiến lược phát triển KH&CN 2001-2010”
Tác giả: Bộ KH&CN
Nhà XB: Nxb KHKT
Năm: 2010
23. Đỗ Thị Hồi, 2003. Các giải pháp chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của các viện trong tổng công ty. Luận văn Thạc sỹ chính sách KH&CN, NISTPASS, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của các viện trong tổng công ty
Tác giả: Đỗ Thị Hồi
Nhà XB: NISTPASS
Năm: 2003
25. Học viện tài chính, 2010, Cơ chế tạo lập Quỹ phát triển KH&CN trong DN, Hội thảo 9/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế tạo lập Quỹ phát triển KH&CN trong DN
Tác giả: Học viện tài chính
Nhà XB: Hội thảo 9/2010
Năm: 2010
26. Kỷ yếu hội thảo “Tập đoàn kinh tế lý luận và thực tiễn” Hà Nội 5/2009 (Nxb Chính trị quốc gia, CIEM, Thời báo kinh tế Việt Nam và Công ty thanh niên Việt Nam đồng tổ chức) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn kinh tế lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
31. Becker, W and Dietz, J. R&D cooperation and innovation activities of firms-evidence for the German manufacturing industry Sách, tạp chí
Tiêu đề: R&D cooperation and innovation activities of firms-evidence for the German manufacturing industry
Tác giả: Becker, W, Dietz, J
32. Bowonder, B and Richardson, P K. 2000. Liberalization and the growth of business-led R&D: the case of India, R&D management Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liberalization and the growth of business-led R&D: the case of India
Tác giả: Bowonder, B, Richardson, P K
Nhà XB: R&D management
Năm: 2000
33. Deeds, D. 2001. The role of R&D intensity, technical development and absorptive capacity in creating entrepreneurial wealth in high technology start-ups. J. Eng. Technol. Manage Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of R&D intensity, technical development and absorptive capacity in creating entrepreneurial wealth in high technology start-ups
Tác giả: Deeds, D
Nhà XB: J. Eng. Technol. Manage
Năm: 2001
34. Del Canto, J G and González, I S. 1999. A resource-based analysis of the factors determining a firm’s R&D activities. Research Policy Sách, tạp chí
Tiêu đề: A resource-based analysis of the factors determining a firm’s R&D activities
Tác giả: Del Canto, J G, González, I S
Nhà XB: Research Policy
Năm: 1999
35. Gilmore, R. Creating new industries by increasing business involvement in R&D. Australian Institute for Commercialisation Sách, tạp chí
Tiêu đề: Creating new industries by increasing business involvement in R&D
Tác giả: R. Gilmore
Nhà XB: Australian Institute for Commercialisation
37. Ruane, F and Kearns, A. 1997. To R&D or not to R&D, that is the Question”: A Firm Level Study of Employment Growth in the Irish Manufacturing Sector, 1986-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: To R&D or not to R&D, that is the Question”: A Firm Level Study of Employment Growth in the Irish Manufacturing Sector, 1986-95
Tác giả: Ruane, F, Kearns, A
Năm: 1997
38. Shefer, D and Frenkel, A. 2005. R&D, firm size and innovation: an empirical analysis Sách, tạp chí
Tiêu đề: R&D, firm size and innovation: an empirical analysis
Tác giả: Shefer, D, Frenkel, A
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Tỷ lệ chi cho R&D giữa các khu vực của một số nước  (UNDP 2008, WB 2009, số liệu - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Hình 1.1. Tỷ lệ chi cho R&D giữa các khu vực của một số nước (UNDP 2008, WB 2009, số liệu (Trang 14)
Hình 1.2. Các bước phát triển năng lực công nghệ DN (Somchai, 6/2009 6 ) - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Hình 1.2. Các bước phát triển năng lực công nghệ DN (Somchai, 6/2009 6 ) (Trang 18)
Hình 1.3. Khung phân tích của Đề tài - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Hình 1.3. Khung phân tích của Đề tài (Trang 19)
Hình 2.3. Mô hình đổi mới chuỗi liên kết (Kline và Rosenberg) - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Hình 2.3. Mô hình đổi mới chuỗi liên kết (Kline và Rosenberg) (Trang 26)
Hình 3.1. Mô hình tổ chức R&D kiểu tập trung - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Hình 3.1. Mô hình tổ chức R&D kiểu tập trung (Trang 43)
Hình 4.1. Mô tả đối tượng điều tra - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Hình 4.1. Mô tả đối tượng điều tra (Trang 47)
Hình 4.3. Trình độ công nghệ hiện tại và dự kiến của các DN - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Hình 4.3. Trình độ công nghệ hiện tại và dự kiến của các DN (Trang 55)
Bảng 4.14. Sự hài lòng của đơn vị R&D trực thuộc đối với DN mẹ - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Bảng 4.14. Sự hài lòng của đơn vị R&D trực thuộc đối với DN mẹ (Trang 64)
Bảng 4.15. Một số trở ngại/rào cản trong hoạt động KH&CN của DN - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Bảng 4.15. Một số trở ngại/rào cản trong hoạt động KH&CN của DN (Trang 65)
Hình 4.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới R&D của DN (HVT, 2007). - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Hình 4.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới R&D của DN (HVT, 2007) (Trang 67)
Bảng 4.18. Kết quả chạy mô hình Probit - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Bảng 4.18. Kết quả chạy mô hình Probit (Trang 70)
Bảng 4.19. Kết quả chạy mô hình Tobit - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Bảng 4.19. Kết quả chạy mô hình Tobit (Trang 71)
Bảng 5.3. Hỗ trợ của nhà nước hiện nay cho hoạt động KH&CN của DN - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Bảng 5.3. Hỗ trợ của nhà nước hiện nay cho hoạt động KH&CN của DN (Trang 79)
Hình 5.1. Các mốc liên quan đến chuyển đổi tổ chức KH&CN VN (1986-nay) - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Hình 5.1. Các mốc liên quan đến chuyển đổi tổ chức KH&CN VN (1986-nay) (Trang 85)
Hình 2. Cơ chế của ITAP - Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại việt nam
Hình 2. Cơ chế của ITAP (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w