Nghiên cứu phát triển các mô hình sinh thái rừng phòng hộ ven hồ Hòa Bình thí điểm tại Tiểu khu 54 lòng hồ Sông Đà và khoảnh 3 xã Thung Nai, huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình Abstract: Trình
Trang 1Nghiên cứu phát triển các mô hình sinh thái rừng phòng hộ ven hồ Hòa Bình (thí điểm tại Tiểu khu 54 lòng hồ Sông Đà và khoảnh 3 xã Thung Nai, huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình)
Abstract: Trình bày tổng quan kết quả các nghiên cứu chức năng sinh thái rừng trên
thế giới và ở Việt Nam Nghiên cứu phát triển các mô hình sinh thái rừng phòng hộ ven hồ Hòa Bình (thí điểm tại Tiểu khu 54 lòng hồ Sông Đà và khoảnh 3 xã Thung Nai, huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình), thông qua việc: đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; tìm hiểu hiện trạng các mô hình trồng rừng phòng hộ xây dựng; diễn biến của một số yếu tố khí tượng và thảm thực vật; hiệu quả chống xói mòn; hiệu quả điều tiết dòng chảy bề mặt; lượng dinh dưỡng bị mất theo các dòng chảy bề mặt
Từ đó đưa ra các giải pháp kỹ thuật và giải pháp kinh tế-xã hội nhằm phát triển các mô
hình phục hồi rừng phòng hộ xung yếu ven hồ sông Đà tỉnh Hoà Bình
Keywords: Sinh thái rừng; Rừng phòng hộ; Hòa bình
Đà nói riêng đang là vấn đề cấp bách trong những năm gần đây
Trang 2Theo Đặng Huy Huỳnh (1990), diện tích lưu vực hồ Hoà Bình là 2.567.000 ha, trong
đó diện tích rừng trên lưu vực chỉ còn 266.000 ha Lượng bùn cát lắng đọng hàng năm do mưa, bão, trượt lở trung bình khoảng 83,6 triệu tấn Với tốc độ đó sau 25 năm lòng hồ thuỷ điện Hoà Bình sẽ mất 60% dung tích chính Theo Lưu Danh Doanh (Trung tâm khảo quản lý
và khảo sát môi trường) [38] thì “Lưu vực sông Đà và hồ chứa Hoà Bình thuộc khu vực có cường độ xói mòn vào loại mạnh nhất so với các lưu vực sông khác ở nước ta Trung bình hàng năm trên 1km2
bị mất đi khoảng 20.000 - 40.000 tấn đất màu Mức độ bồi lắng của hồ Hoà Bình thuộc loại nghiêm trọng”
Nguyên nhân của tình trạng trên là do rừng phòng hộ trong khu vực đã, đang bị suy thoái nghiêm trọng, chức năng phòng hộ và bảo vệ môi trường của rừng bị suy giảm Hậu quả trực tiếp của việc mất rừng và suy thoái rừng là xói mòn, mất đất, bồi lắng lòng hồ do các nguyên nhân khác nhau Do vậy, kiểm soát sự mất đất do xói mòn đã trở thành vấn đề mang tính cấp thiết Một trong những biện pháp quan trọng là trồng rừng hay phục hồi lại rừng đã mất Trong những năm qua, nhà nước đã triển khai rất nhiều các chương trình, dự án nhằm khôi phục lại diện tích rừng đã bị tàn phá tại khu vực ven hồ sông Đà (như chương trình PAM, dự án 661, dự án RENFODA- JICA ) Các chương trình, dự án đã thiết kế và triển khai nhiều mô hình trồng rừng và bước đầu mang lại những hiệu quả nhất định về mặt môi trường vùng đầu nguồn Tuy vậy, những nghiên cứu chuyên sâu mang tính quan trắc theo thời gian của các công trình trên còn hạn chế Vì vậy để đóng góp các cơ sở khoa học cho vấn đề
này, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu phát triển các mô hình sinh thái rừng phòng hộ
ven hồ Hoà Bình (Thí điểm tại tiểu khu 54 lòng hồ sông Đà và Khoảnh 3 xã Thung Nai, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình)”
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.1 Trên thế giới
Những nghiên cứu cho thấy việc trồng rừng có thể đem lại những ảnh hưởng tích cực khi mà độ phì đất được cải thiện và đem lại ảnh hưởng tiêu cực nếu nó làm mất cân bằng hay cạn kiệt nguồn dinh dưỡng trong đất
Những nghiên cứu gần đây tập trung tìm hiểu về các chức năng sinh thái môi trường của rừng Theo Lee Soo-hwa (Lee-Soo-hwa, 2007 (http://www.korea.net/news/news) cho rằng đất rừng tốt có thể thấm được khoảng 250 mm nước mưa trong một giờ Vì vậy có tác dụng duy trì nguồn nước và cải thiện nguồn nước tốt hơn
Ảnh hưởng sự phấn bố không gian của rừng tới nguồn nước đã được nghiên cứu một cách khá hệ thống trong công trình của Carsten và cộng sự (2007)[35] Nghiên cứu sử dụng
Trang 3đất rừng phòng hộ đầu nguồn cũng được quan tâm Các mô hình sử dụng đất đã được xây dựng có thể kể tới như: mô hình du canh của Conklin, 1975; tiếp đó là phương thức Taungya được U.Pankle đề xuất năm 1806 Phương thức Taungya của Pankle là trồng xen cây nông nghiệp ngắn ngày vào rừng Tếch chưa khép tán Đến năm 1977 King đã đề xuất phương thức nông lâm kết hợp thay thế cho phương thức Taungya
Các giải pháp kỹ thuật phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Các tác giả chủ yếu quan tâm tới các vấn đề như tái sinh rừng nhiệt đới,
tổ thành cây tái sinh có khác biệt hay giống với tầng cây cao như các tác giả: Mibbread, 1930; Richards, 1933, 1939,1965; Aubrerrille, 1983;
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, vấn đề về môi trường rừng đã được khởi động nghiên cứu từ rất lâu Tuy nhiên, do nhiều lý do các nghiên cứu về sinh thái môi trường rừng chưa được chú ý xứng đáng với vị trí của nó Một số công trình nghiên cứu trước đây được tóm tắt như sau:
Nghiên cứu đánh giá tác động của rừng tới môi trường tập trung vào khả năng chống xói mòn và điều tiết nguồn nước của các trạng thái rừng; các nội dung nghiên cứu khác như vai trò điều tiết tiểu khí hậu, đất đai cũng được quan tâm nhưng chưa nhiều và hệ thống
Từ năm 1973 đến năm 1981 Các công trình nghiên cứu trong thời gian này tập trung chủ yếu vào nghiên cứu một số các nhân tố khí hậu rừng, khả năng ngăn cản nước mưa của tán rừng, ảnh hưởng của độ tàn che rừng tới khả năng giữ đất và điều tiết dòng chảy mặt của rừng như công trình của Bùi Ngạnh và Nguyễn Danh Mô (1984)[26], của Hoàng Niêm (1994)[25] Trong những năm 1980 các công trình nghiên cứu đã tập trung vào xói mòn đất
và khả năng giữ nước của một số thảm cây trồng nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt là ở các vùng Tây Nguyên Trong thời gian này, nhiều khu nghiên cứu quan trắc định vị đã được xây dựng kiên cố bằng gạch và xi măng, gỗ, kim loại,… Theo Nguyễn Quang Mỹ (1990) [23] thì vật rơi rụng ở trạng thái thô có thể hút được lượng nước bằng 1,38 lần trọng lượng khô của
nó, nếu đã bị phân huỷ 30 - 40% thì có thể hút được lượng nước gấp 3,21 lần trọng lượng khô Nguyễn Thế Hưng (2008) [35] đã cho thấy khả năng giữ nước của các thảm thực vật giảm dần
từ thảm cây bụi cao đến rừng trồng Keo, rừng trồng Bạch đàn và thấp nhất là thảm cây bụi thấp
Vai trò của rừng trong việc giữ nước là rất quan trọng Nghiên cứu của Võ Minh Châu (1993) [9] cho thấy sự suy giảm diện tích rừng đầu nguồn sông Ngàn Mọ từ 23,971 ha xuống còn 6.000 ha đã làm cho nước hồ Kẻ Gỗ giảm đi đáng kể, giảm từ 340 triệu m3
nước xuống còn 60 triệu m3
Do đó không đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trên diện tích 6.000 ha
Trang 4Gần đây, ngành lâm nghiệp đã có những nghiên cứu tập trung vào việc tạo lập cơ sở cho việc gây trồng rừng thông qua việc nghiên cứu trên các đối tượng cây trồng cụ thể trên những loại lập địa và vùng sinh thái khác nhau Vấn đề nghiên cứu phát triển các mô hình sinh thái rừng phòng hộ ven hồ Hoà Bình đặt ra là một vấn đề hết sức cấp bách và cần thiết cho việc xây dựng vốn rừng phục vụ cho mục đích bảo vệ môi trường vùng đầu nguồn trong bối cảnh hiện nay Đề tài nghiên cứu chúng tôi chọn lựa chính là tìm ra cơ sở khoa học giải quyết tính cấp thiết của vấn đề này
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên đối tượng là thảm thực vật, môi trường đất, nước trong các mô hình nghiên cứu sau:
- Mô hình trồng cây bản địa xen cây dược liệu Ký hiệu là MH1
- Mô hình trồng Luồng thuần loài (MH2)
- Mô hình Nông lâm kết hợp (MH3)
- Mô hình Làm giàu rừng (MH4)
- Mô hình cây bản địa đa tác dụng (MH5)
- Mô hình trồng Keo lai xen cây bản địa (MH6)
- Mô hình trồng cây cốt khí xen cây bản địa (MH7)
- Mô hình trồng Luồng xen cây bản địa (MH8)
- Đối chứng: không trồng rừng (ĐC)
* Phạm vi nghiên cứu:
Các mô hình nghiên cứu được tiến hành tại tiểu khu 54 lòng hồ sông Đà (MH1, 2, 3,
4, 5) và khoảnh 3 xã Thung Nai, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình (MH6, 7, 8, ĐC) Thời gian từ năm 2006 đến năm 2011
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Góp phần xây dựng luận cứ khoa học làm cơ sở để đề xuất giải pháp cải tạo và phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Trang 5- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số mô hình sinh thái rừng đến một số yếu tố môi trường nhằm nâng cao chất lượng rừng trồng và cải thiện môi trường;
- Đề xuất một số giải pháp phát triển các mô hình sinh thái rừng phòng hộ đầu nguồn khu vực ven hồ Hoà Bình
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu hiện trạng các mô hình rừng trồng phòng hộ
- Nghiên cứu diễn biến thảm thực vật rừng tại các mô hình
- Hiệu quả chống xói mòn của các mô hình
- Hiệu quả điều tiết dòng chảy bề mặt tại các mô hình nghiên cứu
- Ảnh hưởng của các mô hình tới tính chất đất
- Nghiên cứu lượng rơi rụng tại các mô hình
- Lượng dinh dưỡng bị mất theo các dòng chảy bề mặt
- Nghiên cứu một số giải pháp để phát triển các mô hình rừng trồng tại khu vực nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp:
- Bố trí thí nghiệm:
- Thu thập số liệu ngoài hiện trường:
+ Điều tra trạng thái thực vật
+ Thu thập lượng xói mòn: tại mỗi mô hình xây dựng một ô định vị để nghiên cứu về
tình trạng xói mòn, dòng chảy bề mặt
+ Thu thập số liệu dòng chảy bề mặt
+ Thu thập số liệu về đất
+ Thu thập số liệu lượng dinh dưỡng bị mất theo dòng chảy bề mặt
+ Thu thập số liệu lượng rơi rụng
2.4.2 Phương pháp nội nghiệp:
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa
2.4.2.2 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
2.4.2.3 Phương pháp xử lý số liệu: được tiến hành trên máy tính với sự hỗ trợ của phần
Trang 6m là lượng đất thu thập được tại ô định vị
+ Tính toán lượng dòng chảy bề mặt:
D bm = (CS cuối – CS đầu ).10000/200
Trong đó: Dbm là Lượng dòng chảy bề mặt tại các mô hình (m3/ha)
CScuối là chỉ số cuối của đồng hồ đo nước tại ô định vị (chỉ số tại thời điểm thu thập)
CSđầu là chỉ số đầu của đồng hồ (chỉ số theo dõi lần trước)
+ Tính toán lượng vật rơi rụng tại các mô hình: là tổng của các lần thu thập được trong năm, sử dụng công thức sau:
L = (a 1 +a 2 +a 3 + a 4 )x 10000
Trong đó: L là tổng lượng rơi rụng tại mô hình (tấn/ha/năm)
a1 là lượng rơi rụng thu thập được lần 1
a2 là lượng rơi rụng thu thập được lần 2
a3 là lượng rơi rụng thu thập được lần 3
a4 là lượng rơi rụng thu thập được lần 4
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 KHÁI QUÁT ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vài nét về khu vực phòng hộ sông Đà và thủy điện Hòa Bình
Khu phòng hộ sông Đà đã được thành lập trên phạm vi 3 tỉnh Tây Bắc là Lai Châu, Sơn La và Hoà Bình, trong đó diện tích lưu vực Sông Đà tại Hòa Bình là 159.860 ha Vùng phòng hộ xung yếu ven hồ Hoà Bình gồm 2 dải đất chạy dọc ven hồ có chiều dài 200 km tính
từ đập chính công trình thuỷ điện Hoà Bình đến Tạ Bú (Sơn La), chiều rộng mỗi dải bình quân 2 km tính từ mép nước hồ lên Phạm vi đất đai vùng dự án đầu tư xây dựng vùng kinh tế phòng hộ xung yếu ven hồ Hoà Bình nằm trong địa phận các huyện: Đà Bắc, Tân Lạc, Cao Phong, Mai Châu, thành phố Hoà Bình (tỉnh Hoà Bình) và các huyện: Mường La, Mai Sơn, Bắc Yên, Mộc Châu, Phù Yên (tỉnh Sơn La)
3.1.1.2 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu
a Vị trí địa lý
Khu vực nghiên cứu thuộc xã Thung Nai, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình Thung
Nai là xã nằm phía Tây Bắc huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, cách thành phố Hòa Bình khoảng 18 km theo quốc lộ 6, có tọa độ địa lý như sau:
Trang 7- 20047’23’’ vĩ độ Bắc
- 105016’42’’ kinh độ Đông
Về mặt địa giới: + Phía Bắc giáp xã Bình Thanh và xã Bắc Phong
+ Phía Nam giáp xã Tây Phong
+ Phía Đông giáp xã Đông Phong
+ Phía Tây giáp Tiền Phong và xã Vầy Nưa
d Thủy văn
Xã Thung Nai nằm ở phía tả ngạn Sông Đà, đường thuỷ nối liền xã với lòng hồ Hòa Bình Trong phạm vi xã không có sông suối lớn nhưng do tiếp giáp với mép nước sông Đà nên mực nước ngầm tương đối cao, rất thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt Về thuỷ lợi: hầu hết diện tích đất trong khu vực phải dựa vào nguồn nước tự nhiên Chỉ một số diện tích hẹp ở ven các suối là đủ nước tưới để canh tác
Độ - Mianma di cư đến nhưng số loài thuộc thành phần bản địa tương đối thấp
3.1.2 Điều kiê ̣n kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Những tác động của hồ chứa Hoà Bình tới đời sống kinh tế - xã hội và môi trường vùng ven hồ
Việc đắp đập ngăn sông Đà, xây dựng hồ chứa Hoà Bình làm ngập những vùng đất thấp ven sông đã gây nên những tổn thất lớn về tài nguyên trong vùng Một số cơ sở hạ tầng
Trang 8cũng bị phá huỷ như: 107.308 m2
nhà ở, 156 đập nước và hồ thuỷ lợi, 153 km kênh mương,
655 km đường ô tô, 30 km đường dây điện thoại
Tác động trực tiếp của việc xây dựng hồ chứa là làm thay đổi toàn bộ hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn, ảnh hưởng đến đời sống của toàn bộ các sinh vật trong hệ sinh thái và các hoạt động kinh tế - xã hội của dân cư trong vùng Hệ sinh thái trên cạn bị dần thay thế bởi hệ
sinh thái nước, đất ngập nước và hệ sinh thái bán ngập 3.1.2.2 Dân số, dân tộc và lao động
Cho đến nay Thung Nai có 6 xã Hầu hết các hộ gia đình trong xã đều sinh sống ở độ cao trên 120m so với mực nước biển Phần lớn đất canh tác nông nghiệp, đặc biệt đất canh tác lúa nước đều đã bị ngập, đời sống người dân gặp rất nhiều khó khăn, thành phần dân tộc Mường, Dao ở đây chiếm tới 97%
* Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp chủ yếu của xã là cây nông nghiệp ngắn ngày, cây hàng năm như: Lúa, Ngô, Đậu, Lạc, Sắn Phương thức canh tác phổ biến là nương rẫy quảng canh phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu thời tiết nên năng suất rất thấp
* Chăn nuôi
Hầu hết các hộ gia đình đều chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà trừ những hộ đặc biệt khó khăn (quá nghèo) hoặc già nua Việc chăn nuôi hiện nay vẫn mang tính chăn thả tự nhiên,
Trang 9thiếu đầu tư, thiếu giống tốt và chưa chú ý phòng dịch bệnh nên đàn gia súc, gia cầm phát triển còn chậm, hiệu quả chưa cao
* Sản xuất lâm nghiệp
Toàn bộ diện tích rừng và đất rừng của xã đã được quy hoạch là rừng phòng hộ rất xung yếu của hồ Hoà Bình nên trong sản xuất lâm nghiệp hiện nay, nguồn thu chủ yếu các hộ
là tiền công trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng phòng hộ
* Một số nhận xét về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
Thế mạnh tiềm năng:
- Là một xã vùng ven hồ Hoà Bình thuộc quy hoạch rừng phòng hộ rất xung yếu cấp quốc gia, đã, đang và sẽ tiếp tục được Nhà nước đầu tư xây dựng và bảo vệ rừng phòng hộ và đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội
- Gần thị trường (thành phố Hoà Bình), có hệ thống giao thông thuỷ, bộ tương đối thuận lợi, có mạng lưới điện đến hầu hết các hộ gia đình
- Có diện tích đất tự nhiên lớn, là một lợi thế để phát triển nông lâm nghiệp, trồng các loại cây ăn quả, cây công nghiệp, cho sản phẩm hàng hoá
- Rừng tự nhiên (tuy đã nghèo kiệt) có thể áp dụng các biện pháp phục hồi nhằm nâng cao độ che phủ, đảm bảo yêu cầu của khu rừng phòng hộ rất xung yếu đồng thời có thể khai thác hợp lý về kinh tế
- Có diện tích mặt nước lớn, nhiều danh lam, thắng cảnh là một lợi thế lớn để phát triển du lịch sinh thái, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, phát triển vận chuyển đường thuỷ
- Do đói nghèo, do sức ép của thị trường nên hiện tượng khai thác lâm sản vẫn xảy ra, rừng tự nhiên hiện còn khó bảo tồn nguyên vẹn
- Chưa có quy hoạch sử dụng đất đai hợp lý, việc sử dụng đất còn tuỳ tiện, giao khoán đất lâm nghiệp chưa thực hiện triệt để và trái với những quy định của pháp luật
- Đầu tư sản xuất thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, sử dụng lao động và thói quen chi tiêu lãng phí của người dân vẫn còn xảy ra
- Đầu tư của Nhà nước cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng còn quá thấp
không kích thích được người dân làm nghề rừng
Trang 103.2 Hiện trạng các mô hình trồng rừng phòng hộ xây dựng tại khu vực nghiên cứu
Hiện trạng các mô hình trồng rừng phòng hộ tại khu vực nghiên cứu được trình bày trong Bảng 3.4
Bảng 3.4: Hiện trạng các mô hình nghiên cứu
Độ che phủ (%)
3.3 Diễn biến của một số yếu tố khí tƣợng tại khu vực nghiên cứu
Số liệu theo dõi khí tượng được tổng hợp tại trạm quan trắc khí tượng đặt tại Trạm nghiên cứu môi trường và rừng phòng hộ sông Đà và các trạm khí tượng lân cận qua 1 số năm được trình bảy trong Bảng 3.5
Bảng 3.5: Nhiệt độ và lƣợng mƣa quan trắc đƣợc tại khu vực nghiên cứu
nhiệt
độ
Lƣợng mƣa
nhiệt
độ
Lƣợng mƣa
nhiệt
độ
Lƣợng mƣa
nhiệt
độ Lƣợng mƣa
Trang 113.4 Diễn biến thảm thực vật rừng tại các mô hình nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu diễn biến thảm thực vật rừng tại các mô hình rừng trồng được trình bày trong Bảng 3.6
Bảng 3.6: Diễn biến thảm thực vật tại một số mô hình nghiên cứu
Số loài
CP (%)
Số loài
CP (%)
Số loài
CP (%)
Số loài
CP (%)
Số loài
CP (%)
Trang 12Hình 3.1: Biểu đồ diễn biến về số lƣợng các loài cây tái sinh của các mô hình nghiên cứu
Biểu đồ trên cho ta thấy mức độ số loài cây tái sinh trong các mô hình nghiên cứu tăng dần lên theo năm Số loài và độ che phủ ở tất cả các công thức thí nghiệm đều tăng dần lên theo các năm và đều cao hơn so với ô đối chứng
3.5 Hiệu quả chống xói mòn của các mô hình nghiên cứu
Bảng 3.7 Lƣợng xói mòn tại các mô hình nghiên cứu qua các năm thu thập
MH2 5.1 82.26 4.36 86.85 4.21 87.71 3.90 82.11 3.82 83.04 3.63 80.13
MH3 5.8 98.39 4.87 89.66 4.10 82.99 4.00 84.24 3.86 83.91 3.70 81.68
MH4 2.00 32.25 2.04 36.29 1.93 39.07 2.00 42.11 1.98 43.04 1.90 41.94
Trang 13Lượng xói mòn tại các mô hình nghiên cứu
Hình 3.2: Biểu đồ lƣợng đất mất do xói mòn tại các mô hình nghiên cứu
Kết quả tính toán chí phí nạo vét bùn do xói mòn gây ra đối với các mô hình rừng trồng nghiên cứu được nêu tại Bảng 3.8
Bảng 3.8 Chi phí nạo vét bùn do xói mòn gây ra ta ̣i các mô hình rừng trồng năm 2011
Tên mô hình Lƣợng xói mòn
(tấn/ha/năm)
Đơn giá (đồng/tấn)*
Thành tiền (đồng/ha/năm)