1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái phục vụ bảo vệ môi trường và phát triển bền vững khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước vân long

96 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 539,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1994, Quỹ bảo tồn thiên nhiên hoang dã WWF đã đưa ra quan điểm về du lịch sinh thái như sau: - Du lịch sinh thái nên quan tâm tới tự nhiên và văn hóa mà du khách sẽ tới trải nghiệm;

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 3

1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái 3

1.1.1 Trên Thế giới 3

1.1.2 Tại Việt Nam 4

1.2 Đặc điểm của du lịch sinh thái 6

1.3 Tiềm năng phát triển DLST của các KBTTN 8

1.4 Du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia và KBTTN Việt Nam 8

1.5 Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và bảo tồn 10

Chương 2 - MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 14

2.2 Nội dung nghiên cứu 14

2.3 Phương pháp nghiên cứu 14

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 14

2.3.2 Phương pháp xử lý thông tin 15

2.3.3 Phương pháp chuyên gia 16

2.4 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài 17

Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18

3.1 Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long 18

3.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 18

3.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 24

3.2 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long 26

3.2.1 Kết quả kinh doanh du lịch qua các năm theo chỉ tiêu ngành 26

3.2.2 Thực trạng phát triển du lịch sinh thái 28

3.2.3 Thực trạng công tác tổ chức quản lý Nhà nước về du lịch 29

Trang 3

3.2.4 Đánh giá thực trạng quản lý, khai thác tài nguyên du lịch 31

3.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái tại một số Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên 31

3.3.1 Kinh nghiệm của Vườn Quốc gia Gunung Halimun của Indonesia 31

3.4.2 Kinh nghiệm của bản Huay Hee - Thái Lan 36

3.4.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng của VQG Ba Bể 39

3.4.4 Kinh nghiệm của bản Sín Chải, Sa Pa - Lào Cai 41

3.4.5 Bài học kinh nghiệm phát triển DLST của VQG Cúc Phương 45

3.5 Xây dựng mô hình du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long 49

3.5.1 Cách tiếp cận để xây dựng mô hình 49

3.5.2 Xây dựng mô hình 51

3.5.3 Bản đồ tổ chức hoạt động du lịch tại KBTTN ĐNC Vân Long 61

3.6 Đề xuất các giải pháp thực hiện mô hình phát triển du lịch sinh thái 64

KẾT LUẬN 71

KIẾN NGHỊ 72

TÀI LI U THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 75

Trang 4

Du lịch sinh tháiMôi trườngPhát triển bền vữngBảo vệ môi trường

Đa dạng sinh họcVăn hóa, Thể thao và Du lịchTổng cục Du lịch

Tổ chức Phát triển Hà Lan

Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế

Trang 5

Danh mục bảng

Bảng 1: Khách du lịch đến với Vân Long 27

Bảng 2: Doanh thu du lịch của Vân Long giai đoạn 2006-2011 27

Bảng 3: Phân chia lợi nhuận của các bên trong dự án phát triển du lịch cộng đồng tại Gunung Halimun- Indonesia 34

Bảng 4: Mức độ tham gia của cộng động trong hoạt động du lịch 51

Danh mục hình Hình 1: Quy trình thu thập thông tin và xử lý thông tin 17

Hình 2: Mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc gia 33

Hình 3: Mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại bản Huay Hee 37

Hình 4: Mô hình cơ cấu tổ chức phát triển DLST dựa vào cộng đồng 39

Hình 5: Mô hình phát triển du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng dân tại bản Sín Chải – Lào Cai 43

Hình 6: Mô hình tổ chức phát triển du lịch sinh thái tại Vân Long 56

Trang 6

Vân Long là khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước nội địa đầu tiên ở ViệtNam với sự đa dạng sinh học cao, với nhiều loài động thực vật quý hiếm được ghi

trong sách đỏ Việt Nam, đặc biệt là loài Voọc Quần đùi trắng (Trachypithecus

delacouri) - một loài đặc hữu của Việt Nam, là 1 trong 25 loài linh trưởng đang bị

đe dọa tuyệt chủng ở mức toàn cầu Ngày 18/12/2010 Trung tâm Sách kỷ lục ViệtNam đã xác lập kỷ lục Vân Long là nơi có cá thể Voọc Quần đùi trắng sinh sốngnhiều nhất Ngoài ra phong cảnh tự nhiên ở Vân Long rất đẹp với những khối núi đávôi đồ sộ được bao bọc xung quanh bởi vùng đất ngập nước là các con sông và mộtvùng hồ nông có thảm thực vật ngập nước

Tuy nhiên, hiện nay đa dạng sinh học và môi trường nơi đây lại đang bị đedọa bởi các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là tác động của cộng đồng.Việc khai thác quá mức gỗ và củi là mối đe dọa chính đối với tính đa dạng sinh học

và đã dẫn đến hầu hết rừng ở khu vực bị phá hủy Khả năng tái sinh tự nhiên củathảm rừng cũng bị hạn chế nhiều do chăn thả dê trên các núi đá vôi, hoạt động khaithác đá cũng tác động rất lớn đến môi trường tự nhiên nơi đây

Du lịch sinh thái được xem là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và vănhóa bản địa có giáo dục môi trường, đóng góp cho bảo tồn với sự tham gia tích cựccủa cộng đồng địa phương Do đó du lịch sinh thái được xác định là loại hình ưutiên trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đếnnăm 2030 (Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, 2012) dưới góc độ bảo tồn thiênnhiên môi trường nói chung và đa dạng sinh học nói riêng

Trang 7

Trong bối cảnh đó đề tài: ―Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái phục vụbảo vệ môi trường và phát triển bền vững Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nướcVân Long‖ không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn góp bảo vệmôi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

Trang 8

Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái

1.1.1 Trên Thế giới

Làm thế nào để vừa phát triển được du lịch, vừa bảo vệ được thiên nhiên vànhững quyền lợi của người dân địa phương? Một trong những giải pháp được xâydựng và hưởng ứng là du lịch có hướng dẫn, du lịch có trách nhiệm với thiên nhiên

và cộng đồng dân cư địa phương Ý tưởng đó bắt đầu được thực hiện từ khoảng 20năm gần đây và dần dần hình thành nên du lịch sinh thái ngày nay

Năm 1984, Hiệp hội du lịch sinh thái có đưa ra định nghĩa: ―Du lịch sinh thái

là loại hình du lịch trách nhiệm đến những vùng tự nhiên, có hỗ trợ bảo tồn quần thể

tự nhiên và phát triển bền vững cộng đồng

Năm 1991, theo Boo: ―Du lịch sinh thái là loại hình du lịch diễn ra trongcác vùng có hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu,chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các giá trị văn hóahiện hữu

Năm 1994, Quỹ bảo tồn thiên nhiên hoang dã (WWF) đã đưa ra quan điểm về

du lịch sinh thái như sau:

- Du lịch sinh thái nên quan tâm tới tự nhiên và văn hóa mà du khách sẽ tới trải nghiệm;

- Du lịch sinh thái nên góp phần vào việc bảo tồn thiên nhiên và đem lại lợi ích về mặt kinh tế cho cộng đồng địa phương;

- Du lịch sinh thái hầu như có quy mô nhỏ nhưng đáp ứng được nhu cầu cao của cả du khách và nhà điều hành tour;

- Du lịch sinh thái giúp du khách có thêm kiến thức và sự tôn trọng, đánh giá cao cho các yếu tố về thiên nhiên, văn hóa, môi trường và sự phát triển

- Theo David Western (1999) du lịch sinh thái thực sự là một hỗn hợp các mốiquan tâm xuất phát từ các trăn trở về môi trường, kinh tế, xã hội Các nhà bảo tồn đang

bỏ công sức đáng kể để đón du lịch sinh thái như một tác nhân đắc lực cho bảo tồn thiênnhiên Ngày nay, du lịch đã trở thành một trong những hoạt động

Trang 9

kinh tế lớn nhất trên toàn cầu - một cách để trả nợ cho bảo tồn thiên nhiên và tănggiá trị của những khu thiên nhiên còn lại Du lịch sinh thái được hiểu như mộtngành kinh tế phát triển bền vững với dòng tiền chuyển từ du khách vào hoạt độngbảo tồn.

Năm 2001, theo Weaver nhận định có 3 tiêu chí trọng tâm được lặp lại tronghầu hết các định nghĩa, đó là:

- Dựa vào thiên nhiên

- Có yếu tố về giáo dục hay nhận thức

Năm 2002, Page và Dowling đưa thêm 2 yếu tố mà du lịch sinh thái nên có:

- Đem lại lợi ích cho cộng đồng

- Và sự hài lòng, thỏa mãn cho du khách

1.1.2 Tại Việt Nam

Năm 1999, Tổng cục Du lịch (VNAT) đã phối hợp với một số tổ chức quốc tếnhư ESCAP, WWF, IUCN tổ chức hội thảo quốc gia về: ―Xây dựng Chiến lượcphát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam‖ Hội thảo đã đưa ra một định nghĩa về Dulịch sinh thái như sau: ―Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên

và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp tích cực cho bảo tồn

và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương‖

Năm 2005, Luật Du lịch Việt Nam đã xác định: ―Du lịch sinh thái là hìnhthức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự thamgia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững‖

Theo quy chế quản lý hoạt động du lịch sinh thái tại các Vườn Quốc gia, Khubảo tồn thiên nhiên ban hành kèm Quyết định số 104/2007/QĐ-BNN, ngày27/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: ―Du lịch sinhthái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phươngvới sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững, đápứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu du lịchtrong tương lai‖

Trang 10

Như vậy có thể thấy quan điểm về du lịch sinh thái được thể hiện ở nhiềudạng khác nhau tùy theo nhận thức, quan điểm các nhà nghiên cứu của các tổ chức

và tùy vào điều kiện đặc thù của các Quốc gia, các khu vực địa lý, hành chính khácnhau Nơi nào ý thức trách nhiệm đối với thiên nhiên cao hơn thì tiêu chí thiênnhiên hoang sơ được đề cập đến nhiều hơn Có những nơi ý thức bảo tồn thiênnhiên cũng như yếu tố tiêu chí giáo dục môi trường, sinh thái, tiêu chí về quản lýbền vững được chú trọng nhiều hơn

Nhận định chung: Cách nhìn nhận du lịch sinh thái hiện nay cũng khá mở vàcho dù có những khác biệt nhất định nhưng đa số các chuyên gia và tổ chức quốc tếđều thống nhất những nội dung cơ bản mà du lịch sinh thái cần phải có, đó là:

- Du lịch sinh thái là một loại hình phát triển du lịch bền vững, được quản lý bền vững;

- Là loại hình dựa vào thiên nhiên là chính (đặc biệt là ở những khu vực còn hoang sơ, được bảo tồn tương đối tốt);

- Có hỗ trợ bảo tồn (không làm thay đổi tính toàn vẹn của hệ sinh thái, nguồnthu được từ hoạt động du lịch sinh thái được đầu tư cho công tác bảo tồn, bảo vệ môitrường…);

- Có các hoạt động, hình thức giáo dục về môi trường và sinh thái;

- Có sự tham gia chia sẻ lợi ích cộng đồng (khuyến khích sự tham gia cộngđồng trong các hoạt động và dịch vụ cho du lịch sinh thái như hướng dẫn viên địaphương, kinh doanh lưu trú, ăn uống, tạo các sản phẩm bổ trợ khác…)

Quan điểm trên có thể làm cơ sở để đối sánh những hoạt động du lịch đangdiễn ra hiện nay tại Việt Nam, đồng thời có thể định hướng giúp các nhà hoạch địnhchiến lược phát triển du lịch sinh thái của nước ta, từ đó có thể vạch ra những chiếnlược, kế hoạch khai thác và phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam

Trên thực tế ở Việt Nam, quan điểm về Du lịch sinh thái cũng có những yếu tốchưa được hiểu một cách thống nhất giữa những người làm du lịch và các bên liênquan Nếu hiểu du lịch sinh thái đúng như thực chất là phải có đóng góp cho sự pháttriển của cộng đồng địa phương một cách trực tiếp bằng các lợi ích tài

Trang 11

chính cụ thể như việc làm và tiền lương nhân công, trích nguồn thu tái đầu tư chophúc lợi xã hội của cộng đồng địa phương, bù đắp cho công tác bảo vệ môi trườngsinh thái tại chỗ… và như vậy thì hoạt động du lịch sinh thái hiện nay chưa đượctriển khai theo đúng nghĩa của nó.

1.2 Đặc điểm của du lịch sinh thái

Trong thực tế, có một số hình thức du lịch có những đặc điểm và tính chấttương tự như du lịch sinh thái vì yếu tố tiền đề của những loại hình du lịch này làdựa vào nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên như du lịch thiên nhiên, du lịch mạohiểm, du lịch hoang dã, du lịch nông thôn… Thực chất, du lịch sinh thái có nhữngđặc điểm khác biệt nhất định so với các loại hình khác Bên cạnh những đặc điểm,tính chất chung của hoạt động du lịch như tính đa ngành, đa thành phần, đa mụctiêu, tính liên vùng, tính liên quốc gia, tính mùa vụ, …, du lịch sinh thái còn cónhững đặc tính riêng cơ bản sau:

- Tính thân thiện với môi trường: Các hình thức hoạt động du lịch sinh tháiđều mang tính thân thiện môi trường cao Ngay từ khâu quy hoạch xây dựng cho đếnkhâu tổ chức hoạt động đều tuân thủ một nguyên tắc không can thiệp vào thô bạo đếnmôi trường tự nhiên, hạn chế tối đa những tác động xấu đến môi trường Điều này liênquan đến công nghệ và vật liệu sử dụng trong xây dựng và quản lý hoạt động của du lịchsinh thái

- Tính giáo dục cao về môi trường, sinh thái, văn hóa: Các hoạt động du lịchsinh thái thường mang lại những kiến thức đa dạng về hệ sinh thái, về đa dạng sinh học

và các giá trị văn hóa truyền thống Qua đó, khách du lịch sinh thái có thể nâng

cao nhận thức về môi trường và có trách nhiệm hơn với việc bảo vệ môi trường tự nhiên và nền văn hóa truyền thống

- Tính chuyên nghiệp cao: Hoạt động du lịch sinh thái yêu cầu trình độ quản

lý chuyên nghiệp bởi đội ngũ nhân viên được đào tạo kỹ càng, có kiến thức nghiệp vụchuyên môn cao và kiến thức về sinh thái môi trường bao quát Tính chuyên nghiệp đượcthể hiện trước hết ở trình độ, năng lực của nhà quản lý Yêu cầu đối với nhà quản lý dulịch sinh thái không chỉ giỏi ở nghiệp vụ quản trị du lịch, năng

Trang 12

lực quản lý tốt mà còn phải am hiểu về hệ sinh thái, về văn hóa và cả nghiệp vụ bảo tồn.

- Tính định hướng thị trường: Do đặc điểm của mình, du lịch sinh thái có tínhđịnh hướng thị trường rất cao Thường thì du lịch sinh thái có một phân khúc thịtrường riêng, những người ưa khám phá, tìm hiểu và có trình độ nhất định Do vậy,

để phát triển du lịch sinh thái, vấn đề nghiên cứu thị trường và quảng bá xúc tiến cóvai trò đặc biệt quan trọng PGS.TS Phạm Trung Lương (Viện Nghiên cứu Pháttriển Du lịch) đã đúc kết một số đặc điểm của khách du lịch sinh thái như sau:

+ Đó là những người trưởng thành, có thu nhập cao, có giáo dục và có sự quan tâm đến môi trường thiên nhiên;

+ Thích hoạt động ngoài thiên nhiên;

+ Thường có thời gian du lịch dài hơn và mức chi tiêu nhiều hơn so với khách

du lịch ít quan tâm đến thiên nhiên;

+ Thường không đòi hỏi cao về đồ ăn thức uống hoặc nhà nghỉ cao cấp đầy

Với những đặc tính trên, du lịch sinh thái được phát triển sẽ mang lại nhữnglợi ích vô cùng thiết thực đối với ngành du lịch nói riêng và phát triển xã hội bềnvững nói chung

Trang 13

1.3 Tiềm năng phát triển DLST của các KBTTN

Tiềm năng về tài nguyên du lịch: Tính đến đầu năm 2012 Việt Nam đã có 16

di sản văn hóa và di sản tự nhiên thế giới được UNESCO công nhận bao gồm: Quầnthể di tích Cố Đô Huế (1993), Thánh địa Mỹ Sơn (1999) Vịnh Hạ Long (1994,2000), Phố cổ Hội An (1999), VQG Phong Nha Kẻ Bàng (2003), Không gian vănhóa Cồng chiêng (2005), Quan họ Bắc Ninh (2009), Ca Trù (2009), Mộc bản chiềuNguyễn (2010), Cao nguyên đá Đồng Văn (2010), Bia đá Văn Miếu (2010), Hoàngthành Thăng Long (2010) Hội Gióng (2010), Thành Nhà Hồ

(2011), Hát Xoan (2011) Đây là điểm nổi bật về văn hóa bản địa và cảnh quanthiên nhiên Ngoài ra chúng ta còn có 8 khu Dự trữ sinh quyển được UNESCO côngnhận gồm: Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ An, Cát Tiên, Cù Lao Chàm,Cần Giờ, Cà Mau và Biển Kiên Giang Việt Nam còn có 30 VQG, 61 Khu bảo tồn,

117 nhà bảo tàng, 21 khu du lịch quốc gia…

Qua các số liệu nêu trên, ta thấy được rằng các VQG, các khu DTSQ, các disản tự nhiên thế giới, thậm chí kể cả các di sản Thế giới về văn hóa vật thể và phivật thể cũng là tài nguyên du lịch sinh thái, vì theo định nghĩa của du lịch sinh tháithì du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và gắn với bản sắc vănhóa bản địa

1.4 Du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia và KBTTN Việt Nam

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch(2007) có khoảng 30% lượng khách du lịch đến các khu vực này, trong đó phần lớn

là khách du lịch nội địa, chiếm tới 80% tổng lượng khách Tuy nhiên có những điểmthu hút được đa số khách du lịch quốc tế, điển hình là khu bảo tồn thiên nhiên Đấtngập nước Vân Long với trên 82.3% lượng khách đến tham quan du lịch là kháchquốc tế Tuy nhiên, hầu hết các rừng đặc dụng, số lượng khách du lịch đến chưanhiều Theo báo cáo điều tra đánh giá hiện trạng bảo tồn thiên nhiên, giáo dục môitrường, du lịch sinh thái ở hệ thống các khu rừng đặc dụng trong 1 năm dưới 2.000lượt khách chiếm 44.7%; từ 2.000-10.000 chiếm 32%; trên 10.000 chiếm 21.4%

Trang 14

Hầu hết các khu rừng đặc dụng còn thiếu quy hoạch phát triển du lịch (chưa

có cơ chế đánh giá và giám sát du lịch, quy chế khách tham quan, sức chứa của môitrường); số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2007) cho thấymới có khoảng 33% các VQG, KBT có thực hiện quy hoạch phát triển du lịch, 23%

có quy hoạch sử dụng đất và khoảng hơn 70% các VQG, KBT đã có quy hoạch bảotồn

Lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch chưa đầu tư lại cho bảo tồn hoặcnếu có vẫn còn ở mức độ thấp Một số địa phương có điều kiện phát triển du lịchsinh thái thường có xu hướng phát triển cơ sở du lịch xâm lấn vào các khu bảo tồn,VQG, khiến áp lực như ô nhiễm môi trường, chia cắt sinh cảnh kể cả nhận thức củakhách du lịch chưa đầy đủ đã tạo áp lực lớn cho các khu rừng đặc dụng

Tỷ lệ người dân tham gia vào các dịch vụ du lịch còn ít, chính vì vậy ngườidân địa phương không thấy được lợi ích của việc phải giữ rừng

Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển du lịch ở các VQG vàKBTTN nhìn chung là có sự hướng dẫn của Ban quản lý khu rừng đặc dụng và các

cơ quan quản lý nhà nước về du lịch địa phương, tuy nhiên sự giúp đỡ này thườngchỉ ở giai đoạn đầu còn sau đó hoạt động bị buông lỏng, thiếu sự giám sát của cơquan chức năng Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự hấp dẫn du lịch mà còn ảnhhưởng đến nguồn tài nguyên đa dạng sinh học ở các VQG và KBTTN

Một số tồn tại về hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG và KBT:

- DLST ở KBTTN Việt Nam chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của

nó, một trong những nguyên nhân chủ yếu kìm hãm sự phát triển DLST ở các KBTTNViệt Nam là thiếu sự phối kết hợp giữa các cơ quan, các ngành, các cấp

trong việc xây dựng các chính sách phát triển và quy hoạch DLST Du lịch là mộtngành liên quan đến nhiều lĩnh vực, cần phải có sự kết hợp giữa các bên liên quanthì mới có thể phát triển được Hiện tại, các hoạt động du lịch ở các KBTTN cònmang tính tự phát, chưa có sản phẩm và thị trường mục tiêu, chưa có đầu tư xúc tiến

và phát triển công nghệ phục vụ cho DLST Xét về nội dung và cách thức hoạt

Trang 15

động du lịch ở các VQG và KBTTB hiện nay thuộc loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên có định hướng DLST.

- Một số VQG đã thành lập Ban du lịch hoặc Trung tâm Du lịch sinh thái vàgiáo dục môi trường để điều hành hoạt động du lịch Công tác nghiên cứu, quy hoạchphát triển DLST đã được tiến hành ở một số VQG như Cúc Phương, Ba Bể, Ba Vì, Tamđảo, Bạch Mã, Cát Tiên, Tràm Chim… Trước kia, việc đầu tư kinh phí cho cơ sở hạ tầng

để phát triển du lịch ở các VQG chủ yếu là từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.Hiện nay, Tổng cục Du lịch, các tỉnh và nhiều công ty cũng đã tập trung nguồn kinh phí

- Mặc dù các VQG và KBT thiên nhiên có mức độ đa dạng sinh học cao, tuynhiên có số lượng cá thể thấp, thêm vào đó phần lớn các loài động vật hoang dã trongKBT thường hoạt động vào ban đêm nên rất khó quan sát Điều này làm giảm tính hấpdẫn đối với du khách

1.5 Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và bảo tồn

Có thể nói quan hệ giữa du lịch sinh thái với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên,

đa dạng sinh học và bảo vê môi trường là mối quan hệ cộng sinh: Du lịch sinh thái

Trang 16

đóng góp cho bảo tồn và ngược lại bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi trường là nền tảng để phát triển du lịch sinh thái.

Hiện nay, vấn đề khai thác du lịch và bảo tồn đang diễn ra theo 3 mối quan

hệ chính:

- Thứ 1: Cùng tồn tại: Trường hợp này xảy ra ở những nơi chưa có quyhoạch và định hướng phát triển du lịch một cách cụ thể Du lịch vẫn phát triển và việcbảo tồn cũng vẫn được đảm bảo Tuy nhiên, mối quan hệ này sẽ không tồn tại được lâudài bởi phát triển du lịch chắc chắn sẽ phải tác động đến môi trường, nếu không có cácgiải pháp cụ thể sẽ dẫn tới mối quan hệ thứ 2- Mâu thuẫn

- Thứ 2: Mẫu thuẫn: trường hợp này xảy ra ở những nơi mà phát triển du lịchlàm suy thoái tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường Tại đây, các nhà bảo tồn luôn

có xu hướng chống đối du lịch bằng cách cấm đoán và giới hạn Loại hình du lịch trongmối quan hệ này không phải là du lịch sinh thái

- Thứ 3: Cộng sinh: Quan hệ cộng sinh có thể diễn ra nếu du lịch và bảo tồnđược tổ chức hài hòa Ở góc độ bảo tồn, các vốn quý tự nhiên được bảo tồn tới mức tối

đa ở trạng thái ban đầu, hoặc tiến hoá tới một trạng thái hoàn hảo hơn Ở góc độ du lịch,được phép sử dụng các vốn quý tự nhiên trong giới hạn cho phép, du lịch

phải có đóng góp cho bảo tồn

Trên thực tế: quan hệ của du lịch và bảo tồn thường xuất phát từ cùng tồn tạicho tới mâu thuẫn sau đó mới là cộng sinh Điều này có thể do một số nguyên nhân:quản lý không tốt; sự bùng nổ của du lịch cũng như sự suy thoái và mất đi các khuthiên nhiên; sự mở rộng quy mô của du lịch mà không có quy hoạch cẩn thận; sựchia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan chưa được hài hòa… Trên con đường đó, dulịch sinh thái sẽ được hình thành và như vậy mới trả lời được câu hỏi: ―tại sao lạiphát triển du lịch sinh thái tại khu bảo tồn?‖

Để có thể phát triển được DLST tại KBT cần phải có cơ chế bảo tồn và pháttriển DLST cụ thể Về nguyên lý, phát triển DLST sẽ có thu nhập và 1 phần thunhập hoặc 100% thu nhập từ hoạt động DLST phải quay lại hỗ trợ cho bảo tồn vàbắt buộc phải có sự tham gia của cộng đồng

Trang 17

Hiện nay, hoạt động du lịch nói chung, DLST nói riêng có thể thấy vai tròcủa cộng đồng trong việc trực tiếp tham gia và quản lý vào hoạt động phát triển dulịch và DLST ở các VQG, KBTTN, bao gồm:

- Tham gia vào quá trình quy hoạch phát triển du lịch: Đây là yếu tố rất quantrọng đảm bảo cho quy hoạch du lịch đi vào cuộc sống với sự ủng hộ, giám sát của cộngđồng địa phương

- Cộng đồng có thể tham gia hoạt động lữ hành với tư cách là hướng dẫnviên/thuyết minh viên địa phương ở các VQG, KBTTN, sự hiểu biết và kinh nghiệm củacộng đồng sẽ giúp du khách hiểu rõ hơn về các giá trị cảnh quan, ĐDSH ở khu vực

- Tham gia ủng hộ việc bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch khi cộngđồng có được hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch Việc bảo vệ tài nguyên ĐDSH và môitrường du lịch sẽ không thể có hiệu quả nếu thiếu sự tham gia tích cực của cộng đồng địaphương

- Cung cấp các dịch vụ đến du khách: cộng đồng có khả năng tự tổ chứccung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách du lịch như lưu trú tại nhà, vận chuyểnkhách, dịch vụ ăn uống, bán hàng thủ công mỹ nghệ

- Cung cấp các sản phẩm du lịch văn hóa mang bản sắc truyền thống: biểudiễn nghệ thuật dân gian truyền thống; Các tác phẩm văn học, nghệ thuật, truyện kể, vănhọc dân gian hoạt động trình diễn sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống hoặcđơn giản là các sinh hoạt trong cuộc sống thường ngày mà ở đó cộng đồng là chủ thể

Như vậy, có thể thấy, những vấn đề quan trọng cần thiết cho phát triển DLSTcộng đồng bao gồm :

- Cơ chế chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch là do địa phương xây dựng, chưa

có một quy định cụ thể, thường tồn tại nhiều bất cập chủ yếu ở đây là cộng đồng chưađóng vai trò làm chủ… Do vậy, xây dựng cơ chế phát triển và bảo tồn phải lấy cộng đồnglàm trung tâm

Trang 18

- Việc quản lý và kiểm soát hoạt động phát triển DLST ở các vùng tự nhiên chủ yếu phải do cộng đồng địa phương đảm trách.

- Cần có được nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn về sự cần thiết bảo vệ các vùng tự nhiên nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và đa dạng văn hoá

- Cần có được những dự báo và biện pháp kiểm soát bổ sung khi tổ chức pháttriển hoạt động DLST ở những khu vực có tính nhạy cảm đặc biệt về môi trường

Trang 19

Chương 2 - MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xác lập cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển du lịch sinh thái phục

vụ bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngậpnước Vân Long

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Tổng quan những vấn đề lý luận về du lịch sinh thái

- Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long

- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái đặc biệt là đóng góp cho bảo vệ môi trường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long

- Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái tại một số Vườn Quốc gia hoặc Khu bảo tồn thiên nhiên

- Đề xuất định hướng và mô hình phát triển du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long

- Đề xuất các giải pháp thực hiện

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

a Phương pháp kế thừa tài liệu

Thông tin về hoạt động du lịch sinh thái trong nước và trên thế giới được thuthập bằng phương pháp kế thừa tư liệu đã được đăng tải trên sách, báo, tạp chí vàcác công trình nghiên cứu đã được công bố Những thông tin thu thập gồm: Điềukiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan đến hoạt động du lịch sinh thái và bảo vệmôi trường ở Việt Nam nói chung và khu vực nghiên cứu; Sự phát triển của du lịchsinh thái, quản lý du lịch sinh thái; Kinh nghiệm tổ chức quản lý du lịch sinh thái;Vai trò của hoạt động du lịch sinh thái với bảo bảo vệ môi trường và phát triển bềnvững; Luật du lịch áp dụng với Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn…

Trang 20

b Phương pháp khảo sát thực địa

Đề tài tiến hành khảo sát khu vực nghiên cứu nhằm xác minh, đánh giá cácthông tin thu thập trong quá trình kế thừa tài liệu, đồng thời bổ sung, cập nhật cácthông tin mới

Trong quá trình khảo sát, đề tài tổ chức đi theo tuyến du lịch, đến các điểm

du lịch, phối hợp phỏng vấn nhanh và điều tra xã hội học

c Phương pháp điều tra xã hội học

- Đối với du lịch sinh thái, một yếu tố quan trọng đó là nắm được tâm lý,nguyện vọng của khách du lịch, cộng đồng dân cư khu du lịch và cách thức quản lý, tổchức, hoạt động của các cơ quan, doanh nghiệp liên quan đến du lịch và môi trường tạikhu vực nghiên cứu Để làm được điều này, cần phải thực hiện phỏng vấn nhanh và điềutra xã hội học Đề tài đã xây dựng 3 mẫu phiếu điều tra (mỗi mẫu phiếu từ 20-30 chỉ tiêutập trung vào các vấn đề quan tâm của đề tài) dành cho

3 đối tượng trên, dự kiến phỏng vấn khoảng 150 du khách bao gồm cả khách quốc

tế và khách nội địa, 100 phiếu dành cho cộng đồng địa phương và 50 phiếu dànhcho các cơ quan và doanh nghiệp liên quan đến du lịch và môi trường tại khu vựcnghiên cứu

- Ngoài ra trong quá trình điều tra, không tránh khỏi những nội dung phátsinh không có trong mẫu phiếu, do vậy phỏng vấn là phương pháp hữu hiệu để bổ sungcác thông tin này, đồng thời cũng giúp người điều tra tiếp cận hơn với các đối tượng điềutra nhằm xác minh tính chính xác của các thông tin thu thập được trong mẫu phiếu điềutra

2.3.2 Phương pháp xử lý thông tin

a Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu

Phân tích, tổng hợp là hai công đoạn quan trọng không thể tách rời trong quátrình thực hiện nội dung đề tài Số liệu được thu thập từ nhiều nguồn, phong phúnhưng không đồng bộ Sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp cho phép lựachọn, chiết lọc và chuẩn hoá cơ sở dữ liệu theo hệ thống nhất định, đảm bảo độchính xác và dễ sử dụng cho các công đoạn tiếp theo Phân tích số liệu cũng cho

Trang 21

phép lựa chọn các chỉ thật sự có ý nghĩa nhằm đánh giá được tiềm năng, hiện trạngphát triển du lịch, xây dựng mô hình du lịch sinh thái cũng như đề xuất được cácgiải pháp thực hiện.

b Phương pháp thống kê

Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu Phươngpháp toán thống kê được vận dụng nghiên cứu trong đề tài này để xác định hiệntrạng hoạt động du lịch thông qua các chỉ tiêu phát triển ngành cơ bản, đồng thời đểthông kê các chỉ tiêu của điều tra xã hội học, phương pháp này hỗ trợ xử lý cácthông tin để xây dựng mô hình phù hợp và đưa ra giải pháp thực hiện phát triển dulịch sinh thái gắn với bảo vệ môi trường

c Phương pháp khai thác và xây dựng bản đồ

Phương pháp này được thực hiện thông qua các phần mềm chuyên dụngMapInfo, nhằm khai thác các thông tin có sẵn trên bản đồ nền địa hình, thảm thựcvật, thổ nhưỡng, quy hoạch sử dụng đất, bản đồ du lịch… qua đó, xây dựng đượcbản đồ chuyên đề theo mục tiêu của đề tài

2.3.3 Phương pháp chuyên gia

Ngoài các phương pháp trên thì phương pháp chuyên gia cũng đóng vai tròhết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài Bản thân du lịch là một ngànhkinh tế tổng hợp và môi trường du lịch bao hàm rất nhiều các yếu tố tác động liênquan, do vậy muốn đảm bảo cho các đánh giá tổng hợp có cơ sở và mang tính hiệuquả đòi hỏi có sự tham gia của các chuyên gia về nhiều lĩnh vực liên quan

Trang 22

Khái quát về quy trình thu thập và xử lý thông tin

Tổng quan về du

Thu lịch sinh thái

thập trong nước và thế

thông giới tin

Thông tin về điều Thông tin về tiềm Kinh nghiệm phátkiện tự nhiên, kinh tế năng, hiện trạng phát triển du lịch tại các

và xã hội nhân văn triển, tổ chức và quản các Vườn Quốc gia,của khu vực nghiên lý du lịch tại khu Khu bảo tồn, và các

- Sử dụng phần mềm MapInfo để xử lý thông tin và xây dựng bản đồ

- Xác định vai trò của các thành phần tham gia vào mô hình phát triển du lịch sinh thái

Hình - Mô hình phát triển du lịch sinh thái phục vụ bảo vệ môi

thành trường và phát triển bền vững tại KBTTN ĐNC Vân Long

kết - Bản đồ tổ chức không gian du lịch

Hình 1: Quy trình thu thập thông tin và xử lý thông tin

2.4 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài

- Phạm vi nghiên cứu: Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long

- Giới hạn: Số liệu từ năm 2001-2011

Trang 23

Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long

3.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Theo Luật Du lịch 2005, Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố

tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và cácgiá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố

cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch

Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịchnhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác

Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khíhậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mụcđích du lịch

3.1.1.1 Các giá trị về đa dạng sinh học

a Đa dạng hệ sinh thái

Vân Long là một trong những vùng ĐNC tự nhiên còn sót lại có diện tích lớnnhất của vùng sinh thái đồng bằng Bắc bộ Ở đây có hệ động thực vật rất phongphú, đặc biệt là nơi cư trú của loài Voọc Quần đùi trắng- một trong những loài linhtrưởng đặc hữu quý hiếm của Việt Nam

Vân Long có 3 hệ sinh thái chính:

- Hệ sinh thái trên cạn được hình thành trên nền Karst bao gồm:

+ Rừng thứ sinh trên núi đá vôi

+ Trảng cỏ và cây bụi trên núi đá vôi

+ Rừng trồng (Keo, Bạch đàn, Sưa bắc bộ)

+ Đất nương rẫy trồng cây màu, cây ăn quả

Trang 24

- Hệ sinh thái dưới nước được hình thành ở vùng trũng mang đặc trưng của vùng đầm lầy nước ngọt đồng bằng sông Hồng bao gồm:

+ Đầm nước

- Hệ sinh thái dân cư

Mỗi hệ sinh thái đều có đặc trưng riêng và2 PVT có giá trị du lịch, songđứng về khía cạnh bảo tồn có hai hệ sinh thái đặc biệt có giá trị là: rừng thứ sinhtrên núi đá vôi và đầm nước

Hệ sinh thái rừng thứ sinh trên núi đá vôi là nơi sinh sống của loài VoọcQuần đùi trắng, còn hệ sinh thái đầm nước là nơi bảo tồn khu hệ thực vật thủy sinhđặc trưng của vùng Đồng bằng sông Hồng, và nơi di trú của nhiều quần thể chimnước từ phương Bắc

b Đa dạng loài

* Các loài cây sống trên núi đá vôi

- Do bị khai thác quá mức, nhiều loài cây gỗ lớn không còn nhiều Nghiêncứu điều tra gần đây cho biết số lượng loài của khu hệ thực vật sống trên cạn có 687 loài,thuộc 451 chi, 144 họ Ngành rêu có vài loài Quyết thực vật có đại diện là cây dớn (câyguột) Thực vậy hạt trần là cây tuế, cây gấm Thực vật hạt kín một lá mầm và hai lá mầm

có rất nhiều loài Thuộc nhóm cây gỗ vẫn còn gặp nhiều như: cây nhội, lộc vừng, sung,ghè, chân chim, thàn mát, thị, đa, nghiến, lim xẹt, lát hoa…Đây cũng là nơi phân bố củaloài cây sưa (gỗ huê - một loại gỗ quý) Các cây bụi phổ biến có: ô rô, duối, cò ke, bungbục…các loài cỏ có: cỏ lào, cỏ tranh, cỏ

lam

- Trong khu Bảo tồn, rừng trồng ở những nơi đất trồng có bạch đàn, keo tai tượng, tre Gần đây việc trồng cây gỗ sưa đã và đang được thử nghiệm nhân rộng

- Trong số các cây sống trên núi đá vôi còn phải kể nhóm các loài cây thuốc

mà nhân dân trong vùng trước đây vẫn vào đây thu hái để chữa bệnh Theo thống

Trang 25

kê cho biết có tới 266 loài cây dùng làm thuốc Cây bụi có cây Xương rồng, cây Vú

bò, cây Ké hoa vàng, cây Cơm nguội…cây cỏ có cây Rau má, Hà thủ ô trắng, rauTàu bay, cây Đơn buốt, cây Thuốc bỏng…cây gỗ có Núc nác, cây Cánh kiến, câySấu, cây Sung, cây Đề, cây Gạo…

- Một nhóm cây khác nữa có giá trị bảo tồn là cây cảnh Đã kiểm kê đượctrên 20 loài cây cảnh có giá trị phân bố ở đây Đó là các loài Lan, Si, Sanh, Dương xỉ,Thông đất, Tuế, Huyết giác…

* Các loài thực vật thủy sinh sống ở đầm

Với gần 1.000 ha diện tích đầm nước đang ở trạng thái tự nhiên hoang dã, đãphát hiện 35 loài thực vật thủy sinh: thuộc Quyết thực vật có cây hẹ nước, cây rau

bợ, bèo ong…; thuộc một lá mầm: có cây Rau mác, Bèo cái, Bèo tấm, Cói, Raumuống…; thuộc hai lá mầm: có Sen, Súng, Trang, Nghể, Ấu…

Các cây thủy sinh phát triển mạnh vào mùa hè, mùa đông trời lạnh và nướccạn phát triển chậm Thực vật thủy sinh trong đầm là thành phần rất quan trọng củabất cứ một khu đất ngập nước nào ở Đồng bằng sông Hồng

* Các loại vi tảo ở đầm

Các loài vi tảo sống ở đầm khá phong phú Đã thống kê được 258 taxon bậcloài thuộc 5 ngành: tảo mắt, tảo lục, tảo Silic, tảo vàng ánh và tảo hai rãnh Ngànhtảo lục chiếm ưu thế về số loài Vi tảo ở đầm cùng với thực vật thủy sinh đóng vaitrò quan trọng trong chu trình vật chất trong đầm là sự quang hợp lấy CO2 cùng vớinăng lượng mặt trời để hình thành nên chất hữu cơ – cơ sở thức ăn cho tất cả cácđộng vật và thải O2 vào khí quyển

* Các loài động vật sống trên cạn

- Các loài côn trùng: Sơ bộ khảo sát thành phần loài có 132 loài trong đó có

bộ Cánh nửa (Hemiptera) có 14 loài, bộ Cánh cứng (Coleoptera) có 11 loài, bộ Cánhthẳng (Orthoptera) có 7 loài, bộ Chuồn chuồn (Odonata) có 19 loài, bộ Cánh vẩy(Lepidoptera) 54 loài Nhóm Bướm Ngày khá phong phú, có 8 họ: họ Bướm phượng(Papilionidae) 6 loài, họ Bướm mắt rắn (Satyridae) 5 loài, họ Bướm giáp (Nymphalidae)

7 loài, họ Bướm phấn (Pieridae) 7 loài, họ Bướm tro (Lycaeridae) 8

Trang 26

loài, họ Bướm đốm (Danaidae) 4 loài, họ Bướm nhẩy (Hesperidae) 4 loài và họ Bướm Acreaidae.

- Các loài ếch nhái – bò sát: Sống ở Khu bảo tồn có tất cả 38 loài thuộc 16

họ, 3 bộ, 2 lớp Số lượng loài rắn khá nhiều 14 loài, số lượng loài ếch nhái là 7 loài, rùa

có 4 loài…

- Các loài chim: Các loài chim có 100 loài thuộc 39 họ và 13 bộ Đặc trưngcủa khu hệ chim trong đầm đó là nhóm chim nước; nhóm chim trên cạn gồm cácloài sống ở miền núi giáp đồng bằng Nhiều loài chim cỡ lớn như các loại họ Ưng,

họ Trĩ, họ Gà nước, họ Gà lôi nước, họ Bồ câu số lượng không còn nhiều, song hiệntại vẫn còn đang sinh sống tới 100 loài chim, trong đó có nhiều loài chim quý hiếmnhư Sâm cầm, le le…

- Các loài thú: Kết quả điều tra cho biết các loài thú có 39 loài thuộc 19 họ và

8 bộ ở Khu bảo tồn Tuy nhiên thực tế không dễ gặp ở tự nhiên nhất là cá loài thú lớnnhư Gấu ngựa, Sơn dương, Lợn rừng, Báo gấm… do bị săn bắn quá mức nay vẫn chưaphục hồi, trừ loài Voọc Quần đùi trắng được đặc biệt quan tâm bảo vệ nên số lượng cáthể ngày càng phát triển

* Các loài động vật thủy sinh

Sống ở đầm nước là cả một giới động vật nguyên sinh đa dạng và phongphú Cỡ nhỏ là các động vật nguyên sinh mà mắt thường không nhìn thấy; cỡ vừa làcác loài cua, tôm, ốc, cá; cỡ lớn có rùa, ba ba…

Kết quả nghiên cứu từ 2001 - 2003 cho thấy thành phần loài động vật khôngxương sống ở khu Bảo tồn có 108 loài thuộc 61 họ (trong đó có 80 loài động vậtđáy và 22 loài động vật nổi) Có một số đại diện thuộc nhóm Trùng bánh xe, nhómChân chèo, nhóm Râu ngành, Thân mềm, Giáp xác và Côn trùng nước

Cá được coi là động vật thủy sinh quan trọng của đầm Đã điều tra được có

54 loài thuộc 17 họ và 9 bộ Tất cả các loài cá ở đây đều là các loại điển hình chovùng ao hồ đầm đồng bằng sông Hồng Hiện tại có 2 ngoại lệ cần lưu ý đó là việcxuất hiện vài loài cá di cư từ biển vào sông như cá Lành canh, cá Ngần…Và một sốloài cá sông suối miền núi như cá Rầm xanh…

Trang 27

Ếch nhái, bò sát… sống ở đầm nước là rất phong phú, riêng ếch nhái có 7loài; rùa nước có 3 loài, Kỳ đà hoa.

Chim và thú: cũng có nhiều loài liên quan chặt chẽ với đầm nước như cácloài chim nước, Rái cá…

c Các loài động vật, thực vật quý hiếm, đặc hữu

Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long hiện đang sinh sống một

số lượng khá lớn là 39 loài thực vật và động vật quí hiếm được ghi trong Sách ĐỏViệt Nam: Thực vật 12 loài, động vật 27 loài

- Các loài thực vậy quý hiếm có: Sưa, sơn địch, nghiến, lát hoa, tuế đá vôi,

bổ cốt toái, chân danh, rau sắng, khuyết lá thông, mã tiền tán, bách bộ, bò cạp núi

- Các loài động vật – thân mềm quí hiếm có: Ốc vặn hình tháp, Trai cóchình tai, trai Cóc tròn, trai Cánh mỏng

- Côn trùng ở nước quí hiếm có Cà cuống

- Cá quí hiếm cớ cá Rầm xanh

- Bò sát quý hiếm có: rắn Hổ mang, rắn Hổ mang chúa, rắn Sọc khoanh, rắn Ráo trâu, rắn Cạp nong, rắn Ráo thường, Tắc kè, Kỳ đà hoa

- Chim: có Sâm cầm, Phượng hoàng đất, Gà lôi…

- Thú: Dơi chó tai ngắn, Cu li lớn, Khỉ mặt đỏ, Voọc Quần đùi trắng, Gấungựa, Rái cá thường, Cầy mực, Cây vằn bắc, Báo gấm, Báo hoa mai, Sơn dương,

Tê tê

* Loài Voọc Quần đùi trắng – loài đặc trưng quý hiếm ở Việt Nam

Loài Voọc Quần đùi trắng (Trachypithecus delacouri) thuộc họ khỉ, bộ linh

trưởng Loài Voọc Quần đùi trắng không chỉ có giá trị bảo tồn quan trọng ở trongnước mà trên cả thế giới Đây là một trong 25 loài linh trưởng đặc biệt quý hiếmtrên thế giới cần bảo vệ

Ở Việt Nam quần thể Voọc Quần đùi trắng chỉ còn khoảng 300 cá thể và phân bố ở 3 tỉnh: Hòa Bình, Ninh Bình Thanh Hóa

Theo khảo sát năm 2001, tại khu Bảo tồn Thiên nhiên Đất ngập nước VânLong có 43 cá thể Voọc Quần đùi trắng Song cho đến nay, nhờ được vảo vệ tốt số

Trang 28

cá thể đàn Voọc Quần đùi trắng có khoảng 100 cá thể Chúng sống thành từng đảnnhỏ, mỗi đàn thường có một Voọc đực, vài Voọc cái và một số Voọc con Các đànVoọc ở dãy núi Đồng Quyển – Hoàng Quyển thường dễ gặp nhất.

Về mùa đông, Voọc thường chọn những hang đá làm nơi ngủ qua đêm Voọchoạt động nhiều vào sáng sớm và chiều tối, con đực đầu đàn dẫn cả đàn di chuyểnkiếm ăn Hàng ngày Voọc di chuyển không xa

3.1.1.2 Giá trị về cảnh quan sinh thái

Địa hình phổ biến là địa hình karst, hoạt động thường xuyên và mạnh mẽ dođịa hình chủ yếu chứa các thành tạo đá vôi, có lượng mưa lớn, có nền nhiệt cao vànước tầng mặt khá phong phú Các thành tạo đá vôi được tao ra rất đa dạng cả trênmặt đất và dưới mặt đất

- Đỉnh và sườn các khối núi karst là thành tạo đá vôi phổ biến ở khu Bảo tồn.Đỉnh các khối này thường sắc nhọn với cá chỏm đá tai mèo rất đặc trưng, sườn dốc đừngvới nhiều đống đá sụp đổ tạo nên cảnh quan đẹp Các đỉnh núi có độ cao khoảng từ 100 –500m như: đỉnh Ba Chon (426m), đỉnh Đồng Quyền (328m), đỉnh

Mào Gà (308m), đỉnh Núi Súm (233m), đỉnh Mèo Cào (206m), đỉnh Núi Mây (138m), đỉnh Núi Lương (128m), đỉnh Cô Tiên (116m)

- Phễu và các hố sụt karst (địa phương gọi là thung) ở đây rất phổ biến vớimật độ 2 – 3 phễu/km2 Kích thước các phễu chỉ đạt vài ha hiếm khi đạt trên 10 ha Cácphễu có tiếng là thung Cận, thung Đầm Bái, thung Quèn Cả, thung Hoa Lư (Thung Lau),thung Đồng Rộng, thung Giếng méo… Hình dạng các hố thụt tương đối thẳng đứng, đáykhá bằng phẳng và được bao quanh bởi các vách đá dựng đứng Đất trong các phễu và hốsụt karst rất màu mỡ, thích hợp cho việc trồng các loại cây ăn quả

- Hang động karst: các hang động karst ở đây khá nhiều nhưng đều khônglớn, ngắn, trần thấp và ít thạch nhũ Các điều tra nghiên cứu về các hang động ở đây còn

sơ sài Đại bộ phận là các hang ở chân núi Trước khi đắp đê Đầm Cút ngăn lũ (trước

1963 – 1964) phần lớn các hang này là những hang cạn, sau khi đắp

Trang 29

đê hầu hết các hang này đã bị ngập nước quanh năm Một số hang ngập nước quanhnăm điển hình là hang Cá, hang Vồng, hang Bóng…

Một số hang đẹp có hang Cá, hang Bóng, hang Thanh Sơn, hang Núi Thơ,hang Bà Nghiệp, hang Tranh, hang Đá Đỏ, hang Thung Dơi Các hang Cá, hangBóng là hang ngập nước; các hang còn lại là hang khô không ngập nước

3.1.1.3 Giá trị đối với sinh thái môi trường

Với diện tích gần 1.000 ha đất ngập nước, được bao quanh bởi các dãy núi

đá vôi và tuyến đê đầm Cút nước ngập quanh năm, hoang sơ và không bị ảnh hưởngnhiều do các yếu tố tác động của con người

Dấu vết khi đất ngập nước Vân Long được lưu ý ở đây là suối Tép chạy dọckhu Bảo tồn, và 2 đầm: đầm Cút và đầm Vân Long

Khu đất ngập nước Vân Long được cấp và tiêu nước từ các con sông baoquanh là sông Hoàng Long và sông Đáy Mực nước trong đầm dao động giữa 2mùa, mùa cạn và mùa mưa Suối Tép và các nhánh của nó ở trong Khu đất ngậpnước là dòng chảy và có độ sâu hơn các nơi khác nên hiện nay được khai thác làmtuyến du lịch sinh thái bằng thuyền trong Khu bảo tồn

Nước ở khu đầm Cút sạch và không bị ô nhiễm, nhờ vai trò lọc sạch của cáquần thể thực vật thủy sinh và vi tảo tồn tại và phát triển dày đặc ở trong đầm

Nguồn nước và các thủy sinh vật ở Khu đất ngập nước có quan hệ chặt chẽvới cá sinh vật sống ở khu vực, đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho các loàichim, thú, bò sát…

Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long hiện tại có vai trò quantrọng về khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội như: điều tiết nước – dòng chảy mặt, cấpnước ngầm, nước sinh hoạt, nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, điều hòa khíhậu, xử lý ô nhiễm, cung cấp lương thực thực phẩm, đa dạng sinh học và cảnh quan

du lịch

3.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá,văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao

Trang 30

động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thểđược sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

a Các di tích lịch sử văn hóa

Được thành lập ngay trên vùng đất có lịch sử lâu đời – vùng đất mà hai triềuđại Đinh, Lê chọn làm kinh đô Vân Long lúc đó thuộc châu Đại hoàng (thế kỷ X).Các di tích văn hóa, lịch sử, tôn giáo có ở khắp nơi Trong giới hạn của khu bảo tồnthiên nhiên đất ngập nước Vân Long, một số địa danh nổi tiếng như:

- Động Hoa Lư ở Thung Lau (xã Gia Hưng), là nơi tập trận của Đinh Bộ Lĩnh trước khi dẹp yên các sứ quân (Thập nhị Sứ quân) để lên ngôi Hoàng đế

- Đền Thung Lá (xã Gia Hưng) là nơi thờ cúng mẹ của Đinh Tiên Hoàng

- Đền thờ Tứ vị Hồng Nương (xã Gia Vân), thờ 4 vị tướng của Hai BàTrưng Đến tham quan đền thờ còn có thể được xem 3 tờ chiếu công nhận của 3 đời vuaTriều Nguyễn là: Thành Thái, Duy Tân và Khải Định

- Chùa Thanh Sơn Tự ở xã Gia Vân đặt ở hang ở độ cao 30m nơi đây có đường thông lên trời và đường ngầm thông ra Đầm Cút

Sát ngay khu Bảo tồn, nằm ở 7 xã vùng đệm còn có

- Động Địch Lộng (xã Gia Thanh) là nơi được tôn vinh Nam Thiên Đệ Tam động (Đẹp thứ ba trời Nam)

- Cư dân sống tại 7 xã quanh khu bảo tồn đại bộ phận theo đạo phật Một số

cư dân thôn Vườn Thị và thôn Gọng Vó ở xã Gia Hòa và thông Tập Ninh xã Gia

Vân có theo Thiên chúa giáo Nhà thờ Thiên chúa ở xã Gia Lập rất đẹp

- Trong khu vực 7 xã quanh khu Bảo tồn có rất nhiều ngôi đền, đình chùa, miếu, nhà thờ và nhà cầu nguyện…

b Các tuyến tham quan

Hiện tại Ban quản lý khu Bảo tồn đã phối hợp với cộng đồng địa phương xâydựng được một số tuyến du lịch sinh thái như sau:

+ Tuyến 1 đi thuyền: từ bến du lịch Vân Long tới hang Vồng, rồi tiếp tục đithuyền dọc dãy núi Đồng Quyển lần lượt qua cửa Đồng Thày, hang Bóng Kẽm Trăm tớiĐập Mới rồi quay lại

Trang 31

+ Tuyến 2 đi thuyền: từ bến du lịch Vân Long tới chùa Bái Vọng, rồi tiếp tục

đi thuyền dọc dãy núi Mèo Cào lần lượt qua hang Bà Nghiệp, Vườn Thị tới hang Cá rồiquay lại

+ Tuyến 3 đi bộ: đi từ bến du lịch Vân Long, theo bờ đê đến Đầm Cút thămchùa Thanh Sơn Tự Rời chùa tới thôn Cọt (xã Gia Hưng) thăm vườn cây ăn trái, theođường mòn lên núi qua đền Thung Lá rồi vào thăm khu rừng trong Thung Quèn Cả.+ Tuyến 4 đi thuyền: quan sát đàn Voọc Quần đùi trằng Có thể quan sátđược đàn Voọc Quần đùi trắng vào sáng sớm và hoàng hôn ở đây ở núi Đồng Quyển

c Khả năng tiếp cận dịch vụ

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long cách Hà Nội 82km vềphía Nam, và cách trung tâm Ninh Bình 17km Có thể đi từ Hà Nội, hoặc từ NinhBình…đến Vân Long một cách dễ dàng bằng ô tô, hoặc các phương tiện khác

Tại đây hệ thống dịch vụ cho các nhu cầu tham quan, hội họp, nghỉ ngơi vàchiêm ngưỡng của các du khách đều được phục vụ một cách nhiệt tình chu đáo Vớiđầy đủ các phương tiện, tiện nghi, nhà hàng khách sạn, sân quần vợt, bể bơi,…;nhất là sự nhiệt tình của đội ngũ hướng dẫn viên, những người phục vụ và nhữngngười đang làm công tác bảo tồn

Đến với Vân Long du khách có thể liên hệ với Ban quản lý Khu Bảo tồn,Ban quản lý Khu du lịch hoặc các nhà hàng khách sạn của Vân Long

3.2 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long

3.2.1 Kết quả kinh doanh du lịch qua các năm theo chỉ tiêu ngành

a Khách du lịch

Khách du lịch đến Vân Long chủ yếu là khách du lịch quốc tế (Pháp, HànQuốc, Nhật Bản), đối tượng khách du lịch có khả năng chi trả cao Thông qua cáchoạt động du lịch đã phần nào góp phần nâng cao đời sống nhân dân, chuyển dịch

Trang 32

cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang dịch vụ du lịch theo đúng định hướng của Đảng

(Nguồn Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình)

Qua bảng trên, có thể nhận thấy khách du lịch đến với Vân Long đã giảm sútqua các năm, đặc biệt là khách nội địa Tuy nhiên, lượng khách quốc tế lại khá ổnđịnh từ năm 2007

Do vậy, cần phải có nhiều biện pháp để thu hút khách nội địa và gia tănglượng khách quốc tế đến với Khu bảo tồn

b Cơ sở vật chất phục vụ du lịch

Trong những năm gần đây tại khu trung tâm đón tiếp tại xã Gia Vân đã kêugọi, thu hút được 5 dự án đầu tư cơ sở vật chất kinh doanh du lịch với tổng số vốntrên 1000 tỷ đồng Các dự án hầu như đang trong quá trình đầu tư xây dựng cơ sởvật chất kỹ thuật để đi vào hoạt động khai thác du lịch như: Dự án Xây dựng công

ty TNHH thương mại dịch vụ Tân Lập Phong; Dự án Xây dựng của công ty TNHHThảo Sơn; Dự án Xây dựng công ty TNHH Ngôi Sao Dự án Xây dựng công tyTNHH Thương mại và vận tải Hoàng Gia; Đầu tư xây dựng Khu du lịch sinh tháiViệt Đài; Dự án đầu tư khu nghỉ dưỡng Ana Mandra Ninh Bình Resort

(Nguồn: Sở VH,TT&DL Ninh Bình)

Do lượng khách đến với khu du lịch giảm nên doanh thu cũng bị giảm đi

Trang 33

đáng kể Doanh thu năm 2010 và 2011 có sự suy giảm mạnh, đặc biệt năm 2011giảm hơn một nửa so với năm 2006.

3.2.2 Thực trạng phát triển du lịch sinh thái

Trong những năm gần đây, tại khu du lịch sinh thái Vân Long đã đón khách

du lịch trong và ngoài nước đến đây với số lượng khá cao Các doanh nghiệp du lịch

đã chủ động phối hợp với các hãng lữ hành trong và ngoài nước đưa Vân Longthành một điểm du lịch không thể thiếu trong tour du lịch của khách quốc tế khi đếnViệt Nam Thông qua các hoạt động du lịch khu vực đất ngập nước Vân Long đãđược du khách đánh giá cao về tài nguyên đa dạng sinh học cũng như cảnh quan tựnhiên hấp dẫn

Hiện nay, loại hình du lịch sinh thái Homestay đang được chú trọng pháttriển tại KBTTN ĐNN Vân Long Homestay là loại hình du lịch khách du lịch đếnnghỉ ngơi sinh hoạt ngay chính tại ngôi nhà của người bản địa trong chuyến đi dulịch của mình Homestay là hình thức du lịch bền vững, đặc biệt phù hợp với cácquốc gia đa văn hóa như Việt Nam Homestay thu hút mạnh khách du lịch là nhữnglớp trẻ ham mê khám phá và trải nghiệm cuộc sống đa dạng Doanh nghiệp tư nhânNgôi Sao phối hợp với các công ty lữ hành tổ chức Homestay cho khách đến ở nhàdân, cùng người dân đi làm Hiện tại đã có 2 hộ gia đình tham gia đón tiếp khách dulịch là hộ: bà Nguyễn Thị Chè, xã Gia Hòa; Ông Phạm Văn Khoan, xã Gia Vân.Các hoạt động mà du khách đến đây được khám phá như:

+ Tát nước gầu sòng, gầu dây, đi móc cua ở bờ ruộng, cất vó, đánh dậm cua.+ Cùng người dân làm cua nấu canh, thổi cơm vùi vùng do

+ Tổ chức cho khách đi xe đạp, xe trâu vào các thôn xóm

Các chương trình này khách du lịch rất ưa thích, khách được trải nghiệmcuộc sống, đặc biệt khách ấn tượng nhất là được tìm hiểu phong tục tập quán của cưdân địa phương, phương thức sản xuất truyền thống cùng với những nông cụ thô sơnhưng hữu ích đã gắn bó hàng ngàn đời nay tại Vân Long

Bên cạnh đó, ở đây đã được giải quyết được phần nhiều lao động như các hộgia đình tham gia phục vụ dịch vụ vận chuyển xe trâu (15 hộ) cho khách nước

Trang 34

ngoài và thu nhập bình quân của người dân tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch

là các tuyên truyền viên về giáo dục bảo tồn cũng như giám sát và nhắc nhở du khách cáchoạt động gây hại đến môi trường

- Cung cấp dịch vụ lưu trú: Cộng đồng địa phương sẽ cung cấp các dịch vụlưu trú cho du khách tại chính ngôi nhà của mình Qua đó, cộng đồng có thể giới thiệucho du khách về nét văn hóa của địa phương

- Tổ chức các hoạt động: Tại Vân Long cộng đồng có thể tổ chức biểu diễn một số loại hình văn hóa dân gian như hát, đốt lửa trại, kéo co, trò chơi dân gian

- Hướng dẫn viên tại chỗ: Cộng đồng địa phương tuy là những người không

có các kỹ năng du lịch nhưng họ lại là người hiểu về truyền thống văn hóa, phong tục tậpquán, lễ nghi, các phương thức canh tác, sản xuất… với hiểu biết của mình họ sẽ lôi cuốn

du khách một cách tự nhiên hơn so với các hướng dẫn viên chuyên nghiệp

- Làm việc tại cơ sở lưu trú, kinh doanh lữ hành

- Sản xuất mặt hàng thủ công, xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng…

3.2.3 Thực trạng công tác tổ chức quản lý Nhà nước về du lịch

Trong thời gian qua được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyềnviệc quản lý nhà nước về du lịch tại đây đã có nhiều sự chuyển biến rõ nét theo chiềuhướng tích cực; tổ chức thực hiện các chương trình hành động theo định hướng chung;kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh nhằm hoàn thành kế hoạch, mục tiêu pháttriển du lịch trên địa bàn huyện Gia Viễn, phù hợp với định hướng chung của tỉnh,cũng như của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình

Trang 35

Triển khai Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007 của Chính Phủ về việcquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch; Nghị Định 149/2007/NĐ-

CP ngày 09/10/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực

du lịch, tạo hành lang pháp lý để các tổ chức cá nhân tham gia làm du lịch cùngthực hiện

UBND huyện Gia Viễn đã thành lập Ban chỉ đạo phát triển du lịch, trong đócác thành viên là cán bộ đầu ngành đóng trên địa bàn nhằm tập trung chỉ đạo pháttriển du lịch của huyện; phối kết hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyhoạch chi tiết khu du lịch sinh thái Vân Long – là một trong hai khu du lịch trên địabàn tỉnh đã thực hiện quy hoạch chi tiết Tạo điều kiện thuận lợi để kêu gọi, thu hútđầu tư tại khu du lịch

UBND huyện Gia Viễn đã có quyết định thành lập trạm du lịch Địch Lộng,nhằm quản lý khai thác tài nguyên du lịch một cách có hiệu quả; Hướng dẫn, tư vấncho các tổ chức cá nhân doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định của nhà nước vềkinh doanh lưu trú du lịch và các loại hình kinh doanh dịch vụ du lịch khác Tạomọi điều kiện cho các tổ chức cá nhân doanh nghiệp đầu tư phát triển tại khu du lịchsinh thái Vân Long

Tổ chức các lớp bồi dưỡng, nâng cao kiến thức du lịch cộng đồng cho ngườidân tại những xã có tiềm năng du lịch trong khu du lịch sinh thái Vân Long như: XãGia Vân, Gia Hưng, Gia Thanh và Gia Hoà Thông qua chương trình này, ngay từđầu nhân dân đã được nâng cao nhận thức về ngành kinh tế du lịch, tập trung chútrọng đến công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch

Hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, việcthực hiện quy hoạch, kế hoạch của các tổ chức cá nhân, doanh nghiệp trong hoạtđộng đầu tư, hoạt động kinh doanh du lịch

Chính quyền sở tại các xã trong khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước VânLong phối hợp với Ban quản lý rừng Đặc dụng Hoa Lư Vân Long luôn chú trọng,tập trung triển khai thực hiện tốt công tác bảo vệ, công tác an ninh trật tự, vệ sinhmôi trường, văn minh du lịch trong khu vực

Trang 36

3.2.4 Đánh giá thực trạng quản lý, khai thác tài nguyên du lịch

Công tác quản lý nhà nước về du lịch đã dần từng bước hoàn thiện cơ cấu tổchức bộ máy quản lý, quản lý có hiệu quả các hình thức cung cấp dịch vụ du lịchcủa người dân địa phương

Về công tác định hướng phát triển của khu bảo tồn: Đây là khu du lịch thứ2/7 khu du lịch đã có quy hoạch chi tiết được UBND tỉnh phê duyệt Tạo điều kiệnthuận lợi để các nhà đầu tư vào đầu tư cơ sở vật chất kinh doanh du lịch

Dự án đầu tư CSHT đã hoàn thành hạng mục đầu tư đường vào khu trungtâm bến thuyền Vân Long nối với đường 477 tạo điều kiện thuận lợi vào tham quantrong khu du lịch sinh thái Vân Long

Các dự án đầu tư cơ sở vật chất kinh doanh bước đầu đã đưa vào khai thác sửdụng có hiệu quả như doanh nghiệp tư nhân Ngôi Sao, công ty TNHH Thảo Sơn.Các dịch vụ du lịch tuy chưa được đa dạng hóa nhưng mang đậm nét văn hóa đặctrưng, gây được cảm tình tốt đối với khách du lịch trong và ngoài nước

Nhân dân sống trong khu du lịch sinh thái Vân Long đã nhận thức đúng đắn

về công tác bảo tồn và lợi ích từ các hoạt động du lịch mang lại

3.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái tại một số Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên

3.3.1 Kinh nghiệm của Vườn Quốc gia Gunung Halimun của Indonesia

Vườn quốc gia Vườn quốc gia Gunung được thành lập năm 1992 trên mộtdải đất rừng rộng thấp ở phía Tây Java với diện tích 40.000 ha, có 237 loài động

Trang 37

vật trong đó có nhiều loại động vật quý hiếm đang bị đe dọa như, Vượn Java, Khỉ láEbony, Thằn lằn Gai và một số loài báo, sư tử Hệ thực vật có khoảng 500 loài cây

có hoa Chim có tới 204 loài có loài nổi tiếng như: Đại Bàng Java biểu tượng củaIndonesia Trong khu vườn quốc gia có người Kasepuhan bản xứ, họ là người nôngdân có ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nhất là quan điểm của người dân đốivới rừng là tài sản được tổ tiên để lại nên phải bảo vệ để hổ trợ cho cuộc sống bộ lạcchứ không phải để khai thác Người Kasepuhan có một nền văn hóa, nghệ thuậttruyền thống độc đáo như múa, âm nhạc, võ thuật đã thu hút được một lượng kháchtrong và ngoài nước đến tham quan

a Các yêu cầu cấp thiết phải xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc gia Gunung Halimun

- Là vườn quốc gia có vùng đất còn nguyên sơ với đa dạng hệ sinh thái vànền văn hóa bản địa cần được bảo vệ và bảo tồn giữ gìn Là đầu nguồn nước cung cấpnước sinh hoạt cho cả khu vực Java Tài nguyên thiên nhiên ở đây đang bị đe dọa bởi rấtnhiều nhân tố thi công các công trình giao thông, các doanh nghiệp kinh doanh khai thácvàng trong vùng, khai thác gỗ trái phép và áp lực từ việc di dân, tăng dân số đến ở trongkhu vực

- Khoảng cách từ Jakarta đến Vườn quốc gia chỉ mất 3 tiếng đồng hồ, vì vậyvào những ngày nghỉ cuối tuần số lượng khách đến đây vượt quá trên 10.000 người gây

áp lực rất lớn đối với tài nguyên thiên nhiên

- Lượng khách du lịch đến Vườn quốc gia tăng nhiều nguồn thu đã mang lạicho khu vực và chính phủ, nhưng dân cư địa phương không được hưởng lợi từ hoạt động

du lịch nên vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên không đảm bảo và dân cư không chophép khách đến tham quan sinh hoạt cộng đồng đã có ít nhiều tác động đến tài nguyênthiên nhiên, khách du lịch và cộng đồng dân tộc trong vùng

Trang 38

b Mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc gia Gunung

Halimun

Để cân bằng giữa bảo tồn và lợi ích cho cộng đồng từ hoạt động du lịch Các

tổ chức phi chính phủ đã phối hợp với Ban quản lý xây dựng mô hình phát triển dulịch dựa vào cộng đồng

Nhóm phát triển và Banquản lý Vườn QG

GHNP Consortium

Cơ quan thực hiện

Các nhân tố tác Phát triển du lịchVườn quốc gia Tài nguyên vùng

Cộng đồng ngườiKasepuhan

Hình 2: Mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc gia

Gunung Halimun - Indonesia

- Nhân tố tổ chức và quản lý bao gồm: Chính phủ thông qua Ban quản lý,các Tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước là đơn vị tổ chức ra mô hình, tài trợ

về vật chất và giúp đỡ kinh nghiệm và là đơn vị quản lý thông qua một đơn vị trựcthuộc là Ban quản lý

- Nhân tố tác động để xây dựng và phát triển mô hình

Trang 39

+ Tài nguyên thiên nhiên (nhân tố tác động và bị tác động) có ý nghĩa đếnviệc thu hút khách du lịch tạo điều kiện cho hoạt động cung cấp dịch vụ của cộng đồng.

+ Khách du lịch bao gồm số lượng, thành phần có ý nghĩa đến thu nhập của

cộng đồng

+ Các nhân tố tác động khác (các công ty lữ hành, các tổ chức Phi chính phủ),mức độ tham gia của các công ty lữ hành có tác động đến thu hút khách du lịch

Chia sẻ lợi ích cho các bên tham gia là vấn đề quan tâm hàng đầu phát triển

du lịch ở đây Các bên tham gia phát triển du lịch đã phối hợp xây dựng các nhànghỉ cộng đồng do người dân bản địa quản lý và kinh doanh, mỗi làng có sự hỗ trợ

về kinh nghiệm của nhân viên dự án, mỗi nhà nghỉ đều có một tài khoản tại ngânhàng, mọi tích lũy chi tiêu của mỗi nhà được thảo luận giữa các bên có liên quan dochủ nhà đứng ra tổ chức, phân chia lợi nhuận được tính như sau:

Bảng 3: Phân chia lợi nhuận của các bên trong dự án phát triển du lịch cộng đồng

tại Gunung Halimun- Indonesia

Trang 40

c Bài học kinh nghiệm

- Du lịch dựa vào cộng đồng nhận được sự giúp đỡ của Tổ chức Phát triển dulịch sinh thái (Consortium of Ecotourism development) gồm 5 đơn vị tham gia: Câu lạc

bộ sinh học (BScC), Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (Widlife

Preservation Irust International- WPTI), Trường đại học Indonesia (UI) và nhà hàngMcDonald's ở Indonesia Nhờ sự giúp đỡ của các thành viên về tài chính và kinhnghiệm nên đã huy động được hai nhóm dân tộc đang sống trong khu vực là ngườiKasepuhan và người dân mới di cư tham gia cung cấp các sản phẩm dịch vụ chokhách vừa bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

- Thành lập một ban quản lý tham gia với cộng đồng Ban quản lý được gọi

là GHNP Consortium đã tích cực hỗ trợ cộng đồng chủ động tiến hành các công việc nhưhoạch định, quản lý, thực thi các kế hoạch phát triển du lịch dựa vào cộng đồng

- Phát triển du lịch đi đôi với bảo tồn và bảo vệ tài nguyên nhằm vào khíacạnh của tính bền vững kinh tế, xã hội và môi trường Đây là hai vấn đề cần được

quan tâm song song

- Bảo tồn đi đôi với việc chú trọng quảng cáo về tài nguyên thiên nhiên, tàinguyên nhân văn có trong vườn quốc gia để thu hút khách du lịch

- Để cho phát triển bền vững, cộng đồng cần được tham gia các buổi huấnluyện về phục vụ, hướng dẫn viên du lịch và phương pháp bảo vệ tài nguyên du lịch,tham gia đào tạo chuyên sâu học cách tạo ra những sản phẩm thủ công địa phương, tạo racác mẫu mã mang đậm nét bản địa hàng thủ công để bán được nhiều cho khách du lịch,tập huấn về vệ sinh an toàn

- Giao quyền cho cộng đồng có nghĩa là cộng đồng địa phương được khuyếnkhích tham gia, được đảm nhận trách nhiệm các công việc có liên quan đến phát triển dulịch và bảo vệ tài nguyên

- Đảm bảo sự công bằng trong việc chia sẻ lợi ích từ việc phát triển du lịch

- Được chính phủ tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế chính sách như 5 năm không thu thuế, chính phủ đầu tư cơ sở hạ tầng chủ yếu là đường, điện và nước

Ngày đăng: 20/11/2020, 09:12

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w