Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển du lịch, nhiều di tích, trong đó baogồm cả những di tích lịch sử cách mạng, đã tổ chức tốt các hoạt động du lịch, đảm bảođược sự hài hòa giữa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHÙNG THỊ KIM ANH
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG ATK ĐỊNH HÓA – THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHÙNG THỊ KIM ANH
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH NHẰM BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH
MẠNG ATK ĐỊNH HÓA – THÁI NGUYÊN
Trang 3M ỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài 8
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Bố cục của luận văn 14
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1 Mộ số vấn đề về di tích lịch sử cách mạng 15
1.1.1 Định nghĩa về di tích lịch sử cách mạng 15
1.1.2 Đặc điểm của di tích lịch sử cách mạng 17
1.2 Vai trò của phát triển du lịch với bảo tồn, phát huy di tích lịch sử cách mạng 19
1.3 Phát triển du lịch tại di tích lịch sử cách mạng 22
1.3.1 Đặc điểm chung 22
1.3.2 Nhân tố ảnh hưởng 24
1.3.3 Nguyên tắc 24
1.3.4 Nội dung tổ chức 26
1.4 Kinh nghiệm phát triển du lịch tại một số khu di tích lịch sử cách mạng 30
1.4.1 Kinh nghiệm trên thế giới 30
1.4.2 Kinh nghiệm một số địa phương trong nước 31
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG ATK ĐỊNH HÓA – THÁI NGUYÊN 34
2.1 Khái quát về khu di tích 34
Trang 42.1.1 Lịch sử hình thành 34
2.1.2 Hệ thống điểm di tích thuộc khu di tích 36
2.1.3 Hệ thống tài nguyên du lịch đan xen và lân cận 39
2.1.4 Các giá trị chính của khu di tích 41
2.2 Thực trạng hoạt động du lịch tại khu di tích 42
2.2.1 Chủ trương, chính sách 42
2.2.2 Bộ máy tổ chức 44
2.2.3 Công tác quy hoạch 48
2.2.4 Công tác bảo tồn, tôn tạo 50
2.2.5 Công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật 53
2.2.6 Hệ thống sản phẩm du lịch 59
2.2.7 Công tác quảng bá, xúc tiến 65
2.2.8 Công tác liên kết phát triển du lịch 69
2.2.9 Khách du lịch 70
2.2.10 Doanh thu từ du lịch 77
2.2.11 Những đóng góp của hoạt động du lịch đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị khu di tích 78
2.3 Đánh giá chung sự phát triển du lịch tại khu di tích ATK Định Hóa 79
Tiểu kết chương 2 80
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG ATK ĐỊNH HÓA 822
3.1 Các chủ trương, chính sách của Chính phủ và tỉnh Thái Nguyên đối với khu di tích ATK Định Hóa 822
3.1.1 Các chủ trương, chính sách của Chính phủ 822
3.1.2 Các chủ trương, chính sách của tỉnh Thái Nguyên 833
3.2 Những định hướng chính trong phát triển du lịch tại khu di tích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa, Thái Nguyên 855
3.3 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch để bảo tồn, phát huy giá trị di tích 866
Trang 53.3.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 866
3.3.2 Giải pháp về tổ chức quản lý 877
3.3.3 Giải pháp về phát triển thị trường 888
3.3.4 Giải pháp về quy hoạch di tích 899
3.3.5 Giải pháp về bảo tồn, tôn tạo di tích 91
3.3.6 Giải pháp về phát triển sản phẩm 955
3.3.7 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 977
3.3.8 Đầu tư cơ sở hạ tầng – vật chất kỹ thuật 977
3.3.9 Giải pháp về tuyên truyền quảng bá 100100
3.3.10 Giải pháp về liên kết phát triển du lịch 103
3.4 Một số kiến nghị 1055
3.4.1 Kiến nghị đề xuất với các cơ quan, ban ngành 1055
3.4.2 Kiến nghị đề xuất với các công ty du lịch 1066
3.4.3 Kiến nghị đề xuất với du khách 1077
3.4.4 Kiến nghị đề xuất với cộng đồng địa phương 1077
Tiểu kết chương 3 1088
KẾT LUẬN 1099
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1122
PHỤ LỤC 1155
Trang 6UNESCO United Nations Educational, Scientific and
Cultural Organization (Tổ chức giáo dục, khoa học vàvăn hóa thế giới)
UNWTO United World Tourism Organnization (Tổ chức
du lịch thế giới)WTTC World Tourism and Travel Council (Hội đồng
Lữ hành Du lịch Thế giới)
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hóa
Bảng 2.2 : Hệ thống điểm di tích cấp tỉnh thuộc ATK Định Hóa 38
Bảng 2.3: Doanh thu hoạt động du lịch của Khu di tích ATK 77Định Hóa
Bảng 2.4: Mức độ hài lòng của du khách về hoạt động bảo tồn di 52tích tại ATK Định Hóa
Bảng 2.5: Mức độ hài lòng của du khách đối với chất lượng các 58dịch vụ du lịch
Bảng 2.6: Kênh thông tin du khách biết đến Khu di tích lịch sử 68ATK
Bảng 1: Đầu tư và phân kỳ đầu tư xây dựng, phục hồi, bảo tồn, 114tôn tạo giá trị các Di tích ATK (2013 – 2020)
Bảng 2:Hướng chuyên đề du lịch tại ATK Định Hóa – Thái 115Nguyên
Bảng 3:Bảng tổ chức cán bộ viên chức tại khu di tích (2014) 117Biểu đồ Biểu đồ 2.1: Vốn đầu tư cho bảo tồn và du lịch tại khu di tích 51
ATK giai đoạn 2006 – 1010
Sơ đồ Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Ban quản lý Khu di tích lịch sử sinh 46
thái – ATK Định Hóa
Sơ đồ 3.1: Đề xuất quy hoạch cụm di tích phục vụ du lịch 90
Sơ đồ 3.2: Bảo tồn, xây dựng và khai thác theo vùng của cụm di 92tích
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển du lịch từ lâu đã được coi là một trong những giải pháp quan trọngnhằm hỗ trợ hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di tích nói riêng và di sản
văn hóa nói chung Công ước quốc tế về Du lịch văn hóa đã chỉ rõ: “ Du lịch ngày
càng được thừa nhận rộng rãi, là một động lực tích cực cho việc bảo vệ di sản thiên nhiên văn hoá” Đồng thời, Du lịch Việt Nam ngay từ đầu đã xác định mục tiêu của
phát triển du lịch cũng nhằm bảo tồn và tôn vinh các giá trị văn hóa dân tộc
Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển du lịch, nhiều di tích, trong đó baogồm cả những di tích lịch sử cách mạng, đã tổ chức tốt các hoạt động du lịch, đảm bảođược sự hài hòa giữa mục tiêu phát triển và bảo tồn, vừa thu hút được du khách, manglại nguồn thu, vừa bảo vệ, tôn tạo được di tích trở thành điểm du lịch hấp dẫn
Tuy nhiên thực tế phát triển cũng đã cho thấy hai hiện tượng khác: một là cókhông ít nơi, với không ít lần, đã xảy ra những mâu thuẫn và xung đột giữa lợi ích vềphát triển với công tác bảo tồn, phát triển du lịch nhiều lúc đã bị đánh giá có tác độngxấu đến công tác bảo tồn; hai là các di tích không đủ sức hấp dẫn, không thu hút được
du khách, đặc biệt là đối với các di tích lịch sử cách mạng – một dạng di tích đặc thù,như vậy dĩ nhiên dẫn đến việc khó phát huy được những giá trị của di tích
Khu di tích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa, nằm ở huyện Định Hóa, tỉnhThái Nguyên là loại hình di tích đặc thù như vậy Đây là nơi chủ tịch Hồ Chí Minhcùng các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam sống và làm việc trong khoảng thờigian từ 1947 – 1954 để lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dânPháp Với mệnh danh “thủ đô kháng chiến” cùng các chứng tích gần như còn nguyênvẹn, khu di tích này đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệttại Quyết định số 548/QĐ-TTg, ngày 10/5/2012 Với những giá trị đặc hữu của mình,khu di tích có tiềm năng trở thành một điểm du lịch “về nguồn” đặc sắc của du lịchViệt Nam Mặc dù vậy, cho đến nay, do nhiều nguyên nhân, hoạt động du lịch ở đây
Trang 9vẫn chưa được phát triển như mong muốn Do vậy, các đóng góp cho công tác bảotồn, tôn tạo cũng như cho việc phát huy giá trị của di tích đương nhiên cũng chưa hiệuquả Như vậy, câu hỏi đặt ra là cần nghiên cứu tổ chức, quản lý phát triển du lịch tạiđây như thế nào, để đảm bảo được tính bền vững nhằm góp phàn bảo tồn và phát huyhiệu quả giá trị của di tích Cho đến nay, vấn đề đó vẫn luôn mang tính thời sự Đây
cũng chính là lý do tại sao đề tài “ Nghiên cứu phát triển du lịch nhằm bảo tồn và phát
huy giá trị khu di tích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa – Thái Nguyên” đã được chọn
làm đề tài cho luận văn.
Việc nghiên cứu để đưa ra được những định hướng, giải pháp nhằm thúc đẩyphát triển du lịch ở đây sẽ trở thành mục đích và nội dung nhiệm vụ chính của luậnvăn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất định hướng và giải pháp góp phầnphát triển du lịch nhằm bảo tồn, phát huy hiệu quả giá trị khu di tích cách mạng ATKĐịnh Hóa – Thái Nguyên
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu tổng quan tài liệu lý thuyết về du lịch, du lịch văn hóa và phát triển du lịch tại các khu di tích lịch sử cách mạng
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại khu di tích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa – Thái Nguyên
- Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển du lịch góp phần bảo tồn, phát huygiá trị khu di tích cách mạng ATK Định Hóa – Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Trang 10Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến phát triển du lịch trongmối quan hệ với công tác bảo tồn tại khu di tích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa –Thái Nguyên
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Điạ bàn khu di tích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa –
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2009 – 2014
- Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu các yếu tố phát triển du lịch, bao gồmquá trình tổ chức phát triển du lịch và kinh doanh du lịch tại khu di tích lịch sử cách mạngATK Định Hóa - Thái Nguyên; những đóng góp cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị khu
di tích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa, Thái Nguyên
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Từ lâu mối quan hệ giữa Phát triển du lịch với bảo tồn, phát huy giá trị của disản văn hóa đã trở thành một vấn đề được nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, vănbản trong và ngoài nước đề cập đến
Trong các văn bản, tài liệu quốc tế có liên quan đến di sản văn hóa, phát triển dulịch luôn được coi là giải pháp hàng đầu cho vấn đề bảo tồn và phát huy di sản
Năm 1999, Công ước Quốc tế về Du lịch văn hóa đã được ICOMOS thông quatại Đại hội đồng lần thứ 12 ở Mexico, nội dung của Công ước đề ra 6 nguyên tắc vềquản lý du lịch ở những nơi có di sản quan trọng, đồng thời cũng nêu lên mối quan hệnăng động giữa du lịch và di sản văn hóa
Tháng 11 – 2002, trong Hội nghị Quốc tế ở Venice vào dịp kỷ niệm 30 năm
Công ước Di sản thế giới, “Di sản, Du lịch và Phát triển” đã trở thành một trong
những chủ đề chính của hội nghị Theo đó, hội nghị đã khẳng định phát triển du lịchbền vững là cách duy nhất để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, đồng thời cũng đềcập đến tác động tiêu cực của du lịch đối với di sản văn hóa và thiên nhiên
Trang 11Cũng trong năm 2002, Trung tâm Di sản Thế giới của UNESCO xuất bản tập tài
liệu “Quản lý du lịch tại các khu di sản thế giới” của Arthur Pedersen, đưa ra các hành
động thích hợp ở nhiều cấp độ khác nhau của phát triển du lịch bền vững trong quản lý
di sản, tài liệu đã xác định và dùng du lịch như là một công cụ có lợi cho việc bảo tồn
di sản
Ở Việt Nam, vấn đề phát triển du lịch và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Trong cuốn Giáo trình “Quản lý di sản với phát triển du lịch bền vững” của Lê
Hồng Lý chủ biên, xuất bản năm 2010, đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch bềnvững, đề cập đến vấn đề quản lý và quy hoạch di tích gắn với phát triển du lịch
Năm 2014, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin phát hành cuốn “Bảo tồn và phát
huy di sản văn hóa Việt Nam” do Nguyễn Kim Loan chủ biên, trong đó, hệ thống hóa
lý luận về di sản văn hóa và các di sản văn hóa ở Việt Nam, giới thiệu các văn bản quyphạm pháp luật ở Việt Nam có liên quan đến bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, đặc biệt,trong phần lý luận về di sản văn hóa, tác giả có nêu lên vai trò của di sản văn hóa trongphát triển du lịch cũng như mối quan hệ qua lại giữa hai đối tượng này
Ngoài ra, còn một số các bài viết, báo cáo trên các tạp chí và hội thảo chuyênngành như:
Bài viết “Đôi điều về việc bào tồn và phát triển du lịch tại các di sản ở Việt
Nam hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng trên tạp chí Di sản văn hóa số 1(22) –
2008 đã khái quát một số đặc điểm chung của di sản văn hóa nước ta, đặt ra vấn đề bảotồn và khẳng định phát triển du lịch chính là giải pháp, đưa ra vấn đề tác động tiêu cựccủa du lịch tới di sản văn hóa
Bài viết “Bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch” của Th.s Đào Duy Tuấn
trên tạp chí Tuyên giáo điện tử số 1 – 2012 khẳng định vai trò của di sản với phát triển
du lịch và ngược lại, đặt ra các vấn đề về thực trạng bảo tồn di sản và hoạt động dulịch, đưa ra một số biện pháp nhằm giải quyết vấn đề đó
Trang 12Bài viết “Hoạt động bảo tồn các di sản văn hóa trong phát triển du lịch” của
tác giả Đặng Hoàng Lan trên tạp chí Văn hóa và Du lịch số 11 – 2013 đã đặt ra nhữngvấn đề trong bảo tồn di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch
Tại hội thảo “Du lịch có trách nhiệm và Di sản văn hóa” diễn ra ngày 3/4/2015
tại Hà Nội trong khuôn khổ Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam VITM Hà Nội 2015, lấy
Chủ đề “Du lịch góp phần bảo tồn di sản văn hóa” là chủ đề chính, hội thảo đã khẳng
định Di sản văn hóa và Du lịch có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tuy nhiên, vấn đề đặt
ra là cần phải khai thác các di sản văn hóa như thế nào để đảm bảo tăng trưởng du lịchnhưng không để lại hậu quả tiêu cực cho di sản và văn hóa bản địa
Di tích lịch sử cách mạng là một phần của Di sản văn hóa, vì vậy, hệ thống tàiliệu trên đã gián tiếp đề cập đến vấn đề Di tích lịch sử cách mạng và Phát triển du lịch.Tuy nhiên, đó là những hướng đề cập chung, chưa cụ thể cho loại hình di tích lịch sửcách mạng
Xét riêng về mảng di tích lịch sử cách mạng, có một số bài viết đề cập đến như:
Bài viết “Di tích cách mạng – bằng chứng của sự thay đổi” của PGS.TS
Nguyễn Quốc Hùng trên tạp chí Di sản văn hóa số 2 – 2012 đã khái quát hệ thống ditích lịch sử cách mạng nước ta, đưa ra vấn đề bảo tồn và phát huy hiện nay là vấn đề
cấp bách; Bài viết “Đôi điều suy nghĩ về di tích cách mạng” của PGS.TS Phạm Xanh
trên tạp chí Di sản văn hóa số 4 – 2012 đề cập đến một số đặc điểm chung của di tíchlịch sử cách mạng, đặt ra vấn đề bảo tồn, phát huy loại hình di tích đặc biệt này; Bài
viết “Phát huy giá trị của các di tích cách mạng kháng chiến trên địa bàn thủ đô Hà
Nội” của tác giả Trần Đức Nguyên trên tạp chí Nghiên cứu văn hóa số 3 – 2010 đã hệ
thống lại và đưa ra thực trạng các di tích cách mạng trên địa bàn thủ đô Hà Nội, Cácbài viết này đưa ra cách nhìn di tích lịch sử cách mạng là một loại hình Di sản, hầunhư chưa đưa ra cái nhìn như một đối tượng phục vụ phát triển du lịch cũng như mốiquan hệ giữa hai đối tượng này
Trang 13Về không gian nghiên cứu, ATK Định Hóa – Thái Nguyên đã trở thành chủ đềcho rất nhiều tài liệu, bài viết, báo cáo hội thảo như:
Năm 2007, Tài liệu “Bác Hồ với Thái Nguyên – Thái Nguyên với Bác Hồ”, do
Tỉnh ủy Thái Nguyên biên soạn và xuất bản có đề cập đến ATK Định Hóa là một địađiểm quan trọng ghi dấu quá trình hoạt động của Bác Hồ tại Thái Nguyên
Năm 2009, nhà xuất bản Hội Nhà văn, Thái Nguyên xuất bản ATK in dấu lịch
sử do Đồng Khắc Thọ ghi chép, bút ký, giới thiệu ký ức một thời hào hùng về Thủ đô
gió ngàn – ATK Định Hóa
Đề tài “Quy hoạch kiến trúc cảnh quan khu văn hóa lịch sử ATK Định Hóa
nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch” (2002) do Ths Nguyễn Xuân Thành – Đại học Công
nghiệp Thái Nguyên làm chủ nhiệm đề tài, có nêu lên cơ sở khoa học quy hoạch khônggian kiến trúc cảnh quan khu du lịch văn hóa lịch sử ATK Định Hóa và đưa ra các giảipháp quy hoạch không gian kiến trúc cảnh quan tại đây
Luận văn Thạc sỹ “An toàn khu Định Hóa trong căn cứ địa kháng chiến Việt
Bắc” của Nguyễn Thị Bích Ngọc (2008) (Đại học Sư phạm Thái Nguyên) đã nhìn
nhận, đánh giá ATK Định Hóa là một không gian quan trọng nằm trong không gianlịch sử của căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc Qua đó, cũng đề xuất một số giải phápnhằm thu hút khách du lịch tới tham quan nhằm khẳng định vai trò, vị thế lịch sử của
nó với lịch sử cách mạng dân tộc
Khóa luận tốt nghiệp “An toàn khu – Tiềm năng du lịch về cội nguồn” của
Nguyễn Thị Kim Anh (Đại học Sư phạm Thái Nguyên) đã khái quát tiềm năng du lịch
về nguồn của ATK Định Hóa, Tuyên Quang và đưa ra một số giải pháp phát triển loạihình du lịch này
Năm 2011, Tổng cục du lịch ban hành Chiến lược phát triển du lịch Việt Namđến năm 2020, tầm nhìn 2030, trong đó định hướng ATK Định Hóa (Thái Nguyên) sẽphát triển thành khu du lịch quốc gia trong tương lai
Trang 14Tháng 9/2012, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thái Nguyên tổ chức hội thảo
khoa học với đề tài “Lễ hội lịch sử cách mạng ATK Định Hóa, Thái Nguyên” Trong
nội dung buổi hội thảo đã nêu bật giá trị lịch sử khu di tích lịch sử cách mạng ATKĐịnh Hóa Thái Nguyên, đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn của tổ chức lễ hội lịch sử vàđưa ra vấn đề giáo dục truyền thống cách mạng
Từ ngày 12 – 13/05/2014, Ban quản lý Khu di tích lịch sử - sinh thái ATK ĐịnhHóa, Thái Nguyên phối hợp với Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học
“Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ATK Việt Bắc – Thái Nguyên cần gắn với phát triển du lịch”, nội dung buổi hội thảo xoay quanh các
vấn đề về quy hoạch tổng thể Khu di tích ATK Định Hóa và ATK Tân Trào (SơnDương, Tuyên Quang) và ATK Chợ Đồn (Bắc Kạn), đồng thời, khẳng định việc bảotồn, tôn tạo và phát huy di tích cần gắn với phát triển du lịch theo một lộ trình với giảipháp cụ thể
Tháng 10/2014, Chương trình du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” lần thứ VI tại Thái Nguyên đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Bảo tồn, phát huy
giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch vùng Việt Bắc” Hội thảo đã khẳng
định tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản văn hóa và vấn đềliên kết phát triển du lịch
Ngày 05/06/2015, Hội đồng thẩm định Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tiến
hành thẩm định nhiệm vụ “Quy hoạch tổng thể bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị di
tích quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa gắn với phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030”, buổi thẩm định khẳng định tầm quan trọng, cũng như xem xét các định
hướng chính của nội dung quy hoạch nhằm phát huy tối đa sự hỗ trợ của Trung ương
khi triển khai đề án “Phát triển kinh tế - xã hội vùng trung tâm ATK Định Hóa tỉnh
Thái Nguyên giai đoạn 2013 – 2020” Tuy nhiên, bản quy hoạch mới chỉ dừng ở mức
thẩm định nhiệm vụ, chưa được quy hoạch cụ thể
Trang 15Các nội dung nghiên cứu về ATK Định Hóa phần lớn tập trung vào lịch sử, vănhóa, kiến trúc, có nội dung về du lịch nhưng không toàn diện, hầu hết chỉ đề cập đếntiềm năng và hoạt động du lịch nói chung, chưa đi sâu vào khai thác và giải pháp pháttriển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy di tích lịch sử quốc gia đặc biệt này Tỉnh TháiNguyên cũng bắt đầu xây dựng bản Quy hoạch tổng thể bảo tồn tôn tạo và phát huy giátrị ATK Định Hóa gắn với phát triển du lịch, tuy nhiên, mới hoàn thành ở nội dungnhiệm vụ và định hướng chính, chưa có nội dung và giải pháp cụ thể.
Như vậy, có thể khẳng định chưa có tài liệu nào đề cập cụ thể, chi tiết đến vấn
đề phát triển du lịch nhằm bảo tồn, phát huy giá trị tại khu di tích lịch sử cách mạng
ATK Định Hóa Chính vì vậy, đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch nhằm bảo tồn và
phát huy giá trị tại khu di tích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa – Thái Nguyên” có thể
coi là một đề tài mới, không trùng lặp với bất kì đề tài nghiên cứu nào trước đó
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu thứ cấp: Thu thập và xử lý các nguồn
tư liệu, tài liệu, báo cáo về hoạt động du lịch tại khu di tích lịch sử cách mạng ATK ĐịnhHóa – Thái Nguyên
- Phương pháp khảo sát thực địa: Thực hiện điền dã tại địa bàn ATK Định Hóanhằm kiểm chứng và xác minh những vấn đề đã tìm hiểu qua sách báo, tạp chí, tư liệu đãđược thu thập một cách thực tiễn
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn khách du lịch, nguồn lao động trong
du lịch, công ty du lịch, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch về các vấn đề có liên quan đến phát triển du lịch tại ATK Định Hóa – Thái Nguyên
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thực hiện điều tra khảo sát bằng bảnghỏi với khách du lịch (Việt Nam, Anh, Pháp), lao động trong du lịch, các công ty du lịch, cơquan quản lý nhà nước về du lịch với số lượng 200 phiếu Phương pháp này nhằm phục vụcho việc đưa ra định hướng và giải pháp được thiết thực, khả thi
Trang 16- Phương pháp thống kê cho phép xử lý các nguồn thông tin, các số liệu mộtcách hệ thống nhằm nghiên cứu sự phát triển theo trục thời gian, đồng thời cũng cho phépnghiên cứu so sánh nhằm đánh giá sự phát triển theo các giới hạn không gian.
- Phương pháp phân tích tổng hợp các nguồn tư liệu nhằm đánh giá toàn diện vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở đó đưa ra được các định hướng và giải pháp phù hợp
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của đề tài gồm 3 chương:CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG ATK ĐỊNH HÓA – THÁI NGUYÊN
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG ATK ĐỊNH HÓA
Trang 17Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Một số vấn đề về di tích lịch sử cách mạng
1.1.1 Định nghĩa về di tích lịch sử cách mạng
DTLSCM được biết đến là một loại hình đặc biệt trong hệ thống di tích lịch sửvăn hóa và chiếm một phần không nhỏ trong loại hình di sản văn hóa ở Việt Nam Vậndụng vào hoạt động du lịch, nó trở thành một dạng tài nguyên đặc thù của du lịch vănhóa
Trong các văn bản hiện hành ở Việt Nam không có khái niệm riêng về Di tíchlịch sử cách mạng Tuy nhiên, ở một số văn bản quy phạm pháp luật, đề án, bài viết thì cụm từ “Di tích lịch sử cách mạng”, “Di tích cách mạng” hay “Di tích lịch sử cáchmạng kháng chiến” được sử dụng khá nhiều Ví dụ như:
- Luật Di sản văn hóa (Điều 59): “Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách cho các
hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt, bảo tàng quốc gia, bảo vật quốc gia, di tích lịch sử cách mạng và di sản văn hóa phi vật thể có giá trị tiêu biểu”.
- Nghị định số 92/2002/NĐ – CP ngày 11-11-2002 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa (Điều 40, khoản 2): “Tổng hợp và cân đối
vốn đầu tư hàng năm cho các dự án bảo vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt, bảo tàng quốc gia, di tích lịch sử cách mạng và di sản văn hóa phi vật thể có giá trị tiêu biểu”.
- Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24-7-2001 của Bộ trưởng Bộ Vănhóa – Thông tin phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch
sử và danh lam thắng cảnh đến năm 2020, tại phần “Mục tiêu cụ thể” : “Đến năm
2010, 50% di tích quốc gia đặc biệt được Nhà nước đầu tư tu bổ và tôn tạo trong đó
ưu tiên các di tích về lịch sử cách mạng kháng chiến ”.
Theo đó, một số nhà khoa học đã có những quan điểm khác nhau về khái niệmloại hình di sản đặc biệt này như sau:
15
Trang 18Theo PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng “Di tích cách mạng hay rộng hơn là di sản
2012)
Tiếp theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng, PGS.TS Phạm Xanhquan niệm Di tích cách mạng là sự phản ánh quá trình đấu tranh của dân tộc từ
“ những năm đầu thế kỷ XX khi các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ
tư sản, tức những hành động yêu nước mang tính chất cách mạng, muốn “phá cái cũ đổi ra cái mới” ” (trang 13, tạp chí Di sản văn hóa số 4 – 2012).
TS Trần Đức Nguyên cho rằng: “Di tích cách mạng kháng chiến là một bộ
phận cấu thành hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa, tuy nhiên, nó có những điểm khác biệt với các di tích tôn giáo tín ngưỡng như đình, đền, chùa, miếu ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc có sẵn (nhà ở, đường phố ), là những công trình được con người tạo nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật ) gắn liền với những sự kiện cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích”
(Nghiên cứu văn hóa số 2, Tạp chí nghiên cứu văn hóa – trường đại học Văn hóa HàNội)
Từ thực tế như trên, trong khuôn khổ luận văn, khái niệm Di tích lịch sử cáchmạng (hay Di tích cách mạng, Di tích lịch sử cách mạng kháng chiến) sẽ được sử dụngvới cách hiểu như sau:
- Di tích lịch sử cách mạng là một loại hình di tích đặc thù, là bộ phận cấu thànhnên Di sản văn hóa
Trang 19- Di tích này bao gồm hệ thống các di sản vật thể và phi vật thể, là những địađiểm, những công trình kiến trúc có sẵn, các công trình được con người sáng tạo ra,
gắn liền với những sự kiện, những nhân vật lịch sử cụ thể, trong đó, có sự phản ánh một phần hoặc toàn bộ quá trình đấu tranh cách mạng giành lại độc lập cho đất nước
- Với tư cách là loại hình đặc thù của hệ thống di tích lịch sử văn hóa, di tích lịch sử cách mạng do vậy cũng là loại hình tài nguyên đặc thù của du lịch văn hóa
1.1.2 Đặc điểm của di tích lịch sử cách mạng
Di tích lịch sử cách mạng là một phần của di sản văn hóa, vì vậy nó mang nhữngđặc điểm chung của di sản văn hóa, đồng thời cũng mang những nét đặc trưng riêngtiêu biểu cho một loại hình di sản văn hóa đặc biệt Cụ thể:
- Đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung, với số lượng di tích rất lớn:+ Để phù hợp với mục đích cách mạng, các Di tích lịch sử cách mạng thường gắnchặt với những hoạt động cách mạng của những nhóm chính trị, những tổ chức chính trị đốilập với chế độ thực dân, bị chính quyền thuộc địa đặt ra ngoài vòng pháp luật nên các tổchức đó phải hoạt động bí mật và xây dựng các căn cứ, các cơ sở cách mạng với không gianrộng, đặc điểm riêng, trải dài khắp cả nước, từ miền ngược đến miền xuôi, từ đồng bằngđến rừng núi, từ đô thị đến nông thôn:
* Ở miền núi: là những nơi xa xôi, hẻo lánh, nơi chính quyền thực dân kiểm soát lỏng lẻo: Pác Bó (Cao Bằng), Tân Trào (Tuyên Quang)
* Ở vùng nông thôn: là những nơi vừa có làng nghề thủ công, vừa gần các đô thị,lúc nào cư dân ở đây và khách thập phương cũng đông đúc, tiện cho việc trà trộn, ẩnnấp của những nhà cách mạng hoạt động: Vạn Phúc (Hà Đông)
* Ở đô thị: Các tổ chức cách mạng thường chọn những nơi không ngờ để đặt các
cơ sở của mình: một gia đình giàu có trên phố buôn bán đông đúc như ngôi nhà số 48Hàng Ngang của ông bà Trịnh Văn Bô, nơi Hồ Chí Minh từ Tân Trào (Tuyên Quang)
về sống và thảo bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trang 20+ Di tích lịch sử cách mạng trải dài theo thời gian đấu tranh cách mạng của dân tộc ta Do đó số lượng di tích lịch sử cách mạng ở nước ta không nhỏ.
+ Trong di tích cách mạng có nhiều loại hình di tích, gồm hai mảng chính làmảng di tích lưu niệm các sự kiện cách mạng và mảng di tích về những nhân vật làm nêncác sự kiện cách mạng Ở mỗi mảng lại có nhiều dạng di tích khác nhau Ví dụ trong mảng
di tích về nhân vật làm nên sự kiện cách mạng rất đa dạng về nhân vật như: các di tích gắnliền với lãnh tụ Hồ Chí Minh, các đồng chí cố Tổng Bí thư của Đảng: Lê Hồng Phong, TrầnPhú, ;các nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng đã qua đời: Tôn Đức Thắng, Võ Chí Công, ;cáccán bộ lãnh đạo quân đội: Nguyễn Chí Thanh, Võ Nguyên Giáp ;các anh hùng liệt sĩ nhưKim Đồng, Võ Thị Sáu Đồng thời, gắn với từng nhân vật cách mạng lại có các dạng ditích xuyên suốt quá trình hoạt động cách mạng của họ, với không gian và thời gian khácnhau như gắn với lãnh tụ Hồ Chí Minh có các di tích ở ATK Định Hóa - Thái Nguyên, Pắc
Bó – Cao Bằng, thậm chí cả ở nước ngoài như Trung Quốc, Pháp
- Di tích cách mạng ở nước ta gắn với các sự kiện và nhân vật cách mạng trongcác thời kỳ khó khăn nên hầu như không được bảo quản ngay từ đầu, đặc điểm di tích lạikhó bảo tồn: Các di tích gắn với các khu căn cứ kháng chiến thường có kiến trúc đơn giản,không cầu kỳ, thậm chí đơn sơ, tạm thời, làm bằng vật liệu dễ bị hư hỏng như: nhà dân,hang động, lán, trại, hầm hào Trong khi đó, những di tích cách mạng gắn với thời kỳ hoạtđộng bí mật đến khi ra công khai, do vậy, phải mất nhiều thời gian nghiên cứu xác minh giátrị nguồn gốc của di tích, lại thường được nghiên cứu tìm lại sau khi cách mạng đã thànhcông nên hầu hết thường bị biến đổi, hư hỏng
- Di tích cách mạng với đặc điểm là gắn với sự kiện, nhân vật cách mạng, khôngmang màu sắc tâm linh nên không thu hút được sự quan tâm chiêm bái và đóng góp đầu tưbảo tồn, phát huy giá trị của cộng đồng như các di tích gắn với tín ngưỡng, tôn
giáo
18
Trang 21- Di tích cách mạng do đặc điểm là những di tích của giai đoạn lịch sử hiện đại nên
để bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lưu niệm sự kiện, bên cạnh việc bảo tồn các yếu tố gốcđều có hiện tượng xây dựng bia biển, tượng đài, phù điêu, nhà trưng bày bổ sung để giới thiệu
và tôn vinh các sự kiện Đối với các di tích lưu niệm danh nhân cách mạng, song song với quátrình bảo tồn các yếu tố gốc của di tích cũng đã xuất hiện một số tượng nhân vật và nhà trưngbày về thân thế và sự nghiệp của nhân vật
Những đặc điểm kể trên quy định tính đặc thù của tài nguyên du lịch di tích lịch
sử cách mạng Nó vừa mang lại giá trị khai thác, vừa hạn chế khai thác, tuy mang giátrị khác biệt nhưng lại rất khó bảo tồn và phát huy trong phát triển du lịch
1.2 Vai trò của phát triển du lịch với bảo tồn, phát huy di tích lịch sử cách mạng
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI khi đưa ra các nhiệm vụ để chăm lo phát
triển văn hóa, đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ thứ hai, cần:“ bảo tồn, phát huy giá trị
các di sản văn hóa, truyền thống cách mạng” Nhiệm vụ này được gắn liền với phát
triển du lịch như là một giải pháp để phát huy, bảo tồn các di tích lịch sử nói chung và
di tích lịch sử cách mạng nói riêng
Muốn hệ thống di sản tồn tại một cách bền vững, cần phải hiểu rõ nội dung vềbảo tồn di sản và phát huy di sản để có các biện pháp bảo tồn và tổ chức khai thácnhằm phát huy giá trị của chúng Tuy nhiên, trong quá khứ, khái niệm “bảo tồn di sản”thường ít đi cùng với khái niệm “phát huy di sản”:
Theo từ điển Tiếng Việt:
- Bảo tồn: “Giữ lại không để cho mất đi”.
- Phát huy: “Làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở
thêm”.
Theo Khoản 1, Điều 3, Quy chế bảo quản, tu bổ và bảo tồn di tích 2003:
“Bảo tồn di tích là những hoạt động nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài, ổn định của di tích để sử dụng và phát huy giá trị của di tích đó”.
Trang 22Theo Khoản 6, Điều 1, Hiến chương của ICOMOS Australia về bảo vệ các địa
điểm di sản có giá trị văn hóa: “Bảo tồn (Preservation) có nghĩa là bảo quản kết cấu
một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của kết cấu đó”.
“Bảo tồn di sản là hoạt động nhằm gìn giữ và tôn tạo di sản cho giữ được nguyên bản ban đầu của chúng”.
Tóm lại, có thể hiểu:
- Bảo tồn di sản là các hoạt động tu sửa, bảo vệ, tôn tạo, bảo quản nhằm giữgìn tính nguyên vẹn của các di sản văn hóa Đây là quan điểm chuyên ngành hẹp, mang tínhthụ động, khép kín Ngày nay, quan điểm về bảo tồn đã thay đổi và khái niệm “Bảo tồn tíchcực” ra đời, theo đó bảo tồn phải gắn liền với phát huy giá trị của di tích, nghĩa là phải đưacác di tích vào cuộc sống để các di tích có thể phát huy được giá trị của mình phục vụ cuộcsống mang lại những lợi ích thiết thực
Ở nước ta, các Di tích lịch sử cách mạng hiện nay cũng như các loại hình di sảnvăn hóa khác, đang vấp phải bài toán về bảo tồn và phát huy giá trị một cách bền vững
Như PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng đã đặt ra vấn đề “ Chúng ta đã, đang và sẽ phát
huy những giá trị tiềm năng vốn có của di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
ở nước ta để góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển trong tình hình hiện nay như thế nào? Làm thế nào để di sản văn hóa đóng góp tích cực hơn, mạnh mẽ hơn vào sự phát triển bền vững của đất nước ” (trang 17, tạp chí Di sản văn hóa số 2 – 2012)
và phát triển du lịch đã được lựa chọn là một trong số các lời giải cho bài toán ấy
Ngày nay, quan điểm phát triển Du lịch để bảo tồn di tích đã được nhìn nhậnrộng rãi Trên thực tế các hoạt động du lịch đã được tổ chức phát triển ở hầu khắp các
Di sản văn hóa trên bình diện quốc tế cũng như quốc gia Kết quả mà hoạt động du lịch
có được đã góp phần đáng kể cho công tác bảo tồn di sản.trên nhiều phương diện khác
nhau., “Du lịch ngày càng được thừa nhận rộng rãi là một động lực tích cực cho việc
bảo vệ di sản thiên nhiên văn hóa” (Công ước Quốc tế về Du lịch Văn hóa)
Trang 23- Có thể thấy, khi du lịch được hình thành tại các điểm di tích đã mang lại mộtcuộc cách mạng trong nhận thức về công tác bảo tồn di tích, làm thay đổi hoàn toàn mụcđích của công tác bảo tồn sang hướng tích cực hơn, đồng nghĩa với việc đưa di sản đến vớicông chúng, làm hồi sinh các di sản, biến chúng từ các di sản “chết” thành
những di sản “sống” Như vậy, du lịch văn hóa đang thực hiện sứ mệnh làm cầu nốigắn kết di sản và cộng đồng Thông qua hoạt động du lịch, các di tích được giới thiệurộng rãi cho công chúng biết đến, tham quan, chiêm ngưỡng, nghiên cứu Nhờ đó,chúng được thổi hồn và phát huy giá trị
- Nhờ phát triển du lịch mà nhiều di tích đã được quan tâm đầu tư bảo tồn, tôn tạo
và khôi phục Đồng thời, các hoạt động du lịch giúp tăng kinh phí trùng tu, giữ gìn di
tích
động tuyên truyền quảng bá nội dung di tích cũng như các giá trị của di tích đến du khách, đến cư dân địa phương,
đã góp phần quan trọng trong việc giáo dục nhân cách con người, lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc và tôn trọng lịch sử Từ đó, nâng cao giá trị của di tích.
Như vậy, nếu đặt đúng vào quỹ đạo của phát triển du lịch bền vững, các di tích không những sẽ trở thành một nguồn tài sản có khả năng khai thác không cạn kiệt, mà ngược lại, giá trị khai thác sẽ ngày càng được nâng cao Có thể nói,
Trang 24gắn di sản với phát triển du lịch là một hướng đi đúng đắn
- Di tích lịch sử cách mạng là loại hình di tích đa dạng, phong phú về nội dung,trải dài với số lượng lớn dọc chiều dài đất nước Vì vậy, muốn phát triển du lịch cần phảichú ý đến khả năng liên kết điểm du lịch của di tích cũng như những giá trị đặc
sắc của di tích so với các di tích khác
- Về vị trí, di tích cách mạng thường xa trục đường chính và xa dân, chỉ đượcnối với những nơi đó bằng những lối mòn và thông qua mạng lưới những giao liên tin cậy,những thứ cần thiết cho sinh hoạt thường ngày và tài liệu, sách báo được chuyển tới Do
đó, việc phát triển du lịch và liên kết phát triển du lịch ở những di tích cách mạng thườnggặp nhiều khó khăn
- Về hình thức, những di tích cách mạng thông thường đơn giản, đơn sơ nhưhang động, nhà dân tính hấp dẫn không cao nên nên ít thu hút khách tham quan Muốnphát triển du lịch cần đặc biệt chú ý làm phong phú về nội dung và hình thức dựa trên cơ sởbảo tồn nguyên vẹn giá trị di tích
- Về bản chất, di tích lịch sử cách mạng chính là minh chứng sinh động nhất chonhững câu chuyện về một phần hay toàn bộ giai đoạn đấu tranh cách mạng, cũng như phảnánh một cách chân thực nhất công lao to lớn của các anh hùng trong giai đoạn lịch sử đó.Những câu chuyện về lịch sử cách mạng dù có được thêu dệt, sinh động hóa
lên bao nhiêu, cũng không bằng một lần du khách được chứng kiến, được sống và được
Trang 25hình dung trong không gian nơi xảy ra những sự kiện đó Vấn đề ở đây là phải làm chonhững di tích này thực sự “sống” lại cuộc đời của chúng bằng nhiều con đường khácnhau Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của những người quản lý du lịchtại các điểm di tích cách mạng.
- Khách du lịch tìm đến loại hình di tích này thường có hai dạng chính:
+ Tham quan di tích gắn với các chương trình học tập và giáo dục của một tổ chức chính trị, khoa học, giáo dục nào đó
+ Gắn với loại hình du lịch tưởng nhớ như: các cựu chiến binh thăm lại chiếntrường xưa ôn lại kí ức hào hùng; các đoàn khách dâng hương, kỷ niệm ngày truyềnthống
Do đó, nghiên cứu dòng khách và đặc điểm dòng khách là điều rất quan trọngtrong phát triển du lịch tại các khu di tích cách mạng Rõ ràng đây là một loại hình ditích rất kén chọn khách Vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu xây dựng các sản phẩm đadạng nhằm thu hút thêm những phân khúc thị trường khách khác nhau
- Là loại hình di tích lịch sử văn hóa, nhưng di tích lịch sử cách mạng ít mangtính mới mẻ, linh thiêng, kỳ vĩ, bí ẩn như cách loại hình di tích văn hóa khác, ít thu hútđược sự quan tâm, chiêm bái và đóng góp đầu tư, bảo tồn, phát huy giá trị của cộngđồng như với các di tích gắn với tín ngưỡng, tôn giáo Hiện nay, việc bảo tồn, pháthuy giá trị các di tích này gần như được đầu tư 100% bằng nguồn vốn của ngân sáchnhà nước Vấn đề phát triển du lịch vì thế cũng gặp nhiều trở ngại
Theo TS Trần Đức Nguyên, các Di tích lịch sử cách mạng “ dễ bị lãng quên,
dễ biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian” (Tạp chí Nghiên
cứu Văn hóa – số 2, Đại học Văn hóa Hà Nội) Vì thế, việc phát triển du lịch tại các di
tích lịch sử cách mạng nhất thiết phải tuân thủ các quy tắc bảo tồn và phát triển bềnvững
Trang 261.3.2 Nhân tố ảnh hưởng
Cũng như đối với du lịch nói chung, phát triển du lịch tại các di tích cách mạngcũng chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện đó Theo PGS.TS Trần Đức Thanh, để pháttriển du lịch cần có những điều kiện sau [19, tr.89]:
- Những điều kiện chung: Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội; Điều kiện kinh tế, Cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật; Chính sách phát triển du lịch
- Điều kiện tự thân làm nảy sinh nhu cầu du lịch: Thời gian rỗi; Khả năng tài chính của khách du lịch; Trình độ dân trí
- Điều kiện về khả năng cung ứng nhu cầu du lịch: Điều kiện tự nhiên và tàinguyên du lịch tự nhiên; Điều kiện kinh tế xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn; Một
số tình hình và sự kiện đặc biệt; Sự sẵn sàng đón tiếp du khách
Bên cạnh đó du lịch đến các di tích LSCM còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tốsau:
- Đặc điểm tâm lý và nhận thức của du khách Rõ ràng đây là loại hình du lịchkhá khó chọn khách Thường là những phân khúc thị trường cao tuổi có những tình cảm,hoài niệm về quá khứ Đối với các phân khúc thị trường khác thì chủ yếu khách
tham quan vì mục đích giáo dục
Trang 27 Nguyên tắc 1: Phát triển du lịch tại các di tích lịch sử cách mạng phải bảo đảm được tính bền vững, gồm những nguyên tắc phát triển du lịch có trách nhiệm với kinh tế, môi trường và văn hóa – xã hội.
Việc phát triển du lịch tại các di tích lịch sử cách mạng phải bảo đảm cácnguyên tắc nhằm tăng trưởng kinh tế của điểm đến và các thành phần tham gia hoạtđộng du lịch Tuy nhiên, vẫn phải đảm bảo tính toàn vẹn môi trường, đảm bảo sự côngbằng xã hội, tăng cường lao động, phát huy các giá trị và tôn trọng văn hóa địaphương, cam kết tạo ra những sản phẩm du lịch có chất lượng, hàm lượng văn hóa vàgiá trị đạo đức cùng giá trị trải nghiệm ngày cảng cao Những bảo đảm này sẽ duy trìmức độ bền vững trong khai thác di tích vào phát triển du lịch
phải bảo đảm được sự hài hòa giữa mục tiêu an ninh quốc gia và lợi ích của các bên tham gia hoạt động du lịch: Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; khách du lịch và cư dân địa phương.
Các di tích cách mạng có ý nghĩa rất to lớn đối với dân tộc, tuy nhiên, ý nghĩacủa các di tích dễ bị các lực lượng thù địch xuyên tạc, bóp méo Do đó, vấn đề bảođảm an ninh, chủ quyền quốc gia trong phát triển du lịch là một điểm rất quan trọngtrong nguyên tắc bảo tồn di tích
giá trị của di tích lịch sử cách mạng, đồng thời làm cho du khách có thể hiểu, cảm nhận và thích thú với giá trị của các di tích, từ đó, phát huy giá trị di tích.
Những nhà quản lý phát triển du lịch thường có tâm lý muốn sáng tạo ra nhữngsản phẩm mới lạ, đôi khi đã vô tình xâm hại đến tính nguyên bản của di tích Đây là lỗithường gặp và cần tránh
sắc thái đặc thù của di tích lịch sử cách mạng.
Trang 28Sắc thái đặc thù là linh hồn của mỗi di tích lịch sử cách mạng Mỗi di tích đều
có những nét đặc sắc, đặc trưng và đặc biệt riêng Nhiệm vụ của ngành du lịch là phảitìm ra và làm nổi bật sắc thái đặc thù của di tích để thỏa mãn nhu cầu tìm sự mới lạ của
du khách, thông qua đó, tăng cường tính cạnh tranh và sức hấp dẫn của du khách Đâycũng là một bước quan trọng để biến các di tích cách mạng trở thành một điểm thu hút
du khách quay lại Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng tôn vinh không phải là làm thayđổi Những hoạt động nhằm tôn vinh sắc thái đặc biệt của di tích phải gắn liền với gìngiữ giá trị căn nguyên của di tích
1.3.4 Nội dung tổ chức
1.3.4.1 Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là việc làm đầu tiên của bất kỳ nhà đầu tư nào mongmuốn bắt đầu sự nghiệp kinh doanh Đối với du lịch, đặc biệt là du lịch đến các di tíchLSCM cũng vậy Cần nghiên cứu đánh giá thị trường mục tiêu và thị trường tiềm năngcủa loại hình này, đánh giá xu hướng phát triển tâm lý thị trường để có thể sản xuất ranhững sản phẩm du lịch, những dịch vụ phù hợp
1.3.4.2 Xây dựng chủ trương, chính sách
Có thể nói, cơ chế chủ trương, chính sách phát triển du lịch có tác động đến tất
cả các hoạt động du lịch, từ khai thác đến sử dụng tài nguyên, đầu tư quy hoạch, xúctiến hay phát triển nguồn nhân lực du lịch, Đây là một điều kiện quan trọng có vai tròthúc đẩy du lịch phát triển Phần lớn ở các địa phương nước ta, nơi có các di tích lịch
sử cách mạng, đều có những cái nhìn đúng đắn về vấn đề gắn phát triển du lịch với bảotồn, phát huy di tích Tuy nhiên, việc xây dựng một cơ chế chính sách đúng đắn để dulịch có thể phát huy hiệu quả giá trị của di tích luôn là mối quan tâm hàng đầu củanhững người làm du lịch Thực tế cho thấy, những nơi có chính sách và cơ chế tốt, các
di tích cách mạng tại địa phương đã trở thành một điểm đến thu hút được du kháchnhư địa đạo Củ Chi, ATK Tân Trào – Tuyên Quang
Trang 29Do đó, muốn thúc đẩy hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử cách mạng, nhất thiếtcần phải xây dựng những chính sách phù hợp để tạo một môi trường du lịch thông thoángnhưng đúng đắn, phù hợp cho sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch.
1.3.4.3 Xây dựng hệ thống tổ chức
Ở hầu hết các di tích trọng điểm ở nước ta hiện nay đều thành lập Ban quản lý
để thực hiện những nhiệm vụ này, cụ thể bao gồm các nhiệm vụ tổ chức, điều hànhhoạt động tu bổ, phát huy, gìn giữ di tích, có các hoạt động sưu tầm, bổ sung tài liệu,hiện vật làm phong phú thêm giá trị của di tích, đồng thời nghiên cứu tổ chức, liênkết, phối hợp hoạt động du lịch như là một biện pháp tăng nguồn thu và phát huy, bảotồn di tích Tuy nhiên, hoạt động hiệu quả hay không, lại tùy thuộc vào cách thức xâydựng hệ thống, cách thức quản lý cũng như chủ trương, cơ chế chính sách của từngBan quản lý và tùy thuộc vào sự kết hợp có nhịp nhàng hay không của Ban quản lý vớicác tổ chức, doanh nghiệp du lịch để thực hiện các hoạt động kinh doanh du lịch
Vì vậy, việc tổ chức hệ thống quản lý sao cho hợp lý, đơn giản, tránh cồng kềnhnhưng vẫn thực hiện tốt vai trò của mình là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt độngphát triển du lịch tại khu di tích lịch sử cách mạng
1.3.4.4 Đầu tư phát triển
Tiếp theo việc nghiên cứu thị trường và xác định bộ máy tổ chức, vấn đề cầnlàm là lập quy hoạch tổng thể khu di tích Việc lập quy hoạch là bảo đảm cho việc pháttriển bền vững vừa đảm bảo mục tiêu bảo tồn, vừa đảm bảo tạo thuận lợi cho các hoạtđộng du lịch; đồng thời cũng là cơ sở cho việc kêu gọi các nhà đầu tư
Có một vấn đề là muốn phát triển được du lịch thì phải đầu tư cho công tác bảotồn Ngược lại nếu du lịch tại di tích phát triển thì sẽ tạo điều kiện đóng góp cho côngtác bảo tồn Thông thường trước đây hai công việc này được phân biệt rõ ràng vàthường trực thuộc hai cơ quqn quản lý khác nhau, nhưng ngày nay đa phần các nhà
Trang 30quản lý di tích đều mong muốn thu hút khách du lịch Do vậy việc đầu tư cho di tíchnhằm phát triển du lịch đôi khi phải đi trước một bước không khác gì chúng ta muốnkhách đến chơi nhà thì phải quét dọn trước.
Vì vậy, khi đầu tư phát triển du lịch tại di tích lịch sử cách mạng, nhất thiết phải
có hạng mục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo giá trị di tích, đó cũng là hoạt động đầutiên, cần thiết và cấp bách khi tiến hành các hoạt động phát triển du lịch tại di tích
Cơ sở vật chất kỹ thuật trong phát triển du lịch tại các di tích lịch sử cách mạngbao gồm nhiều thành phần, chúng có nhiệm vụ và ý nghĩa nhất định trong việc tạo ra
và thực hiện các sản phẩm du lịch, cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng dulịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch có vai trò tạo
ra sự tiện nghi, hài lòng tối ưu các điều kiện của du khách trong chuyến đi của mình,đồng thời tạo hiệu quả kinh tế cao trong quá trình phục vụ hoạt động du lịch Đây làyếu tố trực tiếp đảm bảo điều kiện cho các dịch vụ du lịch được hình thành và cungứng cho du khách Cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm các thành phần chủ yếu là: cơ sởlưu trú, ăn uống; cơ sở vui chơi, giải trí; hệ thống cửa hàng phục vụ du khách
Chính vì tầm quan trọng nêu ở trên, việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật– cơ sở hạ tầng là một bước quan trọng nhằm đưa các di tích lịch sử cách mạng tới gầncộng đồng một cách dễ dàng hơn, tạo ra những điều kiện vật chất đáp ứng được cácnhu cầu đa dạng của du khách, việc phát triển du lịch vì thế mà cũng sẽ khởi sắc
Để phát triển du lịch tại các di tích LSCM – một loại hình di tích đặc biệt, độingũ nhân viên làm việc tại khu di tích đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụvững vàng Họ không chỉ là những chuyên gia bảo tồn giỏi, những chuyên gia du lịch
có trình độ nghiệp vụ cao mà còn là những người có năng lực sáng tạo, có đam mênghề nghiệp Muốn có được một đội ngũ như vậy, phải có đầu tư bài bản ngay từ đầu.Phải có chế độ đãi ngộ xứng đáng để thu hút nhân tài
Trang 31 Đầu tư xây dựng hệ thống sản phẩm/dịch vụ
Chúng ta biết rằng phát triển du lịch tại các di tích LSCM là nhiệm vụ tươngđối khó khăn Mọi thành bại đều nhờ ở sản phẩm du lịch Trong khi đó hiện nay hệthống sản phẩm du lịch tại các điểm này còn rất nghèo nàn và đơn điệu, kém hấp dẫn
Do vậy đầu tư cho xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch đa dạng, phong phú với nhiềugiá trị gia tăng sẽ là nhiệm vụ thiết yếu
Có thể nói, hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch như chiếc cầu nối cho bênCung – cơ sở kinh doanh du lịch và bên Cầu – khách du lịch gặp được nhau Vì vậyhoạt động xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động du lịch.Đặc biệt là đối với du lịch tại các điểm di tích LSCM
Đặc điểm này của sản phẩm du lịch đòi hỏi các cơ sở kinh doanh du lịch cầnphải có sự đầu tư thích đáng để tiến hành các hoạt động xúc tiến, quảng bá mạnh mẽ
để kéo được du khách đến với điểm du lịch Các di tích cách mạng vốn là những điểmđến “kén” khách du lịch, vì vậy vấn đề quảng bá, xúc tiến điểm đến lại càng phải đượcquan tâm, đầu tư hơn nữa
1.3.4.5 Liên kết phát triển du lịch
Một khâu quan trọng cuối cùng trong nội dung của việc tổ chức phát triển dulịch tại các điểm di tích LSCM là phải đặt các mối liên kết với các điểm du lịch lâncận, liên kết với các doanh nghiệp, với cộng đồng nhằm tạo ra một hệ thống chuỗisản phẩm du lịch đa dạng, phong phú Có như vậy mới tạo nên sức hút cho điểm ditích Công việc này cần phải được triển khai ngay từ bước đầu tiên khi bắt đầu quyhoạch phát triển
Đối với các di tích lịch sử cách mạng, bản thân là một dạng di tích có nhiều yếu tốđặc trưng, nhưng vì “đặc trưng” nên sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi phát triển du lịch, từgiao thông, khả năng thu hút khách đến khả năng phát triển sản phẩm Vì vậy, liên
Trang 32kết là một hướng đi quan trọng trong thúc đẩy hoạt động du lịch tại loại hình di tíchnày.
1.4 Kinh nghiệm phát triển du lịch tại một số khu di tích lịch sử cách mạng
1.4.1 Kinh nghiệm trên thế giới
*Căn cứ địa cách mạng Diên An – Trung Quốc
Thành phố Diên An thuộc tỉnh Thiểm Tây, Tây Bắc Trung Quốc Diên An làcăn cứ địa cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật, trung tâm hoạt động củaĐảng Cộng Sản Trung Quốc giai đoạn 1935 – 1948, nơi được mệnh danh là “Thánhđịa cách mạng” Đây cũng là điểm dừng chân cuối cùng trong cuộc Vạn Lý TrườngChinh gian khổ của Hồng quân Trung Quốc do Chủ tịch Mao Trạch Đông lãnh đạo
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Diên An hiện có 5.808 di tích lịch sử, gồm 445
di tích cách mạng, trong đó, quan trọng nhất là các di tích núi Phượng Hoàng, nơi đóngquân đầu tiên của Hồng quân, di tích Dương Gia Lĩnh – nơi tổ chức Đại hội VII ĐCSTrung Quốc, di tích vườn Táo – nơi làm việc của Ban Bí thư Trung ương ĐCS TrungQuốc từ tháng 10/1943 đến tháng 3/1947,
Theo chủ trương của địa phương, tất cả các di tích đều được đưa vào khai thác
và khai thác khá hiệu quả: Năm 2010, Diên An đã đón 14 triệu 500 nghìn lượt khách
du lịch, thu về cho ngân sách 7,65 tỷ Nhân dân tệ, tỷ trọng ngành du lịch chiếm 30%GDP, Đây là một con số khá ấn tượng trong việc phát triển kinh tế tại nơi có điềukiện khí hậu khắc nghiệt như Diên An
Có được điều này là do chính sách đúng đắn của địa phương trong việc gắn liềnphát triển du lịch với khai thác giá trị di tích lịch sử và đặc sắc trong văn hóa địaphương Ngay từ đầu, Diên An nhận thấy, với điều kiện khắc nghiệt, kinh tế nghèonàn, trong khi địa phương lại có lượng di tích cách mạng lớn, là “địa chỉ đỏ” của cáchmạng Trung Quốc, cùng với vốn văn hóa địa phương đặc sắc thì phát triển du lịch sẽ làhướng đi đúng đắn để phát triển kinh tế địa phương Do đó, Diên An chủ trương tăngcường đầu tư, phát huy tiềm năng thế mạnh, tích cực khai thác ưu thế tài nguyên du
Trang 33lịch sẵn có, phát triển ngành công nghiệp không khói, cụ thể đặc biệt nhấn mạnh đếnviệc kết hợp các di tích lịch sử với những nét đặc sắc văn hóa địa phương để tạo ra sảnphẩm du lịch khác biệt, thu hút khách du lịch: ví dụ kết hợp thăm di tích lịch sử cáchmạng vườn Táo đồng thời có những hoạt động trải nghiệm như một nông dân thực thụtại vườn Táo; thăm và trải nghiệm sống tại những ngôi nhà đào sâu trong núi, nơi ởcủa các nhà lãnh đạo cách mạng khi xưa, đồng thời cũng là một trong những tập quánđặc biệt của người dân Diên An, ngoài ra trong các chương trình du lịch còn lồng ghépthưởng thức các đặc sắc trong văn hóa Diên An như dân ca Thiểm Bắc, nghệ thuậtmúa trống, nghệ thuật cắt giấy cùng các hàng thủ công đặc sắc của người Diên An,
Với nhận thức phát triển đúng đắn ngay từ đầu, kinh tế địa phương từ kinh tếnông nghiệp nghèo nàn đã có nhiều khởi sắc Đó cũng là bài học kinh nghiệm cho pháttriển du lịch tại di tích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa Thái Nguyên
1.4.2 Kinh nghiệm một số địa phương trong nước
* Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi – Hồ Chí Minh
Địa đạo Củ Chi là một hệ thống phòng thủ trong lòng đất ở huyện Củ Chi, cáchthành phố Hồ Chí Minh 70km, gồm các hệ thống địa đạo khác nhau, được hình thành
từ khoảng thời gian 1946 – 1948, thời kỳ kháng chiến chống Pháp Hệ thống địa đạobao gồm bệnh xá, phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầmdưới lòng đất dài khoảng 200km và có hệ thống thông hơi vào các vị trí các bụi cây.Hiện nay, khu di tích do ban quản lý Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi (trực thuộc BộChỉ huy Quân sự thành phố Hồ Chí Minh) trực tiếp quản lý Đến địa đạo Củ Chi, dukhách có thể được hưởng những cảm giác rất thật, được sống trong không gian từng làkhu căn cứ, chiến trường khốc liệt đầy bom đạn, được tham quan và tham gia nhữnghoạt động của quân, dân Củ Chi năm xưa Địa đạo Củ Chi đã được xếp vào top 7 điểm
du lịch kỳ lạ của Đông Nam Á, rất hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Đồng thời,thông qua cách thức tổ chức du lịch, Địa đạo Củ Chi đã để lại nhiều bài học kinhnghiệm quý báu
Trang 34- Thứ nhất, là bài học về cách tái hiện lịch sử: Ban quản lý di tích sắp xếp ngaytrước khi khách du lịch bước chân vào địa đạo sẽ được hướng dẫn viên cho xem băngvideo giới thiệu toàn bộ cuộc chiến đấu của nhân dân Củ Chi và mô hình địa đạo, để dukhách có thể hình dung ra toàn bộ nội dung, ý nghĩa của địa đạo với nhân dân Củ Chi nămxưa Đồng thời, du khách có thể tham gia các hoạt động trải nghiệm:
+ Khám phá các đường hầm: du khách có thể cảm nhận một phần lịch sử, sốnglại thời chiến tranh gian khó nhưng vinh quang và tự hào Tại địa đạo, có những bứctượng mô tả sinh hoạt càng làm cho bức tranh thời chiến thêm sinh động Tất cả đượctái hiện sinh động cuộc sống sinh hoạt nhiều thiếu thốn và sáng tạo ngay tròng lòngđất
+ Thưởng thức món ăn thời chiến: sắn luộc – muối vừng ngay trong lòng địađạo cùng những món ăn đặc trưng của địa phương để cảm nhận sự thiếu thốn của bữa
ăn thời chiến
+ Du khách có thể tham quan: hội trường địa đạo trình chiếu các tư liệu khángchiến của quân dân ta, bếp dã chiến Hoàng Cầm, nơi may quân phục cho bộ đội, khulàm dép râu từ lốp xe cao su, nhà ăn, hầm chế tạo vũ khí, hầm cứu thương, khu trưngbày tranh ảnh địa đạo,… Bãi xác các vũ khí thu giữ của giặc như: súng, lựu đạn, bom,mìn, pháo tận mắt chứng kiến các loại bẫy tự tạo của quân và dân Củ Chi khi xưa
- Thứ hai, Dịch vụ du lịch ở đây cũng khá phong phú, phù hợp với đặc điểm địađạo: du khách có thể tham gia trò chơi bắn súng sơn, thưởng thức các món ăn đặc sản vùngmiền Đồng thời, du khách có thể mua mang về các sản phẩm gắn liền với hình ảnh của địađạo Đó sẽ là những món quà lưu niệm đầy ý nghĩa và thiết thực, đồng thời cũng là mộthình thức quảng bá hình ảnh rất tốt
* Khu di tích lịch sử Ngã Ba Đồng Lộc
Ngã Ba Đồng Lộc nằm trên đường Trường Sơn, thuộc địa phận Đồng Lộc, CanLộc, Hà Tĩnh Ngã ba Đồng Lộc là trọng điểm có tầm quan trọng chiến lược trongchiến tranh Hồi 17h ngày 24-7-1968, Tiểu đội 4 thanh niên xung phong gồm 10 cô gái
Trang 35trẻ, tuổi từ 17 đến 22 đã hy sinh khi đang làm nhiệm vụ Ngày 7-6-1972, các chị đãđược truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Hiện nay, Ngã Ba Đồng Lộc là điểm tham quan du lịch khá phát triển, thu hútđược sự quan tâm của du khách: Những tháng đầu năm 2014, có trên 300.000 lượtkhách tới đây, tính riêng tháng 7/2013, mỗi ngày Khu Di tích Ngã ba Đồng Lộc đónkhoảng 3.000 người về thăm viếng Để thu hút khách thập phương đến với nơi đâynhư vậy, tỉnh Hà Tĩnh đã có nhiều chủ trương phát triển du lịch đúng đắn, phù hợp vớiđặc điểm di tích Cụ thể như sau:
- Hà Tĩnh luôn có chính sách thu hút đầu tư cho các hạng mục công trình thuộckhu di tích mà không làm mất đi sự linh thiêng nơi đây, hơn nữa còn tăng thêm sự trangnghiêm của một quần thể có ý nghĩa đặc biệt
- Hà Tĩnh chủ trương tổ chức thường xuyên những chương trình và lễ kỉ niệmnhân những dịp có liên quan đến khu di tích Mặc dù được tổ chức thường xuyên, nhưngcác chương trình đó không mang tính hào nhoáng, phô trương, ngược lại, được thực hiệnhoành tráng, tổ chức linh thiêng, trang trọng, mang ý nghĩa đền ơn đáp nghĩa và thu hútkhách du lịch
Những chủ trương đúng đắn của Hà Tĩnh nói trên cũng là những bài học kinhnghiệm quý báu cho phát triển du lịch tại các di tích lịch sử cách mạng nói chung và ditích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa nói riêng
Thông qua kinh nghiệm phát triển du lịch ở một số nơi, ta có thể nhận thấy, vấn
đề phát triển du lịch tại các di tích lịch sử đòi hỏi nhiều nội dung Trong đó, có ba nộidung quan trọng khi phát triển du lịch:
- Đảm bảo di tích luôn là “di tích sống” – chân thực, sống động, tái hiện được nguyên vẹn giá trị lịch sử của di tích;
- Có các hoạt động đánh thức mọi giác quan của du khách hướng về tính lịch sửcủa di tích, sẽ là cách mà di tích tồn tại trong trí nhớ của khách du lịch;
Trang 36- Đồng thời, cần phải thực hiện các hoạt động xúc tiến du lịch sao cho hiệu quả,
ấn tượng, đây sẽ là điểm cộng để du khách lựa chọn điểm di tích là điểm đến của chuyến dulịch
Tiểu kết chương 1
Di sản văn hóa nói chung và di tích LSCM nói riêng với phát triển du lịch từ lâu
đã được chứng minh có mối quan hệ khăng khít, gắn bó, có tác động qua lại, tương hỗlẫn nhau Do đó, để bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LSCM, nhất thiết cần phải có
sự phối hợp với việc phát triển du lịch bền vững Trong nội dung chương 1 đã hệ thốnghóa lý luận mối quan hệ giữa phát triển du lịch và di tích LSCM, đưa ra những luậnchứng, những nội dung cần thiết, những bài học kinh nghiệm quý báu về phát triển dulịch tại các di tích LSCM, góp phần tìm ra giải pháp phát triển du lịch, nhằm bảo tồnvào phát huy giá trị của khu di tích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa – Thái Nguyêncũng như các di tích lịch sử cách mạng trong cả nước
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI KHU DI TÍCH LỊCH
SỬ CÁCH MẠNG ATK ĐỊNH HÓA – THÁI NGUYÊN 2.1 Khái quát về khu di tích
Trang 37Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên) để xây dưng căn
cứ địa kháng chiến
Cuối tháng 10/1946, trưởng ban Tài chính Trung ương Đảng Nguyễn LươngBằng được giao nhiệm vụ trở lại Việt Bắc để chuẩn bị địa điểm xây dựng căn cứ địakháng chiến
Tháng 11/1946, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định thànhlập Đội công tác đặc biệt, do đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách, chuyên lo việcnghiên cứu di chuyển và chọn địa điểm an toàn đặt cơ quan Trung ương trong trườnghợp xảy ra chiến tranh
Giữa tháng 11/1946, một số cán bộ trong Đội công tác đặc biệt lần lượt lên vùngViệt Bắc làm nhiệm vụ khảo sát thực tế Sau khi căn cứ vào báo cáo của Đội công tác vàcân nhắc kỹ lưỡng mọi mặt, Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định chọn nơiđây để xây dựng An toàn khu (ATK) của Trung ương, gọi là căn cứ địa ATK Việt Bắc,bao gồm các ATK bộ phận thuộc các huyện Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai(Thái Nguyên) cùng với các huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa (Tuyên Quang) vàChợ Mới, Chợ Đồn (Bắc Kạn) Đây là những nơi có đủ những yếu tố địa lợi và nhân hòa,đảm bảo sự an toàn cho các cơ quan đầu não kháng chiến hoạt động Đến đầu năm 1947,hầu hết các cơ quan Trung ương, Chính phủ, Mặt trận, Bộ Quốc phòng, các cơ quan kinh
tế, văn hóa, giáo dục… đều có mặt tại căn cứ địa ATK Việt Bắc
Nằm trong tầm quan trọng của Trung ương kháng chiến ATK Việt Bắc, cácvùng của ATK Định Hóa được xác định là một trong những “vùng lõi” của Trung
ương kháng chiến Đây là nơi “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”, có địa thế hiểm
yếu, có nền kinh tế tự cung tự cấp, giao thông vừa đảm bảo an toàn, vừa thuận lợi choviệc lãnh đạo, liên lạc và hậu cần, tiếp tế về đồng bằng, Hà Nội hay sang Bắc Kạn,sang Tuyên Quang, lên Cao Bằng, Lạng Sơn Đồng thời, nhân dân các dân tộc được tôi
luyện trong phong trào đấu tranh cách mạng của “một huyện mà cả về kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội vượt trội nhất trong vùng” (Võ Nguyên Giáp) Vì vậy, trong suốt 9
Trang 38năm kháng chiến, các hoạt động lãnh đạo kháng chiến, kiến quốc của Trung ươngĐảng, Chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh chủ yếu diễn ra ở ATK Định Hóa.
Khi chiến tranh qua đi, các điểm di tích ghi dấu nơi làm việc của Chủ tịch HồChí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dânPháp (1946 – 1954) phân bố trên 24 xã, thị trấn của huyện Định Hóa được Chính phủcông nhận là ATK Định Hóa – trung tâm của Thủ đô kháng chiến trong căn cứ địa ViệtBắc Các di tích lịch sử thuộc ATK Định Hóa, cùng hệ thống ATK Việt Bắc đã được
Chính phủ đánh giá là một phần của “quần thể di tích quan trọng bậc nhất của dân tộc
Việt Nam trong thế kỷ XX” ( Theo Điều 1, Quyết định số 784/TTg, do Thủ tướng
Chính phủ ký ngày 22 tháng 09 năm 1997)
Căn cứ vào giá trị của khu di tích với dân tộc ta, ngày 05/01/2010, UBND tỉnh
Thái Nguyên có quyết định số 23/QĐ – UBND, thành lập Ban quản lý Khu di tích lịch
sử - sinh thái ATK Định Hóa, Thái Nguyên trực thuộc UBND tỉnh Thái Nguyên, thực
hiện chức năng bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử cách mạng gắnliền với hoạt động du lịch của địa phương Đây là bước ngoặt quan trọng cho sựnghiệp bảo tồn, phát huy giá trị quần thể di tích quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa
2.1.2 Hệ thống điểm di tích thuộc khu di tích
Tháng 5/2012, khu Di tích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa đã được Nhànước xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt với 108 điểm di tích lịch sử cách mạng Trong
đó có 14 điểm di tích xếp hạng cấp quốc gia, 6 di tích xếp hạng cấp tỉnh thuộc địa phậncác xã Phú Đình, Điềm Mặc, Thanh Định, Định Biên, Bảo Linh, Đồng Thịnh, Quy Kỳ,Kim Phượng, Bình Thành và thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.Trung tâm của khu di tích là nơi đặt trụ sở của Ban quản lý khu di tích tại đèo De, xãPhú Đình
2.1.2.1 Các di tích xếp hạng quốc gia
Trang 39Bộ văn hóa thông tin đã xếp hạng 14 điểm di tích cấp quốc gia giao cho Banquản lý ATK quản lý thực hiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị gắn với phát triển dulịch gồm:
Bảng 2.1 : Hệ thống điểm di tích cấp quốc gia thuộc ATK Định Hóa
1 Nhà tù Chợ Chu (thị trấn Chợ Chu, Nhà tù Chợ Chu do thực dân Pháp xây dựng từ năm
huyện Định Hóa) 1916, nâng cấp năm 1942, từng làm nơi giam giữ các
chiến sĩ Việt Nam yêu nước và cách mạng Hiện nay, di tích còn hai nền nhà dài, chạy song song (bên ngoài là nhà giam, bên trong là nhà ăn), nền nhà gác và bốt gác.
2 Địa điểm thành lập Việt Nam Giải Đây là địa điểm gi dấu lễ thành lập đội Việt Nam giải
phóng quân (xã Định Biên, huyện phóng quân (sáng ngày 15/05/1945) tại thửa ruộng Nà
Định Hóa) Nhậu (phía trước ngôi đình làng Quặng) Tại đây đã
dựng bia ghi dấu sự kiện và phục dựng lại đình làng Quặng.
3 Địa điểm Bác ở và làm việc tại đồi Đây là nơi ở và làm việc của Bác từ trung tuần tháng 5
Khau Tý năm 1947 (xã Điềm Mặc, năm 1947 đến đêm ngày 20/5/1947 Di tích được phục
huyện Định Hóa) dựng vào năm 2004, 2005, với các hạng mục: nhà sàn,
nhà bếp, giao thông hào
4 Địa điểm Bác ở và làm việc tại đồi Tại đây, Bác đã soạn thảo, ký nhiều văn kiện quan trọng
Tỉn Keo (1948 - 1954) (xã Phú và cùng Bộ Chính trị đưa ra những quyết định quan
Đình, huyện Định Hóa) trọng, đem lại thắng lợi thắng lợi cho chiến cuộc Đông
Xuân (1953 - 1954) Hiện tại, lán ở của Bác, lán họp Bộ Chính trị và một số hạng mục khác đã được phục dựng lại bằng gỗ, vầu, mái lợp lá cọ.
5 Cụm di tích Bác ở Khuôn Tát: Cây Tại địa điểm này, Bác đã từng ở và làm việc từ ngày
đa, đoạn suối Khuôn Tát - nơi Bác 20/11/1947 đến tháng 1/1954
tắm, giặt và câu cá, nhà sàn và hầm Năm 2000, đã phục dựng nhà sàn Bác ở, làm việc, hệ
Bác ở đồi Nà Đình (xã Phú Đình, thống đường hầm và một số hạng mục khác trong di tích.
huyện Định Hóa)
6 Địa điểm Tổng Bí thư Trường Đây là nơi làm việc trong thời kỳ đầu của Tổng Bí thư
Chinh và Văn phòng Trung ương Trường Chinh, Văn phòng Trung ương Đảng và Báo sự
Đảng làm việc tại Phụng Hiển thật tại ATK Định Hóa.
(1947 – 1949) (xã Điềm Mặc,
huyện Định Hóa)
7 Địa điểm Cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh Đây là trụ sở làm việc của đại tướng Võ Nguyên Giáp,
Quân đội nhân dân Việt Nam (1949 văn phòng Tổng Quân ủy và địa điểm văn phòng Bộ
- 1954)(xã Bảo Linh, huyện Định Tổng Tư lệnh trên đồi Khau Cuội Năm 2004, Bộ Quốc
Hóa) phòng dựng lại lán làm việc của Đại tướng Võ Nguyên
Giáp, hầm, hào bảo vệ, lập nhà bia di tích Cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh.
8 Thắng cảnh thác Khuôn Tát (xã Khi làm việc tại đồi Tỉn Keo, Bác từng ngồi câu cá và
Phú Đình, huyện Định Hóa) cùng anh em bảo vệ và tắm, giặt tại thác này Hiện nay,
thác vẫn giữ được cảnh đẹp tự nhiên, môi trường trong
Trang 409 Địa điểm thành lập Hội Nhà báo Đây là nơi đã diễn ra Hội nghị quyết định việc đổi tên
Việt Nam (xã Điềm Mặc, huyện Hội Nhà báo Việt Nam thành Hội Những người viết báo Định Hóa) Việt Nam (ngày 21/4/1950) Tại đây, Hội Nhà báo
Việt Nam đã phối hợp với một số cơ quan khác xây dựng nhà bia lưu niệm.
10 Địa điểm thành lập Ủy ban hòa Nơi đây đã diễn ra Hội nghị thành lập Uỷ ban Bảo vệ
bình Việt Nam (xã Điềm Mặc, hòa bình Việt Nam Tại đây, Liên hiệp Các Tổ chức Hữu huyện Định Hóa) nghị Việt Nam đã cho dựng bia đá, khắc thư của Chủ
tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị.
11 Địa điểm thành lập Ủy ban Kiểm Đây là nơi đặt trụ sở của Ban Kiểm tra Trung ương - cơ
tra Trung ương (xã Điềm Mặc, quan kiểm tra chuyên trách đầu tiên của Đảng Hiện nay,
huyện Định Hóa) tại khu vực này đã dựng nhà bia để ghi dấu sự kiện lịch
sử.
12 Địa điểm Báo Quân đội nhân dân Hiện nay, Báo Quân đội nhân dân đã lập bia ghi dấu sự
ra số đầu (20/10/1950) ( xã Định kiện tại di tích.
Biên, huyện Định Hóa)
13 Địa điểm đồi Pụ Đồn, nơi Chủ tịch Di tích là nơi lưu niệm sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
Hồ Chí Minh chủ trì lễ phong quân ký Sắc lệnh số 110/SL phong quân hàm Đại tướng cho
hàm Đại tướng cho đồng chí Võ đồng chí Võ Nguyên Giáp (20/01/1948) và chủ trì lễ
Nguyên Giáp (1948) (xã Phú Đình, phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí (28/5/1948).
huyện Định Hóa). Năm 2008, đã xây dựng nhà bia ghi dấu sự kiện tại di
tích.
14 Địa điểm thành lập trường Đảng Hiện nay, nơi đây đã lập bia ghi dấu sự kiện tại di tích.
Nguyễn Ái Quốc (làng Luông, xã
Bình Thành, huyện Định Hóa).
2.1.2.2 Các di tích xếp hạng cấp tỉnh
Gồm 5 di tích:
Bảng 2.2 : Hệ thống điểm di tích cấp tỉnh thuộc ATK Định Hóa
1 Địa điểm khai sinh ngành Điện ảnh và Nhiếp Di tích được công nhận theo quyết định
ảnh cách mạng Việt Nam 1953, xã Điềm Mặc, 17220/QĐ-UBND ngày 22/7/2004 của UBND
Định Hóa, Thái Nguyên. tỉnh Thái Nguyên.
2 Địa điểm di tích Nơi thành lập Chính quyền Di tích được công nhận theo quyết định số
huyện Định Hóa (1945) xã Kim Phượng, 858/QĐ-UBND, ngày 15/4/2010 của ủy ban
huyện Định Hóa nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
3 Địa điểm di tích Nơi làm việc của Nhà xuất Di tích được công nhận theo quyết định số
bản Sự Thật (Chính trị quốc gia Sự Thật), xã 1851/QĐ-UBND ngày 13/8/2010 của UBND
Quy Kỳ, huyện Định Hóa. tỉnh Thái Nguyên.
4 Di tích thắng cảnh chùa Hang, thị trấn Chợ Di tích được công nhận theo quyết định số
Chu, huyện Định Hóa. 181/UB- QĐ ngày 31/03/1994 của UBND tỉnh
Thái Nguyên.