Sau 25 năm đổi mới 1986 - 2010, kinh tế - -xã hội huyện NhưXuân đã có những chuyển biến quan trọng, thu nhập bình quân trên đầungười và chất lượng cuộc sống của nhân dân được nâng lên; h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, tôi đã hoàn thành Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ với đề tài “Sự chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Như Xuân
(Thanh Hóa) từ năm 1986 đến năm 2010” Nhân đây, tôi xin chân thành
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Vũ Quý Thu đã tận tình hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Lịch sửViệt Nam, Khoa Lịch sử, Phòng Đào tạo sau Đại học – trường Đại họcVinh, Tập thể cán bộ nhân viên thư viện trường Đại học Vinh, Thư việntỉnh Thanh Hóa, UBND huyện Như Xuân, huyện ủy Như Xuân, đã giúp đỡtôi trong suốt quá trình sưu tầm tài liệu phục vụ cho nghiên cứu
Do khả năng và trình độ có hạn của bản thân nên kết quả nghiên cứucủa Đề tài không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Bản thân tôi rấtmong nhận được những ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy, cô giáo vàcác anh chị đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 10 năm 2010
Tác giả
Đào Sỹ Thi
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN NHƯ XUÂN 7
1.1 Tiềm năng tự nhiên - xã hội Như Xuân 7
1.2 Thực trạng kinh tế - xã hội Như Xuân trước 1986 11
1.3 Đường lối đổi mới đất nước của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ và chính quyền huyện Như Xuân 23
Chương 2 SỰ CHUYỂN BIẾN KINH TẾ CỦA HUYỆN NHƯ XUÂN TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2010 29
2.1 Nông nghiệp, lâm nghiệp 29
2.2 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 39
2.3 Thương nghiệp - dịch vụ 42
2.4 Tài chính - ngân hàng và đầu tư nước ngoài 44
2.5 Giao thông vận tải và xây dựng cơ bản 49
Chương 3 SỰ THAY ĐỔI VỀ XÃ HỘI CỦA HUYỆN NHƯ XUÂN DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN BIẾN KINH TẾ TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2010 55
3.1 Về lao động – việc làm 55
3.2 Về thu nhập và đời sống 56
3.3 Về văn hóa – giáo dục 58
3.4 Về y tế - môi trường 69
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TTCN : TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tháng 12 năm
1986, đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đó là thời
kỳ đổi mới toàn diện và đồng bộ trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội củađất nước
Trải qua 25 năm đổi mới, đất nước ta đã thu được những thành tựuquan trọng trên nhiều lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội, giúp Việt Namvượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhanh chóng vươn lên bắtkịp với sự phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới
Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng phát động và lãnh đạo đã tácđộng sâu sắc đến sự phát triển các địa phương trong cả nước Đảng bộ vànhân dân huyện Như Xuân là một trong những địa phương đã vận dụngmột cách sáng tạo và thực hiện đường lối, chủ trương đổi mới của Đảng
Huyện Như Xuân là một trong những huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa
có nguồn tài nguyên quan trọng và nhiều lợi thế cho sự phát triển kinh tế
-xã hội Sau 25 năm đổi mới (1986 - 2010), kinh tế - -xã hội huyện NhưXuân đã có những chuyển biến quan trọng, thu nhập bình quân trên đầungười và chất lượng cuộc sống của nhân dân được nâng lên; hệ thống điện,đường, trường, trạm được đầu tư xây dựng,.Có được những thành tựu tolớn đó là nhờ có sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong việc vận dụngđường lối đổi mới và lãnh đạo nhân dân thực hiện tốt đường lối đó
Nghiên cứu đề tài: "Sự chuyển biến kinh tế - xã hội huyện như Xuân
(Thanh Hóa) từ năm 1986 đến năm 2010" chúng tôi mong muốn làm rõ sự
chuyển biến kinh tế - xã hội của một huyện miền núi tỉnh Thanh, từ đó rút
ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất phương hướng và giải pháp để đưa
Trang 7huyện Như Xuân đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong công cuộc CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn.
Qua nghiên cứu, đề tài sẽ góp phần cung cấp nguồn tài liệu lịch sửcủa huyện nhà một cách cụ thể và chính xác về sự phát triển kinh tế - xãhội của huyện Như Xuân trong 25 năm đổi mới Đề tài hoàn thành là tư liệuquý để giáo dục truyền thống ở địa phương
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: " Sự chuyển biến kinh tế
- xã hội huyện Như Xuân (Thanh Hóa) từ năm 1986 đến năm 2010" để
làm Luận văn Thạc sĩ, chuyên nghành lịch sử Việt Nam
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động
và lãnh đạo, bắt đầu từ năm 1986 đến nay là một vấn đề hết sức quan trọngcủa đất nước Chủ trương đổi mới đã tác động một cách sâu rộng đến từngngành, từng địa phương trong cả nước Chính vì vậy, đây là một nội dungquan trọng đã có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là cácnhà nghiên cứu lịch sử
Đối với Thanh Hóa, từ khi đổi mới đất nước đến nay cũng đã thu hútđược sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tiêu biểu có một số công
trình nghiên cứu như: "Thực tiễn và một số vấn đề lý luận của quá trình đổi
mới nông nghiệp và nông thôn Thanh Hóa” (Nguyễn Văn Trị, Nxb Thanh
Hóa 1998), ‘Sự thay đổi dân số trong qúa trình phát triển kinh tế - xã hội ở
Thanh Hóa (Hà Nội 1995)”,
Đối với huyện Như Xuân, tình hình phát triển kinh tế - xã hội cũng
đã được nêu trong các tài liệu, các bản Báo cáo hàng năm, báo cáo nhiệm
kỳ của UBND huyện và huyện ủy, như: cuốn "Lịch sử Đảng bộ huyện Như
Xuân tập III (Từ 1975 đến 1995) của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Như
Xuân; Tài liệu của Phòng thống kê huyện Như Xuân (1996), Tổng hợp số
liệu kinh tế - xã hội từ 1986 – 1995; Phòng Kế hoạch Tổng hợp huyện Như
Trang 8Xuân (1995), Số liệu Báo cáo chính thức của năm 1984 – 1995; “Báo cáo
Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII (1997-2000)”; “Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng
bộ huyện tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX (nhiệm kỳ 2000 - 2005)”;
“Báo cáo Chính trị của Ban chấp hanh Đảng bộ huyện tại Đại hội Đảng
bộ huyện lần thứ XX (nhiệm kỳ 2005- 2010)”; "Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI (nhiệm
kỳ 2011 – 2015)”,
Nhìn chung, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu chuyênsâu nào trình bày một cách chi tiết và có hệ thống về sự chuyển biến củatình hình kinh tế - xã hội trong 25 năm đổi mới ở huyện Như Xuân
Trên cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu đãcông bố về cả 2 phương diện tư liệu và phương pháp tiếp cận, chúng tôimong muốn hệ thống một cách đầy đủ những chuyển biến về kinh tế - xãhội huyện Như Xuân từ năm 1986 đến năm 2010
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Mục đích:
Làm rõ sự chuyển biến của tình hình kinh tế - xã hội huyện NhưXuân từ năm 1986 đến năm 2010, trên cơ sở đó luận văn đề xuất phươnghướng và giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của chính quyền đối với sự pháttriển kinh tế - xã hội của huyện trong những năm tới
3.2 Nhiệm vụ:
Nghiên cứu, đánh giá sự phát triển kinh tế - xã hội huyện từ năm
1986 đến năm 2010, chỉ rõ những thành tựu, khuyết điểm, nguyên nhân vàtổng kết những kinh nghiệm
Dự báo những thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển kinh tế - xãhội của huyện trong thời gian tới, đồng thời đề xuất phương hướng và
Trang 9giải pháp chủ yếu đối với chính quyền huyện nhằm đẩy mạnh sự pháttriển kinh tế - xã hội của huyện.
3.3 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu về sự chuyển biến kinh tế - xã hộihuyện Như Xuân trong thời gian 1986 - 2010, trong đó xác định nội dungnghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Tình hình kinh tế - xã hội Như Xuân trước khi tiến hành đổi mới.Những chủ trương và biện pháp của chính quyền huyện để phát triển kinh
tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới Những nhân tố tác động đến sự chuyểnbiến của kinh tế - xã hội Như Xuân
- Những chuyển biến của kinh tế Như Xuân trong những năm đổimới trên các bình diện: nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, thủ côngnghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, tài chính ngân hàng…
- Dưới tác động của sự chuyển biến kinh tế Như Xuân dẫn tới những
thay đổi về mặt xã hội như: Sự biến động của dân cư, lao động và việc làm,mức thu nhập và đời sống nhân dân, tình hình văn hoá, giáo dục, y tế…
3.4 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1986, là thời kỳ bắt đầu công cuộc đổimới đất nước Mốc kết thúc là năm 2010 - năm Đảng bộ huyện Như Xuântiến hành Đại hội lần thứ XXI
- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xãhội trong địa bàn huyện Như Xuân
4 NGUỒN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
4.1 Nguồn tài liệu:
Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành sưu tầm, tập hợp cácnguồn tài liệu liên quan tại các Sở, Ban ngành của tỉnh Thanh Hóa; PhòngThống kê của UBND huyện; Báo cáo thường niên và Báo cáo nhiệm kỳ
Trang 10của UBND huyện và Đảng bộ huyện, các xã, thị trấn trong huyện NhưXuân được coi là nguồn tài liệu gốc.
Chúng tôi còn tìm đọc các văn kiện của BCH TW Đảng, của tỉnhThanh Hóa, Huyện ủy Như Xuân để làm cơ sở lý luận trong quá trình giảiquyết đề tài
Ngoài ra, để làm phong phú thêm cho nguồn tài liệu và có ý nghĩaminh họa cho nội dung của đề tài, chúng tôi còn tiến hành điền dã, điều tra
xã hội học nhiều nơi ở huyện Như Xuân
4.2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn:
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HCM cũng như các Cương lĩnh, quan điểmcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về sự phát triển của các hình thái kinh tế - xãhội, đường lối đổi mới đất nước do ĐCSVN khởi xướng và lãnh đạo từnăm 1986 đến nay
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp lịch
sử và lôgic, tổng hợp, so sánh, điều tra điền dã, phỏng vấn, thống kê, đốichiếu, phân tích …để thực hiện đề tài này
5 ĐÓNG GÓP VỀ MẶT KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách khá toàn diện, cụ thể
về sự chuyển biến của kinh tế - xã hội huyện Như Xuân (Thanh Hoá) trongthời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến 2010
Luận văn dựa vào nguồn tài liệu phong phú để làm sáng tỏ sựchuyển biến kinh tế - xã hội huyện Như Xuân từ năm 1986 đến năm 2010
Luận văn là nguồn tài liệu cho những ai quan tâm đến sự phát triểncủa nền kinh tế huyện Như Xuân trong thời kỳ đổi mới
Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể được dùng làm tài liệutham khảo phục vụ cho việc Biên soạn lịch sử huyện Như Xuân
Trang 116 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm phần Mở đầu (6 trang), Kết luận (7 trang), Tài liệutham khảo (7 Trang), Phụ lục (8 trang) Nội dung chính của luận văn gồm 3chương
Chương 1 Những nhân tố đưa đến sự chuyển biến kinh tế - xã hộihuyện Như Xuân (từ trang 6 đến trang 28)
Chương 2 Sự chuyển biến kinh tế của huyện Như Xuân (từ trang
29 đến trang 54)
Chương 3 Sự chuyển biến về xã hội của huyện Như Xuân dưới tácđộng của chuyển biến kinh tế (từ trang 55 đến trang 73)
Trang 12Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ ĐƯA ĐẾN SỰ CHUYỂN BIẾN
KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN NHƯ XUÂN
1.1 Tiềm năng tự nhiên - xã hội Như Xuân
1.1.1 Tiềm năng tự nhiên
Cách đây hơn một thế kỷ, Châu Như Xuân ra đời trên cơ sở sáp nhậphai tổng: Như Lãng và Xuân Du Là một huyện nằm ở địa đầu phía TâyNam tỉnh Thanh Hóa, Như Xuân có diện tích tự nhiên bằng 11,6 % tổngdiện tích tỉnh Thanh Hóa (gần 1500 km2) Phía Bắc giáp huyện ThườngXuân và Triệu Sơn; phía Nam giáp huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An); phíaĐông giáp huyện Nông Cống và huyện Tĩnh Gia; phía Tây giáp huyện QùyChâu và huyện Quế Phong thuộc tỉnh Nghệ An [3; 2]
Ở vào vị trí quan trọng này, Như Xuân không những có mối quan hệgắn bó thân thiết với đông đảo đồng bào các dân tộc miền núi phía Tây vàvùng đồng bằng hai tỉnh Thanh - Nghệ, mà còn là nơi có điều kiện thuậnlợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa rộng rãi với nhiều dân tộc anh emtrong cộng đồng dân tộc Việt Nam từ Nam ra Bắc
Địa hình Như Xuân nằm trong sự chi phối về cấu tạo chung toàn tỉnh.Mạch núi lớn phía Tây cắt xẻ làm cho địa hinh càng thêm phức tạp Hìnhdáng của huyện tựa như một hình tam giác, có bề mặt không bằng phẳng,thấp dần và mở rộng dần ra từ Tây sang Đông
Địa hình phức tạp nhưng cân đối, hình thành hai vùng có đặc điểmkhác nhau:
Vùng núi cao: từ đỉnh chóp Thanh Quân mở rộng ra theo hai hướng: TâyBắc, Tây Nam, chiếm phần lớn diện tích của huyện Nơi đây tập trung nhiềuđỉnh núi cao và là vùng có nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của như Xuân
Trang 13Vùng núi thấp, trung du: xuất phát từ đỉnh chóp tam giác dưới, từXuân Khang mở rộng về hai hướng Bắc - Nam, đáy tiếp giáp đồng bằng, lànơi có những dãy núi thưa dần Phần lớn diện tích vùng thấp là những cánhđồng khá rộng, bằng phẳng, là vùng " trọng điểm lúa" của huyện.
Rừng núi Như Xuân là đầu nguồn của hệ thống khe suối dày đặcnhưng quy tụ về 3 con sông chính: sông Mực, sông Tràng, sông Đằn Sông
ở Như Xuân chảy về 3 hướng khác nhau, tuy không lớn lắm nhưng khúckhuỷu, lòng hẹp và sâu nên tốc độ dòng chảy mạnh, thường vào mùa mưa
lũ, nước ở các sông lên rất nhanh
Nguồn nước tự nhiên và sông là tiềm năng hết sức quan trọng, đangđược khai thác, rất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thủy điệnvừa và nhỏ, phục vụ cho sản xuất và đời sống
Tuy nhiên, các sông suối cũng gây không ít khó khăn cho nhân dân,đặc biệt là giao thông về mùa mưa lũ
Do vận động của địa tầng và ảnh hưởng tích cực của hệ thống sông,suối đã tạo nên cho Như Xuân lớp thổ nhưỡng đa dạng, phong phú, baogồm 4 loại đất chính:
Đất đỏ, vàng trên đá phiến thach sét (đất ba dan), là loại đất phổ biếnnhất , chiếm 59,2 % diện tích Đất này phù hợp cho phát triển cây côngnghệp dài ngày như: chè, cà phê, cao su…
Đất dưới độ dốc 250 là đất trồng cây lương thực, ở các xã vùng dưới,chiếm 25,5 % diện tích Đất này phù hợp cho việc trồng cây lúa nước, ngoài
ra còn thuận lợi cho việc chăn nuôi giá súc, gia cầm và nuôi cá nước ngọt.Ngoài hai loại đất trồng quan trọng trên đây còn có: đất vàng nhạt trên
đá phiến sa thạch và đất vàng nhạt trên đá sa thạch, phân bố ở giáp ranhgiữa vùng núi cao và vùng núi thấp Đất này thích nghi phát triển cây màu
và cây công nghiệp ngắn ngày như: lạc, đậu, vừng, ngô, sắn…
Trang 14Bên cạnh đó còn có những cánh đồng cỏ tốt tươi thuận lợi cho việcphát triển chăn nuôi đại gia súc như : trâu, bò.
Khí hậu Như Xuân mang rất rõ sự đa dạng của khí hậu nhiệt đới giómùa Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,30C, lượng mưa 1916 mm, gióthịnh hành nhất là gió Tây, hoạt động từ tháng 6 đến tháng 12 Gió TâyNam xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 8, gây khô nóng, nhiệt độ có lúc lên
390C Mùa nóng thường có bão và gió xoáy cục bộ Hiện tượng mưa phùn
và sương muối xảy ra từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, gây khô hanh, lạnhgiá đậm ở vùng cao
Khí hậu chi phối theo mùa và sự kết hợp giữa thời tiết với các mùatrong năm, đem lại thuận lợi cơ bản cho sản xuất và đời sống Tuy nhiên một
số mặt không thuận lợi như: mùa hè có gió Tây - Nam khô nóng, mùa Đôngthì thường rét đậm, kéo dài gây ảnh hưởng đến trồng trọt và chăn nuôi
Thiên nhiên nhiệt đới còn ưu đãi cho Như Xuân nguồn tài nguyênkhoáng sản phong phú Rừng chiếm 66,8% diện tích tự nhiên với nhiều loai
gỗ, có loại quý hiếm, nhiều loại cây dược liệu, cây tinh dầu xuất khẩu,…Rừng Như Xuân còn là nơi hội tụ các loài chim thú
Tài nguyên thiên nhiên còn có nhiều loại khoáng sản quý trong lòng đất.Những nguồn tài nguyên giàu có trên mặt đất và trong lòng đất là điềukiện thuận lợi cho sự phát triển các ngành kinh tế
Như Xuân được thiên nhiên ưu đãi nhiều thế mạnh, nhưng khó khănkhắc nghiệt của thiên nhiên cũng không ít, đòi hỏi nhân dân Như Xuân cầnphải phát huy những thuận lợi và khắc phục những khó khăn để phát triểnsản xuất, tạo dựng cho mình cuộc sống phù hợp
1.1.2 Nhân tố xã hội
Là một miền đất cổ, có điều kiện tự nhiên thuận lợi, lại ở vào vị tríchiến lược của nhiều thời, Như Xuân hiện là nơi sinh sống của 4 dân tộcanh em
Trang 15Người Thái: Sống tập trung ở vùng núi cao, tập quán canh tác củangười Thái là làm ruộng nước, kết hợp làm rẫy Nam giới Thái quen vớinghề chài lưới ven sông và săn bắn; phụ nữ chuyên nghề thủ công cổtruyền như: dệt vải, thêu và giữ được cách ăn mặc bằng trang phục của dântộc mình Họ có tiếng nói và chữ viết riêng.
Người Thổ: Người Thổ sống tập trung thành từng vùng ven theo sườnđồi, dọc tuyến đường chiến lược 15 A vào phía Nam Ngay từ đầu, họ sốngđịnh canh chuyên nghề trồng lúa, sống trong tình đoàn kết giữa các đân tộcanh em Người Thổ tiếp thu và vận dụng những tiến bộ mới của xã hội, cóđóng góp tích cực để củng cố và tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộcanh em
Người Mường: Địa bàn sinh sống của họ là vùng thấp, nơi có nguồntài nguyên sẵn có, nhiều cánh đồng rộng, đất đai màu mỡ để phát triểnngành trồng trọt, chăn nuôi và trồng cây công nghệp ngắn ngày
Khu vực người Mường là nơi đón nhận sự tác động thường xuyên củacác nền văn hóa từ nhiều dân tộc: trên miền núi xuống và mạnh mẽ nhất là
từ đồng bằng lên Những ảnh hưởng đó làm cho người Mường vừa giữđược bản chất dân tộc, vừa tiếp thu nhanh những cái mới, độc đáo, do đóđời sống của người Mường ngày càng phong phú
Địa bàn sinh sống của người Mường tạo nên tuyến liên đới tự nhiên,như chiếc cầu nối liền cho tình đoàn kết keo sơn giữa các dân tộc miền núiNhư Xuân với các huyện đồng bằng
Người Kinh: Đồng bào người Kinh ở huyện Như Xuân có truyềnthống lao động sáng tạo, nhiều kinh nghiệm sản xuất, canh tác, họ tiếp thu
và vận dụng nhạy bén những tiến bộ, nhất là khoa học - kỹ thuật vào sảnxuất và đời sống Trên quê hương Như Xuân, người Kinh đã phát huynhững truyền thống tốt đẹp, vừa tạo mức sống ổn định, vừa góp phần giảiquyết tốt việc phân công lao động giữa miền xuôi và miền núi Cùng đồng
Trang 16bào các dân tộc, người kinh đóng góp hết sức mình để tạo ra sự chuyểnbiến nhanh chóng, toàn diện, làm cho bộ mặt xã hội và đời sống của nhândân trong huyện ngày càng đổi thay mạnh mẽ.
Đã qua nhiều đời nay, nhân dân các dân tộc Như Xuân luôn luôn đoànkết gắn bó để xây dựng nếp sống quê hương; đấu tranh bền bỉ với thiênnhiên để xây dựng cuộc sống mới và anh dũng, kiên cường đánh giặc ngoạixâm để bảo vệ quê hương, đất nước
Thực hiện Nghị định 72/CP của chính phủ về phân vạch địa giới hànhchính, năm 1997 huyện Như Xuân được tách thành hai huyện là Như Xuân
và Như Thanh Như Xuân còn lại 14 xã và 2 thị trấn là thị trấn Yên Cát vàthị trấn nông trường Bãi Trành, trong đó có 11 xã vùng cao Tính đến năm
2010, dân số huyện như xuân là 63.747 người Toàn huyện có 18 đơn vịhành chính, gồm: Một thị tấn là thị trấn Yên Cát , các xã: Bãi Trành; XuânBình; Xuân Hòa; Hóa Qùy; Thượng Ninh; Yên Lễ; Tân Bình; Bình Lương;Cát Vân; Cát Tân; Thanh Xuân; Thanh Quân; Thanh Lâm; Thanh Sơn;Thanh Hòa; Thanh Phong
1.2 Thực trạng kinh tế - xã hội Như Xuân trước 1986
1.2.1 Thực trạng về kinh tế
Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi bằng việcgiải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước bước vào kỷ nguyênđộc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội Sau ngày thống nhất, cả nướcchung tay vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triểnkinh tế - văn hóa Đảng bộ và nhân dân huyện Như Xuân đã hăng hái tíchcực lao động sản xuất, cùng với nhân dân cả nước xây dựng chủ nghĩa xãhội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Như Xuân là một huyện nằm ở địa đầu phía Tây Nam tỉnh Thanh Hóa,
có vị trí chiến lược hiểm yếu, có nhiều đường giao thông chiến lược đi qua.Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại, Như xuân là một trong những trọng
Trang 17điểm đánh phá của giặc Mỹ Bom đạn của Mỹ đã phá huỷ nhiều thôn bản,trường học, bệnh viện, đường xá, các công trình thủy lợi Các cánh rừngLim, Lát và các loại lâm sản quý đã bị bom đạn phá, cộng với ta khai thácphục vụ giao thông vận tải thời chiến, nên nhiều khu vực chỉ còn lại đồi núitrọc…Ruộng đất những khu vực trọng điểm đánh phá của địch bị hoang hóa,kinh tế sa sút, đời sống nhân dân thiếu thốn mọi bề Sau chiến tranh, hàngngàn bộ đội, thanh niên xung phong phục viên xuất ngũ cần được bố trí côngtác và giải quyết công ăn việc làm Hàng ngàn gia đình thương binh liệt sĩcần được quan tâm giúp đỡ và giải quyết các chính sách xã hội…Hậu quảchiến tranh nặng nề cùng với thiên tai, lũ lụt liên tiếp, là khó khăn thách thức
to lớn, đòi hỏi Đảng bộ và đồng bào các dân tộc trong huyện phải vươn lênnhanh chóng khôi phục, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Tháng 12 năm 1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng
đề ra phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980)cho cả nước Mục tiêu của kế hoach 5 năm là nắm vững chuyên chính vôsản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời 3cuộc cách mạng, đó là: cách mạng quan hệ sản xuất; cách mạng khoa học -
kỹ thuật và nâng cao đời sống cho nhân dân Trong đó nhấn mạnh "tậptrung cao độ sức của cả nước, của các ngành, các cấp tạo ra một bước pháttriển vượt bậc về nông nghiệp…"[4;23]
* Về nông nghiệp:
Nhà nước có nhiều biện pháp tăng cường đầu tư cho nông nghiệp Đây
là thời kỳ xây dựng hợp tác hóa - tập thể hóa sản xuất, thế nhưng do tínhchất bất hợp lí, phi hiệu quả của mô hình hợp tác hóa - tập thể hóa nên đãđẩy mô hình này đến tình trạng khủng hoảng Cơ chế quản lí trong hợp tác
xã nông nghiệp là tập trung quan liêu bao cấp, người lao động được giaonghĩa vụ ngày công, đi làm được tính bằng công điểm, phân phối theo kếtquả lao động, trong khi đó, nhìn chung ý thức làm chủ tập thể của nhân dân
Trang 18kém nên dẫn đến tình trạng công việc chỉ có số lượng mà không có chấtlượng Điều này dẫn đến sản lượng thấp nên thu nhập của mỗi xã viêntrong tập thể thấp
Tỉnh Thanh Hoá nói chung và huyện Như Xuân nói riêng cũng khôngnằm ngoài tình trạng trên Trong những năm đầu thực hiện chủ trương tiếnlên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, quá trình phân công lao động, mởrộng diện tích canh tác, thực hiện thâm canh, sáp nhập các hợp tác xã nhỏlên quy mô toàn xã…được triển khai và đã thu được những kết quả bướcđầu Diện tích canh tác năm 1977 đạt 11.930 ha, tăng hơn năm 1975 là
4805 ha, tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 21 nghìn tấn, tăng hơnnăm 1975 là 7 nghìn tấn Đàn gia súc, gia cầm trong huyện phát triển nhanhđảm bảo sức cày kéo và thực phẩm cung cấp cho nhân dân trong huyện vàlàm nghĩa vụ đối với nhà nước…tuy nhiên, cùng với những khó khănchung của cả nước trong các năm 1978, 1979, 1980, sản xuất nông nghiệp
ở Như Xuân cũng gặp nhiều khó khăn Sản lượng lương thực năm 1980 đạt
13 nghìn tấn (kém hơn năm 1978 là 8 nghìn tấn) Cùng với giảm sút trongtrồng trọt , chăn nuôi trong huyện tăng trưởng chậm chạp: năm 1977, đàntrâu bò đạt 12.598 con, năm 1980 chỉ đạt 13 nghìn con; Năm 1976, đàn lợnđạt 15298 con, năm 1980 chỉ đạt 16 nghìn con…[62]
Trên thị trường, hàng lương thực, thực phẩm khan hiếm, giá cả đắt đỏ,các mặt hàng nhu yếu phẩm như xà phòng, kem đánh răng… đều bán theophân phối, phải có lệnh của cơ quan có thẩm quyền Nhìn chung, đời sốngnhân dân trong huyện gặp rất nhiều khó khăn
Trước tình hình khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở tổngkết, đánh giá thực tiễn, tháng 1 năm 1981, Ban Bí thư Trung ương đã Banhành Chỉ thị 100 CT/TƯ, chính thức Quyết định chủ trương thực hiện cơchế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động Mục đích củaviệc thực hiện cơ chế khoán mới trong nông nghiệp là nhằm đảm bảo phát
Trang 19triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở lôi cuốn được mọingười hăng hái lao động, sử dụng tốt đất đai, tư liệu sản xuất hiện có, ápdụng những tiến bộ trong sản xuất, không ngừng nâng cao thu nhập và chấtlượng đời sống của xã viên, tăng cường khả năng làm trọn nghĩa vụ đối vớiNhà nước.
Thực hiện Chỉ thị của Trung ương và Tỉnh ủy, huyện ủy Như Xuân đã
tổ chức quán triệt Chỉ thị 100 và xây dựng kế hoạch thực hiện
Huyện ủy đã tổ chức bồi dưỡng kinh nghiệm và kế hoạch tiếnhành cho cán bộ chủ chốt các ngành, các cấp, chủ nhiệm, kế toán củacác hợp tác xã nông nghiệp, đồng thời tổ chức lực lượng chỉ đạo cácđịa phương thực hiện Chỉ thị 100
Các hợp tác xã đã tiến hành phân mảnh, định hạng xây dựng mứckhoán cho từng loại ruộng đất, hoa màu, mùa vụ và tổ chức khoán sảnphẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động
Nhờ khoán mới phù hợp với nguyện vọng của nông dân nên các mụctiêu lớn trong sản suất nông nghiệp như lương thực, thực phẩm, trồng trọt,chăn nuôi,…có sự chuyển biến đáng kể:
Bảng 1.1 Tình hình chăn nuôi và sản lượng lương thực trong những
Trang 20khai Chỉ thị 100, nông dân phấn khởi lao động sản suất, đầu tư phân bón,giống, bắt đầu ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất,các hiện tượng tiêu cực trong ăn chia phân phối sản phẩm bị đẩy lùi, năngxuất, sản lượng cây trồng vật nuôi tăng lên.
Tuy đã đạt được những thành quả nhất định trong sản xuất nôngnghiệp nhưng vẫn còn một số tồn tại đó là đời sống nhân dân trong huyệnvẫn còn rất khó khăn, nhiều hộ vẫn chưa đủ ăn
* Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Cũng như nền kinh tế nông nghiệp, nền kinh tế công nghiệp và tiểu thủcông nghiệp của huyện Như Xuân gặp rất nhiều khó khăn sau năm 1975 Đó
là những khó khăn về vốn đầu tư, thiết bị, công nghệ, lao động có taynghề, Tuy nhiên, trong huyện có nhiều tiềm năng, là cơ sở quan trọng chonghành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Như Xuân từng bước phát triển.Một số cơ sở công nghiệp hoạt động có hiệu quả như: Nhà máy chèBãi Trành; Lâm trường Sông Tràng (khai thác gỗ)
Các nghề tiểu thủ công nghiệp gồm: Nghề mộc, cơ khí, sản xuất vậtliệu xây dựng, khai thác đá…phát triển mở rộng và đã tạo ra khối lượng sảnphẩm đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của nhân dân
Trong những năm 1983 - 1985 giá trị hàng hóa tiểu thủ công nghiệpđạt từ 1,5 đến 2 triệu đồng
Tuy vậy, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng còn nhiềuhạn chế và gặp không ít những khó khăn như: Phương tiện sản xuất thiếuthốn, đặc biệt là sự khó khăn về điện làm cho tốc độ sản xuất công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm, chất lượng thấp; những khó khăn vềnguyên liệu; cán bộ chuyên môn kỹ thuật giỏi còn ít, năng xuất lao động ởcác cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn thấp
* Thương nghiệp:
Trang 21Trong những năm đầu sau khi đất nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xãhội, ngành thương nghiệp Như Xuân đã từng bước vượt qua khó khăn và
có sự phát triển Những năm sau chiến tranh, hàng hóa phục vụ sản xuất vàđời sống nhân dân khan hiếm, nghành thương mại đã thực thi nhiều biệnpháp khai thác nguồn hàng các tỉnh phía Bắc, phía Nam, tổ chức sản xuấtthu mua tại chỗ nên đã bổ sung thêm hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùngcủa nhân dân Ngành tổ chức lại hệ thống cửa hàng mậu dịch quốc doanh,kết hợp chặt chẽ với hệ thống Hợp tác xã mua bán, thực hiện chính sách haigiá đưa hàng đến người tiêu dùng Nhờ đó, tổng giá trị hàng hóa mua vào
và bán ra hàng năm của các đơn vị thương nghiệp được tăng lên
Đối với các mặt hàng nông sản thực phẩm, ngành thương nghiệphuyện tổ chức thu mua theo giá thoả thuận và thanh toán bằng tiền mặt.Riêng trong vấn đề thu mua lợn, ngành thương nghiệp dùng từ 10 -15% lương thực bán lại cho nông dân để chăn nuôi
Đối với các mặt hàng lâm sản, ngành thương nghiệp tổ chức thu muatheo giá quy định của Nhà nước
Ngành thương nghiệp đã tích cực cải tiến phương thức và tổ chứcmạng lưới phù hợp đem hàng hóa đến tận vùng sâu, vùng xa phục vụđồng bào các dân tộc
Như vậy, trong những năm đầu sau khi đất nước thống nhất, ngànhthương nghiệp Như Xuân đã có những biện pháp tích cực và hoạt độngtương đối có hiệu quả, góp phần ổn định đời sống của nhân dân trong huyện.Bước sang những năm 1978, 1979, khi cuộc chiến tranh Biên giới phíaBắc và phía Tây Nam nước ta diễn ra, ngành thương nghiệp Như Xuân đã
bị tác động không nhỏ Hàng hóa trở nên khan hiếm và đắt đỏ, đặc biệt mặthàng lương thực khan hiếm nghiêm trọng Những mặt hàng thuộc loại nhuyếu phẩm như kem đánh răng, xà phòng, giấy bút,…đều phải bán theophân phối và phải có lệnh của cơ quan có thẩm quyền
Trang 22Trước thực trạng trên, chính quyền huyện đã ban hành và thực thi một
số biện pháp trong hoạt động mua bán, phân phối sản phẩm Tuy nhiên tìnhhình thương nghiệp trong huyện vẫn chưa được cải thiện đáng kể Đặc biệt,cuối năm 1985, Chính phủ tiến hành cải cách giá - lương - tiền, tình hìnhthương nghiệp huyện càng thêm khó khăn do nạn lạm phát và chênh lệchcung cầu quá lớn làm cho giá cả tăng vọt
Nhìn chung, cho đến năm 1985, thị trường mua - bán, phân phốisản phẩm ở Như Xuân còn nhiều rối ren, đời sống của nhân dân còn gặpnhiều khó khăn
*Xây dựng cơ bản và giao thông vận tải:
- Xây dựng cơ bản:
Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Như Xuân làmột trong những trọng điểm bị đánh phá của địch Nhiều thôn bản, trườnghọc, bệnh viện, các công trình thuỷ lợi, bị bom đạn giặc Mỹ phá hủy Ngaysau khi thống nhất đất nước, nhân dân Như Xuân đã nhanh chóng bắt tayvào khôi phục, tu sửa và xây dựng mới các công trình quan trọng đểphục vụ đời sống và sản xuất của nhân dân Cho đến năm 1980, về cơbản các công trình bị chiến tranh đánh phá đã được khôi phục lại và đưavào sử dụng Bên cạnh đó, huyện cũng tiến hành xây dựng mới nhiều côngtrình quan trọng:
Để phục vụ tốt cho công tác giáo dục, trường lớp được xây dựng, sửachữa, mua sắm thêm bàn ghế và dụng cụ giảng dạy, học tập Tính đến nămhọc 1979 - 1980 toàn huyện đã xây dựng mới thêm 175 phòng học bằnggạch ngói, 462 phòng học bằng gỗ vững chắc, đóng mới 1883 bộ bàn ghếhọc sinh, 540 bộ bàn ghế giáo viên, 158 tủ đựng tài liệu Đến năm 1985,toàn huyện đã xây dựng được 207 phòng học bằng gạch ngói [4]
Huyện cũng đầu tư xây dựng xong Nghĩa trang liệt sỹ huyện; xâydựng Bến xe khách tại Yên Cát, Bãi Trành; các công trình tu bổ Bệnh viện,
Trang 23trạm y tế một số xã được hoàn thành và đưa vào sử dụng có hiệu quả; tiếnhành xây dựng trường Đảng,
Nhờ có sự đầu tư xây dựng những công trình trọng điểm nêu trên,cótác động tích cực đến các hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế và bước đầucải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân trong huyện
- Giao thông vận tải:
Giao thông là lĩnh vực vô cùng quan trọng trong việc phát triển sảnxuất và phục vụ đời sống xã hội, vì vậy ngay sau ngày thống nhất đất nước,
để phục vụ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, toàn huyện đã tập trunghàng vạn ngày công tu sửa các tuyến đường Hải Vân - Xuân Du, XuânPhúc - Xuân Bình, Thanh Phong - Thanh Quân Làm mới 4 km đường liên
xã, 2,2 km đường tránh dốc Trầu, sửa chữa và làm mới 8 cầu lớn Năm
1981 đã làm mới được 33km đường liên xã, 7 km đường liên huyện, tu sử
32 km đường cũ bằng vốn của Nhà nước và huy động 6.982 ngày công laođộng của các đồng bào dân tộc trong huyện Riêng năm 1985 đã tu sửa vàlàm mới 75 km đường giao thông liên thôn, liên xã, xây dựng hoàn chỉnh
12 đập nước kết hợp giao thông thủy lợi
Toàn huyện tính đến năm 1985 đã mua được 10 xe ô tô vận tải, 27 xebánh lốp, 468 xe cải tiến, vận chuyển 2000 tấn hàng mỗi năm[4; 36]
Nhìn chung, với những nỗ lực của chính quyền huyện, hệ thống đườnggiao thông đã được tu bổ và làm mới một số tuyến (kể cả liên xã, liên huyện)
và đã đáp ứng được phần nào nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa củanhân dân trong huyện Tuy nhiên, do thiếu vốn đầu tư của Nhà nước, củatỉnh và của huyện nên chất lượng đường giao thông còn thấp, nhiều tuyếnđường liên xã, liên thôn còn chưa thông suốt Năng lực vận tải còn thấp sovới yêu cầu vận chuyển hàng hóa và nhu cầu đi lại của nhân dân
Như vậy, sau 10 năm đất nước được thống nhất, kinh tế của huyện NhưXuân đã đạt được một số thành tựu nhất định trên các lĩnh vực công nghiệp,
Trang 24nông nghiệp, giao thông vận tải…Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạtđược thì nền kinh tế huyện Như Xuân còn gặp nhiều khó khăn yếu kém: Nông nghiệp - ngành sản xuất chính của huyện phát triển chậm, việcứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất còn hạn chế, đặc biệt làchưa sử dụng máy móc trong sản xuất…Điều đó dẫn đến năng xuất, chấtlượng của sản phẩm thấp, phần thu hoạch chưa tương sứng với công sứcnhân dân bỏ ra, nhiều hộ còn trong tình trạng thiếu ăn.
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp do nhiều yếu tố như thiếu laođộng kỹ thuật, thiếu vốn đầu tư, phụ thuộc vào nguyên liệu và năng lượng
từ bên ngoài…nên năng suất và chất lượng sản phẩm thấp, gần như không
có sự mở rộng cơ sở sản suất, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dântrong huyện cũng như xuất khẩu
Thương nghiệp trong huyện còn gặp nhiều rối ren, sự chênh lệch giữacung và cầu quá lớn, chính sách quản lý của chính quyền huyện chưa phùhợp với tình hình thực tế nên làm cho thị trường bị ách tắc…
Nhìn chung, tính đến năm 1985, nền kinh tế Như Xuân còn gặp nhiềukhó khăn Mô hình kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp đã bộc lộ nhữngyếu kém bất cập nghiêm trọng, gây ra những hậu quả to lớn làm ảnh hưởngđến toàn bộ nền kinh tế, xã hội
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những khó khăn yếu kém của nền kinh
tế Như Xuân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bao gồm nhữngsai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước và củachính quyền địa phương (bệnh chủ quan, nóng vội, không theo những quyluật kinh tế khác quan) Đặc biệt, những sai lầm , khuyết điểm đã bộc lộ từlâu nhưng không được nhận thức và sửa chữa kịp thời…
1.2.2 Thực trạng về xã hội
* Giáo dục và đào tạo:
Trang 25Thực hiện phương châm phát triển giáo dục toàn diện vững chắc, hệMẫu giáo - vỡ lòng được phát triển mở rộng, các cháu đúng độ tuổi được
đi học Năm học 1974 - 1975 toàn huyện mới có 48 nhóm lớp gồm 973cháu, năm học 1978 - 1979 đã phát triển lên 190 nhà mẫu giáo và nhóm trẻ(trong đó có 47 nhà mẫu giáo thuộc hệ Nhà nước, còn lại là các hợp tác xã
tổ chức) với 542 cô giáo và 1913 cháu Trường lớp được xây dựng, sửachữa, mua sắm thêm bàn ghế và dụng cụ giảng dạy và học tập Toàn huyện
có 478 giáo viên cấp I, 332 giáo viên cấp II Năm học 1976 - 1977 có
11595 học sinh cấp I và 4590 học sinh cấp II, 350 học sinh cấp III [4].Công tác bổ túc văn hóa được đẩy mạnh, hầu hết cán bộ, đảng viên,đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia học tập Toàn huyện có 38 lớp cấp Ivới 610 học viên, 66 lớp cấp II với 1127 học viên, 2 lớp cấp III với 79 họcviên [4; 13,14] Toàn ngành phát động phong trào thi đua "dạy tốt, học tốt" sôinổi rộng khắp, nhờ đó chất lượng học tập, giảng dạy được nâng lên từngbước
Huyện đã lựa chọn một số giáo viên có trình độ chuyên môn giỏi mởlớp hướng dẫn nghiệp vụ cho toàn ngành Năm 1980, huyện cũng đã tổchức thi giáo viên giỏi, 15 thầy cô giáo được công nhận là giáo viên giỏicấp huyện Nhiều xã trong huyện đã thực hiện tốt chương trình phổ cập cấp
I Thầy giáo Lương Duy Thái (Hiệu trưởng trường Phổ thông Trung họcNhư Xuân I) được tặng danh hiệu "Nhà giáo ưu tú"
Như vậy, giáo dục được chính quyền huyện quan tâm và phát triểnngay từ sau ngày đất nước được giải phóng Số lượng giáo viên và họcsinh ngày càng tăng
Tuy nhiên ngành giáo dục huyện cũng còn gặp nhiều khó khăn yếukém như chất lượng đội ngũ giáo viên còn yếu kém, cơ sở vật chất kỹ thuậtphục vụ cho việc dạy và học còn thiếu, chính sách của Nhà nước đối vớingành sư phạm còn xem nhẹ,
Trang 26* Y tế:
Sự nghiệp y tế chăm lo sức khoẻ cho nhân dân là một trong nhữnglĩnh vực được chính quyền huyện quan tâm đầu tư phát triển Sau ngày đấtnước thống nhất, huyện đã đầu tư nâng cấp bệnh viện Yên Cát và phân việnBến Sung lên 100 giường bệnh, củng cố phát triển mở rộng 21 trạm xá xã,đội ngũ thầy thuốc được tăng cường cả về số lượng và chất lượng Việc kếthợp Đông, Tây y trong khám chữa bệnh được đề cao Nhiều nơi tổ chứctrồng các loại cây thuốc Nam chữa các bệnh thông thường đạt hiệu quả tốt.Đội vệ sinh phòng dịch và chống sốt rét từ 10 cán bộ (trước ngày đất nướcthống nhất) tăng lên 25 cán bộ (sau ngày đất nước thống nhất) Nhờ đó, lựclượng khám chữa bệnh cho nhân dân được phân bổ đến từng làng bản.Bệnh sốt rét và nhiều bệnh xã hội khác dần dần được ngăn chặn và đẩy lùi.Trong những năm 1980 - 1985, lĩnh vực y tế được tăng cường thêmđội ngũ y, bác sỹ và trang thiết bị chữa bệnh Chất lượng khám chữa bệnhkhá hơn thời kỳ trước Đội vệ sinh phòng dịch huyện đã tổ chức tiêm vácxin phòng chống dịch bệnh cho đồng bào các dân tộc Các ổ dịch sốt rét ởThanh Kỳ, dịch lỵ ở khu vực Năm Thanh (Thanh Quân, Thanh Phong,Thanh Sơn, Thanh Lâm, Thanh Xuân) đã được dập tắt Nhờ đó mà hạ được
tỉ lệ tử vong; sức khoẻ và tuổi thọ của nhân dân được tăng lên
Bên cạnh những mặt đạt được, ngành y tế Như Xuân còn có những tồntại hạn chế đó là thuốc và dụng cụ y tế phục vụ cho công tác khám chữabệnh còn thiếu thốn, đội ngũ y bác sĩ còn thiếu và yếu…
* Văn hóa - Thể dục Thể thao:
- Văn hóa:
Sau ngày đất nước thống nhất, phong trào văn hóa văn nghệ quầnchúng được phát triển mở rộng Tính đến năm 1985, toàn huyện đã xâydựng được 35 đội văn nghệ các xã và khối đoàn thể cơ quan Hàng năm, tạicác thôn bản thuộc các xã trong huyện đều diễn ra các buổi hội diễn văn
Trang 27nghệ trong các dịp lễ lớn như: Mừng Đảng, mừng Xuân, kỷ niệm ngàyQuốc khánh,
Phong trào thi đua xây dựng nếp sống mới được đẩy mạnh trong cácthôn bản, làng xã, ý thức của nhân dân mỗi ngày được nâng cao, góp phầnhạn chế những hủ tục lạc hậu trong ma chay, cưới xin, chữa bệnh
- Thể thao:
Phong trào tự rèn luyện thân thể, tập thể dục buổi sáng được định hình
và dần dần phát triển, thu hút được một bộ phận đáng kể nhân dân thamgia, đặc biệt là phong trào chơi thể thao (bóng đá, bóng chuyền) vào cácbuổi chiều tại các sân chơi trong các thôn bản, làng xã thu hút được đôngđảo nhân dân tham gia Các cơ quan, đoàn thể hàng năm đã tổ chức đượccác giải bóng đá, bóng chuyền
Có thể nói, sinh hoạt văn hóa - thể thao trong huyện những năm đầusau ngày đất nước được giải phóng đã có sự chuyển biến tích cực, thu hútđược ngày một đông quần chúng nhân dân tham gia Có nhiều phong tràovăn nghệ và thi đấu thể thao được tổ chức thường niên Qua đó góp phầnnâng cao đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân trong huyện
Tuy đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng trong xã hội vẫncòn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém như: Thu nhập bình quân đầu ngườithấp, tỉ lệ hộ nghèo lớn, nhân dân chưa được sử dụng điện, nhiều tệ nạn xãhội vẫn còn tồn tại như trộm cắp, các hủ tục lạc hậu trong cưới xin, machay vẫn tồn tại,v.v
Trên đây là bức tranh toàn cảnh về tình hình kinh tế - xã hội của huyệnNhư Xuân thời kỳ trước đổi mới Sau mười năm tích cực phấn đấu, Đảng bộ
và nhân dân huyện Như Xuân đã đạt được những thành tựu mới trên các lĩnhvực: Chính trị - kinh tế - văn hóa - quốc phòng, an ninh Nhưng nằm tronghoàn cảnh chung của cả nước: Nền kinh tế bắt nguồn từ sản xuất nhỏ, tự cấp
tự túc, cơ sở vật chất kĩ thuật nghèo nàn lạc hậu, chưa được khôi phục hoàn
Trang 28chỉnh sau chiến tranh, lại bị các thế lực phản động bao vây cô lập, thiên taidồn dập tàn phá, cơ chế quản lí quan liêu bao cấp kéo dài dẫn đến sản xuấttrì trệ và lâm vào tình trạng khủng hoảng, đời sống nhân dân gặp nhiều khókhăn, tiêu cực xã hội phát triển, Điều đó đòi hỏi Đảng bộ, nhân dân NhưXuân cùng với toàn dân tộc mạnh dạn tiến hành sự nghiệp đổi mới do Đảngcộng sản Việt Nam là người khởi sướng, tổ chức lãnh đạo.
1.3 Đường lối đổi mới đất nước của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ và chính quyền huyện Như Xuân
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam(tháng 12 năm 1986) đã đánh giá tình hình đất nước, kiểm điểm sự lãnhđạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước trong thập niên đầu cảnước đi lên chủ nghĩa xã hội, từ đó xác định nhiệm vụ, mục tiêu củacách mạng trong thời kỳ mới
Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thất, nói đúng sự thật, Đại hôi chỉ rõnhững thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hộinhững năm qua mà ta đã đạt được đồng thời chỉ ra những khó khăn, yếukém của ta trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó ta chưathực hiện được mục tiêu do Đại hội V đề ra là cơ bản ổn định tình hìnhkinh tế - xã hội, ổn định đời sống của nhân dân
Đại hội khẳng định, để khắc phục những khuyết điểm, yếu kém, Đảng
ta cần phải thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy, nhận thức rõ hơn về nhữngquy luật khách quan của thời kỳ quá độ Trên cơ sở phân tích, đánh giáđúng đắn tình hình của đất nước và thế giới, Đại hội VI quyết định đề rađường lối đổi mới
Đại hội đề ra nhiệm vụ chung cho cả chẳng đường đầu của thời kỳ quá
độ lên chủ nghã xã hội là "Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết
một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xa hội và bảo
Trang 29vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa "và " không ngừng chăm lo nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, Đảng và nhân dân ta tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng chế độ làm chủ tập thể, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa"[41; 308]
Đại hội lần thứ VI của Đảng khẳng định tiếp tục đường lối chung củacách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủnghĩa do các Đại hội lần thứ IV và lần thứ V của Đảng đề ra Tuy nhiên,đến Đại hội VI, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độtiếp tục được cụ thể hóa trên cở sở nâng cao nhận thức về đặc điểm thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là cả một thời kỳ lịch sử lâu dài,khó khăn, trải qua nhiều chặng và hiện đang ở chặng đường đầu tiên Đại
hội nêu rõ " chặng đường đầu tiên là một bước quá độ nhỏ trong bước quá
độ lớn", và " nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo"[41; 309]
Ổn định tình hình kinh tế - xã hội bao gồm ổn định sản xuất, ổn địnhphân phối, lưu thông, ổn định đời sống vật chất và văn hóa, tăng cườnghiệu lực của tổ chức quản lí, lập lại trật tự, kỉ cương và thực hiện công bằng
xã hội
Ổn định và phát triển gắn liền với nhau trong quá trình vận động tiếnlên, ổn định để phát triển và có phát triển mới ổn định được
Những nội dung đổi mới chủ yếu là :
Thứ nhất, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất,đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, rối ren, mất cânđối Đại hội xác định phải bố trí lại cơ cấu sản xuất cho phù hợp, trước hết
là ngành sản xuất công nghiệp và nông nghiệp Phải tạo ra cơ cấu hợp lýgiữ công nghiệp và nông nghiệp, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân
Trang 30đối Ở mỗi giai đoạn khác nhau, vị trí của công nghiệp và nông nghiệpcũng khác nhau
Trong giai đoạn đầu, Đại hội xác định: "Tập trung sức phát triển nông
nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu , đưa nông nghiệp tiến một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa"[47; 990 ] Trong nông nghiệp cần
phải phát triển cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi
Đối với sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, phải đáp ứngcho được nhu cầu của nhân dân về những loại hàng hoá thông thường.Trong ngành công nghiệp, trước hết phải ưu tiên phát triển ngành nănglượng, trong đó điện phải được đi trước một bước
Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới Đạihôi VI khẳng định: đẩy mạnh cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa lànhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội, với những hình thức và bước đi phù hợp làm cho quan hệ sản xuất phùhợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Thứ ba, đổi mới cơ chế quản lý về kinh tế Đại hội VI quyết định xoá
bỏ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế quản lýmới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển nền kinh tế.Nguyên tắc chủ yếu của qúa trình đổi mới cơ chế quản lý là phải thực hiệntập trung dân chủ trong quản lí kinh tế Việc phân cấp quản lý phải đảmbảo quyền làm chủ của 3 cấp: quyền quyết định của trung ương, quyền chủđộng của các địa phương và quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn
vị kinh tế và quyền làm chủ của tập thể
Trong đó, Đại hội VI khẳng định, muốn thực hiện những " nhiệm vụ baotrùm, mục tiêu tổng quát " của chặng đường đầu tiên (phải trong nhiều kếhoạch 5 năm nữa) thì trong 5 năm trước mắt (1986 - 1990) cần tập trung sứcngười, sức của thực hiện bằng được nhiệm vụ, mục tiêu của Ba chương trình
về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu [47; 310]
Trang 31Những mục tiêu cụ thể là:
- Bảo đảm nhu cầu lương thực của xã hội và có dự trữ; đáp ứng mộtcách ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm Mức tiêu dùng lương thực,thực phẩm đủ tái sản xuất sức lao động
- Đáp ứng nhu cầu của nhân dân về những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu
- Tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực; tăng nhanh kim ngạchxuất khẩu để đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc,phụ tùng và những hàng hóa cần thiết [47; 310]
Nội dung ba chương trình kinh tế là sự cụ thể hoá nội dung chính củacông nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên
Như vậy, Đại hội VI của Đảng đã hoạch định đường lối đổi mới toàndiện, sâu sắc và triệt để, mở ra một thời kỳ mới cho sự nghiệp cách mạngnước ta trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng bộ Thanh Hóa đãtiến hành Đại hội lần thứ VII, xác định mục tiêu giải pháp đổi mới trên cáclĩnh vực: Kinh tế - văn hóa - an ninh - quốc phòng - công tác xây dựng
Đảng và hệ thống Chính trị Về kinh tế, Đại hội khẳng định: “Thanh Hóa từ
lương thực, xuất khẩu, sản xuất hàng hóa phong phú đa dạng mà lên” [4; 44,45] Muốn vậy phải tập trung sức mạnh tổng hợp khai thác tiềm năng của
3 vùng kinh tế Trọng điểm là khai thác thế mạnh trung du miền núi, tăngcường đầu tư phát triển kinh tế Biển, tạo thế vững chắc của vùng đồng bằng
Đại hội khẳng định: “Cần phải nâng cao năng lực lãnh đạo và ý chí cách
mạng tiến công, đổi mới tư duy; đổi mới tổ chức và cán bộ, tiếp cận khoa học kỹ thuật hiện đại, thực hiện cơ chế quản lý mới, sáng tạo cách làm mới,
đi lên với tốc độ nhanh, năng suất, chất lượng và hiệu qủa cao”.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nghị quyếtĐại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XII, Đảng bộ huyện Như Xuân
tiến hành Đại hội lần thứ XIV Đại hội đánh giá: “Trong những năm qua,
Trang 32sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện cả về trồng trọt và chăn nuôi,
cả về diện tích, năng suất và tổng sản lượng Sản xuất lâm nghiệp tiến bộ
về bảo vệ và trồng rừng, hoàn thành cơ bản việc giao đất, giao rừng cho Hợp tác xã và xã viên quản lý sản xuất kinh doanh Các nghề tiểu thủ công nghiệp và xuất khẩu có tiến bộ, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường,
đã xây dựng được nhiều công trình giao thông, thủy lợi, văn hóa làm cho
bộ mặt nông thôn ngày càng thay đổi Công tác phân phối lưu thông, tài chính, ngân hàng có nhiều có gắng Kiện toàn, nâng cao năng lực của hệ thống chính trị, tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ, gắn phát triển kinh
tế với văn hóa ,…”[4; 46,47]
Bên cạnh những thành tích đạt được, Đại hội cũng chỉ ra những mặthạn chế, yếu kém của huyện trong những năm vừa qua như: chính quyềnchưa quan tâm đầy đủ đến đời sống vật chất - văn hóa của đồng bào cácdân tộc Phong trào cách mạng của quần chúng chưa mạnh, chưa đều Mứcthu nhập bình quân của người dân thấp Hiệu lực và chức năng quảnlý củachính quyền còn yếu, công tác xây dựng Đảng bộ chất lượng chưa cao,…
Từ những đánh giá trên, Đại hội đề ra nhiệm vụ trong những năm đầu
sự nghiệp đổi mới là:
1 Ổn định và phát triển sản xuất theo hướng: đẩy mạnh sản xuấtlương thực, thực phẩm, phát triển lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp, kết hợp kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh Chuyển từ sản xuất
tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa phong phú đa dạng theo cơ chế mới
2 Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ngangtầm với yêu cầu đổi mới Thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làmchủ, Nhà nước quản lí…[4; 47,48]
Như vậy, tính đến năm 1986, nền kinh tế Như Xuân còn gặp nhiềukhó khăn và mất cân đối lớn, tình hình xã hội cũng chưa được cải thiệnđáng kể Từ thực trạng nêu trên về tình hình kinh tế - xã hội Như Xuân
Trang 33trước năm 1986 thì việc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI quyết định thựchiện công cuộc đổi mới đất nước và được Đại hội tỉnh Đảng bộ và Đại hộihuyện Đảng bộ quán triệt và triển khai thực hiện tại huyện có ý nghĩa quantrọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế - xã hội Như Xuân phát triển.
Trang 342.1 Nông nghiệp, lâm nghiệp
- Về quan hệ quản lý, Nghị quyết 10 chủ trương tiếp tục hoàn thiện cơchế khoán sản phẩm cuối cùng đến người lao động
- Về quan hệ phân phối: xoá bỏ hạch toán và phân phối theo côngđiểm, xã viên chỉ có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Các hoạt động dịch
vụ sản xuất giữa Hợp tác xã với xã viên đều phải thông qua quan hệ hànghóa - tiền tệ
Trang 35Ngoài thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể, Nhà nước công nhận
sự tồn tại lâu dài, bình đẳng và tác dụng tích cực của thành phần kinh tế cáthể, tư nhân trong nông nghiệp, lâm nghiệp…
Có thể nói, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị là bước tiến xa so với Chỉthị 100 trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp
Trên tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về Đổi mới quản lý kinh
tế nông nghiệp và dưới ánh sáng của các Nghị quyết Đại hội VI, VII, VIIIcủa Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh Ủy Thanh Hóa, huyện Ủy Như Xuân
đã nhanh chóng triển khai cơ chế khoán phù hợp với tình hình thực tiễn củahuyện
Trong nền kinh tế Như Xuân, nông nghiệp là ngành giữ vai trò thenchốt, có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển chung của toàn huyện
* Trồng trọt:
Khi các Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII,đặc biệt là thực hiện Nghị quyết của Ban bí thư Trung ương Đảng về chínhsách khoán 10 đi vào cuộc sống, nền kinh tế nông nghiệp Như Xuân đã có
Tổng diện tích gieo trồng(ha) 15.726 16.000 15.531 15 030
Sản lượng(tấn) 17.298,6 18.725,6 27.059 30.928
Nguồn [26]
Trang 36Nhìn vào bảng 2.1 ta thấy, diện tích trồng cây lương thực (lúa, sắn,khoai, ngô, ) của huyện Như Xuân từ năm 1987 đến năm 1996 có lúc tăng,lúc giảm Năm 1987, tổng diện tích gieo trồng là 15.726 ha, đến năm 1990tăng lên 16.000 ha, nhưng đến năm 1996 lại giảm xuống còn 15.030 ha là do
có sự chuyển đổi trong cơ cấu cây trồng Một số diện tích trồng cây lươngthực đã dành chỗ cho việc trồng cây hoa màu, cây công nghiệp hàng năm,cây công nghiệp lâu năm, Tuy nhiên, năng suất cây lương thực thì khôngngừng tăng lên qua các năm, do đó mà mặc dù diện tích gieo trồng có giảmnhưng tổng sản lượng lương thực vẫn tăng : Năm 1987 tổng sản lượnglương thực đạt trên 17 ngàn tấn thì đến năm 1996 đạt trên 30 ngàn tấn
Bên cạnh việc trồng các cây lương thực là chính thì chính quyền vànhân dân huyện Như Xuân cũng không ngừng mở rộng trồng các loại câyrau màu , cây công nghiệp hàng năm, cây công nghiệp lâu năm và bước đầuthu được những kết quả tốt
Cùng với việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, chính quyền vànhân dân huyện Như Xuân cũng đã bước đầu ứng dụng những thành tựukhoa học kỹ thuật vào sản xuất như: sử dụng các loại thuốc hóa học đểphòng trừ sâu bệnh; chăm bón cây trồng bằng các loại phân vô cơ nhưphân NPK, lân, đạm; nông dân cũng đã mua sắm được một số máy bơm,máy bừa để phục vụ cho việc sản xuất, góp phần giải phóng sức lao độngthủ công, nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng; hàng chục công trìnhthủy lợi được tu bổ và nâng cấp nhằm phục vụ cho sản xuất; các loại giốngmới có năng suất cao được đưa vào sử dụng như giống lúa lai, từ đó đãgóp phần cải tạo đất và tăng năng suất cây trồng
Trang 37Bảng 2.2 Năng suất lúa trung bình năm thời kỳ 1990-1996
Nguồn: [4], [68]Nhìn vào bảng 2.2 ta thấy, năng suất lúa - cây lương thực chủ đạo củahuyện tăng lên nhanh chóng qua các năm Bên cạnh cây lúa, năng suất cácloại cây trồng khác cũng tăng lên nhanh chóng
* Chăn nuôi:
Ngành chăn nuôi của huyện Như Xuân trong thời kỳ đổi mới, nhất làsau “Khoán 10”, với tinh thần chủ động của các hộ dân trong việc chămsóc, nuôi dưỡng, tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển đa dạng:
Bảng 2.3 Tình hình phát triển ngành chăn nuôi của Như Xuân 1989
Nguồn: [4], [66], [67]Nhìn vào bảng 2.3 chúng ta thấy số lượng đàn gia súc và diện tích ao
hồ nuôi cá tăng lên dần theo hàng năm Điều đó cho thấy, chăn nuôi cũnggiữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp của người dân Nhiều
hộ nông dân đã mạnh dạn bỏ vốn ra để phát triển chăn nuôi (mua trâu,bò, ) Trong huyện đã xuất hiện một số trang trại chăn nuôi gia súc, giacầm kết hợp với thả cá và trồng cây đạt hiệu quả kinh tế cao
Bên cạnh việc chăn nuôi gia súc, thì chăn nuôi gia cầm (gà, vịt) cũngphát triển nhanh chóng Gia cầm được nuôi ở hầu khắp các hộ gia đìnhtrong huyện Tổng số đàn gia cầm tính đến năm 1995 lên đến khoảng150.000 con [4]
Trang 38Ngành chăn nuôi cũng được chính quyền huyện rất quan tâm Cụ thể,hàng năm ngành thú y huyện tiến hành tiêm phòng cho các đàn gia súc, giacầm (25% gia súc được tiêm phòng) Huyện cũng tiến hành nhập các giốngmới, có chất lượng về như: vịt siêu trứng; lợn hướng nạc…
Chăn nuôi phát triển đã góp phần đổi mới cơ cấu sản xuất trong nôngnghiệp, tăng thu nhập cho nhân dân, đồng thời cung cấp sức kéo và phânbón cho trồng trọt
Bên cạnh những mặt đạt được, ngành chăn nuôi ở Như Xuân cũng cònnhiều yếu kém, hạn chế Cụ thể: Thói quen chăn nuôi thả rông vẫn còn tồntại ở nhiều hộ gia đình; người nông dân chăn nuôi vẫn chưa tiếp nhận đượccác giống con nuôi tốt nhất; công tác phòng, trừ dịch bệnh cho gia súc vàgia cầm còn chậm,…do đó hiệu quả chăn nuôi chưa cao, người nông dânchưa thực sự yên tâm đầu tư phát triển chăn nuôi với quy mô lớn
Các mô hình trang trại chăn nuôi đạt hiệu quả chưa được nhân rộng,ngành chăn nuôi chưa hướng vào sản xuất hàng hoá mà chủ yếu là mangtính chất tự cung, tự cấp, giải quyết vấn đề lương thực phẩm cho giađình và trong huyện nhà
Nhìn chung trong 10 năm dầu tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh
tế nông nghiệp Như Xuân đã có sự phát triển nhưng còn chậm chạp vàthiếu tính ổn định Vấn đề ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật vàotrong sản xuất còn hạn chế nên năng suất các loại cây trồng và hiệu quảchăn nuôi chưa cao
Trang 39Có được những kết quả đó là do huyện có nhiều chủ trương, biện phápchỉ đạo sản xuất đồng bộ và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, bốtrí cơ cấu mùa vụ hợp lý, áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, thực hiện tốtcông tác khuyến nông, bảo vệ thực vật và cung ứng vật tư nông nghiệp Cụthể, hàng năm các cơ quan chức năng đã cung ứng hàng chục tấn giống lúa,hàng trăm tấn phân các loại, hàng chục vạn cá giống chương trình khuyếnngư cấp cho nhân dân chăn nuôi Công tác dự đoán, dự báo sâu bệnh vàhướng dẫn phòng trừ dịch hại đã được duy trì thường xuyên hạn chế đượcnhững tác hại gây ra
Cùng với sự tích cực, chủ động, lao động sáng tạo của nhân dân trongviệc đưa các giống cây chất lượng cao vào sản xuất, tiến hành thâm canhtăng vụ, xen vụ đã góp phần tăng năng suất, sản lượng cây trồng của huyện
* Chăn nuôi:
Trang 40Từ năm 1997 đến năm 2010, tình hình chăn nuôi ở huyện Như Xuân
đã có sự chuyển biến rõ rệt, cơ cấu đàn gia súc, gia cầm có sự chuyển dịchtheo hướng sản xuất hàng hóa
Bảng 2.5: Tình hình phát triển ngành chăn nuôi ở
Như Xuân những năm 2000 - 2010
Đàn trâu Con 12294 12500 13.940 16640 17.622
Đàn lợn Con 16.135 19.600 19.900 23.852 24.816 Gia cầm Con 209.000 248.000 277.200 370.000 383.000 Diện tích nuôi thả cá ha 350 352 355 363 370
Nguồn: [29], [30], [31]Nhìn vào bảng 2.5 ta thấy tổng đàn trâu, bò, lợn, gia cầm và diện tích
ao hồ nuôi thả cá tăng dần qua các năm Đặc biệt là chăn nuôi gia cầm pháttriển nhanh chóng Năm 2000, tổng đàn mới chỉ có 209.000 thì đến năm
2010 đã tăng lên 383.000 con Bên cạnh đó, trong những năm gần đây,nghề nuôi Dê ; nuôi Ong lấy mật; nuôi lợn cỏ; nuôi nhím;…cũng đượcnhiều hộ dân và các trang trại thử nghiệm và đã bước đầu đem lại hiệu quảkinh tế cao
Ngành chăn nuôi phát triển ở huyện Như Xuân đã góp phần quantrọng trong việc tăng thu nhập và giải quyết vấn đề việc làm cho nhândân trong huyện
Những thành qủa mà ngành chăn nuôi huyện Như Xuân đạt đượctrong những năm 1997 - 2010 là nhờ có sự quan tâm chỉ đạo sát xao củacác cơ quan chức năng của huyện, do đó mà người chăn nuôi đã có đượcnhiều giống con nuôi có chất lượng; công tác tiêm phòng, dập dịch và làm
vệ sinh truồng trại được thực hiện khá tốt Cụ thể, những năm 1997 - 2010,người chăn nuôi đã nhập được các giống con nuôi có năng suất cao như: du