Sự thay đổi địa giới hành chính của huyện Tĩnh Gia trong thời gian quakéo theo sự thay đổi về dân cư và ảnh hưởng của nó đến những vấn đề quản lý đất đai, phân bố lại vị trí các vùng dân
Trang 1HỒ SỸ PHONG
Sù THAY §æI §ÞA GIíI HµNH CHÝNH
Vµ D¢N C¦ ë HUYÖN TÜNH GIA (THANH HãA)
Tõ N¡M 1945 §ÕN N¡M 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
VINH - 2010
Trang 2HỒ SỸ PHONG
Sù THAY §æI §ÞA GIíI HµNH CHÝNH
Vµ D¢N C¦ ë HUYÖN TÜNH GIA (THANH HãA)
Tõ N¡M 1945 §ÕN N¡M 2010
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN QUANG HỒNG
VINH - 2010
Trang 3Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệttình của các thầy cô hướng dẫn chỉ bảo những kiến thức cần thiết, nhữngtài liệu tham khảo phục vụ cho luận văn Tôi xin chân thành bày tỏ lòngbiết ơn sâu sắc của mình đối với sự giúp đỡ quý báu của giáo viên hướng dẫnPGS TS Nguyễn Quang Hồng Cũng qua đây tôi, xin được bày tỏ lòng biết
ơn đến các thầy cô giáo đã nhiệt tình góp ý và đưa ra những lời khuyên quýgiá để tôi kịp thời sửa chữa, bổ sung, hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin cám ơn tới các cán bộ, công nhân viên thuộc các cơ quan
đã cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành luận văn này
Bên cạnh sự giúp đỡ của các thầy cô là sự giúp đỡ, động viên của giađình, bạn bè và những người thân đã góp phần giúp tôi trong quá trình thựchiện luận văn cũng như suốt quá trình học tập, tôi xin chân thành cảm ơn vàghi nhận sự giúp đỡ đó
Quá trình thực hiện luận văn tuy đã cố gắng hết sức, song không thểtránh khỏi những thiếu sót do chưa có kinh nghiệm và kiến thức đầy đủ, tôimong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô và bạn bè
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Hồ Sỹ Phong
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Cấu trúc của luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 Thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện Tĩnh Gia từ năm 1945 đến năm 1964 8
1.1 Vài nét về địa giới hành chính và dân cư ở huyện Tĩnh Gia trước năm 1945 8
1.1.1 Địa giới hành chính, tên gọi 8
1.1.2 Dân cư 17
1.2 Thay đổi địa giới hành chính ở huyện Tĩnh Gia từ năm 1945 đến năm 1964 23
1.2.1 Từ năm 1945 - 1954 23
1.2.2 Từ năm 1954 - 1964 24
1.3 Thay đổi về dân cư ở huyện Tĩnh Gia từ năm 1945 đến năm 1964 26
1.3.1 Từ năm 1945 - 1954 26
1.3.2 Từ năm 1954 - 1964 27
Chương 2: Thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện Tĩnh Gia từ năm 1965 đến năm 2010 30
21 Bối cảnh lịch sử 30
Trang 5đến năm 2010 36
2.2.1 Từ năm 1965 - 1975 36
2.2.2 Từ năm 1975 - 2010 36
2.3 Thay đổi dân cư ở huyện Tĩnh Gia từ năm 1965 đến năm 2010 .44
2.3.1 Từ năm 1965 đến năm 1975 44
2.3.2 Từ năm 1975 đến năm 2010 46
Chương 3: Tác động của thay đổi địa giới hành chính và dân cư đối với đời sống kinh tế, văn hoá ở huyện Tĩnh Gia từ 1945 đến năm 2010 61
3.1 Mặt tích cực 61
3.1.1 Tác động đến nền kinh tế 61
3.1.2 Tác động đến văn hoá giáo dục 70
3.1.3 Tác động đến y tế 81
3.1.4 Tác động đến an ninh - quốc phòng 89
3.2 Mặt hạn chế 89
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 6BCH TW : Ban chấp hành trung ương
UBMTTQ : Uỷ ban mặt trận Tổ quốc
UV BCH TW : Ủy viên Ban chấp hành Trung ương
Trang 7Từ trước tới nay, việc nghiên cứu về sự thay đổi địa giới hành chính,biến đổi về dân cư ở nước ta nói chung và Thanh Hóa cũng như Huyện TĩnhGia nói riêng chưa được quan tâm đúng mức Trong khi đó, việc thay đổi têngọi, địa giới giữa các trấn, lộ, đạo, phủ, huyện, làng, xã cũng như những thayđổi về dân cư ở một địa phương cụ thể nào đó lại gắn với nhiều biến đổi vềkinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng của cả cộng đồng dân
cư trong suốt thời kỳ lâu dài Do đó, chọn đề tài “Sự thay đổi địa giới hànhchính và dân cư ở huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa) từ năm 1945 đến năm 2010”
là để góp phần vào việc nghiên cứu một vấn đề còn nhiều khoảng trống tronglịch sử dân tộc nói chung và huyện Tĩnh Gia nói riêng
Từ thuở các Vua Hùng dựng nước, cùng với sự thay đổi của địa lý hànhchính, tên gọi tỉnh Thanh Hóa cũng đã nhiều lần thay đổi theo từng thời kỳlịch sử Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi thường được bắt đầu bởi những lý
do khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến lịch sử hình thành pháttriển kinh tế, văn hoá, xã hội, dân cư của một huyện, một phủ, hay một trấn vàrộng hơn là cả quốc gia
Do đó, nghiên cứu về thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở một địaphương cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định là góp phần thiết thựcvào việc nghiên cứu lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc Sau Cách mạngtháng Tám năm 1945 phủ Tĩnh Gia được đổi làm huyện Tĩnh Gia Từ đó đến
Trang 8nay, địa giới hành chính và dân cư huyện Tĩnh Gia liên tục có những biếnđộng bởi nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan Nhưng việc nghiên cứu
về những thay đổi tên gọi, địa giới hành chính cũng như về dân cư trên địabàn huyện lại chưa được quan tâm đúng mức Đề tài hy vọng sẽ giải quyếtđược yêu cầu đó trong nghiên cứu lịch sử huyện Tĩnh Gia và góp phần vàoviệc nghiên cứu thay đổi địa giới hành chính và dân cư trên phạm vi cả nước
1.2 Về mặt thực tiễn
Từ năm 1945 đến năm 2010, huyện Tĩnh Gia trải qua nhiều tên gọikhác nhau, phạm vi không gian địa lý của huyện cũng có nhiều sự thay đổitrong bối cảnh lịch sử của tỉnh nhà nói riêng và đất nước nói chung Đặc biệttrải qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc chống lại thực dân Pháp,
đế quốc Mĩ xâm lược và trong công cuộc đổi mới hiện nay Những biến động
và thay đổi dồn dập đó của lịch sử huyện nhà gắn liền với lịch sử dân tộc nóichung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng Đề tài góp phần vào việc nghiên cứu mộtcách có hệ thống toàn diện những thay đổi về địa giới hành chính, dân cư củahuyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa) nhằm góp phần lấp một khoảng trống trongnghiên cứu lịch sử địa phương lâu nay, để giúp cho người đọc có cái nhìn cậncảnh và toàn diện hơn về lịch sử địa phương
Sự thay đổi địa giới hành chính của huyện Tĩnh Gia trong thời gian quakéo theo sự thay đổi về dân cư và ảnh hưởng của nó đến những vấn đề quản
lý đất đai, phân bố lại vị trí các vùng dân cư, sự phát triển kinh tế văn hóa,giáo duc, y tế, bố trí lại cán bộ quản lý, hệ thống cơ sở hạ tầng Đề tài khôngchỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những thay đổi về địa giới hành chính, dân cư
mà phạm vi nội dung của đề tài còn được mở rộng sâu hơn nhằm tạo bứctranh toàn cảnh bước đường phát triển của huyện nhà trong những năm khóilửa chiến tranh và trong công cuộc đổi mới hiện nay với tư cách là một huyệnlớn của Thanh hóa cũng như đóng góp của Đảng bộ và nhân dân huyện TĩnhGia đối với sự phát triển của tỉnh Thanh và của đất nước
Trang 9Ngoài những nét riêng trong quá trình phát triển của huyện Tĩnh Gia từ
1945 đến năm 2010 thì huyện Tĩnh Gia còn mang những nét chung giống cáchuyện, thị ở nước ta trong quá trình hình thành và phát triển từ nửa sau thế kỷ
XX đến nay.Vì vậy nghiên cứu về những thay đổi về địa giới hành chính, dân
cư huyện Tĩnh Gia là góp phần vào việc nghiên cứu về hệ thống huyện, thị ởnước ta Đây là một vấn đề lớn đang được giới sử học đặc biệt quan tâm tronggiai đoạn hiện nay Là người con sinh ra trên vùng đất Tĩnh Gia, thông quaviệc nghiên cứu đề tài, tôi muốn giúp phần nhỏ bé của mình vào việc xâydựng, phát triển quê hương
Với những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Sự thay đổi
địa giới hành chính và dân cư ở huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa) từ năm 1945 đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ cho mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương của BCH TW Đảng
và nghị quyết của BTV Tỉnh ủy Thanh Hóa, các địa phương trong tỉnh đangtích cực viết lịch sử Đảng bộ xã, lịch sử xã, nhưng vần đề biến đổi về địa giớihành chính và dân cư của các địa phương trong đó có Tĩnh Gia vẫn chưađược quan tâm chú ý đúng mức Cho đến nay vẫn chưa có một công trìnhchuyên sâu nào nghiên cứu về đề tài: “Sự thay đổi địa giới hành chính và dân
cư của huyện Tĩnh Gia từ năm 1945 đến năm 2010” một cách đầy đủ và có hệthống Trong nhiều năm gần đây cũng đã có những công trình nghiên cứu vềhuyện Tĩnh Gia ở những góc độ khác nhau đã đề cập đến một số khía cạnhcủa vần đề này
Cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ huyện Tĩnh Gia (1930 - 2000) của Banchấp hành Đảng bộ huyện Tĩnh Gia, NXB Thanh Hóa, năm 2004 đã dành mộtphần nhỏ đề cập về lãnh thổ địa giới hành chính và dân cư của huyện Tĩnh
Trang 10Gia và sự tách, nhập, thành lập một số xã mới trong huyện trong các giaiđoạn phát triển của địa phương cũng như của dân tộc.
Cuốn sách “Tĩnh Gia quê hương, đất nước con người” Tập I và tập IIcủa huyện uỷ Tĩnh Gia cùng Hội đồng Hương Tĩnh Gia ở Hà Nội, NXB Laođộng xã hội, năm 2005 cũng đã có đề cập đến những sự thay đổi về đời sốngkinh tế xã hội của Tĩnh Gia
Một số bài viết về những chuyển biến kinh tế - xã hội Tĩnh Gia củanhững học giả và các con em địa phương trong những năm gần đây
Đặc biệt năm 2010 Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND Huyện TĩnhGia đã tiến hành biên soạn cuốn “Địa chí huyện Tĩnh Gia” cũng hết sức côngphu viết tương đối đầy đủ về địa lý, địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu, đồi núi sôngngoài, con người, truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, các tổ chức đơn vịhành chính của huyện Tĩnh Gia Trong đó có phần địa hành chính có đề cậpđến nguồn gốc làng xã và các đơn vị hành chính cấp xã từ 1945 đến nay
Ngoài ra một số các tài liệu mà tác giả liệt kê trong phần tài liệu thamkhảo cũng đề cập ít nhiều đến sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư củahuyện Tĩnh Gia, mặc dù còn mang tính chất sơ lược và đơn lẻ nhưng đó cũng
là nguồn tài liệu quan trọng để chúng tôi so sánh đối chiếu và đi sâu vào nộidung đề tài đề cập đến
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đây đã làmsáng tỏ một số vần đề của huyện nói chung và vấn đề địa giới hành chính, cưdân của huyện nói riêng Tuy nhiên, nếu xét một cách khách quan toàn diệnthì cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể,chi tiết về những thay đổi địa giới hành chính và dân cư của huyện Tĩnh Gia
từ năm 1945 đến năm 2010 Vì vậy, đề tài này tác giả mong muốn có thể tậptrung nghiên cứu một cách hệ thống những thay đổi về địa giới hành chính vàdân cư của huyện Tĩnh Gia từ năm 1945 đến năm 2010
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu những thay đổi về địa giới hành chính
và dân cư ở huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa) từ năm 1945 đến năm 2010 cũngnhư ảnh hưởng tác động của vấn đề đó với đời sống của kinh tế, văn hoá, xãhội, an ninh quốc phòng của dân cư huyện Tĩnh Gia
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về không gian: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những thay đổi về địagiới hành chính, dân cư ở huyện Tĩnh Gia từ năm 1945 - 2010
Về thời gian: chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những thay đổi về địagiới hành chính, dân cư trong thời gian từ năm 1945 đến năm 2010 trên địabàn huyện Tĩnh Gia, ngoài ra còn có những nội dung khác nhưng nằm trongphạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Chúng tôi đã tiến hành thu thập, sưu tầm, các nguồn tư liệu, các nghịquyết của Chính phủ, của tỉnh Thanh hóa, các đề án xây dựng tỉnh Thanh Hóacũng như của Ủy ban nhân dân huyện Tĩnh Gia có ở các phòng thống kê,phòng lưu trữ và cả tài liệu của Thư viện tổng hợp tỉnh Thanh hóa, thư việnĐại học Vinh, thư viện huyện Tĩnh Gia, các Bảo tàng, tài liệu từ các phòngban của huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Tĩnh Gia, huyện đội Tĩnh Gia, tàiliệu ở các xã, thôn, một số công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu lịch
sử, dân tộc học, xã hội học có liên quan đến đề tài đã được công bố
Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm một số luận văn tốt nghiệp caohọc, thạc sỹ chuyên ngành lịch sử Việt Nam đã được bảo vệ tại Đại học Vinh,Đại học sư phạm Hà Nội có nội dung liên quan đến đề tài, một số bài báo, báocáo tổng kết hàng năm của huyện, xã về tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá,
Trang 12giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng cũng được chúng tôi tham khảo để đốichiếu, so sánh.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp phục vụcho nghiên cứu chuyên nghành như: Đối chứng, so sánh, thống kê, xử lý tưliệu Từ đó có cơ sở để nhìn nhận, phân tích, đánh giá vấn đề Đồng thời sửdụng hai phương pháp truyền thống quan trọng là phương pháp lôgic, phươngpháp lịch sử để mở rộng nhiều nguồn tư liệu, sự kiện lịch sử với mục đíchkhôi phục lại bức tranh quá khứ đúng như nó đã tồn tại Sau cùng là tổng hợp,khái quát để đưa ra những đánh giá chung nhất, khách quan và chính xácnhất
5 Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, có
hệ thống và những thay đổi địa giới hành chính, dân cư của huyện Tĩnh Gia(Thanh Hóa) từ năm 1945 đến năm 2010
Luận văn đã hệ thống được những tài liệu liên quan đến đề tài để cáctác giả khác có thể tham khảo khi nghiên cứu về huyện Tĩnh Gia, lịch sửhuyện Tĩnh Gia nói riêng, lịch sử Thanh Hóa nói chung
Thông qua hệ thống nguồn tư liệu phong phú, bước đầu luận văn đánhgiá những tác động do sự thay đổi địa giới hành chính, tên gọi đến đời sốngkinh tế, văn hóa, tình hình chính trị,xã hội, giáo dục cũng như những hạnchế do tác động của sự thay đổi địa giới hành chính trên địa bàn huyện TĩnhGia trong phạm vi thời gian đề tài xác định
Luận văn trình bày nguyên nhân dẫn đến thay đổi địa giới hành chính
và dân cư ở một huyện cụ thể, từ đó rút ra một số nhận xét về những điểmchung và riêng trong quá trình thay đổi địa giới hành chính, dân cư ở TĩnhGia so với các huyện khác trong tỉnh Thanh Hóa
Trang 13Luận văn cũng góp phần cung cấp tài liệu để giảng dạy lịch sử địaphương, góp phần giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước cho thế hệ trẻ.
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn được trìnhbày trong ba chương:
Chương 1: Thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện Tĩnh Gia
từ năm 1945 đến năm 1964Chương 2: Thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện Tĩnh Gia
từ năm 1965 đến năm 2010Chương 3: Tác động của thay đổi địa giới hành chính và dân cư đối
với đời sống kinh tế, văn hoá ở huyện Tĩnh Gia từ 1945đến năm 2010
Trang 14NỘI DUNG
Chương 1 THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ
Ở HUYỆN TĨNH GIA TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1964
1.1 Vài nét về địa giới hành chính và dân cư ở huyện Tĩnh Gia trước năm 1945
1.1.1 Địa giới hành chính, tên gọi
Tĩnh Gia là huyện phía Nam của tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnhNghệ An có khe nước Lạnh (Lãnh Khê) trên đường Quốc lộ 1A thuộc xãTrường Lâm, phía Đông giáp biển, phía Bắc giáp huyện Quảng Xương, phíaTây giáp huyện Nông Cống và huyện Như Thanh (tỉnh Thanh Hóa)
Huyện Tĩnh Gia là nơi hội tụ của 3 vùng sinh thái (vùng biển, vùngđồng bằng và trung du, miền núi); nằm trong vùng (đới) chuyển tiếp giữa haivùng khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam; do đặc điểm lãnh thổ nên điềukiện tự nhiên khá khắc nhiệt, thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão và thờitiết nắng nóng kéo dài gây bất lợi cho sản xuất và đời sống của người dân
Địa hình toàn huyện có hướng nghiêng dần từ Đông Bắc xuống ĐôngNam và được chia làm 3 tiểu vùng:
Vùng đồng bằng, bao gồm các xã phía Tây và Tây Bắc, vùng có địahình khá bằng phẳng và hình thành khu vực đồng bằng với nhiều sông rạchchảy qua, thích hợp cho việc trồng cây lúa, cây lương thực thực phẩm, cũngnhư cây công nghiệp cây ăn quả, chăn nuôi gia súc gia cầm Trong khu vựcnày, có một số xã giáp với vùng bán sơn địa có khả năng phát triển cây côngnghiệp ngắn ngày như xã Triêu Dương, Ngọc Lĩnh
Vùng ven biển, bao gồm các xã phía Đông đường quốc lộ 1A như xãHải Châu, Hải An, Tân Dân, Hải Ninh, Hải Lĩnh, Hải Hoà, Hải Thanh, Hải
Trang 15Bình, Nghi Sơn Trong đó, có một số xã có lạch suối chảy qua, tạo một kiểudáng khác hẳn so với 2 vùng địa hình đồng bằng và bán sơn địa Địa hình ởđây thấp và có xu hướng nghiêng ra biển, tạo điều kiện phát triển kinh tế biển.
Vùng trung du và bán sơn địa, bao gồm các xã phía tây và tây nam củahuyện có địa hình cao, được bao trùm bởi dãy núi chạy dài tạo nên dạng địahình bán sơn địa rõ nét Vùng núi và bán sơn địa trải rộng trên địa bàn 13 xã,trong đó có 6 xã địa hình núi non hiểm trở là: Tùng Lâm, Phú Lâm, Phú Sơn,Định Hải, Tân Trường, cộng thêm với 6 xã có địa hình bán sơn địa là: HảiNhân, Nguyên Bình, Các Sơn, Anh Sơn, Hùng Sơn, Mai Lâm, Trúc Lâm
Trên địa hình núi non bán sơn địa đó, huyện Tĩnh Gia có thể sử dụngphát triển lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, khai thác tài nguyên khoáng sản,đất đá Một số núi tiêu biểu trên địa bàn huyện như là: núi Bợm thuộc địaphận 2 xã là Tân Dân và Hải An, núi Chùa Hang thuộc xã Định Hải, núi LongCương thuộc xã Nguyên Bình Ngoài ra trên địa bàn huyện có các con sông
tự nhiên và sông đào như: sông Kênh Than, sông Ghép, sông Lạch Bạng vàcác con suối nhỏ là nơi tiêu thoát, cung cấp nước phục vụ cho sản xuất và đờisống sinh hoạt
Tĩnh Gia ngoài mỏ kẽm ở Quan Sơn xã Tân Trường, còn có các nguyênliệu để sản xuất vật liệu xây dựng như: Sét trắng cát kết chịu lửa ở vùng núiBợm; đất sét làm gạch ngói ở Trường Lâm, Tân Trường Dọc bờ biển TĩnhGia có cát thuỷ tinh có trữ lượng hàng chục triệu tấn Đặc biệt đá vôi làm ximăng ở phía Nam Tĩnh Gia có trữ lượng trên 100 triệu tấn (phía địa phậnHoàng Mai, tỉnh Nghệ An trữ lượng 350 triệu tấn)
Tuy nhiên huyện Tĩnh Gia lại nằm ở vị trí tương đối thuận lợi, vớiđường bờ biển dài 41 km, địa hình ven bờ thoải với hệ thống các đảo ven bờđẹp, là điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi trồng thuỷ hải sản, pháttriển hệ thống cảng biển
Trang 16Tĩnh Gia là nơi hội tụ của nhiều loại hình giao thông, đường sắt, đường
bộ, đường biển là cơ sở để hình thành các hành lang kinh tế, các mối liên kếtvùng và liên vùng
Căn cứ vào các nguồn sử liệu thời phong kiến trong và ngoài nướccũng như các tư liệu nghiên cứu về lịch sử và khảo cổ của các nhà khoa họcngày nay, quá trình hình thành và biến đổi các đơn vị hành chính vùng đấtTĩnh Gia xưa và nay được ghi chép qua các nguồn tài liệu như sau:
Theo Di chỉ khảo cổ Núi Chè, huyện Tĩnh Gia, ngay từ thời xã xưa vàokhoảng thời kỳ Đồ đồng - văn hoá Đông Sơn ở khu vực Tĩnh Gia ngày nay đã
có sự xuất hiện của con người Còn theo các sách sử xưa ghi chép, thời cổ xưa
là thuộc vùng đất Nam Giao, đến thời nhà Chu (1115-1079TCN) thuộc vùngđất có tên là Việt Thường [38; 14]
Thời Hùng Vương gọi nước là Văn Lang (2879 TCN) theo sử sách ghichép, nước Văn Lang phía Đông đến biển, phía Tây đến đất Ba Thục, phíaBắc đến hồ Động Đình, phía Nam giáp nước Hồ Tốn (tức là nước ChiêmThành) Nước Văn Lang đóng đô ở Phong Châu chia nước ra thành 15 bộ(Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, DươngTruyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân ), trong đó huyện TĩnhGia thuộc vào bộ Cửu Chân [38; 14]
Thời An Dương Vương (257 - 207 TCN), Thục Phán ở đất Ba Thục đãthôn tính nước Văn Lang và đổi tên nước là Âu Lạc của Thục Phán AnDương Vương Năm Đinh Hợi (214 TCN) An Dương Vương thần phục NhàTần, chia Bách Việt và Âu Lạc thành 3 quận: Nam Hải, Quế Lâm và TượngQuận (Bắc- Việt), lúc này huyện Tĩnh Gia là một vùng đất nhỏ thuộc quậnTượng quận của Nhà Tần [38; 15]
Thời Nhà Triệu (207 - 111 TCN), Họ Triệu, tên huý là Đà, người huyệnChân Định thuộc nước Hán nhân lúc Nhà Tần suy yếu đã chiếm lấy vùng đất
Trang 17Lâm Ấp và nước Âu Lạc (Tượng quận), lập ra nước Nam Việt, tự xưng làNam Việt Vương, chia nước Âu Lạc thành 2 quận là Giao Chỉ và Cửu Chân,huyện Tĩnh Gia tương đương huyện Cư Phong thuộc quận Cửu Chân [38; 15].
Thời Thuộc Hán (110 TCN - 39), năm 110 TCN (thuộc thời Tây Hán)Nhà Hán lấy nước Nam Việt của Nhà Triệu, cải thành Giao Chỉ bộ, chia thành
9 quận, trong đó nước Âu Lạc vẫn được chia thành 2 quận là quận Giao Chỉ
và Cửu Chân, lập quận mới là Nhật Nam Theo sách Tiền Hán thư và ThuỷKinh chú, quận Cửu Chân gồm có 7 huyện là Tư Phố, Cư Phong, Đô Lung,
Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết, Vô Biên, huyện Tĩnh Gia thời Hán là huyện
Cư Phong thuộc quận Cửu Chân, Giao Chỉ bộ của Nhà Hán [38; 15]
Thời Tam Quốc (220 - 280) năm 222 nước ta thuộc về nhà Đông Ngô,vua Ngô là Tôn Quyền lấy cớ rằng Giao Châu xa quá, chia đất Giao Châu, từHợp Phố về phía Bắc gọi là Quảng Châu, từ Hợp Phố về phía Nam là GiaoChâu Đến cuối đời nhà Ngô, tách Cửu Chân làm 2 quận là Cửu Chân và CửuĐức: Cửu Chân gồm 7 huyện là Tư Phố, Di Phong, Trạm Ngô, Kiến Sơn,Thường Lạc, Phù Lạc và một huyện mới là Tùng Nguyên với 3.000 hộ; CửuĐức gồm 7 huyện là Cửu Đức, Hàm Hoàn, Nam Lăng, Dương Thành, PhùLinh, Khúc Tư, Đô Hào về sau Dương Thành được Nhà Tấn đổi thành DươngToại, sau đó Dương Toại lại được tách ra, lập Phố Dương và Phố An Nhưvậy theo tư liệu sử học thì huyện Tĩnh Gia ngày nay tương đương với huyệnThường Lạc thuộc quận Cửu Chân [38; 16]
Đến năm Canh Tý (280), Nhà Ngô mất nước về tay Nhà Tấn, GiaoChâu thuộc về Nhà Tấn Về mặt địa lý hành chính, Nhà Tấn chia Giao Châulàm 7 quận, 50 huyện, lúc này huyện Tĩnh Gia vẫn thuộc địa phận huyệnThường Lạc, quận Cửu Chân
Thời Nam Bắc Triều, vùng đất Giao Châu thuộc về Nam Triều gồm nhàTống, nhà Tề, nhà Lương, kế nghiệp trị vì Theo Đào Duy Anh dẫn các sách
Trang 18Tống thư, Châu quận chí: ngoài các huyện thuộc quận Cửu Chân thời Tấn,trong Tống thư có chép thêm các huyện Cao An, Quân An, Vũ Ninh, Ninh Di.Quận Cửu Chân đến thời nhà Tống có 11 huyện, các huyện Cao An, Quân An,
Vũ Ninh, Di Ninh tương đương với phần đất huyện Tĩnh Gia ngày nay [38; 16]
Thời Nhà Lương (502 - 567), Nhà Lương đã tiến hành chia Giao Châu
cũ thành nhiều Châu mới, lấy quận Cửu Chân đặt là Ái Châu Tĩnh Gia thuộcvùng đất Ái Châu [38; 16]
Thời Tuỳ - Đường (581 - 905): Nhà Tuỳ (581 - 617), đầu nhà Tuỳ đổiquận thành châu đến năm thứ 3 niên hiệu Đại Nghiệp lại đổi châu thành quận,chia Giao Châu ra thành 5 quận 32 huyện; Nhà Đường (618 - 905), theo ĐạiNam Nhất Thống Chí (quyển thứ 16, phần Thanh Hóa) dẫn theo sách Đườngthư địa lý chí gọi quận Cửu Chân thuộc Ái Châu, bao gồm 6 huyện là CửuChân, An Thuận, Sùng Bình, Quân Ninh, Nhật Nam và Trường Lâm [38; 16]
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, năm thứ 5 đời Vũ Đức đem đất AnThuận đặt ra Thuận Châu, lại chia đặt 3 huyện là Đông Hà, Kiến Xương vàBiên Hà Năm Trinh Quán lại bỏ Châu, bớt đi 3 huyện (Đông Hà, KiếnXương và Biên Hà) và cho sát nhập lại thành huyện An Thuận Như vậyhuyện Tĩnh Gia thời Đường qua rất nhiều lần biến đổi, chia tách rồi lại sátnhập lại đến cuối nhà Đường vẫn lấy theo tên cũ thời Nhà Tuỳ, Tĩnh Giatương đương huyện An Thuận thuộc quận Ái Châu [38; 17]
Thời Nhà Ngô (939 - 967), Tĩnh Gia thuộc là vùng đất thuộc huyện AnThuận, quận Ái Châu như thời Nhà Đường [38; 17]
Thời Nhà Đinh - Tiền Lê (968 - 1009), theo Đào Duy Anh dẫn từ cácnguồn sử liệu: Đinh Tiên Hoàng sau khi dẹp yên 12 xứ quân thống nhất bờcõi, chia nước làm 10 đạo, huyện Tĩnh Gia vẫn là phần đất tương đươnghuyện An Thuận Đến thời Nhà Tiền Lê (980 - 1009), sau khi Lê Hoàn thaythế Nhà Đinh, lấy tên nước là Đại cồ Việt, đổi các đạo thành lộ, phủ, châu và
Trang 19phong cho các con ra trấn ở các địa phương Tĩnh Gia thời nay vẫn giữnguyên các địa danh hành chính như thời nhà Đường [38; 17].
Thời Nhà Lý (1010 - 1225), sau khi lên ngôi vào năm 1010, Lý CôngUẩn dời đô về thành Đại La, chia nước thành 24 lộ, mỗi lộ gồm hai hoặc baphủ và nhiều châu Tuy nhiên, tên các châu phủ không thấy ghi rõ Đến nămTân Mão (1111) đổi thành phủ Thanh Hóa (tức là vùng Hoan Châu, Ái Châutrước kia) Đến năm Chiêu Hoàng (1223) lại đổi thành Thanh Hóa lộ, thuộcvào lộ đó là 3 phủ: Thanh Hóa, Cửu Chân, Ái Châu Vùng đất Tĩnh Gia lúcnày thuộc phủ Cửu Chân, lộ Thanh Hóa [38; 17]
Thời Nhà Trần - Hồ Năm Thiên Ứng Chánh Bình lần thứ 11, đời vuaTrần Thái Tông (1242) đổi 24 lộ Nhà Lý làm 12 lộ, huyện Tĩnh Gia thuộcThanh Hóa Năm Quang Thái thứ 10 (1397) lại đổi thành Thanh Đô trấn,Thanh Đô trấn gồm 7 huyện, 3 Châu (mỗi Châu 4 huyện), Tĩnh Gia tươngđương với huyện Cổ Chiến thuộc châu Cửu Chân [38; 18]
Đến năm 1403 đời nhà Hồ, Hồ Hán Thương đổi Thanh Đô trấn thànhphủ Thiên Xương, gồm cả Cửu Chân, Ái Châu gọi là Kinh Kỳ tam phụ Nhưvậy đến thời nhà Hồ, Tĩnh Gia vẫn giữ tên gọi là Cổ Chiến thuộc vào châuCửu Chân [38; 18]
Thời thuộc Minh: sau khi nhà Minh diệt nhà Hồ, đặt đổi nước ta làmquận Giao Chỉ, về mặt địa lý hành chính nhà Minh cơ bản vẫn giữ nguyêntheo hệ thống hành chính thời nhà Hồ
Năm 1407, đặt các châu huyện lệ thuộc vào 15 phủ và châu lớn trựcthuộc quận Giao Chỉ, đổi trấn Thanh Đô thành phủ Thanh Hóa, huyện CổChiến thuộc châu Cửu Chân đổi thành huyện Cổ Bình Như vậy thời thuộcMinh, huyện Tĩnh Gia ngày nay tương đương với huyện Cổ Bình thuộc châuCửu Chân, phủ Thanh Hóa Đến năm thứ 8 thời thuộc Minh, nhà Minh đãthực hiện nhiều thay đổi về mặt địa lý hành chính bằng việc sáp nhập các
Trang 20huyện vào các bản châu, lúc này Tĩnh Gia là một phần đất thuộc bản châumới sáp nhập gồm các huyện (Cổ Bình, Tế Giang, Chi Nga, Hà Trung, ThốngNinh, Duyên Giáp, Kết Thuế) [38; 18].
Thời Lê, chia đất nước thành 5 đạo, chia các lộ phủ châu huyện vào cácđạo, huyện Tĩnh Gia thuộc Tây Đạo Năm Thiệu Bình thứ 2 (1435), thuộc phủTĩnh Gia Năm 1466 (năm Quang Thuận thứ 7), chia cả nước thành 12 đạothừa tuyên, đổi lộ làm phủ, đổi trấn làm châu Huyện Tĩnh Gia thuộc phủ TĩnhGia Phủ Tĩnh Gia lĩnh 3 huyện là Ngọc Sơn, Nông Cống, Quảng Xương,huyện Tĩnh Gia ngày nay tương đương với huyện Ngọc Sơn Đến thời LêQuang Thuận thuộc về phủ Tĩnh Ninh, đến thời Lê Trang thuộc về phủ TĩnhGiang Đến thời Lê, những cuộc khẩn hoang của tư nhân và khai phá miền đấtbồi ven biển cũng được tiến hành và được Nhà nước khuyến khích Năm
1486, Vua Lê Thánh Tông “lệnh cho các phủ, huyện, xã nơi nào có ruộng bỏhoang ở bờ biển mà người ít ruộng tình nguyện bồi đắp để khai khẩn nộpthuế, thì phủ, huyện xét thực cấp bằng cho làm” Ngay trên đất Tĩnh Gia cómột số công trình do nhân dân tự làm Đó là đê Hoàng các ở xã Mai Lâmngày nay [38; 18]
Trên vùng đất Tĩnh Gia nhiều làng xã được thành lập trong thế kỷ XVnày Theo truyền thuyết và gia phả của các dòng họ hiện có thì các làng xãnày phần lớn lập nên do quá trình khẩn hoang vùng ven sông nhất là các sôngmới được khơi đào lại, là đất phong cấp và dân cư ở nhiều vùng trong tỉnh
và các tỉnh lân cận đến lập nghiệp Đó là: Làng Hiếu Hiền xã Hải Châu, làngnày vốn là đất phong cấp của một vị quan khai khẩn lập nên làng; thôn LiênVinh xã Tĩnh Hải, là vùng đất giáp biển phía Tây Nam giáp rừng Trước thế
kỷ XV chưa có, sau này vào cuối thế kỷ XV mới có các dòng họ Lê Đình từlàng Cổ Trinh (Nam Hà); họ Lê Văn ở Hải Dương; họ Nguyễn, họ Lê Hữu ởNghệ An đến khai phá lập làng; làng Tiên Vực xã Hải An, khoảng cuối thế kỷ
XV do gia đình họ Lê và họ Hoàng theo kênh đào đến cư trú [38; 19]
Trang 21Thời Nhà Nguyễn (1802- 1858), sau khi chiến thắng nhà Tây Sơn, nhàNguyễn đặt tên nước là Việt Nam, lấy Phú Xuân làm Kinh Đô Đến năm đầuđời Gia Long triều Nguyễn (1802), đổi thừa tuyên Thanh Hóa làm Thanh Hóatrấn lĩnh 4 phủ, 16 huyện, 3 châu Tĩnh Gia ngày nay tương đương huyệnNgọc Sơn, thuộc phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa trấn Theo Đại Nam Nhất Thốngchí thì huyện Ngọc Sơn từ đông sang tây rộng 60 dặm, nam sang bắc rộng 70dặm, phía Đông giáp biển, phía Tây giáp huyện Nông Cống thuộc phủ ThiệuHoá, phía Nam giáp huyện Quỳnh Lưu thuộc tỉnh Nghệ An, phía Bắc giáphuỵên Quảng Xương Vào năm 1831- 1832 tức năm Minh Mệnh thứ 12, đãthực hiện cuộc cải cách hành chính lớn, đổ trấn thành tỉnh, chia đất nướcthành 31 đơn vị hành chính các tỉnh thuộc triều đình trung ương Huyện TĩnhGia bấy giờ thuộc phủ Tĩnh Gia, bao gồm 3 huyện (huyện Ngọc Sơn, NôngCống, Quảng Xương), phần lớn diện tích huyện Tĩnh Gia tương đương vớiđịa phận huyện Ngọc Sơn Vào năm Minh Mệnh, tiến hành chia tổng VănTrinh và Văn Trường thuộc huyện Ngọc Sơn ra thành 4 tổng, lúc này huyệnNgọc Sơn gồm 5 tổng, 183 xã, thôn [38; 19].
Như vậy, cho tới những năm đầu thế kỷ XIX huyện Ngọc Sơn (TĩnhGia) gồm có 4 tổng, 220 xã, thôn, trong đó:
Tổng Văn Trinh có 13 xã, 51 thôn gồm Xã Văn Trinh: Thôn Đông,Đoài, Quần Ngọc, Yến, Bắc, Cửa Ngoài, Miếu, Lưu, Đa Cảm, Kỳ Vĩ, CảmGiang, Nguyễn Xá Tây, Ngoại, Trào; Xã Can Trúc: Thôn Đông Đường,Xuân, An Lãng, Bái Lục, Tĩnh, Tự, Bái Đông; Xã Thiên Linh: Thôn Đông
An, Đoài, Đông, Mỹ Cảnh, Cổ Duệ, Viên Đông, Thọ Vực, Viện Đoài; XãThiều Nguyên: Thôn Lộc Long, Quang Tiền, Bái Đông; Xã Hoà Trường:Thôn Để, Đông Triều, Nữu, Thượng; Xã Tông Lương: Thôn Lộc Trường,Phúc Chiêm, Quang Chiêm, Phúc Chiêm Thượng; Xã Uy Nỗ: Thôn Hội,Thượng Cao, Xá, Trung; Xã Văn Khê: Thôn Bái Môn, Linh Lộ; Xã Ngọc
Trang 22Đới: Thôn Kim Quất, Ngọc Đới; Xã Ngọc Bôi: Thôn Ngọc Bôi, Ngọc Nhĩ;
Xã Văn Triền; Xã Văn Nham; Xã Bình Nựu [38; 19]
Tổng Văn Trường có 17 xã, 70 thôn gồm Xã Văn Trường: Thôn AnLăng, Lai, Noa, Nhân Hậu, Trung Liệt; Xã An Tôn: Thôn An Tôn, Kiểu,Đông, Nhân Lễ Thượng, Hậu, Ngọ, Kiến Phúc, Song, Quần Điềm, PhúNhuận, Trang Đồng Nặc, Trúc, Cổ Trinh, Cầu Ngỏ, Các, Nhân Lễ Thái, Vân,Đạo; Xã Thạch Nội: Thôn Đường Lại, Nga Thượng, Tự Long, Hoa Lâm, CựPhú, Phú Triều, Cát, Lễ, Hoa Tượng, Tuấn Mao, Phú Long; Xã Tào Sơn:Thôn Tào, Để; Xã Bồng Dậu: Thôn Bài, Bồng; Xã Phương Ao; Xã An Cư:Thôn An Phú, Đồng Hương, Đa Lộc, Trung Áng; Xã An Mỹ: Thôn Sơn Nãi,Hào Vịnh, Kỳ Lộng; Xã Thạch Ngoại: Thôn Trường Phúc; Xã Quỳnh Côi:Thôn Độ, Bất Nộ, Phú Viên, Minh Côi; Xã Can Trúc Nội: Thôn Long Vực,Phú Đa Hậu, Phú Đa Tiền; Xã Văn Phái Nộ: Thôn Thọ Trường, QuỳnhThượng, Trúc Cảnh, Nhân Mỹ; Xã Văn Phương: Thôn Phú Đa, Thọ Nga, CựPhú, Phú Nguyên; Xã Hương La: Thôn Đoài, Thôn Đông; Xã Hoành Phố; XãNguyễn Sơn: Thôn Trang Chân, Cố La; Xã Phượng Trì: Thôn Thượng Phúc,Xuyết Tân, Các Hạc [38; 20]
Tổng Liên Trì có 14 xã, 67 thôn gồm xã Liên Trì: Thôn Vĩnh Đông,Phong Thái Đoài, Xuân Viện Đông, Xuân Viện Trung, Nguyệt Chử, Ngòi,Phúc Mỹ, Xuân Áng, Trường Thọ, Hoàng Xá, Tĩnh Đoài, Ô Cách; Xã BàoMôn: Thôn Mai, Hào, Yêm, Hậu Đại, Thượng Trung, Hậu Thạch, Đông; XãPhù Sa: Thôn Phao, Y, Nhân Trai, Quan Nội, Công Phú; Xã Hải Châu: ThônNăng Cải, Hiếu Hiền, Tiêu Lý, Đa Hộ, Nhân Hưng, Trường Mỹ; Xã VânLiễn: Thôn Thượng, Trung, Nạp Bàng, Thổ Sơn; Xã Liên Xá Quật: ThônThượng Trai, Phú Xá, Tào Trung, Nhân Trai, Thọ Quan, Nhân Vũ; Xã DuXuyên; Xã Thạch Than; Xã Lê Xá; Xã Vân Trai: Thôn Đồng Phú, Ngao, PhúVinh, Giáp Nỗ, Bồng Doanh; Xã Điêu Bàn: Thôn Dũ Hiền, Phú Thọ; Xã SenHồ: Thôn Đông Lý, Hào, Hậu [38; 20]
Trang 23Tổng Duyên La có 13 xã, 31 thôn, phường gồm xã Duyên La: ThônMậu Xuân, Phong Bá; Xã Đồng Nội: Thôn Trung Dịch, Cao Lư, Ngọc Lâm,Văn Lâm, Vinh Hoa, Kim Cốc; Xã Phấn Tỉnh: Thôn An Lạc, Đội Tỉnh: Xã
Du Lịch; Xã Như Áng; Xã Lập Hoà: Thôn Bộ Đầu, Hà Niệm, Trung,Thượng; Xã Mỹ Ngự: Thôn Ngao Điện, Sa, Đồi; Xã Duyên La Thái: Thôn
Dự Quần, Hữu Lộc, Văn Thuỷ, Đội Trà; Xã Đồng Loan: Thôn Thạch Luyện,Chỉ Trung; Phường tứ chiếng Biện Sơn; Phường tứ chiếng Phù Cừ; Xã KhánhMiên; Xã Đông Hoà: Thôn Thượng [38; 21]
Thời Pháp thuộc (1885 - 1945), lãnh thổ Việt Nam chia thành 3 khuvực riêng biệt: Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Trung Kỳ Nghị định ngày 20/ 12/1899của toàn quyền Đông Dương quy định kể từ ngày 1/1/1900, tất cả các đơn
vị hành chính cấp tỉnh ở Đông Dương đều thống nhất gọi là tỉnh, tỉnh trựctiếp cai trị tổng và xã Từ sau năm 1900, thực dân Pháp mới thiết lập mộtcấp trung gian giữa tỉnh và tổng gọi là địa lý hành chính hay đồn hoặc bốthành chính
Ở Trung Kỳ theo hiệp ước giữa triều đình nhà Nguyễn với Pháp ngày6/6/1884 thì Trung Kỳ bao gồm 12 tỉnh Theo số liệu thống kê diện tích dân
số các tỉnh miền Trung năm 1936, thì phủ Tĩnh Gia địa bàn rộng lớn bao gồm
5 tổng, 108 xã Đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945, huyện Tĩnh Giagồm 5 tổng, 206 làng, thôn Năm tổng thuộc huyện Tĩnh Gia là Văn Trường,Yên Thai, Sen Trì, Vân Trai, Tuần La [38; 21]
1.1.2 Dân cư
Huyện Tĩnh Gia có lịch sử lâu đời, thời thuộc Hán là phần đất phía Đôngnam huyện Cư Phong Thời Tam Quốc là miền đất tương đương huyện ThườngLạc Thời Tuỳ - Đường là miền đất tương đương với huyện An Thuận ThờiĐinh, Lê, Lý, giữ nguyên như thời Tuỳ - Đường Thời Trần - Hồ, huyện TĩnhGia bao gồm huyện Cổ chiến và phía Bắc huyện Tĩnh Gia ngày nay, sau đó
Trang 24thuộc huyện Kết Duyệt (hay Kết Thuế - gộp với Quảng Xương ngày nay) Thờithuộc Minh đổi tên thành huyện Cổ Bình Thời Lê Quang Thuận đổi tên làhuyện Ngọc Sơn thuộc phủ Tĩnh Gia (còn gọi là phủ Tĩnh Ninh) Phủ Tĩnh Giabao gồm cả Ngọc Sơn, Nông Cống và Quảng Xương.
Ở vào vị trí phía Nam của tỉnh Thanh Hóa, có rừng có biển từ tronghoàn cảnh tự nhiên ấy để tồn tại và phát triển, nhân dân Tĩnh Gia với truyềnthống lao động cần cù, sáng tạo, giàu lòng yêu nước thương nòi đã hun đúcnên những giá trị truyền thống quý báu Cũng như bao miền quê khác của quêhương Thanh Hóa, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Tĩnh Gia đã phát triển ổnđịnh và trở thành một trong những điểm tụ cư quan trọng của người Việt cổ ởcực nam Thanh Hóa
Sau khi nhà Lê chiếm lại Thăng Long, nắm quyền cai quản đất nước thìkhông lâu lại xảy ra cuộc nội chiến giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài màthường gọi là cuộc chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh Tĩnh Gia cũng bị cuốnvào cuộc xung đột đó Nhiều người Tĩnh Gia đã theo các chúa Nguyễn vàoNam sinh cơ lập nghiệp và giúp chúa Nguyễn làm nên sự nghiệp ở ĐàngTrong Tiêu biểu nhất là Đào Duy Từ và Nguyễn Hữu Tiến
Trong bối cảnh đó, cuộc sống của nhân dân huyện Tĩnh Gia vốn đãnghèo khổ, túng đói trong giai đoạn chiến tranh Nam - Bắc triều, thì nay lạiphải chịu đựng thêm gánh nặng của cuộc tranh giành quyền lực của Trịnh-Nguyễn Các làng xã nông thôn Tĩnh Gia chịu chung cảnh tiêu điều, nông dân
bỏ làng, đồng ruộng, tha hương nơi đất khách quê người Tuy vậy, vùng đấtnày vẫn là nơi hội tụ của các dòng họ nổi tiếng đến định cư và đã có các làngmới ra đời như:
Xã Trúc Lâm có dòng họ Hoàng Bá, theo gia phả để lại dòng họ nàyđến vùng đất Trúc Lâm ngay từ năm 1773, nguồn gốc xuất xứ dòng họ này domột số hộ dân từ Hải Phòng - Hải Dương di cư đến làm ăn sinh sống
Trang 25Xã Hải Ninh có dòng họ Lê Đình từ Hải Dương, sinh sống tại Hải Ninh
từ thế kỷ XVI, đây là dòng họ có nhiều người làm quan và đỗ đạt cao như:Tiến quân công Lê Văn Hiếu, tiến quân bộ tả thị lang Lê Đình Giám
Xã Hải An có dòng họ Lê Văn từ huyện Hoằng Hoá đến sinh cư lậpnghiệp từ thế kỷ XVI có 5 chi dòng họ Lê Văn có nhiều người đỗ đạt làmquan như Phấn lực tướng quân Lê Tĩnh Án
Xã Thanh Thuỷ có dòng họ Lương Chí được hình thành từ thời ông chavào xây dựng ấp Tào Sơn, con cháu dòng họ học tập thi cử đỗ đạt làm quantrong triều đình nhà Lê và dòng họ Phạm Viết, ông tổ từ Hải Dương vàoThanh Hóa cư trú đất làng Tuế (Nhật Tân hiện nay)
Xã Bình Minh có dòng họ Phạm Văn từ Nghệ An đến sinh cơ lậpnghiệp từ thế kỷ XVIII, là dòng họ có nhiều con cháu học hành đỗ đạt vàdòng họ Lại Liễu từ Nga Sơn Thanh Hóa vào sinh cơ lập nghiệp cách đây 300năm, họ Vũ Trọng
Xã Tân Dân do dòng họ Hoàng Năng từ Nghệ An ra lập từ thế kỷ XVIII
Xã Anh Sơn, thôn Yên Tôn lập năm 1639 Năm 1740 ông Bùi KimChiểu có công được vua Lê ban sắc phong
Trong thời kỳ này tại vùng đất Tĩnh Gia, có gia đình họ Trương, là mộtdòng họ có tên tuổi trong vùng
Tuy không nổi tiếng về việc học như một số huyện khác trong tỉnhThanh Hóa nhưng vào thời Nguyễn số người học hành đỗ đạt của Tĩnh Gia
đã hơn các thời kỳ trước Từ năm Đinh Mão, Gia Long thứ 6 (1807) đếnnăm Mậu Ngọ, Khải Định thứ 3 (1918), nhà Nguyễn đã tổ chức 47 kỳ thiHương lấy đỗ 5.208 người Toàn tỉnh Thanh Hóa có 430 người đỗ cử nhân,trong đó các huyện vùng đồng bằng sông Mã số người đỗ từng kỳ là: HoằngHoá 121 người; Đông Sơn 47 người; Vĩnh Lộc 46 người; Hậu Lộc 37 người;Tĩnh Gia 26 người Đặc biệt, thời kỳ này Tĩnh Gia có người đỗ Đại khoa là
Trang 26ông Lê Khắc Doãn (làng Liên Trì nay là Ngọc Lĩnh) đỗ Tiến sỹ khoa ĐinhMùi (1869) đời vua Thái Thành Ngoài ra ở giai đoạn trước ngoài Ngô ChânLưu, Đào Duy Từ còn có nhiều người đỗ đạt như: Đỗ Tương (xã Phẫu Tĩnhnay là Hải An) đỗ tiến sỹ khoa Ất Mùi (1475) đời vua Lê Thánh Tông;Nguyễn Lệnh Dự (xã Văn Lâm nay là Trường Lâm) đỗ Đệ Nhị Giáp khoaGiáp Dần (1554) đời vua Lê Trung Tông; Nguyễn Mỹ Tài (xã Văn Lâm nay
là Trường Lâm) đỗ tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) đời vua Lê Huyền Tông.Thế kỷ XVI, XVII, đất và người Ngọc Sơn - Tĩnh Gia đã sản sinh ra mộtnhân vật kiệt xuất, đó là Đào Duy Từ (1572 - 1634) quê ở làng Hoa Trai (xãNguyên Bình ngày nay), với trí lớn, tài cao Đào Duy Từ đã được chúaNguyễn Phúc Nguyên trọng dụng [37; 24]
Dưới thời thuộc Pháp tình trang dân cư huyện Tĩnh Gia đã có nhiềuthay đổi Trên vùng đất Tĩnh Gia dân cư lúc này ngày càng đông đúc Vàonhững năm 1926 - 1930 dân số Tĩnh Gia khoảng 58.700 người Tuy nhiênviệc ruộng đất ngày càng tập trung vào tay bọn địa chủ mà chủ yếu là bọnchức dịch, kỳ hào tay sai của chính quyền thực dân, sự chiếm hữu ruộng đấtlớn của địa chủ đã đẩy phần lớn nông dân địa phương vào tình trạng không cótấc đất cắm dùi, quanh năm phải đi làm thuê kiếm sống Không những vậy,người dân nơi đây luôn phải đối mặt với thiên tai, lũ lụt, hạn hán, chỉ riêngnăm 1926 thiên tai đã làm hàng trăm người chết đói, hàng ngàn người phải đi
ăn xin Những ngư dân, cuộc sống cũng cùng cực không kém
Đi đôi với những chính sách thủ đoạn khai thác, bóc lột nặng nề vềkinh tế, thực dân Pháp còn tăng cường thực hiện chính sách văn hoá, giáo dụcthực dân nhằm ru ngủ ý thức dân tộc của nhân dân ta, chúng ra sức khuyếnkhích nhân dân ta dùng thuốc phiện và rượu cồn
Trong khi đó, nền giáo dục và y tế ở Thanh Hóa còn hết sức lạc hậu.Cho đến năm 1927, toàn tỉnh Thanh Hóa có 1 trường trung học và 10 trường
Trang 27tiểu học Phủ Tĩnh Gia mãi đến năm 1940 mới có 1 trường tiểu học gồm 6lớp, các trường học thời kỳ này chủ yếu dành cho con em các gia đình giàu có
và công chức phục vụ trong bộ máy chính quyền thực dân Cả tỉnh Thanh Hóamới có 1 bệnh viện đã khoa đóng tại thành phố, gọi là nhà thương tỉnh và 6bệnh xá tại các huyện Thọ Xuân, Hoằng Hoá, Thiệu Hoá, Yên Định, NgaSơn, Bái Thượng Phủ Tĩnh Gia không có một bệnh xá nào chỉ có một trạm y
tế nhỏ ở Ba Làng [2; 32]
Đến đầu thế kỷ XX, các huyện Nông Cống và Quảng Xương trực thuộccấp tỉnh, tên huyện Ngọc Sơn không còn mà gọi là phủ Tĩnh Gia trực thuộctỉnh Thanh Hóa Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đổi phủ Tĩnh Giathành huyện Tĩnh Gia với 34 xã và 1 thị trấn Dân cư sinh sống ở huyện TĩnhGia hiện tại mới có hơn hai trăm ngàn người phân bố chủ yếu ở ba vùng địahình: đông nhất là tập trung ở dải đồng bằng theo trục quốc lộ và dải đồngbằng ven biển, còn thưa thớt hơn ở vùng bán sơn địa và vùng núi
Tĩnh Gia là huyện phía Nam của tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnhNghệ An, phía Đông giáp biển, phía Bắc giáp huyện Quảng Xương, phía Tâygiáp huyện Nông Cống và Như Thanh Tĩnh Gia nói riêng và tỉnh Thanh Hóanói chung là mảnh đất có điều kiện tự nhiên khá khắc nhiệt, cho nên đời sốngcủa đa phần nông dân sống dựa vào nông nghiệp rất khó khăn Có lẽ, cũngchính vì thế mà con người nơi đây đã hình thành những đức tính mà nhân dâncác vùng khác không có được, đó chính là sự hiếu học, cần cù chăm chỉ và ýchí vươn lên của con người Tĩnh Gia Đó là đặc điểm nổi bật, cũng là điềukiện thuận lợi của nguồn nhân lực Tĩnh Gia trong thời kỳ hội nhập và pháttriển kinh tế như ngày nay
Nếu như về kinh tế, Tĩnh Gia là một huyện có khả năng phát triển đangành do sự tồn tại cả 3 miền địa hình thì về mặt dân cư dân tộc, đây cũng làmột địa phương có mầu sắc khá phong phú
Trang 28Trên địa bàn huyện không chỉ có dân tộc Kinh mà còn có một bộ phậndân cư dân tộc ít người Toàn huyện có khoảng 150 hộ dân tộc ít người sinhsống chủ yếu ở 2 xã miền núi là Phú Sơn, Tân Trường, bao gồm chủ yếu làdân tộc Thái, Mường (dân tộc Thái chiếm trên 50%) Đặc trưng cơ bản của bộphận dân cư này là sống ở vùng núi cao, thuộc đại bộ phận các bản nghèonhất huyện, có đời sống vật chất và tinh thần thấp kém và điều kiện sinh sốngrất khó khăn.
Một sắc thái riêng về mặt dân cư tập quán dân tộc nữa là trên địa bànhuyện có khoảng 16.000 dân (3.100 hộ dân) theo đạo Thiên Chúa Họ sinhsống rất lâu đời và chủ yếu ở khu vực một số xã ven biển, chủ yếu là ở xãHải Thanh
Quá trình hình thành và phát triển tôn giáo ở Tĩnh Gia gắn với quá trìnhhình thành và phát triển của các tôn giáo ở nước ta Tuy nhiên, sự hình thành
và phát triển của các tôn giáo ở Tĩnh Gia lại có những đặc điểm riêng Hiệnnay ở Tĩnh Gia, có 2 tôn giáo: Phật giáo và Công giáo Hiện nay ở Tĩnh Giavẫn còn nhiều ngôi chùa cổ, được xây dựng trong nhiều thế kỷ trước, trong đóphải kể đến các ngôi chùa nổi tiếng như chùa Phúc Long ở xã Hải Ninh đượcxây dựng vào thời Lý, hiện nay chùa vẫn còn lưu giữ được lối kiến trúc, hoavăn tinh tế, độc đáo của thời Lý Chùa Đót Tiên là ngôi chùa nằm trong cụm
di tích Quang Trung - Lạch Bạng ở thôn Thanh Nam, xã Hải Thanh, chùađược dựng sườn núi Du Xuyên với kiến trúc hình chữ “Đinh” Ngoài ra, cònphải kể đến các chùa khác như chùa Mẹ Sĩ, chùa Đột ở xã Thanh Sơn Đây lànhững nơi sinh hoạt Phật giáo của nhân dân trong vùng Ở Tĩnh Gia, khuynhhướng “Phật tại tâm”, “Tu tại gia” khá phổ biến trong tâm thức của người dânnơi đây
Tín ngưỡng với tư cách như một hình thức thể hiện niềm tin vào cáithiêng liêng của con người của một cộng đồng nào đó ở một trình độ phát
Trang 29triển xã hội cụ thể Ở Tĩnh Gia, hoạt động tín ngưỡng khá phong phú gắn vớiđời sống văn hoá tinh thần của họ Cũng như nhiều vùng quê khác, ở Tĩnh Giacác loại hình tín ngưỡng chủ yếu là: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, ở nước tanói chung và huyện Tĩnh Gia nói riêng, thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡngđược phổ biến và có ảnh hưởng khá sâu đậm đến tâm hồn mỗi người dântrong vùng, có ở hầu khắp các địa phương của huyện, có cả ở vùng dân tộc ítngười sinh sống ở phía Tây của huyện; Tín ngưỡng phồn thực, cũng nhưnhiều địa phương khác ở nước ta, tín ngưỡng phồn thực của người dân TĩnhGia gắn liền với quan niệm vũ luận của con người chính là sự hài hoà âmdương; Tín ngưỡng thờ thần mẫu; tín ngưỡng thờ thành hoàng; tín ngưỡngthờ nhiên thần; tín ngưỡng thờ thần tài
1.2 Thay đổi địa giới hành chính ở huyện Tĩnh Gia từ năm 1945 đến năm 1964
1.2.1 Từ năm 1945 - 1954
Năm 1945, cách mạng Tháng Tám nổ ra và giành được thắng lợi Vớithành công của cách mạng tháng Tám, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà-nhà nước độc lập và dân chủ của nhân dân ta ra đời Từ sau cách mạng thángTám đến năm 1954, cùng với những thay đổi về địa giới hành chính cũng rấtphức tạp Số lượng các đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương và trựcthuộc các địa phương không ổn định Việc điều chỉnh địa giới hành chính từ
xã đến huyện, tỉnh diễn ra liên tục Tên riêng của đơn vị hành chính cũng thayđổi nhiều lần Và cũng như các vùng đất khác, huyện Tĩnh Gia đã nhiều lầnthay đổi địa giới hành chính cho phù hợp với tình hình mới
Sau cách mạng, chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà vẫntạm thời duy trì cấp kỳ, sau đổi thành bộ: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ Cáctỉnh vẫn giữ như trước “Về tên riêng, các đơn vị hành chính, trước và saucách mạng tháng Tám nhiều địa phương đã lấy tên danh nhân hoặc tên chiến
Trang 30sỹ cách mạng để thay thế tên cũ Tình hình này đã gây ra nhiều khó khăn vềmặt hành chính và liên lạc Vì vậy, ngày 9/10/1945, Hội đồng chính phủ đãquy định: các kỳ, các thành phố, các tỉnh và các phủ, huyện trong nước ViệtNam vẫn giữ tên như cũ” [38; 22].
Như vậy, sau cách mạng tháng Tám năm 1945, phủ Tĩnh Gia được đổilàm huyện Tĩnh Gia
Từ sau tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, Tĩnh Gia đã thực hiện việc sápnhập cũng như chia tách các làng, xóm, thôn sống gần nhau thành các đơn vịhành chính mới để tiện cho việc quản lý
Từ năm 1947 đến năm 1950, các đơn vị hành chính trong toàn huyệnđược sắp xếp lại cho phù hợp với tình hình đất nước có chiến tranh Các xãđược thành lập trước đó lại nhập hoặc tách ra những đơn vị hành chính lớnhơn hoặc nhỏ hơn cũng gọi là xã Chẳng hạn như năm 1947 xã Hải Châuđược thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 xã Tây Hồ, Thành Công và Sào Nam; từnăm 1947 đến năm 1953, xã Tĩnh Hải sáp nhập với xã Trấn Hải thành xã HảiBình; năm 1948 sáp nhập 3 xã Tân Dân, Ngọc Lĩnh, Triệu Dương thành xãTriều Dương; năm 1947 thành lập xã lớn Các Sơn gồm các xã Các Sơn, HùngSơn, Anh Sơn
Như vậy là để phục vụ kháng chiến, chống âm mưu phá hoại hậuphương của địch nhất là từ 1951- 1953, cũng như động viên sức người sứccủa cho kháng chiến và phù hợp với trình độ quản lý của cán bộ lúc bấy giờ.Huyện Tĩnh Gia đã có những thay đổi kịp thời để phù hợp với tình hình đấtnước đang có chiến tranh
1.2.2 Từ năm 1954 - 1964
Trải qua 9 năm kháng chiến lâu dài, vào ngày 21/7/1954, Hiệp địnhGiơnevơ được ký kết, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, cuộc khángchiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) kết thúc với thắng lợi hoàn toàn
Trang 31thuộc về nhân dân ta Sau ngày giải phóng, miền Bắc bước vào thời kỳ mới:thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước và đấu tranh thống nhất nước nhà Và từ năm 1954, cùng với nhữngbiến động của đất nước, địa giới hành chính huyện Tĩnh Gia đã có những thayđổi nhất định.
Trong những năm 1954 - 1956, với công cuộc cải cách ruộng đất, xoá
bỏ bóc lột với khẩu hiệu ruộng đất cho dân cày cho nên đã có sự điều chỉnhđịa giới hành chính qua đó các xã nhỏ đã ra đời
Trong hoàn cảnh lịch sử mới, để dễ dàng quản lý điều hành, chính phủ
ta chủ trương tách những xã lớn trước đây thành nhiều xã nhỏ Theo quyếtđịnh của chính phủ, năm 1954 xã Tùng Lâm tách thành 4 xã: Mai Lâm, TùngLâm, Trúc Lâm, Trường Lâm; xã Thanh Thuỷ được chia làm 2 xã là ThanhSơn và Thanh Thuỷ; tháng 5/1954 chia xã Trấn Hải thành 2 xã Hải Bình vàTĩnh Hải; năm 1956 xã Các Sơn tách ra thành 3 xã là Các Sơn, Hùng Sơn,Anh Sơn
Tuy nhiên trong giai đoạn từ năm 1957 đến năm 1960, do những sailầm trong cải cách ruộng đất những năm trước nên huyện đã tiến hành sửa sai,vận động nhân dân vào làm ăn tập thể, xây dựng các hợp tác xã Do đó địagiới hành chính cũng đã có sự thay đổi đó là việc chia tách các xã, chẳng hạnnhư năm 1957 xã Hải Ninh đã được thành lập trên cơ sở tách từ xã Hải Châu.Đặc biệt, từ cuối năm 1964, bản đồ huyện Tĩnh Gia có nhiều biến động khichính phủ điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thọ Xuân, Nông Cống, TĩnhGia Qua đó, theo quyết định số 177-CP ngày 16/12/1964 của Hội đồng chínhphủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thọ Xuân, Nông Cống,Tĩnh Gia thuộc tỉnh Thanh Hóa: thành lập một huyện mới lấy tên là huyệnTriệu Sơn, gồm 33 xã, trong đó có 13 xã của huyện Thọ Xuân và 20 xã củahuyện Nông Cống Sáp nhập vào huyện Nông Cống 7 xã của huyện Tĩnh Gia
Trang 32là: Trường Minh, Trường Trung, Trường Giang, Trường Sơn, Tượng Văn,Tượng Lĩnh, Tượng Sơn Cùng với sự điều chỉnh ở cấp xã, các làng xóm cũng
có những thay đổi
1.3 Thay đổi về dân cư ở huyện Tĩnh Gia từ năm 1945 đến năm 1964
1.3.1 Từ năm 1945 - 1954
Theo số liệu thống kê của Pháp để lại đến cuối năm 1944 đầu năm
1945, dân số tỉnh Thanh Hóa là 1.241.000 người Trong đó dân số huyện Tĩnh
Gia có khoảng 79.500 người.
Nạn đói khủng khiếp cuối năm 1944 đầu năm 1945 đã cướp đi hàngngàn người dân, nhiều hộ gia đình ở Tĩnh Gia chết không còn một người.Không ít hộ gia đình buộc phải bỏ làng xã đi phiêu tán khắp nơi Cuối năm
1946, thực hiện lệnh tiêu thổ kháng chiến, cư dân thị trấn Tĩnh Gia đã triệtphá nhà cửa, đào hào hố giao thông, nhiều hộ gia đình rời bỏ thị trấn về cácvùng quê sinh sống, tình trạng dân cư có nhiều thay đổi
Thanh Hóa là hậu phương của cuộc kháng chiến Trong suốt một thờigian dài, dân cư ở dọc vùng biển Thanh Hóa nói chung, Huyện Tĩnh Gia nóiriêng đã có những thay đổi cho phù hợp với tình hình kháng chiến Trong giaiđoạn này, mặc dù đã có những cố gắng, song tình trạng các hộ gia đình sinh
từ 5 - 7 người con hoặc 9 - 10 người con trên địa bàn huyện Tĩnh Gia là kháphổ biến
Theo thống kê của Uỷ ban nhân dân huyện Tĩnh Gia, trong kháng chiếnchống Pháp 1945 - 1954, toàn huyện đã huy động 2.500 thanh niên nhập ngũ,trong đó có khoảng 1.320 liệt sĩ Toàn huyện huy động 3.000 dân công phục
vụ các chiến dịch như chiến dịch Thượng Lào, chiến dịch Trung Lào, chiếndịch Điện Biên Phủ, không ít người trong số họ sau khi hoàn thành nhiệm vụ
đã ở lại nhiều vùng quê khác nhau để sinh sống
Trang 33Cuối năm 1953 đầu 1954, thực hiện công cuộc giảm tô, cải cáchruộng đất thí điểm, không ít hộ gia đình ở Tĩnh Gia buộc phải bỏ quêhương đi nơi khác, nguyên nhân là gia đình họ bị quy vào thành phần điạchủ, phú nông lớp trên.
1.3.2 Từ năm 1954 - 1964
Sau cuộc cải cách ruộng đất thí điểm để lại nhiều sai sót ở giai đoạntrước thì từ năm 1955 - 1956 công cuộc cải cách ruộng đất được tiến hành khátriệt để ttên địa bàn toàn huyện cũng như toàn tỉnh
Đặc biệt, Tĩnh Gia là một trong những huyện có khá đông đồng bàotheo đạo Thiên chúa, sống tập trung ở các xã Hải Thanh, Hải Châu, Hải Hà,Hải Thượng, Thanh Thuỷ, Hùng Sơn Theo thống kê của huyện từ cuối năm
1954 đến đầu năm 1955 có hơn 2000 đồng bào theo đạo Thiên chúa ở các xãnhư Hải Thanh, Hải Lĩnh, đã bán toàn bộ nhà cửa, gia sản để đi vào Nam.Những biến động chính trị xã hội đó có tác động không nhỏ đến tình hình dân
cư trên địa bàn các xã trong huyện
Từ cuối năm 1957 đến năm 1960, thực hiện kế hoạch 3 năm xây dựng,phát triển kinh tế của Đảng, huyện Tĩnh Gia tích cực vận động nhân dân bỏlối làm ăn cá thể vào các tổ đổi công, hợp tác xã bậc thấp Theo số liệu thống
kê của huyện ủy Tĩnh Gia đến năm 1960 toàn huyện có 357 hợp tác xã bậc
thấp, chiếm 84% số dân của huyện Tĩnh Gia
Từ năm 1961 đến năm 1964, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất vớimục tiêu xây dựng cơ sở vật chất, quốc phòng vững mạnh để chi viện chochiến trường miền nam, huyện Tĩnh Gia đã vận động 92,3% nông dân vàohợp tác xã nông nghiệp, 94% vào hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp Cùng vớinhững thay đổi địa giới hành chính tình hình dân cư ở huyện Tĩnh Gia cũng
có những thay đổi căn bản Theo số liệu của Uỷ Ban Nhân Dân huyện TĩnhGia đến cuối năm 1960 đầu năm 1961, chỉ còn 3,1% dân cư làm ăn cá thể
Trang 34Giai cấp địa chủ phong kiến không còn nữa, đại bộ phận nông dân trở thành
Như vậy từ năm 1945 đến năm 1964, ngoài sự tăng trưởng dân cư tựnhiên, tình trạng phân bố dân cư ở Tĩnh Gia cũng có những thay đổi do tácđộng của chính trị xã hội Từ một huyện có trên 90% dân số mù chữ năm
1945 đến năm 1964 gần 100% dân số ở Tĩnh Gia biết đọc biết viết Con emcác gia đình này đã được cắp sách tới trường từ các lớp vỡ lòng đến cấp 3 và
có nhiều người vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, sơ cấp
Riêng các xã có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa sau năm 1955, dầndần đi vào ổn định, yên tâm sản xuất và tham gia vào các hợp tác xã nôngnghiệp, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chiviện cho chiến trường miền Nam Các xã ven biển thành công trong việc đưangư dân vào các hợp tác xã đánh cá Tiêu biểu là hợp tác xã Liên Hải ở xã HảiBình Từ làm ăn cá thể, riêng lẻ mang tính hộ gia đình đến năm 1964, đại bộphận nhân dân ở Tĩnh Gia vào làm ăn tập thể, quan hệ sản xuất mới được xáclập, củng cố và tạo đà cho những thay đổi căn bản trong đời sống kinh tế, vănhoá, giáo dục, xã hội trên địa bàn huyện Tĩnh Gia nói riêng và trên địa bàntỉnh Thanh Hóa nói chung
Trang 35Một điều đáng quan tâm nữa là sự phát triển của hệ thống các trạm hộsinh, bệnh xá, bệnh viện tại các xã và trên địa bàn huyện đã thúc đẩy tăngtrưởng dân số ở huyện Tĩnh Gia giai đoạn 1954 - 1964 nhanh gấp nhiều lần sovới trước, bình quân mỗi hộ gia đình lúc này có từ 4 -7 người con Dân sốhuyện Tĩnh Gia năm 1955 là 71.000 người, năm 1960 là 100.000 người, năm
1965 là 134.000 người
Như vậy trải qua 20 năm từ 1945 đên 1964 địa giới hành chính cónhiều thay đổi kéo theo sự biến động về dân cư trên địa bàn huyện, đã tácđộng đến mọi mặt của đời sống nhân dân trong huyện Từ năm 1954 đến 1964huyện Tĩnh Gia đang trở thành một huyện điển hình trong tỉnh Các cơ sởkinh tế - xã hội của Tĩnh Gia được khôi phục, xây dựng mới và đi vào hoạtđộng: các công trình giao thông thủy lợi được triển khai rộng khắp phục vụđầy đủ cho sản xuất nông nghiệp, các hợp tác xã nông nghiệp bậc cao đạtnăng suất ngày càng cao Nghề khai thác thủy sản, làm muối đạt và vượt kếhoạch Tĩnh Gia có 5 tập đoàn cá ở Hải Bình và Hải Thanh được Ủy ban hànhchính Tỉnh cấp bằng khen
Trải qua hai thập kỷ cùng với những biến đổi về tình hình chính trị kinh tế - văn hóa - xã hội thì vần đề địa giới hành chính và dân cư của huyệncũng có những thay đổi tùy theo điều kiện lịch sử của từng thời kì, từng giaiđoạn mà điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu phát triển của huyện, tỉnh và cảnước nói chung Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dân cư trênđịa bàn huyện Tĩnh Gia có thay đổi theo chiều hướng tăng nhanh Có thể nóiđến thời điểm này dân số và địa giới hành chính trong huyện đã có sự thay đổiquan trọng địa giới của huyện thu hẹp lại, dân số giảm bớt đi điều đó đồngthời vừa là thách thức đối với Đảng bộ và nhân dân Tĩnh Gia
Trang 36-Chương 2 THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ
Ở HUYỆN TĨNH GIA TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 2010
2.1 Bối cảnh lich sử
Tháng 4/1964, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ vạch ra kếhoạch ném bom miền Bắc thông qua 94 mục tiêu đánh phá, trong đó có huyệnTĩnh Gia Đêm ngày 4/8/1964, lấy cớ tàu chiến Mỹ bị hải quân Việt Nam tấncông tại Vịnh Bắc Bộ, chúng dựng nên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” thông qua kếhoạch phát động cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân đối với miềnBắc Từ đây, miền Bắc bước vào thời kỳ mới - thời kỳ vừa đẩy mạnh sản xuấtsẵn sàng chiến đấu, vừa tiếp tục chi viện sức người, sức của cho chiến trườngmiền Nam
Trong kháng chiến chống Mỹ, Thanh Hóa là địa bàn chiến lược trọngyếu Đế quốc Mỹ luôn coi Thanh Hóa là trọng điểm đánh phá trong chiếntranh phá hoại, trong đó huyện Tĩnh Gia là hướng chiến lược ở tuyến đầu củacuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của tỉnh và là cầu nối giữa hậu phươnglớn và tiền tuyến lớn miền Nam
Trên tuyến quốc lộ 1A đi qua địa bàn huyện, có 6 trọng điểm là PhàGhép (Hải Châu), cầu Hang (Hải Lĩnh), cầu Đồi (Xuân Lâm và Trúc Lâm),cầu Vằng, cầu Hổ (Tùng Lâm và Tân Trường) và khe Nước Lạnh - nơi hội tụ
3 tuyến đường bộ, đường sắt, đường sông (Trường Lâm) Trên tuyến đườngsắt có 2 trọng điểm là ga Văn Trai và ga Khoa Trường Trên tuyến đườngsông đoạn từ cầu Trạp (Thanh Sơn) qua Ngọc Trà vào Lạch Bạng (Hải Bình)tới Trường Lâm là tuyến vận chuyển chi viện cho miền Nam bằng thuyềnnan Trên biển, đảo Mê là căn cứ quân sự, vọng gác tiền tiêu của phía NamVịnh Bắc Bộ Đảo Nghi Sơn, tàu thuyền thường xuyên ra vào
Trang 37Nhận thấy được tầm quan trọng của địa bàn chiến lược, Đảng bộ huyệnTĩnh Gia đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể:
- Trong bất cứ tình huống nào cũng phấn đấu cung ứng đầy đủ lươngthực, thực phẩm ổn định đời sống nhân dân
- Đề cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của kẻ thù, góp phầntích cực vào sự nghiệp cách mạng chung của cả nước
- Giữ vững giao thông vận tải trong thời chiến, tiếp tục củng cố hậuphương, chi viện cho tiền tuyến
Quyết tâm đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ngay từ trậnđầu, Tĩnh Gia đã phát triển các lực lượng vũ trang, nhất là các đơn vị pháobinh dân quân, xây dựng làng chiến đấu, bộ đội cùng nhân dân củng cố hầmhào trú ẩn cho nhân dân
Kể từ sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹcàng tăng cường và mở rộng Ngày 16 tháng 3 năm 1965, chúng dùng máybay bắn đạn 20 ly, rốckét xuống các huyện Tĩnh Gia, Nông Cống, Như Xuân
Ngày 4/4/1965, nhiều tốp máy bay của giặc Mỹ đã phát hiện và chặnđánh lực lượng cao xạ của trung đoàn 234 đang hành quân trên đoạn đườngquốc lộ 1A thuộc huyện Tĩnh Gia, do có sự phối hợp chặt chẽ, chỉ sau vài giờ,Đại đội 4, Đại đội 5 pháo cao xạ có sự phối hợp của khẩu đội 14,5 ly của đồngchí Đỗ Quang Định tự vệ Phà Ghép cùng dân quân các xã bắn rơi 3 chiếc máybay F105 của giặc Mỹ Khói lửa của cuộc chiến tranh ngày càng trở nên khốcliệt, do đó huyện đã quyết định hết sức chính xác, đúng đắn là phải sơ tán phầnlớn nhân dân ra khỏi địa bàn trọng yếu Một số làng xã đã tự nguyện di chuyển,như làng Phú Thiện di chuyển khỏi cầu Thị Long, đội 1 di chuyển khỏi phíaBắc cầu Hang nhằm tránh những tổn thất về người cho nhân dân
Ngày 1/11/1968, đế quốc Mỹ buộc phải ngừng tất cả các cuộc némbom, bắn phá trên toàn miền bắc để tiến hành đàm phán ở Pari Tranh thủ thời
Trang 38gian đó, từ năm 1969 - 1971, quân và dân huyện Tĩnh Gia tổ chức xây dựng,củng cố lại lực lượng, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.
Quán triệt chủ trương trên của Trung ương, của tỉnh về khôi phục vàphát triển kinh tế ở miền Bắc trong điều kiện mới, từ ngày 29/4 đến ngày 6/5năm 1969, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tĩnh Gia lần X được tiến hành.Đại hội đề ra phương hướng và nhiệm vụ: “Vô luận trong điều kiện nào cũngphải phấn đấu mạnh mẽ với khí thế cách mạng, tiến công liên tục để xây dựng
và phát triển kinh tế toàn diện trong các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, diêmnghiệp và nghề trồng rừng; phải phát triển với tốc độ nhanh chóng, cân đối đểđáp ứng kịp thời với nhu cầu cách mạng và đảm bảo đời sống nhân dân tronghuyện ngày càng được ổn định
Đồng thời, sẵn sàng cảnh giác để kiên quyết đánh bại mọi âm mưu, thủđoạn của địch” [38; 97]
Với khẩu hiệu “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” tinh thần laođộng cần cù sáng tạo, nhân dân tĩnh Gia từng bước khắc phục hậu quả chiếntranh, phát triển sản xuất cũng như ở nhiều lĩnh vực khác Trong những nămđầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một mặt huyện tập trung vàoviệc đảm bảo an toàn cho các cơ sở sản xuất khỏi sự đánh phá của kẻ thù, mặtkhác duy trì và mở rộng sản xuất các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,nhất là các cơ sở công nghiệp phục vụ cho nông nghiệp, giao thông vận tải vàsản xuất hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu của nhân dân Trong xu hướngchuyển biến tích cực về mọi mặt của huyện nhà Đại hội đại biểu Đảng bộhuyện Tĩnh Gia lần XI được triệu tập từ ngày 2 tháng 5 đến ngày 5 tháng 5năm 1971 Về những thành tích đạt được trong thời gian qua,Đại hội nhấnmạnh: “Đảng bộ, quân và dân huyện ta đã giữ vững và phát huy được ý chíquyết chiến, quyết thắng trong công tác xây dựng lực lượng hậu phương, sẵnsàng chiến đấu và đã đạt đựơc những kết quả nhất định” Trong thời gian qua,
Trang 39chỉ tiêu gieo trồng của các loại cây luôn được đảm bảo Diện tích lúa đạt93,5%, diện tích khoai lang đạt 103% Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện TĩnhGia lần thứ XI cũng đề ra phương hướng và nhiệm vụ cho thời gian tới:
“Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện sức người sức của cho tiền tuyến,đồng thời tăng cương lực lượng chiến đấu, đập tan mọi âm mưu,phá hoại của
đế quốc Mỹ và tay sai, bảo vệ địa phương, bảo vệ kinh tế xã hội chủ nghĩa,bảo vệ giao thông vận tải; Động viên tổ chức phong trào lao động sản xuất,đẩy mạnh phát triển kinh tế toàn diện và cân đối; Trên cơ sở đẩy mạnh sảnxuất và phát triển kinh tế, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước và đẩy mạnhcải thiện đời sống nhân dân trong huyện” [38; 99] Bên cạnh đó, các hoạtđộng tài chính, thương nghiệp, giáo dục và y tế được củng cố, là điều kiện đểhuyện sẵn sàng khi Mỹ tiến hành ném bom bắn phá miền Bắc lần 2
Với âm mưu muốn giành ưu thế từng bước trên bàn Hội nghị Pari, từtháng 5/1970, đế quốc Mỹ đã cho máy bay ném bom một số nơi thuộc khu IV
Từ tháng 2/1971, hoạt động phá hoại của Mỹ được đẩy mạnh
Ngay từ tháng 1/1972, thực hiện chỉ thị của Tỉnh uỷ về việc “Tăngcường mọi mặt, sẵn sàng chiến đấu, đập tan mọi hoạt động chiến tranh bằngkhông quân và hải quân của Mỹ” Để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới, Đạihội đại biểu Đảng bộ huyện Tĩnh Gia lần thứ XII được triệu tập từ ngày 5 đếnngày 7 tháng 4 năm 1972 Đại hội nhấn mạnh: “Phải tăng cường hơn nữacông tác dân quân, tự vệ và cơ sở Đảng, nơi xung yếu nhất, trước hết là cácđiểm khu vực phía Nam, phải căn cứ vào phương án tác chiến khu vực để tổchức lực lượng tham gia chiến đấu tại chỗ” [38; 101]
Ngày 13/4/1972, giặc Mỹ dùng máy bay B52 đánh phá Hàm Rồng vàkhu vực sân bay Sao Vàng Máy bay, tàu chiến của địch cũng bắt đầu đánhphá dữ dội Các xã ven biển từ Hải Châu đến Hải Hoà liên tục bị tàu chiếnđịch pháo kích Đường giao thông từ Phà Ghép đến Hoàng Mai không lúc nào
Trang 40ngớt tiếng bom Ngày 29/12/1972, cuộc tiến công chiến lược bằng khôngquân của đế quốc Mỹ xuống thủ đô Hà Nội bị thất bại, Mỹ buộc phải tuyên bốngừng ném bom miền Bắc từ Vĩ tuyến 20 trở vào Như vậy, Tĩnh Gia vẫnnằm trong phạm vi đánh phá của giặc Mỹ.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã kết thúc bằngchiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, đưa cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài gần một phần tư thế kỷ của nhândân ta đến thắng lợi hoàn toàn Tổ quốc thống nhất, giang sơn thu về mộtmối, Bắc Nam sum họp một nhà Cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạnmới: xây dựng chủ nghiã xã hội và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa Trong niềm vui chiến thắng, nhân dân hai miền Nam Bắc dưới sựlãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, phấn khởi, hăng hái tham gia khôiphục và xây dựng đất nước Nhưng chiến tranh mới đi qua, hậu quả sau gần
30 năm chiến tranh ở cả hai miền đã để lại muôn vàn khó khăn thử thách Ởmiền Nam, bọn địch tàn phá, nhiều vùng đất bỏ hoang, nhà cửa của nhândân bị san bằng nhất là vùng nông thôn, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt,hàng triệu nguỵ quân, nguỵ quyền tan rã chưa ổn định cuộc sống, chínhquyền cách mạng mới thiết lập, kinh tế ngưng phát triển, đời sống nhân dânkhó khăn ở miền Bắc, sau khi ký hiệp định Pari năm 1973, một số vùngkinh tế, văn hoá đã được khôi phục, nhưng “tất cả cho tiền tuyến”, “tất cả
để chiến thắng”, dốc toàn lực cho chiến trường, nền kinh tế tăng trưởngchậm, năng suất lao động thấp Nhà nước đang thực hiện chế độ “bao cấp”.Trong khi đó tình hình thế giới diễn ra phức tạp, các thế lực phản động và
đế quốc Mỹ dùng mọi thủ đoạn hòng phá hoại công cuộc xây dựng đấtnước ta Những khó khăn đó không thể một sớm một chiều có thể khắcphục được mà nó đòi hỏi phải có thời gian và đường lối chính sách đúngđắn của Đảng