Sự thay đổi địa giới hành chính của huyệnQuảng Xơng trong thời gian hơn nửỷa thế kỷ qua sự thay đổi đó kéo theo sựthay đổi về dân c và ảnh hởng của nó đến những vấn đề quản lý đất đai, p
Trang 1vũ thành long
Sự thay đổi địa giới hành chính
và dân c ở huyện Quảng Xơng (Thanh Hóa)
từ NăM 1945 đến năm 2010
luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Vinh - 2010
Trang 2vũ thành long
Sự thay đổi địa giới hành chính
và dân c ở huyện Quảng Xơng (Thanh Hóa)
Trang 3Để hoàn thành luận văn này, trong quá trình nghiên cứu tôi đã nhận đợc
sự giúp đỡ tận tình của TS Trần Văn Thức Tôi xin chân thành bày tỏ lòngbiết ơn sâu sắc đến Thầy
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy côgiáo khoa Lịch sử, khoa Đào tạo Sau đại học trờng Đại học Vinh, Trung tâm
Th viện Nguyễn Thúc Hào, Th viện Tổng hợp tỉnh Thanh Hóa, Bảo tàng Tổnghợp tỉnh Thanh Hóa, Trung tâm lu trữ UBND tỉnh Thanh Hóa, UBND huyệnQuảng Xơng, Cục Thống kê Thanh Hóa gia đình và bạn bè đã cung cấp tliệu, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận vănnày
Vinh, tháng 12 năm 2010
Vũ Thành Long
Trang 4Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Cấu trúc của luận văn 6
Nội dung 7
Chơng 1 Sự thay đổi địa giới hành chính và dân c ở huyện Quảng Xơng từ 1945 nĂM đến nĂM 1963 7
1 Bối cảnh lịch sử 7
1.2 Sự thay đổi địa giới hành chính ụỷ huyện Quảng Xơng từ năm 1945 đến năm 1963 14
1.3 Sự thay đổi về dân c ụỷ huyện Quảng Xơng từ năm 1945 đến năm 1963 27
Chơng 2 Sự thay đổi địa giới hành chính và dân c ở huyện Quảng Xơng từ nAấM 1963 đến năm 2010 31
2.1 Giai đoạn từ naờm 1963 đến naờm 1975 31
2.1.1 Bối cảnh lịch sử 31
2.1.2 Sự thay đổi về địa giới hành chính ụỷ huyện Quảng Xơng từ 1963 đến 1975 39
2.1.3 Sự thay đổi về dân c ụỷ huyện Quảng Xơng từ năm 1963 ủeỏn naờm 1975 41
2.2 Giai đoạn từ naờm 1975 đến naờm 2010 43
Trang 51975 đến naờm 2010 46
2.2.3 Sự thay đổi dân c ụỷ huyện Quảng Xơng từ naờm 1975 đến naờm 2010 52
Chơng 3 Tác động của sự thay đổi địa giới hành chính và dân c đến quá trình phát triển ở huyện Quảng Xơng 62
3.1 Tác động đến sự phát triển kinh tế 62
3.1.1 Những mặt tích cực của sự thay đổi địa giới hành chính và dân c ụỷ huyện Quảng Xơng đến sự phát triển kinh tế 62
3.1.2 Những mặt hạn chế của sửù thay đổi địa giới hành chính và dân c ụỷ huyện Quảng Xơng đến sự phát triển kinh tế 71
3.2 Tác động đến tình hình chính trị - xã hội 75
3.2.1 Taực ủoọng ủeỏn tình hình chính trị - xã hội 75
3.2.2 Taực ủoọng ủeỏn tình hình văn hóa - giáo dục - y tế 78
3.2.3 Taực ủoọng ủeỏn tỡnh hỡnh an ninh - quoỏc phoứng 79
Kết luận 92
Tài liệu tham khảo 98 Phụ lục
Trang 6UV BCH TW : ñy viªn Ban chÊp hµnh Trung ¬ng
UV BCT : ñy viªn Bé ChÝnh trÞ
Trang 7Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Về mặt khoa học
Trong tiến trình lịch sử dựng nớc và giữ nớc hàng nghìn năm của dân tộc
ta từ thời đại Hùng Vơng tới thời đại Hồ Chí Minh, hầu hết các địa giới hànhchính, dân c của một xứ, một phủ, một vùng, một tỉnh, một huyện, một xã, mộtlàng đều có những sự thay đổi biến động nhất định, ít có sự ổn định bền vững
Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, cùng với sự phát triển nhanh về kinh tế việc
mở rộng các không gian đô thị, thay đổi địa giới hành chính là một điều tất yếu
Sự thay đổi về địa giới hành chính đó thờng gắn liền với những bối cảnh lịch sửvới những thời điểm quan trọng với những thậm chí với những biến cố có tínhchất lịch sử kinh tế xã hội, thậm chí nó còn phụ thuộc vào ý đồ của các triều
đại Sự thay đổi về địa giới hành chính đã có ảnh hởng không nhỏ đến đờisống kinh tế - vật chất, tinh thần của c dân hiện đang c trú trên phạm vi địa giớihành chính cũ cũng nh phạm vi thay đổi của địa giới hành chính mới Vì vậy,việc nghiên cứu về những thay đổi, điều chỉnh về địa giới hành chính, dân c củamột xứ, một vùng, một miền, một tỉnh, một huyện là một đề tài tơng đối cógiá trị cho việc nghiên cứu về lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử vùng miền, tỉnh,huyện nói riêng Đề tài này tuy mang tính chất địa phơng, khu vực nhng gópphần vào mục đích chung đó Đây cũng là ngồn tài liệu quan trọng để cho cácthế hệ sau này có những hiểu biết nhất định về vùng đất quê hơng mình đangsinh sống, học tập và công tác
1.2 Về mặt thực tiễn
Từ năm 1945 đến năm 2010, trải qua một thời gian dài từ sau khi nớcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, huyện Quảng Xơng qua nhiều tên gọikhác nhau, phạm vi không gian địa lý của huyện cũng có nhiều sự thay đổitrong bối cảnh lịch sử của tỉnh nhà nói riêng và đất nớc nói chung Đặc biệtqua hai cuộc kháng chiến thần thánh cuả dân tộc chống lại thực dân Pháp, đếquốc Mĩ xâm lợc và trong công cuộc đổi mới hiện nay Những biến động vàthay đổi dồn dập của lịch sử huyện nhà gắn liền với lịch sử dân tộc nói chung
và tỉnh Thanh Hóa nói riêng Đề tài góp phần vào việc nghiên cứu một có cách
hệ thống toàn diện những thay đổi về địa giới hành chính dân của huyệnQuảng Xơng (Thanh Hóa) nhằm góp phần lấp một khoảng trống trong nghiên
Trang 8cứu lịch sử địa phơng lâu nay để giúp cho ngời đọc có cái nhìn cận cảnh vàtoàn diện hơn về lịch sử địa phơng Sự thay đổi địa giới hành chính của huyệnQuảng Xơng trong thời gian hơn nửỷa thế kỷ qua sự thay đổi đó kéo theo sựthay đổi về dân c và ảnh hởng của nó đến những vấn đề quản lý đất đai, phân
bố lại vị trí các vùng dân c, sự phát triển kinh tế văn hóa, giáo duùc, y tế, bố trílại cán bộ quản lý, hệ thống cơ sở hạ tầng Đề tài không chỉ dừng lại ở việcnghiên cứu những thay đổi về địa giới hành chính, dân c mà phạm vi nội dungcủa đề tài còn đợc mở rộng sâu hơn nhằm tạo bức tranh toàn cảnh bớc đờngphát triển của huyện nhà trong những năm khói lửa chiến tranh và trong côngcuộc đổi mới hiện nay với t cách là một huyện lớn, cũng nh đóng góp của
Đảng bộ và nhân dân huyện Quảng Xơng đối với sự phát triển của tỉnh Thanh
và của đất nớc
Ngoài những nét riêng trong quá trình phát triển của huyện Quảng
X-ơng từ năm 1945 đến năm 2010, thì huyện Quảng XX-ơng còn mang những nétchung giống các huyện, thị ở nớc ta trong quá trình hình thành và phát triển từnửỷa sau thế kỷ XX đến nay Vì vậy, nghiên cứu về những thay đổi về địa giớihành chính, dân c ụỷ huyện Quảng Xơng là góp phần vào việc nghiên cứu về hệthống huyện, thị ở nớc ta Đây là một vấn đề lớn đang đợc giới sử học đặc biệtquan tâm đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
Với những lý do trên, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “Sự thay đổi
địa giới hành chính và dân c ụỷ huyện Quảng Xơng (Thanh Hóa) từ năm
1945 đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ cuỷa mỡnh
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trơng của BCH TW Đảng vànghị quyết của BTV Tỉnh ủy Thanh Hóa, các địa phơng trong tỉnh đang tíchcực viết lịch sử Đảng bộ xã, lịch sử xã, nhng vaỏn đề biến đổi về địa giới hànhchính và dân c của các địa phơng trong đó có Quảng Xơng vẫn cha đợc quantâm chú ý đúng mức Cho đến nay vẫn cha có một công trình chuyên sâu nàonghiên cứu về đề tài: “Những thay đổi địa giới hành chính và dân c của huyện
ụỷ Quảng Xơng từ naờm 1945 đến naờm 2010” một cách đầy đủ và có hệ thống.Trong nhiều năm gần đây cũng đã có những công trình nghiên cứu về huyện
Trang 9Quảng Xơng ở những góc độ khác nhau đã đề cập đến một số khía cạnh củavần đề này.
Cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng của nhân dân
Quảng Xơng” Tập II (1954 -1975) của Ban chấp hành Đảng cộng Sản Việt
Nam huyện Quảng Xơng, NXB Thanh Hóa, năm 2003 đã dành một phần nhỏ
đề cập về lãnh thổ địa giới hành chính và dân c của huyện Quảng Xơng và sựtách, nhập, thành lập một số xã mới trong huyện trong các giai đoạn phát triểncủa địa phơng cũng nh của dân tộc
Cuốn sách “Lịch sử Đảng Bộ huyện Quảng Xơng” (1975 - 2005) củaBan chấp hành Đảng bộ Quảng Xơng, NXB Thanh Hóa, năm 2006 cũnggiành một phần nhỏ đề cập đến việc cắt, nhập một số xã của huyện vàothành phố Thanh Hóa và tách thị xã Sầm Sơn trực thuộc Tỉnh trong giai
đoạn 1975 đến 2005 của huyện nhà để tạo điều kiện phát triển kinh tế - xãhội của địa phơng
Cuốn sách “Quảng Xơng quê hơng tôi” Tập II của huyện uỷ Quảng
X-ơng cùng Hội đồng HX-ơng Quảng XX-ơng ở Hà Nội, NXB Nông nghiệp Hà Nội,năm 2002 cũng đã có đề cập đến những sự thay đổi về đời sống kinh tế xã hộicủa Quảng Xơng
Một số bài viết về những chuyển biến kinh tế - xã hội Quảng Xơng củanhững học giả và các con em địa phơng trong những năm gần đây
Đặc biệt năm 2010 Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND HuyệnQuảng Xơng đã tiến hành biên soạn cuốn “ẹịa huyện Chí Quảng Xơng” cũnghết sức công phu viết tơng đối đầy đủ về địa lý, địa mạo, thổ nhỡng, khí hậu,
đồi núi sông ngoài, con ngời, truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, các tổchức đơn vị hành chính của huyện Quảng Xơng Trong đó có phần địa hànhchính có đề cập đến nguồn gốc làng xã và các đơn vị hành chính cấp xã từnaờm 1945 đến nay
Ngoài ra một số các tài liệu mà tác giả liệt kê trong phần tài liệu thamkhảo cũng đề cập ít nhiều đến sự thay đổi địa giới hành chính và dân c củahuyện Quảng Xơng, mặc dù còn mang tính chất sơ lợc và đơn lẻ nhng đó cũng
là nguồn tài liệu quan trọng để chúng tôi so sánh đối chiếu và đi sâu vào nộidung đề tài đề cập đến
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đây đã làmsáng tỏ một số vaỏn đề của huyện nói chung và vấn đề địa giới hành chính, dân
Trang 10c ụỷ huyện nói riêng Tuy nhiên, nếu xét một cách khách quan toàn diện thì cho
đến nay vẫn cha có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết vềnhững thay đổi địa giới hành chính và dân c của huyện Quảng Xơng từ năm
1945 đến năm 2010 Vì vậy, đề tài này tác giả mong muốn có thể tập trungnghiên cứu một cách hệ thống những thay đổi về địa giới hành chính và dân c
ụỷ huyện Quảng Xơng từ năm 1945 đến năm 2010
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu toàn bộ những thay đổi về địa giới hànhchính và dân c huyện Quảng Xơng (Thanh Hóa) từ năm 1945 đến nay (naờm2010) cũng nh ảnh hởng tác động của vấn đề đó với đến đời sống của kinh tế,văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng ụỷ huyện Quảng Xơng
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với đối tợng nghiên cứu nêu trên chúng tôi xác định phạm vi nghiêncứu của đề tài là những thay đổi địa giới hành chính và dân c của huyệnQuảng Xơng (Thanh Hóa) cũng nh tác động của sự thay đổi đó đối với đờisống kinh tế - xã hội của Huyện Quảng Xơng từ năm 1945 đến năm 2010
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn t liệu
Chúng tôi đã tiến hành thu thập, sửu tầm, các nguồn t liệu, các Nghịquyết của Chính phủ, của tỉnh Thanh Hóa, các đề án xây dựng tỉnh Thanh Hóacũng nh của ủy ban nhân dân huyện Quảng Xơng có ở các phòng thống kê,Cục thống kê Quảng Xơng, phòng lu trữ và cả tài liệu của Th viện tổng hợp tỉnhThanh Hóa, th viện Nguyeón Thuực Haứo trửụứng Đại học Vinh, th viện huyệnQuảng Xơng, các Bảo tàng, tài liệu từ các phòng ban của huyện ủy, ủy bannhân dân huyện Quảng Xơng, huyện đội Quảng Xơng và công tác điền daừ đếncác địa danh lịch sử
Một số công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộchọc, xã hội học có nội dung liên quan đến đề tài đã đợc công bố nh: ẹịa chíQuảng Xơng, Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng của các xã tronghuyện Quaỷng Xửụng
Trang 11Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo một số luận văn tốt nghiệp cao họcthạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam đã đợc bảo vệ tại Đại học Vinh, Đạihọc s phạm Hà Nội, Đại học Khoa học xã hội vaứ Nhân văn Hà Nội.
Một số bài báo phóng sự truyền hình, báo cáo tổng kết hằng năm củahuyện, các xã về tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa giáo dục, y tế anh ninh-quốc phòng cũng đợc tham khảo so sánh đối chiếu
5 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tơng đối toàn diện, có
hệ thống và những thay đổi địa giới hành chính, dân c ụỷ huyện Quảng Xơng(Thanh Hóa) từ năm 1945 đến năm 2010
Luận văn đã hệ thống đợc những tài liệu liên quan đến đề tài để tác giảkhác có thể tham khảo khi nghiên cứu về huyện Quảng Xơng, lịch sử huyệnQuảng Xơng nói riêng, lịch sử Thanh Hóa nói chung
Thông qua hệ thống nguồn t liệu phong phú, bớc đầu luận văn đánh giánhững tác động do sự thay đổi địa giới hành chính, tên gọi đến đời sống kinh
tế, văn hóa, tình hình chính trị, xã hội, giáo dục cũng nh những hạn chế dotác động của sự thay đổi địa giới hành chính trên địa bàn huyện Quảng Xơngqua các giai đoạn lịch sử
Luận văn cũng góp phần cung cấp tài liệu để giảng dạy và học tập lịch
sử địa phơng, góp phần giáo dục truyền thống yêu nớc cho thế hệ trẻ thôngqua học tập và nghiên cứu lịch sử địa phơng
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của luận văn đợc trình bày trong ba chơng:
Trang 12Chơng 1 Sự thay đổi địa giới hành chính và dân c ụỷ huyện Quảng
Xơng từ naờm 1945 ủeỏn naờm 1963
Chơng 2 Sự thay đổi địa giới hành chính và dân c ụỷ huyện Quảng
Xơng từ năm 1963 đến năm 2010
Chơng 3 Tác động của sự thay đổi địa giới hành chính và dân c đến
quá trình phát triển ở huyện Quảng Xơng
Trang 13Nội dungChơng 1
Sự thay đổi địa giới hành chính và dân c
huyện Quảng Xơng từ NAấM 1945 đến NAấM 1965
1.1 Bối cảnh lịch sử
Mời lăm năm dới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã tiến hành cuộccách mạng Tháng Tám (8/1945) thành công, ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ ChíMinh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trờng Ba Đình - Hà Nội đãtuyên bố trớc thế giới và toàn thể quốc dân đồng bào về sự ra đời của nớc ViệtNam Dân chủ Cộng hòa Sự ra đời của nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đãkhẳng định thành quả vĩ đại của cách mạng Tháng Tám, đó là thắng lợi to lớncủa quá trình chuẩn bị lâu dài của Đảng và của toàn thể dân tộc Việt Namtrong suốt mời lăm năm traỷi qua nhiều biến cố gian nguy, thăng trầm nhng đãthắng lợi một cách nhanh chóng ít đổ máu ẹiều đó chứng tỏ sự đúng đắn,nhạy bén của Đảng và sự đoàn kết của nhân dân ta Sau cách mạng ThángTám thành công chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới giành đợc phải đốiphó với muôn vàn khó khăn, thách thức đó là những khó khăn do chế độ cũ đểlại và chế độ mới nảy sinh nó đặt cả dân tộc trong thế “ngàn cân treo sợi tóc”
Đó là nạn đói khủng khiếp cuối năm 1944 đầu năm 1945 đã cớp đi sinh mạngcủa hai triệu đồng bào miền Bắc, kèm theo đó là trận lụt lớn làm làm vụừ nhiều
đoạn đê sông Hồng, cuốn trôi nhiều nhà cửa trâu bò Tệ nạn xã hội nảy sinhkhắp nơi, các ngành kinh tế quan trọng, các tuyến đờng giao thông huyếtmạch thì đình trệ, hàng triệu công nhân thất nghiệp không có công ăn việclàm
Vụựi hơn 90% dân số không biết chữ ngân, sách nhà nớc trống rỗng,ngân hàng Đông Dơng vẫn nắm quyền phát hành giấy bạc Chính quyền cáchmạng lúc này còn rất non trẻ, chính quyền từ Trung ơng đến địa phơng đềucha tiến hành tổng tuyển cử, chính phủ cách mạng lâm thời còn thiếu kinhnghiệm trong việc quản lí và điều hành đất nớc, lực lửụùng cách mạng thì còntrứng nớc Trong khi đó ở miền Nam thực dân Pháp đang tìm cách gây hấnhoứng tái chiếm Nam Bộ Mặt khác, cha bao giờ trên đất nớc ta lại có nhiều kẻ
Trang 14thù đến nh thế, lụùi dụng danh nghĩa quân ẹồng minh vào nớc ta làm nhiệm vụgiải giáp quân đội Nhật Các lợc lợng vào nớc ta với âm mu riêng nhng haàu
nh tất cả đều có chung một mục đích là thủ tiêu thành quả của cách mạngTháng Tám, chính quyền cách mạng non trẻ ở miền Nam vừa đặt chân vàoSài Gòn, thực dân Anh đã tạo điều kiện thuận lợi cho thực dân Pháp hòng táichieỏm nớc ta ở miền Bắc, 20 vạn quân Tởng do Lử Haựn dẫn đầu dã ồ ạt kéovào nớc ta theo sau chúng là bọn phản động Việt Quoỏc - Việt Cách với âm mu
“Phá tan mặt trận Việt Minh”, “Diệt Cộng cầm Hồ” xóa bỏ chính quyền cáchmạng
Trong tình thế muôn vàn khó khăn đó, để tránh mũi nhọn tấn công của
kẻ thù, ngày 11/11/1945, Đảng ta tuyên bố tự giải tán nhng thực chất là rútvào hoạt động bí mật, nhằm phá tan âm mu của bọn Tởng Giới Thạch và lãnh
đạo cách mạng trong thời kì mới, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài màchắc chắn chúng ta không tránh khỏi
Trong bối cảnh cả dân tộc đang phải đơng đầu với muôn vàn khó khănthách thức, chính quyền cách mạng ở Thanh Hóa nói chung, Huyện Quảng X-
ơng nói rieõng cũng không nằm ngoài những thách thức nêu trên Chính quyềnQuảng Xơng vừa mới ra đời, cha có kinh nghiệm quản lý, tổ chức quản lý xãhội đã phải đơng đầu với nhiều khó khăn thách thức do chế độ cũ để lại QuânNhật ở địa phơng cũng đang có những âm mu mới nhằm vơ vét những sản vậtquý mang về nớc bằng cách tung tiền ra mua Nạn đói, nạn thất học, bệnh tật,
tệ nạn xã hội đang lan tràn uy hiếp đời sống của nhân dân trong huyện Ngày23/9/1945 quân Pháp gây hấn ở Nam Bộ Trong khi đó tình hình thực tế ở địaphơng lại hết sức rối ren Nạn đói, thất học, mù chữ, bệnh tật tệ nạn xã hội
đang lan tràn uy hiếp đời sống nhân dân trong huyện Tháng 10/1945 một bộphận quân Tởng Giới Thạch lấy danh nghĩa quân ẹồng minh tớc khí giới quânNhật xuống đóng ở Sầm Sơn Trớc làn sóng cách mạng, bọn phản động giấumặt nằm im nay ngóc đầu khiêu khích chống đối chính quyền, chúng còntraộng trợn đe dọa ám sát cán bộ cách mạng
Trớc tình thế cấp bách đó, ngày 26/2/1946, đồng chí Ngô Đức Thờng
vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa đã về Quảng Xơng dự cuộc họp tại nhà đồng chí Lê
Trang 15Quang Liệu (Hòa Chúng, Quảng Thọ) làm lễ kết nạp cho ba đồng chí vào
Đảng: Lê Quang Liệu, Vũ Thanh Long và Hà Văn Tuyên đồng chí Ngô Đứctuyên bố thành lập chi bộ đầu tiên của huyện Quảng Xơng và phân công đồngchí Lê Quang Liệu làm bí th Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bớc trởngthành và phong trào cách mạng của nhân dân huyện Quảng Xơng Từ đâyphong trào đặt dới sự lãnh đạo trực tiếp của tổ chức Đảng Cộng sản
Tháng 12/1945, chính quyền và mặt trận Việt Minh đã triển khai côngtác tuyên truyền, phổ biến Sắc lệnh tổng tuyển của Chính phủ Ngày 6/1/1946,lần đầu tiên hơn 90% dân số Quảng Xơng đi bầu cử Sau bầu cử Quốc hội, các
đơn vị hành chính trên địa bàn huyện đều đợc thay đổi Đơn vị tổng bị xóa bỏ,toàn huyện chia thành 39 xã, tên xã đều lấy tên của danh nhân có công trạngtrong lịch sử chống xâm lợc
Tháng 7/1946, UÛy ban hành chính huyện đợc thành lập thay thế UÛyban nhân dân cách mạng lâm thời ủy ban hành chính huyện do ông PhạmTiến Năng làm chủ tịch, ông Nguyễn Thế Đạt làm phó chủ tịch và ôngCao Xuân Dị làm th kí ủy ban hành chính huyện bắt tay vào khắc phụcnhững những khó khăn do chế độ cuừ để lại nh nạn đói, nạn dốt, khó khăn
về tài chính…
Khi khả năng hòa hoãn giữa ta và Pháp không còn, sự nhân nhợng giữa
ta và Pháp đã kết thúc thì ngày 19/12/1946 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ra lời
“Kêu gọi toàn quoỏc kháng chiến”, phát động cuộc chiến tranh nhân dân trênphạm vi cả nớc để bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc Hởng ứng lời kêu gọicủa Chủ Tịch Hồ Chí Minh thì mọi hoạt động của huyện đều tập trung chokháng chiến chống thực dân Pháp tái chiếm Công tác chuẩn bị của ta diễn rasôi nổi nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực và đợc đông đảo quần chúngnhân dân hởng ứng Để ngăn chặn bớc tiến của giặc Pháp, ngày 2/6/1947Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Tiêu thổ kháng chiến”, Bác nói “Tavì nớc mà chịu khổ một chút, đến ngày kháng chiến thaộng lợi, thì ta lại cùngnhau kiến thiết và sửa sang lại có khó gì Các chiến sỹ ngoài mặt trận hy sinhxơng máu cho Tổ quốc họ không tiếc, không lẽ ta tiếc một đọan đờng, mộtcái cống hay một ngôi nhà để cho Pháp lợi dụng đánh Tổ quốc ta”
Trang 16Lời kêu gọi của Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã đợc nhân dân Quảng Xơngchấp hành một cách nghiêm túc, vì địa bàn huyện khi này cũng nằm trongmục tiêu của Pháp Khi đánh vào khu vực trung tâm của tỉnh lỵ Thanh Hóa,nhân dân trong huyện đã thực hiện triệt để chủ trơng vờn không nhà trống, cácban tản c đợc thành lập để tổ chức sơ tán cho nhân dân chủ yếu là ngời già, trẻ
em và phụ nữ đợc chia thành các nhóm nhỏ có ngời phụ trách, nơi sơ tán antoaứn cách huyện khoảng 15 km đợc bà con nơi sơ tán quan tâm chia sẻ khókhăn, đã làm cho những ngời ở lại yên tâm chiến đấu giữ làng xóm Cuộcsống khi đó tuy có nhiều khó khăn gian khổ, song theo lời kêu gọi của Đảng,của Bác Hồ, nhân dân trong huyện đã chấp hành triệt để, hàng trăm thanh niêntrai tráng trong huyện đã saỹn sàng ra chiến trờng giết giặc bảo vệ Tổ quốc hayphục vụ sản xuất và chiến đấu tại quê nhà, cả trăm ngời nh một không ai bảo
ai Điều đó chứng tỏ trong mọi hoàn cảnh dù khó khăn vất vả nguy hiểm đến
đâu, nhân dân Quảng Xơng đều có những sự thay đổi phù hợp với yêu cầu lịch
sử đặt ra Mọi chủ trơng của Đảng, Bác Hoà đã đợc nhân dân chấp hành triệt
để
Sau khi giành đợc chính quyền yêu cầu xây dựng bộ máy chính quyềnsau cách mạng Tháng Tám và thực hiện chủ trơng “Tản c, tiêu thổ khángchiến” ủaừ dẫn tới những thay đổi về địa giới hành chính và dân c trên địa bànhuyện Quảng Xơng trong những năm tiến hành cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp trờng kỳ của dân tộc
Sau thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 20/7/1954, Hiệp địnhGiơ-ne-vơ về Đông Dơng đợc kí kết, cuộc kháng chiến trờng kỳ chống thựcdân Pháp xâm lợc kết thúc, thắng lợi đã thuộc về lẽ phải, về nhân dân ViệtNam, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên bán đảo Đông Dơng cũng nh nhândân tiến bộ trên thế giới Tuy nhiên thắng lợi đó cha trọn vẹn, Việt Nam tạmthời bị chia cắt làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạmthời, sau hai năm sẻ tiến hành hiệp thơng tổng tuyển cử thống nhất đất nớc.Nỗi đau chia cắt cả dân tộc lại phải gánh chịu và điều đó càng làm cho nhândân cả nớc hiểu rõ đợc cái giá của độc lập, tự do Quyết định của Hiệp địnhGiơ-ne-vơ đã rõ ràng, song trên thực tế đế quốc Mĩ và tay sai đã không thihành nghiêm chỉnh Hiệp định này mà chúng đang có dã tâm biến miền Nam
Trang 17thành thuộc ủũa kieồu mụựi của chúng để thực hiện mu đồ của chúng Do đócuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc, thống nhất đất nớc để nonsông thu về một mối còn phải traỷi qua nhiều chặng đờng gian khổ, hy sinh
ác liệt
Sau Hiệp ủũnh Giơ-ne-vơ hòa bình lập lại ở miền Bắc, nhân dân QuảngXơng đã trở về quê hơng xây dựng cuộc sống của mình Để có những bớc đithích hợp cho Thanh Hóa nói riêng và huyện Quảng Xơng nói chung, Trung -
ơng Đảng và Tỉnh ủy Thanh Hóa đaừ chia ra từng chặng để tiến hành nhữnggiải pháp trớc mắt và lâu dài Khó khăn đầu tiên trong việc khôi phục huyện laứtuyến quốc lộ 1A và phà Ghép, cùng với các tuyến giao thông khác bị phá hủynghieõm trọng các công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp bị phá hủy nhử đậpBái Thợng bị phá hủy năm 1952 laứm nguồn nớc tới tiêu không còn Năm 1954ngập lụt lớn ập đến, các ruộng đất bị cày xới bởi bom đạn, nông cụ bị phá hủy,trâu bò phục vụ nông nghiệp bị giết nhiều, nạn đói đe dọa trực tiếp đến từnggia đình Sau khi nhân dân quay về, lãnh đạo chính quyền địa phơng đã cử lựclợng bộ đội địa phơng giúp đỡ nhân dân hồi c và đồng thời duy trì trật tự anhninh ở địa phơng đảm bảo cho bà con đợc yên tâm tăng gia sản xuất Ngoài rahuyện cũng coứn nhận đợc sự giúp đỡ của caực huyện lân cận nhử san lấp mặtbằng, hoó trụù nông cụ, xây dựng laùi nhà cửa để sản xuất vaứ ổn định đời sống
Trớc muôn vàn khó khăn chồng chất sau ngày giải phóng ngày3/11/1954, Ban Bí th Trung ơng Đảng ra Chỉ thị đẩy mạnh sản xuất cứu đói,chăm lo đời sống nhân dân Huyện ủy triển khai thực hiện Nghị quyết của Ban
Bí th, của Liên khu, của Tỉnh ủy với tinh thần: Trớc hết sản xuất tự cứu, vận
động tơng trợ trong nội bộ nhân dân Nhờ có chủ trơng đúng đắn và sự đoànkết của nhân dân ủũa phơng trong huyện, mọi chủ trơng của Trung ơng Đảng,Tỉnh ủy đợc triển khai đã mang lại sự khởi sắc trong bộ mặt nông thôn trên địabàn huyện
Những thắng lợi của nhân dân miền Bắc trong trong công cuộc xâydựng Chủ nghĩa xã hội đã tạo tiền đề vững chắc cho cách mạng giải phóngmiền Nam Phong trào Đồng Khởi cuối năm 1959 đầu naờm 1960 đánh dấu b-
Trang 18ớc nhảy vọt của cách mạng miền Nam, đa phong trào cách mạng Việt Nam từthế giữ gìn sang thế tấn công chiến lợc Với tinh thần miền Nam là của ViệtNam, không thể nào chia cắt đợc tinh thần yêu nớc và khát vọng giải phóngdân tộc, tinh thần chiến đấu quả cảm nổi lên hơn bao giờ hết, cộng với sự chiviện lớn lao kịp thời của nhân dân miền Bắc, quân và dân miền Nam đã anhdũng chiến đấu, lần lợt đánh bại các chiến lợc quân sự lớn của Mĩ nh đập tan
đợc kế hoạch Stalay - Taylo; Giơn xơn-Mác Namara, đập tan đợc chiến lợc
“chiến tranh đơn phơng” “Chiến tranh đặc biệt” buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩhóa” cuộc chiến tranh Việt Nam Chiến lợc “chiến tranh cục bộ” ra đời nhằmxoay chuyển tình thế Với lực lợng quân Mĩ và quân ch hầu đông cha từng có
từ trớc đến nay, chúng dự định seừ giành lại thế chủ động trên chiến trờng, tiêudiệt đợc hệ thống hỏa lực của ta trong vòng 18 tháng Nhận thấy miền Bắc làhậu phơng lớn cho miền Nam, là một trong nhửừng nguyên nhân mà Mĩ phảigánh chịu những tổn thất to lớn, Bộ quốc phòng Mĩ đã quyết định dùng sứcmạnh không quân và hải quân tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt ramiền Bắc, nhằm phá vỡ tiềm lực kinh tế quốc phòng, công cuộc xây dựng Chủnghĩa xã hội ở miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam Sau khi dửùnglên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” Mĩ đã tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứnhất ra miền Bắc
Trong tình hình đó nhân dân miền Bắc nói chung, Đảng bộ chínhquyền và nhân dân Thanh Hóa, huyện Quảng Xơng nói riêng đã coự nhữngchuẩn bị kịp thời để đối phó với việc Mĩ tấn công ra miền Bắc Đầu năm
1965, tình hình diễn biến hết sức phức tạp, không khí chuẩn bị đối phó vớicuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ hết sức khẩn trơng ở những trọng
điểm, các đội dân quân trực chiến sẵn sàng chiến đấu 24/24h trong ngày, vừa
đảm bảo sản xuất vừa ủaỷm bảo chiến đấu Do yêu cầu phát triển kinh tế xãhội của huyện dẫn đến sự thay đổi địa giới hành chính cho phù hợp với yêucầu thực tiễn đặt ra và sự thay dân c là điều không tránh khỏi Điều đó lý giảivì sao có sự thay đổi địa giới hành chính và dân c của huyện trong nhữngnăm qua
Trang 191.2 Sự thay đổi địa giới hành chính ụỷ Quảng Xơng từ năm 1945 đến năm 1963
Quảng Xơng là một vùng đất có lịch sử hình thành từ lâu đời Từ khinhà nớc Văn Lang ra đời, Thanh Hóa thuộc bộ Cửu Chân, một trong 15 đơn vịhành chính của nớc ta thời bấy giờ Miền đất Quảng Xơng (hiện nay) tuy nằmtrong bộ Cửu Chân nhng chia xác định đợc ranh giới cũng nh tên gọi
Thời thuộc Hán (111 TCN) đất nớc Âu Lạc bị chia làm ba quận, đấtThanh Hóa hiện nay thuộc quận Cửu Chân Quận này gồm 7 huyện: T Phố, CPhong, Đô Lung, D Phát, Hàm Ngoan, Vô thiết, Vô Biên Theo sách “Đất nớcViệt Nam qua các thời” của học giả Đào Duy Anh thì huyện C Phong ở hữungạn sông Bồn Giang (còn gọi là Hơng Giang - nhánh chính của sông Chu từthời Trần về trớc), nay thuộc các huyện Đông Sơn, Triệu Sơn, Quảng Xửụng,Nông Cống Huyện T Phố cũng bao gồm một phần đất huyện Quảng Xơnghiện nay Nh vậy vào thời thuộc Hán, Quảng Xơng thuộc đất huyện T Phố CPhong và huyện T Phố
Tửứ thời thuộc Ngô - Tờn - Tống - Tề - Lơng (năm 210 - 581) đến cuốithời Ngô, Thanh Hóa vẫn thuộc quận Cửu Chân, một trong 6 quận của GiaoChâu Lúc này quận Cửu Chân có 7 huyện: T Phố, Di Phong, (là C Phongthuộc Hán) Trạm Sở, Phù Lạc, Thờng Lạc, Tùng Nguyên Theo sách “Lịch sửThanh Hóa tập II” thì huyện Phù Lạc phía nam huyện Quảng Xơng hiện nay,huyện Kiến Sơ là phía Bắc huyện Quảng Xơng ngày nay Đến thời Tống (420
- 479), quận Cửu Chân có thêm các huyện nh: Cao An, Quân An, Vũ Ninh,Ninh Di Thời Lơng Vũ Đế, (năm 540) tiến hành việc chia nhỏ các quận, quậnCửu Chân đợc đặt tên là ái Châu mà Thanh Hóa hiện nay tơng đơng với địagiới Châu ái đời nhà Lơng Phần đất quảng Xơng hiện nay có thể thuộchuyện Phù Lạc, Kiến Sơ, Cao An thời kì này
Thời thuộc Tùy, Đờng (581- 906), năm 581 nhà Tùy thống nhất TrungQuốc, chia lại các quận huyện, bỏ châu đặt quận ái Châu lại đợc gọi là quậnCửu Chân Quận Cửu Chân thời nhà Tùy gồm 7 huyện: Cửu Chân, Di Phong,
T Phố, Long An, Quân An, An Thuận, Nhật Nam Theo giáo s Đào Duy Anhthì huyện Long An là vùng đất hai huyện Quảng Xơng và Hoaống Hóa ngàynay Năm 622 thời Cao Đờng Tổ, lập lại ái Châu gồm 11 huyện Năm TiênThiên 1 (712) đổi huyện Long An thành Sùng An Đến năm Chí Đức 2 (757),
Trang 20Sùng An đổi tên thành Suứng Bình Địa giới huyện Sùng Bình thời Đờng baogồm vùng đất Quảng Xơng hiện nay và phạm vi rộng lớn hơn Theo Đào DuyAnh, Sùng Bình từ Sùng An đổi thành, Sùng An lại đổi từ Long An đổi thành.
Mà Long An thời Tùy Đờng tơng đơng Quảng Xơng, Hoằng Hóa hiện nay
Nh vậy huyện Sùng Bình bao gồm cả phần đất huyện Hoằng Hóa ngày nay
Thời Đinh - Lê - Lý - Trần - Hồ - Lê - Nguyễn (thế kỉ X đến đầu XX).Theo Đại Nam nhất thống chí, triều Trần trở về trớc gọi là huyện Vĩnh Xơng
Đời Lê Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông vẫn gọi là huyện Vĩnh Xuyên Từ đờiQuang Thuận (1460 -1469) mới gọi là huyện Quảng Xơng Nh vaọy tên Quảng
Xơng bắt đầu từ đây Sách “Việt Nam đất nớc qua các đời vua” của Đào Duy
Anh thời thuộc Minh phía Bắc huyện Quảng Xơng cho đến khu vực Bố Vệ làhuyện Duyên Giác, phía Nam huyện Quảng Xơng cùng với phía Bắc huyệnTĩnh Gia là một bộ phận của huyện Kết Thuế
Huyện Quảng Xơng thời Hậu Lê - Tây Sơn - Nguyễn địa thế tơng đơnghuyện Quảng Xơng ngày nay, trừ một phần đất phía tây huyện, trong khoảngsông Lý, sông Lăng, sông Vạy, sông Yên thuộc huyện Ngọc Sơn Từ sau đời
Đồng Khánh, phần đất này tách khỏi Túnh Gia nhập vào Quảng Xơng thànhmột vùng đất hoàn chỉnh về địa d, địa lý
Đơn vị hành chính của Quảng Xơng thời Nguyễn: từ Tây Sơn trở về trớckhông có tài liệu ghi chép về các đơn vị hành chính dới huyện Căn cứ vào
sách “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỉ XIX” (Viện Nghiên cứu Hán -Nôm,
NXB khoa học xã hội, naờm 2002) soạn đời Gia Long (1802 -1820) hệ thốngtổng xã, thôn, sở đợc ghi chép rõ ràng Đối chiếu với một số tên làng xã đợcghi chép raỷi rác trong sử sách và lịch sử một số làng, xã trong huyện cho thấydanh sách tổng xã thôn không hoàn toàn mới đặt, mà căn bản dựa trên cơ sởcác tổng, xã, thôn thời trớc, phần sửa đổi thêm bớt không nhiều
Thời Gia Long huyện Quảng Xơng có 4 tổng, 118 xã, sở
Trang 21- X· Cam BÇu gåm c¸c th«n Nga Mi, Linh Lung, Mü Léc.
- X· Th¸i C¸c gåm c¸c th«n Hµ §«ng, Quang Trung
Tæng Th¸i Lai cã 29 x· th«n cô thÓ
- X· Th¸i Lai: gåm c¸c th«n §«ng ThÞnh, Phó MiÕu, B¸i Trung, §aLéc, ¸ng, Trung
- X· Quang TiÒn: gåm c¸c th«n Phó §a, TiÒn ThÞnh, QuÇn ThÞnh, Trung
- X· Th¹ch Cõ: gåm c¸c th«n íc néi, íc ngo¹i
- X· V¹n Linh; gåm c¸c th«n Nª Trung, Phong HËu
Trang 22- Xã Bàn Phơng: gồm các thôn Tiền, Hà Nữu, Hà Bãi, Trung
- Xã Văn Phơng: gồm các thôn Dui Côn, Đai Ca, Phạm Xá
- Xã Quan Phơng: gồm các thôn Đại Lộc, Nga Khê
- Xã Giặc Thợng: gồm các thôn Đồn, An Khoái, Xuân, Điều
- Xã Điều An: gồm các thôn Đông, An Lạc, Điều Hòa, Dịch
- Xã An Tĩnh: gồm các thôn Trờng Thọ, Đà, Thịnh
- Xã Lơng Niệm: gồm các thôn Sơn, Trung, Cá Ngũ, Hải
- Xã Hải Lộc: gồm các thôn Xuân Phơng, Kim Suy
- Xã hng Lễ: thôn Nang
- Xã Trờng Lộc
- Xã Du Vịnh
- Thôn Triều Tông
Thời Đồng Khánh (1886-1888) Theo “Đồng Khánh D Địa Chí” các đơn
vị hành chính cuỷa huyện Quảng Xơng giai đoạn này vẫn gồm 4 Tổng nh đầuthế kỉ XIX (riêng Tổng Kính Thợng đổi tên thành tổng Cung Thợng) Số xã,thôn, sở qua gần một thế kỉ đã tăng lên từ 118 lên 133 Có nhiều thôn xã từthời Gia Long đến thời Đồng Khánh đã thay đổi tên gọi, nhiều thôn xã ở thờiGia Long nhng không tìm thấy từ thời Đồng Khánh, nhiều thôn mới đã xuấthiện, bên cạnh một số thôn xã vì lý do nào mà không còn trong sổ địa bạ
Tổng Thủ Hộ có 28 xã, thôn, sở cụ thể.
- Xã Thủ Hộ: gồm các thôn Lu Hiền, Lê Xá, Triều công, Mậu Thịnh,
Đông Quang
- Xã Lơng Xá: gồm các thôn Trờng Tân, Bùi, Uy, Mỹ Lâm
- Xã An Đông: gồm các thôn Đới, An, Bào
- Xã Cam Biều: gồm các thôn Nga My, Linh lung, Mỹ Lộc
- Xã Thái Các: gồm các thôn Hà Đông, Tiên Trang
- xã Thạch Phơng: gồm các thôn Tố, Hà Nửu, Vĩ, Hộ
- Xã Phú Xá
- Xã Đa Lộc
Trang 23- X· V¨n L©m Th¸i: gåm c¸c th«n Duy TiÕu, Nh©n Tr¹ch.
- X· H¶i yÕn: gåm c¸c th«n V¨n X¸, Vò Gia, Phong HËu
- X· Lu VÖ: gåm c¸c th«n C©u §ång Néi, C©u §ång ngo¹i, V¹n Thu,Nh©n HËu, Phóc M·n, Phó §a §«ng, Thîng Thä, Nh©n Tr¹ch §oµi, Phó §a
Tæng Th¸i Lai cã 34 x·, th«n cô thÓ.
- X· Th¸i Lai: gåm c¸c th«n B¸i Trung, §a Léc, B¸i ThÞnh, ThanhTrung, Phô Lùc, §«ng
- X· Quang TiÒn: gåm c¸c th«n Phó §a, TiÒn §×nh,Trung, Xu©n Biªn,HËu VÖ
- X· Th¹ch Cõ: gåm c¸c th«n ¦íc néi, ¦íc Ngo¹i
- X· v¹n Linh: gåm c¸c th«n Nª Trung, HËu phong, Sªnh
- X· Ngu Ph¬ng: gåm c¸c th«n TiÒn, Hµ n÷u, hµ La, Trung
- X· V¨n Ph¬ng: gåm c¸c th«n Dô C«n, §a Cai, Ph¹m X¸
- X· Quan Ph¬ng: gåm c¸c th«n §¹i Léc, Nga Khª, §¹i Trung
- X· Oanh Cèc: gåm c¸c th«n Hµ Trung, Thµn Cèc
- X· Xu©n Lai: Th«n ¸ng
Trang 24- Xã Cung Thợng: gồm các thôn Hòa Chúng, An Khoái, Xuân, Điều.
- Xã Điền An: gồm các thôn Đông, An Lạc, Điền Hòa, Dịch
- Xã Yên Tĩnh: gồm có các thôn Trờng Thọ, Đà, Thịnh, Mai
- Xã Lơng Niệm: gồm thôn Sơn, Trung, Cá Lập, Hải
- Xã Lộc Hải gồm các thôn Bình Tân, Lộc Trung, Thanh Khê
- Xã Giặc Hạ: gồm các thôn Xuân Phơng, Hơng Xôi
- Xã Hng Lễ: gồm các thôn Nang, Tri Lễ
Thời Minh Mạng (1820 -1840) năm Minh Mạng thứ 2 (1821), Bộ Hộ đãtâu xin với nhà vua về việc sửa đổi tên các xã thôn ở một nơi “vì tên gọi cũ cácthôn, xã, Tổng các trấn còn có xen chữ âm (nôm) chửừ không đợc đẹp nên phảidùng tên đẹp để lu lại muôn đời ở huyện Quảng Xơng có một số thay đổi sau:
- Tổng Giặc Thợng đổi thành tổng Kính Thợng, xã Giặc Thợng đổithành xã Kính Thợng, thôn Đồn đổi thành thôn Hòa Chúng
- Tổng Thủ Hộ: thôn Ngọn đổi thành tên Mậu Hoa, xã Chàng Xá đổitên thành xã Lơng Xá, thôn Bân đổi tên thành thôn Trờng Tân, thôn Mã đổithành thôn Mỹ Lâm
- Tổng Lu Vệ: thôn Mãn Triều (của xã Lu Vệ) đổi thành thôn PhúcMãn, thôn Cồn Đồn đổi thành thôn Xuân Đồn, thôn Ngọn đổi thành thôn An
Thời Đồng Khánh (1886-1888) so với thời Gia Long có thay đổi:
- Một số thôn xã hoặc đã đổi tên khác mà các nguồn tài liệu cha cho tabiết cụ thể, hoặc vì lý do gì mà thời Đồng Khánh không còn nữa Có thể thống
Trang 25kê một số thôn xã ở thời Gia Long mà không có ở thời Đồng Khánh nh sau:Các thôn Thục Đông, Ngọc, Hoạch của tổng Thủ hộ; các thôn Phú Miếu,Trung của Tổng Thái Lai; các thôn Vạn, Kim Suy của Tổng Cung Thợng.
- Một số thôn xã mới xuất hiện ở thời Đồng Khánh: Tổng Thủ Hộ cócác thôn Mậu Thịnh, Đông Quang, An, Hộ và xã Mỹ Trạch; tổng Lu Vệ cóthôn Vệ An, An Biên, Phong Hậu, Phú Đa Đoài, Tổng Thái Lai có các thônPhụ Lực, Đông, Thanh Trung, Xuân Viên, Hậu Vệ, Đại Trung, Thần Cốc vàxã Hoành Cừ; Tổng Cung Thợng có các thôn Mai, Bình Tân, Thanh Khê, H-
ơng Xôi, Tri Lễ và Sở Du Vịnh
Sau Thời Đồng Khánh, tổng Văn Trinh và tổng Ngọc Đới thuộchuyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia đợc chuyển về phạm vi quản lý của huyệnQuảng Xơng Hai tổng này là đất của tổng Văn Trinh của thời Gia Long, đếnthời Minh Mạng thì đợc chia thành hai tổng
Tổng Văn trinh có 27 xã thôn cụ thể
- Xã Văn Trinh: gồm các thôn Đông, Đoài, Quần Ngọc, Yến Bắc,Ngọc Khê, Miếu Đa Cảm, Kỳ Vĩ, Cảm Giang, Trinh Xá, Tây Ngoại, Trào,Phơng Trì
Trang 26- Xã Bình Nậu.
Tên gọi một số đơn vị hành chính cấp thôn xã của tổng Văn Trinh vàNgọc Đới thời Gia Long đến thời Đồng Khánh cũng có một số thay đổi Cụthể theo ghi chú của các sách địa chí:
- Xã Đống Lờng (tổng Ngọc Đới) từ thời Minh Mạng về trớc là xã TôngLơng Năm 1841 kiêng chữ Tông, tên húy tự của vua Thiệu Trị nên đổi thành
Đống Lơng
- Thôn Đông Am (xã Hòa Trờng tổng Ngọc Đới) trớc đây là thôn ĐôngTriền Năm 1843 kiêng chữ Triền (đồng âm với Tuyền) tên húy của vua thiệuTrị nên đổi thành Đông Am
- Thôn Cửa Ngoài (xã Văn Trinh tổng Văn Trinh) vào năm Minh Mạngthứ hai (1820) đổi thành thôn Ngọc Khê
- Một số thôn xã đổi tên nh các thôn Nguyễn Xá Tây Ngoại đổi thànhTrinh Xá Tây Ngoại, xã Ngọc Bôi đổi thành xã Ngọc Lịch, thôn Ngọc Bôi đổithành thôn Ngọc Bồn, thôn Hội đổi thành thôn Nội
- Một số thôn mới xuất hiện từ thời Đồng Khánh nh tổng Văn Trinh cóthôn Phơng Trì và thôn Thổ Ngõa; tổng Ngọc Đới có thôn Xuân Bảng, thônLam Châu, thôn Bái Đại, Thôn Cát, thôn Chùa, thôn Phúc lãm, thôn PhúcChiêm Trung, xã Văn Giáo
- Một số thôn xã thời Gia Long nhng không thấy xuất hiện ở thời ĐồngKhánh nh tổng Văn Trinh có các thôn Lu, thôn Bái Lực, thôn Tự, thôn PhúcChiêm, xã Văn Triền
Sau thời Đồng Khánh cho đến trớc 1945, huyện Quảng Xơng đợc chiathành 7 tổng; Thủ Chính, Lu Thanh, Vệ Yên, Cung Thợng, Thái Lai,VănTrinh, Ngọc Đới Ba tổng mới là Thủ Chính, Lu Thanh, Vệ Yên Tổng ThủChính là tổng thủ hộ đổi tên mà thành Tổng Lu Vệ về sau chia làm hai tổng
Vệ Yên và Lu Thanh
Về đơn vị cấp xã thôn (làng) thì xuất hiện một số làng mới, một số làng
cũ không còn do nhập vào làng khác lân cận hoặc c dân chuyển đến một địa
điểm mới [51;122]
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nớc Việt Nam Dân chủCộng hòa ra đời Tháng 11/1945, năm cán bộ Việt Minh họp ở nhà NguyễnCông Hán ở Làng Sênh (Quảng Nhân) nghiên cứu điều lệ Đảng Cộng sản ViệtNam Sáng ngày 26/2/1946 đồng chí Ngô Đức Thờng vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa
Trang 27làm lễ kết nạp 3 đảng viên tại nhà Lê Quang Diệu, làng Hòa Chúng (QuảngThọ) Vũ Thanh Long, Hà Văn tuyên và Lê Quang Liệu cử Lê Quang Diệu làm
bí th đồng chí Ngô Đức Tuyên bố thành lập chi bộ đầu tiên ở Quảng Xơng vàcoự trách nhiệm chức năng nh một Huyện ủy lâm thời Sau cuộc tổng tuyển cửcả nớc tháng 7/1946 huyện Quảng Xơng thành lập Uyỷ ban hành chính thaycho Uyỷ ban nhân dân lâm thời cấp trên chỉ định ủồng chí Phạm Tiến Nănglàm chủ tịch, ủoàng chớ Nguyễn Thế Đạt laứm phó chủ tịch và ủoàng chớ ủoàngchớ Cao Xuân Dy làm th kí, các bộ phận chuyên môn của huyện cũng đợc sắpgọn lại ủaày đủ vaứ hụùp lyự hơn giúp huyện cải tiến cách tổ chức làm việc chophù hợp với tình hình mới
Sau cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp vào nửa đaàunăm 1946, các đơn vị hành chính cấp Phủ và cấp Tổng bị xóa bỏ huyệnQuảng Xơng thành lập 39 xã: Duy Tân, Xứ Nhu, Ngô Quyền, Chiêu Văn,Trần Quốc Toản, Nguyễn Thái Học, Đề Tám, Cao Tháng, Tán Thuật, ViệtHùng, An Ninh, Quang Phục, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Tống DuyTân, Trần Hng Đạo, Hoa L, Lý Thờng Kiệt, Lê Lội, Tây Hồ, Sào Nam, PhạmHồng Thái, Bạch Đằng, Nguyễn Trãi, Diên Hồng, Lãnh Phiên, Lê Viêm,Trịnh Huệ, Hoàng Ngũ Phúc, Đức Mậu
Đến tháng 4/1948, từ 39 xã sáp nhập thành 17 xã lớn lấy từ “Quảng”làm đầu nh Quảng Thaộng, Quảng Định, Quảng Hải Trong những năm 1953 -
1954, 17 xã lớn giải thể để thành lập 47 xã mới:
- Xã Quảng Thắng chia thành hai xã: Quảng Thắng, Quảng Thịnh
- Xã Quảng Tân chia thành hai xã: Quảng Tân, Quảng Trạch
- Xã Quảng Yên giữ nguyên
- Xã Quảng Hòa chia thành hai xã Quảng Hòa, Quảng Hợp
- Xã Quảng Văn chia thành hai xã Quảng Văn, Quảng Long
- Xã Quảng Đức chia làm hai xã Quảng Đức, Quảng Phong
- Xã Quảng Ninh chia làm hai xã Quảng Ninh, Quảng Bình
- Xã Quảng Phúc chia làm hai xã Quảng Phúc, Quảng Vọng
- Xã Quảng Ngọc chia làm hai xã Quảng Ngọc và Quảng Trờng
Trang 28- Xã Quảng Chính chia làm 5 xã Quảng Chính, Quảng Khê, QuảngTrung, Quảng Trạch, Quảng Nham.
- Xã Quảng Hng chia thành hai xã Quảng Hng, Quảng Phú
- Xã Quảng Định chia làm ba xã Quảng Định, Quảng Đông, Quảng Thành
- Xã Quảng Cát chia làm ba xã Quảng Cát, Quảng Minh, Quảng Tâm
- Xã Quảng Châu chia làm ba xã Quảng Châu, Quảng Thọ, Quảng VinhXã Quảng Hải chia làm năm xã Quảng Hải, Quảng Hùng, Quảng Nhân,Quảng Giao, Quảng Đại
- Xã Quảng Lộc chia thành năm xã Quảng Lộc, Quảng Thái, Quảng Lu,Quảng Lĩnh, Quảng Lợi
- Quảng Tiến chia làm bốn xã Quảng Tiến, Quảng Tờng, Quảng C,Quảng Sơn [51;84]
Diện tích tự nhiên của huyện lúc này là 260km2 với bờ biển dài 27 km[2;58] Nh vậy từ tháng 9/1945 đến tháng 7/1954, khi cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp xâm lợc của dân tộc giành tháng lợi, địa giới hành chính củahuyện Quảng xơng có những thay đổi nhất định Hầu hết các cơ sở hạ tầngcủa huyện gần nh bị triệt phá hoàn toàn Những thay đổi của ủy ban hànhchính kháng chiến Thanh Hóa không xuất phát từ yêu cầu xây dựng và pháttriển kinh tế mà chủ yếu là đáp ứng nhu cầu bức thiết cho cuộc kháng chiếnchống Pháp về mặt an ninh quốc phòng Trên thực tế ở địa bàn Quảng Xơngthời điểm này không có một cơ sở công nghiệp nào hoạt động Một diện tíchlớn đất nông nghiệp bỏ hoang hệ thống cầu cống bị đánh sập, sản xuất nôngnghiệp không có nớc tới Là huyện ven biển, trong chiến tranh mặt biển bịphong tỏa, vây ráp bắt bớ, cớp phá thuyền ghe của c dân Năm 1954 cả 15 xãchỉ còn không đầy 200 bè mảng trong tình trạng rệu rã [51;210] Đó là hậuquả mà thực dân Pháp để lại cho nhân dân Quảng Xơng đã gây không ít khókhăn cho đời sống của nhân dân cũng nh xây dựng phát triển kinh tế xã hộicủa địa phơng
Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi cùng với cả
n-ớc, nhân dân Quảng Xơng vui mừng phấn khởi bớc vào giai đoạn mới Về cơbản, địa giới Quảng Xơng có sự thay đổi không lớn.Tính đến năm 1961 thìhuyện Quảng Xơng có dieọn tớch 260 km2 có 27 km bờ biển cụ thể nh sau: Đấtcanh tác 41.470 mẫu 9 sào, diện tích canh tác: 36.637 mẫu (nhng diện tíchcanh tác hiện tại là 31.704 mẫu) ao hồ, đầm phá: 387 mẫu 6 sào, đất trồng cây
Trang 29lu niên: 763 mẫu 5 sào, đất bãi bồi ven song là 678 mẫu 7 sào, đất tha ma là
491 mẫu 1 sào, đất ở 2641 mẫu 8 sào, đất làm đê, thủy lợi: 209 mẫu 6 sào, đấthoang: 643 mẫu 5 sào [47; 12]
Cuứng vụựi nhaõn daõn Thanh Hoa,ự nhân dân Quảng Xơng bắt tay vàocông cuộc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện nghĩa vụ hậuphơng lớn đối với cuộc kháng chiến chống Mĩ của miền Nam Để đáp ứngyêu cầu của công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của miền Bắc và cuộckháng chiến chống đế quốc Mĩ xâm lợc ngày 19/4/1963, Hội đồng Chínhphủ ra quyết định số 50/CP thành lập thị trấn Sầm Sơn và đặt Sầm Sơn trựcthuộc tỉnh Thanh Hóa bao gồm khu nghỉ mát Sầm Sơn và xã Quảng Sơn.(gồm 3 tiểu khu; Ngọc Sơn, Tân thành, Công Lập) các xã còn lại thuộc
Quảng Xơng Lúc này diện tích của huyện Quảng Xơng chỉ còn lại 230 km2
với 45 xã và dân số là 151.393 ngời Phía Đông Quaỷng Xửụng giáp thị trấnSầm Sơn, Phía Tây giáp thị xã Thanh Hóa, phía Nam giáp huyện Tĩnh Gia,phía Bắc giáp huyện Hoằng Hóa Sự thay ủổi về địa giới của Quảng Xơngtrong thời kì này vừa là cơ hội, vửứa laứ thách thức cho nhân dân Quảng Xơng.Mặc dù gặp phaỷi những khó khăn nhất định khi địa giới hành chính bị thuhẹp lại, dân số giảm đi, xong nhân dân Quảng Xơng đã nổ lực phấn đấu hoànthành thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội mà Đại hội Đảng bộ huyện lầnthứ VI đề ra
Những thành tựu ban đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội củahuyện Quảng Xơng sẽ là những chuẩn bị tích cực cho cuộc đấu tranh chiến
đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc cuỷa ủeỏ quoỏc Mú và góp phần đấutranh thống nhất nớc nhà
1.3 Sự thay đổi về cơ cấu dân c ụỷ huyện Quảng Xơng từ năm 1945 đến năm 1963
Sau cách mạng Tháng Tám 1945, Quảng Xơng có diện tích là 260 km2
dân số là hơn 10 vạn dân Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lợc nớc ta cuộckháng chiến toàn quốc bùng nổ, để chống lại âm mu Phaựp đổ bộ vào cácthành phố lớn ủeồ từ đó tấn công ta từ nhiều hớng, thì ngày 6/2/1947 Chủ tịch
Trang 30Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “tiêu thổ kháng chiến” thực hiện lụứi keõu goùi củaBác Huyện ủy và các cấp chính quyền nhân dân trong huyện đã phá sập nhàcửa ở thị trấn Sầm Sơn, Hải thôn, đào đờng, đắp ụ trên các tuyến đờng quốc lộ1A và quốc lộ 47 tỉnh lộ 37 để cản bớc tiến của địch và hạn chế việc sử dụngcơ sở vật chất thực hiện mu đồ của chúng Huyện đã lập phơng án sẵn sàng
đối phó khi địch tấn công, nhân dân trong huyện chủ động đối phó với với mọitình huống xảy ra, triệt để thực hiện vờn không nhà trống, tổ chức sơ tán, phântán để bảo vệ tính mạng và tài sản nhaõn daõn Đồng bào ở nơi bị giặc chiếm
đóng tản c đến Quảng Xơng đợc nhân dân trong huyện đón tiếp chu đáo tạo
điều kiện làm ăn, đất đai để ổn định cuộc sống điều này cũng tác động đếndân c của huyện trong giai đoạn này thành phần dân c trong huyện lúc nàycũng đủ thành phần từ địa chủ, phú nông trung nông bần nông, tiểu t sản, tsản Theo thống kê thì giai đoạn này dân số đông hơn giai đoạn đầu của cuộckháng chiến 3000 ngời chủ yếu là ở tỉnh Ninh Bình Tình hình trật tự an toànxã hội trên địa bàn tơng đối ổn định
Tuy nhiên khi chiến lợc đánh nhanh thắng nhanh thất bại Pháp chuyểnsang đánh lâu dài với ta thực hiện chiến lợc “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”
từ năm 1950 đến 1954 trên địa bàn Quảng Xơng thực dân Pháp đổ quân cànquét đổ quân càn quét vaứ tập trung bắn phá vào khu vực Sầm Sơn, QuảngChính, Quảng Nham, Quảng Trạch trên tuyến biển ca nô, tàu giặc thờngxuyên hoạt động vây bắt tàu thuyền đánh cá của ng dân trên biển Thời giannày c dân Quảng Xơng lại tiếp tục tản c sang một số huyện laõn caọn, chính vìvậy dân số của huyện trong giai đoạn này ít hơn giai đoạn trớc
Theo thống kê đeỏn giữa năm 1954, dân c của huyện Quaỷng Xửụng tănglên 134.263 nhân khẩu [2;24] Điều đó cho thấy, trong giai đoạn đầu khi cuộckháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, tình hình dân c trên địa bàn huyện
có sự thay đổi theo chiều hớng tăng lên khá nhanh Điều đó đã tác động khôngnhỏ đến đời sống xã hội của nhân dân trong huyện Hoạt động kinh tế chủ yếucủa huyện là sản xuất nông nghiệp Trong giai đoạn tản c, do thiếu nhân lựcnên hoạt động sản xuất bị đình đốn, đến đầu năm 1954, c dân tăng lên cùngvới những chính sách khuyến khích của Tỉnh làm cho hoạt động sản xuất của
Trang 31huyện đạt đợc kết quả quan trọng không chỉ đảm bảo ủuỷ lơng thực thực phẩmcho nhân dân trong tổnh mà còn góp phần nuôi quân và ủng hộ đồng bào cáctỉnh bị thiên tai lũ lụt nh ủng hộ đồng bào Bình- Trị- Thiên.
Bên cạnh hoạt động nông nghiệp huyện vẫn duy trì đợc các nghề truyeànthoỏng nghề khai thác cá đợc Huyện ủy và UBHC huyện quan tâm, đa nhiềucán bộ có chuyên môn về giúp đỡ địa phơng Sau 3 năm, nghề cá ở Quảng X-
ơng đã có đợc 70 thuyền đi khơi, xã Quảng Tiến đã có cơ sở đóng thuyền.Nghề lộng đợc khôi phục nhanh hơn sản lợng cá ngày càng taờng lên có năm
đạt 6000 tấn Nghề làm muối ở hai xã Quảng Chính và Quảng Trạch đợc ngânhàng cho vay vốn Ô nại đợc tu sửa sản lợng muối hàng năm đạt 1000taỏn /năm [2;36]
Các làng nghề, với nhiều nghề truyền thống đợc khuyến khích mởrộng Đồng cói ven sông Lý, sông Yên thuộc các xã Phúc, Vọng, Ngọc,Trờng đợc khôi phục Nghề dệt chiếu từ đó ngày một phát triển cùng vớichiếu Nga Sơn, chiếu Quảng Xơng đã sớm có mặt treõn thũ trửụứng tổnhThanh
Hoạt động thơng mại buôn bán trên địa bàn coứn tha thớt, do hệ thốngchợ còn ít moọt phần vì đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, phần khácphải tránh thờng xuyên những trận bom đạn
Hoạt động giao thông vận tải trong huyện cũng nh giữa huyện với cáchuyện khác trong tỉnh gặp không ít khó khăn do hệ thống đờng bộ bị tháo dỡthực hiện tiêu thổ kháng chiến, phần vì do bom đạn của kẻ thù
Công tác giáo dục, y tế, an ninh - quốc phòng cũng đợc các cấp chínhquyền quan tâm Tuy nhiên tình hình chung trong toàn huyện còn khó khănnên kết quả thu đợc vẫn còn hạn chế
Việc thay đổi địa giới hành chính của huyện kéo theo sự thay đổi dân ccủa huyện trong giai đoạn 1945 -1963 Mặt khác do chủ trơng hồi c cuỷa Nhaứnửụực, kêu gọi những ngời tản c trong kháng chiến quay về quê cũ làm ăn sinhsống Sau nhiều năm xa quê tản c kháng chiến, đóng góp sức ngời sức của chochiến trờng cùng cả nớc đánh lại thực dân Pháp xâm lợc, nay hòa bình lập lại
Trang 32nhân dân trở về quê hơng làm ăn sinh sống Theo chỉ đạo của ban phục hồihuyện nhân dân tự sắp xếp nơi ăn chốn ở cho mình, trớc kia ở đâu nay ở đó.
Đặc biệt sau năm 1954 tại cửa Hới, từ ngày 15/10/1954 đến ngày 1/5/1955diễn ra sự kiện đón tiếp bộ đội, cán bộ và đồng bào miền am ra Bắc tập kếttheo Hiệp định Giơ-ne-vơ Đảng bộ và nhân dân trong Tỉnh trực tiếp đón79.996 lợt ngời trong đó có 2.631 học sinh ở lại học tập an dỡng tại Quảng X-
ơng sau khi chuyển tiếp ra các tỉnh phía Bắc Số học sinh đợc đón về các xã:Quảng Châu, Quảng Giao, Quảng Hải, Quảng Đại, Quảng Lu, Quảng Đức,Quảng Phong và Quảng Ngọc cuộc sống của nhân dân trong huyện dần đi vào
1963 huyện Quảng Xơng đang trở thành một huyện điển hình trong tỉnh Cáccơ sở kinh tế - xã hội của Quảng Xơng đợc khôi phục, xây dựng mới và đi vàohoạt động: các công trình giao thông thủy lợi đợc triển khai rộng khắp phục
vụ đầy đủ cho sản xuất nông nghiệp, các hợp tác xã nông nghiệp bậc cao đạtnăng suất ngày càng cao Nghề khai thác thủy sản, làm muối đạt và vợt kếhoạch, Quảng Xơng có 5 tập đoàn cá ở Quảng Tiến và Quảng Nham đợc ủyban hành chính Tỉnh cấp bằng khen Sự nghiệp giáo dục có tiến bộ mới toànhuyện có 47 trờng cấp I, cấp II gồm 260 lớp học và 9.232 học sinh Về y tếnổi bật là phong trào vệ sinh phòng bệnh thi đua học tập quảng Châu, có
37/47 xã đợc cấp ban phòng bệnh, có 34 tổ Đông y [51;354].
Trải qua hai thập kỷ cùng với những biến đổi về tình hình chính trị kinh tế - văn hóa - xã hội, vaỏn đề địa giới hành chính và dân c huyện QuaỷngXửụng có những thay đổi tùy theo điều kiện lịch sử của từng thời kì, từng giai
-đoạn mà điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu phát triển của huyện, tỉnh và cảnớc nói chung Từ những ngày đầu sau khi cách mạng tháng Tám thành côngthành lập Uyỷ ban hành chính huyện Quảng Xơng với diện tích là 260km2 dân
số trên10 vạn ngời cho đến ngày 19/4/1963 Hội đồng Chính phủ ra quyết định
số 50 CP thành lập thị trấn Sầm Sơn trực thuộc tỉnh Thanh Hóa gồm khu nghỉ
Trang 33mát Sầm Sơn và xã Quảng Sơn Có thể nói đến thời điểm này dân số và địagiới hành chính trong huyện đã có sự thay đổi quan trọng địa giới của huyệnthu hẹp lại, dân số giảm bớt đi điều đó đồng thời vừa là thách thức đối với
Đảng bộ và nhân dân Quảng Xơng
Trang 34Tháng 3/1965, Hội nghị Ban chấp hành Trung ửụng Đảng lần thứ XI raNghị quyết “Tiếp tục xây dựng miền Bắc, kết hợp chặt chẽ với khôi phục kinh
tế và tăng cờng quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắng cuộcchiến tranh phá hoại phong tỏa bằng không quân và hải quân của địch, chuẩn
bị sẵn sàng đánh bại địch trong trờng hợp chúng thua cuộc Mỗi vùng có thể
tự đảm bảo đợc một phần nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, sinh hoạt, học hànhchuyển hớng công tác t tởng tổ chức, bảo đảm yêu cầu vừa sản xuất vừa chiến
đấu” [51;431]
Thanh Hóa nói chung Quảng Xơng nói riêng là vùng chiến lợc quantrọng nên ngay từ đaàu đã trở thành mục tiêu đánh phá mang tính chiến lợccủa Mĩ Địa bàn Quảng Xơng, vùng phụ cận của thị xã Thanh Hóa (nay làThành phố Thanh Hóa) không xa cách mấy Hàm Rồng, phía Đông có 24kmgiáp biển, nằm gọn trong tọa độ mà các nhà chiến lợc Hòa Kì gọi là “cánxoong” trên tuyến giao thông huyết mạch Bắc - Nam dải đất Quảng Xơngkhông thể tránh khỏi những trận quyết chiến trong cuộc đụng đầu lịch sử này
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ửụng lần thứ XI (khóa III) thựchiện Chỉ thị của Tỉnh ủy Thanh Hóa, huyện ủy đã triển khai đợt chỉnh huấnmùa xuân nhằm làm thông suốt t tởng nhận thức trong cán bộ, Đảng viên vềtình hình mới, nhiệm vụ mới, khắc phục những biểu hiện mơ hồ mất cảnh
Trang 35giác, ngại gian khổ hy sinh, khơi dậy lòng căm thù dịch, thấm nhuần lời dạycủa Bác Huyện ủy đã cụ thể hóa thành những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tranh thủ thời gian, mở rộng diện tích gieo trồng áp dụng những biệnpháp thâm canh tăng năng suất đáp ứng cho đời sống của dân trong tỉnh vàcòn làm nghĩa vụ ngày một nhiều cho Nhà nớc Trong bất kì tình huống nàocũng phải cung cấp đủ lơng thực
- Tổ chức quản lí chỉ đạo lao động cho phù hợp với thời chiến, thực hiệnkhoán nhóm, khoán đến ngời lao động trên các lĩnh vực kinh tế của địa phơng
- Mở rộng địa bàn hoạt động của mậu dịch quốc doanh và các hợp tác xãmua bán cơ sở nhằm phục vụ tốt hơn cho sản xuất cho đời sống và chiến đấu
Chấp hành nghiêm chỉnh tinh thần chỉ đạo của Tỉnh ủy, huyện ủy,chính quyền nhân dân thực hiện nghiêm túc bằng việc cử cán bộ veà địa bàncác xã để phối hợp với các lực lợng ở địa phơng, không ngừng củng cố hầmhào, sơ tán cụ già, trẻ em đi các vùng tản c
Thực hiện Quyết định của UBHC tỉnh tháng 3/1964, veà vieọc thành lập
hệ thống phòng không nhân dân, Quảng Xơng là một trong những huyệntrọng điểm Thực hiện triệt để công tác phòng không nhân dân, từ nửa saunhững năm 1965 các cơ quan xí nghiệp trờng hoc, bệnh viện, kho tàng sơtán vào vùng an toàn Xí nghiệp đóng thuyền Tân Châu đóng ở xaừ QuảngNham chuyển về thôn Phụ Lực (Quảng Phong) và xaừ Quảng Trờng Xí nghiệpnớc mắm Thanh Hơng chuyển về Làng Sòng (Quảng Long), xí nghiệp nông
cụ chuyển từ Đồng Vang (Quảng Bình) về xaừ Quảng Ninh Bệnh viện huyệnchuyển từ xaừ Quảng Tân ra xaừ Quảng Thịnh Các cửa hàng lơng thực, cửahàng bách hóa phân tán về các cửa hàng khu vực hoặc mợn nhà dân, kho hợptác xã là nơi tập kết hàng hóa Trên địa bàn toàn huyện thiết lập đợc 176 trạmgác phòng không [51;219], nhiệm vụ báo động từ xa khi có máy bay xuấthiện Việc xây dựng hầm hào phòng tránh, công sự chiến đấu đợc tiến hànhmột cách khẩn trơng Toàn huyện đã đào đợc 220 km hào, 30.000 hố cá nhân,
đắp 112.000 hầm chữ H Đội ngũ dân quân tự vệ đợc tăng cờng cả về số lợng
và chất lợng Đảng bộ đã tăng cờng 2.873 đảng viên vào lực lợng tự vệ vàcông an đa tỷ lệ lực lợng dân quân tự vệ đạt 14% dân số Dân quân đợc trang
bị vũ khí, thờng xuyên huấn luyện và tham gia các cuộc diễn tập, hợp đồng tác
Trang 36chiến Tháng 9/1964, tỉnh ra quyết định thành lập các đội pháo binh, dân quân
ụỷ các huyện ven biển, trong đó có Quảng Xơng ễÛ các vị trí trọng điểm đợctrang bị thêm vũ khí hạng nặng (pháo 85) để phòng thủ mặt biển, dân quân tự
vệ các xã trọng điểm đợc trang bị súng trờng, tiểu liên và trung liên
Ngày 15/3/1965 tàu chiến Mĩ từ ngoài khơi pháo kích vào Tĩnh Gia,ngày 16/3/1965 máy bay địch xâm phạm bầu trời Thanh Hóa Ngày 3,4/4/
1965 cùng với cầu Hàm Rồng, bến Ghép qua sông Yên trên tuyến quốc lộ 1Agiáp ranh hai huyện Túnh Gia và Quảng Xơng là nút giao thông quan trọng đãtrở thành trọng điểm đánh phá của địch Do chủ động nắm bắt tình hình, côngtác chuẩn bị cuỷa nhaõn daõn raỏt chu đáo Đúng 8 giờ 30 ngày 4/4/1965, Mĩ némbom bắn phá cầu Ghép lực lợng vũ trang Quảng Xơng phối hợp với huyệnTĩnh Gia và tiểu đoàn 234 cao xạ chiến đấu bắn rơi 5 máy bay địch, đặc biệt
là Đảng bộ và nhân dân địa phơng hai xã Quảng Trung, Quảng Chính đã tổchức chiến đấu bảo vệ phà bảo đảm giao thông khi chiến sự diễn ra Có chi bộ
nh chi bộ xóm Nhân (xã Quảng Trung) tất cả 15 đồng chí Đảng viên đều cómật tại trận địa Em Nguyễn Bá Ngọc (Quảng Trung) đã dũng cảm băng qualàn bom đạn, hy sinh thân mình che chở cho các em nhỏ Sáng ngày 4/4/1965,
Mĩ ném bom đạn xuống làng Ngọc đã xuống hầm nhng khi nghe tiếng kêucứu của các em nhỏ nhà bên cạnh, Ngọc lao lên khỏi hầm bế một em nhỏ 6tuổi về hầm nhà mình, sau đó quay lại bế một em 2 tuổi rồi ghé vai cõng 1 em
bé 9 tuổi xuống hầm Ngọc bị thơng sau đó hy sinh khi mới 14 tuổi Tấm
g-ơng hy sinh quên mình cứu bạn của em Nguyễn Bá Ngọc đã nêu cao tấm gg-ơngsáng cho thiếu nhi cả nớc học tập noi theo Hình ảnh của em đã trở thành bài
ca đợc các bạn thiếu nhi hát vang trớc mỗi kì sinh hoạt ẹoọi
Chiến tranh ngày càng diễn ra ác liệt Trong năm 1965, trên vùng trờiQuảng Xơng, Mĩ đã cho 885 lần tốp máy bay xâm nhập ban ngày, 175 lần tốpmáy bay xâm nhập ban đêm, đánh phá 124 trận, trút xuống 4.819 quả bom cácloại và 130 quả rốc két riêng khu vực Phà Ghép là 42 trận, tính đến 12/1965 phàGhép bị đánh 220 lần ngoài khơi tàu chiến, tàu biệt kích ráo riết phong tỏa mặtbiển, lùng bắt ng dân, cớp phá thuyền nghề hòng triệt phá con đờng làm ăn củahàng vạn ng dân Hạm đội 7 đã naừ vào đất liền cả ngày lẫn đêm năm 1966chúng naừ 9.510 quả, năm 1967 naừ 14.000 quả Từ năm 1966 đến 1986 số bom
Trang 37đạn Mĩ dội xuống gấp 4 lần năm 1965 [51;220] Hầu hết các xã trong huyện
đều bị đánh phá nhiều xóm làng gần nh bị triệt phá Làng Ngọc Trà (QuảngTrung) không còn mấy nóc nhà nguyên vẹn Tháng 2/1966 địch ném bom vàoPhú Thọ (Quảng Tân) giết chết 6 ngời Ngày 6/1/1967, địch ném bom vào cốngnớc mặn Sông Đơ (Quảng Vinh) làm cửa cống bị phá hủy, kênh bị vỡ nhiều
đoạn Ngày 4/5/1967 địch ném bom và pháo lớn từ biển vào Quảng Châu làm
52 ngời chết, 199 ngời bị thơng, tàn phá 410 nóc nhà và toàn bộ hệ thống trờnghọc Khu điều dỡng ở ngã ba Môi (Quảng Tâm) bị ném bom, 38 bệnh nhân bịbom Mĩ giết chết Nhà thờ ở xóm Vọng Thảo (Quảng Vọng) cũng bị máy baydội bom làm 3 giáo dân bị chết [51;384] Trong những năm đọ sức chiến đấuvới quân thù quân và dân huyện Quảng Xơng đã kiên cờng chiến đấu và giành
đợc những thắng lợi to lớn:
Ngày 31/5/1965, một máy bay F105 bị bộ đội Hàm Rồng bắn rơi cháyxuống Quảng Ngọc, đồng chí Hoàng Văn Trúc và xã đội trởng Văn Chứ tự vệQuảng Xơng bắt sống giặc láI, tớc vũ khí thu điện đài Ngày 6/2/1965 quândân hai xã Quảng Hải, Quảng Vinh phối hợp bắn cháy máy bay A4D Ngày6/9/1965, nhân dân xã Quảng Yên đã bắn rơi 1 máy bay A4D, trong 4ngày:10,12,19 và 21/4/1967, dân quân xã Quảng Nham phối hợp với Trung
đoàn 57 và nhân dân đảo Nghi Sơn bắn cháy 4 máy bay Mĩ Ngày 14/5/1967quân dân xã Quảng Hùng bắt sống giặc lái trên địa bàn xã khi máy bay củachúng bị bộ đội Hàm Rồng bắn rơi [51;221]
Từ năm 1966, hoạt động của hải quân Mĩ Ngụy trên vùng biển QuảngXơng ngày càng thửụứng xuyên hơn Chúng vừa gây khó khăn, vừa hạn chế sự
đi lại làm ăn, đánh cá trên biển của ng dân, vừa ngăn chặn hoạt động của tatrên biển Có lần tàu biệt kích địch vào chỉ cách đất lieàn 3, 4km để vây bắt ngdân nhằm khai thác tin tức Dân quân xã Quảng Tờng đã ủeà ra phơng án tổchức đội cảm tử đánh tàu địch ngoài khơi, đợc tỉnh và huyện đồng ý cho đánh.Sau khi lập phơng án, đội thuyền cảm tử gồm 10 đội viên và 2 tàu đánh cá dới
sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Viết Xớng Qua 10 ngày đêm lênh đênh trênbiển, đêm ngày 9/4/1966, một thuyền của ta gồm 6 chiến sỹ bị tàu địch áp sát.Các chiến sỹ đã dùng bộc phá và tiểu liên bất ngờ tấn công đánh chìm tàu
địch Đợc sự chi viện của pháo binh mặt đất và thuyền ứng cứu, 6 chiến sỹcảm tử trở về đất liền an toàn Từ sau trận này địch phải ngừng hoạt động một
Trang 38thời gian không giám cho taứu vào gần đất liền và ít hoạt động vào ban đêm[2;184].
Là địa bàn quan trọng trên tuyến giao thông chiến lợc Bắc - Nam trongthời gian 3 năm rỡi (4/4/1965 - 1/11/1968) Quảng Xơng là một trong nhữnghuyện bị đánh phá ác liệt nhất Giặc Mĩ sử dụng 10.782 lần tốp máy bay tuầntra, đánh phá vào Quảng Xơng 1.200 trận, ném xuống gần 5 vạn tấn bom Từngoài khơi tàu biển Mĩ 584 lần xâm phạm mặt biển, bắn phá gần 60 trận, dộivào đất liền 8000 phát đại bác [2;187] Một số vùng dân c bị đánh bom cótính chất hủy diệt, hàng trăm dân thờng bị giết hại Đi đôi với nhiệm vụ chiến
đấu và phục vụ chiến đấu công tác đảm bảo an toàn cho nhân dân cũng đợctriển khai tổ chức cho nhân dân đi sơ tán xuống những vùng không có chiến
sự nhân dân Quảng Xơng còn đẩy mạnh sản xuất nhằm đảm bảo đời sống củanhân dân và phục vụ cho tuyền tuyến
Trong giai đoạn Mĩ tạm ngừng ném bom bắn phá Miền Bắc (1969 1971), Quảng Xơng đã tranh thủ thời gian hòa bình, để khắc phục hậu quảchiến tranh, phát triển sản xuất và ổn định đời sống của nhân dân Nhiệm vụtrớc mắt của huyện là: Rà phá bom đạn còn sót lại, khai hoang phục hóa để
-mở rộng diện tích gieo trồng, khôi phục hệ thống thủy lợi và giao thông, cũng
cố hợp tác xã nông nghiệp và ng nghiệp Các cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
đợc quan tâm xây dựng Nhiều hợp tác xã mua thêm máy phát điện, máy bơmnớc, máy xay xát gạo, máy tuốt lúa Diện tích cây lơng thực toàn huyện hằngnăm là 25.000 - 26.000 ha Sản lợng lơng thực trong huyện trong các năm liêntục dẫn đầu toàn tỉnh Năm 1969 đạt 45.818 tấn, năm 1970 đạt 47.303 tấn,năm 1971 là 48.958 tấn Diện tích cói ngày càng tăng, năm 1971 đã trồng đợc
3 triệu cây các nghành nghề khác cũng đợc chú trọng khôi phục Các hoạt
động tài chính thơng nghiệp, giáo dục y tế đợc cũng cố phục vụ nhân dân mộtcách bình thờng trong thời kì hòa hoãn tạm thời, là điều kiện quan trọng đểhuyện chủ động sẳn sàng khi đế quốc Mĩ tấn công miền Bắc lần thứ hai[51;384]
Trong lúc toàn huyện đang khẩn trơng khôi phục mọi mặt đời sốngkinh tế - xã hội, thì ngày 26/12/1971, máy bay Mĩ bất ngờ dội bom vào bệnhviện đa khoa tỉnh vào khu giáp ranh Quảng Tân, Quảng Trạch Tiếp đó trongsuốt một năm, trên địa bàn Quảng Xơng hầu nh rất ít ngày không có bompháo của địch.Tính cả trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, nhiều xã
Trang 39trong huyện bị đánh phá dữ dội, nhất là các xã gần khu vực bến phà Ghép vàvùng ven biển Ngày 6/4/1972, máy bay Mĩ ném bom vào phố chợ Hôm vànả pháo kích vào xã Cổ Hậu (Quảng Tân) giết chết 10 ngời, ngày 15/5/1972ném bom vào làng Tức Thanh (Quảng Thành) giết hại 14 ngời dân và làmcho 60 ngời bị thơng, ngày 28/9/1972 ném bom vào xóm Đông Việt (Quảng
Đông) làm chết 8 ngời và bị thơng 62 ngời Tính chung trong toàn huyện có
195 ngời chết 461 ngời bị thơng Nhiều trọng điểm giao thông bị đánh phánhiều lần nh phà Ghép, đờng đi từ bến phà Ngọc Trà (Quảng Trung), cầucống Trúc, cầu cảnh, cầu Bình Hòa, cống Sông Đơ Từ tháng 4/1972, địchvừa ném bom vừa thả ng lôi và bom nổ chậm xuống khu vực Cửa Hới, cửaGhép, sông Yên để phá hoại tuyến vận chuyển đờng sông của ta [51;459]
Đảng bộ và nhân dân Quảng Xơng đã vận dụng kinh nghiệm của nhữngnăm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất để nhanh chóng chuyển mọi hoạt
động sang thời chiến Công tác phòng không nhân dân (đào hầm giao thông,sơ tán, cứu thơng, cứu hỏa) đợc khẩn trơng triển khai Chỉ trong vòng thời gianngắn Quảng Xơng đã làm đợc 43.000 hầm chữ A, cũng cố 60 km hào giao
thông [51;460] Nhờ chủ động đối phó với tình hình, mọi hoạt động vẫn đảm
bảo liên tục Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII đợc triệu tập vào tháng4/19972 lại phải chuyển hớng sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhiệm vụ chiến đấubảo vệ hậu phơng, chi viện cho miền Nam ruột thịt lại noồi lên nóng bỏng Đạihội phải chuyển địa điểm hai lần để tránh bom đạn Đại hội đã có những quyết
định khi có tình hình đột xuất xảy ra: “Tất cả vì sự nghiệp bảo vệ miền Bắc xãhội chủ nghĩa - Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nớc” làkhẩu hiệu hành động lúc này Đó là t tởng chủ đạo của ẹại hội trong quá trìnhbàn định nhiệm vụ chính trị nhiệm kì Đại hội lần thứ XII Theo tinh thần đóquân và dân trong huyện đã ngày đêm lao động sản xuất, chiến đấu góp phần
đánh thắng giặc Mĩ xâm lợc, đa huyện nhà bớc vào thời kì khắc phục hậu quảcủa chiến tranh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nớc Suoỏtchiều dài lịch sử cùng với những biến động to của lịch sử, huyện đã có nhữngchính sách chủ trơng điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với đòi hỏi của lịchsử
Đầu năm 1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chieỏn tranh lập lại hòabình ở Việt Nam đợc kí kết, nhân dân miền Bắc bớc vào giai đoạn khôi phục
Trang 40và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tiếp tục làm tròn nhiệm vụ hậu phơng
đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam Nhân dân Quảng Xơng bắt tay ngayvào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh phá hoại lần 2 của Mĩ Ngày30/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, sự nghiệp chống Mĩ cứu nớcgiành thắng lợi hoàn toàn Trong chiến công đó, Đảng bộ và nhân dân QuảngXơng hết sức tự hào vì đã có những đóng góp to lớn về sức ngời sức của cho
sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nớc Chỉ riêng nửa đầu năm 1975, trongchiến dịch chi viện cho miền Nam, Quảng Xơng đaừ tuyển 2.700 tân binh, huy
động 6000 ngày công phục vụ giao thông vận tải địa phơng, hàng trăm tấnnhu yếu phẩm đợc vận chuyển vào Nam [51;480]
Xuất phát từ những yêu cầu thiết thực và nó tác động nhiều đến nhiềumặt của đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân trong huyện, mà trớc hết là vấn
đề c dân vùng, cộng với những nhu cầu quan trọng trong việc xây dựng và táithiết lại huyện nhà khi hòa bình lập lại, nó đã làm thay đổi địa giới hành chínhcủa huyện trong thời kì 1963 - 1975
Sau khi giành thắng lợi trong cuộc tổng tấn công và nổi dạy mùa xuân
1975, bằng chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, giải phóng hoàn toàn miềnNam, đa cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nớc kéo dài hơn 20 năm đến ngàytoàn thắng, non sông thu về một mối, đất nớc Việt Nam vẹn toàn Cách mạngViệt Nam chuyển sang một giai đoạn phát triển mới Trong giai đoạn này địagiới hành chính của huyện Quảng Xơng cũng có những thay đổi từ đó cũngkéo theo sự biến động về dân c trên địa bàn huyện trong khoảng thời gian từ
1965 đến naờm 1975
2.1.2 Sự thay đổi về địa giới hành chính từ năm 1963 đến naờm 1975
Từ những năm 1963 trở đi nhằm đáp ứng cho nhu cầu kháng chiếnchống Mĩ cứu nớc, vieọc đảm bảo cho đời sống của nhân dân cũng nh xâydựng cơ sở hạ tầng cho việc xây dựng và phát triển quê hơng trong điều kiệnmới vừa sản xuaỏt vừa chiến đấu Địa bàn huyện Quảng Xơng, vùng phụ cậnthị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa) không xa cách mấy so vớiHàm Rồng, phía Đông có 24 km giáp biển, nằm gọn trong tọa độ mà các nhàchiến lợc quân sự Hoa Kì gọi là khu vực “cán xoong”