1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mường ở huyện nho quan (ninh bình) trong quá trình hội nhập và phát triển thực trạng và những vấn đề đặt ra luận văn tốt nghiệp đại học

74 2,2K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở huyện Nho Quan (Ninh Bình) trong quá trình hội nhập và phát triển thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả Nguyễn Ngọc Trâm
Người hướng dẫn ThS. Trương Thị Phương Thảo
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Chuyên Ngành Chính Trị – Luật
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết 22 của Bộ chính trị nêu rõ: Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở mỗi dân tộc pháthuy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu tinh hoa của các dân tộc khác vàgó

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

- -Nguyễn ngọc trâm

gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc mờng

ở huyện nho quan (ninh bình) trong quá trình hội nhập và phát triển

thực trạng và những vấn đề đặt ra

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên Ngành chính trị – luật luật

Vinh, 2011

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

- -gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc mờng

ở huyện nho quan (ninh bình) trong quá trình hội nhập và phát triển

thực trạng và những vấn đề đặt ra

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên Ngành chính trị – luật luật

Giáo viên hớng dẫn: ThS Trơng Thị Phơng Thảo

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Trâm

Lớp: 48B3 Chính trị – Luật Luật

Vinh, 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện khóa luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi

đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của Hội đồng khoa học - Đàotạo của khoa Giáo dục chính trị, các thầy cô giáo trong Bộ môn Chủ nghĩa xãhội khoa học, sự động viên, chia sẻ của gia đình, bạn bè và những người thân.Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và chu đáo của côgiáo - Ths.Trương Thị Phương Thảo - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoànthành khóa luận Đó là những nguồn động viên tinh thần vô cùng lớn lao để

cổ vũ và tiếp thêm nghị lực cho tôi hoàn thành tốt khóa luận này

Với tấm lòng tri ân sâu sắc, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới tất cảthầy cô, gia đình và bè bạn đã luôn ở bên cạnh tôi những lúc khó khăn, cho tôiniềm tin vào con đường của học vấn, của tri thức sẽ dẫn tới những kết quả tốtđẹp Mong mọi người sẽ tiếp tục ủng hộ tôi nhiều hơn nữa Chúc mọi ngườisức khỏe và thành công trong cuộc sống

Xin chân thành cảm ơn !

Tác giả

Nguyễn Ngọc Trâm

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HOÁ VÀ BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC MƯỜNG Ở VIỆT NAM 6

1.1 Khái niệm văn hoá 6

1.2 Bản sắc văn hoá dân tộc và vai trò của nó trong quá trình hội nhập phát triển ở Việt Nam 13

1.3 Bản sắc văn hoá dân tộc Mường ở Việt Nam trong quá trình hội nhập phát triển 21

Chương 2 VẤN ĐỀ GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC MƯỜNG Ở HUYỆN NHO QUAN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP PHÁT TRIỂN 35

2.1 Đặc điểm chung về huyện Nho Quan 35

2.2 Quá trình gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Mường ở huyện Nho Quan 38

2.3 Những vấn đề đặt ra 52

KẾT LUẬN 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 5

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Có thể nói ở mọi thời đại, trong mọi giai đoạn lịch sử, văn hóa luôn làyếu tố có vai trò to lớn, tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọimặt của đời sống xã hội Văn hóa được coi là nhân tố quyết định đến sự pháttriển bền vững của một quốc gia dân tộc Văn hóa khắc họa bản sắc vàphương thức tồn tại của một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có một đặc thùriêng Như vậy, có thể xem đặc trưng văn hóa mang bản sắc dân tộc Và yếu

tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa Bản sắc văn hóa dân

tộc là cái “hồn”, là sức sống nội sinh, là cái thẻ căn cước của mỗi dân tộc, để

phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Từ đó, mỗi dân tộc có thể biểu lộ mộtcách trọn vẹn nhất sự hiện diện của mình trong quá trình giao lưu và hội nhập

Vì vậy, vấn đề gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc đã và đang là mối quantâm hàng đầu của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới Và bản sắc dân tộc làcụm từ được dùng nhiều nhất trong thập kỷ này

Việt Nam là một đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời và không ai

có thể phủ nhận được sức mạnh và giá trị trường tồn của nền văn hóa ấy ViệtNam cũng là một quốc gia đa dân tộc và hơn 54 dân tộc là hơn 54 sắc màuvăn hóa tạo nên nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Mỗidân tộc được phân bố ở các vùng miền của Tổ quốc và có giá trị truyền thống,sắc thái văn hóa riêng Việc gìn giữ, kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa cácdân tộc có ý nghĩa làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đề cao vai trò củavăn hóa và phát huy vai trò to lớn của văn hóa - xã hội Văn hóa luôn đượcđặt lên hàng đầu và là một trong những yếu tố không thể thiếu trong việchoạch định chính sách kinh tế - xã hội và chính sách đối ngoại của Đảng.Chính vì vậy, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, tại Hội nghị TW 4, khóa VII (01/1993), Đảng ta đã xác định: “Văn hóa

Trang 6

là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế

-xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa -xã hội” Trong những năm gầnđây, Đảng ta rất chú trọng đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa củacác dân tộc thiểu số Nghị quyết 22 của Bộ chính trị nêu rõ:

Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở mỗi dân tộc pháthuy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu tinh hoa của các dân tộc khác vàgóp phần phát triển văn hóa chung của cả nước, tạo ra sự phong phú đa dạngtrong nền văn minh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam [7, tr.51]

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng tiếp tụckhẳng đinh: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóatiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với pháttriển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đờisống xã hội ” [10, tr.33]

Vì vậy, việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam nóichung, bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng là một trong nhữngnhiệm vụ hết sức quan trọng để thực hiện mục tiêu: “Xây dựng và phát triểnnền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [9, tr.12]

Nền kinh tế thị trường với những ưu điểm và mặt trái của nó, có ảnhhưởng không nhỏ đến nền văn hoá truyền thống của các dân tộc trong cộngđồng dân tộc Việt Nam Dân tộc Mường ở huyện Nho Quan (Ninh Bình) cũngkhông nằm ngoài sự tác động của nền kinh tế thị trường Một bộ phận khôngnhỏ người Mường đã rũ bỏ những truyền thống văn hoá tốt đẹp của mình,quên đi những truyền thống vốn có xưa nay Trước tình hình đó, việc gìn giữ,

kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Mường ở huyện Nho Quan hiệnđang là vấn đề cấp thiết Điều đó không những có ý nghĩa đối với việc bảotồn, phát huy giá trị, bản sắc văn hoá của dân tộc Mường, mà còn có ý nghĩaphát huy vai trò của văn hoá đối với phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh NinhBình hiện nay

Trang 7

Với những lý do trên, tôi chọn “Gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá

dân tộc Mường ở huyện Nho Quan (Ninh Bình) trong quá trình hội nhập

và phát triển Thực trạng và những vấn đề đặt ra” làm đề tài nghiên cứu cho

Khoá luận Tốt nghiệp Đại học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Xung quanh vấn đề gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, đã có

rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu đề cập đến dưới những góc độ, hướngtiếp cận khác nhau Có thể kể đến những tác phẩm tiêu biểu như:

“Bản sắc văn hoá Việt Nam”, Phan Ngọc, Nxb Văn học, 2002 “Suy

nghĩ về bản sắc văn hoá dân tộc”, Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia, 1994.

“Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) “Bản sắc văn hoá dân tộc”, Hồ Bá

Thâm, Nxb Văn hoá thông tin, 2003 “Văn hoá các dân tộc Việt Nam”, Trần Ngọc Bình, Nxb Thanh niên, 2007 “Phong tục tập quán các dân tộc Việt

Nam”, Đặng Văn Lung, Nxb Văn hoá dân tộc, 1997

Những cuốn sách trên đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quanđến bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, đề cập đến đặc điểm, vai trò của bảnsắc văn hoá Việt Nam trong đời sống hiện nay, đặc biệt là đời sống văn hoákhi đất nước đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,chủ động hội nhập vào xu thế toàn cầu hoá

Nghiên cứu về dân tộc Mường, cũng đã có nhiều học giả trong và ngoàinước tiến hành như cố giáo sư Từ Chi, học giả người Pháp J.Cuisinier chuyênnghiên cứu về văn hoá Mường Ngoài ra còn rất nhiều các nghiên cứu của

Trương Sỹ Hùng, Bùi Thiện sưu tầm và nghiên cứu về bộ sử thi “Đẻ đất đẻ

nước” của dân tộc Mường, các bài báo, phóng sự tìm hiểu về người Mường

và văn hoá Mường trên các tạp chí Khảo cổ học, Tập san dân tộc

Những kết quả nghiên cứu trên đây là nguồn tư liệu quan trọng, là cơ sở

lý luận để tôi tiếp thu, nghiên cứu trong quá trình thực hiện Khoá luận này

Trang 8

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ bản sắc văn hoá dân tộc Mường ở huyện Nho Quan,tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dântộc Mường, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm kế thừa và phát huy bảnsắc văn hoá dân tộc Mường ở huyện Nho Quan hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Khoá luận tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:

Một là, làm rõ những quan niệm về văn hoá, bản sắc văn hoá dân tộc và

tính tất yếu của việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trìnhhội nhập

Hai là, khái quát về bản sắc văn hoá dân tộc Mường nói chung và dân

tộc Mường ở huyện Nho Quan nói riêng

Ba là, đánh giá quá trình gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

Mường ở huyện Nho Quan, những vấn đề đặt ra và đề xuất một số giải phápnhằm phát huy bản sắc dân tộc Mường ở huyện Nho Quan trong quá trình hộinhập phát triển

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, khoá luậnxác định đối tượng nghiên cứu là việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoácủa dân tộc Mường ở huyện Nho Quan

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Văn hoá là một phạm trù rất rộng và văn hoá các dân tộc cũng hết sứcphong phú, đa dạng Khoá luận không trình bày toàn bộ các vấn đề thuộc vềvăn hoá của dân tộc Mường mà chủ yếu khai thác một cách có hệ thốngnhững giá trị văn hoá tạo nên “Bản sắc văn hoá” của dân tộc Mường ở huyệnNho Quan nhằm gìn giữ và phát huy nó trong quá trình hội nhập phát triển

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm mục đích mô tả và trình bày ngắn gọn những nét văn hoá đặc thùcủa người Mường ở huyện Nho Quan, khoá luận đã sử dụng phương pháp mô

tả, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, điều tra, so sánh Trên cơ sở

đó, đưa ra những đánh giá, nhận xét theo nguyên tắc duy vật biện chứng vàlịch sử cụ thể

6 Ý nghĩa của khoá luận

Kết quả nghiên cứu của khoá luận sẽ góp phần bổ sung và làm sáng tỏ

lý luận về văn hoá, bản sắc văn hoá dân tộc, vấn đề gìn giữ và phát huy bảnsắc văn hoá dân tộc; đồng thời góp phần khẳng định vai trò, ý nghĩa củanhững giá trị văn hoá dân tộc Mường ở huyện Nho Quan theo hướng: xâydựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Khoá luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu

và giảng dạy các bộ môn: Địa lý địa phương, Văn hoá, Dân tộc ở các nhàtrường, làm tài liệu tham khảo cho cán bộ hoạch định chính sách và quản lývăn hoá tỉnh Ninh Bình

7 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

luận văn được trình bày trong 2 chương, 6 mục

Trang 10

B NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HOÁ VÀ BẢN SẮC VĂN

HOÁ DÂN TỘC MƯỜNG Ở VIỆT NAM

1.1 KHÁI NIỆM VĂN HOÁ

Văn hoá là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú Mọi sự vậthiện tượng, mọi quá trình vận động của thế giới vật chất lẫn tinh thần có mốiliên hệ với con người, được con người tìm hiểu, nhận thức và tác động trở lạicon người đều có khía cạnh văn hoá của nó Vì vậy, trong cuộc cách mạngkhoa học - công nghệ càng phát triển, trình độ tư duy của con người ngàycàng cao thì nội hàm văn hoá càng được mở rộng không ngừng

1.1.1 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin

Trong các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen không dành riêngmột tác phẩm nào để trình bày một cách có hệ thống các quan điểm của cácông về văn hoá, văn hoá không được thể hiện như một lĩnh vực nghiên cứuriêng Nhưng toàn bộ tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen về vấn đề này đượcthể hiện sâu sắc thông qua hệ thống các quan điểm duy vật biện chứng về conngười và xã hội Theo các ông, văn hoá thuộc bình diện ý thức tinh thần củacon người Vì vậy, để tìm hiểu cội nguồn văn hoá thì phải đặt nó trong quátrình hình thành của loài người

Trước C.Mác - Ph.Ăngghen, đã có một số nhà khoa học, triết gia bàn

tới giả thuyết về nguồn gốc loài người như: Cuốn Nhân học (1798) của nhà triết học Đức Cantơ, cuốn Triết học động vật (1809) của nhà khoa học tự nhiên người Pháp Lamác và hai tác phẩm nổi tiếng là Nguồn gốc các loài

bằng con đường chọn lọc tự nhiên và Nguồn gốc con người và sự chọn lọc giới tính của Đácuyn.

Trang 11

Ghi nhận cống hiến của Đácuyn, Ph.Ăngghen đã viết nên hai tác phẩm

Biện chứng của tự nhiên và Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người Theo ông, chính hoạt động lao động tinh thần là

động lực tác động vào quá trình chuyển biến từ vượn thành người và đó cũng

là cội nguồn của văn hoá

C.Mác gọi hoạt động sống của con người là những hoạt động thể hiệnquan hệ con người với con người, con người với xã hội C.Mác vạch rõ nguồngốc của văn hoá gắn liền với những năng lực sáng tạo của con người Sự sángtạo đó bắt nguồn từ lao động Văn hoá là sự “thăng hoa” của sản xuất vậtchất Ông cho rằng người ta có thể căn cứ vào mức độ tự nhiên được conngười khai thác chuyển biến thành bản chất con người như thế nào để đánhgiá trình độ văn hoá

Các nhà lý luận văn hoá Mácxít khi trình bày về bản chất của văn hoá,thường dựa vào quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguồn gốc, bản chấtcon người Tóm lại, theo ý kiến của C.Mác và Ph.Ăngghen thì lao động sángtạo chính là bản chất của văn hoá

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều có quan điểm chung khi khẳngđịnh văn hoá có tính chất giai cấp, dân tộc và nhân loại Tuy nhiên, cũng cónhững nhà nghiên cứu (chủ yếu là các học giả tư sản) cho rằng văn hoá không

có tính giai cấp Trước đây, khi cuộc đấu tranh giai cấp lên cao, họ cho rằngvăn hoá mang tính chất dân tộc Đến nay, khi quá trình toàn cầu hoá kinh tếđang diễn ra rộng khắp và ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các mặt của đờisống xã hội, các học giả này lại khẳng định văn hoá có tính toàn cầu, tínhnhân loại

Bằng những luận cứ và dẫn chứng khoa học đầy sức thuyết phục,C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã khẳng định văn hoá là một trong nhữnghình thái ý thức xã hội, phản ánh thực trạng xã hội và những quan hệ xã hội.Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, văn hoá tác động tích cực trở lạiđối với đời sống xã hội Đặc biệt, trong quá trình phân tích mối quan hệ giữa

Trang 12

văn hoá và đời sống xã hội, các nhà kinh điển đã vận dụng học thuyết đấutranh giai cấp để lý giải mọi hiện tượng văn hoá Chính trong quá trình phântích ấy, các ông đã khẳng định văn hoá có tính chất giai cấp, nhân dân, dântộc và nhân loại.

C.Mác và Ph.Ăngghen hoạt động trong thời kỳ nhiều dân tộc hìnhthành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản

Do điều kiện tự nhiên và lịch sử khác nhau nên các dân tộc hình thành đềumang trong đó những nét văn hoá rất riêng, mang tính đặc thù, khu biệt vớivăn hoá của các dân tộc khác Điều đó làm cho văn hoá mang tính dân tộc độcđáo riêng có Chính vì vậy mà mỗi trào lưu tư tưởng nảy sinh và phát triển ởdân tộc nào sẽ gắn với điều kiện riêng có của dân tộc đó

Tuy nhiên, không có nền văn hoá của dân tộc nào phát triển độc lậphoàn toàn với văn hoá của các dân tộc khác Sự tác động qua lại giữa các nềnvăn hoá là một quy luật khách quan Sự giao lưu, ảnh hưởng lẫn nhau giữacác nền văn hoá sẽ giúp cho nến văn hoá của dân tộc xoá đi những điểmkhuyết thiếu và phát triển toàn diện hơn Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghencũng luôn nhấn mạnh đến quyền bình đẳng của các dân tộc để chống lạinhững quan niệm đề cao tính chất siêu đẳng hay tự cho mình ưu thế đặc biệthơn các dân tộc khác của các học giả tư sản

Trong khi đánh giá về vai trò của hệ tư tưởng đối với sự phát triển vănhoá, C.Mác và Ph.Ăngghen đã rút ra kết luận: “Trong mọi thời đại, những tưtưởng cơ bản của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó cónghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng làlực lượng tinh thần thống trị trong xã hội” [5, tr.61]

Nhìn lại quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quy luật vận động vàphát triển của văn hoá, chúng ta thấy rằng các nhà kinh điển đã xuất phát từquan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đểxem xét, đánh giá sự phát triển của văn hoá Sự phát triển đó chịu sự chi phốicủa quá trình phát triển lực lượng sản xuất vật chất quy định và đến lượt

Trang 13

mình, văn hoá lại có tác động năng động trở lại đối với nền sản xuất xã hội.

Sự phát triển văn hoá theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin không phải

là con đường “tiến hoá” một cách thẳng tắp mà trải qua quá trình đấu tranhđầy mâu thuẫn, phức tạp gắn liền cuộc đấu tranh giai cấp và hệ tư tưởng Hiện nay vấn đề văn hoá và phát triển đang thu hút sự quan tâm củanhiều người, ở mọi quốc gia và dân tộc Nó là một thành tựu lớn của tư duynhân loại Và trong các công trình lý luận của C.Mác - Ph.Ăngghen, nội dungchủ yếu của vai trò văn hoá trong phát triển xã hội là ở chỗ nó đã mang lạiánh sáng của tư tưởng mới, đạo đức mới, nó giải phóng tư duy con người khỏinhững ràng buộc của tư duy cũ, qua đó cổ vũ cho cuộc đấu tranh nhằm thiếtlập chế độ xã hội mới thích ứng với nhu cầu phát triển và hoàn thiện conngười Vai trò động lực to lớn của văn hoá xét cho cùng là ở chỗ đó

Đến V.I.Lênin, sự nghiệp xây dựng chế độ mới - chế độ xã hội chủnghĩa đã trở thành hiện thực Đó là một công việc cực kỳ khó khăn và mới lạ

Sự quan tâm đặc biệt đến văn hoá đã làm cho V.I.Lênin đi đến một nhận địnhrằng: “Bây giờ chúng ta chỉ cần hoàn thành cuộc cách mạng văn hoá thì sẽ cóngay chủ nghĩa xã hội , và phải hướng trọng tâm công việc vào tổ chức xâydựng văn hoá ” [5, tr.83]

C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã kế thừa những tinh hoa văn hoácủa nhân loại để xây dựng nên một học thuyết đồ sộ trong đó có các quanđiểm về văn hoá Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin

đã giải quyết một cách khoa học về vấn đề văn hoá, từ nguồn gốc đến bảnchất, chức năng xã hội, quy luật vận động phát triển và vai trò động lực củavăn hoá

1.1.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh

Có thể nói, con đường hình thành danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh làmột con đường hiếm thấy, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn, hoà mìnhvào cuộc sống của giai cấp cần lao Trong quá trình đó, từ rất sớm, Người đã

Trang 14

là hiện thân cho nền văn hoá của tương lai, đã trở thành “huyền thoại ngay

khi còn sống”

Là danh nhân văn hoá kiệt xuất, Hồ Chí Minh tượng trưng cao đẹp chocốt cách văn hoá dân tộc, thống nhất với các yếu tố văn hoá nhân loại Ngườicũng để lại cho chúng ta một di sản tư tưởng vô cùng quý báu về mọi lĩnhvực, trong đó có lĩnh vực văn hoá Việc tìm hiểu những quan điểm về văn hoá

và vấn đề gìn giữ, bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minhgiúp chúng ta có cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn để thực hiện chủtrương của Đảng về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắcdân tộc trong công cuộc đổi mới hôm nay

Mang trong mình truyền thống văn hoá phương Đông lại được tiếp thunhững tinh hoa của các nền văn minh trên thế giới, Hồ Chí Minh đã đúc kếtquan điểm của mình về văn hoá trong nhận định: “Ý nghĩa của văn hoá: vì lẽsinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phátminh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và cácphương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là vănhoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểuhiện của nó mà loài người đã sản sinh ra Nhằm thích ứng với những nhu cầuđời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [2, tr.431]

Từ quan điểm khái quát “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thứcsinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thíchứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” của Hồ Chí Minh, tathấy văn hoá bao hàm hai lĩnh vực là văn hoá vật chất và văn hoá tinh thầntương ứng với hai hình thức sản xuất của xã hội loài người là sản xuất vậtchất và sản xuất tinh thần Văn hoá vật chất biểu hiện lĩnh vực hoạt động vậtchất và toàn bộ kết quả của hoạt động này, bao gồm: công cụ lao động, nhà ở

và những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày như ăn, mặc, đi lại, thôngtin, giao lưu… Văn hoá tinh thần được phản ánh trong hoạt động ý thức, hoạt

Trang 15

động sản xuất tinh thần, cùng với toàn bộ kết quả của nó như: hoạt động nhậnthức, đạo đức, pháp luật, nghệ thuật, giáo dục đào tạo, tôn giáo tín ngưỡng…Việc phân định hai lĩnh vực văn hoá trên đây chỉ là tương đối vì mỗi kết quảcủa những hoạt động này đều hàm chứa trong mình nó cả hai giá trị, giá trịvật chất và giá trị tinh thần.

Quan niệm của Hồ Chí Minh đã chỉ ra được nguồn gốc, động lực, cấutrúc của văn hoá Quan điểm này có tính kế thừa, phát triển và có trước khiUNESCO ra đời Những quan điểm và hoạt động văn hoá của Người đã gópphần vào sự tiến bộ và phát triển nền văn minh nhân loại Công lao to lớn này

đã được đánh giá trong Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm ngàysinh của Người: “Sự đóng góp của chủ tịch Hồ Chí Minh trong lĩnh vực vănhoá, giáo dục, nghệ thuật là kết tinh truyền thống hàng ngàn năm của nhândân Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của các dân tộc, tiêubiểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau Người là vị anh hùng giải phóngdân tộc của Việt Nam, và là nhà văn hoá kiệt xuất”

Cùng nghiên cứu về văn hoá, các nhà văn hoá Việt Nam cũng đưa ranhiều định nghĩa khác nhau

PGS.TS Trần Ngọc Thêm định nghĩa : “Văn hoá là một hệ thống hữu

cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quátrình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tựnhiên và xã hội” [11, tr.11]

GS Phan Ngọc lại đưa ra định nghĩa: “Văn hoá là mối quan hệ giữa thếgiới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thựctại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hìnhtồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó

là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọnriêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân haytộc người khác” [12, tr.19]

Trang 16

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu về khái niệm văn hoá một cách chungnhất, khái quát nhất qua định nghĩa mà Tổng thư ký UNESCO đã thông quatrong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn hoá”tại Pháp (21/1/1998):

Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặtcuă cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũngnhư đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một

hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từngdân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình

1.1.3 Quan niệm của Đảng ta

Văn hoá là một khái niệm tưởng như quen thuộc và đơn giản nhưng lại

chứa đựng biết bao điều bí ẩn đối với tư duy nhân loại Chừng nào những điều

bí ẩn đó chưa được nhận thức và phát hiện thì chừng đó vị trí, vai trò của vănhoá còn bị xem nhẹ, còn bị đặt ngoài quỹ đạo của sự phát triển kinh tế và xãhội

Để có một định nghĩa đầy đủ về văn hoá, cách tốt nhất là gắn văn hoávới con người Thông qua việc khám phá chiều sâu bí ẩn của đời sống conngười và hoạt động của con người thì sẽ hiểu được văn hoá là gì Điều này sẽgiải thích vì sao văn hoá là hoạt động xuất hiện rất sớm trong lịch sử và vì saomỗi bước phát triển của nhân loại lại tạo điều kiện để con người quan tâm đếnvăn hoá

Ngay từ Đại hội lần thứ VII, Đảng ta đã khẳng định: Văn hoá là nềntảng tinh thần của xã hội, là động lực và mục tiêu của sự phát triển kinh tế -

xã hội Đây là thành tựu lớn về lý luận của Đảng, kết quả của sự tổng kết thựctiễn và tiếp thu kịp thời những thành tựu của tư duy nhân loại trong nhữngnăm cuối thế kỷ XX Sự khẳng định đó được hình thành trên cơ sở coi vănhoá là tổng thể các giá trị mà dân tộc ta đã tạo nên trong suốt mấy ngàn năm Như vậy, văn hoá không chỉ là những giá trị thượng tầng kiến trúc xãhội Văn hoá không phải là cái đuôi của kinh tế Trái lại, các giá trị văn hoá

Trang 17

tạo nên một nền tảng vững chắc của xã hội, đó là nền tảng tinh thần Đây làđiểm mới trong tư duy của Đảng ta.

Nhận thức được vị trí, vai trò của văn hoá, Đảng nhận định, nền vănhoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam Đồng thời, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

là một nhiệm vụ quan trọng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước

ta Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VII nhấn mạnh: Nềnvăn hoá mà Đảng ta lãnh đạo toàn dân xây dựng là “nền văn hoá tiên tiến vàđậm đà bản sắc dân tộc” Và tại hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung

ương khoá VIII, lần đầu tiên Đảng ta ra nghị quyết riêng về Xây dựng và phát

triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở Việt Namđang diễn ra như vũ bão, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề đẩy mạnh xâydựng văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng, trong quá trình phát triểnnền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, đời sống vănhoá Việt Nam sẽ càng diễn ra sôi động, đa dạng và phức tạp Những tác độngtích cực và tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế đối với văn hoá đặt ra cho

sự phát triển văn hoá Việt Nam những yêu cầu mới: Nền văn hoá dân tộc phảikhẳng định vị thế của mình trong giao lưu, tiếp xúc, đối thoại giữa các nềnvăn hoá trên thế giới Văn hoá dân tộc phải tham gia quá trình nâng cao sứccạnh tranh của nền kinh tế khi hội nhập Trong khi phải chủ động thích ứngvới yêu cầu hội nhập quốc tế, đồng thời nền văn hoá dân tộc phải bảo vệ vàphát huy các giá trị đạo đức, tinh thần tốt đẹp và bền vững của dân tộc ViệtNam trong những điều kiện và đặc điểm mới

1.2 BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ

TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

1.2.1 Quan niệm về bản sắc văn hoá dân tộc

Như đã biết, dân tộc nào cũng có nền văn hoá truyền thống của riêng

mình Đó là tổng hợp những hiện tượng văn hoá - xã hội bao gồm các chuẩn

Trang 18

mực giao tiếp, các khuôn mẫu văn hoá, các tư tưởng xã hội, các phong tục tậpquán, các lễ nghi, thiết chế xã hội được bảo tồn qua năm tháng, trở thànhthói quen trong các hoạt động sống của con người và nó được in dấu mọi mặtcủa đời sống xã hội thuộc một dân tộc nhất định, của một cộng đồng riêngbiệt, chúng ta gọi là “bản sắc dân tộc của văn hoá” hay “bản sắc văn hoá dântộc”.

Bản sắc văn hoá là một sức mạnh, sức mạnh nội tại của dân tộc Nó làhạt nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời nàysang đời khác Bản sắc văn hoá làm cho một dân tộc dù biểu hiện có thay đổinhưng giá trị bản sắc văn hoá vẫn duy trì

Bản sắc dân tộc là tổng thể những tính chất, tính cách, đường nét, màusắc, kiểu lự chọn giúp cho mỗi dân tộc giữ vững được tính duy nhất, tínhthống nhất, tính nhất quán của dân tộc mình trong quá trình phát triển

Bản sắc dân tộc được hình thành và phát triển phụ thuộc vào đặc điểmtộc người, điều kiện lịch sử tự nhiên, môi trường cư trú, thể chế chính trị cũngnhư sự giao lưu với nền văn hoá khác Nói đến bản sắc là nói đến cái mà dântộc sáng tạo ra, đã vun trồng nền văn hoá của mình Bản sắc dân tộc của vănhoá cũng chính là bản sắc văn hoá của dân tộc ấy

Vậy, bản sắc văn hoá dân tộc là những giá trị vật chất, tinh thần cô

đọng nhất, bền vững nhất, tinh tuý nhất, là sắc thái gốc, riêng biệt của mỗi dân tộc, làm cho dân tộc này không thể lẫn với dân tộc khác.

Bản sắc dân tộc gắn liền với văn hoá và thường được biểu hiện thôngqua văn hoá Vì vậy, có thể coi bản sắc chính là văn hoá, song không phải bất

cứ yếu tố văn hoá nào cũng được xếp vào bản sắc Người ta chỉ coi những yếu

tố văn hoá nào giúp phân biệt một cộng đồng văn hoá này với một cộng đồngvăn hoá khác là bản sắc

Bản sắc văn hoá dân tộc được tôi luyện, đúc kết qua hàng trăm thế kỷnối tiếp nhau trong lịch sử, như dòng phù sa đã hoá thân vào màu xanh củađồng lúa, như tính chất của đất, trở thành sức sống của cỏ cây, hoa trái Tất cả

Trang 19

các quốc gia hiện nay đều chú trọng nghiên cứu di sản văn hoá của dân tộcmình, họ ý thức được rằng nếu không đề cao bản sắc dân tộc mình thì tính đadạng của văn hoá thế giới sẽ bị “nghèo” đi do sự lai căng của các nền văn hoá.

Vì thế, bản sắc văn hoá dân tộc phải đứng vững trên đôi chân của mình đểtiếp nhận yếu tố hiện đại, làm cho các yếu tố hiện đại gia nhập và trở thànhyếu tố văn hoá truyền thống

Bản sắc văn hoá dân tộc có hai mặt giá trị: Giá trị tinh thần bên trong

và biểu hiện bên ngoài Giá trị bên trong chính là năng lực sáng tạo, tư duy,chiều sâu tâm hồn, truyền thống đạo lý, thế giới quan, nhân sinh quan; giá trịbên ngoài chính là cung cách ứng xử, phong thái sinh hoạt, nghệ thuật kiếntrúc, nét đặc trưng của các làn điệu dân ca, ngôn từ, các tác phẩm văn họcnghệ thuật Các giá trị này luôn có mối quan hệ khăng khít củng cố thúc đẩynhau phát triển

Hồ Chí Minh cho rằng, bản sắc dân tộc (hay bản sắc văn hoá dân tộc) lànhững yếu tố độc đáo, đặc sắc của một nền văn hoá, biểu hiện “đặc tính dântộc”, “cốt cách dân tộc” Chúng tạo nên sức mạnh cố kết, duy trì và phát triểnđời sống một cộng đồng với tư cách là một dân tộc, là bộ “gen” bảo tồn dântộc Bản sắc dân tộc thể hiện ở hệ giá trị dân tộc, ở truyền thống, bản lĩnh, tâmhồn, lối sống, cách cảm, cách nghĩ, cách suy tư và cả ở khát vọng, biểu tượngcủa một dân tộc Người còn luôn nhắc nhở các nhà văn hoá phải tôn trọngphong tục, văn hoá các dân tộc thiểu số, làm cho vườn hoa văn hoá dân tộcmàu sắc, muôn hương

Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến di sản văn hoá của dân tộc Người

dã sớm có sắc lệnh về bảo tồn tất cả các cổ tích trong toàn cõi Việt Nam (Sắclệnh 65, ký ngày 23-11-1945 quy định nhiệm vụ và quyền lợi của ĐôngPhương Bác Cổ học viện) Người nhấn mạnh rằng: “Mỗi dân tộc cần phảichăm lo đặc tính dân tộc mình trong nghệ thuật”

Để nghiên cứu bản sắc dân tộc của văn hoá, trước hết cần hiểu mốiquan hệ giữa văn hoá và dân tộc Dân tộc là một cộng đồng người ổn định có

Trang 20

những đặc điểm chung: lãnh thổ, kinh tế, quốc gia, tâm lý, ngôn ngữ và nềnvăn hoá chung Văn hoá là yếu tố cấu thành dân tộc thể hiện trình độ trí tuệ,đặc điểm, tâm hồn, nhân cách, lối sống của cộng đồng ấy Với ý nghĩa đó,văn hoá là linh hồn, sức sống của một dân tộc Cho nên, văn hoá còn thì dântộc còn, văn hoá suy thì dân tộc suy, văn hoá mất thì dân tộc diệt vong.

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã

nhận định: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa

của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước”.

Những yếu tố cơ bản cấu thành “những giá trị bền vững, những tinh

hoa được vun đắp” tạo nên bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam là: “Lòng

yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh

tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc văn hoá dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc” [3, tr.10]

Bản sắc đó chi phối toàn bộ đời sống của dân tộc Việt Nam trải quamấy nghìn năm lịch sử, nó được biểu hiện rõ rệt nhất trước những thách thứccủa lịch sử đối với vận mệnh dân tộc Bản sắc văn hoá Việt Nam đã góp phầnbảo tồn dân tộc Việt Nam và giúp cho cộng đồng dân tộc tránh được âm mưuđồng hoá của mọi kẻ thù xâm lược trong lịch sử Ngày nay, văn hoá Việt Namđang trở thành nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực để nhân dân Việt

Nam phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ

Trang 21

cả văn hóa Sự thâm nhập của văn hóa độc hại, của sự lai căng văn hóa, của lốisống thực dụng và những tiêu cực khác của kinh tế thị trường , đã và đang ảnhhưởng, làm băng hoại những giá trị văn hóa truyền thống, ảnh hưởng tới sựphát triển bền vững của đất nước Trước tình hình đó, bản sắc văn hoá giữmột vai trò rất quan trọng, nó đảm bảo cho dân tộc tồn tại, đứng vững và pháttriển qua các biến động lịch sử Nhờ bản sắc văn hoá dân tộc, chúng ta biểu lộđược trọn vẹn sự hiện diện của một bản sắc trong giao lưu với quốc tế Mụctiêu của giao lưu là thông qua giao lưu với nền văn hoá mới, ta hội nhập vớivăn hoá thế giới Chỉ khi giữ được bản sắc văn hoá dân tộc thì ta mới có điềukiện giao lưu bình đẳng với các nền văn hoá thế giới Nếu chỉ sao chép, trởthành cái bóng của những nền văn hoá khác thì không thể gọi là hội nhập bìnhđẳng.

Trước yêu cầu của thời kỳ phát triển mới, trước nguy cơ “đồng nhất” vềvăn hoá mà thực chất là sự thống trị của văn hoá nước lớn thì bản sắc văn hoádân tộc có ý nghĩa cực kỳ to lớn

Cho đến bây giờ, tuy còn có nhiều ý kiến khác nhau trong việc địnhnghĩa văn hoá là gì, nhưng tất cả đều thống nhất trong sự thừa nhận mối quan

hệ qua lại của văn hoá với mọi mặt trong đời sống xã hội như kinh tế, chínhtrị Tuy nhiên, khi chúng ta nhấn mạnh yếu tố văn hoá thì không có nghĩađặt vị trí của văn hoá cao hơn mà để thấy được sự gắn bó của chúng trong quátrình hướng tới mục tiêu phát triển

Những thành tựu hay vấp váp trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội

ở nhiều nước trên thế giới đều chứng minh tầm quan trọng của nhân tố vănhoá Trước hết là ở việc có bảo vệ, phát triển được hay không những tiềmnăng phong phú và đặc sắc của văn hoá dân tộc đối với sự phát triển của đấtnước Sự đúng đắn hay sai lạc trong định hướng phát triển văn hoá đều đưađến sự thành tựu hay thất bại không riêng cho văn hoá mà cho cả mọi mặtkhác của đời sống xã hội, đặc biệt là về tư tưởng, đạo đức, lối sống Nhữnghậu quả của sự sai lầm về chính sách văn hoá thường kéo dài và khó sửa hơn

Trang 22

rất nhiều Do đó, không phải không có cơ sở khi người ta lo ngại một sự “phásản”, “xuống cấp” về văn hoá hơn sự phá sản, xuống cấp trong kinh tế, bởinhững mất mát trong lĩnh vực văn hoá thường dẫn tới những hậu quả rất lâudài và nghiêm trọng.

Có thể nói, quan hệ giữa cá nhân và dòng họ, giữa người sống và ngườichết không chỉ đơn thuần là quan hệ ứng xử mà đã trở thành văn hoá sinh tử,vừa mang ý nghĩa tình cảm sâu sắc vừa chứa đựng triết lý đạo đức của dântộc Đó là bản sắc dân tộc của văn hoá mà sự phát triển không làm triệt tiêu,bởi cái bản sắc ấy không cản trở quá trình phát triển, nó đã được linh thiênghoá giữa đời thường, nó chứa đựng đạo lý uống nước nhớ nguồn, đạo lý thuỷchung Sự cần cù sáng tạo trong lao động và tinh tế trong ứng xử, giản dịtrong lối sống chính là biểu hiện của thái độ quý trọng lao động, của tinh thần

tự lực tự cường, của ý chí và khí phách dân tộc Trong quá trình phát triển vănhoá hôm nay, những phẩm chất ấy không mất đi mà ngược lại cần được nângniu quý trọng, cần được phát triển để văn hoá dân tộc được làm giàu thêmbằng những nội hàm giá trị Phát huy được bản sắc dân tộc của văn hoá vàphát triển được truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc sẽ giúp Việt Namchủ động và tích cực trong việc lựa chọn những giá trị văn hoá phù hợp vớidân tộc mình để tiếp nhận và biến đổi trong quá trình hội nhập phát triển Bản sắc dân tộc là tiền đề, là cơ sở để mỗi nền văn hoá tìm thấy điểmtựa, tìm được nguồn lực nội sinh cho sự phát triển, để bức tranh văn hoá thếgiới không trở nên đơn nhất, đơn sắc, đơn màu Xây dựng văn hoá Việt Namtrong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đặt ra rất nhiều vấn đềcần phải nghiên cứu và giải quyết cả trên phương diện lý luận và thực tiễn.Văn hoá kết tinh giá trị và sức mạnh của cả dân tộc, giá trị ấy nằm trong bảnsắc dân tộc của văn hoá Trong điều kiện hội nhập văn hoá hiện nay, pháttriển văn hoá trước hết là cân bằng giữa các khuynh hướng văn hoá - kinh tế -chính trị - xã hội, phát triển phải ổn định và bền vững, lấy con người làm gốc,nền văn hoá ấy phải đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của chính con người Đó là nội

Trang 23

dung và định hướng phát triển của nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc hiện nay.

Trong quá trình giao lưu văn hoá, chúng ta mạnh dạn hội nhập, tiếp thunhưng không đánh mất, không “hoà tan” bản sắc của mình Trái lại, chúng ta

có trách nhiệm bổ sung, đóng góp cho nhân loại những gì đặc sắc của chúng

ta và tiếp nhận, bổ sung những tinh hoa nhân loại để bản sắc văn hoá ViệtNam ngày càng giàu đẹp Làm được như vậy, văn hoá luôn là động lực của sựphát triển, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá, đưa đất nước ta tiến nhanh tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh

1.2.3 Tính tất yếu của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

Bản sắc văn hoá dân tộc là các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sứcsống của từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền thống văn hoá Truyềnthống văn hoá là các giá trị do lịch sử để lại được thế hệ sau tiếp nối, khaithác và phát huy trong thời đại của họ để tạo nên dòng chảy liên tục của lịch

sử văn hoá các dân tộc Khi đã được hình thành, truyền thống mang tính bềnvững và có chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi của cá nhân

và cộng đồng Tuy nhiên, khái niệm bản sắc văn hoá không phải là sự bấtbiến, cố định hoặc khép kín mà nó luôn vận động mang tính lịch sử cụ thể.Trong quá trình này nó luôn đào thải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu và tạo lậpnhững yếu tố mới để thích nghi với đòi hỏi của thời đại Truyền thống cũngkhông phải chỉ bao hàm các giá trị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm

cả các giá trị từ bên ngoài được tiếp nhận một cách sáng tạo và đồng hoá nó,biến nó thành nguồn lực nội sinh của dân tộc Một dân tộc nếu như đánh mấtbản sắc văn hoá, thì thực chất dân tộc ấy đã đánh mất chính mình Một nềnvăn hoá có tính dân tộc, là nền văn hoá mang đầy đủ bản sắc của dân tộcmình Chính vì vậy, việc gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc

Trang 24

văn hoá của dân tộc, là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự tồn vongcủa mỗi dân tộc.

Trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tếlại càng phải nhấn mạnh yêu cầu kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

Đó không chỉ là ý thức trách nhiệm mà còn là niềm tự hào, tự tôn dân tộc, bởi

“Nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” Trong nền vănhoá có chiều sâu và tầm cao như vậy, càng đi vào kinh tế thị trường, mở rộnggiao lưu quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chúng ta càng phảinâng niu, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của mình để góp phầnvào sự nghiệp vẻ vang là xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội Chủ trươnggìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc không hề đồng nghĩa với bảo thủ, tự côlập, đóng kín, khư khư bám giữ lấy cái cũ Bản sắc văn hoá không phải lànhững giá trị tạm thời, nay còn mai mất, song nó cũng không là cái không baogiờ thay đổi và không cần sửa đổi Trái lại, bản sắc văn hoá dân tộc cũngkhông ngừng phát triển, đổi mới, phản ánh sự phát triển và đổi mới của dântộc

Chưa bao giờ sức ép của xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá lại tác độngvào nền văn hoá của các dân tộc, các quốc gia lại mạnh mẽ, toàn diện và sâusắc như hiện nay Mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế trở thành một trongnhững vấn đề trung tâm của thời đại Các dân tộc trong quá trình phát triểnđang tìm cách kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủthời cơ chống lại các nguy cơ để tập trung xây dựng đất nước Sức mạnh của

sự liên kết cộng đồng được đặc trưng ở việc giữ gìn, phát huy bản sắc và bảnlĩnh văn hoá của dân tộc trong giao lưu quốc tế Do đó, cùng với xu thế hộinhập quốc tế là xu thế bảo vệ, gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc, chống lại

xu hướng “đồng hoá” hay “nhất thể hoá” về văn hoá

Bản sắc dân tộc luôn mang tính lịch sử cụ thể và luôn tạo lập các giá trịmới để thích ứng với yêu cầu phát triển chung của thời đại Vì vậy, bản sắcvăn hoá dân tộc phải được hiểu trong xu thế phát triển, và phát triển là điều

Trang 25

kiện để giữ gìn bản sắc Để làm được điều đó, ngoài việc tạo ra các tiền đềphát triển kinh tế, xã hội vững chắc thì việc kế thừa và phát huy các giá trị vănhoá tạo nên bản sắc văn hoá các dân tộc là một vấn đề hết sức cần thiết và có

ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn mới hiện nay

1.3 BẢN SĂC VĂN HOÁ DÂN TỘC MƯỜNG Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Người Mường hay còn gọi là người Mol, Mual, Moi, Moi Bi, Ao tá,

Au Tá là một dân tộc sống ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam Dân tộcMường là một trong những dân tộc thiểu số đông nhất ở nước ta Theo kếtquả điều tra dân số của Tổng cục Thống kê năm 1989 thì dân tộc Mường ởViệt Nam mới chỉ có 914.396 người nhưng đến năm 2009, người Mường đãtăng lên 1.268.963 người, chỉ sau các dân tộc Kinh, Tày, Thái

Không phải ngay từ buổi đầu lịch sử, dân tộc Mường đã có tộc danhnhư ngày nay Và đương nhiên trước đây, người Mường cũng không dùngdanh từ này làm tên gọi cho dân tộc mình Theo Trần Từ (tức Nguyễn Đức TừChi), Mường là từ dùng để chỉ một vùng cư trú của đồng bào bao gồm nhiềulàng Mỗi vùng được đặt dưới sự cai quản của một nhà Lang Qua sự tiếp xúc,giao lưu giữa người Mường và người Kinh, người Kinh đã sử dụng từ Mường

để gọi dân tộc này Cho đến tận bây giờ, người Mường vẫn tự gọi mình làMol, Mual, Moi, Mwanl Mặc dù những từ này có biến âm hơi khác ở mỗivùng, mỗi địa phương nhưng đều quan niệm giống nhau về mặt nghĩa Tất cảnhững từ mà đồng bào dùng để chỉ dân tộc mình đều có nghĩa là người Vì lẽ

đó mà người Mường tự xưng mình là con Mol hoặc là con Monl: Con người.Còn từ Mường vốn là từ mương mà đồng bào dùng để chỉ nơi cư trú chứkhông liên quan gì đến tộc danh ngày nay của mình Mặc dù vậy, cùng sựbiến động của lịch sử cũng như quá trình giao lưu kinh tế, văn hoá với các dântộc anh em khác cho đến nay “Mường” đã được đồng bào chấp nhận và coi đó

là tộc danh của mình, và hiển nhiên, họ tự nhận mình là người Mường nhưngày nay Do đó, Mường đã trở thành tên gọi chính thức và duy nhất của tộc

Trang 26

người này để phân biệt với các dân tộc khác Tộc danh mường đã được các tổchức, thể chế, các nhà nghiên cứu và nhân dân dùng khi tìm hiểu, nghiên cứugọi dân tộc này là: Người Mường.

Nhiều nhà nghiên cứu, căn cứ vào các tài liệu khoa học khác nhau đã

đi đến nhận định: Người Việt và người Mường vốn có chung một nguồn gốc

Về mặt ngôn ngữ, tiếng Việt và tiếng Mường có một gốc chung Nếu so sánh,đối chiếu các mặt ngữ pháp, ngữ âm và từ vựng cơ bản, giữa hai ngôn ngữ cóquan hệ khá gần gũi Từ tiếng Mường chuyển qua tiếng Việt có một quy luậtchuyển âm nhất định:

Những từ không dấu trong tiếng Việt khi sang tiếng Mường vẫn giữnguyên như: Con, con voi, ăn, tiêu pha Một số từ thay phụ âm đầu: tay =thay, con dê = con tê

Những từ có dấu hỏi cũng giữ nguyên: Của cải = của cải, giả = giả Những từ có dấu ngã thì chuyển thành dấu hỏi: Đã = đả, những =nhửng, ngã = ngả

Những từ có dấu nặng thì chuyển thành dấu sắc: Nặng = nắng, tận =tấn, gậy = gấy

Những từ có dấu huyền thì chuyển thành dấu sắc và ngược lại

Những từ có âm “ặc, ịt, ục” thì giữ nguyên không chuyển dấu: Đôngđặc = đông đặc, mặc = mặc

Và một số từ không theo quy luật như: cây tre = cây pheo, cách xưng

hô (chú = ô, cháu = xôn)

Về nhân chủng, hai nhóm Mường - Việt cùng chung những đặc điểmnhân chủng trong nhóm Nam Á thuộc tiểu chủng Môngôlôit phương Nam.Trong phong tục tập quán, giữa người Mường và người Việt có nhiều cáigiống nhau Về mặt tôn giáo, tín ngưỡng cũng như trong văn học dân gianngười ta còn có thể thấy được nhiều quan hệ thân thuộc

Tuy vấn đề nguồn gốc người Việt - Mường hiện nay còn đang tiếp tụcnghiên cứu, song hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng, họ là những cư

Trang 27

dân bản địa Ý kiến này được nhiều người tán đồng cho tổ tiên người Việt Mường là người Lạc Việt, một chủ nhân của văn hoá Đông Sơn nổi tiếng haynói rộng hơn là nền văn minh Sông Hồng Do đó, có cơ sở để cho rằng vàothời các vua Hùng (hoặc trong thời đại đồng thau), và cả giai đoạn tiếp theo,Việt - Mường còn là một khối thống nhất.

Và các thời kỳ sau, do những nguyên nhân và điều kiện lịch sử nhấtđịnh, sự phân hoá đã nảy sinh, khối cộng đồng Lạc Việt đã dần phân li thànhhai Quá trình phân hoá đó diễn ra một cách lâu dài, chậm chạp, không đồngđều và chủ yếu là trong thời Bắc thuộc Từ sau thế kỷ X, XI Việt và Mường

đã bắt đầu trở thành hai tộc người nhưng vẫn có sự giao lưu về kinh tế và vănhoá

Khi nói đến văn hoá của một tộc người là nói đến tổng thể các yếu tố:Tiếng nói, chữ viết, lối sống, trang phục, các mối quan hệ tự nhiên, xã hội,những phong tục tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng tôn giáo Những yếu tố nàyđược hình thành trong lịch sử và được phát triển không ngừng từ thế hệ nàysang thế hệ khác hoàn thiện dần cùng với sự phát triển của cộng đồng dân tộc

đó Hay nói cách khác, văn hoá là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần củamột dân tộc - tộc người cụ thể

Bên cạnh những nét chung của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam thìvăn hoá dân tộc Mường còn có những nét riêng mang dấu ấn độc đáo của dântộc mình thể hiện ở những giá trị văn hoá sau:

1.3.1 Giá trị văn hoá vật chất

Trang 28

Trong công việc đồng áng, có thể nói người Mường có nhiều kinhnghiệm làm thuỷ lợi nhỏ Đồng bào làm mương, phai để lấy nước Làm phaicần đông người nên nhiều khi phai huy động cả làng, xóm Tuỳ theo mứcnước dẫn vào mương, người ta đắp phai cao hay thấp, nhưng cũng không thểđắp quá cao vì dễ bị sức nước phá hỏng Có những con phai làm khá côngphu, dài hàng chục mét Nước ở sông suối bị phai chặn lại theo các conmương dẫn tới những khu ruộng cao Từ nơi này, nước chảy dần xuốngnhững khu ruộng thấp hơn Dọc theo mương, ruộng nào cần tưới, người ta xẻrãnh hoặc dùng ống tre, ống nứa cắm vào thành mương để lấy nước vàoruộng.

Người Mường còn làm nương rẫy, diện tích nương không lớn nhưngthường gia đình nào cũng có Bên cạnh các loại hoa màu, đồng bào còn trồngthêm cây công nghiệp và một số cây khác như luồng, trẩu, sở, gai, đay, quế,cây thuốc

Bên cạnh việc trồng trọt thì chăn nuôi cũng được đồng bào quan tâmphát triển Người Mường chăn nuôi trâu bò chủ yếu để làm sức kéo trongnông nghiệp, trong nghề rừng và một phần để lấy phân bón ruộng Trâu đượcnuôi nhiều hơn bò vì còn được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, trong cướixin, để trao đổi hay bán cho miền xuôi

Săn bắn cũng là một hoạt động thường gặp trong đời sống của ngườiMường, nhưng không phải là nguồn sống quan trọng Săn bắn còn kết hợp vớisản xuất để chống thú rừng, bảo vệ mùa màng Nó không những là một nguồnlợi, nguồn cung cấp thức ăn mà còn là một thú vui Trong làng xóm, chưa cónhững người chuyên sống bằng săn bắn, nhưng người đàn ông nào cũng biết

đi săn và gia đình nào cũng có nỏ và súng Vì vậy mà người Mường có rấtnhiều kinh nghiệm làm nỏ và tên thuốc độc

Có thể nói, nguồn kinh tế đáng kể của gia đình người Mường là khaithác lâm thổ sản như nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, quế, mật ong,

gỗ, tre nứa, mây, song Tuy chưa tách khỏi nông nghiệp, nhưng sản phẩm

Trang 29

thủ công nghiệp ngoài phần chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đờisống hàng ngày còn có một phần dùng làm vật trao đổi Những nghề thủ côngtiêu biểu của người Mường là dệt vải, nhuộm vải, cạp váy hoa, đan lát, ươm

tơ Song, một số nghề thủ công quan trọng như nghề gốm, đúc kim loại, rènhầu như không có

Nhìn chung, nền kinh tế của dân tộc Mường trước đây là một nền kinh

tế tự nhiên, mang nặng tính chất tự cấp tự túc Trong các hình thái kinh tế,nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu Chăn nuôi chưa trở thành nghề chính và thủcông nghiệp vẫn là nghề phụ trong gia đình Tuy nhiên, với những điều kiệnthiên nhiên thuận lợi, tài nguyên phong phú, vùng dân tộc Mường có khảnăng để phát triển nông nghiệp toàn diện

Kiến trúc nhà truyền thống

Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi,nơi đất thoải gần sông suối Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viêncủa mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít Đại bộ phận ởnhà sàn, kiểu bốn mái Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt chuồng gia súc,gia cầm, để cối giã gạo và các công cụ sản xuất khác

Ở khu vực Đông Nam Á, nhà sàn là loại hình phổ biến của nhiều dântộc Tại Việt Nam, cư trú trên nhà sàn là truyền thống của nhiều dân tộc nhưGia Rai, Ê Đê, Tày, Thái, Mường Đó là sự thích ứng tối đa với điều kiệnsống Người Mường cư trú trên những ngôi nhà sàn không biết từ bao đờinay Mặc dầu vậy, nhà sàn của người Mường vẫn có nhiều điểm đặc biệt khácvới nhà sàn của các dân tộc khác

Nhà sàn của người Mường là kiểu kiến trúc cổ truyền Việc dựng nhàđòi hỏi nhiều công đoạn, nhiều sức lực nên họ có tục giúp đỡ nhau Trước kia,

để nhận được sự giúp đỡ của dân làng, gia đình phải chuẩn bị một lễ nhỏmang đến nhà Lang để nhờ Lang báo cho mọi người trong bản biết Mỗi giađình sẽ cử một người đến giúp

Trang 30

Trong quá trình dựng nhà của người Mường, thầy mo có vai trò tươngđối quan trọng Mở đầu việc dựng nhà, ông mo làm lễ cắm cọc vào nơi làmcầu thang Sau đó, chủ nhà cày ba luống làm lệ trên nền làm nhà Ông mo đisau vẩy nước vào những luống cày đó và khấn vía lúa Mỗi lần nâng đòn xóclên rồi lại để xuống, thầy mo lại hát giang ý nói rằng “lúa đẹp, lúa nặng, lúabay về nhà để cho no cho đủ ” Ông mo nâng các cụm lúa lên trên tay rước

đi vài vòng rồi giang mo “đẻ đất đẻ nước” đoạn nói về rùa dạy dân làm nhà.Tiếp theo, ông mo vẩy một thứ nước mà đồng bào cho đó là nước phép vàonhững hố chôn cột để xin thần linh cho gia chủ làm nhà mới

Người Mường rất trọng hướng nhà Vì vậy, hướng nhà phải do mộtthầy địa lý có tiếng chọn riêng theo tuổi của gia chủ Họ quan niệm làm nhàđúng hướng sẽ đem lại tài lộc và may mắn đến cho gia đình

Nhà của người Mường thường có ba đến năm gian Những nhà đôngcon thì nhà lên đến bảy, mười hai gian Nhà dù ít hay nhiều gian đều có mộtsàn bên trái để bắc cầu thang và máng nước sinh hoạt Gian đầu tiên từ cầuthang lên gọi là gian gốc Đây là gian quy tụ mọi tính linh thiêng của ngôinhà, là nơi xuất phát những tục lệ đối xử hành vi của con người với ngôi nhà Nhìn bề ngoài, nhà của người Mường không khác gì nhiều với nhà sàncủa người Tày hay người Thái Nhưng đi vào chi tiết, ngôi nhà Mường cũng

có những đặc điểm nhất định Những ngôi nhà của người Mường không cósàn thềm ở bên ngoài như của người Thái Sàn nhà được làm bằng những câybương già, thẳng pha thành mảnh dát xuống lược bỏ mắt và cạnh sắc ghépliền với nhau, dùng lạt mây bộc chặt kết thành từng mảnh buộc vào khungsàn Những sàn nhà của nhà Lang trước đây thì dùng gỗ tốt như lim, gụ nênqua thời gian sử dụng, những tấm ván lên nước bóng láng Từ mặt đất lên sànnhà thường cao khoảng 2 đến 2,5 m tuỳ từng nơi ẩm thấp hay cao ráo Haynhư trong bộ kèo, gồm có hai kèo, mỗi kèo được còn được lắp một cái “pawac” để giữ cho nhà thêm vững chắc Bộ phận này không thấy có trong ngôinhà sàn của các dân tộc khác ở miền Bắc Nhà làm theo cách tạm gọi là “gác

Trang 31

gỗ làm nhà”, không có những mộng để lắp ghép vào nhau mà chủ yếu là nhữngcây gỗ gác lên nhau Cột nhà phần lớn là cột chôn Nhà có bốn mái, hai mái lớn

và hai mái nhỏ ở đầu hồi Mái nhà tương đối thấp và dốc, diềm mái che lấp mộtphần cửa sổ Cách bố trí trong nhà giữa các vùng tương đối thống nhất

Với người Mường nói chung, nhà là nơi diễn ra và chứng kiến những sựkiện như sinh, hôn, tử của một vòng đời Từ đó, ngôi nhà không chỉ có ý nghĩavới gia đình mà còn mang ý nghĩa cộng đồng xã hội, không chỉ là nhu cầu về vậtchất là để trú ngụ nắng mưa, ngủ nghỉ mà còn đáp ứng nhu cầu tâm linh

Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo Khănđội đầu là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa Yếm, áo cánh(thường là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cáchân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy Cạp váy được trang trí bởinhững hoa văn dệt kỳ công Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích

2 hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịt bạc Trongcác dịp lễ, tết, họ mang chiếc áo dài xẻ ngực thường không cài, khoác ngoài

bộ trang phục thường nhật vừa mang tính trang trọng vừa phô được hoa văncạp váy kín đáo bên trong

Đồ dùng sinh hoạt

Cư trú phần đông ở gần sông, suối nên người Mường đã sáng tạo ra các

công cụ đánh bắt cá của riêng mình Đó là những công cụ như: Kha, thỏm thôm,

Trang 32

ngõ lờ, ngó hầu, vó, nơm, giỏ Hầu hết chúng được làm bằng tre, nứa là nhữngnguyên vật liệu không thể thiếu trong sinh hoạt và sản xuất của người Mường.Ngoài ra, các loại dụng cụ lao động khác còn thô sơ như: Cày chìa vôi, bừa, cuốc Phụ nữ Mường chủ yếu dùng loại gùi đan bằng giang hoặc tre, bốn gócnẹp thành thẳng đứng, có dây quai đeo qua trán hoặc qua vai để chuyên chở.Đôi dậu, đòn gánh có mấu hai đầu, đòn xóc cũng thường được sử dụng.

Nước sạch được chứa trong ống nứa to, dài hơn 1 mét vác từ bến nước

về dựng bên vách để dùng dần

Văn hoá ẩm thực

Người Mường thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ Cơm,

rau đồ chín được dỡ ra rá, tãi đều cho khỏi nát trước khi ăn Ngoài ra, thịt heo muốichua cũng là một món ăn độc đáo, đặc biệt của người Mường Là món ăn dân dã,thịt heo muối chua được chế biến khá đơn giản với những gia vị có sẵn trong nhànhư lá quế, lá mít, lá trầu không, riềng, rượu nếp và thật nhiều muối, ớt khô giã nhỏ.Các loại lá trên phơi khô, giã nhỏ, cùng với rượu nếp cái ướp chung với thịt heo sau

đó cho vào hũ lớn, cách một lớp thịt rải một lớp gạo rang, ủ kín, gác trên bếp củi,khoảng 1-2 tuần là dùng được Mặc dù bình dị nhưng đây lại là món ăn truyềnthống mà đồng bào Mường chỉ dùng để tiếp khách quý

Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vịđậm đà của men Khi có khách quý hay trong các cuộc vui tập thể thì rượucần là điều không thể thiếu được

Một nét độc đáo nữa trong văn hoá ẩm thực của người Mường đó là cảphụ nữ và nam giới đều thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to Đặc biệt, phụ

nữ còn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc

1.3.2 Giá trị văn hoá tinh thần

Quan hệ làng bản

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, xã hội Mường thường được đặctrưng bằng chế độ lang đạo Tính chất và quan hệ của nó khá phức tạp và tuỳtheo từng khu vực mà có những nét khác nhau

Trang 33

Đơn vị cơ sở của xã hội là xóm hoặc làng Mỗi xóm, làng có một địavực, có phạm vi ruộng đất, nương rẫy, núi rừng và hệ thống thuỷ lợi riêng dodân ở đó xây dựng Quan hệ trong làng, xóm chủ yếu là quan hệ khu vực vàláng giềng chứ không phải quan hệ huyết thống.

Khoảng trên dưới một chục xóm hợp thành một mường, nhưng cũng cómường trên 20 xóm như ở Mường Bi, Mường Vang Thực ra, mường có thểphát triển do những kẻ cầm đầu có thế lực lấn chiếm hoặc dùng cách này haycách khác để mở rộng thêm đất đai Ngược lại, nó cũng có thể bị thu hẹp khingười cầm đầu thế yếu không giữ được đất đai toàn vẹn Người đứng đầu mộtmường chính là lang cun

Trong chế độ lang đạo, tính chất đẳng cấp được thể hiện khá rõ rệt Thổlang hay quan lang là những người thuộc tầng lớp quý tộc trong các dòng họ

có thế lực mạnh, lâu đời như họ Đinh, Quách, Bạch, Hoàng, Hà Lang đạotheo chế độ thế tập Lang cun là con trưởng của chi trưởng, trên danh nghĩađứng đầu mường nhưng chủ yếu cai quản “xóm chiềng”, đây thường là xómlớn nhất, ruộng đất nhiều Còn con thứ hoặc con trưởng của ngành thứ, caiquản các xóm nhỏ gọi là lang xóm Nhìn chung, các thổ lang giữ địa vị thốngtrị, nắm quyền quản lý, phân phối ruộng đất trong mường, trong xóm Giữalang và dân có sự cách biệt nghiêm ngặt Dân dù tài giỏi hay có khả năng gìchăng nữa cũng không thể trở thành lang Dân không được phép lấy con gáinhà lang Ngược lại, lang vẫn được lấy con gái dân, nhưng đó chỉ là vợ lẽ dùcưới trước Vợ cả phải là người thuộc dòng họ lang Trong trường hợp langchết mà không có con trai, có khi vợ được quyền kế vị chồng cai quản dântrong vùng Một nhà lang tuyệt tự, dân phải đi rước một dòng lang khác vềthay thế Ở một số vùng, chế độ lang đạo đã bị tan rã Thay vào đó là bộ máytổng lý, kỳ hào, tình hình phát triển xã hội tương tự miền xuôi

Quan hệ gia đình

Cũng như các dân tộc khác, người Mường rất quan trọng mối quan hệgia đình Gia đình chính là cái nôi hình thành và phát triển văn hoá truyền

Trang 34

thống Gia đình người Mường mang tính chất phụ quyền rất rõ rệt Quyền lựccủa người đàn ông chủ gia đình được xác lập một cách vững chắc Hình thứcphổ biến là tiểu gia đình, hiếm những gia đình gồm ba, bốn thế hệ cùng ở vớinhau Người chủ gia đình có những quyền hành rộng rãi và quyết định mọicông việc quan trọng trong nhà Quyền con trưởng được coi trọng, con traitrưởng là người kế vị trực tiếp các chức vụ của cha Con trai trong gia đình lànhững người chính thức được thừa kế gia sản trong đó người con trai trưởngthường được phần nhiều hơn Con cái sinh ra được lấy họ cha.

Địa vị của người phụ nữ trong gia đình người Mường rất thấp kém, họkhông được tham gia vào những cuộc họp bàn của làng xóm, không được

hưởng quyền thừa kế, điều này thể hiện khá rõ trong các gia đình bị thu lụt

(hay bị bắt vạ) Sự bất bình đẳng giữa nam, nữ còn tương đối đậm nét

Tuy nhiên, khi chưa lấy chồng, người con gái phần nào được tự dotrong sinh hoạt, được quyền làm một mảnh nương riêng, thu hoa lợi sử dụngtheo ý mình Mặt khác, trong sản xuất nười phụ nữ đóng vai trò đáng kể, lànhững lao động chính, nên trong gia đình họ cũng được tham gia bàn bạccông việc Nhiều việc trong nhà, người đàn ông cũng phải hỏi ý kiến ngườiphụ nữ

Tôn giáo và tín ngưỡng

Trong cuộc cuộc sống phải nương tựa vào rừng núi để tồn tại, con ngườiluôn bị thiên nhiên chi phối Trước vũ trụ bao la và muôn vàn hiện tượng tựnhiên, cũng như nhiều dân tộc khác, người Mường không thể giải thích thếgiới bằng tư duy khoa học Vì thế, con người trước sự bí ẩn của thiên nhiên đadạng, dữ dằn trở nên nhỏ bé Tín ngưỡng, tôn giáo có vị trí đặc biệt trong đờisống tinh thần người Mường

Một số người vì muốn thoát khỏi ảnh hưởng của lang đạo nên đã dựavào thế lực của cha cố Tuy theo Công giáo, song lòng tin của họ chưa sâu sắclắm, vẫn mời thầy mo về cúng ma, vẫn thờ cúng tổ tiên Vùng Mường trướckia cũng có chùa thờ Phật (còn gọi là thờ Bụt) nhưng không có sư sãi, không

Trang 35

cầu kinh, niệm phật, việc cúng bái đều do ông từ đảm nhiệm Có nơi cũng gọi

là chùa, song lại thờ bà chúa rừng

Trong các gia đình người Mường đều có thờ cúng tổ tiên, họ tin rằngngười chết sang thế giới bên kia vẫn có một cuộc sống tương tự ở trần gian Các làng xóm phần lớn có đình, thờ thành hoàng Thành hoàng làngthường được coi là người có công khai phá ruộng nương, lập làng lập xóm.Nhiều vùng thành hoàng lại là tổ tiên nhà lang

Trong dân gian, người ta tin rằng một số người có ma chài, ma ếm, cóthể dùng phương thuật, thần chú để hãm hại người khác Đây là biểu hiện củaloại ma thuật làm hại

Ngoài ra, trước đây đồng bào tin có rất nhiều loại ma như ma rừng, manúi, ma sông, ma suối , những thứ này đều tác động, ảnh hưởng đến conngười, nên mỗi khi trong nhà không yên ổn, phải cầu cúng chúng Đôi khingười ta còn thờ những cây to như cây đa, cây si

Cưới xin

Như nhiều dân tộc khác, người Mường cũng theo chế độ hôn nhân một

vợ, một chồng Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để giađình chuẩn bị lễ cưới Một đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháothếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất(ti cháu), lễ đón dâu (ti du) Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà traikhoảng ba, bốn người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái tổchức cưới Chú rể mặc quần áo đẹp, chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm

đồ chín (bằng khoảng mười đấu gạo), trên miệng chón để hai con gà sốngthiến luộc chín Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng

là chiếc áo dài màu đen thắt hai vạt ở phía trước Cô dâu mang về nhà chồngthường là hai chăn, hai cái đệm, hai quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàngchục gối con để nhà trai biếu cô, dì, chú, bác

Tục cưới xin của người Mường gần giống như người Kinh (chạm ngõ,

ăn hỏi, xin cưới và đón dâu)

Trang 36

Sinh nở

Theo tục lệ của người Mường, khi vợ sắp sinh con, người chồng phảichuẩn bị nhiều củi, làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thànhmột buồng kín cho vợ đẻ Khi vợ chuyển dạ, người chồng đi báo tin cho mẹ

vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi Bà đỡ cắtrốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu chiếc dui trên mái nhà Nếu là contrai thì dùng dao nứa mái nhà trước, nếu là con gái thì dùng dao nứa mái nhàsau Cuống rốn của các con trong gia đình được đựng trong một ống nứa, họtin rằng làm như thế, lớn lên anh em sẽ yêu thương nhau

Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo cúng trừ mọiđiều xấu hại đến mẹ con Người đẻ thường ăn cơm nếp cẩm với lá tắc chiềng(loại lá thuốc chống được bệnh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc

và trong thời gian cữ (bảy đến mười ngày) nhất là ba ngày đầu luôn luôn phảisưởi bên bếp lửa Trẻ sơ sinh nếu là trai thì được âu yếm goi là lọ mạ (thócgiống), nếu là gái thì trìu mến gọi là cách tắc (rau cỏ) Thường thì trẻ khoảngmột tuổi mới được đặt tên gọi chính thức

Ma chay

Tang ma là một nghi lễ quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội.Đồng thời cũng là một hiện tượng văn hoá đặc sắc bao gồm nhiều nghi lễkhác nhau nhằm phản ánh các quan niệm về lịch sử xã hội, cộng đồng dântộc Với đồng bào Mường, các thủ tục, nghi lễ trong một đám tang là rất quantrọng

Người chết tắt thở, con trai trưởng cầm dao nín thở chặt ba nhát vàokhung cửa sổ gian thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang Thi hài ngườichết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quantài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải

Tang lễ do thầy mo chủ trì Hình thức chịu tang của con cái trong nhàkhông khác so với người Kinh Tuy nhiên, con dâu, cháu dâu chịu tang ông

bà, cha mẹ còn có bộ trang phục riêng gọi là bộ quạt ma Tế quạt ma là một

Trang 37

nghi lễ độc đáo trong đám ma người Mường Khi tế quạt ma, những người làdâu trong nhà trong họ của người quá cố phải mặc bộ đồ quạt ma rất đẹp,gồm: váy đen, cạp mới, áo ngắn, áo chùng trắng, yếm đỏ, hai tay đeo vòng hạtcườm, tay phải cầm quạt cọ múa, tay trái cầm que gậy, đầu đội mũ quạt trangtrí tua hạt cườm; phía trước đặt một chiếc ghế mây.

Khi người con trai trong gia đình ấy chống gậy tre thì gia đình có bốmất, nếu chống gậy gỗ thì gia đình có mẹ mất

Văn học - nghệ thuật dân gian

Nền văn học dân gian của người Mường có rất nhiều tác phẩm đặc sắc,mang giá trị lớn Các truyền thuyết về Đức thánh Tản Viên hay truyền thuyết

Đẻ giang của người Mường đã phần nào giải thích về nguồn gốc của dân tộcmình Mặc dù truyền thuyết mang tính hoang đường và đôi khi tản mạnnhưng lại là tư liệu quý Người Mường quan niệm mình và người Kinh vốncùng một cha mẹ sinh ra, cùng máu mủ dòng giống Chính vì lẽ đó mà chođến tận ngày nay, người Mường vẫn còn lưu tuyền câu ca: “Ta với mình tuyhai mà một Mình với ta tuy một thành hai”

Ngoài ra, còn có các truyện thơ Út Lót Hồ Liêu, Nàng Nga Hai mối,Nàng Ờm chàng Bồng Hương, Con Côi nói về tình yêu nam nữ, lên án nạn

ép duyên của chế độ cũ Ca dao tục ngữ Mường phản ánh cuộc đấu tranh bấtkhuất của con người với thiên nhiên, của nhân dân lao động với bọn thống trị,mặt khác ca ngợi lao động và tình yêu

Kho tàng văn nghệ dân gian của người Mường cũng khá phong phú, cócác thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ Người Mườngcòn có hát ru em, đồng giao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻ con chơi

Cồng là nhạc cụ đặc sắc của đồng bào Mường, ngoài ra còn nhị, sáotrống, khèn lù, trống Họ còn dùng ống nứa gõ vào những tấm gỗ trên sànnhà, tạo thành những âm thanh để thưởng thức gọi là “đâm đuống”

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Học viện Chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (2008), NXB Chính trị - hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác giả: Học viện Chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học
Nhà XB: NXBChính trị - hành chính
Năm: 2008
2. Học viện Chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (2008), NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Học viện Chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2008
3. Học viện Chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện văn hoá và phát triển, Giáo trình Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của ĐảngCộng sản Việt Nam
Tác giả: Học viện Chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện văn hoá và phát triển, Giáo trình Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2008
4. Học viện Chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện văn hoá và phát triển, Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hoá (2008), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hoá
Tác giả: Học viện Chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện văn hoá và phát triển, Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hoá
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
5. Những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh (2003), NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh
Tác giả: Những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2003
6. Trần Ngọc Bình, Văn hoá các dân tộc Việt Nam (2008), NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Bình, Văn hoá các dân tộc Việt Nam
Nhà XB: NXB Thanhniên
Năm: 2008
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị Trung ương 4, khoá VII, Nhà in Thống Nhất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương 4, khoáVII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành trung ương khoá VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban chấphành trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Guốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Guốc gia
Năm: 2006
11. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
12. Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
13. PGS.PTS Đặng Văn Lung (1997), Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán các dân tộc ViệtNam
Tác giả: PGS.PTS Đặng Văn Lung
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 1997
14. PGS.TS Nguyễn Khắc Tụng (1996), Nhà ở cổ truyền các dân tộc Việt Nam (tập 1), NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà ở cổ truyền các dân tộc ViệtNam
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Khắc Tụng
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1996
15. Viện dân tộc học (1978), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phíaBắc)
Tác giả: Viện dân tộc học
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1978
16. Ngô Đức Thịnh (1994), Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 1994
17. Người Mường ở Nho Quan (Ninh Bình) phát triển kinh tế và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, báo Ninh Bình, 30/8/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mường ở Nho Quan (Ninh Bình) phát triển kinh tế và giữ gìn bảnsắc văn hoá dân tộc
18. Tô Huy Rứa, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đẩy mạnh xây dựng văn hoá trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của Việt Nam, Tạp chí Cộng sản số 816, tháng 10/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đẩy mạnh xây dựngvăn hoá trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của ViệtNam
19. UBND huyện Nho Quan (2010), Báo cáo kết quả thực hiện công tác Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Mường huyện Nho Quan, năm 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w