1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự biến đổi kinh tế xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa

211 476 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 3,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thổ nhưỡng phù hợp để trồng các loại cây phục vụ cho công nghiệp chế biến cao su, chè, keo, tre, nứa, luồng, mía… có rừng Quốc gia Bến En, thác Đồng Quan… để phát triển du lịch, đồng thờ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Như Xuân là huyện miền núi, nằm ở phía tây nam tỉnh Thanh Hóa gồm 18 xã thị trấn, là huyện có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội, với mỏ Cao lanh

ở thị trấn Yên Cát, vàng sa khoáng, bauxite (bô xít) ở xã Thanh Quân thổ nhưỡng phù hợp để trồng các loại cây phục vụ cho công nghiệp chế biến cao su, chè, keo, tre, nứa, luồng, mía… có rừng Quốc gia Bến En, thác Đồng Quan… để phát triển du lịch, đồng thời là địa phương có sự đa dạng về sắc thái văn hóa với nhiều dân tộc thiểu

số cùng cư trú như Thái, Thổ, Mường… trong đó, người Thổ còn giữ được nhiều yếu

tố văn hóa truyền thống Cơ cấu kinh tế của Như Xuân, nông - lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao, thương mại - dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp

Mặc dù có những tiềm năng để phát triển nhưng đến nay chưa được khai thác một cách có hiệu quả, Như Xuân nằm trong danh sách 61 huyện nghèo của cả nước theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP và là một trong số 7 huyện nghèo của tỉnh Thanh Hóa

Từ sau Đổi mới (năm 1986) đến nay, nhất là trong những năm gần đây nhờ có chính sách quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Thanh Hóa thông qua các Chương trình 134, 135, Chương trình 30a, Chương trình xây dựng nông thôn mới… kinh tế - xã hội ở người Thổ huyện Như Xuân có những chuyển biến mạnh

mẽ, từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, trồng lúa nước là chính chuyển sang kinh tế nông nghiệp hàng hoá đã góp phần đưa kinh tế của người Thổ từng bước ổn định và phát triển, đồng thời là tiền đề cho những biến đổi về xã hội

Các nghiên cứu về dân tộc Thổ ở huyện Như Xuân trước đây đã đề cập ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên, những biến đổi về kinh tế - xã hội của tộc người này còn chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức Vì thế, nghiên cứu những biến đổi kinh tế - xã hội từ sau Đổi mới (1986) đến nay sẽ góp phần khỏa lấp khoảng trống về phương diện lý luận và thực tiễn mà các nghiên cứu trước để lại, đặc biệt trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

Trang 2

Những tư liệu thu thập được tại thực địa không chỉ phản ánh thực trạng về tình hình kinh tế - xã hội ở người Thổ, mà còn góp phần tìm ra nguyên nhân của những thành công và những khó khăn, thách thức trên con đường phát triển

Vì vậy, lựa chọn đề tài “Sự biến đổi kinh tế - xã hội của dân tộc Thổ ở huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá” làm luận án tiến sĩ nhân học có ý nghĩa thiết thực cả

về lý luận và thực tiễn

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Trên cơ sở tư liệu Dân tộc học/Nhân học và các nguồn tài liệu khác nhau, luận án tập trung phân tích những đặc điểm cơ bản kinh tế - xã hội truyền thống ở người Thổ huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa

- Chỉ ra những biến đổi về kinh tế - xã hội và những yếu tố tác động đến biến đổi ở người Thổ huyện Như Xuân từ năm 1986 đến nay

- Từ kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất một số kiến nghị và giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở người Thổ ở huyện Như Xuân

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng hợp, thu thập các tài liệu thành văn có liên quan đến đề tài nghiên cứu; thực hiện điền dã Dân tộc học/Nhân học, điều tra hộ gia đình nhằm thu thập tài liệu thực địa phục vụ cho chủ đề nghiên cứu của luận án

- Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu; xác định cơ sở lý thuyết làm định hướng cho triển khai nội dung luận án

- Mô tả và tìm ra những đặc điểm cơ bản về kinh tế - xã hội truyền thống của người Thổ ở huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa

- Phân tích và đánh giá thực trạng biến đổi về kinh tế - xã hội của người Thổ ở huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tộc người Thổ, trong đó tập trung trình bày những nét cơ bản về kinh tế - xã hội truyền thống và biến đổi của nó từ sau Đổi mới (năm 1986) đến nay

Trang 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: phân tích những biến đổi về sở hữu và sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; gia đình, dòng

họ, thôn/làng, sự xuất hiện các tổ chức phường/hội mới và phân tầng xã hội

- Về không gian: nghiên cứu tại ba xã: Yên Lễ, Cát Tân, Hóa Quỳ của huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa (đây là ba xã có vị trí cư trú khác nhau: xã ở gần thị trấn, xã gần đường mòn Hồ Chí Minh, xã ở nơi hẻo lánh), để thấy được các yếu tố truyền thống và sự đa dạng của quá trình biến đổi kinh tế - xã hội ở tộc người này

- Về thời gian: trình bày kinh tế - xã hội truyền thống của người Thổ trước năm

1986 và những biến đổi từ sau 1986 đến nay

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội đối với các dân tộc ở Việt Nam Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng trong triết học Mác-Lênin để làm rõ sự vận động của quy luật phát triển

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Cách tiếp cận

- Tiếp cận liên - đa ngành

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biến đổi kinh tế - xã hội Theo đó, nghiên cứu này tiếp cận liên - đa ngành Dân tộc học/Nhân học kết hợp với một số ngành khoa học liên quan khác như: Xã hội học, Văn hoá học

- Tiếp cận vùng văn hóa - tộc người

Phát triển vùng và tộc người luôn gắn bó hữu cơ với nhau Vì vậy, nghiên cứu

về phát triển kinh tế - xã hội ở dân tộc Thổ không thể tách rời giữa vùng và tộc người Vùng văn hóa - tộc người có những nét tương đồng về địa lý tự nhiên, dân

cư, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, nên có những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt của cư dân ở đó

Trang 4

- Tiếp cận dưới góc nhìn chủ thể văn hoá

Quan điểm tiếp cận này đòi hỏi phải xem xét dân tộc Thổ là đối tượng hưởng lợi trong hoạch định các chính sách, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng này Các chủ thể văn hóa là người phát biểu chính kiến của mình về những biến đổi kinh tế - xã hội, đề xuất nhu cầu cũng như giải pháp phát triển

4.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó sử dụng phương pháp điền dã Dân tộc học là chủ yếu, với các hình thức quan sát tham gia, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, ghi âm, chụp ảnh, được áp dụng một cách linh hoạt, nhằm thu thập những tư liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu Quan sát tham gia được áp dụng trong suốt thời gian nghiên cứu tại thực địa Vận dụng hình thức cùng

ăn, ở, làm việc và trao đổi với người dân địa phương, tạo được mối quan hệ thân thiện với các cộng tác viên, khiến họ cảm thấy thoải mái và sẵn sàng chia sẻ thông tin về địa bàn cư trú, các hình thức canh tác nông nghiệp (đồng ruộng, mương máng,…), hoạt động lâm nghiệp và các khía cạnh khác trong đời sống kinh tế - xã hội của tộc người

Phương pháp cơ bản để thu thập tư liệu định tính là quan sát và tiến hành phỏng vấn sâu Các cuộc phỏng vấn sâu đã được tiến hành tại một số hộ gia đình trong các thôn/làng, dựa vào bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn, hay đặt những câu hỏi mở

để cho người dân chủ động tìm hiểu và trả lời Đối tượng được lựa chọn phỏng vấn

là các chủ hộ gia đình, già làng, trưởng thôn, những người tham gia bộ máy chính quyền các cấp

Tại mỗi điểm điều tra, một số buổi thảo luận nhóm tập trung đã được tổ chức trong nhóm nam giới, nhóm phụ nữ, nhóm hỗn hợp nam giới và phụ nữ, mỗi nhóm

có từ 5 -7 người Nội dung thảo luận nhóm hướng vào từng chủ đề cụ thể liên quan đến trồng trọt, chăn nuôi và các vấn đề xã hội… Việc sử dụng hình thức thảo luận nhóm là rất cần thiết nhằm khuyến khích người dân chủ động tham gia, chủ động trả lời những câu hỏi đặt ra

Việc thu thập tài liệu thứ cấp gồm báo cáo thống kê, báo cáo tổng kết của chính quyền các cấp, ban ngành, đoàn thể được ưu tiên quan tâm Điều đó giúp luận

Trang 5

án có điều kiện đối chiếu, so sánh, phân tích với tư liệu từ các nguồn khác, nhất là

từ phỏng vấn Ngoài ra, phương pháp điều tra xã hội học cũng được chú trọng thực hiện, thông qua việc tổ chức điều tra phiếu tại ba xã: Yên Lễ, Cát Tân, Hóa Quỳ, trong đó mỗi xã lựa chọn ngẫu nhiên một thôn để điều tra 100 hộ (tổng số phiếu điều tra là 300 hộ) Các phiếu này được xử lý bằng phần mềm SPSS

Phương pháp so sánh cũng được sử dụng trong luận án, nhằm thấy được sự biến đổi về kinh tế - xã hội của dân tộc Thổ ở các điểm lựa chọn nghiên cứu

- Luận án góp thêm luận cứ khoa học cho việc định hướng xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với dân tộc Thổ ở huyện Như Xuân trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án bổ sung thêm tư liệu về dân tộc Thổ, nhất là sự biến đổi kinh tế - xã hội

ở tộc người này Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần đề xuất một số chính sách trong xây dựng nông thôn mới ở vùng dân tộc Thổ hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách lập kế hoạch phát triển bền vững và nâng cao cuộc sống của dân tộc Thổ nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung

Trang 6

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được chia thành bốn chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Biến đổi về kinh tế

Chương 3: Biến đổi về xã hội

Chương 4: Các yếu tố tác động đến sự biến đổi kinh tế - xã hội và những vấn

đề đặt ra

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu về biến đổi kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Ở Việt Nam, sự biến đổi về đời sống kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số

là một chủ đề không mới, ít nhất là trong khoảng 40 năm gần đây, kể từ năm 1975 sau ngày hai miền Bắc - Nam thống nhất, khi mà yêu cầu nhận diện và đánh giá thường xuyên tình hình dân số và đời sống của các nhóm cư dân khác nhau trên cả nước là một trong những yêu cầu tiên quyết để xây dựng và điều chỉnh các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Tùy thuộc vào từng thời điểm, từng địa bàn hay từng tổ chức/nhóm điều tra khác nhau mà cách tiếp cận và phương nghiên cứu có thể có sự khác biệt Chẳng hạn, ở cấp độ vĩ mô, các cuộc điều tra của Chính phủ trong khuôn khổ của Tổng điều tra dân số và nhà ở, Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản, Khảo sát mức sống dân cư và hộ gia đình chủ yếu quan tâm đến tình hình tăng trưởng và chênh lệch trong các con số thể hiện mức thu nhập, chi tiêu, cơ cấu nghề nghiệp, đầu tư giáo dục và chăm sóc sức khỏe của dân

cư nói chung và hộ gia đình nói riêng Trong khi đó, những cuộc điều tra có sự phối hợp giữa các viện/trung tâm nghiên cứu được tài trợ hoàn toàn hoặc một phần bởi các tổ chức quốc tế (thường là Ngân hàng thế giới, Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc ) lại nhấn mạnh đến các khái niệm đói nghèo, bất bình đẳng, phân tầng xã hội, với đối tượng điều tra có khi được thu hẹp thành các nhóm cụ thể như trẻ em, phụ nữ, thanh thiếu niên, người già

Dù là theo hướng tiếp cận nào thì các nghiên cứu đã được công bố đều thừa nhận kể từ khi thực hiện đường lối Đổi mới do Đảng ta khởi xướng đã có sự thay đổi tích cực và toàn diện về đời sống kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Những tiến bộ rõ rệt về nhiều mặt không chỉ được ghi nhận như là thành tựu

Trang 8

của các chính sách phát triển, mà còn được xem xét như là kết quả của sự tự thích ứng của các nhóm cư dân với bối cảnh mới Đặc biệt, ảnh hưởng của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, toàn cầu hóa đã thường xuyên được lưu ý và gắn kết với những biểu hiện khác nhau từ lớn nhất đến nhỏ nhất của sự biến đổi

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều hướng tới việc mô tả sâu hơn về hiện trạng biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội theo cấp độ vùng (nhiều tỉnh miền núi trong một vùng địa lý - kinh tế), hoặc cấp hành chính cơ sở (tỉnh, huyện, xã miền núi) mà đối tượng là các dân tộc/nhóm dân tộc

Bốn cuốn sách: Một số vấn đề kinh tế - xã hội Tây Nguyên/ Ủy ban Khoa học

xã hội Việt Nam [124]; Một số vấn đề kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc/ Viện Dân tộc học [171]; Những biến đổi về kinh tế - văn hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc/ Bế Viết Đẳng [32] và Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc/ Khổng Diễn (Chủ biên) [17], đã trình bày một cách tổng quát về đặc

điểm kinh tế, xã hội truyền thống của nhiều tộc người khác nhau và các ảnh hưởng của nó tới công cuộc định canh định cư và xây dựng quan hệ sản xuất mới, đồng thời trình bày những thay đổi cơ bản trong đời sống của các tộc người này, đánh giá các nguồn lực và định hướng phát triển miền núi trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội

Cuốn sách Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX do nhiều tác giả biên

soạn [75] đã giới thiệu một số bài viết, đề cập sơ qua về sự phát triển của đời sống người dân tộc thiểu số trong thế kỷ XX, trong đó gắn kết với quá trình xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đáng chú ý hơn, một số bài viết đã khẳng định tính năng động của đồng bào dân tộc thiểu

số trong phát triển kinh tế dưới chế độ mới, cũng như tích cực tham gia xây dựng chính quyền cơ sở, góp phần thúc đẩy những biến chuyển về nhiều mặt của đời sống tộc người

Từ cuối những năm 1990, khi mà ảnh hưởng của chính sách Đổi mới đã hiện hữu ngày càng rõ nét, tính cấp thiết về việc liên hệ những biến đổi của đời sống tộc người với chính sách này đã thu hút sự quan tâm của giới khoa học Những công

Trang 9

trình đầu tiên quan tâm đến vấn đề này phải kể đến là Kinh tế miền núi và các dân tộc: thực trạng - vấn đề - giải pháp của Phạm Văn Vang [169] và Miền núi Việt Nam, thành tựu và phát triển những năm đổi mới của Trần Văn Thuật và cộng sự

[120] Nhìn chung, các tác giả đặt trọng tâm vào luận bàn về chính sách, việc đánh giá thực trạng biến đổi kinh tế - xã hội chủ yếu dựa vào các con số thống kê, tư liệu

mô tả còn yếu và khó có thể kiểm chứng đầy đủ

Những năm tiếp theo, sự hòa nhập của đời sống các dân tộc với những biến

chuyển mới của đất nước mới được mô tả tỉ mỉ hơn qua các công trình Văn hoá, xã hội và con người Tây Nguyên của Nguyễn Tấn Đắc [31], Văn hoá làng miền núi Trung bộ Việt Nam: Giá trị truyền thống và những bước chuyển lịch sử, Nguyễn Hữu Thông (Chủ biên) [114], Sự phát triển vùng dân tộc thiểu số Việt Nam sau hội nhập [110] của Lê Ngọc Thắng, Văn hoá tộc người, truyền thống và biến đổi của Ngô Văn Lệ [58], Thực trạng phát triển các dân tộc Trung bộ và một số vấn đề đặt

ra của Bùi Minh Đạo [30], Sự biến đổi những giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay của Nguyễn Ngọc Hoà [46]

Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu đã quan tâm làm rõ sự đa dạng của đời sống kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Đề cập đến vấn đề đói nghèo do ảnh hưởng của kinh tế thị trường và sự phân tầng kinh tế xã hội, có thể kể

đến: Kinh tế thị trường và sự phân hoá giàu - nghèo ở vùng dân tộc miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Lê Du Phong (Chủ biên) [80], Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp, Hà Quế Lâm [56], Thực trạng đói nghèo và một số giải pháp xoá đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu

số tại chỗ Tây Nguyên của Bùi Minh Đạo [29], Điều tra, đánh giá tăng trưởng và giảm nghèo ở một số vùng dân tộc thiểu số phía Bắc của Lò Giàng Páo [79], An sinh xã hội đối với dân tộc thiểu số ở Việt Nam của Nguyễn Thị Lan Hương [49]

Đối với sự biến đổi kinh tế - xã hội của từng dân tộc cụ thể, số lượng các công trình đã xuất bản rất phong phú và đã đề cập đến hầu hết mọi vùng, miền trên

cả nước Trong đó, đáng chú ý là ba cuốn Thực trạng kinh tế và văn hoá của ba nhóm tộc người đang có nguy cơ bị biến mất của Trần Trí Dõi [19] đã nói đến tộc

Trang 10

người Arem, Mã Liềng, Rục ở miền Tây Quảng Bình; Biến đổi kinh tế, văn hoá, xã hội của cộng đồng người Chăm và Khmer tại thành phố Hồ Chí Minh của Nông

Bằng Nguyên và cộng sự [71], đã giới thiệu các bài nghiên cứu có đề cập đến sự phân bố dân cư của cộng đồng người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số đặc điểm trong đời sống kinh tế hộ gia đình của người Chăm Islam Nam Bộ Gần

đây có công trình Định canh định cư và biến đổi kinh tế - xã hội của người Khơ -

mú và người Hmông của Nguyễn Văn Toàn [99] tập trung vào một số địa bàn tái

định cư hai tộc người này ở tỉnh Nghệ An

Ngoài các công trình được xuất bản dưới dạng sách, không thể không kể đến các Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ thuộc các ngành Xã hội học, Văn hóa học, Dân tộc học - Nhân học với đối tượng nghiên cứu là các tộc người ở các địa bàn cụ thể (giới hạn trong phạm vi một huyện hoặc một vài xã trong một huyện) Nhìn chung, khung phân tích về sự biến đổi đời sống kinh tế - xã hội tộc người trong các đề tài nghiên cứu tương đối thống nhất, đều rất chú trọng đến việc đối chiếu hai mặt truyền thống và hiện đại bằng các tư liệu điền dã có tính cập nhật cao

Trong những năm gần đây, để phục vụ cho việc nắm bắt thực trạng biến đổi kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam, Viện Dân tộc học thuộc Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã triển khai hàng loạt đề tài nghiên cứu với đối tượng như người Bru-Vân Kiều, Ơ-đu, Mảng, Mạ, Mnông,Tà Ôi, Xơ-đăng, Si La,

La Hủ, Chu-ru, Raglai, Ngái, Cống Các đề tài của Viện Dân tộc học tập trung làm

rõ sự biến đổi đời sống của các tộc người dưới tác động của kinh tế thị trường

Tuy nhiên, ở khu vực miền núi Thanh - Nghệ vẫn còn rất ít các đề tài thuộc chủ đề này Đối với người Thổ nói riêng, hiện vẫn chưa có đề tài nào có tên gọi và định hướng nghiên cứu sát với chủ đề này, ngoại trừ một phần nội dung nghiên cứu

từ những công trình cũ mà nay đã thiếu tính cập nhật

1.1.2 Nghiên cứu về người Thổ nói chung, người Thổ ở huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá nói riêng

Có thể nói cuốn sách Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam của Lã Văn Lô và

Nguyễn Hữu Thấu [60] là công trình khoa học đầu tiên đề cập đến người Thổ, dù

Trang 11

chỉ ở dạng rất sơ lược Qua tiếp cận từ các truyền thuyết được kể lại, ngay từ công trình này, các nhà khoa học đã khẳng định về nguồn gốc đồng bằng của một số nhóm Thổ ở miền núi phía Tây khu IV cũ, do sự áp bức của phong kiến và những biến động lịch sử mà phải chạy lên vùng rừng núi để lánh nạn Trong phần danh mục các dân tộc thiểu số, nhóm tác giả đã xếp người Đan Lai, Ly Hà, Poọng là một

dân tộc, còn lại xếp vào dân tộc Mường [60, tr.39,245] Trong cuốn Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam [101] Vương Hoàng Tuyên cũng đồng quan

điểm khi cho rằng nhóm Đan Lai - Ly Hà là một nhánh của người Việt, bằng việc đối chiếu từ vựng của một số tộc người, ông lại xếp người Tày Poọng vào nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me ở Bắc Trường Sơn [101, tr.159]

Mạc Đường là người đầu tiên nghiên cứu về người Thổ với tư cách là một tộc người độc lập phân biệt với các tộc người trùng tên ở Bắc Việt Nam Trong

cuốn sách mang tên Các dân tộc miền núi bắc Trung bộ: Sự phân bố dân cư và những đặc trưng văn hoá [38], ông đã xác định dân tộc gọi là “Thổ” ở miền núi

Nghệ An thuộc nhóm ngôn ngữ “Việt miền núi”, hoàn toàn khác với nhóm người sống ở Việt Bắc cũng được gọi là “Thổ” nhưng lại nói tiếng Tày Mạc Đường đưa

ra những nhận định về nguồn gốc của người Thổ qua hệ thống các tên họ và gắn kết với những biến động lịch sử của Đại Việt thời phong kiến, cố gắng phân tách các

nhóm địa phương của người Thổ như Thổ sông Con và Thổ Lâm la, đồng thời còn

nhắc đến sự tồn tại của các tộc Cuối, Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng [38, tr.31 - 34] mà

về sau đã được các nhà khoa học xếp chung vào dân tộc Thổ Ông cũng nói về một

số đặc điểm kinh tế - văn hoá của một số nhóm địa phương người Thổ, nhưng trình bày trộn lẫn với phần viết về các dân tộc khác cũng sinh sống ở khu vực miền núi Bắc Trung Bộ, vì thế mà người đọc khó có thể nắm bắt được những đặc trưng văn hóa nổi bật của các nhóm này

Trong khoảng một thập kỷ từ sau cuốn sách của Mạc Đường ra đời, không có một nghiên cứu nào về người Thổ được ghi nhận Phải đến năm 1974, 1975, giữa bối cảnh mà việc nghiên cứu xác minh thành phần dân tộc trong cả nước được đặt

ra như là một nhu cầu bức thiết, một số bài viết ngắn về các nhóm Thổ xoay quanh

Trang 12

về vấn đề kể trên mới được các học giả giới thiệu Bài viết đầu tiên được đăng trên

Tạp chí Dân tộc học năm 1974, có tiêu đề là Bước đầu tìm hiểu về lịch sử phân bố

cư dân ở miền núi Nghệ An của Đặng Nghiêm Vạn [165], trong đó xác định các tộc

Tày Poọng, Đan Lai - Ly Hà và Cuối ở Tân Kỳ, Nghĩa Đàn là những cư dân đầu tiên tại đây, có thể xếp vào cộng đồng dân tộc Thổ [165, tr.21 - 23] Sang năm 1975

xuất hiện hai bài viết Vài nét về người Thổ ở Nghệ An của Thi Nhị và Trần Mạnh Cát [74], Vài nét về ba nhóm Đan Lai - Ly Hà, Tày Poọng của Đặng Nghiêm Vạn

và Nguyễn Anh Ngọc [166], nội dung được trình bày trong cuốn Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam do Viện Dân tộc học đứng

tên Bằng những tư liệu điền dã thu thập được, các tác giả này đã chứng minh được

sự gần gũi về nguồn gốc, văn hóa vật chất và tinh thần của các nhóm Họ, Kẹo, Mọn, Cuối, cũng như giữa các nhóm Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng với nhau Dù nhận thấy rằng nguồn gốc của các nhóm này không thật sự đồng nhất, họ vẫn đưa ra được kết luận: người Thổ là “một cộng đồng người riêng biệt, một dân tộc” chứ không phải là một nhóm nhỏ của người Kinh, người Mường [74, tr.445]

Đến các năm 1977, 1978, tình hình nghiên cứu đã có bước tiến triển mới khi xuất hiện một số khóa luận tốt nghiệp đại học của Khoa Lịch sử, trường Đại học

Tổng hợp Hà Nội như Bước đầu tìm hiểu người Thổ ở huyện Như Xuân - tỉnh Thanh Hóa) của Lê Văn Bé [7], Phong tục tập quán của người Đan Lai - Ly Hà trước Cách mạng tháng Tám 1945 của Bùi Minh Đạo [28], Người Tày Poọng ở Tương Dương, Nghệ Tĩnh trước Cách mạng tháng Tám của Đặng Văn Hường [50]

Điểm mới trong các công trình này là các tác giả đã bước đầu đưa ra được những tư liệu tương đối chi tiết về kinh tế, phong tục tập quán truyền thống của các nhóm khác nhau thuộc dân tộc Thổ

Năm 1978, công trình Các dân tộc ít người ở Việt Nam - Các tỉnh phía Bắc

[170] ra đời và được tái bản có sửa chữa, bổ sung vào năm 2014 đã ghi nhận về tộc danh và nêu các đặc điểm về văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, trong đó

có người Thổ Phần viết “Dân tộc Thổ” của Thi Nhị đã giới thiệu hàng loạt các khía cạnh mang tính chất cơ bản về dân tộc này (bao gồm địa bàn phân bố, nguồn gốc,

Trang 13

hoạt động kinh tế, các loại hình vật chất - tinh thần, tổ chức xã hội, hôn nhân, gia đình ) Các nhóm địa phương của người Thổ đã được tác giả thống nhất lại, ngoài

ra thì lần tái bản mới nhất của cuốn sách còn đề cập đến sự tồn tại của một bộ phận người Thổ ở miền núi Thanh Hóa

Có thể nói rằng từ cuối những năm 1980 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu các khía cạnh đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người Thổ mới bắt đầu được quan tâm nhiều hơn

Tiêu biểu là các công trình Dân tộc Thổ 40 năm dưới ánh sáng Cách mạng của Đảng [88] của Trương Văn Sinh, gồm 26 trang in trong sách 40 năm một chặng đường của Ban Dân tộc Nghệ Tĩnh đã giới thiệu về sự đổi thay và phát triển về

nhiều mặt của người Thổ ở miền núi Nghệ An kể từ sau Cách mạng tháng Tám (1945) thành công Bằng việc tổng hợp và phân tích tài liệu của các ban, ngành địa phương, Trương Văn Sinh đã giới thiệu sự chuyển biến về quan hệ xã hội và quan

hệ sản xuất, những thành tựu trong nâng cao năng suất lao động, sự mở mang các ngành nghề thủ công nghiệp và mạng lưới giao thông, phát triển đời sống, văn hóa, giáo dục và bồi dưỡng cán bộ người Thổ Tác giả còn bổ sung thêm những tư liệu

có giá trị về đặc điểm xã hội và văn hóa truyền thống của người Thổ [88, tr.194]

Tác giả Nguyễn Đình Lộc trong sách Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An [62] đã

dành ra 14 trang trình bày về người Thổ Trong đó đáng lưu ý là những nhận xét về đặc điểm truyền thống của người Thổ: nền kinh tế sản xuất chỉ ở trình độ thấp, nền văn hóa vật chất không có nét đặc sắc nhưng nền văn hóa tinh thần thì rất đa dạng, văn học dân gian khá phong phú và đặc sắc, đồng bào có ý thức cố kết tộc người lại rất cao và được biểu hiện rõ nét qua chế độ hôn nhân nội tộc

Từ kết quả nghiên cứu tác giả cho rằng trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các nhóm người Thổ khá lớn, xuất phát từ việc “sống tách biệt với các tộc người khác trong một điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nên đã dẫn đến quá trình thoái hóa tộc người rõ rệt” [62, tr.48]

Trong số các tác giả có đóng góp cho những hiểu biết về người Thổ, không thể không kể đến các công trình do Ninh Viết Giao đứng tên Những nghiên cứu của

Trang 14

ông có giá trị tham khảo cao trong việc so sánh văn hóa Thổ giữa các vùng, bởi vì chúng chỉ bó hẹp trong những đơn vị hành chính, cụ thể như sau:

Tân Kỳ: truyền thống và làng xã [40], Ninh Viết Giao và Nguyễn Văn Tài đã

dành một chương nói về người Thổ (hơn 40 trang), trong đó có một số trang trình bày đặc điểm xã hội và đặc điểm văn hóa

Địa chí huyện Tương Dương [42], tác giả đã dành một chương ngắn (hơn 10

trang) để đề cập đến các nét cơ bản đời sống vật chất, phong tục tập quán và ngôn ngữ của người Tày Poọng tại Tương Dương Nội dung của chương này tuy không

có gì đặc sắc do chủ yếu là chắt lọc lại những tư liệu có từ trước đó, nhưng vẫn đảm

sự mô tả đầy đủ về đặc điểm của nhóm người này

Địa chí huyện Quỳ Hợp [41] xuất bản cùng năm, tác giả đã dành một chương

dài (hơn 70 trang) để trình bày một cách khá toàn diện về người Thổ tại Quỳ Hợp,

có đầy đủ hết các khía cạnh mà những cuốn sách trước chưa đề cập đến Đặc biệt trong mục “Đặc điểm về mặt văn hóa vô thể”, vốn văn học - nghệ thuật dân gian của người Thổ đã lần đầu được đề cập đến qua các sưu tầm về tục ngữ, đồng dao, truyện kể và âm nhạc

Bên cạnh những nghiên cứu tổng hợp đề cập đến những mặt khác nhau trong văn hóa người Thổ, từ cuối những năm 1990 trở lại đây đã xuất hiện nhiều công trình, bài viết phản ánh một vấn đề chuyên biệt của đời sống tộc người này như sau:

Về nghề truyền thống có bài viết Một số nghề thủ công truyền thống của người Thổ [69] của Nguyễn Thị Thanh Nga, Nghề đan võng gai truyền thống của đồng bào Thổ ở huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) [66], khóa luận tốt nghiệp Đại học Văn

hóa Hà Nội, khoa Văn hóa dân tộc thiểu số của Tạ Thị Minh

Về nhà ở, trang phục có bài viết: Nhà ở của người Đan Lai và Tày Poọng [91] của Lý Hành Sơn, Mấy nét trang phục cổ truyền của đồng bào Thổ Nghệ An [96]

của Thái Tâm

Về cưới xin - tang ma: gồm các bài viết Tang lễ của một số nhóm thuộc dân tộc Thổ ở miền Tây Nghệ An [82] của Đặng Thanh Phương và Võ Mai Phương (1998), Nghi thức tang ma của người Thổ [55] của Trịnh Thị Lan, Hôn lễ của người

Trang 15

Đan Lai [92] của Lý Hành Sơn, Lễ thức trong đám tang truyền thống ở dân tộc Thổ

[97] của Thái Tâm, Ngoài ra còn có khóa luận tốt nghiệp Đại học khoa Quản lý văn

hóa - nghệ thuật mang tên Tập quán cưới xin truyền thống người Đan Lai huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An và tác động đến phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới [10] của Lương Thị Bình

Về lĩnh vực ngôn ngữ có Một số đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa người Đan Lai ở Nghệ An [3] của Lê Túc Ánh, Mối quan hệ giữa tiếng “Nguồn” với tiếng của các nhóm địa phương thuộc dân tộc “Thổ” và Vấn đề dân tộc ‘Thổ’ xét từ góc độ ngôn ngữ [47] của Nguyễn Hữu Hoành

Từ năm 2010 trở lại đây, một số tác giả mới bắt đầu cho ra mắt những công trình có tính chất chuyên khảo toàn diện về người Thổ Trước hết là hai công trình:

Văn hóa vật chất người Thổ [77], Văn hóa dân gian người Thổ [78] của Lê Mai

Oanh Cuốn sách đầu tập trung vào các đặc điểm văn hoá vật chất (hoạt động kinh

tế, hệ thống công cụ, giao thông đi lại và phương tiện vận chuyển, ăn uống, làng bản và nhà ở, trang phục truyền thống) và thực trạng văn hoá vật chất Trong khi cuốn thứ hai tập trung làm rõ văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần (quan hệ dòng họ, gia đình và gia tộc; lễ hội, tập quán hôn nhân và tang ma, trò chơi dân gian) và đặc biệt hơn cả là một tập hợp phong phú các tác phẩm văn học dân gian gồm truyện (có 7 truyện), thơ ca (gồm ca dao, dân ca, tục ngữ, câu đố và hát nghi lễ), làn điệu

cổ (16 bài) và các hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian do tác giả sưu tầm Đây là hai công trình nghiên cứu, sưu tầm toàn diện nhất về người Thổ

Cũng trong năm 2011, Văn hoá dân gian dân tộc Thổ làng Sẹt [102] của

Hoàng Minh Tường được xuất bản Cuốn sách bước đầu giới thiệu về những đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa người Thổ ở một làng miền núi, nhưng còn sơ lược Năm 2015, nhóm tác giả Bùi Xuân Đính, Tạ Thị Tâm và Bùi Minh Thuận đã

hệ thống lại toàn bộ các nghiên cứu về người Thổ và trình bày trong 135 trang của

cuốn sách Các dân tộc ở Việt Nam, tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt Mường [36] do

Vương Xuân Tình chủ biên Nhóm tác giả đã trình bày những đặc điểm kinh tế - xã hội truyền thống của người Thổ nói chung và những biến đổi của chúng trong bối

Trang 16

cảnh hiện đại Thông qua những con số cụ thể, nhóm tác giả đã đề cập đến tình hình

và tác động của sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũng như sự xuất hiện của hiện tượng đi làm thuê, đi làm ăn xa nhà từ năm 1986 đến nay Kết luận chung được đưa ra là “đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng người Thổ ở Nghệ An đã có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, những chuyển biến đó không đồng đều giữa các nhóm, các vùng” Đối với lĩnh vực xã hội, các tác giả mô tả vấn đề theo 3 mục: gia đình, dòng họ và làng bản

Nhìn chung, những dẫn chứng sinh động được đưa ra cho thấy xã hội người Thổ đã có sự tiến bộ hơn về nhiều mặt, nhưng cái “hồn” của nó cơ bản vẫn được duy trì

Những công trình có thể nói là gần gũi nhất với luận án này là ba luận văn

Thạc sĩ: Chuyển biến trong đời sống kinh tế - văn hóa của tộc người Đan Lai ở huyện Con Cuông, Nghệ An (từ cuối thế kỷ XX đến năm 2008) [54] của Hoàng Kim Khoa, Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hóa của dân tộc Thổ huyện Tân Kỳ - Nghệ An

từ năm 1975 đến năm 2007 [15] của Võ Duy Cường, Tái định cư và sự thay đổi đời sống của nhóm Đan Lai (Thổ) ở vườn Quốc gia Pù Mát [117] của Bùi Minh Thuận

Thành công lớn nhất của Hoàng Kim Khoa là đã chỉ ra sự chuyển biến tiến bộ trong đời sống người Đan Lai ở Con Cuông Do hạn chế về mặt phương pháp nên tác giả mới trình bày tiến trình chuyển biến ở dạng mô tả theo trình tự thời gian, chưa giải thích được nguyên nhân của những chuyển biến

Trong khi đó, luận văn của Võ Duy Cường và Bùi Minh Thuận lại lấy di cư, định canh định cư làm hướng tiếp cận, do đó trình bày rõ nét hơn về sự thay đổi của phương thức mưu sinh và đời sống văn hóa - xã hội người Thổ dưới tác động của những chính sách phát triển

Riêng tác giả Bùi Minh Thuận sau đó đã công bố 2 bài tạp chí là Một số vấn

đề trong quá trình thực hiện tái định cư cho người Đan Lai ở xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An [118] và Tái định cư và sự thay đổi phương thức mưu sinh của người Đan Lai ở Tân Sơn và Cửa Rào, xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An [119]

Trang 17

Liên quan đến nội dung của luận án còn có đề tài Tác động của yếu tố xã hội và văn hóa đến an toàn lương thực của người Thổ, nghiên cứu tại xóm Kẻ Mui, xã Giai Xuân, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An [44] của Trần Văn Hà chủ yếu trình bày về sự

cải thiện tình trạng thiếu lương thực nhờ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, việc đối phó với tình trạng khan hiếm lương thực bằng sự giúp đỡ của dòng họ, phường/hội, đồng thời nhấn mạnh vai trò của phụ nữ trong khắc phục tình trạng đói ăn của gia đình [36, tr.490]

Nhìn chung, các nghiên cứu trên về người Thổ nói chung và người Thổ ở huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoa nói riêng tập trung vào hai nội dung chủ yếu, đó là: chỉ rõ nguồn gốc tộc người, sự phân bố dân cư và khái quát một số nét trong bức tranh chung

về văn hoá tộc người Đến nay, nghiên cứu hệ thống về sự biến đổi kinh tế - xã hội người Thổ ở huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá vẫn còn thiếu vắng Vì vậy, luận án này góp thêm vào việc nhận thức, đánh giá vai trò tộc người trong sự phát triển chung của đất nước

1.2 Cơ sở lý thuyết

1.2.1 Các khái niệm cơ bản

Kinh tế là “tổng thể nói chung các hoạt động sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất cho con người và xã hội”; “có tác dụng mang lại hiệu quả tương đối lớn so với sức người, sức của và thời gian bỏ ra tương đối không nhiều” [103, tr.680]

Xã hội là “hình thức sinh hoạt chung có tổ chức của loài người ở một trình độ

phát triển nhất định, được hình thành trong quá trình lịch sử” [103, tr.1452] Đó là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa Sử dụng từ xã hội để nói đến một nhóm người tạo dựng một hệ thống xã hội một phần khép kín (hoặc một phần mở rộng), trong đó những người trong một nhóm hầu hết tương tác với những người khác thuộc cùng nhóm đó

Một xã hội được coi là một mạng lưới của những mối quan hệ của các thực thể Một xã hội cũng được coi là một cộng đồng với các cá nhân trong cộng đồng đó phụ thuộc lẫn nhau

Trang 18

Kinh tế - xã hội

Theo quan điểm của C Mác “sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội

là một quá trình lịch sử tự nhiên” [12, tr.20] Có nghĩa là sự vận động thay thế nhau giữa các hình thái kinh tế - xã hội, trong các giai đoạn lịch sử, chính là quá trình lịch

sử tự nhiên của xã hội Tức là, sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng một hình thái kinh tế - xã hội khác luôn chịu tác động của các quy luật khách quan Và, xét đến cùng, lực lượng sản xuất chính là yếu tố quan trọng nhất, quyết định toàn bộ quá trình vận động, biến đổi và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội như là một quá trình lịch sử tự nhiên

Trong quá trình vận động và phát triển này, quy luật về sự phù hợp của quan

hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất có vai trò quyết định Quy luật này chỉ rõ khi lực lượng sản xuất thay đổi/phát triển, đến một mức độ nào

đó sẽ kéo theo sự biến đổi và phát triển của quan hệ sản xuất; kiến trúc thượng tầng của xã hội Lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C Mác và Ph Ăng-ghen cho thấy có thể tìm nguyên nhân, cách lý giải về sự biến đổi của các tổ chức xã hội từ những biến đổi trong đời sống kinh tế [87]

Truyền thống là những “thói quen hay có tính chất quen thuộc đã được hình

thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền từ thế hệ sang thế hệ khác” [103, tr.135]

Biến đổi kinh tế: biến đổi kinh tế diễn ra ở hai phương diện là tăng trưởng kinh

tế và phát triển kinh tế Biến đổi trong kinh tế được thể hiện ở cơ cấu, thành phần, vùng kinh tế, chính sách và thể chế kinh tế

Biến đổi xã hội: là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã

hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian Khái niệm này hiểu theo nghĩa rộng là một sự thay đổi so sánh với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước Theo nghĩa hẹp, biến đổi xã hội là sự biến đổi về cấu trúc (cơ cấu) của một hệ thống xã hội Biến đổi xã hội là một quá trình mà qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan

hệ xã hội, thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội thay đổi qua thời gian

Trang 19

Đặc điểm nổi bật của biến đổi xã hội:

- Là một hiện tượng phổ biến nhưng nó diễn ra không giống nhau giữa các xã hội Nguyên nhân của hiện tượng này do các yếu tố trình độ khoa học kỹ thuật, văn hóa chênh lệch tạo ra

- Khác nhau về thời gian và hệ quả bởi vì có những biến đổi diễn ra trong cả

một giai đoạn, một thời kỳ, thậm chí qua nhiều thế hệ

- Biến đổi xã hội có tính hai mặt của nó Có những sự biến đổi do con người tạo ra và mang lại sự tác động tích cực làm thay đổi xã hội nhưng mặt trái của nó đôi khi con người không lường hết được hoặc không thể kiểm soát hết Chẳng hạn,

xã hội công nghiệp kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trường, thất nghiệp,

1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu

R.Inglehart với thuyết phát triển: chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa kinh

tế - chính trị - xã hội - văn hoá Trong cuốn “Hiện đại hoá và hậu hiện đại hoá” ông đã đặc biệt tập trung vào mối quan hệ kinh tế - văn hoá là mối quan hệ hữu

cơ, nó bổ sung cho nhau R.Inglehart khẳng định: kinh tế, văn hoá, xã hội luôn luôn diễn ra cùng nhau theo một mô hình chặt chẽ Nghiên cứu sự biến đổi kinh

tế - xã hội của tộc người, phải nhận thức được sự biến đổi đó không phải là rời rạc, riêng lẻ Sự biến đổi giữa các mặt của đời sống xã hội, đó là sự biến đổi mang tính biện chứng

Nhìn một cách bao quát, khi áp dụng thuyết phát triển trong luận án này là tìm

ra quá trình vận động biến đổi trong sự phát triển ổn định và bền vững cộng đồng người Thổ ở địa bàn nghiên cứu

M.Syrquin với thuyết chuyển dịch cơ cấu: nhấn mạnh nhân tố để biến đổi kinh

tế truyền thống tộc người là vai trò tiên phong của chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi Chính sự chuyển dịch này mới tạo nên diện mạo mới cho kinh tế nông nghiệp Trên cơ sở vận dụng lý thuyết này, luận án đi sâu tìm hiểu quá trình chuyển đổi

cơ cấu kinh tế như là tiền đề của sự biến đổi ở người Thổ

Thuyết chức năng - cấu trúc: các tác giả B.Malinowski, Radcliffe - Brown và

Talcott Parsons cho rằng, mỗi hiện tượng văn hoá hay xã hội đều được cấu thành

Trang 20

bởi những bộ phận hay yếu tố nhất định, trong đó mỗi bộ phận hay yếu tố đều phải đảm bảo một hoặc nhiều chức năng Các chức năng này phải luôn được đảm bảo cho cấu trúc tổng thể không bị phá vỡ Từ thuyết chức năng - cấu trúc cho thấy khi nghiên cứu sự biến đổi kinh tế - xã hội của tộc người phải nhìn thấy được yếu tố nền tảng, giá trị văn hoá bên trong được hiện hữu thông qua sự biến đổi

Việc áp dụng thuyết chức năng trong luận án này nhằm mục đích đưa ra các quy tắc và các giả thiết để tìm hiểu các cơ chế hành động nhằm tái tạo những cấu trúc kinh tế - xã hội trong sự phát triển bền vững của cộng đồng được nghiên cứu Từ đó để thấy rõ sự biến đổi của các thiết chế xã hội ở người Thổ ở huyện Như Xuân hiện nay

Thuyết biến đổi xã hội: Học thuyết của August Comte chỉ ra khi nghiên cứu về

sự biến đổi kinh tế - xã hội phải tìm hiểu những nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội Ông phân thành hai loại: Kinh tế, khí hậu, dân số (không quan trọng) và nhận thức, tư tưởng của con người (có ý nghĩa quyết định)

Theo ông cơ cấu xã hội phát triển từ thấp lên cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Cơ cấu xã hội tổng thể được tạo nên từ các tiểu cơ cấu và sự phát triển của xã hội tất yếu sẽ làm cho tiểu cơ cấu xã hội được chức năng hóa, chuyên môn hóa Chẳng hạn: cơ cấu kinh tế gồm nhiều ngành: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Ông nghiên cứu cách liên kết hữu cơ các tiểu cơ cấu lại với nhau theo hai đường:

Một là, phải có vai trò của Nhà nước, thông qua quyền lực của Nhà nước để điều hòa, điều phối nhằm liên kết các bộ phận lại không để nó tan rã Hai là, phải dựa

vào các cá nhân để liên kết cộng đồng

August Comte quan niệm về gia đình với hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống Ông coi gia đình là một tế bào của xã hội, là đơn

vị xã hội cơ bản nhất, nó tham gia vào mọi đơn vị khác Ông đã đi sâu nghiên cứu gia đình, phân công lao động trong gia đình, quan hệ giữa các thành viên, đặc biệt là quan hệ huyết thống

Vận dụng lý thuyết này, luận án muốn hướng tới tìm hiểu sự phát triển của xã hội ở cộng đồng người Thổ ở huyện Như Xuân từ truyền thống đến biến đổi hiện nay, nhất là những biến đổi trên quy mô lớn (cộng đồng xã) đến quy mô nhỏ, cấp độ gia đình, dòng họ

Trang 21

1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Xã Yên Lễ

- Điều kiện tự nhiên: phía tây giáp các xã Cát Tân và Hóa Quỳ, phía bắc giáp

xã Thượng Ninh, phía đông giáp xã Tân Bình và huyện Như Thanh, phía nam giáp Thị trấn Yên Cát, xã Bình Lương Yên Lễ thuộc vùng núi tiếp cận với đồng bằng nên địa hình khá phức tạp và đa dạng với các con suối chia cắt địa hình tạo thành những vùng riêng biệt, hình lòng chảo nghiêng theo ba hướng bắc, tây bắc và đông nam Tổng diện tích đất tự nhiên là 2.715,34 ha trong đó, đất cho sản xuất nông lâm nghiệp chiếm 78,99%, đất phi nông nghiệp chiếm 11,17%, đất chưa sử dụng chiếm 0,2% Nguồn nước mặt và nước ngầm dồi dào Nhiệt độ trung bình năm là 230C, lượng mưa là 1697mm, độ ẩm không khí là 84% Là xã tiếp giáp với trung tâm huyện lỵ, giúp cho việc vận chuyển hàng hóa giữa miền núi và miền xuôi dễ dàng, thuận lợi Với những điều kiện như vậy cho phép xã Yên Lễ tận dụng lợi thế để phát triển kinh tế tổng hợp

- Dân số và sự phân bố dân cư: dân số toàn xã có trên 5031 người, mật độ 167 người/km2, với các tộc người chủ yếu sinh sống như Thổ, Thái, Mường, Kinh trên

cả 12 thôn của xã Yên Lễ, trong đó tộc người Thổ chiếm 54%

- Thực trạng kinh tế - xã hội: xã Yên Lễ có điều kiện phát triển kinh tế tổng hợp cả nông - lâm - thủy sản, công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ Trong những năm qua bức tranh kinh tế, xã hội của xã Yên Lễ đã có những thay đổi khá

rõ nét với tốc độ tăng trưởng cao từ 9 - 10%/năm theo chiều tăng tỷ trọng thương mại, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp Thu nhập bình quân đầu người không ngừng được cải thiện, các chỉ số đánh giá mức độ phát triển xã hội như tỷ lệ đói nghèo giảm, tăng dân số tự nhiên 1%/năm, trẻ bắt đầu đến trường đạt 100%, tuổi thọ tăng… cho thấy tính ổn định, tiến bộ bên trong sự phát triển

Trang 22

Thượng Ninh Là xã có địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình từ 300m - 400m, độ dốc trung bình từ 15 - 200 Địa hình của xã theo hướng thấp dần

từ tây sang đông nên tạo ra những dải đất cao thấp xen kẽ nhau Khí hậu tương đối thuận lợi về lượng nhiệt, lượng mưa (tổng lượng mưa trong năm 1600 - 1800mm)

và độ ẩm không khí (trung bình trong năm 80% - 86%),… các yếu tố khí hậu thời tiết nhìn chung thuận lợi cho hoạt động trồng trọt và chăn nuôi Tổng diện tích đất

tự nhiên của xã là 1.655,11ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 1.503,73 ha chiếm 90,85%; đất phi nông nghiệp 130,46 ha chiếm 7,88%; đất chưa sử dụng 20,92 ha chiếm 1,26% Tài nguyên nước ở đây có cả nước mặt và nước ngầm Nước mặt có diện tích 14,84 ha, bao gồm cả hệ thống sông suối, ao, hồ, kênh rạch và nước ngầm

có độ sâu 8 - 10m

- Dân số và sự phân bố dân cư: dân số toàn xã là 2919 người và phân bố tương đối đồng đều trên cả 8 thôn Các tộc người sinh sống gồm Thái, Thổ, Mường, trong

đó tộc người Thổ chiếm số lượng đông nhất với 1282 người, chiếm 44%

- Thực trạng kinh tế - xã hội: theo số liệu thống kê của xã Cát Tân, số người trong độ tuổi lao động chiếm 59,28% (lao động nông nghiệp là chủ yếu) Với nguồn lao động nông nghiệp dồi dào và nhờ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng nên trong những năm qua tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt mức hai con số trên năm, theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông - lâm nghiệp trong cơ cấu ngành kinh tế Sự phát triển kinh tế tạo lực cho những tiến bộ về xã hội Tỷ lệ học sinh đến trường ở các ngành học, bậc học hàng năm đạt 100%, 2/3 trường học cho các cấp học đều đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn I, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm, tuổi thọ trung bình cao hơn, đời sống

văn hóa tinh thần vì thế cũng được cải thiện nhiều

Trang 23

yếu tố khí hậu, thời tiết nhìn chung thuận lợi cho sinh trưởng phát triển cây trồng và vật nuôi Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 2.628,4 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp 2.333 ha, chiếm 88,8%; diện tích đất phi nông nghiệp 290,4 ha, chiếm 11%; diện tích đất chưa sử dụng 5,1 ha, chiếm 0,2% Tài nguyên nước gồm cả nước mặt và nước ngầm phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân tương đối ổn định

- Dân số và sự phân bố dân cư: dân số xã Hoá Quỳ hiện nay là 5339 người Dân cư phân bố tương đối đồng đều ở 13 thôn nhưng tập trung đông nhất dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh và gần khu trung tâm xã Trong đó, số lượng người Thổ là

1837 người, chiếm 34,4% dân số toàn xã

- Thực trạng kinh tế - xã hội: sản xuất nông nghiệp trong những năm qua đã có tốc độ tăng trưởng khá theo hướng giữ ổn định tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi, lâm nghiệp Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực, tuy nhiên tốc độ dịch chuyển còn rất chậm Nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới được đưa vào sản xuất làm đa dạng hoá mặt hàng nông sản Phong trào xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá, xây dựng nếp sống văn hoá mới ở khu dân cư đã được xúc tiến mạnh, giảm thiểu những hủ tục lạc hậu trong các ngày cưới, tang lễ Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân từng bước được quan tâm, chất lượng giáo dục và cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục có những thay đổi rõ rệt

Toàn huyện Như Xuân có 11 xã thuộc diện xã đặc biệt khó khăn của chương trình 135 giai đoạn II của Chính phủ Hai xã Yên Lễ và Cát Tân là hai trong số ba

xã được chọn nghiên cứu nằm trong danh sách đó

Tiểu kết Chương 1

Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu về biến đổi kinh tế - xã hội, nghiên cứu sinh nhận thấy các nghiên cứu kinh tế - xã hội ở Việt Nam nói chung, nghiên cứu về người Thổ nói riêng đã có khá nhiều công trình được công bố dưới dạng sách, bài tạp chí hoặc luận án, luận văn, đây là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu sinh tham khảo cho luận án của mình; tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về biến đổi kinh tế - xã hội của người Thổ ở huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa

Trang 24

Nghiên cứu sinh đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên quan đến nội dung của luận án như các khái niệm cơ bản và một số lý thuyết Đồng thời nghiên cứu sinh đã giới thiệu khái quát về địa bàn ba xã Yên Lễ, Cát Tân và Hóa Quỳ, đây là các xã có

số lượng người Thổ cư trú khá tập trung Từ những nội dung của chương này sẽ là tiền đề quan trọng cho các nghiên cứu ở các chương tiếp theo của luận án

Trang 25

Chương 2 BIẾN ĐỔI VỀ KINH TẾ

2.1 Đặc điểm kinh tế truyền thống

2.1.1 Sở hữu, sử dụng đất đai và tài nguyên thiên nhiên

Từ sau Cách mạng tháng Tám (1945), đặc biệt từ sau cuộc cải cách ruộng đất vào những năm 1953 - 1957, vấn đề “người cày có ruộng” đã được giải quyết triệt

để ở các vùng nông thôn miền Bắc, trong đó có người Thổ, chế độ sở hữu ruộng đất được trao cho người nông dân Tuy nhiên, việc sở hữu ruộng đất tư nhân chỉ tồn tại

trong một thời gian ngắn Từ những năm 1960, thực hiện chủ trương hợp tác hóa

của Nhà nước, ruộng đất của hộ gia đình được tập thể hóa (cùng với tập thể hóa lao động và một số tư liệu sản xuất khác) Sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể được khuyến khích, còn sở hữu tư nhân giảm dần và không còn vai trò đáng kể trong đời sống kinh tế - xã hội Quyền sở hữu ruộng đất trên danh nghĩa là sở hữu toàn dân,

sở hữu tập thể do hợp tác xã quản lý, xã viên là người làm công cho hợp tác xã (HTX) Bắt đầu từ năm 1961, người Thổ ở huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa hình thành nên các HTX của mình Ở xã Yên Lễ có các HTX Trung Thành, HTX Yên Lợi; ở xã Hóa Quỳ có các HTX Đon, HTX Liên Hiệp… Nhìn chung, hình thức tập thể hóa về cơ bản đã xóa bỏ các chủ thể kinh tế hộ nông dân Hợp tác xã nông nghiệp với sản xuất thủ công là chính, trình độ quản lý thấp kém đã tỏ ra kém hiệu quả trong một thời gian dài Chính điều này, làm cho sự phát triển kinh tế ở người Thổ kém hiệu quả

2.1.2 Kinh tế nông nghiệp truyền thống

2.1.2.1 Trồng trọt

- Canh tác ruộng nước

Người Thổ cũng như các tộc người khác trong nhóm Việt - Mường đã có truyền thống lâu đời trong canh tác ruộng nước và họ đúc rút nhiều kinh nghiệm trồng trọt quý giá Vùng cảnh quan nơi người Thổ sinh sống được coi là ngã ba đường giao thoa với nhiều luồng văn hóa Trong đó lâu đời và quen thuộc nhất phải

Trang 26

kể đến các cư dân Mường ở vùng Hòa Bình, Cẩm Thủy… người Thái ở phía tây Thanh - Nghệ Ngoài ra, còn có người Việt ở vùng đồng bằng châu thổ, nơi gắn liền với các con sông mang nhiều phù sa bồi đắp cho đồng ruộng phì nhiêu Bởi thế, tìm hiểu về kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước của người Thổ cho thấy cái nhìn khách quan và thực tế một nền sản xuất có sự ảnh hưởng của các tộc người lân cận

Cách phân loại ruộng

Ruộng của người Thổ tập trung trong các thung lũng có diện tích trung bình và nhỏ hẹp Người Thổ phân chia ruộng thành hai loại: theo địa hình và theo chế độ nước Ruộng theo địa hình có ruộng gần chân núi (ruộng cao) và ruộng lầy thụt Những thửa ruộng gần chân núi thường có độ cao từ 0,5m đến 1m, canh tác hai vụ/năm Ruộng lầy thường nằm ở trung tâm những cánh đồng và là nơi có nhiều nước nhất Ruộng theo chế độ nước có ruộng ngâm nước và ruộng chờ mưa Ruộng ngâm nước là những thửa ruộng quanh năm có nước vì nằm ở vùng trũng Ruộng chờ mưa là những ruộng ở khu vực cao, nguồn nước tưới tiêu hoàn toàn phụ thuộc vào trời mưa nên chỉ cấy một vụ/năm, năng suất thấp

Ngoài ra, theo lời kể của một số cụ cao niên trong thôn/làng1 trước Cách mạng tháng Tám (1945) ở vùng người Thổ Như Xuân ruộng còn được phân chia theo độ phì nhiêu của đất Theo đó, có ruộng tốt, ruộng bình thường, ruộng xấu do chính quyền phân hạng, phần lớn ruộng tốt chia ruộng cho con cháu, gia đình quan lại,

người dân chỉ được canh tác trên những thửa ruộng xấu

Kỹ thuật canh tác

Làm đất: trong nông nghiệp khâu làm đất là quan trọng nhất Cũng như các tộc

người khác, người Thổ một năm trồng hai vụ lúa cho nên việc làm đất của họ cũng phụ thuộc vào chu kì này Người Thổ cho rằng, việc làm đất kỹ sẽ quyết định lúa tốt hay xấu Vì thế, ở những thửa ruộng cao thường được tiến hành cày và bừa nhiều lần Đầu tiên là cày vỡ đất, sau đó bừa ải vài lần, rồi vãi phân ra ruộng Phân được dùng chủ yếu là phân trâu, phân xanh Sau khi vãi phân tiếp tục bừa khoảng 5 lượt

và chuẩn bị cấy Phần lớn ruộng canh tác của người Thổ là ruộng lầy thụt nên trước kia làm đất theo hình thức trâu quần là phổ biến Hình thức làm đất theo lối trâu

Trang 27

quần theo tiếng Thổ gọi là “ôn đất”, còn người Thái ở khu vực lân cận gọi là “ộp nà” Có thể thấy đây là một hình thức có từ rất lâu đời trong lịch sử phát triển nông nghiệp Nó được hình thành trên cơ sở công cụ sản xuất còn thô sơ và lạc hậu, nhất

là ở những vùng chất đất có độ dính, lầy, thụt… “Phương pháp ôn đất sẽ mất đi khi con người biết cải tạo ruộng đồng và công cụ sản xuất đầy đủ” [7, tr.18]

Trước những năm 1960, ở Như Xuân phương pháp canh tác trâu quần rất phổ biến trong cộng đồng Trong nghiên cứu của mình, Lê Văn Bé đã thống kê ở xã Như Xuân có 344 mẫu 5 sào 7 thước ruộng cày cấy hai vụ, trong đó đất được làm bằng trâu quần chiếm 72% [7, tr.32]

Phương pháp trâu quần của người Thổ cũng như các tộc người khác là đều sử dụng sức trâu, sức người để làm cho đất trên ruộng được nhuyễn Tuy vậy, phương pháp này lại hơi khác so với người Thái ở huyện Bá Thước, Thanh Hóa khi họ điều khiển trâu đi thẳng hàng lối, mà không cho trâu đi thành các vòng tròn đồng tâm Công việc lấy trâu quần đất này thường được người đàn ông trong gia đình đảm nhiệm Theo quan niệm của người Thổ thì “ôn đất” là một công việc nặng nhọc

và chỉ dành cho nam giới Rất hiếm khi người ta thấy phụ nữ tham gia vào công việc này, có chăng chỉ đi đưa cơm hoặc dắt trâu cho chồng, cho con trai mình làm

mà thôi

Để có ruộng cấy lúa phải trải qua hai lần “ôn đất” Lần một cho trâu quần nhuyễn đất rồi để đất nghỉ khoảng một tuần thì “ôn đất” lần hai, sau đó phụ nữ trong gia đình gánh phân rải ra ruộng; cuối cùng đất lại được bừa một lần nữa cho thật nhuyễn mới tiến hành cấy

Kể từ sau những năm 1960, ở Như Xuân phương thức làm đất kết hợp giữa cày

và bừa được đưa vào sử dụng, sau đó trở nên phổ biến2 Đây là phương pháp làm đất nhanh nhất và mang lại hiệu quả thực sự Tuy nhiên, hình thức trâu quần hiện

nay vẫn còn tồn tại ở một số nơi

Chọn giống và gieo mạ: lúa giống được người Thổ bảo quản rất cẩn thận bên

trong những bồ, cót… thậm chí còn được treo lên mái nhà Việc chọn giống lúa sao cho tốt được người dân chuẩn bị từ những vụ thu hoạch trước đó Thường thì họ sẽ

Trang 28

chọn giống lúa ở các ruộng màu mỡ, gié lúa dài, hạt vàng và mẩy Việc chọn giống lúa này thường xuyên được người phụ nữ trong gia đình đảm nhiệm

Thời tiết trong một năm cũng ảnh hưởng đến việc chọn giống lúa và gieo mạ

Có những năm rét đậm phải gieo mạ muộn hoặc sớm hơn nông lịch truyền thống, còn những năm thời tiết nắng nóng thì gieo mạ trong thời gian ngắn để có thể cấy sớm nhất Quá trình gieo mạ cũng là một nghệ thuật canh tác lúa của người Thổ Theo kinh nghiệm, muốn hạt thóc nẩy mầm đều và khỏe thì trước khi gieo mạ sẽ ngâm thóc trong nước ấm một đêm, rồi mang ra ủ rơm để cho hạt nhú mầm mới mang đi vãi Việc gieo mạ thường được diễn ra vào buổi chiều tối, lúc này ánh sáng thường yếu và hạt thóc có nhiều thời gian nhất để tránh ánh nắng gay gắt, trực tiếp của mặt trời Ruộng mạ thường được làm rất kĩ và tỉ mỉ, quy trình làm đất để gieo mạ cũng tương tự như làm đất cấy, chỉ khác là người dân ít sử dụng sức trâu vào công việc này Việc gieo mạ cần sự khéo léo nên thường do người phụ nữ đảm nhiệm, thóc giống được đặt trong thúng, khi vãi xuống ruộng người ta phải đi lùi để tránh dẫm lên những chỗ có thóc Gieo mạ xong, người Thổ dùng phân trâu, lợn được ủ với tro bếp vãi lên trên mặt ruộng, giúp cho mạ dễ dàng sinh trưởng và thấm nước khi có mưa bất chợt Có gia đình cẩn thận hơn còn rào lại mảnh ruộng của mình để tránh trâu, lợn vào phá, hoặc họ cắm những cây riềng, cành cây xoan ở xung quanh bãi mạ để dọa chuột

Cấy: tùy thuộc vào tính chất của từng ruộng và thời tiết của năm mà người Thổ

tiến hành nhổ mạ Thông thường vụ tháng 5 thì mạ khoảng một tháng là được, còn

vụ tháng 10 là một tháng rưỡi Việc nhổ mạ cả đàn ông và đàn bà cùng làm Người Thổ nhổ mạ bằng tay và bó thành từng túm bằng lạt Công việc cấy lúa là của phụ

nữ, nam giới ít tham gia Cấy lúa diễn ra trong khoảng thời gian từ ba đến bốn ngày Nhìn chung, cấy lúa nhanh hay chậm phù thuộc vào các gia đình tiến hành đổi công cấy cho nhau

Chăm sóc và bảo vệ ruộng lúa

Chăm sóc cũng là một phần việc quan trọng của quy trình canh tác lúa nước Người Thổ ở Như Xuân thường sử dụng phân gia súc, gia cầm đã được ủ tro bếp để

Trang 29

bón lúa Ngoài ra, vào các dịp rỗi rãi, phụ nữ thường lên rừng lấy cây dại, thân mềm

có tác dụng cải tạo đất về băm rồi ủ làm phân xanh Phân gia súc và phân xanh thường được bón lót trên các thửa ruộng, còn bón thúc ít khi đồng bào sử dụng Khi cây lúa được khoảng một tháng thì bắt đầu làm cỏ Lúa gần ra đòng lại làm cỏ một lần nữa Cỏ được làm bằng nạo (công cụ chuyên dụng của người Thổ) Theo truyền thống, làm cỏ phải chọn những ngày nắng to thì cỏ mới nhanh chết Để bảo vệ ruộng lúa, người Thổ làm như bảo vệ ruộng mạ lấy cành cây riềng, cây xoan… cắm

ở ruộng để xua chuột Ngoài ra, ở những thửa ruộng gần đường, cạnh mương, bìa rừng được rào cẩn thận bằng những cành tre nhiều gai chắn, hoặc trồng những cây như cúc tần, song, mây tạo thành hàng rào để tránh trâu bò phá hoại

Thu hoạch và bảo quản

Khi mà lúa bắt đầu ngả màu vàng, người Thổ sẽ quan sát từng ngày để đưa ra quyết định thu hoạch phù hợp nhất Thường lúa được thu hoạch vào ngày nắng để thuận lợi cho việc phơi phóng Việc gặt lúa do phụ nữ đảm nhiệm Sau khi lúa được mang về nhà, người Thổ tiến hành vò lúa, đập lúa để tách hạt Người ta thường đặt từng khóm lúa lên chiếc nia rồi lấy chân vò đi vò lại đến khi nào hạt rụng hết thì thôi Khi lúa đã được vò hết sẽ đem phơi nắng khoảng từ ba đến bốn ngày, nhìn hạt thóc vàng ươm, cắn thấy giòn thì đem cất vào bồ đựng thóc Người Thổ thường đựng thóc trong các bồ, cót được đan lát cẩn thận Những chiếc bồ, cót này sẽ được đặt ở phía bếp ngoài hoặc bếp trong và được giữ cẩn thận Có những gia đình để bảo vệ thóc tốt hơn họ cho thóc vào các bao tải dứa và được treo lên phía trên, gần mái nhà để tránh bị ẩm ướt, chuột bọ ăn

Biện pháp thủy lợi

Thủy lợi đóng vai trò quan trọng trong canh tác ruộng nước và nó quyết định đến sự thành bại của nông nghiệp Trong tục ngữ Việt có câu: “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Với người Thổ ở huyện Như Xuân, hệ thống thủy lợi phổ biến

là mương dẫn nước, đào ao và giếng phụ để tưới tiêu Hệ thống thủy lợi truyền thống ở Như Xuân, nhất là ở người Thổ chủ yếu là mương chìm được đào rộng khoảng 40 cm nối từ xã này qua xã khác, và được kết nối với hồ, ao hoặc các con suối để dẫn nước vào ruộng

Trang 30

Các giống lúa

Theo thống kê của Lê Văn Bé trước Cách mạng tháng Tám (1945) thì người Thổ ở Như Xuân đã biết sử dụng hơn 40 giống lúa khác nhau [7, tr.33] Điều đó chứng tỏ một truyền thống canh tác lúa đã diễn ra lâu đời ở người Thổ Như Xuân Trong truyền thống, các giống lúa thường được người Thổ sử dụng như lúa tẻ, gié nghệ; lúa nếp, the, nếp củ, nếp bản… Các giống lúa này thơm và dẻo, có hàm lượng dinh dưỡng cao, phù hợp với thổ nhưỡng nên được người dân ưa trồng

Nếu nhìn vào cơ cấu các giống lúa truyền thống ở Như Xuân có thế thấy sự vượt trội về các giống lúa nếp Lúa nếp được trồng nhiều trên các cánh đồng và là lương thực chính trong cơ cấu bữa ăn của họ trước kia Điều này, phản ánh truyền thống ăn nếp lâu đời của cư dân Việt - Mường nói chung, người Thổ nói riêng, khi

mà dân cư vẫn còn thưa thớt và thoải mái canh tác trên những thửa ruộng trù phú, dưới chân các thung lũng Nếu như người Việt ở Bắc bộ đã rời xa thời kỳ ăn nếp do sức ép về dân số, thì người Thổ chính là sự gợi nhớ tới quá khứ đó Quá khứ của các cư dân vùng hệ sinh thái phổ tạp mới bắt đầu thoát thai khỏi một nền nông nghiệp củ quả, để tìm đến lúa nếp như một lựa chọn có chủ đích

Lịch thời vụ làm ruộng

Khi nói đến lịch và nông lịch là nói đến sự hiểu biết của tộc người về các hiện tượng tự nhiên và gắn liền với con người từ thời cổ đại Lịch làm ruộng nước của người Thổ ở Như Xuân cũng không nằm ngoài quy luật đó, khi nó phản ánh trung thực về sự thích ứng của con người nơi đây với điều kiện tự nhiên cũng như khí hậu của vùng

Nhìn chung, nông lịch của người Thổ cũng tương tự như người Việt, tuy nhiên do

họ sống ở điều kiện môi trường khác nhau nên vẫn có một vài chi tiết khác biệt Công việc trong một năm làm ruộng (tính theo Âm lịch) được phân bố cụ thể như sau:

Tháng Giêng Thảng Xiêng Ăn tết đồng thời làm cỏ vụ chiêm

Tháng Hai Thảng Han Tiếp tục đi chơi hội, thăm bà con; làm cỏ vụ

chiêm, rào lại ruộng gần đường, bìa rừng

Trang 31

Tháng Ba Thảng Pa Chọn giống, ủ mạ sớm để chuẩn bị gieo;

bón phân xanh vào những ruộng cằn cỗi

Tháng Tư Thảng Tư Bắt đầu thu hoạch lúa chiêm, làm đất, làm

mạ để gieo sớm

Tháng Năm Thảng Đăm Tiếp tục thu hoạch lúa chiêm; bên cạnh đó

làm đất, gieo mạ Tháng Sáu Thảng Sáu Cấy lúa mùa, dọn cỏ và dọn mương

Tháng Bảy Thảng Pảy Làm cỏ lúa mùa, rào lại chỗ bị hỏng

Tháng Chạp Thảng Chạp Xuống đồng làm cỏ, làm lại bờ rào3

Nông lịch của người Thổ thường không cố định và có sự linh hoạt theo thời tiết từng năm Tuy nhiên, đây vẫn là những nét căn bản và chuẩn xác mà người dân nơi đây thường cố gắng thực hiện theo để tiến hành sản xuất nông nghiệp trồng lúa của mình

Hệ thống công cụ sản xuất

Hệ thống công cụ liên quan đến sản xuất ruộng nước của người Thổ ở huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa tương đối phong phú và đa dạng Nó được phân chia cụ thể theo từng chức năng sử dụng:

Công cụ phục vụ khai khẩn:

Cày: người Thổ không biết chế tạo ra cày nên họ phải đến những vùng người Việt, người Mường để mua về phục vụ sản xuất Với việc sử dụng cày để thay thế phương thức trâu quần giúp cho việc làm đất của người Thổ đỡ vất vả hơn và tiết kiệm được thời gian

Trang 32

Bừa: răng bừa làm bằng sắt và thường là loại bừa 11 răng Trước Cách mạng tháng Tám (1945) việc dùng bừa bằng răng gỗ 8 răng trở lên phổ biến hơn răng sắt Bừa răng gỗ có cấu tạo tương tự như bừa răng sắt của người Việt, nhưng chiều dài ngắn hơn (khoảng 65cm), răng bừa to hơn và khoảng cách giữa các răng dầy hơn Cuốc: cũng là một công cụ phổ biến trong canh tác ruộng nước Chiếc cuốc được sử dụng trong các công việc của nhà nông ở mọi dân tộc Cùng với sự phát triển của nông nghiệp thì nó đã không ngừng được cải tiến Chất liệu ban đầu là xương, sừng, gỗ cứng, đá… và sau này được làm bằng sắt Người Thổ ở Như Xuân thường xuyên dùng cuốc trong việc khai khẩn cũng như làm đất Cuốc của họ có lưỡi uốn cong, cán cuốc được làm bằng tre đặc hoặc tầm vông đã già Trong công việc làm đất gieo mạ thì ngoài công cụ là cày, cuốc đã kể ở trên thì ở người Thổ còn

có cái cườm (tựa như cái chang cào thóc của Người Việt) Cườm được làm tấm gỗ hình chữ nhật có chiều dài khoảng 50cm, chiều rộng khoảng 25cm, được nắp một cái chuôi để cầm Cườm được sử dụng để làm cho đất gieo mạ được bằng phẳng, không bị lồi lõm

Công cụ chăm sóc và bảo vệ lúa

Việc nhổ cỏ thường được sử dụng bằng chính hai bàn tay của con người Bên cạnh đó người Thổ còn sử dụng cào cỏ để làm sạch cỏ ở những thửa ruộng của mình Cào cỏ được thiết kế tựa như cái bừa nhưng răng to và dày hơn, nó cũng được nắp chuôi để dễ thực hiện công việc trên ruộng

Công cụ thu hoạch và bảo quản

Những công cụ liên quan đến việc thu hoạc lúa của người Thổ tương đối đa

dạng Khi gặt lúa người Thổ thường dùng “hái cu”, “hái phát” để ngắt từng bông

lúa Những bông lúa này được để trong một đôi sọt và người đàn ông thường dùng chiếc đòn ống gánh lúa về Mãi sau những năm 1960 thì người Thổ mới đưa “liềm” vào công việc gặt lúa Những công cụ đựng và bảo quản thóc của người Thổ cũng

phong phú như của người Việt như nong (đổng), nia (đia), dần (roong), rổ (kè rô), thúng (kè thung)… tất cả các dụng cụ đựng thóc này đều được làm từ tre, nứa lấy ở

trên rừng Có một điều là người Thổ không bao giờ dùng cây luồng để làm các vật

Trang 33

dụng liên quan đến đựng thóc, theo giải thích của các cụ cao niên thì cây luồng thường sử dụng trong việc tang ma nên dùng nó làm nong, nia sẽ không được may mắn Quạt thóc (quạt hòm) của người Thổ có cấu tạo tương tự như Người Việt Quạt hòm ở bên trong có cánh quạt, khi đổ thóc vào để quạt cho bụi và thóc lép bay

đi Ở phía trên quạt hòm có một cái phễu lớn hình chóp tứ giác, thường là tứ giác đều để đổ thóc vào Ở phía dưới người ta để trống phần ở giữa (thân quạt) có hình vuông và để thủng hai đầu như hình lập phương được cắt bỏ hai mặt bên đối diện nhau Phần này dùng để đưa gió vào bằng cách dùng quạt điện Ngày xưa không có quạt điện thì người Thổ đóng một cái cánh quạt bằng gỗ có bốn cánh lắp vào thân Khi quạt thì dùng tay để quay tạo ra sức gió Sau phần quạt là có một hệ thống truyền những hạt thóc ra ngoài

- Canh tác nương rẫy

Người Thổ ở Như Xuân cũng như nhiều tộc người khác đều coi canh tác nương rẫy là một nguồn sinh kế quan trọng của mình Ở vùng đồi núi huyện Như Xuân có điều kiện môi trường ẩm, nhiều khu rừng rậm rạp đã tạo cơ hội cho phương thức canh tác nương rẫy phát triển Mặc dù, nông nghiệp trồng lúa chiếm cơ cấu chủ yếu trong kinh tế người Thổ, nhưng canh tác nương rẫy vẫn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống tộc người

Kĩ thuật canh tác

Chọn đất: trong chu kì canh tác nương rẫy thì việc chọn đất được coi là khâu

đầu tiên và mang ý nghĩa quyết định đến quá trình phát đốt, dọn nương về sau Theo kinh nghiệm của người Thổ đất ở những khu rừng già, có địa hình thoải, ít dốc là tốt hơn cả Vì đất ở đó thường có nhiều mùn và ít cây bụi gai nên thuận lợi cho việc thu dọn và đi lại Ngoài chọn đất ở khu vực rừng già thì người Thổ cũng thường tìm đến những nơi đất có màu xám, đen, chất đất luôn xốp và ẩm, theo kinh nghiệm của các bậc cao niên chỗ đó đất màu mỡ, phù hợp với các loại cây trồng Cũng theo kinh nghiệm, nếu thấy cả khu vực đều có đất màu xám mà có một khoảnh màu trắng hoặc vàng thì không chọn Theo quan niệm của người Thổ, khu đất đó đã được ma quỷ đánh dấu nên canh tác sẽ thất thu Khi đã chọn được cho mình một đám nương

Trang 34

ưng ý, để tránh người khác xâm phạm, người Thổ thường lấy cuốc phát một đường

có diện tích khoảng từ 1m đến 2m đánh dấu đã có chủ Cũng có khi người ta làm một cây nêu bằng tre đặt ở đầu nương hoặc chặt một cây to để thông báo tới mọi người không tự ý xâm phạm

Phát nương: việc phát nương thường tốn nhiều công sức nên mỗi mùa vụ các

gia đình lại phải huy động tất cả các thành viên của mình tham gia Theo kinh nghiệm của người Thổ, chặt những dây chằng chịt, dây mây và các cây bụi gai trước; sau đó mới đến các cây to Khi chặt các cây to cố gắng cho ngả về một hướng

để khi đốt sẽ cháy đều và không bị phân tán Đối với những cây quá to thì dùng rìu chặt xung quanh, rồi mang cành cây khô đặt xung quanh để đốt Công việc phát nương càng nhanh càng tốt và cần sự chung sức của nhiều gia đình

Ở Như Xuân, người Thổ thường làm đổi công, các gia đình có nương gần nhau

sẽ tập trung phát cho từng nhà để khi dọn và đốt sẽ không ảnh hưởng đến cây trồng của nhau

Dọn đốt: sau khi phát khoảng một tháng người Thổ bắt đầu đi dọn và đốt

nương Theo tập quán, một hai hôm đầu các gia đình tập trung dọn những bụi cây nhỏ gom thành từng đống để đốt Để tránh cháy rừng hoặc cháy sang những nương của người khác, người ta thường xẻ rãnh rộng từ 1,5m đến 2m, tiếng Thổ gọi là

“quẹn nương” Theo kinh nghiệm, đốt nương vào buổi trưa, những ngày nắng gắt là hiệu quả hơn cả Người Thổ tránh đốt nương vào buổi sáng vì sương mù vẫn còn nhiều và hướng gió không thuận lợi Đối với những ngày có gió, theo kinh nghiệm thì đốt ngược hướng gió thổi, ngọn lửa cháy chậm, không bị tạt mạnh nên những cây gỗ lớn sẽ cháy hết Khi cây cối đốt xong, người ta để vài ngày khi than đã nguội các gia đình mới đi dọn nương Lúc này, cây to nào chưa cháy hết sẽ được đốt lại Sau khi tro đã tàn và thời tiết có mưa phùn nhẹ thì các gia đình người Thổ bắt đầu tiến hành việc gieo hạt

Gieo trồng: để có thể tiến hành gieo trồng được thì người Thổ cũng quan tâm

tới việc chọn giống lúa Cũng như chọn giống lúa nước, người Thổ cũng phải chọn hạt giống phù hợp với từng loại nương Các giống lúa nương được người Thổ ưa

Trang 35

thích như ong, kén, đo, bản sậu, răng trâu… tất cả đều phù hợp với điều kiện môi

trường, khí hậu và cho năng suất ổn định

Thời gian gieo hạt (tỉa, xăm) của người Thổ phụ thuộc vào thời tiết của từng năm Theo kinh nghiệm thì các loại lúa nương gieo vào đầu tháng Tư (âm lịch) là tốt nhất, còn ngô gieo sau ngày 5 tháng 5 Giải thích cho kinh nghiệm này các cụ già cho rằng, khi gieo trước ngày 5 tháng 5 thì chưa “diệt” sâu bọ nên cây ngô sẽ không phát triển được Công việc gieo hạt thường là của phụ nữ, đàn ông thì ít tham

gia hơn Khi gieo hạt người Thổ dùng gậy chọc lỗ (chè lè) chọc xuống đất Mỗi lỗ

bỏ từ 2 đến 3 hạt lúa, hoặc từ 1 đến 2 hạt ngô; hạt giống đựng trong một cái giỏ buộc ở eo người phụ nữ Khi tra hạt thường bắt đầu từ đầu nương và đi thành hàng lối để khi làm cỏ, chăm sóc, thu hoạch sẽ dễ dàng hơn

Chăm sóc và bảo vệ nương: ngoài việc thường xuyên phải thăm nom nương thì

một vụ ít nhất phải làm cỏ từ một đến hai lần Làm cỏ thường là công việc của phụ

nữ, họ dùng các công cụ như cuốc, cào, liềm hoặc bằng tay để phát những cây cỏ dại mọc trên nương Để tránh các loài chim, chuột đến quấy phá nương, người Thổ thường lấy tre, nứa rào xung quanh Bên cạnh đó việc đặt bẫy chim, bẫy thú và dựng hình người nộm cũng là một cách để bảo vệ nương Để tránh khỉ và sóc ban đêm hay xuống phá hoại nương ngô, nương lúa các gia đình người Thổ dựng một chòi nhỏ ở giữa nương để canh giữ Vào những dịp gần thu hoạch, người đàn ông trong gia đình thường phải ngủ lại chòi, có khi có cả con trai nhỏ của họ Ở mỗi chòi thường được treo một chiếc mõ làm bằng ống tre để khi có lợn lòi, khỉ thì gõ,

âm thanh đó làm cho chúng sợ phải bỏ chạy

Thu hoạch: công việc cuối cùng và quyết định trong chu trình sản xuất nương

rẫy là thu hoạch Thu hoạch lúa nương cũng tương tự như lúa nước và nó cũng diễn

ra theo đúng quy trình như vậy, người ta dùng hái để ngắt từng bông lúa rồi bó lại thành bó cầm vừa nắm tay; gánh về đập; phơi ở sân… đối với ngô thì bẻ cả bắp rồi

về bóc vỏ túm lại thành bó để phơi khô Cũng có khi họ bóc vỏ luôn ở trên cây ngô

và để cho khô rồi mới bẻ mang về nhà Phần lớn các gia đình phơi ngô khô rồi tách hạt đem cất trong bồ, cót như cách bảo quản thóc Thông thường mỗi một đám

Trang 36

nương thường chỉ canh tác được 3 vụ là đất bạc màu phải bỏ hoá và đi khai thác ở những đám nương khác Tuy nhiên, ở những khu vực đất tốt mỗi đám nương có thể canh tác 7 - 8 năm mới phải chuyển đến mảnh nương mới Theo kinh nghiệm, các mảnh nương bạc mầu phải bỏ hoá từ 10 đến 12 năm mới quay trở lại trồng trọt được

vì lúc đó đất mới hồi sinh lại trạng thái ban đầu

Lịch thời vụ: canh tác nương rẫy của người Thổ diễn ra có phần khác với canh

tác ruộng nước:

Tháng Giêng Thảng Xiêng Làm cỏ sắn, trồng đỗ, trồng khoai

Tháng Hai Thảng Han Đi tìm thêm nương rẫy để canh tác

Tháng Ba Thảng Pa Phát rẫy, dọn rẫy, đốt rẫy

Tháng Tư Thảng Tư Đốt rẫy ngô, gieo lúa nương

Tháng Năm Thảng Đăm Gieo ngô sau ngày 5 tháng 5, làm cỏ sắn

lần 2, làm cỏ nương Tháng Sáu Thảng Sáu Tiếp tục làm cỏ nương

Tháng Bảy Thảng Pảy Làm cỏ lúa nương, cào cỏ sắn, cỏ ngô,

gieo hạt rau cải Tháng Tám Thảng Tám Thu hoạch lúa nương

Tháng Chín Thảng Chín Tiếp tục thu hoạch lúa nương

Tháng Mười Thảng Mười Thu hoạch ngô

Tháng Một Thảng Một Tiếp tục thu hoạch ngô, khoai, sắn

Tháng Chạp Tháng Chạp Dọn dẹp lại nương ngô, chuẩn bị vụ mới

Gieo trồng luân canh, xen canh: đối với người Thổ, phương pháp này tương

đối phổ biến và nó gắn liền với nương rẫy của họ

Luân canh là cách thay đổi đất trồng để quay vòng sản xuất Còn xen canh là tăng nhiều cây trồng ngắn ngày trong một vụ nương rẫy mà không ảnh hưởng gì đến cây trồng chính Với mật độ dân số tăng không ngừng ở các xã thuộc huyện Như Xuân đã khiến cho phương pháp luân canh bị hạn chế bởi diện tích rừng đã bị

Trang 37

thu hẹp đi nhiều Trong trường hợp ấy thì biện pháp xen canh là một cách để tăng

độ phì nhiêu của đất cũng như tận dụng tối đa quỹ đất hiện có của mỗi hộ gia đình Người Thổ thường trồng xen canh bí, bầu ở đầu các nương trước khi gieo trồng lúa Theo nhiều ý kiến của các cụ cao niên trong thôn/làng thì họ luôn cảm thấy rằng trồng bầu, bí ở quanh nương thì cây lúa sẽ sinh trưởng tốt hơn và năng suất cũng cao hơn Điều này giống với quan niệm “cây màu nhiệm” của dân tộc Khơ mú khi cho rằng cây khoai sọ giúp cây lúa phát triển; hay người Thái cho rằng cây chuối là “bạn tình” của cây lúa Ngoài ra, ở các nương ngô, nương sắn người Thổ thường xen canh những cây ngắn ngày như đậu đũa, rau cải, mướp, đậu… để cải thiện bữa ăn hàng ngày Hơn nữa, những cây này sẽ tạo ra chất mùn giúp cho đất trồng ở các nương được xốp và tốt hơn

Nông cụ: những công cụ sản xuất trong canh tác nương rẫy của người Thổ

tương đối thô sơ, nó gắn liền với kinh tế nông nghiệp còn lạc hậu, luôn đặt trong trạng thái du canh - du cư Các nông cụ này được dùng chung với canh tác ruộng nước, tuy nhiên nó vẫn có những đặc trưng riêng

Công cụ liên quan tới chặt phát bao gồm: dao, rìu, búa, dao được coi là công cụ vạn năng, chia thành hai loại là dao rựa và dao quắm Dao rựa có độ dài khoảng 50cm, rộng 5cm và được người Thổ thường xuyên mang bên người như một vật bất

ly thân Dao quắm cũng có độ dài, rộng tương tự nhưng lưỡi hơi cong và được lắp thêm cán khoảng 1m Dao quắm thường được dùng trong việc phát những cây bụi, cây gai và nó cũng được dùng để chặt những cành cây ở trên cao Bên cạnh đó thì rìu là một công cụ để chặt cây khi mà dao không thể chặt được, còn búa để bổ những gốc cây to có trên rẫy Có thể nói đây là những dụng cụ quan trọng và luôn

bổ trợ cho người Thổ trong quá trình phát nương, làm rẫy

Công cụ liên quan đến việc gieo hạt quan trọng nhất đối với người Thổ phải kể

đến cây gậy chọc lỗ (chè lè) Khi gieo ngô hay gieo hạt lúa thì người Thổ đều phải

dùng đến nó như một công cụ không thể thay thế Gậy chọc lỗ thường làm bằng gỗ

cây lấu, có độ dài khoảng 1,5m và to bằng cổ tay để khi cầm thuận tiện nhất Có hai

loại gậy chọc lỗ cơ bản của người Thổ, một loại được bịt đầu sắt nhọn và một loại

Trang 38

được bịt đầu sắt hình chữ nhật trông như lưỡi thuổng Bên cạnh đó, các nông cụ liên quan đến gieo hạt còn có sọt ngâm, sọt đựng hạt giống và rổ rá

Làm vườn

Làm vườn đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử nông nghiệp của thế giới, nhưng nó chỉ được xếp là một hình thái kinh tế trong nông nghiệp Nghề làm vườn đã tạo điều kiện khai khẩn có hiệu quả các vùng đồi núi, đất sỏi đá không thuận lợi cho việc gieo trồng các loài cây hòa thảo Đặc biệt trong vùng đồi núi ở Việt Nam, làm vườn cũng giúp người dân tiết kiệm được quỹ đất vốn hiếm hoi đã dành cho trồng lúa Hơn nữa, làm vườn cũng là cơ sở để các cư dân có thể cư trú lâu bền và là tiền đề cho sở hữu tư nhân về đất đai Đối với các tộc người ở Việt Nam thì đặc điểm của nghề làm vườn cũng có sự khác nhau theo độ cao và địa hình cư trú Với cư dân ở thung lũng như Tày, Thái, Mường… thì vườn thường là loại vườn tạp Còn cư dân vùng cao như người Khơ - mú, Hmông, Dao… vườn theo quan niệm của họ được gắn với khu rừng - nơi có hệ thực vật phong phú, dồi dào

Vùng cư trú của người Thổ ở Như Xuân là khu vực đồi núi thấp, gắn liền với các thung lũng nên hình thức vườn của họ cũng đan xen nhiều loại cây trồng Ở người Thổ, gia đình nào cũng dành một quỹ đất cạnh nhà để tạo cho mình những mảnh vườn riêng, được rào dậu cẩn thận Những cây lâu năm được trồng nhiều như cau, dừa, mít, chè…với mục đích lấy bóng mát, che chắn gió bão và phục vụ đời sống hằng ngày Bên cạnh đó các cây ngắn ngày như dứa, chuối và các loại rau màu luôn được trồng tại các khoảnh vườn màu mỡ và nó là nguồn nguyên liệu phục vụ bữa ăn, các công việc thường ngày của người Thổ Khi nhìn vào những mảnh vườn của các gia đình người Thổ có thể nhận ra kinh nghiệm và kĩ thuật thành thục trong việc canh tác, bố trí cây trồng Các cây lâu năm được trồng trước nhà có mật độ thích hợp giúp sinh trưởng và phát triển tốt, không làm ảnh hưởng tới rau màu trong vườn Còn các khoảnh trồng rau luôn được canh tác ở chỗ thuận tiện về nguồn nước

và có đất đai màu mỡ nhất Đất ở vườn được làm rất kĩ và được bón phân, làm cỏ thường xuyên nên năng suất cây trồng trong vườn luôn cao hơn những khu vực nông nghiệp khác

Trang 39

Vì thế, làm vườn và các sản phẩm thu hoạch được trong việc làm vườn đã từ lâu trở thành một nguồn hỗ trợ quan trọng trong đời sống hằng ngày của người Thổ

- Vật nuôi

Gia súc: trước kia người Thổ chủ yếu nuôi trâu, bò, lợn và dê những vật nuôi

này có khả năng sinh sản tốt và phù hợp với điều kiện môi trường, sinh thái của huyện Như Xuân Có thể nói con trâu đóng vai trò quan trọng nhất trong đời sống của người hổ Cũng như quan niệm của người Việt, người Thổ coi con trâu là “sự khởi đầu của việc tạo dựng cơ nghiệp” Điều này được minh chứng rõ ràng, trâu không chỉ phục vụ sức kéo trong canh tác lúa nước mà còn có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển, khai thác gỗ… Trước kia, mỗi gia đình người Thổ thường nuôi ít nhất từ 4 - 5 con trâu, gia đình giàu nuôi đến 10 - 15 con, trâu được coi là thước đo tài sản đối với các gia đình người Thổ ở huyện Như Xuân Vì thế, trâu được người Thổ chăm sóc và bảo vệ rất chu đáo Trong xã hội truyền thống của người Thổ chẳng mấy khi người ta lại giết trâu lấy thịt làm thức ăn Hằng năm, vào dịp cúng tế tại đình làng trâu mới bị giết thịt để làm vật hiến tế cúng thần linh Nếu như trâu là con vật đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp cũng như trong nghi lễ tôn giáo của người Thổ thì lợn lại là gia súc được nuôi nhiều để bán hoặc phục vụ nhu cầu thực phẩm trong lễ cưới, ma chay, giỗ chạp, lên nhà mới…

Trang 40

Giống lợn truyền thống của người Thổ là lợn cỏ và được nuôi theo hình thức thả rông Đối với các gia súc khác như bò, dê dường như thưa vắng hơn trong đời sống của người Thổ ở huyện Như Xuân Theo một số người cao tuổi cho biết, ngày trước người Thổ nuôi bò rất ít vì nó không phù hợp với việc canh tác nông nghiệp thô sơ Còn nuôi dê thì chỉ một số hộ nuôi nhưng số lượng không lớn và được chăn thả tự do trong vườn, bìa rừng

Gia cầm: trong đời sống kinh tế của người Thổ thì chăn nuôi gia cầm như gà,

vịt, ngan… trở lên phổ biến và gắn liền với mọi sinh hoạt gia đình, cộng đồng Ở người Thổ tất cả các hộ gia đình đều chăn nuôi gà với số lượng lớn Giống gà ri của người dân thường nhỏ, đẻ nhiều và dễ nuôi Việc nuôi gà tương đối đơn giản Gà thường thả rông cho tự đi kiếm ăn và thường được làm thịt khi gia đình có khách hoặc trong các đám giỗ, đám cưới…

Trong khi gà được nuôi thả một cách đơn giản thì nuôi vịt dường như cầu kì và cần nhiều công sức hơn Ở người Thổ vịt được nuôi theo đàn với số lượng khoảng

20 đến 30 con, nhiều thì lên tới 70 đến 100 con, tùy thuộc vào điều kiện chăn thả của từng gia đình Vịt được chăn thả ở các ao hay ruộng lúa quanh nhà để dễ trông coi, thức ăn của chúng chủ yếu dựa vào nguồn tự nhiên hoặc thóc lúa rơi rớt sau vụ gặt ở các cánh đồng Phần lớn các gia đình làm chuồng nuôi vịt một cách đơn giản

ở cạnh vườn, nơi mà chúng dễ dàng xuống ao hay ra ruộng lúa Tuy nhiên, vào dịp lúa mới cấy thì việc chăn vịt cũng phải cần có người trông nom để đàn vịt không làm hỏng ruộng lúa Vịt được nuôi để làm thực phẩm trong cơ cấu bữa ăn hằng ngày của người Thổ và tuyệt đối nó không được dùng trong các dịp thờ cúng và nghi lễ

- Kỹ thuật chăn nuôi

Trước đây, ở người Thổ trâu được nuôi thả rông, thường sau mỗi vụ thu hoạch trâu được lùa vào trong rừng sống thành bầy đàn ở đó thỉnh thoảng chủ nhà mới vào thăm nom Ngoài lối chăn thả rông, trâu còn được chăn dắt theo hình thức buộc dây dài vào cọc gỗ cho gặm cỏ ở các bãi ven suối Chọn được giống trâu tốt người Thổ

có kinh nghiệm dân gian độc đáo, nếu là trâu kéo phải là loại trâu có “mõm gầu dai, tai lá mít, đít lồng bàn”, trâu sinh sản phải là “đầu thanh, mõm to, mông to, cổ nhỏ”

Ngày đăng: 08/09/2016, 15:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Các giống lúa vụ chiêm xuân năm 2014 - 2015 của xã Hóa Quỳ - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 2.1 Các giống lúa vụ chiêm xuân năm 2014 - 2015 của xã Hóa Quỳ (Trang 47)
Bảng 2.2: Năng suất lúa ở các xã người Thổ qua một số năm - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 2.2 Năng suất lúa ở các xã người Thổ qua một số năm (Trang 49)
Bảng 2.3: Canh tác lúa nước trước và sau Đổi mới (năm 1986) - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 2.3 Canh tác lúa nước trước và sau Đổi mới (năm 1986) (Trang 49)
Bảng 2.4: Kế hoạch trồng cao su ở xã Hóa Quỳ qua một số năm - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 2.4 Kế hoạch trồng cao su ở xã Hóa Quỳ qua một số năm (Trang 52)
Bảng 2.6: Nguồn thu từ lúa và hoa màu theo tháng của người Thổ - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 2.6 Nguồn thu từ lúa và hoa màu theo tháng của người Thổ (Trang 57)
Bảng 2.7: Số lượng gia súc của người Thổ xã Cát Tân qua một số năm                                  Đơn vị tính: con - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 2.7 Số lượng gia súc của người Thổ xã Cát Tân qua một số năm Đơn vị tính: con (Trang 60)
Bảng 2.8: Nguồn thu từ chăn nuôi theo tháng của người Thổ - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 2.8 Nguồn thu từ chăn nuôi theo tháng của người Thổ (Trang 63)
Bảng 2.9: Mô hình trang trại - lâm nghiệp ở xã Yên Lễ giai đoạn 2011 - 2015  Stt  Mô hình  Địa bàn tiến hành  Quy mô đất rừng - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 2.9 Mô hình trang trại - lâm nghiệp ở xã Yên Lễ giai đoạn 2011 - 2015 Stt Mô hình Địa bàn tiến hành Quy mô đất rừng (Trang 70)
Bảng 2.10: Nguồn thu từ làm thuê theo tháng của người Thổ - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 2.10 Nguồn thu từ làm thuê theo tháng của người Thổ (Trang 71)
Bảng 2.11: Tổng thu nhập theo tháng của người Thổ - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 2.11 Tổng thu nhập theo tháng của người Thổ (Trang 72)
Bảng 3.1: Số thành viên trong gia đình hiện nay - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 3.1 Số thành viên trong gia đình hiện nay (Trang 90)
Bảng 3.4: Thu nhập từ buôn bán, dịch vụ ở ba xã lựa chọn nghiên cứu - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 3.4 Thu nhập từ buôn bán, dịch vụ ở ba xã lựa chọn nghiên cứu (Trang 112)
Bảng 3.6: Thu nhập từ người thân hoặc con cái đi làm ăn xa gửi về - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 3.6 Thu nhập từ người thân hoặc con cái đi làm ăn xa gửi về (Trang 113)
Bảng 3.7: Thu nhập từ làm thuê ở ba xã lựa chọn nghiên cứu - Sự biến đổi kinh tế   xã hội của dân tộc thổ ở huyện như xuân, tỉnh thanh hóa
Bảng 3.7 Thu nhập từ làm thuê ở ba xã lựa chọn nghiên cứu (Trang 114)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w