Những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Quảng Xương .... Các chương trình, chính sách giảm nghèo đã huy động sức mạnh, sự v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã thoàn thành luận văn tốt nghiệp với
đề tài: “Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng ở huyện Quảng Xương (Thanh Hóa) từ năm 2001 đến năm 2014” Tôi xin cam đoan đây là kết quả của quá trình làm việc nghiêm túc, khoa học của bản thân tôi trên những nguồn tài liệu đáng tin cậy và có tham khảo các bài viết của tác giả đi trước
Hà Nội, ngày tháng năm
Học viên
Trần Thị Long
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Đóng góp mới của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG (TỈNH THANH HÓA) THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 7
1.1 Những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Quảng Xương 7
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình xóa đói giảm nghèo ở Quảng Xương trước năm 2001 7
1.1.2 Chủ trương của Đảng về xóa đói giảm nghèo 15
1.2 Đảng bộ huyện Quảng Xương thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2005 20
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa và của Đảng bộ huyện Quảng Xương về xóa đói giảm nghèo 20
1.2.2 Đảng bộ huyện Quảng Xương chỉ đạo thực hiện các chính sách, dự án xóa đói giảm nghèo từ 2001 – 2005 27
Tiểu kết chương 1: 38
Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2014 40
Trang 52.1 Chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Quảng Xương thực
hiện xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 40
2.1.1 Chủ trương của Đảng và của Đảng bộ huyện Quảng Xương về xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 40
Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 44
2.1.2 Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2006 –2010 50
2.2 Chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Quảng Xương thực hiện xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2011-2014 64
2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Quảng Xương thực hiện xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2011-2014 64
2.2.2 Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Quảng Xương thực hiện xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2011-2014 69
Tiểu kết chương 2: 79
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 81
3.1 Một số nhận xét 81
3.1.1 Ưu điểm 81
3.1.2 Hạn chế 85
3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế 88
3.2 Một số kinh nghiệm 89
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Lao động huyện Quảng Xương tính đến năm 2014 10Bảng 1.2: Một số chỉ tiêu trong sản xuất nông nghiệp 11Bảng 1.3: Chuẩn nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn 17Bảng 2.1: Bảng phân chia tỷ lệ hộ nghèo các xã ven biển huyện Quảng Xương năm 2011 71Bảng 2.2: Lao động được hỗ trợ đi lao động nước ngoài từ năm 2011-2014 74
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ: Ban chỉ đạo CTMTQG: Chương trình mục tiêu Quốc gia ĐTN: Đoàn Thanh niên
GQVL: Giải quyết việc làm HCCB: Hội Cựu chiến binh HĐND: Hội đồng Nhân dân HND: Hội nông dân HPN: Hội Phụ nữ KT-XH: Kinh tế - Xã hội LĐTB&XH: Lao động, Thương binh và Xã hội MTTQ: Mặt trận Tổ quốc
UBND: Ủy ban nhân dân XĐGN: Xóa đói giảm nghèo XKLĐ: Xuất khẩu lao động
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, các nước trên thế giới cũng như Việt Nam đang đứng trước những thay đổi lớn lao có ý nghĩa bước ngoặt Những thay đổi ấy tạo ra những cơ hội và thách thức đối với đường lối, chính sách phát triển, trong đó có chính sách xóa đói giảm nghèo (XĐGN) Xuất phát từ quan điểm vấn đề đói nghèo không được giải quyết thì không có mục tiêu nào đặt ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, ổn định, bảo đảm các quyền con người được thực hiện Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta luôn coi chính sách XĐGN là một chủ trương lớn và là một nội dung quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách về XĐGN Nhiều nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, quyết định, chính sách quan trọng về công tác XĐGN đã được ban hành để phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước Các chương trình, chính sách giảm nghèo đã huy động sức mạnh, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội (các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội) và sự vươn lên của bản thân người nghèo, góp phần tạo nên nguồn lực
to lớn cùng với nguồn lực của Nhà nước thực hiện hiệu quả công tác có ý nghĩa xã hội sâu sắc này Kết quả, sau nhiều năm thực hiện công tác XĐGN,
tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm đáng kể, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống cho người dân ở nhiều địa phương đặc biệt là những địa phương còn nhiều khó khăn Làm nên những thành công này là sự
nỗ lực của toàn toàn đảng toàn dân, trong đó có vai trò lãnh đạo to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối phát triển kinh tế gắn với công bằng
xã hội cùng với sự ủng hộ giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, sự nỗ lực của nhân dân các địa phương
Trang 9Quảng Xương là một huyện nghèo của tỉnh Thanh Hóa, phía đông giáp thị xã Sầm Sơn và Vịnh Bắc Bộ, phía nam giáp huyện Tĩnh Gia và huyện Nông Cống, phía tây giáp huyện Nông Cống và huyện Đông Sơn, phía bắc giáp thành phố Thanh Hóa và huyện Hoằng Hóa Với diện tích rộng 200,4km2
, dân số khoảng hơn 230.000 người (năm 2013) Huyện Quảng Xương chia thành hai vùng rõ rệt: đồng bằng và ven biển Song phần lớn dân số sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp, một số xã ven biển ít diện tích đất nông nghiệp, dân cư phải sinh sống nhờ vào nghề chài lưới Thiếu phương tiện sản xuất, nguồn thu nhập lại bấp bênh do phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết khí hậu Hàng năm, cùng với nhiều địa phương khác của Thanh Hóa, Quảng Xương phải hứng chịu nhiều thiệt hại do các cơn bão và các hiện tượng thời tiết cực đoan gây
ra Hiện nay, Quảng Xương còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế, kết cấu hạ tầng thấp kém, kinh tế phát triển chưa đồng đều, thu nhập của người dân không ổn định, tỷ lệ hộ nghèo của huyện còn cao
Trong những năm qua, Đảng bộ huyện Quảng Xương đã tích cực thực hiện chương trình XĐGN và thu được một số kết quả đáng kể Tuy nhiên, do tính chất vùng miền và sự ảnh hưởng chi phối của yếu tố lịch sử, xã hội, tự nhiên nên tỷ lệ hộ nghèo của huyện vẫn còn cao Nhiều hộ dân qua các chương trình thực hiện chính sách XĐGN của tỉnh Thanh Hóa và Đảng bộ huyện Quảng Xương đã thoát nghèo nhưng chưa mang tính bền vững, nguy
cơ tái nghèo còn cao Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc thực hiện công tác XĐGN, Đảng bộ và nhân dân huyện Quảng Xương luôn chú trọng nhiệm
vụ lãnh đạo thực hiện các chính sách và mục tiêu nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương XĐGN của tỉnh Thanh Hóa và mục tiêu của Đảng bộ huyện đã đề ra trong chính sách kinh tế - xã hội (KT-XH) của huyện
Trang 10Là một người con của quê hương Quảng Xương, trăn trở trước sự khó
khăn của nhân dân trong huyện, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện chính sách
xóa đói giảm nghèo của Đảng ở huyện Quảng Xương (Thanh Hóa) từ năm
2001 đến năm 2014” làm luận văn thạc sỹ để góp phần khẳng định vai trò của
Đảng bộ huyện trong lãnh đạo thực hiện công tác XĐGN
2 Tình hình nghiên cứu
Quá trình phát triển kinh thế thị trường và mở cửa hội nhập quốc tế đã đem đến sự thay đổi bộ mặt nền kinh tế nước ta trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, điều đó cũng làm tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, làm ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của một bộ phận người nghèo trong xã hội Vì vậy, việc XĐGN ở nước ta vẫn đang là vấn đề bức xúc được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm XĐGN toàn diện, bền vững là mục tiêu đặt ra trong các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học ở nước ta hiện nay
Nhiều công trình nghiên cứu đã được xuất bản thành sách, tạp chí phục
vụ cho công tác nghiên cứu như: “Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và
vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam” (1997) chủ biên GS PTS Vũ Thị
Ngọc Phùng, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; “Đói nghèo ở Việt Nam”
(2001) chủ biên Chu Tiến Quang, Nxb Nông nghiệp Hà Nội; Báo cáo phát
triển của Việt Nam (2000): Tấn công nghèo đói; Ngân hàng thế giới: Đói
nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam Các công trình đã phân tích những thực
trạng nghèo đói ở Việt Nam và chỉ ra nhiều nguyên nhân dẫn tới sự nghèo đói
Để công tác xóa đói, giảm nghèo tiến triển vững chắc của tác giả Hồ Văn Vĩnh
(2007), đề tài đề cập đến những thành tựu trong công tác XĐGN của nước ta thời gian qua; Phân tích nguyên nhân của đói nghèo để tìm ra giải pháp hữu hiệu; Xác định một số giải pháp có tính chiến lược (đổi mới quản lý nhà nước
về kinh tế, kiên quyết chống bệnh thành tích, coi trọng công tác cán bộ )
Trang 11XĐGN cũng là chủ đề mà nhiều người lựa chọn làm luận văn Thạc sĩ,
Tiến sĩ: Hoàng Thị Hiền (2005): Xóa đói giảm nghèo với đồng bào dân tộc ít
người tỉnh Hòa Bình – Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Phan Thành Biến (2008) Hiệu
quả xóa đói giảm nghèo từ các dự án phát triển nông thôn tại Hà Tĩnh : Luận
văn ThS Quản trị kinh doanh, Nxb, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội; Nguyễn
Thị Hồng Điệp (2008): Đảng bộ Hà Nam lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm
nghèo trong những năm 1997 - 2005: Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Đại học KHXH
& NV Hà Nội Nhìn chung, các công trình trên đã hệ thống hóa một số quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ Hà Nam
về XĐGN; hệ thống lại quá trình lãnh đạo thực hiện XĐGN của Đảng bộ các địa phương, qua đó đánh giá kết quả thực hiện XĐGN, rút ra một số kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo thực hiện XĐGN ở các địa phương khác nhau
Viết về tỉnh Thanh Hóa cũng đã có một số công trình như: Mai Thị Hà
(2012): Đảng bộ huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa) lãnh đạo thực hiện xóa đói
giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng
viên lý luận chính trị; Đỗ Thế Hạnh (2000): Thực trạng và giải pháp chủ yếu
nhằm xóa đói giảm nghèo ở vùng định canh định cư Thanh Hóa, Luận văn
Thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề XĐGN Nêu lên được thực trạng, nguyên nhân và giải pháp thực hiện trong quá trình thực hiện công tác XĐGN của một số địa phương trên phạm vi cả nước
Viết về XĐGN ở huyện Quảng Xương cũng đã có công trình “Kinh
tế biển góp phần xóa đói giảm nghèo ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa” của Nguyễn Thị Lương, Luận văn Thạc sỹ, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền, năm 2013 Tuy nhiên, trong công trình này, tác giả mới chỉ đề cập chủ yếu đến một phần nhỏ về kinh tế trong vấn đề mối quan hệ giữa phát triển
Trang 12kinh tế biển và XĐGN, khai thác và đánh giá những tác động của kinh tế biển với quá trình XĐGN ở Quảng Xương và bước đầu đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế biển để XĐGN ở huyện Quảng Xương
Nghiên cứu về vai trò của Đảng bộ huyện Quảng Xương, Thanh Hóa trong thực hiện các chính sách XĐGN thì chưa có công trình nào cụ thể Vì vậy, tác giả chọn đề tài này làm đề tài luận văn thạc sỹ với mong muốn tổng kết quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quảng Xương trong quá trình thực hiện công tác XĐGN từ 2001 đến năm 2014 Đây sẽ là một trong những tư liệu phục vụ cho nghiên cứu công tác XĐGN của huyện Quảng Xương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
- Làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Quảng Xương quán triệt và vận dụng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác XĐGN trên thực tiễn của huyện Quảng Xương từ năm
2001 đến năm 2014
3.2 Nhiệm vụ
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế-
xã hội (KT-XH) đối với sự phát triển của huyện Quảng Xương
- Trình bày một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo XĐGN của Đảng
bộ huyện Quảng Xương (Thanh Hóa) từ năm 2001 – 2014
- Rút ra những nhận xét và một số kinh nghiệm của Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo công tác XĐGN từ năm 2001 đến năm 2014
4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển XĐGN
Trang 13Nguồn tư liệu
Luận văn có tham khảo trên cơ sở các kết quả công trình nghiên cứu của một số nhà khoa học trong nước, số liệu thống kê, điều tra xã hội học của các đơn vị nghiên cứu, tổng hợp, lưu trữ với tính chất là những gợi ý khoa học
có ý nghĩa phương pháp luận cho luận văn
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận sử học, phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp các phương pháp đó để giải quyết vấn đề đã đặt ra trong luận văn Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp… để trình bày kết quả nghiên cứu phục vụ cho mục đích của luận văn
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Quảng Xương thực hiện XĐGN từ năm 2001 đến năm 2014
- Về không gian: huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
- Về thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo thực hiện công tác XĐGN từ năm 2001 đến năm 2014
6 Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng bộ huyện Quảng Xương về XĐGN
- Phục dựng một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo, tổ chức thực hiện XĐGN từ năm 2001 đến năm 2014
- Luận văn được bảo vệ thành công sẽ là nguồn tài liệu tham khảo phục
vụ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về XĐGN ở huyện Quảng Xương
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương
Trang 14Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG (TỈNH THANH HÓA) THỰC HIỆN XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Quảng Xương
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình xóa đói giảm nghèo ở Quảng Xương trước năm 2001
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Quảng Xương là huyện thuộc đồng bằng ven biển nằm về phía đông nam tỉnh Thanh Hóa, thuộc miền đất hình thành khá muộn so với nhiều địa phương khác trong tỉnh Xưa kia, huyện được biết đến là vùng đất nghèo của tỉnh Thanh Hóa, nước mặn, đồng chua, đất đai kém màu mỡ, thời tiết khắc nghiệt… mất mùa, đói kém hay xảy ra nên cuộc sống của người dân rất khó khăn Có lẽ cũng vì thế mà người xưa vẫn thường ví von “nhất Xương, nhì Gia” (ý nói về 2 huyện Quảng Xương và Tĩnh Gia), câu nói đó đã phần nào cho thấy sự cơ cực, vất vả trong cuộc sống của con người nơi đây
Với diện tích đất tự nhiên sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, tính đến năm 2014 tổng diện tích tự nhiên của huyện là 200,4km2
, chiếm 2,5% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp
là 10.230 ha (diện tích trồng cây hàng năm 9,494 ha, diện tích đất nuôi trồng thủy hải sản 732 ha, diện tích đất lâm nghiệp 370 ha) (theo số liệu thống kê, Phòng thống kê huyện Quảng Xương năm 2014)
Vị trí địa lý
Huyện Quảng Xương nằm ở phía đông nam tỉnh Thanh Hóa, thuộc miền duyên hải, chung bờ biển với Tĩnh Gia, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Nga Sơn Huyện
Trang 15nằm trong tọa độ từ 19034’vĩ độ bắc và từ 105046’ đến 103053’ kinh độ Đông đến19047’, phía bắc huyện là thành phố Thanh hóa và huyện Hoằng Hóa Phía tây huyện là Đông Sơn và huyện Nông Cống Phía nam Quảng Xương giáp với Tĩnh Gia và nam huyện Nông Cống Phía Bắc huyện gần cửa Hới (sông Mã) là núi Trường Lệ, bên cửa Ghép (sông Yên) là núi Lau Chẹt tạo thành một đường
bờ biển dài hơn 18km chạy qua 9 xã nối liền đường bờ biển với rất nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển Đây là vùng được đánh giá là có tiềm năng phát triển kinh tế cao với nhiều điều kiện tự nhiên được thiên nhiên ưu đãi
Trung tâm huyện là thị trấn Quảng Xương, phía Bắc giáp xã Quảng Tân, phía Nam giáp xã quảng Phong, phía Tây giáp xã Quảng Tân Huyện Quảng Xương có đường quốc lộ 1A chạy theo hướng Bắc – Nam từ cầu Quán Nam (Quảng Thịnh) đến cầu Ghép (Quảng Trung) dài 18km, nên thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa với các huyện khác trong tỉnh Ngoài ra huyện còn có Quốc lộ 47 từ Thành phố Thanh Hóa đi Sầm Sơn ở phía Bắc và quốc lộ 48 từ Ngã ba Voi đi Nông Cống và hệ thống các tuyến đường liên xã nên thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu hàng hóa, phát triển kinh tế - xã hội
Địa giới hành chính
Từ năm 1975 đến năm 2015, Quảng Xương đã trải qua 6 lần điều chỉnh địa giới hành chính để hình thành và phát triển hai đơn vị là Thành phố Thanh Hóa và Thị xã Sầm Sơn (trực thuộc tỉnh)
Đến năm 2012 (lần điều chỉnh thứ 5) huyện Quảng Xương còn bao gồm
35 xã và 1 thị trấn Dân số toàn huyện là 220.300 người Mật độ dân số 1.202 người/km2 Năm 2015 tiếp tục điều chỉnh lần thứ 6, cắt 6 xã cho Thị xã Sầm Sơn, huyện Quảng Xương còn 29 xã và 1 thị trấn Điều đáng quan tâm là trong
số các xã bị chia tách do điều chỉnh địa giới hành chính đều là các xã có tiềm năng và dân trí cao hơn các vùng còn lại, làm cho mặt bằng chung về KT-XH của Quảng Xương gặp nhiều khó khăn hơn sau mỗi lần điều chỉnh Trong số 36
Trang 16xã, thị trấn còn lại (ở thời điểm nghiên cứu), nơi có diện tích lớn nhất là xã Quảng Ngọc (8,8 km2); nơi có diện tích nhỏ nhất là thị trấn Quảng Xương (1,1
km2) Nơi có dân số đông nhất là xã Quảng Nham (gần 14.000 người) và nơi có dân số ít nhất là xã Quảng Phúc (gần 3.000 người)
Địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu
Địa hình: Quảng Xương có nhiều tài nguyên để phát triển kinh tế Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 22.764ha Trong đó đất nông nghiệp là 13.775ha chiếm 60.51%, bao gồm: đất cát ven biển, đất phù sa, đất mặn, đất dầy, đất tầng mỏng Quảng Xương được bao bọc bốn phía bởi sông Mã, sông
Đơ, sông Yên và biển Ở hai đầu nối liền với hai núi đá Granit, Trường lệ ở phía Bắc và Lau chẹt ở phía Nam, địa hình xen kẽ nhiều loại đất tạo ra các dải đất cao thấp, làm cho nội vùng có sự chệch đáng kể hình thành vùng đồng chiêm trũng, đồng màu và mặt nước lợ nuôi trồng thủy hải sản Phần lớn đất đai đều là đất phù sa không được bồi, đất pha cát dễ gây ngập úng rửa trôi khi mưa và khô hạn khi nắng kéo dài
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa của Duyên hải miền Trung nên Quảng Xương có thời tiết khí hậu diễn biến phức tạp, thường xuyên xảy ra thiên tai (bão, lũ lụt, hạn hán, gió Lào )
Sự đa dạng của địa hình góp phần để Quảng Xương phát triển cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp với nhiều sản phẩm khác nhau Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên mang lại, sự đa dạng phức tạp của địa hình cũng đã tạo rất nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất của nhân dân Đất đai kém màu mỡ và sự nhiễm mặn của biển ảnh hưởng tới diện tích đất nông nghiệp trồng lúa Quảng Xương còn nằm đầu kênh tiêu của cả tỉnh, thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai bão lụt, mất mùa là chuyện hay xảy
ra làm cho cuộc sống của người dân đã khó khăn lại càng khó khăn hơn Vì thế công tác XĐGN cần được quan tâm để sớm tìm ra giải pháp trợ giúp, hướng dẫn người dân ổn định sản xuất, nâng cao thu nhập và thoát nghèo
Trang 171.1.1.2 Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội
Dân số và lao động
Quảng Xương là một huyện đông dân của tỉnh Thanh Hóa Năm 2014 huyện có là 238.872 người, (gần 61 nghìn hộ) trên tổng số 36 xã, thị trấn, chiếm 7,4% dân số toàn tỉnh, là huyện có dân số đông nhất trong 27 huyện thị toàn tỉnh Mật độ dân số trung bình của huyện là 284.994 người/km2 (gấp 3.7 lần mật độ dân
số của tỉnh 330 người/km2) Vùng biển chiếm 1/3 dân số trong huyện chủ yếu làm ngư nghiệp, còn lại 2/3 dân số tập trung ở đồng bằng sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp Đó là nguồn nhân lực dữ trữ cho huyện Giai đoạn 2006-2010, dân số trong độ tuổi lao động là 133.8 nghìn người, chiếm 49.6% tổng số dân Tuy nhiên,
số lao động đã qua đào tạo và lao động có kĩ thuật chiếm tỷ lệ rất thấp, gây khó khăn cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như phát triển KT-XH của huyện
Bảng 1.1: Lao động huyện Quảng Xương tính đến năm 2014
Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Quảng Xương, 2014
Gần đây, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn huyện giảm, tỷ lệ dân số phân bố trong các ngành nghề cũng có sự thay đổi theo hướng tăng dần ở các ngành công nghiệp, dịch vụ Tuy nhiên, do trình độ lao động chưa cao, hầu hết là lao động phổ thông trong nông nghiệp; tính chất mùa vụ của sản xuất nông nghiệp và công tác tạo việc làm cho người lao động còn gặp nhiều khó khăn nên hàng năm vẫn có một lượng lớn lao động thiếu việc làm
Trang 18Trình độ dân trí của một bộ phận cư dân còn thấp, đặc biệt là các xã vùng ven biển Trước đây do những điều kiện và hoàn cảnh đặc biệt, một bộ phận cư dân không được học hành, không được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản như (giáo dục tiểu học, y tế cơ sở, kế hoạch hóa gia đình ) nên nhận thức còn kém, bảo thủ, chậm đổi mới, không biết tính toán làm ăn, chi tiêu không có kế hoạch dẫn tới đời sống kinh tế còn nghèo khó
Lao động là một lợi thế của huyện nhưng hiện vẫn chưa được khai thác một cách hiệu quả, vì vậy thực hiện công tác XĐGN cần có chính sách phù hợp hơn trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, kết hợp giải quyết vấn đề việc làm trên cơ sở tích cực đào tạo và sử dụng hợp lý nguồn lao động, tạo thêm những điều kiện thuận lợi để người lao động có thể tự tạo việc làm
và tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống Đồng thời phải có biện pháp giúp cho người nghèo nâng cao nhận thức về vai trò và trách nhiệm của chính họ
để tự vươn lên thoát nghèo
Tình hình sản xuất
Là một huyện đồng bằng ven biển nên Quảng Xương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp đa canh: trồng trọt, chăn nuôi, khai thác và chế biến thủy hải sản, phát triển kinh tế biển
Bảng 1.2: Một số chỉ tiêu trong sản xuất nông nghiệp
Diện tích gieo trồng hàng năm Ha 27.288 25.538 22.499
LĐ trong ngành nông nghiệp Người 105200 100.531 100.273
Số hộ nông thôn nông nghiệp Hộ 67.100 56.853 57.062 Giá trị SX (theo giá năm 1994) Triệu đồng 393.505 504.119 517.146 Sản lượng lương thực có hạt Tấn 120.914 122.377 106.660
Số lượng gia súc, gia cầm Con 72.516 62.088 69.664
Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Quảng Xương, 2015
Trang 19Khai thác, đánh bắt thủy sản
Xuất phát từ vị trí địa lý, ngư nghiệp có vai trò quan trọng đối với một
bộ phận lớn cư dân trong huyện Với chiều dài bờ biển gần 18km thuộc địa phận 9 xã, có hai cửa sông ở hai đầu, từ xưa đánh cá đã trở thành nghề truyền thống của cư dân ven biển, tập trung ở xã Quảng Nham, Quảng Lợi, Quảng Thái, Quảng Vinh, Quảng Hùng, Quảng Đại, Quảng Hải, Quảng Lưu
Lao động vùng biển đông, ngư dân cần cù chịu khó Tuy nhiên, cuộc sống của lao động ngư nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, khi biển lặng thì no đủ, lúc biển động, mưa bão thì thiếu đói, thậm chí nguy hiểm cả tính mạng Vì vậy, tranh thủ lúc nông nhàn ngư dân ven biển còn có nghề đan lưới để kiếm thêm nguồn thu nhập Ở một số xã Quảng Chính, Quảng Nham còn có nghề làm muối Đối với cư dân sống ở vùng đồng bằng, ngoài làm ruộng, người dân Quảng Xương còn có nghề bắt rươi, cua, cáy ở vùng nước
lợ thuộc khu vực sông Yên phía Tây Nam huyện Một số hộ dân đã tận dụng diện tích mặt nước ở các sông, hồ để nuôi trồng thủy sản, quy mô còn lẻ tẻ, mang tính tự phát dưới hình thức sản xuất của hộ gia đình Vì vậy, năng suất
là đạt được là không đáng kể nên thu nhập của người dân còn thấp, với nhiều
hộ nghèo thì cuộc sống càng khó khăn, nguy cơ tái nghèo cao
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Quảng Xương có các làng nghề thủ công truyền thống như mây tre đan Quảng Phong, Quảng Đức), nghề chiếu cói (Quảng Phúc, Quảng Vọng), nghề làm đồ mỹ nghệ (Quảng Hùng), nghề làm quạt giấy (Lưu Vệ - Quảng Tân)… được quan tâm và tạo điều kiện để phát triển
Phần đông dân cư sinh sống ở vùng đồng bằng, các nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp còn nhiều khó khăn, thu nhập bấp bênh, đầu ra cho sản phẩm và việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ còn chưa được giải quyết nên đời sống nhân dân chưa ổn định, nghề chính vẫn là làm ruộng, đất đai thuộc miền đồng bằng duyên hải nên kém màu mỡ, ít cho năng suất cao trong sản trồng trọt, công việc
Trang 20đồng áng lại phụ thuộc nhiều vào thời tiết nên sản xuất gặp nhiều bất lợi Vì vậy, trong các chủ trương phát triển kinh tế XĐGN của huyện cần chú trọng cả về phát triển các lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp và sản xuất, tiểu thủ công nghiệp, coi đó là một phương án tốt để thu hút và tận dụng được một lượng lớn lực lượng lao động, tranh thủ những thời điểm sau mùa vụ của sản xuất nông nghiệp, đồng thời giải quyết việc làm cho nhiều lao động thất nghiệp, góp phần XĐGN và giảm bớt tình trạng trẻ em lang thang ra các thành phố lớn
1.1.1.3 Tình hình xóa đói giảm nghèo ở huyện Quảng Xương trước năm 2001
Căn cứ vào Chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 1997 - 2000 (theo
công văn số 1752/LĐTBXH ngày 20-5-1997 của Bộ LĐTB&XH ), nhằm thực
hiện chương trình XĐGN đúng và hiệu quả, năm 2000 Huyện đã thành lập Ban chỉ đạo XĐGN ở các xã, thị trấn Qua điều ra soát, phân loại hộ nghèo,
và chỉ ra các nguyên nhân gây nên nghèo đói Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ
hộ nghèo đói của huyện còn khá cao Theo số liệu báo cáo ngày 18 tháng 12 năm 1997 của Ban chỉ đạo (BCĐ) XĐGN huyện Quảng Xương, toàn huyện
có 11.130 hộ đói nghèo trên tổng số 35 xã, chiếm 19,6% Trong đó, hộ nghèo là: 7.865 hộ, hộ đói là 3.265 hộ
“Một số xã còn tỷ lệ nghèo cao như: Quảng Minh 43,6%, Quảng Lợi 40,5%, Quảng Thạch 37%, Quảng Nham 35,7%, Quảng Thái 30% ” [47, tr.15] Kết quả điều tra rà soát cho thấy hộ đói nghèo thường là những hộ đông con, thiếu vốn sản xuất, thiếu kiến thức trong sản xuất kinh doanh Một
bộ phận ăn tiêu không có kế hoạch, thiếu siêng năng trong lao động sản xuất Một số ít gặp khó khăn đột xuất hoặc các rủi ro gây ra nên rơi từ hộ trung bình xuống hộ nghèo Nhiều trường hợp hộ đói nghèo còn hạn chế trong việc tiếp cận và sử dụng các nguồn lực, không nắm được quy trình sản xuất, chậm tiếp thu cái mới nên thường dẫn tới đói nghèo
Trang 21Năm 1998, trong điều kiện huyện còn gặp nhiều khó khăn do diễn biến thất thường, đầu năm nắng hạn kéo dài, cuối năm mưa lũ dồn dập làm cho sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, năng suất lúa thấp chỉ đạt 37,5 tạ/ha
“Tính đến tháng 12 năm 1998 thì tổng số hộ đói nghèo của huyện còn: 10.085
hộ Trong đó có 2.597 hộ đói, và 7.588 hộ nghèo” [47, tr.17]
So với năm 1997 đã giảm được 1045 hộ, trong đó số hộ nghèo giảm:
277 hộ, hộ đói giảm 668 hộ “Tỷ lệ hộ nghèo đói năm 1998 là 17,7%, giảm được 1,9% so với năm 1997 Nhiều xã làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo nên tỷ lệ ở mức thấp như Quảng Thịnh (6,6%), Quảng Tân (4,5%), Quảng Hợp (8,7%), Quảng Ninh (10,4%), Quảng Tâm (10,4%) ” [47, tr.18] Nhìn chung công tác XĐGN ở huyện Quảng Xương đã có những chuyển biến tích cực Nhiều hộ nghèo đã cố gắng vươn lên, họ dần biết cách làm ăn, thu nhập được cải thiện, số hộ đói nghèo giảm dần
Bước sang năm 1999, năm đầu tiên thực hiện CTMTQG về XĐGN XĐGN đã được nâng tầm thành chương trình Quốc gia và chuẩn bị cho những bước đột phá mới Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, BCĐ XĐGN huyện Quảng Xương tiếp tục quán triệt chỉ đạo của Ban chỉ đạo XĐGN tỉnh Thanh Hóa, đẩy mạnh các cấp ủy cơ sở tăng cường làm tốt các các nhiệm vụ và mục tiêu trong chương trình XĐGN Tuy nhiên, do năm
1999 Thanh Hóa và một số tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng nặng nề của bão lụt nên đời sống kinh tế của nhân dân trong huyện gặp rất nhiều khó khăn
Theo thống kê năm 1999, “trên địa bàn toàn huyện có 9.337 hộ (trên tổng số 57.359 hộ) thuộc diện đói nghèo (trong đó có 7.424 hộ nghèo; 1.910
hộ đói) chiếm 16,28%” [47, tr.21] “Năm 2000, tỷ lệ hộ nghèo đói trong toàn huyện là 14,0%’’ [47, tr.23] Tỷ lệ nghèo cao tập trung ở các xã ven biển như: Quảng Vinh, Quảng Nham, Quảng Hải, Quảng Khê, Quảng Thạch
Trang 22Nhìn chung, trước năm 2001 tỷ lệ đói nghèo của Quảng Xương còn cao Trong đó, tỷ lệ nghèo đói thường cao ở các xã ven biển Diện tích đất canh tác thiếu hoặc kém màu mỡ, thiên tai, rủi ro… là những nguyên nhân chính khiến cho đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Do ngân sách địa phương còn eo hẹp và sự hạn chế từ năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo nên công tác XĐGN còn nhiều khó khăn Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là phải có sự vào cuộc quyết liệt hơn nữa của các cấp chính quyền địa phương với các giải pháp cụ thể để giảm tỷ lệ đói nghèo trên địa bàn toàn huyện, giúp người dân ổn định đời sống, tránh nguy cơ tái nghèo ở những hộ nghèo đã thoát nghèo trước đó Về mặt lâu dài, cần phải nâng cao nhận thức cho người nghèo về nguyên nhân đói nghèo, làm cho họ thấy được vai trò của mình trong công tác XĐGN, giúp đỡ họ làm ăn vươn lên thoát khỏi đói nghèo Thực hiện những nhiệm vụ này không phải là vấn đề một sớm, một chiều mà đòi hỏi Đảng bộ huyện Quảng Xương phải tính toán, có những chủ trương, giải pháp cụ thể và phù hợp trong các giai đoạn tiếp theo
1.1.2 Chủ trương của Đảng về xóa đói giảm nghèo
1.1.2.1 Những quan niệm chung về đói nghèo và chuẩn nghèo ở Việt nam qua các thời kỳ
Nghèo là một vấn đề xã hội chung ở tất cả các nước trên thế giới, kể cả những nước có nền kinh tế kém phát triển hay những nước có nền kinh tế phát triển Tùy thuộc vào thể chế chính trị, điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia mà quan niệm giàu nghèo có sự khác nhau
Nghèo đói không chỉ là đói ăn, thiếu uống, hoặc thiếu các điều kiện sinh sống, sinh hoạt khác mà nghèo đói còn được gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận với các nguồn lực, thông tin và dịch vụ
Nghèo chia thành nhiều mức khác nhau: nghèo tuyệt đối và nghèo
tương đối Nghèo tuyệt đối “là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả
Trang 23năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống về ăn, mặc, ở, vệ sinh, y
tế, giáo dục” [38, tr.2] Nghèo tương đối “là tình trạng một bộ phận dân cư có
mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng địa phương đang xét [38, tr.3] Theo khái niệm này không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia và nó thay đổi theo thời gian và không gian, phụ thuộc vào sự phát triển của sản xuất, tăng trưởng kinh tế làm nhu cầu đời sống của con người cũng nhiều biến đổi Khi đó, các khái niệm về "nghèo" và đói nghèo cũng có biến động theo
Chuẩn nghèo là tiêu chuẩn để đo mức độ nghèo của các hộ dân và là
căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh và chính sách kinh tế, xã hội khác
Để phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển của hộ dân, địa phương, vùng miền, Nhà nước ta quy định chuẩn nghèo quốc gia trong từng thời kỳ làm căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo như sau:
Chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 1997 - 2000 (theo công văn số 1752/LĐTBXH ngày 20-5-1997 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội):
“Hộ nghèo vùng nông thôn miền núi, hải đảo là hộ có thu nhập dưới 15kg gạo/người/tháng, tương đương với 55.000 đồng Hộ nghèo vùng đồng bằng, trung du là hộ nghèo có thu nhập bình quân dưới 20kg gạo/người/tháng, tương đương với 70.000 đồng Hộ nghèo vùng thành thị là hộ có thu nhập bình quân dưới 25kg gạo/người/tháng, tương đương với 90.000 đồng” [38, tr.10-11]
Chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2001 -2005 (theo Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 01-11-2000 của Bộ Lao động - Thương binh
Trang 24nghèo vùng thành thị là hộ có thu nhập bình quân quân đầu người dưới 150.000 đồng/người/tháng, (1.800.000 đồng/người/năm)” [38, tr.10]
Chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2006 - 2010 (theo Quyết định số 170/2005/ QĐ-TTg ngày 08-07-2005 của Thủ tướng Chính phủ):
“Hộ nghèo ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống Hộ nghèo
ở khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống” [38, tr.11]
Chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2011 - 2015 (theo Quyết định số 09/2011-QĐ-TTg ngày 30-01-2011 của Thủ tướng Chính phủ):
“Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng” [38, tr.11]
Bảng 1.3: chuẩn nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn
Thành phố
1996-2000 < 55.000đ ~ < 15kg gạo < 70.000đ ~ 200kg gạo < 90.000đ ~ 25kg gạo 2001-2005 < 80.000đ ~ < 20.000 kg gạo < 100.000đ ~ < 20kg gạo < 15.000đ ~ < 35kg gạo
Nguồn: Tạp chí Khoa học, số 2, năm 2007
Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015, tổng số hộ nghèo trong cả nước tính đến hết năm 2012 là 2.149.110 hộ, số hộ cận nghèo là 1.469.727 hộ (Theo công bố kết quả điều tra, rà soát của Bộ LĐTB&XH kèm theo Quyết định số 749/QĐ-LĐTBXH ngày 13-05-2013)
Trang 25Việc xác định hộ nghèo là kết hợp giữa phương pháp khảo sát mức sống hộ gia đình (tức là sử dụng thước đo thu nhập) và xác định đối tượng dựa vào cộng đồng (tiêu chí người dân sử dụng để đánh giá tình trạng chất lượng sống của hộ thường dựa vào một số yếu tố chứ không đơn thuần là thu nhập: điều kiện nhà ở và đồ đạc, đất đai, dự trữ lương thực, số gia súc, tài sản thừa kế…) để phân loại hộ nào nghèo, hộ nào đã thoát nghèo Chuẩn nghèo luôn thay đổi và mang giá trị tương đối Vì vậy tùy theo điều kiện cụ thể từng nơi mà áp dụng linh hoạt Theo quy định của Bộ LĐTB&XH định kỳ 6 tháng,
1 năm tiến hành khảo sát hộ nghèo để phân loại hộ nghèo để biết được kết quả công tác XĐGN và có những chính sách giảm nghèo thích hợp
Đói nghèo là một phạm trù mang tính lịch sử Bởi đói nghèo vẫn còn tồn tại khi nền kinh tế thị trường chi phối và tồn tại sự khác biệt về năng lực
xã hội giữa các cá nhân Đói nghèo là hiện tượng phổ biến ở mọi quốc gia nên không thể giải quyết vấn đề này một cách triệt để trong một thời gian ngắn và quy mô toàn xã hội, chỉ có thể từng bước giảm nghèo với một quá trình lâu dài cần sự hợp lực của rất nhiều tầng lớp, thành phần khác nhau trong xã hội
1.1.2.2 Chủ trương của Đảng về xóa đói giảm nghèo từ năm 2001-2005
XĐGN là một nội dung quan trọng cần thực hiện để đảm bảo công bằng xã hội Chủ trương XĐGN của Đảng Cộng sản Việt Nam lần đầu tiên được đề cập trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (9/1991) Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII năm 1991) đã đề ra chủ trương XĐGN trong chiến lược phát triển nông thôn, nông nghiệp và nông dân cũng như trong chiến lược phát triển chung của xã hội và đã trở thành một chủ trương chiến lược, nhất quán, liên tục được bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội của Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của công tác XĐGN, xác định phải nhanh chóng đưa các
hộ nghèo thoát ra khỏi hoàn cảnh túng thiếu và sớm hòa nhập với sự phát triển
Trang 26chung của đất nước; đề ra Chương trình quốc gia về XĐGN trong 5 năm 1996 –
2000 cùng với 10 Chương trình KT-XH khác Thực hiện chủ trương của Đảng,
từ năm 1998 đến năm 2010, hệ thống chính sách XĐGN đã được thực hiện một cách có bài bản và có hệ thống thông qua các CTMTQG về XĐGN Cụ thể: đầu
năm 1998, Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt Chương trình mục tiêu
quốc gia (CTMTQG) về xoá đói giảm nghèo (gọi tắt là Chương trình 133) theo
Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg ngày 23/7/1998 cho giai đoạn 1998-2000, mục tiêu là xóa đói kinh niên và giảm nghèo cả nước còn 10% vào năm 2000
Ngày 31/7/1998, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục bổ sung Chương trình
135 – theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg Chương trình được triển khai nhằm nhằm tăng cường hoạt động XĐGN cho các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Mục tiêu chính của Chương trình này là hỗ trợ xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng như: hệ thống điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế tại 1715 xã nghèo Tạo điều kiện để những vùng này
có cơ hội phát triển Chương trình trên được thực hiện với hai giai đoạn với những mục tiêu cụ thể (giai đoạn 1998-2005 và giai đoạn 2006-2010) Ngày 29/11/2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 138/2000/QĐ/TTg
về hợp nhất dự án định canh, định cư, dự án hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn
ở vùng đồng bào dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa Chương trình 135 tuy không mang quy mô của CTMTQG nhưng nó đóng vai trò là một trợ lực to lớn trong XĐGN ở vùng sâu, vùng xa
Cùng với các chính sách, chủ trương phát triển KT-XH, chủ trương giảm nghèo đã được triển khai vào góp phần tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội Tính đến năm 2010 tỷ lệ nghèo của cả nước giảm xuống còn 14% theo chuẩn mới Chương trình 135 giai đoạn 2 kết thúc, các mục tiêu cơ bản đã đạt được, giảm nghèo xuống dưới 30% và tăng thu nhập lên 3.5 triệu đồng/hộ/năm góp phần tạo ra diện mạo mới về KT-XH
Trang 27Tuy nhiên, để công tác XĐGN thực sự có hiệu quả vững chắc thì không thể chỉ theo đuổi mục tiêu giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo mà cần giữ vững kết quả giảm nghèo đã đạt được, tăng khả năng bền vững, hiệu quả của công tác giảm nghèo, đặc biệt trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường Vì vậy, quan điểm giảm nghèo bền vững đã được đề cập và thể hiện trong Nghị quyết
Đại hội IX của Đảng khẳng định: “khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng
thời ra sức xóa đói giảm nghèo” [28, tr.163] Mục tiêu chiến lược được Đại
hội IX đề ra là: “Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo
Thường xuyên củng cố thành quả xóa đói giảm nghèo” [28, tr.211] Đại hội
cũng đánh giá công tác XĐGN trên phạm vi cả nước đã được kết quả nổi bật
và được thế giới đánh giá cao Vì thế, phải “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả
chương trình XĐGN Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trục giao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với nơi khác, tạo điều kiện thuận lợi cho vùng nghèo, vùng khó khăn phát triển Đi đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng nhanh thu nhập…Nâng dần mức sống của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo” [28, tr.299]
XĐGN đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển KT-XH ở nước ta XĐGN không còn dừng lại ở nhiệm vụ thực hiện chính sách riêng của ngành Lao động Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) mà là nhiệm vụ chung của toàn xã hội
1.2 Đảng bộ huyện Quảng Xương thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2005
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa và của Đảng bộ huyện Quảng Xương về xóa đói giảm nghèo
1.2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
Trang 28Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Thanh Hóa đã đạt được nhiều thắng lợi trong phát triển KT-XH Kinh tế phát triển với tốc độ khá, nổi bật là sản xuất lương thực, cơ cấu kinh tế phát triển, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, các vùng kinh tế động lực, các khu kinh tế hình thành và đi vào hoạt động ổn định Vì thế, đời sống của nhân dân ngày một cải thiện Tuy vậy, vẫn còn một số khuyết điểm trong việc thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, một số chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV không đạt được Thanh Hóa vẫn là một tỉnh kinh tế phát triển chậm, tỷ lệ nghèo còn cao
Đại hội lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (2001) nhận thức rõ trong thời kỳ mới cùng với phát triển kinh tế, Đảng bộ tỉnh tập trung đẩy mạnh lãnh đạo công tác an sinh xã hội, XĐGN Triển khai thực hiện Quyết định số 143-QĐ/TTg, ngày 27-09-2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt CTMTQG XĐGN và việc làm giai đoạn 2001 - 2005; thực hiện chủ trương của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, UBND tỉnh Thanh Hóa đã xây dựng Chương trình hành động XĐGN giai đoạn 2001 - 2005: Không còn hộ đói kinh niên Cơ bản các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu; Mỗi năm giảm từ 1,5-2% hộ nghèo
Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XV đã xác định Chương
trình giải quyết việc làm và xóa đói - giảm nghèo là một trong 6 chương trình
KT-XH trọng tâm của tỉnh, phải tập trung triển khai có hiệu quả trong 5 năm tới Để thực hiện mục tiêu về phát triển kinh tế, XĐGN Đại hội đã đề ra nhiệm vụ, chủ trương và giải pháp phát triển KT-XH với tốc độ cao và bền vững, phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống nhân dân
Để hoàn thành nhiệm vụ phát triển KT-XH và các chương trình trên, phải thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu: đẩy mạnh chuyển dịch cơ
Trang 29cấu kinh tế nông thôn, khôi phục và phát triển các nghề truyền thống, du nhập
và phát triển các ngành nghề mới, đẩy mạnh phong trào Thanh niên lập nghiệp và xuất khẩu lao động (XKLĐ) Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế mở mang ngành nghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ và vừa, nhất là những cơ sở sản xuất có khả năng sử dụng nhiều lao động Trong thực hiện XĐGN phải thực hiên tốt các giải pháp chủ yếu:
Các chính sách hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo gồm: hỗ trợ về y tế, giáo dục, chính sách an sinh xã hội, trợ giúp các đối tượng nghèo
về nhà ở
Các dự án trực tiếp gồm: Nhóm dự án XĐGN chung: Dự án tín dụng cho người nghèo vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, khuyến nông - lâm - ngư, dự án xây dựng mô hình XĐGN; Nhóm dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, dự án hỗ trợ sản xuất
và phát triển ngành nghề, dự án đào tạo cán bộ làm công tác XĐGN
Nhằm trợ giúp cho người nghèo giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, Đảng bộ tỉnh tiếp tục thực hiện “Chương trình giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo” trên địa bàn toàn tỉnh Ngày 4/11/2002, Ban Thường vụ Tỉnh ủy
ra Nghị quyết số 35-NQ/TU về phát triển ngành nghề thủ công nghiệp Nghị
quyết nêu ra chỉ ra hướng phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã
có Đồng thời chỉ ra yêu cầu phải sớm ban hành cơ chế, chính sách cụ thể để phát triển ngành nghề, tiểu thủ công nghiệp như chính sách về đất đai, tín dụng, tài chính… khuyến khích phát triển sản xuất
XKLĐ và chuyên gia là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực, GQVL, tăng thu nhập, XĐGN, nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động và GQVL Với ý nghĩa đó,
ngày 26/3/2003, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 05-NQ/TU về công
tác xuất khẩu lao động và chuyên gia giai đoạn 2003 – 2005 và đến năm
Trang 302020, đề ra nhiệm vụ nâng cao chất lượng, tăng nhanh số lượng XKLĐ,
chuyên gia, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động của nước ngoài, nâng dần tỉ trọng lao động có chất lượng trong XKLĐ, trong đó có ưu tiên bố trí cho lao động ở nông thôn, lao động thuộc gia đình chính sách, hộ nghèo nhằm tạo việc làm và giúp cho người nghèo nâng cao thu nhập
Cùng với chính sách hỗ trợ về việc làm, Tỉnh ủy Thanh Hóa luôn quan tâm đến vấn đề ổn định đời sống cho người nghèo Đến năm 2003, ở Thanh Hóa, số hộ đói nghèo chưa có nhà ở, trong đó có đồng bào sinh sống trên sông
và số hộ nghèo đang ở nhà tạm bợ, dột nát còn lớn (với số lượng hơn 50 ngàn
hộ, chiếm khoảng 6% so với tổng số hộ và 36% so với tổng số hộ đói nghèo) Nhằm từng bước giải quyết vấn đề này, ngày 10/10/2003, Ban Thường vụ
Tỉnh ủy ra Chỉ thị 08-CT/TU về cuộc vận động toàn dân hỗ trợ, giúp đỡ hộ
nghèo chưa có nhà ở, đang ở tạm bợ, dột nát và ổn định đời sống đồng bào sinh sống trên sông Chỉ thị nêu rõ: yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền,
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tập trung chỉ đạo vận động toàn dân giúp đỡ người nghèo chưa có nhà ở, đang ở nhà tạm bợ, dột nát ổn định đời sống và đồng bào đang sống trên sông Với phương châm nhà nước và nhân dân cùng
làm, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chủ trương mở cuộc vận động toàn dân để “hết
năm 2005 ở các huyện miền xuôi và hết năm 2007 ở các huyện miền núi cơ bản không còn tình trạng nhà ở tạm bợ, dột nát hoặc không có nhà ở; đời sống của đồng bào đang sinh sống trên sông cơ bản được ổn định” [67, tr.1]
Đây là một nội dung quan trọng trong chương trình XĐGN của Đảng và Nhà nước ta, là việc làm có tính nhân văn cao cả, thể hiện sự quan tâm của cộng đồng đối với người nghèo, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách, cần thiết mà Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa phải triển khai thực hiện
Để đạt mục tiêu trên, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xác định giải pháp quan trọng, có tính chiến lược là giúp đỡ các hộ nghèo phát triển kinh tế, cải thiện
Trang 31đời sống, thoát khỏi đói nghèo, vươn lên tự cải thiện nhà ở của mình, đồng thời phát huy sức mạnh của cộng đồng, của toàn xã hội giúp sức Bên cạnh đó, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự
vận động của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội, cuộc vận động “Ngày
vì người nghèo” tiếp tục được thực hiện rộng rãi thu hút được các nguồn lực
trong tỉnh đóng góp vào việc XĐGN Các chính sách xã hội về XĐGN; đền ơn đáp nghĩa; về dân tộc - miền núi, vùng sâu, vùng xa, nhân đạo từ thiện tạo ra điều kiện rút ngắn khoảng cách giàu nghèo và sự chênh lệch giữa các vùng miền, từng bước thực hiện mục tiêu công bằng, dân chủ, văn minh
1.2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Quảng Xương
Sau 15 năm hòa mình cùng công cuộc đổi mới của đất nước, KT-XH của huyện Quảng Xương đã có nhiều thay đổi Nhưng so với các huyện khác trong tỉnh thì Quảng Xương vẫn là một huyện nghèo Năm 2001, tỷ lệ hộ nghèo của huyện là 19,5%, (cao hơn mức nghèo trung bình của tỉnh), chính vì vậy XĐGN được xem là một thách thức lớn cho công tác lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quảng Xương
Nhằm đẩy mạnh phát triển KT-XH, giảm tỷ lệ đói nghèo và từng bước nâng cao đời sống nhân dân Trên cơ sở đánh giá những thành tựu đạt được và những tồn tại của việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI nhiệm kỳ (1996-2000), Đại hội Đảng bộ huyện Quảng Xương lần thứ XXII đã đề ra phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu thời kỳ 2001 - 2005 là:
“Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tăng tốc độ phát triển, phấn đấu đạt
và vượt chỉ tiêu trên tất cả các lĩnh vực, phát huy nội lực, khai thác các nguồn lực, đặc biệt là nhân lực, ưu tiên phát triển các ngành, các lĩnh vực có tiềm năng đáp ứng yêu cầu của thị trường Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và bền vững Nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh” [7, tr.254]
Trang 32Đại hội cũng đã đề ra các chỉ tiêu cụ thể trên các lĩnh vực “Giải quyết việc làm cho 17.000 người; tỷ lệ lao động được đào tạo: 26%; đến năm 2005, cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn 5%; 100% số xã phổ cập tiểu học đúng độ tuổi; 70% số xã phổ cập Trung học Cơ sở trong độ tuổi ” [7, tr.252]
Nhằm thực hiện có hiệu quả phương hướng, mục tiêu của nhiệm kỳ
2001 - 2005, Đại hội chú trọng thực hiện 4 chương trình KT-XH, trong đó,
Chương trình tạo việc làm, làm giàu, xóa đói giảm nghèo được xác định là
một chương trình mục tiêu quan trọng Mục tiêu được Đại hội xác định “đến năm 2005 cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn 5%” [7, tr.18]
Để đạt được mục tiêu đó, Đại hội đã chủ trương: “Tập trung giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo; thực hiện tốt các chính sách xã hội Giải quyết việc làm phải gắn với việc thực hiện các chương trình phát triển kinh tế, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hướng vào mục tiêu phát triển, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực và đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Thúc đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả huyện, xã, thôn, đảm bảo cơ cấu kinh tế nông thôn mới có khả năng sử dụng lao động và giải quyết việc làm cho người lao động Phân bố lại nguồn lao động và chuyển một bộ phận nhân dân đi xây dựng vùng kinh tế mới” [7, tr.24]
“Thực hiện đa dạng hóa việc làm, phát triển mạnh mẽ việc làm phi nông nghiệp; mở rộng phải đi đôi với quản lý tốt các mô hình dạy nghề, tự giới thiệu việc làm Điều chỉnh cơ cấu vốn vay theo hướng phát triển mạnh các nghề ít cần vốn nhưng thu hút nhiều lao động, nhằm làm giảm số người thiếu việc làm trong nông thôn Tăng cường công tác đào tạo, đào tạo lại tay nghề để tự tạo và tìm kiếm việc làm Phấn đấu đến năm 2005 tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 75%” [7, tr.25]
Nhằm cụ thể hóa hơn chủ trương của Đại hội lần thứ IX của Đảng, Đại hội Đại biểu tỉnh Thanh Hóa lần thứ XV và Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện
Trang 33Quảng Xương lần thứ XXII về công tác XĐGN và Chương trình XĐGN và
GQVL làm giai đoạn 2001 - 2005 của Chính phủ, Đảng bộ huyện ra Nghị
quyết số 06 - NQ/HU ngày 25/12/2001 Về chương trình xóa đói giảm nghèo
và giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005 Trong đó, Nghị quyết xác định
rõ phương hướng XĐGN trong giai đoạn mới là:
“Tiếp tục phấn đấu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các xã nghèo Tạo điều kiện cho người nghèo được tiếp cận với các dịch
vụ xã hội cơ bản, giảm nguy cơ rủi ro cho người nghèo, khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp
Khai thác tối đa mọi tiềm năng sản xuất, tập trung phát triển kinh tế để
ổn định tình hình chính trị, đời sống văn hóa xã hội, an ninh ở từng thôn, xóm, từng xã, từng vùng dân cư Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động của người nghèo Huy động tối đa mọi nguồn vốn vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo Ngoài nguồn vốn Nhà nước do Ngân hàng quản lý, cần tập trung hy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân, nguồn vốn của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội trong nước, quốc tế cho mục tiêu XĐGN
Thực hiện lồng ghép chương trình xóa đói giảm nghèo với các chương trình kinh tế xã hội khác như chương trình Tạo việc làm, Chương trình Dân số
- Kế hoạch hóa gia đình, Chương trình Y tế, Giáo dục, Chương trình phát triển Nông nghiệp - nông thôn nhằm tháo gỡ vấn đề nghèo đói một cách nhanh chóng và bền vững
Xây dựng, hoàn thiện và triển khai một hệ thống chính sách đồng bộ như: chính sách việc làm; chính sách ưu đãi đối với những người nghèo và con em các
hộ nghèo; chính sách về vốn, đất đai; chính sách về đào tạo và chuyển giao công nghệ; chính sách về Y tế - Giáo dục; chính sách về Dân số và Kế hoạch hóa gia đình để khuyến khích các hộ nghèo vươn lên hòa nhập với trào lưu phát triển của cộng đồng, xóa đói giảm nghèo, từng bước làm giàu hợp pháp” [6, tr.7]
Trang 34Nghị quyết số 06 của Đảng bộ đã định hướng rõ mục tiêu của chương trình XĐGN trong một thời gian dài, chỉ ra được những nội dung cần thiết về thực hiện chương trình XĐGN và GQVL giai đoạn 2001 - 2005 trên địa bàn huyện Quảng Xương
Bên cạnh các chương trình trên, giai đoạn 2001-2005 huyện Quảng Xương còn triển khai Quyết định 186/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phát triển KT-XH ở các vùng đặc biệt khó khăn thời kỳ 2001-
2005 Quyết định 120/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Về phê duyệt chiến lược phát triển KT-XH ở nông thôn đến năm 2010 Trên cơ sở những kết quả đã đạt được về phát triển kinh tế nông nghiệp, giai đoạn 2001-2005, huyện Quảng Xương tiếp tục thực hiện Dự án 773 giai đoạn 2, tiếp tục thực hiện dự án: Xây dựng mô hình sản xuất nông - lâm - ngư - nghiệp ở vùng ven biển nghèo khó huyện Quảng Xương - Thanh Hóa ở một số xã điểm
Các chương trình này đã được Đảng bộ huyện Quảng Xương chỉ đạo lồng ghép các chương trình phát triển KT-XH với chương trình giảm nghèo, phát huy tối đa mọi nguồn lực khác hỗ trợ cho mục tiêu XĐGN của huyện được đề ra ở Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII
1.2.2 Đảng bộ huyện Quảng Xương chỉ đạo thực hiện các chính sách, dự án xóa đói giảm nghèo từ 2001 – 2005
1.2.2.1 Thành lập Ban chỉ đạo điều hành và tiến hành rà soát hộ nghèo
Thực hiện Quyết định số 143/QĐ-TTg ngày 27-09-2001 của Thủ tướng Chính phủ về CTMTQG về XĐGN và việc làm giai đoạn 2001-2005, BCĐ XĐGN huyện được thành lập ngày 25/6/2001 gồm 26 thành viên, trong đó Trưởng ban là Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân (UBND) huyện, Trưởng phòng LĐTB&XH làm Phó ban trực, Trưởng, phó các phòng ban, ngành có liên quan là thành viên Đồng thời chỉ đạo UBND các xã, thị trấn tiến hành kiện toàn BCĐ giảm nghèo cấp xã
Trang 35Việc rà soát hộ nghèo hàng năm là cơ sở để có căn cứ xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình XĐGN trên địa bàn toàn huyện, phòng LĐTB&XH phối hợp với các cấp, xã ngành của các xã, thị trấn tiến hành điều tra phân loại hộ nghèo theo chuẩn mới của Bộ LĐTB&XH
Theo “Báo cáo tổng hợp hộ nghèo đói huyện Quảng Xương giai đoạn
2001 – 2005” của Phòng LĐTB&XH huyện Quảng Xương Kết quả điều tra
năm 2005, huyện Quảng Xương có số hộ nghèo cao Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 23,5% Đặc trưng của hộ nghèo tập trung ở một số nguyên nhân sau: hộ đói nghèo do thiếu đất sản xuất, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm trong sản xuất chiếm: 75,3%; hộ đói nghèo do thiếu lao động chiếm: 15,8%; hộ đói nghèo do
có người già cả, ốm đau tàn tật chiếm: 5,6%; hộ đói nghèo do tai nạn, rủi ro
và những nguyên nhân khác chiếm: 3,3%
Từ báo cáo tổng hợp cho thấy, điều kiện tự nhiên là một trong những nguyên nhân khách quan dẫn tới đói nghèo Vấn đề thiếu đất canh tác, thiên tai gặp phải làm cho nhiều hộ gia đình trở thành hộ nghèo, đặc biệt một số địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao như: Quảng Nham, Quảng Thái, Quảng Đại, Quảng Thạch nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng nghèo là do thiếu vốn, thiếu đất sản xuất, thiếu kinh nghiệm làm ăn Từ thực trạng, nguyên nhân của các hộ nghèo qua kết quả rà soát, là cơ sở để các ngành, các cấp hoạch định chính sách XĐGN phù hợp với tình hình địa phương, từ đó có thể tìm ra những giải pháp hiệu quả cho công tác chỉ đạo XĐGN
1.2.2.2 Thực hiện các chính sách hỗ trợ trong Chương trình Mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo
Thực hiện chính sách hỗ trợ Y tế:
Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng nghèo đói của một bộ phận dân cư là do ốm đau bệnh tật, không có đủ sức lao động để làm ăn Hơn nữa, việc chạy chữa cũng rất tốn kém, người nghèo ít có điều kiện để khám chữa bệnh, vì thế mà kinh tế gia đình đã khó khăn lại càng khó khăn hơn
Trang 36Nhằm đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo ngành y tế tạo điều kiện để 100% hộ nghèo khi đau ốm được hưởng trợ cấp từ các dịch vụ y tế, bảo đảm mua cấp bảo hiểm cho người nghèo Huyện tranh thủ các nguồn vốn mua các trang thiết bị chữa bệnh, điều trị, tăng cường công tác kiểm tra môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm Thường xuyên giám sát, phòng chống bệnh dịch Tuyên truyền giáo dục sức khỏe vệ sinh phòng bệnh, ngăn chặn không để bệnh lây lan thành dịch Đảm bảo chỉ tiêu chương trình y tế quốc gia
Ngoài ra, huyện còn tổ chức nhiều chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình tới các vùng khó khăn, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình và y tế trong 5 năm 2001-2005 thực hiện đầy đủ mục tiêu và kế hoạch trên các lĩnh vực: toàn huyện có 41 trạm y tế thực hiện dịch vụ kế hoạch hóa gia đình ở 41 xã, thị trấn của huyện Có 1 trung tâm bệnh viện và 3 phòng khám đa khoa khu vực làm công tác dịch vụ kế hoạch hóa gia đình Bộ máy thường trực dân số của huyện được kiện toàn Năm 2003, toàn huyện có 8 cán bộ phụ trách về Y tế - Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và đội ngũ cộng tác viên được đặt tại các xã, thị trấn Đó là đội ngũ thực hiện kết nối, phổ biến trực tiếp các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, thực hiện tốt các chương trình tiêm chủng mở rộng, vệ sinh phòng dịch, an toàn thực phẩm, phòng chống các bệnh xã hội, không để dịch bệnh xảy ra trên đại bàn Công tác bảo hiểm y tế được mở rộng, trình độ đội ngũ cán bộ y tế dần được nâng cao, cơ sở vật chất trang thiết bị cho công tác y tế được quan tâm
Chính sách hỗ trợ người nghèo về giáo dục:
Nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Giáo dục phải mang tới lợi ích cho mọi thành viên trong xã hội Đối với người nghèo, giáo dục là yếu tố quan trọng để người nghèo có cơ hội tìm kiếm việc làm tạo thu nhập và nâng cao hiểu biết cho họ Hỗ trợ người nghèo về giáo dục nhằm bảo
Trang 37đảm cho con em tất cả các hộ nghèo có điều kiện tối thiểu tỏng học tập, góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch về môi trường sinh hoạt, học tập trong nhà trường ở các vùng khác nhau, làm cho con em các hộ nghèo có cơ hội tiếp cận gần hơn với cơ hội thay đổi cuộc sống
Thực hiện nghị quyết của Đảng bộ huyện lần thứ XX, ngành giáo dục huyện Quảng Xương đã chủ động phối hợp với các ngành liên quan thực hiện chính sách trợ giúp con em hộ nghèo về chi phí học tập như miễn giảm học phí
và các khoản đóng góp xây dựng trường Bên cạnh đó, huyện cũng đã củng cố
và tổ chức có hiệu quả việc dạy và học theo chương trình sách giáo khoa mới, kiểm tra quản lý chặt chẽ chương trình giáo dục ngoài giờ lên lớp Đồng thời các hoạt động trợ cấp, đóng góp đồ dùng, sách vở cho những học sinh nghèo đã thu hút được các đoàn thể, các tổ chức xã hội, các nhà hảo tâm, các đơn vị sản xuất kinh doanh và nhân dân trong các chương trình xã hội hóa của huyện
Bên cạnh việc nâng cấp trường lớp, đổi mới chương trình dạy và học từ tiểu học đến trung học phổ thông, huyện cũng có các chính sách khuyến khích học sinh giỏi, học sinh nghèo vượt khó thông qua các tặng quà, thăm hỏi, hỗ trợ sách giáo khoa, cấp học bổng cho học sinh tiểu học có hoàn cảnh khó khăn, khuyến khích học sinh nghèo học khá, học giỏi bằng các giải thưởng, học bổng và các chế độ ưu đãi khác Các chính sách này đã góp phần động viên các em để tiếp thêm động lực cho các em vượt qua khó khăn, vươn lên trong học tập Phối hợp với các xã thực hiện tốt chương trình khuyến học Vì vậy mà số học sinh khá giỏi ngày càng được tăng, số học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ngày một nhiều
Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở:
Hỗ trợ người nghèo về nhà ở là một chủ trương lớn được tỉnh ủy Thanh Hóa đặc biệt quan tâm, coi đó là vấn đề có liên quan chặt chẽ tới việc thực hiện chính sách XĐGN, nhằm tạo điều kiện cho người dân “an
cư, lạc nghiệp”
Trang 38Theo báo cáo số liệu XĐGN của Sở LĐTB&XH tỉnh Thanh Hóa năm
2003, trên toàn tỉnh vẫn còn hơn 50 ngàn hộ đói nghèo chưa có nhà ở, trong
đó có đồng bào đang sống trên sống và số hộ nghèo đang sống ở nhà dột nát, tạm bợ Thực hiện Chỉ thị 08/CT-TU của tỉnh ủy Thanh Hóa ngày 10-10-2003
“Về cuộc vận động toàn dân hỗ trợ, giúp đỡ các hộ nghèo chưa có nhà ở, đang
ở nhà tạm bợ, dột nát và ổn định đời sống đồng bào sinh sống trên sông”, Đảng bộ huyện Quảng Xương đã yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thể tập trung chỉ đạo vận động toàn dân giúp đỡ hộ nghèo chưa có nhà ở, nhà ở tạm bợ, dột nát, các hộ hộ còn sinh sống trên sông Giao Phòng LĐTB&XH trực tiếp chỉ đạo các xã thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy, phấn đấu đạt mục tiêu cụ thể: “Năm 2003 hỗ trợ 254
hộ nghèo, năm 2004 hỗ trợ 320 hộ nghèo, năm 2005 hỗ trợ 495 hộ nghèo, phấn đấu đến năm 2005 thực hiện xóa nhà dột nát, tạm bợ” [67, tr.2]
Với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, huyện Quảng Xương đã huy động nguồn lực bằng kinh phí của nhà nước và của địa phương như: quỹ vì người nghèo, đóng góp của cộng đồng, ngày công của các hội viên Hội phụ nữ (HPN), Hội nông dân (HND), Hội cựu chiến binh (HCCB) Đồng thời tranh thủ nguồn đóng góp của các dòng họ, của bản thân các hộ nghèo để tập trung vào việc hỗ trợ, làm mới, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp nhà ở cho các hộ nghèo, để đến năm 2005 cơ bản xóa được nhà dột nát, xây dựng nhà đại đoàn kết cho các hộ nghèo có khó khăn về nhà ở
1.2.2.3 Thực hiện các dự án nhằm hỗ trợ xóa đói giảm nghèo
Dự án tín dụng cho hộ nghèo vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh
Tiếp cận không đầy đủ các thị trường tín dụng là trở ngại lớn nhất cho công tác XĐGN ở nông thôn Đa số người nghèo không có khả năng vươn lên
vì thiếu vốn làm ăn nhưng không tiếp cận được với nguồn vốn vay Việc “hỗ trợ người nghèo về tín dụng là một kênh mở có tác động trực tiếp tới người
Trang 39nghèo, là một khâu then chốt giải quyết cho vấn đề XĐGN của địa phương” [46, tr.13], góp phần hạn chế tối đa các trường hợp người nghèo không được tiếp cận với các khoản vay tín dụng chính thức từ nhà nước mà phải vay phần lớn tín dụng thông qua các thị trường không chính thức với mức lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất của Ngân hàng Nhà nước
Ngay từ khi thành lập năm 2003, Ngân hàng Chính sách Xã hội Thanh Hóa, Phòng Giao dịch chi nhánh huyện Quảng Xương đã chú trọng đầu tư cho vay 2 chương trình đó là: “Chương trình cho vay hộ nghèo” và “Chương trình cho vay giải quyết việc làm”, đến năm 2004 thực hiện cho vay mới
“chương trình cho vay xuất khẩu lao động” Trong điều kiện huyện Quảng Xương còn nghèo, nguồn ngân sách eo hẹp, việc huy động nguồn vốn này cho công tác XĐGN còn gặp nhiều khó khăn Vì vậy, khi thực hiện hỗ trợ tín dụng đối với hộ nghèo, huyện Quảng Xương khai thác nhiều nguồn vốn để thực hiện các chương trình XĐGN như: sử dụng vốn từ Ngân hàng người nghèo Quảng Xương, quản lý tốt các nguồn vốn (từ hỗ trợ của Trung ương, vốn quỹ XĐGN, vốn huy động từ cộng đồng và doanh nghiệp, các tổ chức cho vay tín dụng cho vay đến hộ nghèo) Vận động các cơ sở kinh tế cho vay ủng hộ Đồng thời, phối hợp sử dụng vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm vào XĐGN theo hướng:
Ngân hàng Nông nghiệp và Ngân hàng người nghèo trên cơ sở nguồn vốn huy động được, kết hợp với các tổ chức đoàn thể nghiên cứu hiệu quả cho vay vốn để hướng dẫn xây dựng các dự án kinh tế giải quyết việc làm, chú trọng cho hay trung hạn và dài hạn Ưu tiên cho vay các dự án thu hút nhiều lao động, làm ăn có hiệu quả Thực tế giai đoạn 2001-2005, sự phát triển kinh
tế của huyện Quảng Xương đã chứng minh tính hiệu quả của nguồn vốn này Đặc biệt các dự án do HPN, HND làm chủ dự án Thực hiện xã hội hóa về nguồn vồn phục vụ cho mục tiêu XĐGN của huyện, tranh thủ mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân và các tổ chức xã hội trong và ngoài nước
Trang 40Giảm bớt các thủ tục phiền phức để người nghèo được tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất thấp từ Ngân hàng người nghèo Tăng cường các hình thức vay tín chấp cho người nghèo thông qua các hiệp hội, đoàn thể như: HND, HPN, HCCB, ĐTN các hiệp hội đoàn thể chuyển vốn vay cho người nghèo vay kết hợp hướng dẫn cho họ về khoa học, kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi, cách thức làm ăn, biện pháp sử dụng vốn vay vào mục tiêu sản xuất để thu được kết quả và tổ chức thu hồi vốn đúng hạn “Đến 31/12/2005 Ngân hàng người nghèo huyện Quảng Xương đã cho vay đến hộ nghèo hơn 4 tỷ đồng và đã cho 1053
hộ nghèo thuộc 41/41 xã, thị trấn được vay vốn” [46, tr.27]
Dự án hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề
Nghèo và tệ nạn xã hội thường có nguyên nhân sâu xa từ tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp Nhận thức được tầm quan trọng của việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và công tác XĐGN trên địa bàn toàn huyện, nhất là với huyện Quảng Xương là huyện chủ yếu sản xuất nông nghiệp, lực lượng lao động trong nông nghiệp luôn chiếm tỷ lệ cao Đây là là huyện đông dân nhất tỉnh Thanh Hóa, kinh tế chậm phát triển với tỷ lệ nghèo còn cao Do đó, Đảng ủy và chính quyền huyện Quảng Xương coi việc đầu tư,
mở rộng sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập cho người lao động là công tác trọng tâm góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo trên toàn huyện
Giai đoạn 2001-2005, huyện tiếp tục thực hiện Dự án 773 giai đoạn 2 ở các xã Quảng Trung, Quảng Khê, Quảng Chính để phát triển nuôi trồng thủy sản
mà hướng chủ yếu là tập trung vào nuôi tôm công nghiệp, phát triển trại tôm giống trên 20 triệu con/năm ở Quảng Lưu Thực hiện Nghị quyết 06 của Tỉnh ủy
về phát triển chăn nuôi, Đảng bộ đã tập trung xây dựng “Đề án phát triển chăn nuôi”, tập trung phát triển đàn bò, nạc hóa đàn lợn, đưa lợn hướng nạc vào chăn nuôi với mô hình trang trại Cùng với các dự án thủy lợi, xây dựng trường học, y
tế, bộ mặt các xã cũng có thay đổi nhanh Người lao động được giải quyết công
ăn việc làm, tăng thu nhập, giảm tỷ lệ hộ nghèo tăng đáng kể