Gần như xưa nay, khi đề cập đến Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, Nam Bộ nói chung người ta thường liên tưởng đến một vùng nông nghiệp trù phú, liên tưởng đến những người nông dân với
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TRỌNG ĐIỂM
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
(2008- 2010)
ĐỜI SỐNG KINH TẾ- VĂN HÓA- XÃ HỘI CỦA CƯ DÂN VÙNG BIỂN, ĐẢO NAM BỘ
( Tên đề tài do Hội đồng nghiệm thu cấp cơ sở chỉnh sửa
để phù hợp với nội dung của đề tài)
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:
PGS TS PHAN THỊ YẾN TUYẾT
Trang 2
1 TS Văn Ngọc Lan (Viện Phát triển Vùng Nam Bộ)
2 NCV Nguyễn Thị Nhung (Viện Phát triển Vùng Nam Bộ)
3 Th.s Ngô Phương Lan (Trường Đại học KHXH& NV)
4 Th.s Trương Thị Thu Hằng (Trường Đại học KHXH& NV)
5 Th.s Phạm Thanh Thôi (Trường Đại học KHXH& NV)
6 Th.s Nguyễn Hoàng Lộc (Trường Đại học KHXH& NV)
7 Nguyễn Thanh Lợi (Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam)
8 Trương Thanh Hùng (Hội Văn học Nghệ thuật Tỉnh Kiên Giang)
9 NCV Kiều Thúy Ngọc (Viện Nghiên cứu TP HCM)
10 KTV Nguyễn Quang Duẩn (Trường Đại học KHXH& NV)
Thư ký đề tài:
Phạm Thanh Duy (Trường Đại học KHXH&NV)
Trang 3MỤC LỤC
DẪN NHẬP 12
1 MỤC TIÊU, Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI: 12
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2 Phạm vi nghiên cứu 15
3 LỊCH SỬ NGHÊN CỨU VẤN ĐỀ: 17
4 TIẾP CẬN LÝ THUYẾT VÀ KHÁI NIỆM KHOA HỌC VỀ NHÂN HỌC BIỂN 24
4.1.Lịch sử thuật ngữ dân tộc học biển / nhân học biển: 25
4.2 Tình hình nghiên cứu nhân học biển và liên quan đến nhân học biển 32
4.3 Tiếp cận lý thuyết về nhân học biển 36
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 36
5.3 Phương pháp Phỏng vấn hồi cố (Oral history) 36
5.4 Nghiên cứu định tính (Qualitative research): 37
5.5 Nghiên cứu định lượng (Quantitative research): 38
6 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI: 40
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VÙNG BIỂN, ĐẢO NAM BỘ 42
1 KHÁI QUÁT VỀ 9 TỈNH THÀNH CÓ BIỂN Ở NAM BỘ 48
1.1.Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu 49
1.2 Thành phố Hồ Chí Minh 51
1 3 Tỉnh Tiền Giang: 55
1.4.Tỉnh Bến Tre 56
1.5 Tỉnh Trà Vinh 58
1 6.Tỉnh Sóc Trăng 59
1.7.Tỉnh Bạc Liêu 60
1 8.Tỉnh Cà Mau 61
1 9.Tỉnh Kiên Giang 64
2 KHÁI QUÁT VỀ HỆ SINH THÁI – KINH TẾ ĐẢO CỦA VÙNG BIỂN 67 2.1 Đảo và quần đảo ở tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu 69
2.2 Đảo và cụm đảo ở tỉnh Cà Mau 73
2.2.1 Cụm đảo Hòn Khoai 73
2.2.2 Hòn chuối 74
2.2.3 Hòn Buông 74
2.2.4 Cụm Hòn Đá Bạc 75
Trang 42.3 Đảo và quần đảo ở tỉnh Kiên Giang 75
2.3.1 Đảo Phú Quốc 75
2.3.2 Quần đảo Thổ Chu/ Thổ Châu: 78
2.3.3 Quần đảo Bà Lụa 79
2.3.4 Quần đảo Nam Du: 81
2.3.5 Quần đảo Hải Tặc 82
2.3.6 Hòn Lại Sơn: 82
2.3.7 Hòn Nghệ: 83
2.3.8 Đảo Hòn Tre: 83
3 KHÁI QUÁT VỀ HỆ SINH THÁI – KINH TẾ RỪNG CỦA VÙNG BIỂN NAM BỘ 84
3.1 Rừng gỗ lớn 85
3.2 Rừng sác 86
3.3 Rừng tràm 88
3.4 Rừng dừa nước 89
4 KHÁI QUÁT VỀ CÁC CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN Ở VÙNG BIỂN, ĐẢO NAM BỘ 95
4.1 Các cộng đồng cư dân ở tiểu vùng 1: 103
4 1.1.Cộng đồng cư dân vùng biển, đảo Bà Riạ- Vũng Tàu 103
4.1.2 Cộng đồng cư dân vùng biển, đảo tp Hồ Chí Minh 108
4.1.3 Cộng đồng cư dân vùng biển, đảo Tiền Gang: 111
4.1.4 Cộng đồng cư dân vùng biển, đảo Bến Tre 113
4.2 Các cộng đồng cư dân ở tiểu vùng 2 117
4.2.1 Cộng đồng cư dân vùng biển, đảo Trà Vinh 117
4.2.2 Cộng đồng cư dân vùng biển, đảo Sóc Trăng 119
4.2.3 Cộng đồng cư dân vùng biển, đảo Bạc Liêu 122
4.2.4 Cộng đồng cư dân vùng biển, đảo Cà Mau 125
4.3 Các cộng đồng cư dân ở Tiểu vùng 3: 128
TIỂU KẾT CHƯƠNG I VÀ NÊU VẤN ĐỀ 132
CHƯƠNG 2: ĐỜI SỐNG XÃ HỘI CỦA CƯ DÂN VÙNG BIỂN, ĐẢO NAM BỘ 136
2.1.KHÁI QUÁT VỀ DÂN SỐ - DÂN CƯ – CƠ CẤU GIA ĐÌNH Ở 3 ĐIỂM CHỌN MẪU VÙNG BIỂN NB 139
2.1.1 Dân số và cơ cấu gia đình ở các cụm dân cư vùng biển 144
2.2.1 Mức độ học vấn của cư dân vùng biển 149
2.2 CƠ CẤU LAO ĐỘNG VÀ NGUỒN NHÂN LỰC 157
2.2.1 Phân công lao động: 165
2.2.2 Thuê mướn lao động tại vùng biển .168
2.2.3.Về lao động trẻ em 171
Trang 52.3 MỨC SỐNG VÀ PHÂN TẦNG THU NHẬP 173
2.3.1.Vấn đề thu nhập của ngư dân: 178
2.3.2.Tình trạng cư trú của cư dân 184
2.4 MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI Ở VÙNG BIỂN: 186
2.4.1 Vấn đề ô nhiễm môi trường thiên nhiên 187
2.4.2.Vấn đề tệ nạn xã hội 191
2.5 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI Ở VÙNG BIỂN NB 193
2.5.1.Mối quan hệ giữa chủ tàu- tài công- bạn : 193
2.5.2 Chính sách xã hội và vấn đề cải tiến kỹ thuật ghe tàu đánh bắt 197
2.5.3 Hụi – hình thức “quỹ tín dụng tự phát” của ngư dân vùng biển 201
2.5.4.Vấn đề đánh bắt xâm phạm lãnh hải quốc gia khác 204
2.6 Vấn đề biến đổi khí hậu tại vùng biển Nam Bộ 211
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 VÀ NÊU VẤN ĐỀ ……… 215
CHƯƠNG 3: ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA CƯ DÂN VÙNG BIỂN, ĐẢO NB 220
3.1 PHƯƠNG TIỆN ĐÁNH BẮT VÀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY HẢI SẢN Ở VÙNG BIỂN, ĐẢO NAM BỘ 222
3.1.1 LƯỚI 223
3.1.2 CÂU 224
3.1.3 ĐÁY 228
3.2 NUÔI TRỒNG THỦY HẢI SẢN Ở VÙNG BIỂN, ĐẢO NAM BỘ 271
3.3 NGHỀ SẢN XUẤT MUỐI (DIÊM NGHIỆP): 280
3.3.1 Nghề muối ở Bà Rịa- Vũng Tàu: 293
3.3.2 Nghề muối ở Cần Giờ, TP HCM: 294
3.3.3 Nghề muối ở tỉnh Bến Tre: 297
3.3.4 Nghề muối ở tỉnh Trà Vinh: 298
3.3.5 Nghề muối ở tỉnh Sóc Trăng 299
3.3.6 Nghề muối ở tỉnh Bạc Liêu: 300
3.4 NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG VÙNG BIỂN, ĐẢO NAM BỘ: 305
3.4.1 Nghề đóng, sửa chữa tàu, ghe đi biển: 305
3.4.2 Nghề đươn lưới và lắp ráp lưới ở vùng biển: 317
3.4.3 Nghề thủ công đan lát: Nghề làm mê bồ ở vùng biển 321
3.4.4 Nghề chế tác hàng thủ công mỹ nghệ vùng biển 323
3.4.5 Nghề thủ công chế biến thực phẩm từ thủy hải sản: 326
3.5 DU LỊCH BIỂN, ĐẢO NAM BỘ 358
5.3.1 Cụm du lịch Kiên Lương - Hà Tiên - Phú Quốc 368
Trang 6TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 VÀ NÊU VẤN ĐỀ 378
CHƯƠNG 4: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN BIỂN, ĐẢO NB 384
4.1 HOẠT ĐỘNG TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO VÀ LỄ HỘI VÙNG BIỂN 384
4.1.1 Tín ngưỡng thờ cúng anh hùng dân tộc và lễ hội ở vùng biển 390
4.1.2 Tín ngưỡng và lễ hội Nghinh ông của người Việt ở vùng biển NB 398
4.1.3 Tín ngưỡng về Cá Ông của người Khmer 413
4.1.4 Tín ngưỡng và lễ hội thờ Mẫu và nữ thần biển: 418
4.1.5 Lễ hội Cầu An và cúng Phước biển (Chrôi rùmchek) 449
4.1.6 Lễ hội Thánh Simon Phêrô của cộng đồng ngư dân Công giáo: 452
4 2 VĂN HỌC VÙNG BIỂN, ĐẢO NAM BỘ 456
4.3 VĂN HỌC VÙNG BIỂN ĐẢO, NAM BỘ 468
4.3.1.Ca dao: 470
4.3.2 Vè 478
Nhóm 3: Truyền thuyết về thần linh, con người 487
TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA CƯ DÂN VÙNG BIỂN, ĐẢO NAM BỘ 502
4.4.1 Kiêng kị trong nghề cá 505
4.4.2 Tri thức bản địa về nghề đánh bắt ở vùng biển, đảo Nam Bộ 507
ẨM THỰC BIỂN 519
KHẢO CỔ HỌC DƯỚI NƯỚC 532
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 VÀ NÊU VẤN ĐỀ 535
KẾT LUẬN 541
PHỤ LỤC 1: Danh mục các biên bản phỏng vấn sâu 568
PHỤ LỤC 2: Văn bản văn học 576
PHỤ LỤC 3: Văn bản văn học dân gian 5 92 PHỤ LỤC 4: Tài liệu tra cứu thuật ngữ về biển 632
Trang 7TĨM TẮT NỘI DUNG DỀ TÀI
ĐỜI SỐNG KINH TẾ- VĂN HĨA- XÃ HỘI CỦA
CƯ DÂN VÙNG BIỂN, ĐẢO NAM BỘ
Bờ biển ở Việt Nam dài 3260km, bao gồm 12 hải lý và vùng kinh tế mở ra 200 hải lý, gồm rất nhiều đảo, quần đảo, vịnh và cảng cùng các làng chài đơng đảo dân cư– một vùng biển giàu tiềm năng, cĩ vị trí chiến lược vơ cùng quan trọng Riêng tại Nam Bộ, bờ biển từ tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu cho đến tỉnh Kiên Giang cĩ
độ dài khá lớn là 974km, trong đĩ Đồng bằng sơng Cửu Long là một bán đảo cĩ
vị trí quan trọng giáp cả hai vùng Biển Đơng và Biển Tây (Vịnh Thái Lan) Địa bàn khảo sát của chúng tơi gồm 9 tỉnh, thành Nam Bộ cĩ biển và chúng tơi tiếp
cận nghiên cứu Nhân học biển (Maritime anthropology), trong đĩ cĩ Văn hĩa biển (Marine culturology) Điểm cốt lõi của Nhân học biển trong đề tài này là
nghiên cứu các cộng đồng dân cư ven biển và hải đảo Nam Bộ qua các khía cạnh kinh tế, văn hĩa, xã hội Về xã hội chúng tơi nghiên cứu một số làng chài, vấn đề phụ nữ và gia đình, vấn đề giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho vùng biển Về kinh tế chúng tơi khảo sát phương tiện và cơng cụ đánh bắt cũng như nuơi trồng thủy hải sản, nghề tiểu thủ cơng, du lịch biển…Về văn hóa chúng tơi tìm hiểu đời sống tín ngưỡng tơn giáo, tri thức dân gian, văn học dân gian …Tĩm lại, đề tài này nhằm cung cấp một hệ thống tài liệu, thơng tin mới qua nghiên cứu định tính và định lượng để thấy được sự tương tác, thích nghi, sáng tạo của con người đối với môi trường biển cả ở Nam Bộ, đồng thời qua đĩ cũng thấy được một số vấn đề bất cập trong thái độ ứng xử của con người đối với biển
Trang 8Economic, cultural and social aspects of coastal communities in southern Vietnam
Vietnam’s coast is relatively long and wide, approximately 3,260km in length and 12 nautical miles in width with an open economic zone up to 200 nautical miles, including numerous islands, archipelagoes, bays and ports together with crowded fishing villages which make it a great potential area and a significant strategic position Particularly in southern Vietnam, the coast from Baria-Vung Tau province to Kien Giang province is really long, at 974 km, and the Mekong Delta is an important peninsula which contacts both Eastern Sea and Western Sea (Thailand Gulf) Our research area included nine coastal southern provinces where we conducted maritime anthropological and maritime culturological studies The focus of the research in this project was studying coastal communities in the provinces in economic, cultural and social aspects Socially,
we studied some fishing villages, women and family issues, education and man power training for sea exploitation Economically, we examined catching tools as well as aquaculture, sea related handicrafts and sea tourism Culturally, we investigated religious life, local knowledge and folklore… In short, the project aimed at providing a new ethnographic account and information, collected by applying quantitative and qualitative methods, about the interactions, adaptation and creation of people with sea environment in southern Vietnam Also, the research identified some limitations in the way people treated their living environment
Trang 9Tp Hồ Chí Minh, ngày 15- 4- 2011
Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu cấp cơ sở
GS TS Ngô Văn Lệ
Trang 10Đề tài cấp trọng điểm Đại học Quốc gia :
“ Những vấn đề kinh tế- văn hóa- xã hội của cư dân vùng biển, đảo Nam Bộ”
Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Phan Thị Yến Tuyết
HƯỚNG SỬA CHỮA BẢN THẢO THEO Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG NGHIỆM THU CẤP CƠ SỞ
(Biên bản này chỉ chắt lọc ra những ý kiến của các thành viên Hội đồng nghiệm thu cấp cơ sở góp ý để sửa chữa bản thảo cho hoàn chỉnh hơn trước khi nghiệm thu chính thức, do đó trong biên bản này không nêu lại những ý kiến đánh giá cao của Hội đồng về các ưu điểm của đề tài)
3 Nên đầu tư nhiều hơn cho các khái niệm , các cách tiếp cận nghiên cứu và các
lý thuyết
4 Nên tổ chức nội dung trình bày theo trình tự:
- Giới thiệu, bao gồm cả phương pháp nghiên cứu, các khái niệm, cách tiếp cận
và lý thuyết nghiên cứu
- Điều kiện môi trường tự nhiên
- Đời sông xã hội (dân cư và tổ chức xã hội)
- Đời sống kinh tế
- Đời sống văn hóa vật chất và tinh thần, trên cơ sở phối hợp đồng thời các nguồn thông tin thu thập được được Có như vậy thì các vấn đề phân tích mới được tổ chức và kết nối với nhau một cách hợp lý và có hệ thống
- Nên nhấn mạnh thêm hướng tiếp cận quan trọng về community- based approach,
Trang 11tiếp cận chủ yếu từ dưới lên và dựa vào cộng đồng
- Trong khi vẫn duy trì các giới hạn về mặt không gian giữa các tỉnh, cần chú ý nhiều hơn đến sự liên kết, tương đồng và tính thống nhất giữa các tỉnh ven biển
NB (nên chia thành các tiểu vùng)
- Cần bổ sung các công cụ nghiên cứu như bản hỏi định lượng, bản hướng dẫn phỏng vấn sâu…để thẩm định được nội dung và hiệu quả thu thập thông tin
- Nên sửa lại tựa đề là “Đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội của các cộng đồng cư dân vùng biển, đảo Nam Bộ” Bỏ từ “Những vấn đề …” ở tựa đề tài
“Khái quát các địa bàn nghiên cứu ở vùng biển đảo”
3 Nên chia vùng biển NB thành 3 tiểu vùng:
+ Tiểu vùng Bà rịa- Vũng Tàu, TP HCM, Tiền Giang, Bến Tre
+ Tiểu vùng Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau
+ Tiểu vùng Kiên Giang
CHƯƠNG II:
1 Người đọc mong muốn có sự miêu thuật chi tiết hơn, khái quát hơn về đời sống văn hóa vật chất của cư dân biển NB Những người đánh cá ở Kiên Giang từng kể hàng trăm tên cá , tôm bằng các bài vè
2 Về phương diện khái quát, công trình cần cho thấy tính thống nhất của văn hóa biển NB, hay ít nhất chỉ chia ra thành 2, 3 tiểu vùng mà thôi
Trang 12lớn trong việc khẳng định sức mạnh văn hóa Việt ở NB
2 Tư liệu Hán văn cần được khai thác thêm
3 Phần Văn học dân gian chỉ cần đưa kết quả nghiên cứu, còn tư liệu văn bản nên đưa vào phần phụ lục
4 Mục nói về Hà Tiên với đền thờ họ Mạc cần trình bày ở phần văn hóa tinh thần thay vì ở phần du lịch, làm như vậy chưa thấy vai trò của họ Mạc
5 Bổ sung hình ảnh Chú ý chỉnh sửa về kỹ thuật cách dàn trang, font chữ,
2 Thêm tổ chức xã hội của cư dân
KẾT LUẬN:
1 KL cần đúc kết lại những nội dung nghiên cứu chính của đề tài Trên cơ
sở đó nêu ra một số điểm tích cực trong khai thác và những điều cảnh báo cho vùng biển NB như đã trình bày ở phần này
2 Một số thông tin quá lớn có thể đưa vào phụ lục để có sự cân đối giữa các chương
Trang 13DẪN NHẬP
1 MỤC TIÊU, Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI:
1 Gần như xưa nay, khi đề cập đến Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng,
Nam Bộ nói chung người ta thường liên tưởng đến một vùng nông nghiệp trù phú, liên tưởng đến những người nông dân với cuộc sống thuần nông mà ít quan tâm đến một vùng biển, đảo đem lại lợi ích kinh tế không thua gì nông nghiệp, quan trọng không thua gì nông nghiệp và nơi đó có một bộ phận không nhỏ ngư dân chuyên nghiệp bao đời nay còn khá “im hơi lặng tiếng” trong giới nghiên cứu khoa học, đặc biệt là lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Đời sống của cộng đồng ngư dân và
cư dân vùng biển, đảo Nam Bộ hết sức đa dạng, đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực kinh tế- văn hóa- xã hội, kể cả an ninh quốc phòng của đất nước nhưng lâu nay chưa được các ngành khoa học nghiên cứu nhiều như là đã nghiên cứu về nông nghiệp, mặc dù có đến 9/14 tỉnh và thành phố tại Nam Bộ có biển Con số 9 tỉnh, thành ấy cho thấy diện tích và dân cư ở vùng biển, đảo của Nam Bộ là hết sức lớn Chính vì lý do đó mà chúng tôi, tập thể giảng viên đại học và đồng thời cũng là những người nghiên cứu khoa học lâu năm ở vùng Nam Bộ muốn khảo sát thực trạng đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội của cộng đồng ngư dân và cư dân vùng biển, đảo Nam Bộ để góp phần bổ sung sự hiểu biết về Nam Bộ -ngoài vấn đề nông nghiệp- dưới góc độ khoa học và thực tiễn
2 Hiện nay vấn đề biến đổi khí hậu (climate change) và môi trường sinh thái
đang diễn ra trên toàn cầu, trong đó Việt Nam là một trong 5 quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất, đặc biệt là vùng biển Nam Bộ Theo François Gemenne, giám đốc nghiên cứu của Viện Khoa học Chính trị Paris, một chuyên gia hàng đầu về khí hậu và di dân, sau khi cân nhắc mọi số liệu khoa học đã khẳng định Việt Nam sẽ là quốc gia bị ảnh hưởng biến đổi khí hậu nhiều nhất, đó là tình trạng nước biển dâng cùng với những thiên tai như khô hạn, bão lũ mà hậu quả sẽ làm đảo lộn nhiều lĩnh vực kinh tế, dân số, xã hội Theo ông, hàng triệu người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần phải ứng phó trong cách sống mỗi ngày, sẽ phải di dời vì khí hậu thay đổi, nên ngay từ bây giờ cần tính đến những kế hoạch đào tạo và giáo dục, để
Trang 14trong tương lai những con người đó biết họ làm gì để sinh sống 1
Còn theo GS TS Trần Thục, Viện Khoa học Khí tượng, Thuỷ văn và Môi trường VN thì dự kiến đến năm 2100, nhiệt độ trung bình của Việt Nam tăng thêm 3 độ C, mực nước biển dâng thêm 1m so với hiện nay, điều này sẽ làm gần như toàn bộ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long bị nhấn chìm Nhưng sự biến đổi khí hậu không phải hàng trăm năm nữa mới diễn ra cùng một lúc mà ngay hiện nay nó đã và đang dần diễn ra từng bước, người dân vùng biển, đảo Nam Bộ đã thấy tình trạng nước biển xâm nhập sâu hơn lúc trước cùng với tình trạng ngập lụt Như vậy vùng biển, đảo Nam Bộ có quá nhiều khía cạnh liên quan đến con người và cuộc sống của họ hiện nay và sau này
mà giới khoa học và chính trị cần nghiên cứu vì đó là những vấn đề quan trọng, cấp bách, cần được cả cộng đồng quan tâm, chuẩn bị cho chiến lược lâu dài
3 Ngành Khoa học xã hội và nhân văn trên toàn quốc nước ta hiện nay chưa
có môn học nào liên quan đến những vấn đề kinh tế- văn hóa- xã hội của cư dân vùng biển, đảo nói chung và vùng biển, đảo Nam Bộ nói riêng, trong khi việc trang
bị cho sinh viên, học viên cao học, NCS hiểu biết về vấn đề này là một nhu cầu cấp bách cả về khoa học lẫn thực tiễn, nhất là trong tình trạng chủ quyền biển, đảo của nước ta luôn bị đe dọa, căng thẳng Mục tiêu cụ thể của đề tài này nhằm làm tiền đề xây dựng các môn học mới về ngành khoa học xã hội và nhân văn liên quan đến biển vốn chưa có ở Việt Nam (nhưng đã có ở nhiều trường đại học tiên tiến ở nước
ngoài, nhất là những quốc gia có biển) như môn Nhân học biển (Maritime Anthropology), Văn hóa biển (Marine Culturology)…nhằm góp phần đào tạo
nguồn nhân lực phục vụ cho chiến lược phát triển biển bền vững vùng biển, đảo của đất nước Vì vậy nghiên cứu những vấn đề khoa học liên quan đến biển, đảo ở Nam
Bộ để sử dụng làm tài liệu học tập, nghiên cứu, giảng dạy tại trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia TP HCM) nói riêng và các trường đại học, cao đẳng khác trong nước nhằm góp phần tăng cường kiến thức về biển và hải đảo cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh
4 Việc nghiên cứu đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội của cộng đồng ngư dân
và cư dân vùng biển, đảo Nam Bộ trong khuôn khổ của đề tài này còn nhằm mục tiêu góp phần tham vấn, cung cấp thông tin khoa học cho Thành ủy và UBND TP
Trang 15
Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy và UBND các tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang cùng các cơ quan, ban ngành chức năng của 9 tỉnh và thành phố kể trên, cung cấp trước mắt những thông tin
mang tính hệ thống nhiều lĩnh vực về tổng thể vùng biển Nam Bộ của Tổ quốc
Chính quyền và người dân 9 tỉnh, thành phố có biển ở Nam Bộ có thể rất am hiểu, nắm được thông tin về vùng biển, đảo của tỉnh và thành phố mình, nhưng để có cái nhìn tổng thể chung về kinh tế- văn hóa xã hội của cư dân toàn vùng biển, đảo ở Nam Bộ thì có thể chưa đầy đủ, cần phải có nhiều công trình nghiên cứu đồng bộ và cấp bách
Trong quá trình nghiên cứu, Chương trình hành động của các Thành ủy,
Tỉnh ủy trên địa bàn 9 tỉnh, thành có biển tại Nam Bộ cũng đã giúp chúng tôi có
được cái nhìn theo hướng chiến lược biển ở cấp độ địa phương vô cùng quan trọng
Do đó chúng tôi hy vọng các thông tin khoa học của đề tài này có thể góp phần ứng dụng cho công tác tuyên truyền, quản lý và thực hiện các chính sách liên quan về biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta tại Nam Bộ Chính vì vậy, mục tiêu của đề tài
còn nhằm góp phần phục vụ cho Nghị quyết về Chiến lược biển của Đảng (Nghị
quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020)
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng của đề tài là đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội của cư dân vùng biển, đảo thuộc 9 tỉnh và thành phố ở Nam Bộ
Về lĩnh vực xã hội của các bộ phận / cộng đồng cư dân biển đảo, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu về các khía cạnh như:
- Giáo dục
- Phụ nữ, giới, gia đình, lao động trẻ em…
- Tệ nạn xã hội
- Môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường, tài nguyên vùng biển, đảo
Về lĩnh vực hoạt động kinh tế của cư dân vùng biển, đảo Nam Bộ, chúng tôi tiếp cận các cộng đồng như:
- Cư dân trực tiếp đánh bắt hải sản gần bờ và xa bờ bằng tàu, ghe
Trang 16- Cư dân sinh sống bằng các hình thức đóng đáy
- Cư dân sinh sống nơi những làng chài / xóm chài/ xóm lưới…ven biển
- Cư dân sinh sống tại các đảo và quần đảo thuộc 9 tỉnh, thành Nam Bộ
- Cư dân khai thác nghề rừng ven biển
- Cư dân nuôi trồng thủy hải sản ven biển và ở biển
- Cư dân làm nghề muối (diêm nghiệp)
- Cư dân sinh sống bằng dịch vụ phục vụ nghề cá (cung cấp vật tư, hàng hóa cho tàu ghe đánh bắt, vá lưới…)
- Cư dân làm nghề thủ công liên quan đến nghề biển (Đóng và sửa chữa tàu, ghe; Chế biến thủy hải sản như ruốc, tôm khô, cá khô, mực khô…)
- Cư dân kinh doanh, phục vụ về các hoạt động du lịch biển…
Về đời sống văn hóa của các cộng đồng cư dân biển, đảo, chúng tôi tìm hiểu dưới các góc độ như:
- Tín ngưỡng tôn giáo
- Lễ hội
- Ẩm thực
- Văn học và văn học dân gian vùng biển…
Ngoài ra chúng tôi cũng quan tâm đến một số vấn đề ảnh hưởng đến cư dân vùng biển, đảo trong thời gian tới như:
- Tác động của Chương trình hành động và những chính sách chiến lược về biển của Đảng và Nhà nước
- Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tại Nam Bộ và vấn đề an ninh quốc phòng tại vùng này…
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Đề tài nghiên cứu của chúng tôi khảo sát trên địa bàn 9 tỉnh, thành có biển tại Nam Bộ2, mặc dù mỗi tỉnh, thành này chỉ có một hoặc một vài huyện, hay xã là có biển
Hệ thống các điểm khảo sát của đề tài như sau:
Trang 17- Xã Định An (huyện Duyên Hải)
- Xã Đông Hải (huyện Duyên Hải)
- Xã Đất Mũi, thị trấn Năm Căn (huyện Ngọc Hiển)
- Thị trấn Sông Đốc (huyện Trần Văn Thời)
9 Tỉnh Kiên Giang:
- Xã Bình An (huyện Kiên Lương)
- Xã Bình Trị (huyện Kiên Lương)
- 4 xã Hòn Tre, Lại Sơn, An Sơn, Nam Du (huyện Kiên Hải)
- Xã Thuận Hòa (huyện An Minh)
Trang 18- Phạm vi nghiên cứu về thời gian:
Thời gian đề tài tạm giới hạn để khảo sát trong giai đoạn 5 năm, từ 2005 đến nay (2010) Lý do chúng tôi giới hạn trong giai đoạn này vì từ thời gian này chúng tôi bắt đầu quan tâm nghiên cứu thường xuyên về biển, đảo Nam Bộ, bắt đầu đi điền dã khảo sát vùng biển, đảo Nam Bộ có tổ chức và quy mô khá lớn Chúng tôi chọn khảo sát biển, đảo trong giai đoạn này còn vì tài liệu thư tịch, văn bản của chính quyền các tỉnh, thành có biển ở Nam Bộ còn lưu giữ khá đầy đủ để tham khảo Chọn nghiên cứu biển, đảo Nam Bộ giai đoạn 2005 đến nay vì chúng tôi nhận thấy
đây cũng là thời điểm mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra Chương trình hành động cho chiến lược, triển khai rộng khắp cả nước, điều này rất thuận tiện cho việc
nghiên cứu của chúng tôi Tất nhiên trong một số nội dung khảo sát, chúng tôi cũng
mở rộng thời gian nghiên cứu từ giai đoạn 2005 trở về trước
Tóm lại đề tài này mang một dung lượng khảo sát khá rộng vì bao gồm nhiều vấn đề trên các lĩnh vực kinh tế- văn hóa- xã hội của cư dân ở vùng biển, đảo Nam
Bộ, vì như đã nêu ở trên, chúng tôi muốn có được một “cái nhìn tổng thể”, một “lát cắt đồng đại mang tính hiện trạng” ở vùng này, trên cơ sở hiểu biết về cái chung đó,
sau này chúng tôi mới chọn lọc khảo sát một số khía cạnh sâu hơn
3 LỊCH SỬ NGHÊN CỨU VẤN ĐỀ:
Nghiên cứu về biển và ngư dân ở Việt Nam nói chung tuy chưa nhiều nhưng không phải là ít
Nghiên cứu về biển ở miền Bắc có một số công trình nghiên cứu như:
- Biển với người Việt cổ, Viện Đông Nam Á, Hà Nội, NXB Văn hóa thông tin, 1996
Công trình này chủ yếu tiếp cận khảo cổ học để nghiên cứu về biển Ngay từ 1996,
công trình đã nêu lên được tầm quan trọng, đề xuất cần có chiến lược biển ở Việt
Nam
- Vài nét về đời sống của ngư dân vùng biển Đông Bắc Việt Nam của Diệp Trung
Bình, Tạp chí Dân tộc học số 2, 1985
- Tổ chức các cộng đồng nghề cá ở Việt Nam, Workshop: Fisheries Co-management
in Asian Regional, Iclarm; Tổ chức tại Phuket, Thailand, 1997
- Đôi nét phong tục làng biển Quan Lạn của Lê Hồng Lý, Tạp chí Văn hóa dân gian
Trang 19Hà Nội, 2000
- Việc tổ chức đời sống tín ngưỡng trong cộng đồng ngư dân ở Việt Nam của
Nguyễn Duy Thiệu, Tạp chí Văn hóa dân gian, Hà Nội, 2000
- Đời sống kinh tế và văn hóa của ngư dân vùng biển Trà Cổ của Nguyễn Hương
Liên, Tạp chí Văn hóa dân gian, Hà Nội, 2000
- Văn hóa dân gian làng biển, Viện Văn hóa dân gian, NXB Văn hóa dân tộc, Hà
- Công cụ thủ công truyền thống đánh bắt thủy, hải sản của người Ninh Bình, của
Mai Đức Hạnh, Đỗ Thị Bảy, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006
- Nghề biển tỉnh Nam Định của J Kleinen, Trường Đại Học Amsterdam, Hà Lan,
2007
Đây là những công trình nghiên cứu có giá trị khoa học, nội dung và cách tiếp cận đối tượng mới, khảo sát những làng chài và ngư dân vùng biển miền Bắc với các nét sinh hoạt truyền thống độc đáo Đặc biệt “Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam” của Nguyễn Duy Thiệu là công trình khoa học biên soạn công phu, thể hiện những sắc thái mới về ngư dân, trong đó tác giả khảo sát một số làng chài với cơ cấu tổ chức xã hội truyền thống, thời kỳ hợp tác xã và thời kỳ hiện nay Có thể nói đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về cộng đồng ngư dân ở Việt Nam với quy
mô khá lớn và có chất lượng khoa học cao nhất
Nghiên cứu về biển ở miền Trung có một số công trình như:
- Xứ Đàng Trong năm 1621 của Christophoro Borri (Hồng Nhuệ, Nguyễn Khắc
Xuyên, Nguyễn Nghị dịch), NXB TP HCM, 1998 Công trình này có một phần nội dung đề cập về những người chèo thuyền trên biển và vấn đề sử dụng ghe thuyền trên biển, về vấn đề thương mại và các hải cảng ở xứ Đàng Trong, địa bàn mà cư dân chủ yếu từ đây đi vào Nam Bộ
- Nữ thần Pô Naga của Trần Việt Kỉnh, NXB Văn hóa dân tộc, 1989
Trang 20- Tục thờ cúng của ngư phủ lưới đăng Khánh Hòa của Lê Quang Nghiêm, TT văn
bút Việt Nam, Sài Gòn, 1970
- Làng biển Cảnh Dương của Sơn Hà, Nguyễn Viễn, Hội Văn học nghệ thuật Quảng
Bình, 1993
- Nghề truyền thống ở Khánh Hòa của Nguyễn Viết Trung, Hà Nội, 2001 Công
trình đề cập đến các nghề khai thác, đánh bắt, chế biến tài nguyên biển ở địa phương, như nghề lưới đăng, nghề lưới quây, nghề làm nước mắm, nghề làm muối, nghề khai thác yến
- Công cụ đánh bắt sông nước truyền thống ở Hội An, NXB Đại học Quốc gia, Hà
Nội, 2002 Trong công trình này có đề cập đến những công cụ đánh bắt cá ở mội trường nước mặn
- Nhập đề về nhân học xã hội trong bối cảnh Việt Nam, thuộc Dự án hợp tác Việt
Nam- Đan Mạch “Nâng cao năng lực nghiên cứu dân số và sức khỏe sinh sản tại Việt Nam”, 2002 Công trình này nghiên cứu về giới và sức khỏe sinh sản ở khu vực ven biển miền Bắc Trung Bộ
- Văn hóa sông nước miền Trung, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2006
- Một số vấn đề lịch sử văn hóa của Nguyễn Đăng Vũ, NXB Khoa học xã hội, 2008
Trong công trình này tác giả đề cập đến nhiều thông tin mới liên quan đến vùng biển, đảo Quảng Ngãi
Nhìn chung nội dung những công trình nghiên cứu biển ở miền Trung giúp cho chúng tôi có được những hiểu biết để nghiên cứu vùng biển Nam Bộ, vì cư dân Nam bộ trước kia chủ yếu từ miền Trung đi vào nên sắc thái văn hóa miền Trung đã thể hiện khá đậm nét ở Nam bộ
Nghiên cứu về biển Nam Bộ được thể hiện qua một số công trình như:
- L’utilisation dusol en Indochine Frncaise của P Gourou, 1940, đề cập đến những
ngư dân ở Cà Mau, vịnh Thái Lan
- Voiliers d’Indochine (Tàu thuyền Đông Dương ) của nhà dân tộc học Pháp J B
Piétri, Sài Gòn, 1949
- Đất Việt trời Nam của Thái Văn Kiểm, NXB Nguồn Sống, 1960 Đây là công trình
Trang 21tổng hợp nhiều vấn đề, trong đó có đề cập đến một số hoạt động liên quan đến biển
- Blue book of coastal vassels South Vietnam (Thanh thư về tàu thuyền cận duyên hải miền Nam Việt Nam), thuộc Cơ quan nghiên cứu kế hoạch cao cấp, Văn phòng
Bộ trưởng Quốc phòng (Hoa Kỳ) và Trung tâm phát triển tác chiến quân lực Việt Nam Cộng Hòa xuất bản, 1967, (sách song ngữ Việt – Anh) Đây là một công trình được biên soạn khá kỹ với nhiều hình ảnh chụp và vẽ các loại tàu thuyền tại vùng biển Nam Bộ
- Các công trình monographie của các tỉnh Nam Bộ có biển thời Pháp thuộc( như
Monographie de la province de Ha Tien, Société des études Indochinoise, Sai Gon, 1901; Monographie de la province de Rach Gia, Société des études Indochinoise,
Sai Gon, 1904 ) cùng những công trình Địa chí văn hóa của các tỉnh có biển ở Nam Bộ thời kỳ trước và sau năm 1975 cũng là những nguồn tài liệu có giá trị về khoa học mà chúng tôi kế thừa
- Đặc biệt công trình A Preliminary report on current trends in marine anthropology, The Center of marine ethnology, Tokyo, 1973 của nhà dân tộc học Nhật Bản Asahitaro Nishimuara đã đúc kết được nhiều công trình về nhân học biển nhiều nơi trên thế giới Công trình này được tổng hợp, biên soạn hết sức công phu,
nhờ đó người đọc có thể biết được tình hình về nhân học biển vào thập niên 70 của thế kỷ XX
- Cần Giờ, những thế kỷ trước và sau công nguyên qua tư liệu khảo cổ học, Nguyễn
Song Quyên, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 8, 1993
- Sơ khảo huyện Cần Giờ - TP Hồ Chí Minh của Trần Bạch Đằng, Dương Minh
Hồ (CB), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,1993
- Hà Tiên đất nước, con người của Phan Thanh Nhàn, Trần Thế Vinh, Hứa Nhứt
Tâm, lê Quang Khanh, Nguyễn Xuân Sơn, NXB Mũi Cà Mau, 1995
- Nghề đồi mồi Hà Tiên, Mỹ nghệ thủ công truyền thống dân gian Việt Nam của
Chu Lang, Trần Phing Chu, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000
- Điều tra, đánh giá và giải pháp nên khôi phục bảo tồn các di sản văn hóa vật thể phi vật thể ở Bạc Liêu, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, 2001
- Sổ tay hành hương đất Phương Nam, Phân Viện nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật
Trang 22Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, 2002
- Nghiên cứu về công cụ khai thác thủy, hải sản ở biển Việt Nam tại Nam bộ có công trình “Ngư cụ thủ công truyền thống chủ yếu của nghề cá ở Kiên Giang” của
Đoàn Nô, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2003
- Văn hóa dân gian Sóc Trăng, Khoa Ngữ văn- Báo Chí, Trường Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn TP HCM, năm 2003
- Khảo sát về cộng đồng ngư dân Nam Bộ của Trần Hông Liên, NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2004 Công trình này khảo sát hai điểm có nghề biển lâu đời tại Nam
Bộ là Vàm Láng (Tiền Giang) và Phước Tỉnh ( Bà Rịa Vũng Tàu)
- Lễ hội dân gian của ngư dân Bà Rịa – Vũng Tàu của Đinh Văn Hạnh, Phan An,
NXB Trẻ, 2004
- Tỉnh thành xưa ở Việt Nam do nhiều tác giả chủ yếu người Pháp viết (Lưu Đình
Tuân dịc), NXB Hải Phòng và TT Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2004 Trong công trình này có một số bài liên quan đến biển, đảo ở Nam Bộ, như bài về quần đảo Côn Nôn của J.C Demariaux; bài “Các loại thuyền buồm ven biển Đông Dương” của Pietri…
- Văn hóa ẩm thực Kiên Giang của Trương Thanh Hùng, NXB Văn hóa thông tin,
2003
- Văn hóa dân gian Bạc Liêu, Khoa Ngữ văn- Báo chí, Trường Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn TP HCM, NXB Văn Nghệ, 2005
- Dấu xưa Nam Bộ của Hồng Hạnh, NXB Văn nghệ, 2005, công trình đề cập đến
một vài vấn đề liên quan đến biển ở Nam Bộ như bài “Nghĩ từ kho báu dưới đáy biển Tây” thuộc về lĩnh vực khảo cổ học dưới nước, hay bài “Cà Mau với cái nhìn
Trang 23- Vài nét về ghe thuyền và thương mại đường thủy của người Hoa ở miền Nam Việt Nam trong thế kỷ XIX của Phan Thị Yến Tuyết, trong sách “Nam bộ Đất và Người,
tập 5”, 2007
- Nền kinh tế các tỉnh vùng biển Việt Nam của Thế Đạt, NXB Lao Động, 2008
- Sưu tầm di sản Hán Nôm trong cụm di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng ở tỉnh Kiên Giang, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Nguyễn Diệp Mai (CNĐT)
thuộc Ban Quản lý di tích tỉnh Kiên Giang, Sở VH, TT và du DL tỉnh Kiên Giang,
2008 Công trình này sưu tầm, khảo sát rất công phu các di sản Hán Nôm của tỉnh Kiên Giang
-Vấn đề nghiên cứu Nhân học Biển (Maritime Anthropology và văn hóa biển (Marine culturology) trong xã hội của Phan Thị Yến Tuyết, Tham luận tại Hội nghị
công bố Dân tộc học tháng 01/2008
- Nghiên cứu văn hóa biển Nam Bộ: tiếp cận nhân học và văn hóa dân gian của
Phan Thị Yến Tuyết, trong sách: Văn hóa biển miền Trung và văn hóa biển Tây Nam Bộ, Hội Văn nghệ dân gian VN, NXB Bách Khoa, 2008
- Người Hoa Hải Nam ở vùng đất Hà Tiên xưa của Phan Thị Yến Tuyết, Kỷ yếu
Hội thảo “Di sản văn hóa Hà Tiên, bảo tồn và phát triển”, Viện Văn hóa nghệ thuật
VN và UBND tỉnh Kiên Giang, 2009
- Tín ngưỡng Thờ Mẫu và nữ thần từ chiều kích văn hóa biển của vùng biển đảo
Kiên Hải, Kiên Giang của Phan Thị Yến Tuyết, Tạp chí Khoa học xã hội (Viện Phát
triển bền vững vùng Nam Bộ), số 5 (141) 2010
- Gần đây nhất có công trình Disappearing Traditional Gears: From sustainable fishing to heavy exploitation in Southern Vietnam Proceedings of the 5th mare people and Sea Coference (Ngư cơ ngư dụng truyền thống đang biến mất: từ ngư nghiệp có thể duy trì đến việc khai thác tối đa ở miền Nam Việt Nam- Những nghi thức của dân tộc học biển lần thứ 5 và hội nghị biển ) của Akifumi Iwabuchi, Tokyo University of Marine Science & Technology, 8/11-7-2009 tại Đại học
Amsterdam, Hà Lan…
Về giáo trình liên quan đến biển dành cho học sinh, sinh viên mà chúng tôi đã đọc
và tham khảo như:
Trang 24- Those who live from the sea, A study in Maritime Anthropology của M Estellie Smith (editor), do Hội Dân tộc học Hoa Kỳ( American Ethnology Society), xuất bản
(West Publishing Co) vào năm 1977
- Đa dạng sinh học& Bảo tồn thiên nhiên của Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, NXB Nơng
những điều cơ bản về mơi trường biển, đảo trên thế giới và Việt Nam
- Địa lý địa phương, Cà Mau của Thái Văn Long (CB), NXB Đại học Sư phạm,
- Địa lý biển Đơng với Hồng Sa và Trường Sa của Vũ Hữu San, Trường Đại học
Stanford, California, Hoa Kỳ , 2007
- Địa lý sinh thái và những biến đổi ngoại sinh của Tơn Thất Nguyễn Phúc (Tài liệu
tra cứu), NXB Giáo dục, 2007
Về dạng tài liệu tuyên truyền về biển, đảo cĩ những quyển như:
- Biển và hải đảo Việt Nam, của Ban Tuyên giáo Trung ương và Quân chủng Hải
quân , Hà Nội, 2007
- Phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt nam, Ban Tuyên gáo Trung
ương, NXB Chính trị quốc gia, 2008… Những cơng trình này Ban Tuyên giáo dùng làm tài liệu chính thức để tuyên truyền, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về tình hình biển đảo ở Việt Nam chủ yếu dành cho đối tượng là cán bộ Nhà nước, bộ đội các
Trang 25quân chủng của Việt Nam Đây là những tài liệu được biên soạn với đầy đủ tri thức
về khoa học, pháp lý về vùng biển, đảo của Việt Nam
Về dạng tài liệu văn bản báo báo cáo, nghị quyết của Thành ủy, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân 9 tỉnh thành có biển ở Nam Bộ chúng tôi đã được tham khảo khá đầy đủ, chính nhờ điều kiện quan trọng này và sự giúp đỡ tận tình của các cấp có trách nhiệm tại những địa phương kể trên mà chúng tôi mới hiểu được những hoạt động
đa lĩnh vực liên quan đến biển, đảo tại địa bàn khảo sát…
Ngoài ra từ năm 2003, chúng tôi đã cùng các giảng viên và sinh viên khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TP HCM) tiến hành khảo sát về đề tài nhân học biển trong 4 năm liền ở các vùng biển, đảo thuộc 3 huyện Kiên Lương, Kiên Hải và An Minh của tỉnh Kiên Giang, thu thập hàng chục ngàn trang tư liệu mới, cũng như đã tiến hành 2 cuộc Hội thảo khoa học tại 2 huyện Kiên Lương và Kiên Hải do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì
Gần đây nhất, chúng tôi đã tổ chức một cuộc Tọa đàm khoa học về biển, đảo Nam
Bộ vào tháng 6- 2010 tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TP HCM) với sự tham dự của các nhà khoa học và cán bộ tại các địa phương có biển ở Nam Bộ để nghe ý kiến phản hồi và những thông tin đóng góp của họ cho đề tài của chúng tôi
Tóm lại, nội dung đề tài của chúng tôi phần lớn và chủ yếu dựa vào các nguồn tài liệu điền dã qua nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng do chúng tôi thu thập tập trung trong 2 năm qua trên địa bàn 9 tỉnh, thành Nam Bộ Chủ trương của chúng tôi muốn khảo sát toàn bộ 9 tỉnh, thành có biển tại Nam Bộ trong cùng một khoảng thời gian tập trung 2 năm, xem đó như “một lát cắt đồng đại và lịch đại” cùng một thời gian và không gian nghiên cứu để làm nền khảo sát
4 TIẾP CẬN LÝ THUYẾT VÀ KHÁI NIỆM KHOA HỌC VỀ NHÂN HỌC BIỂN:
4.1.Lịch sử thuật ngữ dân tộc học biển / nhân học biển:
- Thuật ngữ dân tộc học biển (maritime ethnology) lần đầu tiên xuất hiện trong
Đại hội về Dân tộc học và Văn hóa dân gian Biển vào năm 1954 tại Naples (Italia)
Sau đó theo thời gian dần dần mới chuyển thành nhân học biển (maritime
Trang 26anthropology) như ngày nay3 Càng về sau ngành nhân học biển đã liên kết với
nhiều ngành khác như dân tộc học hàng hải, mỹ thuật và truyền thống của những dân tộc theo nghề hàng hải, luật tục về biển, ngành khảo cổ học dưới nước…(R Creston, 1963)
Theo nghĩa bao quát nhất, ngành Nhân học biển nghiên cứu tất cả những hiện tượng hay những sự kiện về sinh học, văn hóa sinh học và về văn hóa liên hệ tới những
hoạt động của con người (trực tiếp hay gián tiếp) gắn liền với biển cả (Asahitaro Nishimura, 1973)
+ Cơ cấu phát triển sản xuất ngư trường (thuộc văn hóa)
Trong nhân học nước ngoài có một số lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến
biển – đại dương như Nhân học biển (Marintime anthropology), Văn hóa biển
(Marine culturology); Kinh tế biển (Marine economics), Đại dương học (Ocean studies)… Trong nghiên cứu Nhân học biển (Maritime anthropology) có nội dung nghiên cứu Văn hóa biển (Marine culturology)
Điểm cốt lõi về đối tượng nghiên cứu của nhân học biển là việc khảo sát văn
hóa, xã hội của các cộng đồng ngư dân và cư dân ven biển, các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội liên quan đến đời sống ở biển, nghiên cứu vấn đề con người thích nghi với môi trường biển cả, chính sách kiểm soát quản lý chiến lược về tài nguyên biển… (Asahitaro Nishimura, 1973)
4.2 Tình hình nghiên cứu nhân học biển và liên quan đến nhân học biển
Trong Đại Hội Khoa Học Nhân Văn và Dân Tộc học Quốc Tế được tổ chức
ở Paris năm 1960 có những bài hướng về Dân tộc học biển như:
- Những vấn đề dân tộc học biển của R Creston bàn đến sự phát triển tàu biển mà
theo các nhà dân tộc học, điều này đóng một vai trò quyết định trong việc chuyển
3
Asahitaro Nishimura, 1973, A Preliminary report on current trends in marine anthropology, The
Trang 27đổi những kỹ thuật mà trước nay đã có tác động lên lịch sử của các nền văn hóa
- Những ghi chép về Dân tộc học biển của K Weibust đề cập đến hệ thống loại hình
các tàu thuyền cỡ nhỏ ở Na Uy, công dụng và cách đóng theo phương pháp cổ truyền của chúng4
- Tính quốc tế trong đời sống của giới ngư dân của J Mousnier, nhấn mạnh sự nhất
thiết phải nghiên cứu tỉ mỉ ngôn ngữ, những bài ca, những tập tục, những nghi lễ khác nhau của ngư dân vì các yếu tố này đóng một phần quan trọng trong trong những đoàn thể nghề biển5
Sau đó nhân học biển có những công trình nghiên cứu mở rộng trên không gian rộng lớn hơn như:
- Những phương pháp bắt cá trên thế giới, 1964, của Andres Von Brandt, dựa trên
những tài liệu điền dã của tác giả ở nhiều nơi trên thế giới Việc áp dụng các thông
tin thu thập được về những họat động đánh bắt cá và việc xây dựng thiết bị đặc biệt
rất đáng chú ý Tác giả xếp lọai thiết bị ngư nghiệp liên hệ đến họat động đánh bắt thành 15 lọai
- Ngành Hải dương học và kỹ thuật đánh bắt cá ở biển của A Percier (Pháp)
- Đánh cá theo quan điểm địa lý học của Jaques Besancon,1965 Ông đã xếp ngư
nghiệp thành 2 loại: Ngư nghiệp nhỏ và ngư nghiệp lớn
+ Loại ngư nghiệp nhỏ được tìm thấy dọc theo duyên hải ở những vùng có dân số thưa hơn với những cảnh quan mà ngư dân ở đó có đặc trưng riêng
+ Loại ngư nghiệp lớn có chiều hướng đồng dạng hóa hoạt động của ngư dân, làm nhạt đi những đặc điểm địa phương, vì ngư nghiệp trên quy mô lớn được thể hiện trên sức mạnh của nền văn minh cơ giới hóa và khoa học (j Besancon,1965: 163, 175)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có bề dày nghiên cứu dân tộc học biển
từ khá sớm, có lẽ vì biển cả đã chi phối sâu sắc đời sống của dân tộc Nhật Bản từ
4
K Weibust là nhà dân tộc học mà những công trình nghiên cứu về dân tộc học biển của ông rất có
giá trị khoa học, như quyển Những ngư dân vùng biển sâu: Một cuộc nghiên cứu trong ngành dân tộc
học biển, 1969, khảo sát đời sống của thủy thủ đánh cá trên thuyền buồm theo quan điểm của dân tộc
học “đời sống thủy thủ được trói buộc bằng tình cảm với con tàu là những tạo vật hiện thực sinh động Cách ứng xử của thủy thủ đều được huấn luyện theo đuổi những nguyên tắc cơ bản”
5 Asahitaro Nishimura, A preliminary report on current trends in marine anthropology,tr 2
Trang 28xưa tới nay, họ phải nương theo biển cả mà sinh tồn nên dấu ấn về văn hóa biển rất đậm nét trong lịch sử sinh tồn của người Nhật và đất nước Nhật Chính vì vậy mà ngành dân tộc học biển/ nhân học biển của Nhật Bản phát triển mạnh Một nhà dân tộc học biển nổi tiếng là ông Keizo Shibusawa, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chánh của chính phủ Nhật Bản, đồng thời cũng là một giảng viên đại học, bằng năng lực
chuyên môn, ông đã lôi cuốn nhiều sinh viên đến học môn Văn hóa ngư nghiệp của
mình Suốt cuộc đời, ông đã bộc lộ sở thích mãnh liệt ở lĩnh vực cá và ngư trường biển Với sự đỡ đầu của ông, nhiều công trình được xuất bản từ một bảo tàng do
ông sáng lập là Attic Museum Shibusawa cũng là người khởi xướng Văn hóa dân
gian biển Nhật Bản, ông cũng đã đóng góp nhiều công sức cho việc nghiên cứu
những hòn đảo và bán đảo biệt lập ở Nhật Bản (Asahitaro Nishimura, 1973, tr.10) Trong Đại hội Khoa học nhân văn và dân tộc học Quốc tế (ICAES) lần thứ 7 vào năm 1964, trên cơ sở các cuộc khảo sát điền dã của Shibusawa ở các quốc gia vùng
Đông Nam Á, ông đề cập đến chủ đề “Thuyền ván trượt bùn được sử dụng ở khu
vực chịu thủy triều lầy lội ở Đông Nam Á” Trong quyển “Phương tiện vận chuyển
cổ xưa nhất ở Đông Nam Á và Đông Á” (1969), ông đã phân tích những thuyền
trượt bùn vừa ở góc độ triển vọng sinh thái vừa ở góc độ triển vọng lịch sử từ những điều quan sát được về sinh thái ở Đông Á và Đông Nam Á
Hoa Kỳ cũng là đất nước nghiên cứu mạnh về nhân học biển Quyển “Those who live from the sea, A study in Maritime Anthropology” (Những người quê vùng biển, Một cuộc nghiên cứu về nhân học biển) của M Estellie Smith thuộc chuyên khảo số 62 của Hội Dân tộc học Hoa Kỳ, do West Publishing Co xuất bản vào năm
1977 là một khảo tả dân tộc học về dân cư vùng biển đồng thời cũng là một giáo trình về nhân học biển Tác giả phân tích tầm quan trọng về việc những người mưu sinh bằng cách khai thác các nguồn tài nguyên của biển; họ sống trong những cộng đồng tự gắn bó với nghề đánh cá; đang đối mặt với sự thay đổi cực kỳ nhanh chóng
về lối sống do sự tiến hóa trong công nghệ và môi trường Cũng theo M Estellie Smith, nhân học biển còn quan tâm, tham dự các hoạt động chính trị, những cuộc
nghiên cứu pháp lý về Luật hàng hải quốc tế cũng như những vấn đề tranh chấp
căng thẳng, trầm trọng về quyền sở hữu thềm lục địa, lãnh hải…của các quốc gia có biển Tóm lại, từ viễn cảnh của thế giới ngày nay và những nhu cầu sống còn của
Trang 29ngày mai, biển vô cùng quý báu vì nhu cầu khai thác khoáng sản và thực phẩm giàu
đạm ngày càng tăng lên, đồng thời với sự phát triển của dân số thế giới (M Estellie Smith) Mặc dù công trình này ra đời từ năm 1977 nhưng cho tới nay, vấn đề và
quan điểm của tác giả vẫn mang tính thời sự nóng hổi, như tình hình về Biển Đông đối với Việt Nam chẳng hạn
Nhân học biển và văn hóa biển là lĩnh vực nghiên cứu rất rộng, ngành này bao gồm nhân học hàng hải, nhân học về nghề cá, trong đó nghiên cứu các cộng đồng ngư
dân và làng chài của họ ở ven biển, ở hải đảo, nghiên cứu thuyền bè và những ngư
cụ đánh bắt… Nhân học biển còn nghiên cứu về lịch sử đại dương và lịch sử về những vùng biển, sinh thái biển, hải trình của người đi biển…
Nhân học biển cũng nghiên cứu đời sống và thái độ ứng xử của ngư dân và cư dân,
sự tương tác của họ với biển cả về phong tục tập quán (như đời sống hôn nhân gia đình, tang ma, giỗ chạp ) hay sự tương tác của họ với biển cả về vấn đề môi trường sinh thái, về tài nguyên thiên nhiên biển Nhân học biển tìm hiểu những loại hình kinh tế khác nhau của các cộng đồng ngư dân, ví dụ có nơi người ta chuyên khai thác hải sản để làm nước mắm, làm khô, làm mắm…nhưng có nhiều nơi ngư dân không biết thực hiện những phươngthức tồn trữ này vì đơn giản là vùng cư trú của
họ không có muối…Nhân học biển theo quan điểm của Bắc Mỹ cũng không loại trừ nghiên cứu cả về khảo cổ học dưới nước và khảo cổ học về biển do quan điểm khảo
cổ học nằm trong ngành nhân học
Về đời sống tinh thần của người dân vùng biển, nhân học biển và văn hóa biển nghiên cứu những vấn đề tín ngưỡng tôn giáo, các kiêng kỵ, văn hóa dân gian (folklore), văn học biển, nghệ thuật biển của ngư dân và cư dân ven biển, bao gồm
âm nhạc, hội họa, nghệ thuật tạo hình ở vùng biển…Gần đây , nhân học biển cũng
tiếp cận những nghiên cứu về ngành công nghiệp hiện đại như giàn khoan khai thác dầu khí, nhà máy đóng tàu, những nhà máy chế biến thủy, hải sản… (Akifumi Iwabuchi )
Mặc dù nhân học biển ra đời và phát triển chỉ từ thập niên 50 của thế kỷ XX nhưng sức hấp dẫn của góc độ nghiên cứu này đã làm cho đội ngũ những nhà khoa học đi vào lĩnh vực này ngày càng đông hơn Khá phổ biến về các công trình nghiên cứu nhân học biển của một số tác giả nước ngoài như: K Weibust, J Hornell, S
Trang 30Cole, McCay, Shomkar Aswani, Michael Paolisso, David E Sopher…Họ đã nghiên cứu các cộng đồng ngƣ dân, các làng chài, nhƣ:
- David E Sopher: The Sea Nomads: A study based on the literature of the Marintime Boat people of Southeast Asia, Singapore, 1965
- K Weibust: Deep Sea Sailors: A study in Maritime Ethnology, Stockholm, 1969
- J Hornell: Fishing in many waters, Cambridge, 1991( study of fishing gears)
- McCay, J Bonnie: 1978 Systems ecology, people ecology and the anthropology of fishing communities, 1978
- S Cole: Women of the Praia: Works and Lives in a Portuguese Coastal Community, Princeton, 1991(study of fishing villages)
- Bob Krauss: Keneti South Seas Adventures of Keneth Anory A Kolowalu Book
University of Hawaii Press Honolulu, 1988 (89-90-91-92)
- McCay, J Bonnie, and J Acheson: The Question of the Commons: The Culture and Ecology of Community Resources Tucson: University of Arizona Press, 1990
- McCay, B J., and A C Finlayson: The Political Ecology of Crisis and Institutional Change: The case of the Northern Cod Presented to the Annual
Meeting of the American Anthropological Association, Washington DC, 1995
- R Firth: Malay Fisherman: Their Peasant Economy, Routledge& Kegan Paul,
1946
- Fraiser, T M,: Rusembilan: A Malay Fishing Village in Southern Thailand, Ithaca,
Cornell University Press, 1960
- J Carsten: The Heat of the Hearth: Clarendon Press, 1977
- R H Barnes6 với công trình Sea hunter of Indonesia dày gần 500 trang, đã khảo
sát rất chi tiết về làng chài với các địa vực vùng cao và vùng thấp, cấu trúc hành chánh , bối cảnh lịch sử và vấn đề tôn giáo của cộng đồng cƣ dân làng chài Ông tìm hiểu rất kỹ vấn đề bệnh tật, di dân, hôn nhân cũng nhƣ tang ma Sâu xa hơn ông khảo sát các hoạt động kinh tế tại đây với nghề cá, nghề làm muối, nghề đóng tàu thuyền, làm ngƣ cụ, vấn đề săn cá voi…Đây là một trong những công trình nghiên
6 R H Barnes, Sea hunters of Indonesia 1996, Fishers and Weavers of Lamalera, Clarendon Press
Trang 31cứu rất công phu, rất tỉ mỉ, có giá trị cao về khoa học, có thể gợi mở cho những người nghiên cứu về biển những vấn đề mới mẻ…
Ở nước ngoài, chủ yếu là các quốc gia phương Tây có vùng biển rộng lớn, một số trường đại học đã đưa công trình nghiên cứu về nhân học biển và liên quan đến biển vào giảng dạy ở bậc đại học và sau đại học Hầu hết các giáo sư giảng dạy nhân học biển đều là những nhà nghiên cứu dân tộc học thực địa, họ khảo sát trên các vùng biển khác nhau và thường theo hướng nghiên cứu các cộng đồng ngư dân, các làng chài và mô hình tổ chức những làng chài, như:
- Trường Đại học Queenland, Australia: Các GS Bob Moffatt, Phillip Smith, Matt Peterson… đã nghiên cứu và có các môn học như:
+ Bob Moffatt: Marine Environment, Mariners skills, Marine studies A course for senior students…
+ Phillip Smith: Matt Peterson, Marine studies crossworks: A publication to support the text book An introduction to Marine studies
Trong năm 2007, chương trình học của Trường Đại học Queenland có rất nhiều môn liên quan đến kiến thức về biển như: Marine science (Khoa học về biển), Aquaculture and Marine Biotechnology (Nuôi trồng thủy hải sản và công nghệ sinh học biển), Marine Geology and Oceanography (Hải dương học và địa chất học về biển); Marine Ecology (Sinh học biển); Marine parasitology (Vi sinh học về biển); Fish Biology (Ngư sinh học); Marine Law (Luật pháp về biển), Indo – Pacific Marine Biodiversity and Conservation (Bảo tồn và đa dạng sinh vật biển ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương)…
- Trường Đại học Tokyo, Nhật Bản có GS Iwabuchi Akifumi, trưởng Bộ môn Quản
lý về biển, phụ trách những môn về nhân học biển như: Marine Anthropological Study in Southeast Asia (Nghiên cứu nhân học biển ở Đông Nam Á); Cross- Cultural Study of Marine Culture (Nghiên cứu xuyên văn hóa về văn hóa biển), Maritime Security Policy as Ocean Management ( Chính sách an ninh về biển như
là sự quản lý đại dương)…
- Trường Đại học Hawaii, Hoa Kỳ có GS Shankar Aswani với những môn học trong Chương trình Sau Đại học Liên khoa (Interdepartmental Graduate Program),
Trang 32giảng dạy và nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân học sinh thái nhân văn và khoa học về biển
- Trường Đại học Massachussetts, Hoa Kỳ có Thomas M Fraser đã nghiên cứu điển hình một làng chài của người Malay ở Thái Lan, trong đó ông phân tích về khái
niệm làng chài, khảo sát trong chu kỳ một năm việc lao động và đời sống của cộng
đồng ngư dân làng chài, về vấn đề kinh tế, phố chợ miền biển, tìm hiểu gia đình và
hộ gia đình ngư dân cũng như tôn giáo tín ngưỡng của họ, tổ chức xã hội với vai trò của người lãnh đạo ở làng chài…7
Đặc biệt đã có những công trình mang tính chất quy mô lớn trên thế giới về
nhân học biển, như Fish catching methods of the world (Các phương pháp đánh cá trên thế giới ) của Andres Von Brandt8 Công trình này bao gồm 30 chương, rất nhiều sơ đồ, hình ảnh ngư cụ, phương tiện đánh bắt…Có thể xem đây là một tài liệu tra cứu công phu về nghề cá trên thế giới với nhiều mục từ đa dạng, chi tiết mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội như ngư cụ sử dụng theo giới, ngư cụ cho tất cả mọi loại thủy hải sản ở các vùng biển và các dân tộc sống ở biển trên thế giới
Dày dặn và đồ sộ nhất trong tài liệu nhân học biển có lẽ là công trình Ocean, The Native Cultures of Australia and the Pacific Islands (Đại dương, nền văn hóa bản địa của Australia và các quần đảo Thái Bình Dương) của Douglas L Oliver, do
Trường Đại học Hawaii ở Honolulu, Hoa Kỳ xuất bản Đây là bộ sách gồm 2 tập, tổng số trang là 1.275 trang (khổ 20 X 30 cm) Douglas L Oliver là giáo sư ngành nhân học thuộc Trường Đại học Harvard và Đại học Hawaii, Hoa Kỳ Ông bắt đầu nghiên cứu vùng đảo Thái Bình Dương từ 1936 và trải qua nhiều thời gian điền dã khảo sát ở vùng Tân Guinea, miền Bắc Solomon…Ông cũng là tác giả của trên 12 cuốn sách viết về các quần đảo Thái Bình Dương, là thành viên của Viện Hàn lâm khoa học Quốc gia và là học giả của Viện Hàn lâm khoa học và nghệ thuật Hoa Kỳ Ông cùng với vợ là Margaret McArthur, một nhà nhân học Australia tiếp tục biên soạn, nghiên cứu ở Honolulu Bộ sách đồ sộ của ông gồm 3 phần: phần I viết về bối cảnh của vùng biển với tự nhiên, dân số, ngôn ngữ, khảo cổ học và dân tộc học;
Trang 33Phần II là các hoạt động về tôn giáo, thức ăn ở Öc và vùng đảo; tàu thuyền và di chuyển trên đại dương, vấn đề giới tính và tái sản xuất9
Qua đây có thể thấy hiện nay xu hướng các trường đại học lớn trên thế giới quan tâm rất nhiều về biển Mặc dù hầu hết các công trình vừa nêu không nghiên cứu trực tiếp ở Việt Nam, nhưng những nội dung kiến thức của các công trình trên
đều liên quan đến biển và ngành nhân học về biển, đã gợi mở hướng nghiên cứu
cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này
4.3.Tiếp cận lý thuyết về nhân học biển
Theo tính chất và chức năng của ngành nhân học nói chung, đối tượng nghiên cứu của nhân học là con người, đề tài của chúng tôi thuộc lĩnh vực nhân học biển (maritime anthropology) nên đối tượng nghiên cứu của chúng tôi phải là cộng đồng ngư dân, là cuộc sống của họ trong các hoạt động nơi vùng biển Để khảo sát
đề tài này, chúng tôi phải tiếp cận các lý thuyết của ngành nhân học, cụ thể hơn, để phù hợp với nội dung đề tài, chúng tôi chọn những lý thuyết và các khái niệm khoa học sau đây:
- Sinh thái văn hóa (cultural ecology)
Sinh thái văn hóa là sự trải nghiệm của con người khi thích nghi với môi trường thiên nhiên cụ thể theo những cách khác nhau và sáng tạo nên những dạng
thức văn hóa N gười nào cũng phải sinh sống trong một môi trường tự nhiên, thế giới họ có thể trải nghiệm thông qua các giác quan nhưng họ sẽ nhận thức nó theo nhu cầu thích nghi và bối cảnh văn hóa của họ 10
Sinh thái văn hoá là quá trình một tộc người thích nghi với môi trường tự nhiên xung quanh, cùng với mội trường xã hội Sinh thái văn hoá của một tộc người còn là sự nhận thức về thế giới quan, phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt, cấu trúc xã hội, tôn giao tín ngưỡng, phong tục tập quán…Trong đó con người phải thích nghi với môi trường sinh thái tự nhiên, bao gồm đất đai, sông suối ao hồ, rừng rậm, biển cả cùng với hệ thống động, thực vật, điều kiện khí hậu và các
9
Douglas L Oliver,1989, Volume I,II, Oceania The native cultures of Australia and the Pacific
Islands, University of Hawaii Press, Honolulu, p.1276
10
James Spradley & David W.Mc Curdy, 2003, Comformity and Conflict, Reading in cultural
anthropology,11th edition, Pearson Education
Trang 34nguồn tài nguyên tự nhiên khác Thông qua sự nhận thức hợp lý về môi trường sinh thái tự nhiên, con người quyết định phương thức sản xuất và lựa chọn hình thức cư trú, hành vi ứng xử và khế ước nhất định với thế giới tự nhiên11 Ví dụ nhân học biển Nhật Bản khi nghiên cứu về những thợ lặn nữ, những thợ mò ngọc trai nữ ở Nhật Bản, những ngư dân đánh cá bằng cách dùng chim cốc, hay khảo sát về các thuyền nhân (yebune)12 …thì các nhà nhân học phải tiếp cận sinh thái văn hóa mới
phân tích và lý giải các khía cạnh đó được
Trong đề tài của chúng tôi cần vận dụng lý thuyết sinh thái văn hóa để tìm hiểu
sự thích nghi của cộng đồng ngư dân và cư dân trong môi trường sinh thái tự nhiên vùng biển, đảo của Nam Bộ
- Sinh thái tộc người (ethno- ecology) là sự tổng hợp của các nhân tố tự nhiên và
nhân văn của một tộc người hay nhóm dân tộc, có sự đồng nhất về môi trường sống, trình độ phát triển kinh tế- xã hội, từ đó hình thành nên hệ thống tri thức bản địa về
ứng xử môi trường, tổ chức và ứng xử xã hội và truyền thống văn hoá
B Malinowski cho rằng mục tiêu cuối cùng của các nhà dân tộc học/ nhân học là
“Nắm bắt cách nhìn nhận của người bản địa, mối quan hệ của họ với đời sống, hiểu được sự nhìn nhận của họ về thế giới của họ”
Hai nhân tố cơ bản của sinh thái tộc người là :
1 Môi trường tự nhiên sinh tồn của tộc người
2 Môi trường xã hội và văn hoá của tộc người
Một khi ở đâu có sự tương đồng về hai nhân tố ấy thì ở đó con người mới tồn tại
và được tác động của nhân tố sinh thái tộc người Sinh thái tộc người là một dạng
thức của sinh thái nhân văn (human ecology) Đó là hệ sinh thái của con người, chịu sự tác động không chỉ của môi trường tự nhiên, mà còn của môi trường xã hội
nữa (kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá) Con người là chủ thể của sinh thái nhân văn, tạo ra sinh thái nhân văn và chịu sự tác động của sinh thái nhân văn13
13Ngô Đức Thịnh, Sinh thái tộc người, cư dân lưu vực sông Hồng, Tham luận Hội thảo
Trang 35- Hệ sinh thái (ecosystem)
Hệ sinh thái (hệ thống sinh thái) là khái niệm quan trọng được đa phần các
nhà nhân học sinh thái đều sử dụng
Đầu năm 1963, nhà nhân học Geertz đã dẫn khái niệm hệ sinh thái trong công trình nghiên cứu về quá trình biến đổi sinh thái ở Indonesia, sau đó có rất nhiều nhà nhân học đã ứng dụng lí thuyết hệ sinh thái để nghiên cứu hệ sinh thái và nhân học văn hoá ở các vùng khác nhau trên thế giới, trong đó có vùng biển
- Nhân học sinh thái Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của mỗi tộc người đều
liên quan chặt chẽ với đặc điểm địa lý từng vùng Con người đã biết dựa vào điều kiện tự nhiên để sinh tồn và phát triển Nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên luôn là lĩnh vực nghiên cứu không thể bỏ qua khi tiến hành nghiên cứu khoa học Việc tìm hiểu và lý giải giữa văn hoá với môi trường sinh thái trong quá
trình phát triển xã hội của con người dựa trên các lý thuyết nhân học sinh thái là
cách tiếp cận quan trọng trong các công trình nghiên cứu hiện nay Ví dụ những nghiên cứu về văn hoá nước: Tháng 9 năm 2005, Viện Viện KHXH Vân Nam và
Hội lịch sử nước quốc tế cùng tổ chức “Hội thảo quốc tế Văn hoá nước và bảo vệ môi trường nước” Môi trường sinh thái dù có tốt hay xấu đều cũng tác động đến
khả năng thích ứng của con người, tạo nên một đặc trưng văn hoá vùng miền Với
khả năng thích ứng của hệ sinh thái, con người có thể làm thay đổi hệ sinh thái tự
nhiên
Quan điểm hệ sinh thái tự nhiên và khái niệm“thích ứng”, là những quan điển được sử dụng nhiều trong nghiên cứu nhân học sinh thái hiện nay Khái niệm thích ứng được nhà nhân học Mỹ Julian H Steward đề cập trong phương pháp nghiên cứu sinh thái học vào những năm 20 của thế kỷ XX J Steward dùng khái niệm
thích ứng/ thích nghi để lý giải hành vi văn hoá của con người đối với môi trường tự
nhiên Điều này có nghĩa là sự biến đổi và thích ứng văn hoá là một quá trình tương
tác giữa văn hoá với môi trường tự nhiên
Khái niệm thích ứng không chỉ xác định vai trò, vị trí của con người trong hệ sinh thái tự nhiên mà còn xác lập mối quan hệ giữa con người với tự nhiên
Trong cuốn sách “Tính thích ứng của con người – Dẫn luận nhân học sinh thái”
Trang 36
(Human Adaptability: An introduction to ecological Anthropology), 2000, nhà nhân
học Mỹ Emilio F Moran chỉ ra phương pháp nghiên cứu nhân học sinh thái là giải
quyết vấn đề con người với mơi trường tự nhiên trên phạm vị rộng, định chế xã hội
và cách thức giải quyết vấn đề mơi trường trước đây, khơng chỉ nghiên cứu cơ chế thích ứng của con người với mơi trường, mà cịn dùng những nghiên cứu định tính
để trả lời những vấn đề: Con người làm thế nào để điều tiết bản thân thích ứng với
sự biến đổi mơi trường ? 14 Trong đề tài của mình, chúng tơi cố gắng tìm hiểu cơ chế
thích ứng của cộng đồng cư dân miền biển
- Tri thức bản địa là khái niệm học thuật bắt đầu được sử dụng rộng rãi vào đầu
những năm 90 của thế kỷ XX
Sau nhiều thế kỷ sử dụng khoa học phương Tây để chinh phục thiên nhiên và coi nhẹ những kinh nghiệm sống hàng ngày của người dân ở nhiều nơi trên thế giới, các nhà khoa học mới nhận ra tầm quan trọng của tri thức bản địa trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, văn hố…Việc tái phát hiện này xuất phát từ nhiều
lý do như sự nổi lên của các nước thuộc thế giới thứ 3 trên trường quốc tế cả trong lĩnh vực chính trị, kinh tế và khoa học, sự phổ biến của lý thuyết hậu hiện đại hay ngành nhân học, đĩ là những lý thuyết đề cao vai trị của người trong cuộc, và cả những bế tắc hiện tại của khoa học kỹ thuật phương Tây hiện tại15
Xu hướng phát triển hiện nay của ngành nhân học trên thế giới và khu vực là các nhà nghiên cứu bản xứ nghiên cứu về chính xã hội của mình, điều này xuất phát
từ quan điểm cho rằng khơng ai cĩ thể hiểu một nền văn hĩa bằng chính chủ nhân của nền văn hĩa đĩ, cho nên việc nghiên cứu về biển ở Việt Nam cần được các nhà
khoa học Việt Nam thuộc các lĩnh vực nhân học, văn hĩa học, văn hĩa dân gian, địa
lý mơi trường, kinh tế mơi trường ….quan tâm nghiên cứu
- Nhân học phê phán (critical anthropology) Trong nhân học biển, việc tham gia
diễn ngơn đối với sự khai thác mang tính hủy diệt nguồn tài nguyên biển như sử dụng ngư cụ cấm, phá rừng phòng hộ, sản xuất công nghiệp làm ô nhiễm mơi
Trang 37trường biển, xây dựng ven biển và trên đảo thiếu quy hoạch, kém thẩm mỹ, đặc biệt
là khai thác du lịch biển khơng bền vững
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để thực hiện đề tài này, chúng tơi vận dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
5.1 Phương pháp Quan sát tham dự (Participant and observation) là phương pháp đặc trưng chuyên biệt tất yếu của ngành dân tộc học/ nhân học Trong phương pháp này, người nghiên cứu phải tham gia trực tiếp vào trong đời sống cộng đồng mà mình nghiên cứu, cùng dấn thân để thấu hiểu đối tượng nghiên cứu Trong chừng mực những điều kiện cho phép, chúng tơi đã cùng người đánh bắt cá đi ghe
ra khơi để tìm hiểu việc thu hoạch trong nghề đáy, cùng lội trong bùn với người dân
để khảo sát nghề nuơi nghêu, sị, cùng thức đêm để đĩn ghe cá về, cùng tham dự các
lễ hội của ngư dân như lễ hội Nghinh Cơ, lễ hội Nghinh Ơng, lễ hội Cúng phước biển…
5.2 Phương pháp Phỏng vấn sâu (In- depth interviewing) là phương pháp của ngành dân tộc học nhằm tìm hiểu các đối tượng là những người có những thông tin
đặc biệt về những khía cạnh cụ thể trong nội dung đề tài, liên quan về những điều
mà người nghiên cứu quan tâm bằng hình thức trải qua quá trình hội thoại với nhiều đối tượng nghiên cứu, dưới nhiều mức độ khác nhau và nhiều hình thức đa
dạng tuỳ theo từng đối tượng cụ thể Chúng tơi đã phỏng vấn sâu theo nội dung
linh hoạt nhưng tất cả các câu hỏi đều phải được cơ cấu hóa theo vấn đề nghiên cứu
5.3 Phương pháp Phỏng vấn hồi cố (Oral history)
Văn bản hồ sơ phỏng vấn hồi cố sẽ giúp người nghiên cứu đạt được kết quả cao về khoa học, vì những tư liệu đĩ thể hiện quan điểm của nhiều tầng lớp khác nhau về những điều đã xảy ra trong quá khứ mang tính lịch sử của họ và của vấn đề
mà người nghiên cứu quan tâm, đĩ là những thơng tin tiếp nhận trực tiếp (chính cấp) hoặc gián tiếp (thứ cấp)
Trang 38- Thiết kê nghiên cứu (research design) là quá trình nhà nghiên cứu sử dụng các
phương pháp nghiên cứu nào để khám phá, mô tả, phân tích hoặc giải thích chủ đề
mà nhà nghiên cứu quan tâm (Babbie, 2004, LeCompte và Schensul, 1999) Mục
tiêu của thiết kế nghiên cứu nhằm thu thập các dữ liệu định tính (dữ liệu nghiêng về câu chữ, ngôn từ, hình ảnh) và dữ liệu định lượng (dữ liệu nghiêng về con số, có
khuynh hướng số hóa)
5.4 Nghiên cứu định tính (Qualitative research):
Nghiên cứu định tính (NCĐT) là một hoạt động có vị trí định vị người quan sát trong xã hội NCĐT bao gồm một loạt các cách thực hành diễn giải làm người
ta hiểu rõ xã hội, bao gồm: các ghi chép ở thực địa (fieldnotes), quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, hội thoại, thảo luận nhóm, các hình ảnh, băng ghi âm, hồi ký…nhằm mô tả, diễn giải, giải thích chủ thể Ở mức độ này, NCĐT có cách tiếp
cận xã hội theo kiểu diễn giải và tự nhiên chủ nghĩa
Các nhà NCĐT nghiên cứu các sự việc ở cơ sở (địa điểm/ vị trí) tự nhiên của chúng, cố gắng hiểu hoặc diễn giải các hiện tượng thông qua các ý nghĩa mà con người gán cho chúng (Denzin& Lincoln, 2005, tr 3)
Có 5 cách tiếp cận nghiên cứu định tính (Nghiên cứu lời kể, nghiên cứu hiện tượng
học, nghiên cứu dựa trên nền tảng dữ liệu, nghiên cứu điền dã dân tộc học và nghiên cứu trường hợp) 16
Trong đề tài này chúng tôi chủ yếu sử dụng nghiên cứu lời kể (narrative
research), và nghiên cứu điền dã dân tộc học (ethnographic research)
Cách thức chúng tôi tiến hành là nghiên cứu định tính trong 2 năm theo dạng
“cuốn chiếu” và “bổ sung” ngắn hạn cho từng tỉnh, thành và từng chủ đề trong đề tài Đối tượng khảo sát thuộc mọi thành phần nghề nghiệp, giới tính của cư dân liên quan đến nội dung đề tài, sau khi làm việc với chính quyền địa phương và các ban ngành, các cơ sở sản xuất, cơ sở tín ngưỡng tôn giáo…
Chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu định tính trong 2 năm qua tại tất cả các điểm
chọn mẫu của 9 tỉnh thành có biển ở Nam Bộ, phỏng vấn được 142 cuộc, bao gồm
trên 700 trang biên bản gỡ băng (đã đóng quyển đính kèm) và trên 1.000 tấm ảnh
16 John W Creswell (2007), Qualitative Inquiry& Research Design: Choosing among five approaches,
Thousand Oaks, CA
Trang 39minh họa (đã đĩng quyển đính kèm)
5.5 Nghiên cứu định lượng (Quantitative research):
Nghiên cứu định lượng (NCĐL) bao gồm các phương pháp như phỏng vấn bằng bản hỏi, quan sát cấu trúc… nhằm thu thập dữ liệu định lượng để mơ tả, khái quát chủ thể
Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu định lượng trong đề tài này kết hợp giữa
kỹ năng phương pháp chọn mẫu phân tầng với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
hệ thống
Trước hết về phương pháp chọn mẫu phân tầng chúng tơi chọn 3 tỉnh trọng tâm
khảo sát là Bến Tre, Cà Mau, Kiên Giang Tại mỗi tỉnh chúng tơi khảo sát tổng cộng 200 hộ gia đình Cách chọn như sau, mỗi một tiểu vùng địa lý chọn một tỉnh Đề tài của chúng tơi chia làm ba tiểu vùng địa lý như sau: tiểu vùng 1 gồm các tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, tiểu vùng 2 gồm các tỉnh Trà Vinh, Sĩc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau (kèm các đảo); tiểu vùng 3 là tỉnh Kiên Giang (kèm các đảo) Ba tỉnh được chọn
là Bến Tre, Cà Mau, Kiên Giang cĩ thể đối chiếu tình hình giữa 3 tiểu vùng
cĩ những đặc điểm kinh tế-xã hội khác biệt nhau bên cạnh những tương đồng chung của vùng biển Nam Boä Chúng tơi cũng muốn 3 tiểu vùng được chọn nêu trên đều thuộc về Đồng bằng sơng Cửu Long (miền Tây Nam Bộ) để cĩ thể so sánh các vấn đề khác nhau trong cùng địa bàn này (như so sánh nơng nghiệp với ngư nghiệp…)
Tại mỗi tỉnh thành, chúng tơi chọn một huyện tương đối điển hình cho cả tỉnh; tại mỗi huyện chúng tơi chọn 1 xã/ thị trấn; tại mỗi xã/ thị trấn chúng tơi chọn 2-3 khĩm hoặc 2 -3 ấp Cụ thể tại tỉnh Bến Tre chúng tơi chọn huyện Ba Tri và xã An Thủy, tỉnh Cà Mau chọn huyện Trần Văn Thời và thị trấn Sơng Đốc, tỉnh Kiên Giang chọn huyện Kiên Lương, riêng ở huyện Kiên Lương chúng tơi phải chọn 2 xã Bình Trị và Bình An (vì Bình Trị chỉ mới được tách ra từ xã Bình An vào tháng 6 năm 2007)
Sau khi chọn được khĩm hoặc ấp, tại từng khĩm hoặc ấp, các hộ gia đình trong đối tượng khảo sát được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, căn cứ trên
Trang 40danh sách của khĩm hoặc của ấp Trong danh sách này, tất cả những hộ gia đình đều được chọn khơng phân biệt là cĩ làm nghề biển hay khơng làm nghề biển Tổng cộng mẫu điều tra các hộ gia đình cuối cùng được chọn và được phỏng vấn theo các bước liệt kê trên đây là 600 hộ (bảng 1)
Bảng 1: Mẫu khảo sát theo địa bàn, số hộ
Nguồn: Số liệu điều tra 600 hộ gia đình vùng biển Nam Bộ (08.2010)
Chúng tơi đã tiến hành nghiên cứu định lượng các điểm chọn mẫu gồm 3 tỉnh của 3 tiểu vùng tỉnh, thành cĩ biển ở Nam Bộ, phân bố ở 3 gĩc của địa bàn biển Nam Bộ, đĩ là các tiểu vùng biển Bến Tre, Cà Mau và Kiên Giang
Trong nghiên cứu định lượng của đề tài này chúng tơi tiến hành khảo sát 600 phiếu trong cùng một thời điểm, để số liệu thu được trong cùng một thời gian
Về phương pháp chọn mẫu định lượng: Chúng tơi chọn mẫu kết hợp chọn vùng và ngẫu nhiên phân tầng
Về thao tác bản hỏi điều tra xã hội học chúng tơi dựa vào kết quả quá trình nghiên cứu định tính để thu thập được tình hình chung và sâu của nội dung đề tài Sau khi điều chỉnh một số chi tiết của bản hỏi, chúng tơi đã phỏng vấn định lượng theo bản hỏi mẫu (đính kèm trong phụ lục 2) của bản thảo cơng trình
Sau khi phân tích và xử lý dữ liệu định lượng, chúng tơi đã tập hợp thành tập tài liệu kèm theo bản thảo cơng trình này