1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào khmer ở huyện gò quao (kiên giang) từ năm 1975 đên năm 2017

121 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 4,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua chủ trưởng của Đảng và Nhà nước, cho ta thấy văn hóa có tầm quan trọng to lớn, nhưng trong cơ chế thị trường và quá trình hội nhập hiện nay, văn hóa các tộc người thiểu số trên đất n

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Đồng Tháp 8/2018

Trang 2

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM

MÃ SỐ: 8.22.90.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ QUANG CHẮN

Đồng Tháp 8/2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực Những luận điểm

mà luận văn kế thừa của những tác giả đi trước đều có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Đồng Tháp, ngày 26 tháng 8 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Trúc

Trang 4

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử trường Đại học Vinh đã giảng dạy và hướng dẫn tác giả hoàn thành chương trình học tập

và tận tình giúp đỡ giúp tác giả thực hiện luận văn

Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các cơ quan: Chi cục Thống kê Huyện Gò Quao, Ủy ban dân tộc tỉnh Kiên Giang, Phòng Dân Tộc huyện

Gò Quao, thư viện tỉnh Kiên Giang, Ban tuyên giáo huyện Gò Quao, UBND huyện

Gò Quao Các thầy, cô giáo trường Dân tộc nội trú huyện Các cán bộ, người dân, đồng bào dân tộc Khmer các xã Định An, Định Hòa, Thới Quản, Thủy Liễu, huyện

Gò Quao, tỉnh Kiên Giang đã giúp đỡ tác giả thu thập thông tin, tư liệu liên quan đến luận văn

Và cuối cùng, tác giả cũng xin gửi lời biết ơn tới những người thân trong gia đình, tới những người bạn luôn động viên, khích lệ và sát cánh bên tác giả trong suốt quá trình điền dã và hoàn thành luận văn này

Tác giả xin trân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó!

Đồng Tháp, ngày 26 tháng 8 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Trúc

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8

3 1 Mục tiêu nghiên cứu 8

3 2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4.1 Đối tượng nghiên cứu 9

4.2 Phạm vi, địa bàn nghiên cứu 9

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 10

5.1 Nguồn tư liệu 10

5.2 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Cấu trúc của luận văn 12

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở HUYỆN GÕ QUAO TRƯỚC NĂM 1975 13

1.1 Khái quát vùng đất Gò Quao trước năm 1975 13

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 13

1.1 2 Điều kiện kinh tế - xã hội 16

1.2 Quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Khmer ở huyện Gò Quao trước năm 1975 21

1.2.1 Vài nét đặc trưng về người Khmer Nam bộ 21

1.2 2 Quá trình định cư của người Khmer ở huyện Gò Quao 23

1.2 3 Vài nét về đời sống văn hóa, xã hội của đồng bào Khmer trước năm 197526 Chương 2: ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở HUYỆN GÕ QUAO TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 2017 33

2.1 Sản xuất nông nghiệp 34

2.1.1 Cây lúa 34

2.1.2 Cây hoa màu và các loại cây lâu năm 38

2.1.3 Cây công nghiệp 41

2.1.4 Chăn nuôi 42

2.2 Các ngành kinh tế khác 42

2.2.1 Tiểu thủ công nghiệp 45

Trang 6

2.2.2 Thương nghiệp 46

Chương 3: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở HUYỆN GÕ QUAO TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 2017 50

3.1 Đời sống văn hóa vật chất 50

3.1.1 Trang phục 50

3.1.2 Gia đình 53

3.1.3 Nhà ở 58

3.1.4 Tập quán sinh hoạt ăn uống 61

3.1.5 Phương tiện đi lại 65

3.2 Đời sống văn hóa tinh thần 65

3.2.1 Tín ngưỡng, tôn giáo 65

3.2.2 Phong tục tập quán 69

3.2.3 Sinh hoạt văn hóa cộng đồng 75

3.3 Đời sống xã hội 79

3.3.1 Tổ chức xã hội của người Khmer 79

3.3.2 Giáo dục – y tế 81

3.3.3 Công tác giảm nghèo và chính sách an sinh xã hội 84

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 103

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề

Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều dân tộc, trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các dân tộc đều kề vai sát cánh, gắn bó máu thịt bên nhau trong đấu tranh chống ngoại xâm, chống thiên tai, địch họa và xây dựng đất nước Các dân tộc nước ta là một cộng đồng thống nhất trong đa dạng, cư trú phân tán và đan xen trên mọi vùng, miền với cơ cấu dân số và trình độ phát triển không đồng đều Bản sắc văn hóa các dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam Chính vì thế, văn hoá các dân tộc thiểu số nói chung và văn hoá đồng bào dân tộc Khmer nói riêng có vị trí rất quan trọng trong đời sống tinh thần,

cố kết cộng đồng bền vững của 54 dân tộc, góp phần tạo nên nền văn hoá Việt Nam

đa dạng trong thống nhất Đoàn kết các dân tộc luôn là vấn đề chiến lược, cơ bản và lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta Bình đẳng và đoàn kết các dân tộc là đường lối, chủ trương nhất quán đã được Đảng ta xác định ngay từ khi mới thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, đồng bào các dân tộc đều là anh em ruột thịt, là con cháu một nhà, thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau là nghĩa vụ thiêng liêng của các dân tộc” Người còn khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước coi việc giải quyết

đúng đắn vấn đề dân tộc là nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, cũng như tiềm năng riêng của từng dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Thật vậy, trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, nhằm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong Đại hội XII, với quan

điểm “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta” giữ vai trò định hướng, chỉ đạo Đảng ta xác định: “Đoàn kết các dân tộc

Trang 8

có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta Tiếp tục hoàn thiện các

cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng dân tộc thiểu số, nhất là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XII nhấn mạnh "giữ gìn và phát huy bản sắc con người và văn hóa Việt Nam"

đó là mối quan hệ mật thiết, sống còn giữa con người với văn hóa trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam Đây là mối quan hệ biện chứng, con người tạo ra văn hóa, đến lượt văn hóa phát triển tạo điều kiện cho con người tiếp tục có điều kiện phát triển hơn trong lòng cộng đồng, trong lòng dân tộc

Qua chủ trưởng của Đảng và Nhà nước, cho ta thấy văn hóa có tầm quan trọng to lớn, nhưng trong cơ chế thị trường và quá trình hội nhập hiện nay, văn hóa các tộc người thiểu số trên đất nước ta nói chung và đồng bào Khmer ở huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang nói riêng đang chịu một quá trình biến đổi về nhiều mặt Làm thế nào để vừa phát triển kinh tế vùng đồng bào Khmer ở huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang hiện nay, vừa bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống theo xu hướng hội nhập tích cực, hội nhập hợp lý là một vấn đề đặt ra hết sức cấp bách trong chiến lược phát triển xã hội bền vững Vì vậy, việc nghiên cứu đời sống văn hóa của đồng bào Khmer ở huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang và định hướng bảo tồn, phát huy giá trị của nó trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra hết sức cấp thiết Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách xã hội thấy được những xu hướng biến đổi văn hóa và điều chỉnh sự biến đổi đó mang ý nghĩa tích cực, phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại

Trang 9

Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề: “Đời sống kinh

tế, văn hóa, xã hội của đồng bào dân tộc Khmer ở huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang từ năm 1975 đến năm 2017” để làm đề tài luận văn Chúng tôi hy vọng kết

quả thu được sẽ góp phần vào việc lưu giữ, phát huy những giá trị truyền thống văn hóa của người Khmer trong cộng đồng dân tộc Việt

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong quá trình nghiên cứu tư liệu về đồng bào dân tộc Khmer cho thấy, trước năm 1975, tình hình nghiên cứu về đồng bào dân tộc Khmer ở Tây Nam Bộ nói chung và đồng bào Khmer ở tinh Kiên Giang nói riêng ít được chú ý Tuy nhiên, vẫn có một vài công trình nổi bật trong thời kỳ ấy liên quan, dù ít hay nhiều

đến dân tộc Khmer Có thể kể một số cuốn sách như: Các dân tộc nguồn gốc Nam

Á ở miền Bắc Việt Nam của Vương Hoàng Tuyên (1963) [32]; Người Việt gốc Miên của Lê Hương (1969) [27]; Các dân tộc Môn-Khơme ở miền Nam Việt Nam của Phan Hữu Dật (1964) [12]; Lịch sử Campuchia của Kô Vuth (1970) [36]; Lịch sử khẩn hoang Miền Nam của Sơn Nam (1973) [21] Trong các tài liệu này, các tác giả

đã đề cập đến nguồn gốc, di cư và sự hình thành của một số dân tộc, trong đó có tộc người Khmer; tuy nhiên, mới chỉ có các giả thuyết, mà chưa có những khẳng định chắc chắn về các vấn đề được nêu

Từ sau năm 1975 cho đến nay, đất nước được hoàn toàn giải phóng, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, trong đó có đồng bào dân tộc Khmer Chính vì vậy, sau mốc thời gian này, tình hình nghiên cứu

về dân tộc Khmer đã có những bước tiến đáng ghi nhận cả về số lượng và chất

lượng Có thể kể đến Nguyễn Khắc Cảnh với nghiên cứu “Quá trình hình thành tộc người của người Khmer từ thế kỷ VI đến thế kỷ XII” [5]; Trần Văn Bổn với nghiên cứu “Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam Bộ” (2002) [8]; Đoàn Thanh

Nô với nghiên cứu “Người Khmer ở Kiên Giang” (2002) [22]; Phạm Thị Phương Hạnh với nghiên cứu “Văn hóa Khmer Nam Bộ-Nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt

Trang 10

Nam” (2011) [26]; hay: “Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc khmer Nam Bộ” của nhiều

tác giả [20]… Các công trình nghiên cứu này không chỉ giới thiệu tổng quan về dân tộc Khmer mà còn giới thiệu khá đầy đủ về phân bố dân cư, nơi cư trú, những đặc điểm văn hóa vật chất lẫn tinh thần của người Khmer

Như tiêu đề của bài viết, qua các tài liệu thu thập được kết hợp với nghiên cứu thực địa, tác giả đã đi sâu nghiên cứu những mối quan hệ của người Khmer và đã tìm hiểu được ngoài tên gọi Khmer đồng bào Khmer còn có các tên gọi khác như: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, …là dân tộc có số dân đông nhất trong các dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khmer ở Việt Nam

Cuốn “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” của 2 tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa

và Phan An (1984) đã dành 16 trang để viết về người Khmer, trong đó có đề cập đến sự hình thành tộc người Khmer ở Việt Nam Theo đó, người Khmer cùng với

tổ tiên người Mạ, người Cho Ro, người Khmer là lớp người đầu tiên cư trú ở miền đất miền Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long, trên những vùng đất cao gọi

là “giồng” (phono) sau tỏa dần xuống gò, đồng với việc tạo nên một hệ thống thủy lợi độc đáo Tộc danh được các tộc người khác đặt cho hay tự gọi là Khmer Krôm (Khmer ở thấp) để phân biệt với đồng tộc ở bên kia biên giới Việt Nam - Campuchia là Khmer Lơ (Khmer ở cao) và Khmer Kandal (Khmer ở giữa) Do ảnh hưởng qua lại với các cư dân cùng cộng tác, do hoàn cảnh tự nhiên của nơi cư trú

từ thế kỷ XIV, Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của các vương triều Xiêm từ phía Tây, đặc biệt là từ sau khi vương quốc Ayuthaya hình thành Trong gần một thế kỷ, Chân Lạp phải liên tục đối phó với những cuộc tiến công từ phía người Thái, có lúc kinh thành Angkor đã bị quân đội Ayuthaya chiếm đóng Trong hoàn cảnh đó, để tránh khỏi sự đàn áp và bóc lột của các thế lực phong kiến Thái Lan, nhiều nhóm người Khmer, trong đó có cả những sư sãi và trí thức Khmer đã di

cư đến khu vực đồng bằng Nam bộ sinh sống Đến đây, họ lại hòa nhập với những lớp người Khmer đến trước, tiếp tục khai phá và biến những vùng đất này thành

Trang 11

những điểm tụ cư đông đúc Nhìn chung, vào đầu thế kỷ XVI, ở đồng bằng Nam bộ

cơ bản đã hình thành các điểm dân cư tập trung của người Khmer Tuy nhiên, về phía triều đình Chân Lạp, từ thế kỷ XVI và nhất là thế kỷ XVII, do sự can thiệp của Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc, đất nước suy yếu, khả năng kiểm soát

và quản lý của Chân Lạp ở vùng đất Nam bộ giảm sút dần

Vào thời điểm này, người Khmer là thành phần dân cư chủ yếu sinh sống ở vùng đồng bằng Tây Nam bộ (đồng bằng sông Cửu Long) Trên đại thể, người Khmer đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia là những người đồng tộc có chung ngôn ngữ, tôn giáo và về những đặc trưng tộc người Tuy nhiên

từ khi đến khu vực đồng bằng sông Cửu Long sinh sống, nhóm người này đã sống độc lập và không có mối quan hệ với bất kỳ một quốc gia nào thời đó Do sống tách biệt với người Khmer ở Campuchia trong một thời gian lâu dài, nên người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đã tạo ra những đặc điểm cho cộng đồng mình về cư trú, kinh tế, văn hóa và xã hội

Sau đó, cùng với quá trình cộng cư với các tộc người mới diễn ra liên tục từ những năm cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII càng làm tăng sự khác biệt giữa cộng đồng người Khmer đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia Đặc biệt từ khi các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn xác lập, thực thi chủ quyền cũng như đưa ra những chính sách trong việc quản lý vùng đất Nam bộ, người Khmer đồng bằng sông Cửu Long đã trở thành một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nam bộ nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung cho thấy người Khmer là một bộ phận hợp thành của cộng đồng đa dân tộc, đa văn hóa Việt Nam Người Khmer Nam bộ đã cùng chung sống

và phát tirển với người Việt, người Hoa, người Chăm Họ đã thể hiện sự gắn bó, tinh thần đoàn kết trong cuộc sống cũng như trong cuộc chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc

Trang 12

Cũng trong thời gian này, để định hướng và qui hoạch phát triển kinh tế xã hội từ nhiều công trình nghiên cứu của Nhà nước được công bố trên các tạp chí,

trong đó có các công trình nghiên cứu dân tộc học về người Khmer như: “Những vấn đề dân tộc học ở miền Nam Việt Nam”; “Các dân tộc ở Việt Nam - các tỉnh phía Nam”; “Người Khmer ở Cửu Long”; “Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc ở Đồng Bằng Sông Cửu Long”…các công trình này không chỉ giới thiệu

tổng quan về dân tộc Khmer mà còn đi sâu nghiên cứu những vấn đề cụ thể về dân tộc này Điểm đáng chú ý là các công trình, bài viết vừa kể trên chứa đựng nguồn

tư liệu thực địa phong phú, công phu Điều đó cũng dễ hiểu bởi một số công trình, khóa luận tốt nghiệp do tác giả là người địa phương thực hiện

Liên quan trực tiếp đến nghiên cứu người Khmer, đáng chú ý nhất là một số bài viết của tác giả Phan An, cụ thể là các ấn phẩm: “Vài khía cạnh dân tộc về người Khmer ở Việt Nam và Campuchia” [2], “Cơ cấu quản lí xã hội truyền thống

phum, sóc của người Khmer Nam Bộ”, Tạp chí Dân tộc học, Số 3.1985; “hệ thống

xã hội tộc người của người Khmer ở Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975”… Có thể nói, đây là những bài viết và luận án đầu tiên nghiên cứu về người Khmer Trong đó, tác giả đã giới thiệu một số phong tục tập quán, đời sống vật chất và tâm linh của người Khmer

Ngoài ra, cũng có những luận văn, luận án tiến sĩ đã nghiên cứu về đời sống văn hóa, tinh thần của người Khmer như: Phan Thị Yến Tuyết (Luận án Phó Tiến

sĩ năm 1992) với “Văn hóa vật chất của các dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long”,

đề cập đến quá trình định cư của các tộc người ở đồng bằng sông Cửu Long, nghiên cứu một cách hệ thống các thành tố văn hóa vật chất như nhà ở, ăn uống, trang phục của bốn tộc người Việt, Hoa, Chăm, Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long thế

kỉ XVII-XVIII; Phạm Thị Vui (Luận văn Thạc sĩ năm 2012) với “Văn hóa của người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Kiên Giang”, đề cập đến

những nét văn hóa nổi bật của người Khmer ở Kiên Giang nhằm phục vụ cho mục

Trang 13

đích du lịch Hay Lê Thị Bé Hằng (Luận văn Thạc sĩ năm 2013) với “Giao lưu văn hóa Việt - Khmer ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long (1975 - 2000)”, đề cập đến sự

giao lưu văn hóa từ lịch sử tụ cư và cộng cư cũng như đặc điểm cư trú, cơ sở kinh

tế, xã hội của hai tộc người Việt và Khmer

Đặc biệt, có nhiều công trình của một số tác giả nghiên cứu về Lễ hội Om-Bok của người Khmer Ok- Om- Bok hay Lễ Cúng trăng là một trong những lễ hội dân gian có từ rất lâu đời của dân tộc Khmer Nam Bộ Ở các tác phẩm này chủ yếu đề cập đến nguồn gốc, ý nghĩa và mô tả diễn biến của lễ hội Thông qua lễ hội

Ok-ấy, các tác giả đã chỉ ra một số vấn đề như nét độc đáo trong lễ hội, các hoạt động được tổ chức thể hiện đời sống văn hóa tâm linh của người Khmer và đó là một biểu tượng cố kết nên một cộng đồng văn hóa Việt Hay một số vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay đối với lễ hội Ok-Om-Bok của người Khmer Lễ hội mà từ năm

2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện quốc gia Tuy nhiên, các bài viết cũng chỉ dừng lại ở mức độ khảo

tả về văn hóa của người Khmer, chưa có điều kiện tập trung phân tích, đánh giá, hay so sánh với tộc người khác trong khu vực để thấy được nét tương đồng và khác biệt trong đời sống văn hóa - xã hội của đồng bào dân tộc Khmer

Như vậy, cho đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về đồng bào dân tộc Khmer nói chung, trong đó có người Khmer sinh sống tại Kiên Giang nói riêng của nhiều tác giả Những nghiên cứu ấy đã đề cập đến khá nhiều khía cạnh Song, vẫn chưa có một nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống về sự chuyển biến của đời sống vật chất và tinh thần của người Khmer từ sau khi đất nước đổi mới đến nay Mặc dù vậy, những công trình nghiên cứu vừa kể trên cũng cung cấp nguồn thông tin

và tư liệu quý, làm nền tảng cho nghiên cứu sâu hơn về đồng bào dân tộc Khmer ở huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang

Trong các công trình nghiên cứu về dân tộc Khmer, nhiều tác giả mới chỉ đề cập rất sơ lược và nhiều công trình đề cập khá rộng về người Khmer ở Cửu

Trang 14

Long.Thậm chí, có những đánh giá và những con số (về dân cư, địa bàn cư trú )

chưa chính xác về họ Do đó, với việc nghiên cứu đề tài: “Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào Khmer ở huyện Gò Quao (Kiên Giang) từ năm 1975 đến năm 2017”, chúng tôi muốn khái quát nên một bức tranh toàn diện nhất về các

mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là có những thông tin được cập nhật mang tính thời sự hàng ngày Đề tài của chúng tôi cũng sẽ tìm ra những kết luận chung nhất trên cơ sở phân tích, so sánh, đối chiếu các quan điểm từ những nhà nghiên cứu trước và kết quả điền dã mà chúng tôi thu được, để làm sáng tỏ những nét kinh

tế và đặc trưng văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer tại huyện Gò Quao (Kiên Giang) Tuy phạm vi đề tài nhỏ chỉ bó hẹp trong phạm vi một huyện, nhưng đây là một đề tài hoàn toàn mới Hy vọng, đề tài này sẽ góp ít nhiều về mặt khoa học cũng như về mặt thực tiễn trong việc tìm hiểu đời sống kinh tế, văn hóa của đồng bào Khmer trên địa bàn huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu:

Thực hiện đề tài luận văn này nhằm những mục tiêu sau:

Làm rõ những nét cơ bản trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào Khmer ở huyện Gò Quao - tỉnh Kiên Giang Chỉ ra những điều bất cập cần khắc phục nhằm ổn định và cải thiện đời sống cho đồng bào Khmer ở huyện Gò Quao - tỉnh Kiên Giang, thông qua đó góp phần vào công tác bảo tồn và phát triển bền vững cộng đồng dân tộc Khmer trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thứ nhất: Luận văn làm rõ quá trình hình thành của cộng đồng Khmer ở

huyện Gò Quao - tỉnh Kiên Giang

- Thứ hai: Làm rõ sự chuyển biến về đời sống kinh tế của người Khmer ở huyện Gò Quao - tỉnh Kiên Giang từ năm 1975 đến năm 2017

Trang 15

- Thứ ba: Làm rõ chuyển biến trong đời sống văn hóa, xã hội của người Khmer ở huyện Gò Quao - tỉnh Kiên Giang từ năm 1975 đến năm 2017

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người Khmer ở huyện Gò Quao (Kiên Giang) từ sau năm 1975 đến nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian:

Phạm vi địa bàn nghiên cứu được chọn chủ yếu là các xã có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống thuộc huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang Sở dĩ có sự lựa chọn địa bàn nghiên cứu như trên do không gian cư trú của người Khmer ở huyện

Gò Quao tập trung nhiều ở các xã Định Hòa, Định An, Thủy Liễu, Vĩnh Hòa Hưng Nam…Ngoài ra, các xã khác trong huyện có ít đồng bào dân tộc Khmer sinh sống

- Phạm vi nội dung:

Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình định cư của đồng bào Khmer tại huyện

Gò Quao, tỉnh Kiên Giang Đời sống kinh tế (nông nghiệp; thủ công nghiệp,

Trang 16

thương nghiệp)… và đời sống văn hóa, xã hội (gia đình, phong tục, tập quán, các chính sách mới của Nhà nước đối với đồng bào Khmer…) của đồng bào Khmer từ năm 1975 đến năm 2017

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

- Tư liệu lưu trữ:

Các tài liệu do UBND tỉnh Kiên Giang, huyện Gò Quao; Chi Cục Thống kê; Ban Tôn giáo, Dân tộc; Ban Dân tộc tỉnh Kiên Giang, sở Văn hóa Thông tin tỉnh Kiên Giang xuất bản; Các tài liệu do UBND, Ban Dân vận, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, phòng dân tộc, phòng Văn hóa thông tin huyện Gò Quao, UBND các xã Định An, Định Hòa, Thủy Liễu, Vĩnh Hòa Hưng Nam… cung cấp, các bản báo cáo công tác dân tộc, báo cáo tổng kết, các bảng thống kê, các Nghị quyết, Chỉ thị của các phòng ban thuộc UBND huyện, Huyện ủy Gò Quao

- Tư liệu nghiên cứu:

+ Các sách nghiên cứu bao gồm: “Người Việt Gốc Miên” của Lê Hương (1969); “Đại Nam nhất thống chí, phần tỉnh An Giang và tỉnh Hà Tiên” của Quốc

sử quán triều Nguyễn (1971), “Quá trình hình thành tộc người của người Khmer từ thế kỷ VI đến thể kỷ XIII”của Nguyễn Khắc Cảnh (2000),“Vài nét về người Khmer Nam Bộ” của Nguyễn Mạnh Cường (2002), “Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng Sông Cửu Long” của mạc Đường, Phan An (1994) “ Dân số các dân tộc ít người ở Việt Nam”, “ Bản sắc văn hóa các dân tộc”,“ Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam”

+ Các sách về văn hóa như “ Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh; “ Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Quốc Vượng”; “Nghiên cứu về người Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long”, Tạp chí Dân tộc học, số 3.1985; Tạp chí

“Nghiên cứu lịch sử”, số 8-1982, , “Thăm hang Thạch Động nghe chuyện Thạch Sanh”, Tạp chí văn hóa dân gian, số 2.2000; “Đi tìm những giải pháp cho sự phát

Trang 17

triển bền vững của người Khmer Nam Bộ”của Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn

Minh Ngọc, Kỷ yếu Hội Thảo Việt Nam học, tháng 7- 2004

- Tư liệu điền giã:

+ Tư liệu hiện vật: Bao gồm nhà cửa, các vật dụng gia đình, các công cụ lao động, tranh ảnh sưu tầm, tự chụp của người Khmer tại địa phương Nguồn tư liệu chính của luận văn cũng được dựa trên các tài liệu, tư liệu điền dã dân tộc học mà tác giả đã trực tiếp thu thập qua nhiều đợt đi thực địa tại các địa bàn sinh sống của người Khmer ở huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang

+ Tư liệu truyền miệng, phỏng vấn: Tác giả đã trực tiếp gặp gỡ, trao đổi và phỏng vấn với những người Khmer

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic Ngoài ra, tác giả đã vận dụng một số phương pháp khác như: phương pháp tiếp cận liên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn; phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, phương pháp chuyên gia, phương pháp khảo sát thực tế, phỏng vấn các đối tượng như cán bộ thực hiện chính sách dân tộc, cán bộ địa phương địa bàn sinh sống của đồng bào dân tộc Khmer

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về nguồn gốc, quá trình phát triển cũng như những biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào dân tộc Khmer ở huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang

Luận văn làm rõ diện mạo văn hóa, lịch sử, thiết chế xã hội, phác họa nên một bức tranh phong phú về đồng bào Khmer

Kết quả nghiên cứu của luận văn còn là một tài liệu có ích, cung cấp những luận cứ khoa học, làm cơ sở cho các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách

để tìm ra những giải pháp quản lí xã hội sao cho hợp lý và hiệu quả hơn đối với đồng bào dân tộc Khmer Xây dựng chiến lược và sách lược phát triển về kinh tế,

Trang 18

văn hóa và xã hội, an ninh quốc phòng cho các dân tộc ít người ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và đồng bào dân tộc Khmer huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang nói riêng

Luận văn là nguồn tư liệu quan trọng giúp ích cho việc biên soạn, nghiên cứu

và giảng dạy lịch sử tại địa phương ở các trường Trung học, Cao đẳng và Đại học Ngoài ra, còn có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, tình cảm trân trọng và biết giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc ít người trong huyện Gò Quao nói riêng và tỉnh Kiên Giang nói chung

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương chính:

Chương 1: Khái quát về đời sống văn hóa, xã hội của đồng bào Khmer ở huyện Gò Quao trước năm 1975

Chương 2 Đời sống kinh tế đồng bào Khmer ở huyện Gò Quao từ năm

1975 đến năm 2017

Chương 3 Đời sống văn hóa, xã hội của đồng bào Khmer ở huyện Gò Quao từ năm 1975 đến năm 2017

Trang 19

Chương 1:

KHÁI QUÁT ĐỜI SỐNGVĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở

HUYỆN GÕ QUAO TRƯỚC NĂM 1975 1.1 Khái quát vùng đất Gò Quao trước năm 1975.

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Kiên Giang là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nằm ở phía Tây Nam của Việt Nam, kết nối với các nước Đông Nam Á (ASEAN), đặc biệt là Campuchia và Thái Lan bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không Tỉnh Kiên Giang có diện tích tự nhiên 6.348,53 km2, dân số 1.721.763 người Phía Đông Bắc, giáp các tỉnh An Giang, Thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; phía Nam, giáp các tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; phía Tây Nam, giáp vịnh Thái Lan với hơn 200 km bờ biển và các đảo; phía Bắc, giáp Campuchia, với đường biên giới dài 56,8 km Tỉnh Kiên Giang có 05 quần đảo: An Thới, Thổ Châu, Nam Du, Bà Lụa

và Hải Tặc Đơn vị hành chính của tỉnh bao gồm: Thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên và 13 huyện: Kiên Lương, Giang Thành, Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, U Minh Thượng, Vĩnh Thuận, Kiên Hải và Phú Quốc Thành phố Rạch Giá là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của

tỉnh

Gò Quao là một huyện thuộc tỉnh Kiên Giang (trước đó là tỉnh Rạch Giá) Huyện lỵ là thị trấn Gò Quao Năm 1920, thực dân Pháp lập quận Gò Quao thuộc tỉnh Rạch Giá, gồm 2 tổng là: tổng Kiên Định có 5 làng, tổng Thanh Biên có

7 làng Năm 1925, chuyển tổng Thanh Biên sang quận An Biên, quận Gò Quao còn lại tổng Kiên Định Sau năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã đổi tên quận Gò Quao thành quận Kiên Hưng thuộc tỉnh Kiên Giang vừa mới thành lập

Năm 1961, lại giao quận Kiên Hưng về cho tỉnh Chương Thiên quản lý

Trang 20

Huyện Gò Quao nằm ở phía Đông phần giữa của tỉnh Kiên Giang Phía Tây giáp với huyện An Biên, phía Đông giáp Thành phố Vị Thanh (Trước 1975 gọi

là tỉnh Chương Thiện, nay là tỉnh Hậu Giang), phía Bắc giáp huyện Giồng Giềng, phía Tây Bắc giáp huyện Châu Thành, phía Nam giáp huyện Vĩnh Thuận, phía Đông Nam giáp huyện Hồng Dân (Bạc Liêu) Huyện có quốc lộ 61 nối liền thành phố Cần Thơ - tỉnh Hậu Giang - tỉnh Kiên Giang; tuyến đê bao Ô Môn - Xà No; đường thủy phía Nam từ thành phố Hồ Chí Minh đi tỉnh Cà Mau; sông Cái Lớn nối liền đường thủy phía Nam ra cảng cá Tắc Cậu và đổ ra biển Tây Nam;

đường Hồ Chí Minh nối liền quốc lộ 61 về Cà Mau, Năm Căn

Huyện Gò Quao là 1 trong 15 đơn vị hành chính thuộc tỉnh Kiên Giang Huyện có diện tích tự nhiên 43.950 ha Đơn vị hành chính được chia thành 10 xã,

01 Thị trấn, với 06 khu phố, 94 ấp và 861 Tổ nhân dân tự quản Dân số toàn huyện

có 33.368 hộ, với 140.587 khẩu Trong đó Dân tộc Khmer 9.969 hộ với 44.029 khẩu Tổng số hộ nghèo là 2.346 hộ, chiếm 6.99% (trong đó họ dân tộc Khmer là 1.186 hộ, chiếm 50,55% so với hộ nghèo toàn huyện), Hộ cận nghèo có 2.354 hộ, chiếm 7,01% (trong đó họ dân tộc Khmer là 1.013 hộ, chiếm 43,03% so với hộ cận

nghèo toàn huyện), hộ có mức sống trung bình là 2.469 hộ, chiếm 7,39%

Đồng bào dân tộc Khmer tập trung sinh sống đông nhất ở các xã Định An, Định Hòa, Thủy Liễu, Thới Quản, Vĩnh Phước B và 2 ấp của xã Vĩnh Hòa Hưng Nam Như vậy, về vị trí địa lý, người Khmer ở huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang cư trú chủ yếu ở các xã ven thị trấn, mặc dù sống quanh thị trấn nhưng họ theo thói

quen, vẫn cư trú theo từng phum, sóc và làm ruộng lúa nước

* Địa hình, thổ nhƣỡng

Tỉnh Kiên Giang có đủ các dạng địa hình từ đồng bằng, núi rừng và biển đảo Trong đó, phần đất liền có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Đông bắc xuống Tây nam, chia thành 4 vùng tiểu vùng địa hình: vùng tứ giác Long Xuyên, vùng Tây sông Hậu, vùng U Minh Thượng và vùng đảo và hải đảo Vùng

Trang 21

biển hải đảo chủ yếu là đồi núi nhưng vẫn có đồng bằng nhỏ hẹp xen kẽ tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên có giá trị du lịch

Hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc, phân bố khắp địa bàn tỉnh, với tổng chiều dài 2.054,93 km Toàn tỉnh có 3 con sông lớn chảy qua: sông Cái Lớn, sông Cái Bé và sông Giang Thành Hệ thống kênh đào gồm kênh tiêu lũ và kênh cung cấp nước ngọt; trong đó kênh tiêu lũ gồm: kênh Vĩnh Tế; kênh T3; kênh Tri Tôn; kênh Ba Thê; kênh cung cấp nước ngọt gồm: kênh Cái Sắn; kênh Thốt Nốt; kênh Thị Đội…Hệ thống sông, ngòi, kênh, rạch của tỉnh rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, lưu thông hàng hóa và tiêu thoát nước lũ Ngoài các sông chính Kiên Giang còn có mạng lưới kênh rạch dày đặc, tổng chiều dài khoảng 2.054km Đặc điểm địa hình này cùng với chế độ thuỷ triều biển Tây chi phối rất lớn khả năng tiêu úng về mùa mưa và bị ảnh hưởng lớn của mặn vào các tháng mùa khô

Huyện Gò Quao là huyện vùng sâu của tỉnh Kiên Giang có diện tích đất tự nhiên 43.951 ha Huyện nằm trong vùng Tây sông Hậu, vừa có điều kiện sinh thái đặc thù của vùng Tây Sông Hậu vừa chịu ảnh hưởng sinh thái của vùng U Minh Thượng Phía Bắc Quốc lộ 61 có nguồn nước ngọt quanh năm, phù sa bồi lắng Là huyện có tiềm năng khoáng sản như sét, nước khoáng, than bùn,…Với vị trí thuận lợi giáp ranh thành phố Vị Thanh - tỉnh Hậu Giang, có hệ thống giao thông kết nối các địa phương trong và ngoài tỉnh trong vùng đồng bằng Sông Cửu Long, gồm các tuyến: Quốc lộ 61, đường Hồ Chí Minh đang được đầu tư, đường cao tốc Hà Tiên-

Cà Mau, đường vành đai dọc sông Cái Lớn đang được quy hoạch xây dựng… Ngoài ra, huyện còn có hệ thống giao thông đường thủy phía Nam chạy qua địa bàn huyện, tuyến sông Cái lớn, Cái Bé thông ra biển Tây tạo điều kiện thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa và phát triển nuôi trồng thủy sản Vì thế, huyện có tiềm năng đất đai phù hợp với sản xuất nông nghiệp - thủy sản đa dạng theo hướng chuyên canh, xen canh và luân canh tạo điều kiện hình thành nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá có giá trị kinh tế cao, đa dạng

Trang 22

* Khí hậu

Tỉnh Kiên Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm, nhiệt độ trung bình từ 27,5 - 27,7 0

C, số giờ nắng trong năm là 2.563 giờ, độ

ẩm trung bình 81 - 82% Khí hậu chia làm 02 mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

Do nằm ở vĩ độ thấp và giáp biển nên Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm nhiệt độ trung bình hàng tháng từ 27 – 27,50C Kiên Giang không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão nhưng lượng nước mưa do bão chiếm một tỷ trọng đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa Mùa mưa bắt đầu từ tháng

4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.600 – 2.000 mm ở đất liền và 2.400 – 2.800 mm ở vùng đảo

Phú Quốc

Như vậy, đặc trưng của chế độ khí hậu tỉnh Kiên Giang nói chung và huyện

Gò Quao nói riêng vẫn mang những mặt chung nhất là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm Khí hậu, thời tiết khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, rất

ít thiên tai, không rét, không có bão đổ bộ trực tiếp, ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào, nên rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi sinh trưởng

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

* Điều kiện kinh tế

- Nông nghiệp:

Phần lớn người Khmer ở huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước với diện tích là 36.422 ha Trong sản xuất nông nghiệp bên cạnh trồng lúa đồng bào Khmer còn trồng các loại hoa màu khác phục vụ cho đời sống hàng ngày và trao đổi giữa các vùng Ruộng lúa nước của người Khmer canh tác chủ yếu một vụ trong năm và thường là các loại lúa dài ngày Vụ mùa bắt đầu từ tháng 4 – khi mùa mưa bắt đầu, sau khi tổ chức lễ Chôl Chnăm Thmây – kéo dài đến tháng 12 hoặc tháng giêng năm sau Các khâu canh tác chủ yếu là làm đất,

Trang 23

gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch Khâu làm đất gồm cày, bừa, trục Thời gian làm đất kéo dài từ 1 – 2 tháng, tức là từ tháng 4 đến tháng 6 Trong thời gian làm đất, người nông dân Khmer cũng đồng thời gieo mạ để đến khi làm xong đất mạ cũng vừa để cấy Khâu làm đất cũng gồm cả làm đất mạ Đất dùng để gieo mạ được chọn lựa ở những mảnh ruộng có điều kiện tưới tiêu tốt để giữ nước cho mạ, nhất là trong những ngày mới gieo mạ Việc gieo mạ là công việc của nam giới và đòi hỏi người gieo mạ phải có kỹ thuật và kinh nghiệm để gieo giống cho thật đều Tùy theo thời tiết từng năm, điều kiện chuẩn bị đất của từng gia đình mà mạ từ khi gieo đến khi được nhổ để cấy có thể có tuổi từ một tháng đến 1,5 tháng Nông cụ để làm đất gồm có cày, bừa, trục, cuốc, leng, xẻng…và sức kéo chính là bò hoặc trâu Đồng bào Khmer canh tác chủ yếu một vụ lúa trong năm vì thế họ thường canh tác các loại giống lúa mùa, trong đó có một số giống lúa đã phổ biến chung trong vùng

và có thể cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long như “nàng quớt”, giống “móng chim”, “nàng tây” Ngoài ra, họ cũng canh tác các loại nếp như nếp “khơnôp”, nếp

“thêvôđa”

Xuất phát từ điều kiện gắn chặt với thiên nhiên và chịu ảnh hưởng kỹ thuật trồng lúa nước của người Kinh nên đồng bào Khmer Gò Quao sớm làm quen với thời tiết, khí hậu, các yếu tố thủy văn và các loại giống cây trồng, động, thực vật

Từ đó tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong việc trồng lúa, hoa màu phù hợp với từng loại đất, các loại giống và kĩ thuật canh tác

- Đánh cá:

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, là nơi có nhiều cá tôm, thủy sản Đồng bào Khmer huyện Gò Quao đã bổ sung nguồn lương thực hàng ngày qua việc đánh bắt cá trên các kênh rạch Sản lượng cá đánh bắt được chỉ cung cấp đủ thức ăn cho gia đình Đôi khi sản lượng nhiều hơn thì họ đem ra chợ bán để mua lại lương thực khác hay vật dụng khác Vì thế, từ khi di cư đến đây đồng bào Khmer

đã sớm biết được các kỹ thuật đánh bắt cá nước ngọt, nước lợ

Trang 24

- Chăn nuôi:

Chăn nuôi của đồng bào Khmer chưa tách khỏi sản xuất nông nghiệp Họ chủ yếu nuôi trâu, bò phục vụ sức kéo cho sản xuất nông nghiệp Ngoài chăn nuôi trâu, bò đồng bào Khmer còn chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như: heo, gà, vịt phục vụ cho cuộc sống thường ngày của họ Chăn nuôi của đồng bào chỉ là nhỏ, lẻ từng hộ gia đình chưa có qui mô lớn chỉ có tính chất khép kín trong phạm vị cư trú

Theo tập quán chăn nuôi của đồng bào Khmer, chăn nuôi trâu, bò luôn gắn chặt với sản xuất nông nghiệp chủ yếu là làm sức kéo cũng như để tiêu thụ cỏ trên đồng ruộng và trên các giồng cát Nuôi gia súc, gia cầm như heo, gà, vịt, đồng bào Khmer đã tận dụng thức ăn đổ, sót trên đồng ruộng từ nguồn sản xuất nông nghiệp tại chỗ làm thức ăn cho các vật nuôi này Phân trâu, bò còn được sử dụng cho rẫy, tuy nhiên việc chăn nuôi chỉ là nhỏ, lẻ từng hộ gia đình chưa có qui mô lớn có tính chất khép kín trong phạm vị cư trú của họ Gà, vịt được nuôi với tính cách bổ sung cho nguồn thức ăn gia đình và cũng một phần tăng thêm thu nhập trong cuộc sống nhất là những người có ít ruộng đất và không có công ăn việc làm ổn định Ở nhiều nơi đồng bào còn nuôi vịt đàn theo phương thức chạy đồng, thả lang Vịt đàn với hàng trăm con thậm chí cả hàng ngàn con, vịt nuôi để lấy trứng và lấy thịt, vào mùa gặt hái người chăn nuôi lùa qua các cánh đồng vừa gặt xong và cứ thế từ đồng này qua đồng khác để ăn lúa rơi đổ Tóm lại, chăn nuôi của đồng bào Khmer thời kỳ này chủ yếu bổ trợ thêm cho nguồn lương thực hàng ngày và góp phần nâng cao mức sống của đồng bào

- Thủ công nghiệp:

Kinh tế thủ công nghiệp của người Khmer chủ yếu là cung cấp những vật dụng sinh hoạt trong gia đình như đan lát, lục bình, chế tạo các đồ dùng, bằng tre, bằng mây…như các loại thùng múng, rổ rá, bàn ghế, nông cụ (cày, bừa, cối xay…) Nghề thủ công được thực hiện gắn với những sinh hoạt gia đình Mọi người, mọi lứa tuổi, đều có thể tham gia công việc Nghề thủ công chủ yếu của người Khmer

Trang 25

nơi đây gồm: dệt chiếu; đan lục bình, chằm lá, nghề làm gốm, đặc biệt là nồi đất và

cà ràng được họ đánh giá cao, có thời sản phẩm bán sang tận Campuchia

Nhìn chung nền kinh tế của người Khmer ở Gò Quao, tỉnh Kiên Giang có một số đặc điểm: Sản xuất nông nghiệp của người Khmer mang tính chất độc canh Việc gieo trồng cây lúa là chủ yếu, chiếm hết đất đai và công sức của nông dân Khmer, còn hoa màu và cây ăn quả chưa được chú ý nhiều và thỏa đáng Việc độc canh cây lúa rõ ràng chưa tận dụng hết khả năng đất đai và nhân lực vốn rất dồi dào

ở vùng nông thôn Khmer nơi đây Sản xuất nông nghiệp của người Khmer vẫn là một nền sản xuất nhỏ và còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Chính những điều đó đã hạn chế rất nhiều kết quả sản xuất Các hoạt động kinh tế phụ như thủ công nghiệp, chăn nuôi…vẫn chưa tách khỏi sản xuất nông nghiệp, vẫn còn phụ thuộc vào nông nghiệp, đã hạn chế rất nhiều tiềm năng lao động của đồng bào Khmer Nền kinh tế của họ còn mang tính chất tự cấp tự túc Nông sản và các sản phẩm thủ công, chăn nuôi…hầu như chỉ đủ cung cấp cho sinh hoạt của phum, sóc, và gia đình Kinh tế hàng hóa chưa phổ biến và chưa chiếm vị trí thỏa đáng ở vùng nông thôn Khmer

* Điều kiện xã hội

Sau đế chế Ăngkor, người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, đồng bào Khmer Gò Quao, tỉnh Kiên Giang nói riêng Có thể họ đã chạy xuống phía Nam rồi cùng cộng cư với những người có mặt ở vùng đất Nam bộ tạo nên một quốc gia của người Khmer Nam bộ mà rất có thể sử gọi là Thủy Chân Lạp [6; 57]

Đến đây định cư, đồng bào Khmer ở đây xây dựng phum, sóc trên đồi hay trên các giồng ven kênh trong những vùng đất thấp Ngoài ra, người Khmer còn cư trú ven các thị trấn, dọc quốc lộ…Mặc dù sống ven quanh thị trấn nhưng họ theo thói quen, vẫn cư trú theo từng phum, sóc và làm ruộng lúa nước Đặc điểm cư trú của người Khmer là theo cụm, theo dòng họ, thân tộc, mật độ dân số tăng nhanh và

Trang 26

không đồng đều giữa nông thôn và chợ, thị trấn Một đặc điểm nữa về việc cư trú của người Khmer là nhìn về gốc độ sinh thái thì vùng cư trú của người Khmer ta thường thấy đó là vùng đất thấp nên dân cư thường tập trung ở các gò đất cao, chật hẹp trong khi đó dân số ngày càng tăng

Có thể nói: tập quán cư trú của người Khmer Kiên Giang nói chung, huyện

Gò Quao nói riêng được hình thành do nhiều yếu tố khác nhau: Nguồn gốc lịch sử tộc người, địa lí tự nhiên, đặc điểm hoạt động kinh tế, sự giao lưu văn hóa, những biến động của xã hội…Đất giồng là nơi cư trú đầu tiên của người Khmer Khi đồng bằng sông Cửu Long chưa được khai phá, phần lớn nơi đây hoang vu, ngập nước, lầy lội…thì đất giồng chính nơi dừng chân thích hợp đầu tiên của con người để từ

đó dần dần lấn đất, khai mở ra thêm Đất giồng được tạo thành do sự phân chia dòng chảy của các con sông mang nhiều phù sa, mặt trên là đất Do đặc điểm địa lí, người Khmer đều sống trên các giồng cao, gò nổi, ven đồi… nơi khí hậu ôn hòa thuận lợi cho phát triển trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản Ngoài ra, người Khmer còn cư trú ở “Miệt vườn” lấy sông rạch, vườn cây làm tiêu chuẩn, để đem lại sự thoáng mát Vùng ít hoặc không có sông họ phải đào kênh để “dẫn thủy nhập điền” và lưu thông có thể nói rằng hình thức cư trú ven sông, kênh, rạch, đường giao thông thủy là nét đặc trưng của người Khmer ở Kiên Giang Tuy nhiên, các phum, sóc ở Kiên Giang phát triển dọc theo các con sông, kênh, rạch đã bị biến dạng đi nhiều, ít mang tính chất quần tụ đậm đặc của đất giồng mà phân tán theo chiều dài như Sóc Ven (Sóc dài theo con kênh) Tuy nhiên, sống ở đây họ phải đối mặt với môi trường khắc nghiệt vì vùng này đất nhiễm phèn còn nặng

Dân số ngày càng tăng người Khmer bắt đầu chuyển xuống vùng đất ruộng tạo lập các phum, sóc mới Tuy cư trú trên đất ruộng nhưng người Khmer vẫn đắp đất để tạo thành những khoảng gò sau đó mới cất nhà Kiểu cất nhà trên gò độc đáo này phản ánh tập quán cư trú và sự sáng tạo của người Khmer trong quá trình khai phá vùng đất này Nếu như cư trú trên đất giồng là phương thức quần cư truyền

Trang 27

thống của người Khmer thì ngày nay phương thức cư trú dọc theo đường bộ đang dần trở nên phổ biến hơn Họ nhận thức được sự tiện lợi của việc sống gần đường giao thông như: tiện đi lại, vận chuyển, mua bán sản phẩm, học hành, giao lưu… Tuy nhiên do dấu ấn quần cư trên đất giồng còn đậm nét và kinh nghiệm sống chung với những điều kiện bất lợị của tự nhiên nên người Khmer vẫn đắp nền, tôn nền nhà hoặc cả khuôn viên nhà nền cao

1.2 Quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng Khmer ở huyện

Gò Quao trước năm 1975

1.2.1 Vài nét đặc trưng về người Khmer Nam bộ

Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nam bộ nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung cho thấy người Khmer là một bộ phận hợp thành của cộng đồng đa dân tộc, đa văn hóa Việt Nam Người Khmer Nam bộ đã cùng chung sống

và phát tirển với người Việt, người Hoa, người Chăm Họ đã thể hiện sự gắn bó, tinh thần đoàn kết trong cuộc sống cũng như torng cuộc chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc

Đồng bằng sông Cửu Long là nơi người Khmer tập trung đông nhất với dân

số trên 900.000 người Người Khmer phân bố chủ yếu ở 23 huyện, thuộc 8 tỉnh, thành: An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Kiên Giang Trong đó, tập trung đông nhất ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang Một số ít người Khmer cư trú ở các tỉnh Đông Nam Bộ, xen lẫn với người Việt, Hoa, Chăm Dựa vào điều kiện địa lý, môi sinh, lịch sử cư trú, người Khmer ở Tây Nam Bộ tập trung cư trú ở 3 vùng chính: vùng Trà Vinh và một phần Vĩnh Long, vùng ven biển Sóc Trăng và vùng biên giới Châu Đốc kéo dài đến Rạch Giá [4;12]

Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng, người Khmer Nam bộ và người Khmer ở Campuchia vốn có chung một nguồn gốc lâu đời, rồi do biến thiên lịch sử mà tách

ra thành hai cộng đồng khác nhau Đó là việc bình thường trong quá trình hình

Trang 28

thành lịch sử của nhân loại: “một quốc gia có nhiều dân tộc và một dân tộc sống ở nhiều quốc gia, hòa mình vào cộng đồng các dân tộc ở quốc gia ấy” [39;34] Ngày nay người Khmer Nam bộ là thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, học là cư dân nông nghiệp, sinh sống lâu đời ở đây Do sống tách biệt với người Khmer ở Campuchia trong một thời gian lâu dài, nên người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đã tạo ra những đặc điểm cho cộng đồng mình về cư trú, kinh tế, văn hóa và xã hội

Hiện nay, địa bàn cư trú của người Khmer Nam bộ tập trung ở 3 khu vực Mỗi khu vực có một sắc thái riêng, qui định bởi điều kiện thiên nhiên, truyền thống lịch sử và quá trình cộng cư hòa hợp với các tộc người anh, em như người Việt-Hoa-Chăm Theo số liệu của Ban dân tộc các tỉnh, có đồng bào Khmer Nam bộ hiện nay có hơn một triệu 348 nghìn người, sống tập trung ở 3 khu vực:

- Khu vực Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, tập trung nhất là Sóc

Trăng Đây là vùng nội địa, trên nền phù sa màu mỡ, dọc theo sông Hậu Ở đây, đồng bào Khmer sống trên dải đất giồng, dọc lộ giao thông, ven thị xã, thị trấn

- Khu vực ven biển Trà Vinh, Vĩnh Long, tập trung là Trà Vinh Đây là vùng

cổ xưa nhất của người Khmer, còn bảo lưu nhiều yếu tố văn hóa truyền thống của người Khmer

- Khu vực An Giang, Kiên Giang, tập trung nhất là Châu Đốc, Nhà Bàng đến

vùng Tây bắc Hà Tiên Ở vùng này, đồng bào Khmer thường sống trên sườn đồi Cảnh quan ở đây giống như cảnh quan ở biên giới Campuchia như: cây thốt nốt, nhiều đồi núi nhỏ Ở đây, những ứng xử và sắc thái tương đối khác với đồng bào Khmer ở vùng Trà Vinh, Sóc Trăng

Ngoài ra, đồng bào Khmer còn sống rải rác và xen kẽ với người Việt, người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Ninh, Bà Rịa, sông Bé

Trang 29

Đồng bào Khmer cư trú quần tụ thành những phum sóc, ở chung quanh ngôi chùa…Nhìn từ phương diện giao lưu tộc người, ở người Khmer có hai hình thái cư trú: một là sống tập trung ở các phum sóc cổ truyền, sống quây quần quanh các ngôi chùa đồ sộ mái cong nhọn ẩn hiện dưới bóng cây dầu, cây sao cao vút Hai là sống rải rác, xen kẽ với các tộc người cùng cộng cư trên địa bàn, gồm người Việt, người Hoa

Về nhà ở, nhìn chung cũng giống như người Việt nhưng trong nhà người Khmer không có bàn thờ Phật Ngày nay người Khmer Nam bộ ăn mặc không khác

gì người Việt, người Hoa ngoại trừ những ngày đi lễ chùa, nhiều thiếu nữ mặc Sampốt (váy), các bà lão mặc áo Bompong (Tầm vong)

Về ăn uống, đồng bào Khmer sử dụng thức ăn căn bản cũng giống như người Việt, người Hoa Tuy nhiên, trong cách chế biến thức ăn còn nhiều điểm khác nhau

Đồng bào Khmer từ lâu vẫn sống bằng nghề trồng lúa nước, hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm Ngày nay, có thêm nghề nuôi trồng thủy sản Hiện nay, đồng bằng sông Cửu Long cùng với cả nước đang tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên đồng bào Khmer có cuộc sống sung túc

1.2.2 Quá trình định cư của người Khmer ở huyện Gò Quao

Ngược dòng lịch sử, vùng đất Gò Quao là vùng đất hoang vu, mịt mùng, đầy lau sậy, nằm vắt mình qua sông “Đại Hà” Địa danh “Gò Quao” được cấu thành theo địa thế tự nhiên cộng với tên một loài cây (cây Quao) Trong những năm tháng khai khẩn đất hoang, ông cha ta có nhiều kinh nghiệm đối phó với thiên nhiên và thú dữ, họ tìm cho mình những chỗ cao ráo và có nhiều lợi thế vừa ở vừa canh tác

đề nuôi bản thân mình Trong quá trình đó họ tìm thấy ngay bên vàm rạch một khoảng đất cao ráo, ở đó có nhiều cây Quao mọc, dần dần quen gọi thành Gò Quao Theo “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” từ lâu các chúa Nguyễn đã biết về vùng đất

Trang 30

ở Đồng Nai và Cửu Long, nhưng cơ hội chưa thuận lợi để đẩy mạnh cuộc phát triển về Nam

Đến cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, cùng với người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long cư dân Khmer vùng Kiên Giang chủ yếu phía Tây Bắc Hà Tiên, còn được gọi là vùng núi Tây Nam (vùng tứ giác Long Xuyên với diện tích khoảng 300.000 ha) [ 4; tr 36.] Vùng Hà Tiên có một ít núi đá vôi chạy dài theo vịnh Thái Lan Thiên nhiên ở đây đa dạng và cũng rất khắc nghiệt đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình trạng cư trú, sinh hoạt, sản xuất của người Khmer và người Việt trong vùng Các tư liệu sưu tầm được chủ yếu là ghi chép về công cuộc sinh sống và khai khẩn của người Việt, còn người Khmer thì chưa được chú ý ghi chép đầy đủ Tác

giả Sơn Nam trong công trình biên khảo Lịch sử khẩn hoang miền Nam cho rằng:

“Những con số trên chỉ ghi những thôn xã do người Việt thành lập Phía Hậu Giang ruộng nương chưa đến nổi ít oi, dân số không quá thưa thớt, chỉ vì phần Cương Vực Chí không ghi lại dân số, diện tích các sóc Cao Miên, tập trung ở vùng Trà Vinh, Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng Riêng về vùng Hà Tiên ghi 6 phố, sở của người Tàu, 26 sóc Cao Miên và 19 xã thôn Việt Nam” [13; 66] Cư dân

Khmer ở vùng này vốn là cư dân nông nghiệp họ đã tập hợp nhau lại thành những đơn vị xã hội tự quản Mỗi tập thể định cư trên một địa điểm bám sát đất trồng trọt gọi là phum Đơn vị cao hơn phum và bao gồm nhiều phum gọi là srok (theo Việt hóa là sóc) Phum sóc không phải là đơn vị hành chính nhà nước, mà là những đơn

vị xã hội cổ truyền, ràng buộc nhau bởi các phong tục, lễ nghi mà ở đó ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt văn hóa Các gia đình trong phum hầu hết có quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân với nhau Thông thường gồm gia đình của cha mẹ, gia đình của các con gái và con rể Sinh hoạt của phum mang tính chất cộng đồng tự quản của một tập hợp người vừa có quan hệ cùng huyết thống lại vừa có quan hệ lãnh thổ láng giềng Trước khi có lưu dân người Kinh, người Hoa, người Chăm đến vùng đồng bằng sông Cửu Long thì người Khmer là thành phần cư dân duy nhất cư

Trang 31

trú ở đây Họ quần tụ theo từng phum, sóc đầu tiên trên các giồng đất, giồng cát Xã hội người Khmer lúc bấy giờ là hoàn toàn tự quản với bộ máy quản lý điều hành hết sức giản đơn Đặc biệt, khi quần cư ở đâu, người Khmer đều lập chùa thờ Phật Mỗi sóc có một chùa, sư sãi được đề cao Mọi mâu thuẫn trong xã hội đều do các sư dàn xếp, phân xử Tình hình biệt lập và tự quản như thế kéo dài cho tới khi nhà Nguyễn vươn tới kiểm soát và thiết lập hệ thống hành chính nhà nước Trong khuôn khổ bộ máy cai trị của nhà Nguyễn, phum sóc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đã bị tích hợp vào các xã, ấp chính thức của chính quyền GS Mạc Đường đã nhận xét:

“Cho đến thế kỷ XVII, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn sống khu biệt

và không có mối quan hệ hành chính với bất cứ quốc gia nào thời đó”.[6; tr88]

Đồng thời với quá trình tụ cư của người Khmer ở đồng bằng Sông Cửu Long, vùng đất Gò Quao mãi đến thế kỷ XV mới có cư dân đến cư trú Từ xa xưa

cư dân Việt học được kinh nghiệm về định cư – tức là làm sao nhà cửa phải cao ráo, gần sông rạch “Sông sâu nước chảy” là cuộc mở đất lý tưởng, tránh được bệnh rét, giao thông thuận lợi, có nước để làm ruộng, có nước để uống, nếu là nơi nước mặn gần biển thì trên giồng cao vẫn đào giếng được Từ kinh nghiệm đó mà dần dần cuộc khai khẩn đất hoang ở vùng đất Nam Kỳ được mở rộng Cùng với người Kinh vào thời gian này một nhóm cư dân Khmer cũng đã đến vùng đất Gò Quao,

họ định cư chủ yếu ở Rạch Tìa (Định An) và một số người Kinh sống rải rác ven sông Nơi đây, nhóm nhỏ cư dân Khmer này cùng với dân tộc Kinh đã đoàn kết chống chọi với thiên nhiên, thú dữ, khai phá rừng hoang, xây dựng và bảo vệ cuộc sống gắn liền với truyền thuyết con gái Thị Cư đánh cọp, sẵn sàng hi sinh để góp phần đem lại yên lành cho sớm làng

Trang 32

1.2.3 Vài nét về đời sống của đồng bào Khmer trước năm 1975

* Tộc danh và địa bàn phấn bố

Người Khmer còn có tên gọi khác là Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ

Me K’rôm, là dân tộc có số dân đông nhất trong các dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khmer ở Việt Nam Quan niệm dòng họ của người Khơme khác hẳn với các tộc người khác trong vùng, không hẳn là phụ hệ hay mẫu hệ Trong cách tính dòng họ, một cá nhân không coi mình thuộc dòng họ bên cha hay bên mẹ Do đó, ở người Khmer không có khái niệm về tộc hay họ tính theo một phía cha hoặc mẹ, trong quan hệ họ hàng không có sự phân biệt giữa bên cha và bên mẹ, không có khái niệm về bên nội và bên ngoại Tuy nhiên, do sự áp đặt cưỡng bức của chính quyền phong kiến thực dân, mặt khác, do chịu ảnh hưởng của hai tộc Việt, Hoa là những

cư dân theo chế độ phụ hệ, nên người Khmer thường đặt tên con theo họ cha khi làm giấy khai sinh và kê khai hộ khẩu công dân Nhưng trong quan hệ xã hội truyền thống của người Khmer thể hiện trong quan hệ dòng họ, hôn nhân và gia đình thì tên họ chỉ đơn thuần là một hình thức pháp lý, chưa theo phụ hệ như người Việt, người Hoa hoặc mẫu hệ như người Chăm Năm 1698 trở đi các chúa Nguyễn, vua Nguyễn đã tiếp tục củng cố cơ cấu chính quyền của mình tại vùng đất mới để quản lý các cư dân Các vị vua nhà Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, …đã đặt cho người Khmer phải mang dòng họ như: Thạch, Lâm, Sơn, Kim, Danh… Chẳng hạn như tại huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, Huệ Đức, Châu Thành năm 1839, vua Minh Mạng ra sắc chỉ cho người Khmer ở An Giang và Hà Tiên đặt cho họ tên giống như tên người Hoa sở tại Do vậy, hệ thống họ tên của người Khmer ở Tri Tôn, Châu Thành, tỉnh An Giang ngoài những gia đình có họ lai còn phổ biến các họ “Chau” và “Néang”… Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau, những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương,

Mã, Lý Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum Các họ của người

Trang 33

Khmer: Bàn, Binh, Chau, Chiêm, Danh , Dơng, Đào, Điêu, Đoàn, Đỗ, Hứa, Kỷ, Liêu, Lộc, Lục, Lu, Mai, Neang, Nuth, Ngô, Nguyễn, Panth, Pem, Pham,Sơn, Tăng, Tô,

Từ, Thạch, Thị,Thuấn, Trà, Trần, U, Uônth, Xanh, Xath, Xum Các họ tên tiêu biểu của người Khmer hiện nay: Danh, Sơn, Kim, Thạch, Châu, Lâm…

* Nguồn gốc tộc người: Xét về nguồn gốc người Khmer, có 2 nguồn tư liệu

chính:

- Nguồn tư liệu lịch sử: người Khmer có nguồn gốc từ dân tộc Munda, chủng

tộc có mặt đầu tiên trên bán đảo Ấn Độ Khmer thuộc nhóm Môn – Khmer Trong quá trình sinh sống vì không chịu sự cai trị của dân tộc khác, người Munda rời bỏ quên hương sống ở nơi khác như những khu rừng vắng, khu vực núi hẽo lánh, đến tận biên giới phía Tây như vùng Assam hay vùng núi Dek Kaing hay vùng Vịnh Kumari Dân tộc Munda đi ra khỏi Ấn Độ và có mặt ở hầu như tất cả mọi nơi trên thế giới Dân tộc Munda bắt đầu rời khỏi Ấn Độ vào khoảng 10,000 năm trước Tây lịch sau khi bị người Tamil xâm chiếm đất đai Nhóm người Munda thành lập được vương quốc Khmer và tự đặt lên cho mình là người Khmer có mặt tại lãnh thổ hiện tại từ khoảng năm 6,000 trước Tây lịch [14;3] Mặc dầu có tên mới là người Khmer nhưng những người này vẫn lưu giữ và tôn trọng tất cả các giá trị truyền thống, ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc Munda, là dân tộc tổ tiên của mình

- Nguồn tư liệu truyền thuyết: người Khmer chính là con cháu trực tiếp của vua Hanuman, là một chiến binh anh dũng, chưa hề chiến bại Theo quyển Ādhrasāstrā, một quyển sách về khoa học chính trị rất quan trọng được Brahma Kautilya – một vị quan của vương triều Chandragupta được viết hồi cuối thế kỷ thứ III Tây lịch và được ông Daniélou nghiên cứu lại rằng, quân đội của Ấn Độ có 4 nhóm: 1 Lính chính quy của đẳng cấp vương quyền; 2 Lính được chọn để phục vụ trong khoản thời gian ngắn; 3 Lính từ các nước chư hầu gửi đến; 4 Lính thiện chiến được chọn từ các nhóm người sống trong rừng Họ có nhiệm vụ cản bước tiến của quân địch vì lực lượng này rất thiện chiến và quả cảm

Trang 34

* Ngôn ngữ: ngôn ngữ của người Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn -

Khmer, ngữ hệ Nam Á Họ có chữ viết riêng theo mẫu tự Brahmi cùng nguồn gốc chữ viết với tiếng Chăm và nhiều tộc người khác ở Đông Nam Á Do sống và giao lưu với người Việt lâu đời, ngôn ngữ và chữ viết của người Khmer cùng tồn tại và phát triển song song với ngôn ngữ và chữ của người Kinh nên đã hình thành nhiều nét mới, với đặc trưng riêng biệt, khác xa với nguồn gốc ban đầu Người Khmer có một nền văn học dân gian rất đặc sắc, với nhiều hình thức biểu hiện khác nhau Các giá trị văn hóa đó, ngoài hình thức truyền miệng, tới nay người ta cũng còn giữ được nhiều câu ca dao, dân ca, tục ngữ, câu đố, truyện cười dân gian, truyền thuyết,

cổ tích, hò, vè, thơ…, được ghi bằng tay trên các lá thốt nốt Mặt khác, trong truyền thống, tiếng của Khmer luôn được coi trọng, được lưu giữ và truyền dạy ở chùa nên các giá trị văn hóa đó tới nay vẫn còn được gìn giữ khá nhiều

* Dân số và địa bàn phân bố: Theo Niên Giám Thống kê huyện Gò Quao

năm 2017, người Khmer hiện có 10.089 hộ với 44.560 nhân khẩu, cư trú tại 11 xã, thị trấn của huyện Gò Quao Tổng hộ nghèo, cận nghèo chung là 2.348 hộ với tỷ lệ

hộ nghèo chung của huyện 9,9% Trong đó, hộ nghèo Khmer 1.187 hộ chiếm 47,85% chung toàn huyện và chiếm 15,14% so với đồng bào dân tộc Hộ cận nghèo

có 824 hộ, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 43,41% và chiếm 7,8% so với đồng bào dân tộc Các địa bàn có đông đồng bào dân tộc sinh sống là xã Định An, Định Hòa, Thủy Liễu và Thới Quản Hầu hết đồng bào dân tộc Khmer có tín ngưỡng đạo phật (hệ phái Nam tông), toàn huyện có 14 chùa Các ngôi chùa Khmer là nơi sinh hoạt tôn giáo, đồng thời cũng là trung tâm sinh hoạt văn hóa truyền thống của đồng bào

Trang 35

Bảng 1.1 Bản thống kê số lượng dân cư và phân bố địa bàn

cư trú của đồng bào Khmer ở huyện Gò Quao (tháng 12/2017)

Ngoài ra còn có 20 hộ, 71 khẩu người Hoa và có 06 hộ, 22 khẩu khác

Ngoài ra còn có 34 hộ, 134 khẩu người Hoa và có 02 hộ, 12 khẩu khác

8 Vĩnh Hòa Hưng

Ngoài ra còn có 8 hộ, 30 khẩu người Hoa

9 Vĩnh Hòa Hưng

Ngoài ra còn có 212 hộ, 801 khẩu người Hoa và có 01 hộ, 03

Trang 36

(Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Gò Quao)

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Đồng bằng sông Cửu Long là nơi tụ cư đông đảo của người Khmer Việt Nam, theo số liệu điều tra năm 1999 dân số người Khmer có hơn một triệu người, chiếm tỷ lệ 6,4% dân số toàn vùng Người Khmer có mặt khá sớm ở Nam Bộ, nhiều ngôi chùa của người Khmer ở Trà Vinh, Sóc Trăng được xây dựng từ bốn, năm thế kỷ về trước Dân tộc Khmer Nam bộ có trên 1,4 triệu người, là thành viên

cư trú lâu đời gắn bó mật thiết trong cộng đồng 54 dân tộc anh em trên dải đất Việt Nam Trong đó, người Khmer ở Kiên Giang có khoảng 210 ngàn người, chiếm trên 13% dân số trong tỉnh, đứng thứ 3 ở khu vực Tây Nam Bộ Cuộc sống của người Khmer gắn liền với nghề canh tác lúa nước và nhiều nghề thủ công Đồng bào Khmer chủ yếu sinh sống tập trung ở khu vực quanh 74 ngôi chùa của 40 xã thuộc

13 huyện thị trong tỉnh xen kẽ với người Kinh, người Hoa

Nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Kiên Giang là tỉnh nằm ở phía Tây Nam của tổ quốc, có 27 thành phần dân tộc cùng sinh sống, tuy nhiên chỉ

có 03 dân tộc có dân số đông là Kinh, Hoa, Khmer Đồng bào dân tộc có truyền thống văn hóa và truyền thống cách mạng với sự đa dạng và phong phú trong đời sống cộng đồng dân cư, với nhiều bản sắc văn hóa khác nhau Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, để tạo điều kiện cho việc phát triển và bảo tồn văn hoá dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách đúng đắn và phù hợp, góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của người dân Riêng ở Kiên Giang, Nhà nước đã quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh, nhất là đối với

người Khmer đã có những ưu đãi rất đặc biệt Bằng chủ trương chính sách và sự

đầu tư cụ thể, trong khoảng 10 năm gần đây, vùng biên giới và vùng đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang nói chung, đồng bào Khmer ở huyện Gò Quao nói riêng đã có những biến đổi quan trọng trên các mặt kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Đời sống của đồng bào Khmer đã được cải thiện một bước đáng kể

Trang 38

Với các chính sách của Đảng, Nhà nước về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Gò Quao như: cất nhà đại đoàn kết, nhà 167, vay vốn chăn nuôi, cung cấp điện, nước hợp vệ sinh môi trường, hỗ trợ chuộc lại đất Qua đó đời sống người dân ngày càng được nâng lên, đã giúp cho đồng bào Khmer có điều kiện phát triển sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa Sự đổi thay trong vùng đồng bào dân tộc Khmer hôm nay đã khẳng định sự quan tâm chăm lo của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển mọi mặt của đồng bào Khmer Đây cũng là động lực giúp bà con thi đua, lao động sản xuất và xây dựng đời sống văn hóa, góp phần tạo thêm công trình, phần việc có ý nghĩa trong phong trào xây dựng nông thôn mới mang lại sự khởi sắc cho làng quê

Trang 39

C hương 2:

ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở HUYỆN GÒ QUAO TỪ

NĂM 1975 ĐẾN NĂM 2017

Trong tiến trình phát triển của một quốc gia đã chứng minh: văn hoá và kinh

tế có sự gắn bó tác động biện chứng với nhau Kinh tế phải đảm bảo cho nhu cầu

sống tối thiểu của con người, sau đó mới đảm bảo điều kiện cho văn hoá phát triển,

kinh tế không thể phát triển nếu không có một nền tảng văn hoá, đồng thời văn hoá không chỉ phản ánh kinh tế mà còn là nhân tố tác động đến phát triển kinh tế Với mối quan hệ đó, sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc chỉ có thể năng động hiệu quả, có tốc độ cao chừng nào quốc gia đó đạt được sự phát triển kết hợp hài hoà

giữa kinh tế với văn hoá Văn hoá mang tính đặc thù của từng quốc gia, từng khu

vực được coi là những di sản quý báu bán tích lũy được qua nhiều thế hệ, mang đậm bản sắc dân tộc Nhưng đồng thời, với quá trình phát triển, kế thừa và giữa gìn bản sắc riêng, nó còn tiếp thu những tinh hoa văn hoá của quốc gia, dân tộc khác, làm cho văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc vừa có tính hiện đại phù hợp với sự phát triển kinh tế trong điều kiện cách khoa học , kỹ thuật, làm cho vai trò của văn hoá trong hoạt động kinh tế càng được nâng cao và thiết thực khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo của con người, đem lại sự phát triển cao với tốc độ cao và hài hoà trong

hoạt động sản xuất – kinh doanh Cũng không nằm ngoài quy luật đó, những đặc

điểm về kinh tế của đồng bào Khmer sẽ là điều kiện vật chất bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, Trong chương 2 này chúng tôi sẽ tập trung phân tích những đặc điểm kinh tế của đồng bào Khmer chủ yếu về các vấn đề như kinh tế nông nghiệp

và các ngành kinh tế khác của đồng bào thiểu số này trong sự phát triển của huyện

Gò Quao, tỉnh Kiên Giang nói riêng, sự phát triển bền vững của đất nước nói chung

Trang 40

2.1 Sản xuất nông nghiệp

2.1.1 Cây lúa

Kinh tế của người Khmer chủ yếu dựa trên việc chuyên canh lúa nước Với người Khmer kinh tế nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực thực phẩm chủ yếu cho đời sống con người, cho chăn nuôi và trao đổi hàng hóa của họ Huyện Gò Quao năm 2017, với tổng diện tích lúa gieo sạ và thu hoạch là 55.139 ha Trong đó, lúa vụ Mùa – Lắp vụ 2017 - 2018: Xuống giống được 1.608,9/2.000 đạt 80,44% kế hoạch; lúa Đông Xuân 2017 - 2018: Xuống giống được 25.142/25.200 ha đạt 99,76% kế hoạch [3;5]

Qua quá trình chung sống với người Việt, đồng bào Khmer dần dần tiếp thu thêm một số kinh nghiệm gieo trồng của nông dân Việt, làm phong phú thêm vốn sản xuất nông nghiệp của mình Trong sản xuất nông nghiệp, họ đã biết phân biệt các loại ruộng đất để gieo trồng, lựa chọn các loại giống thích hợp và tiến hành nhiều biện pháp, kỹ thuật canh tác, thủy lợi…để đem lại hiệu quả trong sản xuất Đối với họ việc phân chia đất đai gieo trồng thành hai loại: ruộng và đất rẫy là nhờ căn cứ và việc gieo trồng cây lúa nước hay hoa màu mà người nông dân Khmer gọi

là đất ruộng hay đất rẫy Ruộng dành để trồng các loại lúa, còn rẫy trồng hoa màu, cây lương thực phụ Ngày nay do sinh sống chung với cộng đồng người Việt nên có nơi cùng mảnh đất đó vụ này trồng lúa nhưng vụ tiếp theo trồng hoa màu hay trồng xen kẻ vừa hoa màu vừa lúa Đất canh tác nông nghiệp của người Khmer tương đối

cố định giống như đất vườn, đất rẫy của người Việt, đất rẫy của họ ở quanh phum sóc, gần nơi cư trú để tiện chăm sóc cây trồng Còn đất ruộng theo phong tục trước đây thì người Khmer chia đất canh tác nông nghiệp của mình thành các loại chủ yếu sau đây: Ruộng gò - loại ruộng này nằm trên các vùng đất cao hoặc ven các giồng, độ cao so với mặt bằng bên dưới từ 1-1,5 m Ruộng gò chỉ thích hợp với các giống lúa ngắn ngày, chịu hạn và thường chỉ gieo cấy một năm một vụ vào thời gian có mưa; Ruộng thấp - đây là loại ruộng tương đối phổ biến ở vùng nông thôn

Ngày đăng: 01/08/2021, 12:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anonyme (1921), Dân tộc học Đông Dương, Tạp chí Viễn Đông Bắc Cổ, Tập XXI, tr. 167-197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học Đông Dương
Tác giả: Anonyme
Năm: 1921
2. Phan An (2009), “Dân tộc Khmer Nam Bộ”, Nxb Chính Trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Khmer Nam Bộ
Tác giả: Phan An
Nhà XB: Nxb Chính Trị quốc gia
Năm: 2009
4. Nguyễn Khắc Cảnh (2000) Sự hình thành cộng đồng người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, In trong Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành cộng đồng người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, "In trong "Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
5. Nguyễn Khắc Cảnh (2000), “Quá trình hình thành tộc người của người Khmer từ thế kỷ VI đến thể kỷ XIII”, Bđd, tr. 206 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hình thành tộc người của người Khmer từ thế kỷ VI đến thể kỷ XIII
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Năm: 2000
7. Chính phủ (2011), Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về Công tác dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về Công tác dân tộc
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
9. Trần Văn Bổn (1999), Một số lễ tục dân gian người Khmer đồng bằng Sông Cửu Long, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số lễ tục dân gian người Khmer đồng bằng Sông Cửu Long
Tác giả: Trần Văn Bổn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1999
10. Nguyễn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khmer Nam Bộ - Những vấn đề nhìn lại, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo Khmer Nam Bộ - Những vấn đề nhìn lại
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2008
12. Phan Hữu Dật (1964), Các dân tộc Môn-Khơme ở miền Nam Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc Môn-Khơme ở miền Nam Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1964
13. Trần Trí Dõi (2000), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
14. Khổng Diễn (1995), “Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1995
15. Nguyễn Đăng Duy (1997), Văn hóa tâm linh Nam Bộ, Nxb Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 1997
16. Nguyễn Đăng Duy (2004), Nhận diện các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2004
17. Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định thành thông chí, bản dịch Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định thành thông chí
Tác giả: Trịnh Hoài Đức
Nhà XB: bản dịch Sài Gòn
Năm: 1972
20. Nhiều tác giả (1988), “Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ”, Nxb Tổng hợp, Hậu Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 1988
22. Đoàn Thanh Nô (2002), “Người Khmer ở Kiên Giang ”, Nxb văn hóa Dân tộc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Khmer ở Kiên Giang
Tác giả: Đoàn Thanh Nô
Nhà XB: Nxb văn hóa Dân tộc Hà Nội
Năm: 2002
23. Mi Sêl Tra Nê (2007), “Nguồn gốc văn hóa Khmer”, Nxb Campuchia 24. Hoàng Nam (2013), “Tổng quan văn hóa truyền thống các dân tộc Việt Nam”, Quyển 1, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc văn hóa Khmer"”, Nxb Campuchia 24. Hoàng Nam (2013), “Tổng quan văn hóa truyền thống các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Mi Sêl Tra Nê (2007), “Nguồn gốc văn hóa Khmer”, Nxb Campuchia 24. Hoàng Nam
Nhà XB: Nxb Campuchia 24. Hoàng Nam (2013)
Năm: 2013
25. Phạm Thị Phương Hạnh (2013), “Văn hóa khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Phương Hạnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
26. Phạm Minh Hạc (2005), Một số vấn đề về GD và khoa học GD. NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về GD và khoa học GD
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2005
27. Lê Minh Hải (2013), “Triết lý nhân sinh của Phật giáo Nam Tông và ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần của cộng đồng người Khmer ở kiên Giang”. Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý nhân sinh của Phật giáo Nam Tông và ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần của cộng đồng người Khmer ở kiên Giang
Tác giả: Lê Minh Hải
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ
Năm: 2013
28. Sơn Phước Hoan (1998), “Các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ
Tác giả: Sơn Phước Hoan
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w