Ngoài ra, còn có một số dân tộc thiểu số khác ở phía bắc mới di cư vào không lâu và số lượng cũng không nhiều như Mường, Thổ, Tày, Nùng,… Người Ma Coong là một nhóm địa phương của người
Trang 11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ THU THƠM
ĐỜI SỐNG KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA NGƯỜI MA COONG Ở HUYỆN BỐ TRẠCH (QUẢNG BÌNH) TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 2016
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số : 602.203.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS MAI PHƯƠNG NGỌC
NGHỆ AN- 2017
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực Những luận
điểm mà luận văn kế thừa của những tác giả đi trước đều có nguồn gốc, xuất xứ
rõ ràng Nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Nghệ An, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Võ Thị Thu Thơm
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử trường Đại học Vinh đã giảng dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành chương trình học tập và tận tình giúp đỡ giúp tôi thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban dân tộc Miền núi tỉnh Quảng Bình, thư viện tỉnh Quảng Bình, các cán bộ, chiến sĩ đồn biên phòng Cồn Roàng và đồn biên phòng Cà Roòng đóng chân trên địa bàn xã Thượng Trạch; UBND xã Thượng Trạch, UBND xã Tân Trạch, Phòng văn hoá, UBND huyện Bố Trạch đã giúp đỡ tôi thu thập thông tin, tư liệu liên quan đến luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các già làng, trưởng bản và các cán bộ ủy ban mặt trận, hội nông dân, hội phụ nữ xã Thượng Trạch và Tân Trạch đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình đi khảo sát, điền dã phục vụ cho luận văn
Và tôi cũng xin gửi lời biết ơn tới những người thân trong gia đình, tới những người bạn luôn động viên, khích lệ và sát cánh bên tôi trong suốt quá trình điền dã và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó!
Nghệ An, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Võ Thị Thu Thơm
Trang 4iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi địa bàn nghiên cứu 7
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 9
5.1 Nguồn tư liệu 9
5.2 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MA COONG Ở HUYỆN BỐ TRẠCH TRƯỚC NĂM 1975 13
1.1 Khái quát về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên của huyện Bố Trạch 13
1.1.1 Vị trí địa lý 13
1.1.2 Điều kiện tự nhiên Error! Bookmark not defined.4 1.2 Quá trình hình thành và phát triển của người Ma Coong ở huyện Bố Trạch trước năm 1975 16
1.2.1 Quá trình định cư của người Ma Coong ở huyện Bố Trạch 16
1.2.2 Vài nét về đời sống của cộng đồng người Ma Coong trước năm 1975 22
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MACOONG TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 2016 28
2.1 Diện tích đất canh tác 28
2.2 Hoạt động nông nghiệp 31
Trang 5iv
2.2.1 Săn bắt và hái lượm 31
2.2.2 Trồng trọt và chăn nuôi 36
2.3 Khai thác tài nguyên 50
2.3.1 Khai thác lâm thổ sản51 52
2.3.2 Đánh bắt cá 59
2.4 Trao đổi, mua bán 61
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MACOONG TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 2016 67
3.1 Đời sống văn hóa vật chất 67
3.1.1 Trang phục 68
3.1.2 Nhà cửa 69
3.1.3 Tập quán sinh hoạt ăn uống 71
3.1.4 Phương tiện đi lại 76
3.2 Đời sống văn hóa tinh thần 78
3.2.1 Tín ngưỡng 78
3.2.2 Phong tục tập quán 86
3.2.3 Sinh hoạt văn hóa cộng đồng 91
3.3 Đời sống xã hội 100
3.3.1 Tổ chức xã hội của người Ma Coong 100
3.3.2.Gia đình 102
3.3.3 Giáo dục – y tế 102
3.3.4 Công tác giảm nghèo và chính sách an sinh xã hội 106
Tiểu kết chương 3 111
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 126
Trang 6v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CSDT: Chính sách dân tộc
ĐBDTTS: Đồng bào dân tộc thiểu số
TNTN: Tài nguyên thiên nhiên
TW: Trung ương
TNCSHCM: Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Nxb: Nhà xuất bản
LHPN: Liên hiệp phụ nữ
UBND: Ủy ban nhân dân
VQG: Vườn quốc gia
VSAT: Trạm thông tin vệ tinh mặt đất cỡ nhỏ
Trang 72016 48 Bảng 2.3 Khai thác và sử dụng lâm thổ sản theo mùa của đồng bào Ma Coong 52 Bảng 2.4 Một số loài lâm sản ngoài gỗ được đồng bào Ma Coong khai thác, sử dụng thường xuyên 53 Bảng 2.5 Kinh nghiệm khai thác cây thuốc của người Ma Coong 61 Bảng 3.1: Tình hình phát triển lớp và số lượng học sinh (2007 - 2012) trường
Dân tộc nội trú xã Thượng Trạch 104
Sơ đồ:
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức trong thiết chế xã hội truyền thống ở cộng đồng người
Ma Coong 101
Trang 8có vị trí rất quan trọng trong đời sống tinh thần, cố kết cộng đồng bền vững của
54 dân tộc, góp phần tạo nên nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng
Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta khẳng định việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số là một trong những nhiệm vụ quan trọng của xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Xây dựng nền văn hóa mới cũng là quá trình xây dựng nền tảng tinh thần xã hội phù hợp với thời đại mới, xu thế mới; đảm bảo để văn hóa trở thành mục tiêu, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo sự cân đối, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay
Văn hóa có tầm quan trọng to lớn, nhưng trong cơ chế thị trường và quá trình hội nhập hiện nay, văn hóa các tộc người thiểu số trên đất nước ta nói chung và miền núi Quảng Bình nói riêng đang chịu một quá trình biến đổi về nhiều mặt Làm thế nào để vừa phát triển kinh tế vùng đồng bào các tộc người thiểu số Quảng Bình hiện nay, vừa bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống theo
xu hướng hội nhập tích cực, hội nhập hợp lý là một vấn đề đặt ra hết sức cấp bách trong chiến lược phát triển xã hội bền vững Vì vậy, việc nghiên cứu đời sống văn hóa các tộc người thiểu số Quảng Bình và định hướng bảo tồn, phát
Trang 92 huy giá trị của nó trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra hết sức cấp thiết Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách xã hội thấy được những xu hướng biến đổi văn hóa và điều chỉnh sự biến đổi đó mang ý nghĩa tích cực, phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại
Quảng Bình là một tỉnh đa tộc người, ngoài người Việt, bao gồm cả nhóm Nguồn, chiếm hơn 97% dân số, phân bố ở các vùng đồng bằng, vùng ven biển, trung du và miền núi, còn nhiều dân tộc thiểu số cư trú ở vùng miền núi với 19.871 người, chiếm khoảng 2,3% dân số toàn tỉnh Các dân tộc thiểu số ở Quảng Bình bao gồm dân tộc Bru - Vân Kiều với các nhóm Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong và dân tộc Chứt bao gồm các nhóm, Sách, Mày, Rục, Arem,
Mã Liềng Ngoài ra, còn có một số dân tộc thiểu số khác ở phía bắc mới di cư vào không lâu và số lượng cũng không nhiều như Mường, Thổ, Tày, Nùng,…
Người Ma Coong là một nhóm địa phương của người Bru-Vân Kiều, cư trú chủ yếu tại 19 bản làng dọc biên giới Việt – Lào thuộc hai xã Thượng Trạch
và Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Cùng với các tộc người thuộc khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng ở huyện Bố Trạch, bộ phận người Ma Coong đã góp phần làm nên bản sắc văn hóa phong phú, đa dạng
Có thể nói, đã có nhiều bài viết, ấn phẩm của nhiều tác giả nước ngoài cũng như trong nước đề cập đến dân tộc Bru-Vân Kiều dưới nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, những nghiên cứu về người Ma Coong - một trong những nhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều - lại rất hiếm thấy Rõ ràng, đây vẫn là một khoảng trống nghiên cứu về người Ma Coong nói chung
Nghiên cứu những chuyển biến trong đời sống kinh tế, văn hóa của tộc người Ma Coong không chỉ giúp chúng ta hiểu thêm về phong tục tập quán của một cộng đồng tộc người thiểu số ở miền Tây huyện Bố Trạch, mà còn giúp các
cơ quan chức năng có cái nhìn toàn diện về đời sống của tộc người này Từ đó có những chính sách hợp lý để khôi phục, bảo tồn cũng như phát huy những giá trị
Trang 103 văn hóa đặc sắc của người Ma Coong, đồng thời tìm ra những chính sách phát triển kinh tế và nâng cao mức sống cho người Ma Coong
Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề: “Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình từ năm 1975 đến năm 2016” để làm đề tài luận văn Chúng tôi hy vọng kết quả thu được sẽ góp phần vào việc lưu giữ, phát huy những giá trị truyền thống văn hóa của tộc người Ma Coong trong cộng đồng dân tộc Bru – Vân Kiều nói riêng và 54 dân tộc Việt Nam nói chung
ít hay nhiều đến dân tộc Bru-Vân Kiều Có thể kể một số cuốn sách như: Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam của Vương Hoàng Tuyên (1963) [46]; Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ của Mạc Đường (1963) [23]; Các dân tộc Môn-Khơme ở miền Bắc Việt Nam của Phan Hữu Dật (1964) [16] Trong các tài liệu này, các tác giả đã đề cập đến nguồn gốc, di cư và sự hình thành của một số dân tộc, trong đó có các nhóm địa phương của dân tộc Bru - Vân Kiều; tuy nhiên, mới chỉ có các giả thuyết, mà chưa có những khẳng định chắc chắn về các vấn đề được nêu
Năm 1975, đất nước được hoàn toàn giải phóng, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, trong đó có dân tộc Bru-Vân Kiều Chính vì vậy, sau mốc thời gian này, tình hình nghiên cứu về người Bru-Vân Kiều đã có những bước tiến đáng ghi nhận cả về số lượng và chất lượng
Có thể kể đến Ngô Đức Thịnh với nghiên cứu Mối quan hệ tộc người của các
Trang 114 nhóm Bru ở Bình Trị Thiên (1975) [50] Như tiêu đề của bài viết, qua các tài liệu thu thập được kết hợp với nghiên cứu thực địa, tác giả đã đi sâu nghiên cứu những mối quan hệ của tộc người này và đã chỉ ra các cách gọi “Bru” Theo tác giả, người Bru bao gồm nhiều nhóm khác nhau, được phân biệt trước tiên ở tên gọi như Bru Ma Coong, Bru Trì, Bru Khùa [50, tr.53] Bên cạnh đó, cách gọi khác của người Bru cũng khá phức tạp và chồng chéo nhau Ví dụ như Bru Trì được người Việt gọi là Ca Lơ (Ka Lơ), Leung, Mọi
Cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện Dân tộc học (1978) [75] đã dành 14 trang để viết về người Bru, trong đó có đề cập đến sự hình thành tộc người Bru ở Việt Nam Theo đó, người Bru được cho rằng xưa kia đã từng sinh tụ ở miền Trung Lào Sau nhiều biến động của lịch sử diễn
ra hàng thế kỷ, họ phải di cư theo nhiều hướng Một bộ phận có lẽ được mang tên là Trì, đi về hướng Đông và tụ cư ở miền Tây Quảng Trị, Việt Nam Họ dừng lại ở khu vực xung quanh hòn núi Vân Kiều (còn gọi là Viên Kiều) Về sau, người ta lấy tên của hòn núi đặt cho một tổng của họ; do đó, đồng bào thường được gọi là người Vân Kiều [75, tr.126] Một nhóm khác là Bru Ma Coong cũng từ Lào di cư sang, nhưng muộn hơn nhóm Bru Vân Kiều hiện đang sống ở các xã Tân Trạch, Thượng Trạch thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày nay Cuốn sách cũng đề cập đến ngôn ngữ và so sánh các mối quan
hệ giữa các nhóm, nhưng mới chỉ dừng lại ở một số ví dụ Ngoài ra, các phong tục tập quán, tín ngưỡng, nhà ở của tộc người này cũng được bàn đến nhiều Tuy nhiên, các thông tin có liên quan được nêu ra mới chỉ tập trung vào nhóm Bru thứ nhất, đó là nhóm Bru Vân Kiều (theo cách chia của nhóm tác giả trong cuốn sách ấy), còn nhóm Bru thứ hai (Bru Ma Coong) thì chưa được bàn luận hoặc nếu có, cũng rất ít Như vậy, bên cạnh những nét tương đồng trong một số phong tục tập quán của các nhóm Bru nói chung, người Ma Coong cũng có những khác biệt chưa được đề cập trong cuốn sách này
Trang 125 Trong khoảng thời gian 1995 - 1998, đã có rất nhiều bài viết về một số phong tục tập quán liên quan đến chu kỳ vòng đời của người Bru: hôn nhân, tập tục sinh đẻ, tang ma Đó là các bài viết như Hôn nhân và gia đình của người Bru-Vân Kiều ở miền Tây Quảng Trị của Hồ Xuân Linh [42]; Hôn nhân - gia đình - ma chay của người Tà Ôi, Cơ-Tu, Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị - Thừa Thiên của Lê Phạm Minh Quý [47]; Tập tục sinh đẻ và nuôi con ở người Bru-Vân Kiều huyện Hướng Hóa, Quảng Trị của Vũ Đình Lợi [41]; Những hình thức tang lễ của người Bru-Vân Kiều của Hồ Chư [13] Điểm đáng chú ý là các công trình, bài viết vừa kể trên chứa đựng nguồn tư liệu thực địa phong phú, công phu Điều đó cũng dễ hiểu bởi một số công trình, khóa luận tốt nghiệp do tác giả là người địa phương thực hiện Tuy nhiên, các bài viết ấy đều giống nhau
về cách tiếp cận: chủ yếu theo lối khảo tả, hầu như không phân tích; càng hiếm
có những nghiên cứu so sánh giữa các nhóm địa phương, cho dù là các nhóm ấy thuộc một dân tộc Nếu có sự diễn giải và so sánh, chắc sẽ chỉ ra những điểm riêng và khác biệt rõ hơn giữa các nhóm địa phương của tộc người Bru-Vân Kiều
Liên quan trực tiếp đến nghiên cứu người Ma Coong, đáng chú ý nhất là một số bài viết của tác giả Nguyễn Văn Trung đăng trên một số tạp chí chuyên
ngành trong thời gian gần đây Cụ thể là các ấn phẩm: Lễ hội Đập Trống của người Ma Coong” [34], Tạp chí Văn hóa Nghệ Thuật, Số 311, Tr 35 - 3; “Yếu tố tâm linh trong đời sống người Ma Coong”, Tạp chí Văn hóa Nghệ Thuật, Số
315, Tr 85 -88 [35] ; Có thể nói, đây là những bài viết và luận văn thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu về người Ma Coong Trong đó, tác giả đã giới thiệu một số phong tục tập quán, đời sống vật chất và tâm linh của người Ma Coong
Đặc biệt, tác giả thực hiện luận văn này cũng đã có công trình luận văn đại học nghiên cứu về Lễ hội đập trống của người Ma Coong ở xã Thượng Trạch [54] Ở tác phẩm này chủ yếu mô tả diễn biến của lễ hội đập trống Thông
Trang 136 qua lễ hội ấy, tác giả đã chỉ ra một số vấn đề như nét độc đáo trong lễ hội, trống thể hiện bản sắc văn hóa tộc người và như là một biểu tượng cố kết cộng đồng, một số vấn đề đặt ra trong bối cạnh hiện nay đối với lễ hội của người Ma Coong Tuy nhiên, các bài viết cũng như luận văn vừa đề cập cũng chỉ dừng lại
ở mức độ khảo tả về văn hóa của người Ma Coong, chưa có điều kiện tập trung phân tích, đánh giá, hay so sánh với tộc người khác để thấy được nét tương đồng
và khác biệt trong đời sống văn hóa - xã hội của đồng bào Ma Coong
Tóm lại, đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về dân tộc Bru-Vân Kiều, trong đó có người Ma Coong, của nhiều tác giả trong và ngoài nước Những nghiên cứu ấy đã đề cập đến khá nhiều khía cạnh Song, vẫn chưa
có một nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống về đời sống vật chất và tinh thần của người Ma Coong Mặc dù vậy, những công trình nghiên cứu vừa kể trên cũng cung cấp nguồn thông tin và tư liệu quý, làm nền tảng cho nghiên cứu sâu hơn về cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Trong các công trình nghiên cứu về dân tộc Bru-Vân Kiều, trong đó có người Ma Coong, nhiều tác giả mới chỉ đề cập rất sơ lược và đôi khi còn nhầm lẫn giữa người Ma Coong với nhóm người khác Thậm chí, có những đánh giá
và những con số (về dân cư, địa bàn cư trú ) chưa chính xác về họ, chẳng hạn như trong các nghiên cứu về Mối quan hệ tộc người của các nhóm Bru ở Bình Trị Thiên của Ngô Đức Thịnh (1975) [50, tr.55]; Chân dung các tộc người thiểu
số miền tây Quảng Bình của Nguyễn Hữu Thông và cộng sự (2007) [52, tr.20] Như đã trình bày, nguyên nhân có lẽ do người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xưa nay cư trú tương đối lẩn khuất, biệt lập, xa xôi và khó có thể tiếp cận nên có ít nghiên cứu về nhóm người ấy
Do đó, với việc nghiên cứu đề tài: “Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người Ma Coong ở huyện Bố Trạch (Quảng Bình) từ năm 1975 đến năm 2016”, chúng tôi muốn khái quát nên một bức tranh toàn diện nhất về các mặt
Trang 147 kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là có những thông tin được cập nhật mang tính thời sự hàng ngày Đề tài của chúng tôi cũng sẽ tìm ra những kết luận chung nhất trên cơ sở phân tích, so sánh, đối chiếu các quan điểm từ những nhà nghiên cứu trước và kết quả điền dã mà chúng tôi thu được, để làm sáng tỏ những nét kinh tế và đặc trưng văn hóa của tộc người thiểu số Ma Coong ở huyện Bố Trạch (Quảng Bình) Tuy phạm vi đề tài nhỏ chỉ bó hẹp trong phạm vi một huyện, nhưng đây là một đề tài hoàn toàn mới Hy vọng, đề tài này sẽ góp ít nhiều về mặt khoa học cũng như về mặt thực tiễn trong việc tìm hiểu đời sống kinh tế, văn hóa của người Ma Coong trên địa bàn huyện Bố Trạch
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thực hiện đề tài luận văn này nhằm những mục tiêu sau:
Làm rõ nguồn gốc, quá trình hình thành và những nét cơ bản trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch
- tỉnh Quảng Bình Chỉ ra những điều bất cập cần khắc phục nhằm ổn định và cải thiện đời sống cho đồng bào Ma Coong trên địa bàn hai xã Tân Trạch và Thượng Trạch ở huyện Bố Trạch- tỉnh Quảng Bình, thông qua đó góp phần vào công tác bảo tồn và phát triển bền vững cộng đồng tộc người Ma Coong trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người Ma Coong ở huyện Bố Trạch (Quảng Bình)
4.2 Phạm vi địa bàn nghiên cứu
- Giới hạn về không gian:
Phạm vi địa bàn nghiên cứu được chọn chủ yếu là hai xã Thượng Trạch
và Tân Trạch thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Sở dĩ có sự lựa chọn địa bàn nghiên cứu như trên do không gian cư trú của tộc người Ma Coong ở huyện
Trang 158
Bố Trạch chỉ tập trung ở hai xã Tân Trạch và Thượng Trạch, ngoài ra các địa phương khác không có sự cư trú của đồng bào Ma Coong Qua quá trình khảo sát về dân số tại huyện Bố Trạch, chúng tôi cũng đã tìm hiểu về việc chuyển địa bàn cư trú liên quan đến mối quan hệ hôn nhân, học tập và hoạt động kinh tế Nhưng xét về mối quan hệ hôn nhân không xảy ra bất cứ trường hợp nào chuyển địa bàn sinh sống tới các địa phương khác, bởi theo tập tục của người Ma Coong
là ở rể, đồng nghĩa với việc những đối tượng kết hôn với người Ma Coong đều
có sự thay đổi nơi ở từ địa phương mình sinh sống lên với đồng bào Ma Coong
Về phương diện thay đổi nơi ở do yếu tố học tập và hoạt động kinh tế chỉ diễn ra
ở hình thức tạm trú, tạm vắng
- Giới hạn về thời gian:
Đề tài tập trung nghiên cứu những chuyển biến về đời sống kinh tế và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa, xã hội của người Ma Coong từ năm 1975 đến năm 2016 Những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài Sở dĩ có sự lựa chọn phạm vi thời gian như vậy là ngay sau ngày giải phóng (3-1975), xác định công tác dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, lãnh đạo tỉnh Quảng Bình đã chú trọng và quan tâm đến chính sách dân tộc, triển khai nghị quyết, nhiều chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của TW và của tỉnh được thực hiện nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa các dân tộc, giữa các khu vực dân cư Ở huyện Bố Trạch, chính sách dân tộc được thực hiện khá toàn diện, với nguồn lực thực hiện lớn, đã tác động trực tiếp đến đời sống kinh
tế - xã hội của người Ma Coong thuộc địa bàn hai xã miền núi rẻo cao của huyện
là Tân Trạch và Thượng Trạch Do đó, từ năm 1975 đến nay, nhất là gần đây khi
cơ chế thị trường ngày càng thâm nhập và phát triển ở nhiều vùng miền cùng với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người
Ma Coong có những biến đổi khá rõ rệt Chúng tôi chọn mốc thời gian kết thúc
đề tài nghiên cứu ở năm 2016 vì liên quan đến quá trình điền dã tại địa bàn sinh
Trang 169
sống của người Ma Coong kết thúc vào tháng 12 năm 2016, đồng thời liên quan đến việc thu thập các số liệu, tổng hợp báo cáo kết quả phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Ma Coong được các ban, ngành thực hiện đến tháng 12 năm 2016
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
- Tư liệu lưu trữ:
+ Các tài liệu do UBND tỉnh Quảng Bình; Cục Thống kê; Ban Tôn giáo, Dân tộc; Ban Dân tộc miền núi tỉnh Quảng Bình, Bảo tàng Quảng Bình, sở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Bình xuất bản; Các tài liệu do UBND, Ban Dân vận, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, phòng Văn hóa thông tin huyện Bố Trạch, UBND xã Thượng Trạch, Tân Trạch … xuất bản, các bản báo cáo công tác dân tộc, báo cáo tổng kết, các bảng thống kê, các Nghị quyết chỉ thị của các phòng ban thuộc UBND huyện, Huyện ủy Bố Trạch và UBND xã Thượng Trạch, Tân Trạch
- Tư liệu nghiên cứu:
Luận văn tham khảo nhiều công trình nghiên cứu về sử học và dân tộc học
như: “Đại Nam nhất thống chí”, phần Tỉnh Quảng Bình của Quốc sử quán triều Nguyễn (1999); R.L.Cadièrre, “Lịch sử địa danh Quảng Bình”, bản dịch tại Thư viện tỉnh Quảng Bình.;R.L Cadiere “ Những thung lũng cao ở sông Gianh” và
“Cuộc sống trong những đồn bốt nhỏ ở Quảng Bình”; GS.TS Phan Hữu Dật; Trần Trí Dõi: “Thực trạng kinh tế và văn hóa của ba nhóm tộc người đang có nguy cơ bị biến mất”; Bế Viết Đẳng: “ Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi”; Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Quảng Bình (2002), Phong Nha - Kẻ Bàng “Hoa trên đá núi - Chân dung các dân tộc thiểu số miền Tây Quảng Bình” của Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Khắc Thái (2007), “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” (các tỉnh phía Bắc), “ Dân số các
Trang 1710
dân tộc ít người ở Việt Nam”, “ Bản sắc văn hóa các dân tộc”,“ Giữ gìn và bảo
vệ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam” v.v Nhiều bài viết trên các tạp chí: Tạp chí Dân tộc học, số 6; “Sự hình thành và phát triển làng xã Quảng Bình trước 1945”, Tạp chí Dân tộc học, số 5 của Nguyễn Thế Hoàn (2002);
“Dấu ấn văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số Quảng Bình”, Tạp chí Khoa
học xã hội miền Trung, số 3/2008 của Nguyễn Văn Mạnh (2008) v.v
- Tư liệu điền dã:
+ Tư liệu hiện vật: Bao gồm nhà cửa, các vật dụng gia đình, các công cụ lao động, tranh ảnh sưu tầm, tự chụp của người Ma Coong tại địa phương Nguồn tư liệu chính của luận văn cũng được dựa trên các tài liệu, tư liệu điền dã dân tộc học mà tác giả đã trực tiếp thu thập nhiều năm, qua nhiều đợt đi thực địa tại các địa bàn sinh sống của người Ma Coong ở hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
+ Tư liệu truyền miệng, phỏng vấn: Tác giả đã trực tiếp gặp gỡ, phỏng vấn với các già làng, trưởng bản, những người có kinh nghiệm là người Ma Coong, các đồng chí bộ đội biên phòng, giáo viên đang cắm bản giúp đỡ đồng bào Ma Coong hòa nhập với cuộc sống
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic Ngoài ra, tác giả đã vận dụng phương pháp tiếp cận liên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn như các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, phương pháp chuyên gia, phương pháp khảo sát thực tế, phỏng vấn …
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về nguồn gốc, quá trình phát triển, xác định tộc danh cũng như những biến đổi trong đời sống kinh
tế, văn hóa, xã hội của tộc người Ma Coong ở hai xã Tân Trạch và Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Trang 1811 Luận văn làm rõ diện mạo văn hóa, lịch sử, thiết chế xã hội, phác họa nên một bức tranh phong phú về cộng đồng người Ma Coong và giúp ích cho việc hiểu biết thêm về dân tộc Bru- Vân Kiều ở nước ta
Kết quả nghiên cứu của luận văn còn là một tài liệu có ích, cung cấp những luận cứ khoa học, làm cơ sở cho các nhà quản lý và các nhà hoạch định chinh sách để tìm ra những giải pháp quản lý xã hội sao cho hợp lý và hiệu quả hơn đối với cộng đồng người Ma Coong ở vùng biên giới Việt – Lào cũng như các dân tộc thiểu số khác, xây dựng chiến lược và sách lược phát triển về kinh
tế, văn hóa và xã hội, an ninh quốc phòng cho các dân tộc ít người ở vùng miền núi phía Tây Quảng Bình nói chung và tộc người thiểu số Ma Coong nói riêng
Luận văn là nguồn tư liệu quan trọng giúp ích cho việc biên soạn, nghiên cứu và giảng dạy lịch sử tại địa phương ở các trường Trung học, Cao đẳng và Đại học Ngoài ra còn có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, tình cảm trân trọng và biết giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của tộc người trong tầng lớp nhân dân huyện Bố Trạch nói riêng và tỉnh Quảng Bình nói chung
Luận văn còn là tư liệu quý cho các nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộc học, văn hóa, các nhà quản lý chính quyền địa phương trong việc tìm hiểu nguồn gốc,
sự phát triển kinh tế, truyền thống văn hóa để từ đó hoạch định chính sách định
cư, xây dựng phong trào toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hóa, an ninh quốc phòng cho tộc người thiểu số Ma Coong trong thành phần dân tộc Bru- Vân kiều và cho cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Quảng Bình
Trang 1912
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương chính:
Chương 1 Khái lược về cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch
trước năm 1975
Chương 2 Đời sống kinh tế của cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố
Trạch từ năm 1975 đến năm 2016
Chương 3 Đời sống văn hóa, xã hội của cộng đồng người Ma Coong ở
huyện Bố Trạch từ năm 1975 đến năm 2016
Trang 2013
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MA COONG Ở HUYỆN
BỐ TRẠCH TRƯỚC NĂM 1975
1.1 Khái quát về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên của huyện Bố Trạch
1.1.1 Vị trí địa lý
Bố Trạch là một trong 6 huyện của tỉnh Quảng Bình Theo trục quốc lộ 1
từ Bắc vào Nam, Bố trạch có thể được coi là cửa ngõ phía Nam của tỉnh Quảng Bình Vùng đất này phía Bắc giáp huyện Tuyên Hóa và huyện Quảng Trạch, phía Tây Bắc giáp huyện Minh Hóa, phía Đông Nam giáp Thành phố Đồng Hới, phía Nam giáp huyện Quảng Ninh, phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Khăm Muộn thuộc Lào
Xã Thượng Trạch là khu vực địa lý hành chính thuộc huyện Bố Trạch, là vùng núi thuộc Bắc Trường Sơn hiểm trở, có độ cao trung bình 700 - 800m so với mặt nước biển, với tọa độ 17042’ đến 170 50' vĩ độ Bắc Xã Thượng Trạch
nằm ở km 39, đường 20 - Quyết Thắng, nằm lọt thỏm trong những cánh rừng
già phía Tây dãy Trường Sơn hùng vĩ Địa bàn cư trú của người Ma Coong là một vùng đất nằm về phía Tây Bắc của Trung Trung Bộ Việt Nam, có dãy Hoành Sơn giăng ngang ở phía Tây Bắc, núi Trường Sơn vây kín phía Tây Nam, vùng đồi bán sơn địa khép lại ở phía Đông
Nơi người Arem và Ma Coong sinh sống thường là những thung lũng nằm tít sâu trong rừng Trường Sơn, giáp với biên giới nước Lào Nơi thâm sơn chỉ có một màu xanh thăm thẳm của đại ngàn núi rừng, con đường 20 huyền thoại nối liền trung tâm huyện Bố Trạch tới Tây Trường Sơn rồi chạy tuột sang biên giới nước Lào
Như vậy, về vị trí địa lý, nơi ở của người Ma Coong thuộc vùng heo hút cồn mây cùng núi đèo xa xôi Đây là một nhóm người thuộc dân tộc Bru - Vân
Trang 2114
Kiều mà có lẽ ít được nhắc đến và ít tiếp cận với văn minh miền xuôi nhất trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Để đến với tộc người này, phải vượt đường
20 - Quyết Thắng, dài 125km, trong đó có 41km vượt núi đá vôi lởm chởm
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
* Địa hình, thổ nhưỡng
Khu vực Phong Nha và vùng phụ cận phía Tây Quảng Bình thuộc vùng miền núi nằm dọc triền Đông của dãy Trường Sơn nên địa hình khá hiểm trở Núi ở đây nghiêng dần theo hướng Tây - Đông và có độ dốc không đều nhau Quá trình Catto ở đây đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, khắp vùng có
những phễu Catto, giếng Catto làm cho “rừng núi, muôn hố, ngoắt nghéo âm u” [52, Tr 9] Vì thế các dòng chảy ở đây bị đứt quảng, có nghĩa là những dòng
suối đang chảy lại biến mất và lại ló ra ở một nơi khác tạo nên những mạch nước ngầm (đồng bào quen gọi rục nước) và cũng vì địa hình Karst hoạt động mạnh nên ở đây đã hình thành nhiều hang động
Địa bàn cư trú của tộc người Macoong là nơi có địa hình hiểm trở với sự hiện diện xen kẽ liên tiếp các ngọn núi, tạo thành những dãy núi lớn, xâm chiếm không gian Vùng cư trú là sự tận dụng các khoảng lòng chảo khá hiếm hoi hoặc
tương đối bằng phẳng kẹp giữa hai dãy núi mà đồng bào quen gọi là “hung”
Các hung núi đều do tác dụng xói mòn của nước mưa và khí hậu qua các thời đại cấu thành
Do các cuộc kiến tạo địa tầng phức tạp nên đất đai ở đây có nhiều loại khác nhau, thích nghi với từng loại đất trồng có giá trị như đất feralit vàng, nâu phát triển trên đá granit Loại đất này chiếm một diện tích rất lớn thích nghi với các loại cây công nghiệp như: chè, hồ tiêu, đậu, thuốc lá, vừng, dâu tằm Ở đây còn có loại đất nâu thẫm phát triển trên đá paragna hay đá phiến thạch Loại đất này thường thấy ở các sườn đồi, thích hợp cho việc gieo lúa, trồng hoa màu như khoai, sắn Hầu hết nương rẫy để trồng lúa và hoa màu của đồng bào đều được
Trang 2215 khai thác trên những đồi núi có loại đất này Ngoài ra, ở đây còn có đất dốc tụ rất thích hợp cho việc phát triển lúa nước, ngô, mía Đất dốc tụ do quá trình trầm tích đá vôi tạo thành và thường là những khoảng ruộng bậc thang ở các thung lũng
Như vậy, đất ở vùng này có nhiều loại, nhiều tầng canh tác, cho phép chúng ta phát triển một nền nông nghiệp toàn diện gồm nhiều loại cây trồng và vật nuôi Ngoài ra đất trồng và địa hình ở đây còn là điều kiện thuận lợi cho các
hệ động thực vật phát triển phong phú và đa dạng về cả số lượng và chủng loại
* Khí hậu
Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng và vùng phụ cận có khí hậu nóng ẩm và chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa nắng Mùa khô nóng diễn ra từ tháng 3 đến tháng 8 và trùng với gió mùa Đông Nam Số giờ nắng bình quân hàng ngày là 6,4 giờ, ngày nắng nhiều nhất đạt 9,9 giờ Nắng gay gắt nhất diễn ra từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm Mùa này ít mưa, nhưng tháng 5, tháng 6 thỉnh thoảng có những trận mưa giông Nhiệt độ bắt đầu lên cao từ tháng 3 và lên cao nhất ở các tháng 6, 7 Từ nửa tháng 7 trở đi, gió thổi nóng, khô và rất dữ dội Người ta gọi là gió lào Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 năm trước đến tháng Giêng hoặc tháng 2 năm sau và kéo theo gió mùa Đông Bắc Loại gió này có khi rất mạnh và thường mang theo không khí lạnh, mưa dầm nhất là từ tháng Chạp trở đi Mưa nhiều nhất
từ tháng 9, 10, 11 Trong 3 tháng này lượng mưa nhiều gần gấp đôi lượng mưa của những tháng còn lại trong năm
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,30,ở thời điểm cao nhất nhiệt độ lên đến 40 0
C, thời điểm thấp nhất nhiệt độ xuống dưới 100 Vùng này chịu hệ quả
rõ rệt của gió mùa Đông Bắc và mưa bão nhiệt đới, là vùng dễ xảy ra mưa rào, giông, gió lốc trong hai thời kỳ chuyển tiếp từ mùa lạnh sang mùa nóng và ngược lại
Trang 2316 Lượng nước bốc hơi khá cao, biến động từ 1000 đến 1300mm/ năm Lượng nước bốc hơi lớn nhất vào các tháng 5,6,7,8 vì ảnh hưởng của gió lào khô nóng Độ ẩm không khí ở mức trung bình (83 - 84%) Mùa khô có độ ẩm thấp hơn nhiều, chỉ còn ở mức 66 - 68 %, cá biệt có ngày xuống tới 28% Đây là những ngày gió lào thổi mạnh, thời tiết rất khô, nóng, đe dọa cháy rừng và hỏa hoạn
Như vậy, đặc trưng của chế độ khí hậu khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng nói chung và xã Thượng Trạch nói riêng vẫn mang những mặt chung nhất của khí hậu Quảng Bình là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa hè khô nóng và mưa đến muộn (thu đông), chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của bão và phong lạnh phía Bắc
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của người Ma Coong ở huyện
Bố Trạch trước năm 1975
1.2.1 Quá trình định cư của người Ma Coong ở huyện Bố Trạch
* Tộc danh và địa bàn phân bố
Người Ma Coong hay còn gọi là Măng Coong, Mong Kong, Mường Kong là một nhóm địa phương của dân tộc Bru - Vân Kiều Theo các nhà nghiên cứu lịch sử tộc người, người Ma Coong là những người dân bản địa có đặc điểm giống với người Lào Ngoài ra, họ còn có mối liên hệ với người Lào, đời sống văn hóa cũng có ảnh hưởng của văn hóa Lào trong phong tục tập quán,
y phục Đây là một lực lượng quan trọng góp phần bảo vệ vùng biên giới Việt Lào thuộc địa phận tỉnh Quảng Bình
Về tộc danh, Bru - Vân Kiều cũng đang tồn tại nhiều vấn đề chưa được thống nhất về tên gọi và ngữ nghĩa của nó Từ những năm 1930, tên gọi Bru đã
xuất hiện trong tác phẩm của học giả người pháp Hoffét Ông cho rằng: “Bru là một cộng đồng người ở vùng Trung Đông Dương, trong đó có người Vân Kiều” Một số học giả Việt Nam cho rằng: “Bru bao gồm cả Vân Kiều, Tà Ôi , Cơ tu,
Trang 2417
hoặc chủ trương Bru gồm các nhóm Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong” [50, Tr 39]
Còn các tác giả trong tác phẩm “Các dân tộc ít người ở vùng Bình - Trị -
Thiên” cho rằng: “Bru không phải là tên tự gọi, cũng không phải là tộc danh, mà
là một tên phiếm xưng để chỉ chung những người ở miền rừng núi này” Cũng
theo quan điểm này có tác giả cho rằng: “Trong thời kỳ pháp thuộc tên gọi Bru còn gắn với với ý nghĩa miệt thị là “người rừng” Vì vậy không nên sử dụng tên
gọi Bru làm tộc danh cho dân tộc Vân Kiều” [50, Tr 39]
Có tác giả lại cho rằng: “Nguyên xưa tộc người này có tên là “Sộ”, nhưng trong quá trình phát triển tộc người này đã tách ra thành nhiều nhóm nhỏ như Trì, Khùa, Ma Coong, Bru – Vân Kiều ” [49, Tr 8]
Về ngữ nghĩa của tên gọi Vân Kiều cũng có nhiều quan điểm không thống
nhất Có ý kiến cho rằng: “Tên gọi Vân Kiều là một địa danh của tên gọi ngọn núi (nằm trong vùng từ Rào Thương đến Lao Bảo), hoặc từ tên gọi Khe Kiều (ở
xã Hướng Hiệp, Hướng Hóa)” Cũng có ý kiến khác: “Tên gọi Vân Kiều bắt nguồn từ tổng Ông Kiều và Vân là phiên âm chệch của từ Vil, Vel, Val là
“làng” Vân Kiều hay Val Kiều là làng Ông Kiều” [49, Tr 10] Có tác giả chủ trương các nhóm Bru, Vân Kiều, Sộ, Ma Coong, Trì, sẽ “hợp nhất với người Khùa để trở thành bộ tộc Khùa” [51, Tr 32]
Hiện nay, trên sách báo khoa học việc sử dụng tộc danh Bru - Vân Kiều không được thống nhất Có tài liệu chỉ dùng tộc danh Vân Kiều để chỉ chung cho các nhóm Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong, có tài liệu dùng Bru -Vân Kiều
Trong nhóm Bru - Vân Kiều thì tộc người Ma coong chiếm một bộ phận lớn Người Ma Coong là cư dân chủ yếu của xã Thượng Trạch Nhóm Trì, với
số lượng ít cùng có địa bàn cư trú với nhóm Ma coong Một số hộ của người Ka rai, người Mường cũng cư trú ở đây
Trang 2518 Theo Niên Giám Thống kê huyện Bố Trạch năm 2016, Người Ma Coong hiện có 545 hộ với 2.566 nhân khẩu, cư trú tại 18 bản làng rải rác dọc biên giới Việt - Lào thuộc xã Thượng Trạch - huyện Bố Trạch và bản 39 thuộc xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch Đây là nhóm người có số lượng nhiều nhất trong dân tộc Bru - Vân Kiều ở Quảng Bình
Địa bàn phân bố dân cư của tộc người Ma Coong dọc biên giới Việt - Lào, gồm các bản: Ban, Khe Rung, Nịu, Cà Roòng 1, Cà Roòng 2, Bụt, 51, Chăm Pu, Cờ Đỏ, Tuộc, Troi, Aky, Nồng Mới, Nồng Củ, Cu Tồn, Cốc, Cồn Roàng và 61 Mật độ dân cư đạt 2,7 người/km2; tỷ lệ tăng dân số (năm) là 11,41%
Xã Tân Trạch gồm hai bản người dân tộc thiểu số: bản 39 (km 39) và bản Đoòng Người Ma Coong tập trung ở bản 39, sống chung cùng người A Rem và Vân Kiều Bản Đoòng chỉ có người Vân Kiều, gồm 6 hộ với 34 khẩu Xã Tân Trạch có diện tích đất tự nhiên là 362,81km2, mật độ dân số đạt 0,7 người/km2,
tỷ lệ tăng dân số (năm) là 8,31% Toàn bộ diện tích của xã này nằm trong vùng lõi của Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng [15, tr.36]
Người Ma Coong nơi đây dùng chung tiếng nói với dân tộc Bru-Vân Kiều (thuộc ngữ hệ Môn – Khơ-me) Song, mỗi nhóm, kể cả người Ma Coong, có nhiều từ riêng, tạo nên sự khác biệt của từng nhóm địa phương, do vậy, cũng tạo
ra những khác biệt giữa các nhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều Vài chục năm trở lại đây, cùng với công cuộc đổi mới đất nước, mối giao lưu giữa người Việt với người Ma Coong và các dân tộc khác ngày càng phát triển Tiếng Việt có điều kiện thâm nhập ngày càng nhiều vào cộng đồng các tộc thiểu số ở đây Do đó, bên cạnh tiếng mẹ đẻ, người Ma Coong còn sử dụng tiếng Việt, nên song ngữ hiện nay thường được sử dụng phổ biến trong cộng đồng Ma Coong Đây cũng là hiện tượng khá phổ biến ở nhiều vùng miền núi và vùng dân tộc thiểu số hiện nay
Trang 2619
Bảng 1.1 Bản thống kê số lượng dân cư và phân bố địa bàn
cư trú của dân tộc Ma Coong ở xã Thượng Trạch (tháng 12/2016)
hộ
Số khẩu Ghi chú
1 Bản A - Ky 25 135 Ngoài ra còn có 3 hộ, 14 khẩu người
10 Bản Bụt 37 178 Ngoài ra còn có 1 hộ, 5 khẩu người
Trì, 3 hộ, 14 khẩu người Mường
Trang 2720
*Nguồn gốc tộc người
Về nguồn gốc xa xưa của dân tộc thiểu số Bru - Vân Kiều hiện vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận khác nhau, bởi trên thực tế quá trình hình thành tộc người ở khu vực này khá phức tạp Dù thế, về cơ bản các công trình nghiên cứu
về nguồn gốc các dân tộc thiểu số phía tây của tỉnh Quảng Bình nói riêng, của khu vực Bình - Trị - Thiên nói chung cũng đã chỉ ra :
Bru - Vân Kiều vốn là một dân tộc bản địa, có quá trình hình thành, tồn tại
và phát triển lâu dài, liên tục gắn bó với khu vực vùng núi Bắc Trung Bộ Nguyên xưa họ là những người Khạ, Sộ của vùng Trung Đông Dương nhưng đã bị vỡ vụn
để hình thành nên những tộc người mới, do nhiều nguyên nhân tác động (tự nhiên, lịch sử, xã hội), các nhóm người này khi chưa kịp định hình chín muồi đã lại bị vô
số các tác động thúc ép từ bên ngoài và ngay cả bên trong làm cho khó đạt được sự thống nhất cao về mặt tộc người Đó cũng là lý do cắt nghĩa cho việc hình thành nhiều nhóm địa phương Trì, Khùa, Ma Coong
Sau những biến động lịch sử diễn ra hàng thế kỷ, người Bru - Vân Kiều
đã phải di cư đi các nơi Một số theo hướng Tây Bắc sang Thái Lan Một bộ phận, có lẽ được mang tên là Trì, đi về hướng Đông tụ cư ở miền Tây Quảng Trị, còn một bộ phận khác là Bru - Ma Coong đã từng sinh tụ ở miền Trung Lào
Căn cứ vào truyền thuyết lịch sử và các định danh, có thể thấy, trong quá trình di cư, nhóm người Ma Coong đã từng cư trú trên những địa điểm cách nơi
cư trú hiện nay hàng ba, bốn ngày đường về phía Đông Sau này, do sự phát triển của người Việt về phía Tây mà họ đã lùi về những địa điểm như hiện đang
cư trú Do quá trình cận cư với các nhóm người Chứt (nhất là giữa người
“Khùa” với hai nhóm “Mày” và “Sách”) nên trong văn hóa của họ đã bị tác động, ảnh hưởng và thâm nhập vào nhau Mặt khác, nếu nhóm Bru - Vân Kiều chịu ảnh hưởng nhiều của nền văn hóa Việt thì nhóm Ma Coong này lại chịu ảnh
Trang 2821 hưởng nhiều hơn của nền văn hóa Lào, nhất là trong lĩnh vực ngôn ngữ, kiến trúc nhà cửa, trang phục và tôn giáo
* Thành phần tộc người
Hầu hết các dân tộc thiểu số của tỉnh Quảng Bình đều có mặt và sinh sống tập trung trong vùng đệm của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng Ngoài người Kinh chiếm đa số, trong khu vực còn có hai dân tộc thiểu số là Vân Kiều
và Chứt
Theo Tạ Long, Ngô Thị Chính (2004), Đôi nét về tổ chức trên làng của người Chứt và người Bru - Vân Kiều ở Quảng Bình thì Bru - Vân Kiều (Bru -
Trì, Bru - Khùa, Bru - Ma Coong) là một trong những dân tộc có số lượng đông
ở dọc vùng Trường Sơn, xếp thứ 23 trong danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam [43, tr.26]
Về phương diện ngôn ngữ, theo Nguyễn Dương Bình trong tác phẩm “Sơ lược về sinh hoạt kinh tế và các tàn dư nguyên thủy của một số tộc người thiểu
số ở phía Bắc dãy Trường Sơn” thì dân tộc Bru -Vân Kiều thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer hay nói rộng hơn, thuộc ngữ hệ Nam - Á Nó là một ngôn ngữ mà cấu tạo từ vựng còn giữ lại trung tố “n” để chỉ các công cụ Ngôn ngữ của các nhóm người Bru, tuy có những khác biệt nhỏ về mặt ngữ âm, song về phương diện từ vị, cú pháp cơ bản là thống nhất [6, tr.51,52]
Trước khi làm quen với nền văn hóa của người Việt và người Lào, dân tộc Bru - Vân Kiều đã có tiếp xúc với nền văn hóa của người Chăm Cho đến nay, trong ngôn ngữ của họ còn mang nhiều yếu tố của ngôn ngữ Malayô - Pôlinêdêng, đặc biệt là những từ ngữ thuộc về cây trồng, đổi chác và mua bán
Tiếng nói của người Bru - Vân Kiều và các tộc người Tà Ôi, Cờ Tu rất gần gũi nhau, hợp thành một nhóm ngôn ngữ độc lập - nhóm Môn - Khơmer Bắc Trường Sơn Nó có vị trí đặc biệt quan trọng, là gạch nối giữa hai nhóm ngôn ngữ Môn - Khơmer miền Bắc và miền Nam Trong một số từ vị, ít nhiều
Trang 29số từ vựng không giống nhau, xét về mặt nhân chủng đều thuộc vào loại hình Nam Á của tiểu chủng Mông-gô-lô-ít phương Nam, thuộc đại chủng Mông-gô-lô-ít
1.2.2 Vài nét về đời sống của cộng đồng người Ma Coong trước năm 1975
Từ khi khai sinh tộc người đến năm 1945, người Ma Coong sinh sống tương đối biệt lập giữa những cánh rừng đại ngàn Trường Sơn, trong các hang núi đá vôi hoặc thung lũng sâu thẳm Cuộc sống nay đây mai đó và khá hoang
dã Đời sống của họ chỉ tồn tại thành từng nhóm tụ cư và phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên Trong quá trình di cư và lựa chọn nơi ở mới, người Ma Coong có
sự phát triển tách biệt nhau Một nhóm người di cư lên triền núi phía Tây và khai hoang đất rừng thành đất ở, thành lập bản làng với dân số ban đầu chỉ từ vài chục người Một nhóm khác cùng với tộc người Arem lựa chọn cư trú trong hang đá, sống biệt lập hoàn toàn với bên ngoài
Năm 1948, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Bố Trạch (ngày 6/1/1947), huyện đã thành lập khu vực tạm thời hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch mà lúc bấy giờ gọi là khu vực Cà Roòng Người Chủ tịch lâm thời đầu tiên là ông Đinh Phết - nguời lớn tuổi nhất trong cộng đồng dân cư Ma Coong lúc đó Năm 1954, chính sách dân tộc lần đầu tiên được chú trọng và triển khai trên địa bàn huyện Nhằm ổn định chỗ ở cho đồng bào dân tộc, cán bộ lãnh đạo huyện Bố Trạch thực hiện nhiệm vụ nắm tình hình dân số, đời sống và sản xuất của đồng bào dân tộc, trèo đèo vượt suối vào rừng sâu vận động bà con về định
cư tại nơi ở mới, hình thành bản làng để sinh sống tập trung với tên gọi là bản
Trang 3023
Cà Roòng Dân số ban đầu của bản Cà Roòng gồm 54 người, giảm hơn một nửa
so với dân số ban đầu mới di cư của người Ma Coong khi đặt chân đến cư trú tại vùng rừng núi phía Tây huyện Bố Trạch Nguyên nhân chính được xác định do cái nghèo đói, bệnh tật và những đợt càn quét của giặc Pháp đã cướp đi sinh
mạng của nhiều người dân Ma Coong [24, Tr 45]
Năm 1955, để tăng cường công tác quản lý nhà nước phù hợp với tình hình mới, thi hành chủ trương của Liên khu ủy Khu IV và của Tỉnh ủy Quảng Bình về việc phân chia lại đơn vị hành chính cấp xã, vào tháng 6 năm 1955, Huyện ủy, Ủy ban hành chính huyện Bố Trạch đã chỉ đạo công tác phân chia đơn vị hành chính mới từ 8 xã trong kháng chiến chống Pháp được chia lại thành
26 xã, và cũng từ mốc thời gian này, tên xã Tân Trạch và Thượng Trạch, nơi có cộng đồng người Ma Coong sinh sống chính thức được đề cập đến trong các văn bản [24, tr.27]
Trong cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Bố Trạch có ghi: “Theo báo cáo tình
hình hai năm khôi phục kinh tế của Tỉnh ủy Quảng Bình (tháng 3/1957), tại hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch, nơi có đồng bào dân tộc sinh sống (95% người Ma Coong), bà con dân tộc rất phấn khởi, tin tưởng và một lòng đi theo Đảng, đồng bào bỏ lối sống du canh, du cư đi vào định canh, định cư Vụ mùa năm 1955, hai
xã đã phát cây làm được 324 rẫy đưa vào trỉa ngô, lúa, sắn góp phần tự túc lương thực, ổn định đời sống” [24, tr.26] Những kết quả đó đã thể hiện tính ưu việt trong chính sách định canh, định cư của Nhà nước nhằm ổn định cuộc sống
và phát triển kinh tế của cộng đồng người Ma Coong
Trước đây, người Ma Coong có tập quán lập làng bản và tìm đất canh tác dọc theo các con suối, hai bên bờ khe và triền núi thấp Phương thức sản xuất chủ yếu là phát, đốt, chọc, trỉa trên các triền dốc Thời đó họ sống du canh, du
cư dọc miền rừng núi phía Tây Quảng Bình và sang cả đất Lào Cuộc sống của
họ chủ yếu dựa vào săn bắt, hái lượm Nền kinh tế mang tính tự cung tự cấp
Trang 3124 gồm cây lương thực chính là ngô và lúa nếp nương Từ năm 1955, trong một nghị quyết của Đảng bộ huyện Bố Trạch về hướng dẫn, sắp xếp lại nơi ăn chốn
ở, cách thức sản xuất, chăn nuôi của đồng bào hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch [24, tr.26], người Ma Coong đã làm quen dần với việc định canh Bên cạnh đó, đồng bào còn biết trồng thêm các cây hoa màu, chăn nuôi thêm gia súc, gia cầm như lợn, gà Nhờ vậy, đời sống của họ đã được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, họ vẫn chưa có nhiều hàng hóa từ các sản phẩm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; kinh tế tự cung tự cấp vẫn là cơ bản Do đó, cuộc sống lao động sản xuất và hoạt động xã hội - văn hóa vẫn chưa có nhiều thay đổi so với trước đây Tư duy của một xã hội truyền thống khép kín vẫn còn in sâu vào trong tiềm thức của họ, làm cho tầm ảnh hưởng của chủ đất và vai trò của chủ đất đối với việc duy trì xã hội truyền thống cũng như hiện tại vẫn còn có những giá trị nhất định Vấn đề này được đề cập sâu hơn ở các chương sau của luận văn
Trang 3225
Tiểu kết chương 1
Ở Việt Nam, người Ma Coong cư trú chủ yếu rải rác dọc biên giới Việt - Lào, thuộc hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Đây là một trong những dân tộc nghèo nàn và lạc hậu nhất trong số 54 dân tộc Việt Nam Vì vậy, việc quan tâm, chăm sóc nhằm từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào Ma Coong là việc làm quan trọng của lãnh đạo các cấp, ngành, đoàn thể chính trị các cấp nhằm thực hiện chủ trương đảm bảo cơ hội phát triển công bằng, bình đẳng, toàn diện và bền vững cho các nhóm dân tộc thiểu số mà Đảng và Nhà nước đã cụ thể hóa thành mục tiêu trọng tâm trong công tác dân tộc
Do nhiều nguyên nhân, các tộc người Mày, Rục, A Rem, Mã Liềng, Ma Coong đang đối mặt với nhiều nguy cơ: Gần 90% dân số của các tộc người này
mù chữ; tình trạng du canh du cư của một bộ phận không nhỏ đồng bào DTTS diễn ra nhiều nơi; hệ thống đường giao thông khu vực miền núi, được xây dựng trong thời kỳ chiến tranh, bị xuống cấp, hư hỏng nặng, việc triển khai các chính sách, dự án phát triển rất khó khăn
Thực hiện công tác dân tộc cùng với các chính sách, chương trình lớn hỗ trợ đồng bào Ma Coong thời gian qua trên địa bàn huyện cho thấy: Đó là quá trình tháo gỡ những khó khăn từ cơ sở, đáp ứng các nhu cầu của từng thời kỳ nhất định cho sự phát triển bền vững của cộng đồng dân tộc Ma Coong Hệ thống chính sách này có liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực trong đời sống của đồng bào, có tính đặc thù cao Thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của
cả hệ thống chính trị, có sự phối kết hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, trong đó có vai trò không nhỏ của đội ngũ trực tiếp triển khai Tham gia triển khai thực hiện chính sách dân tộc đòi hỏi cán bộ phải tinh thông nghiệp vụ, năng động, nhiệt tình, am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của các dân tộc Qua đó, triển khai đề án phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào Ma Coong sinh sống đạt
Trang 3326 chất lượng và hiệu quả cao, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện nói chung và đồng bào dân tộc Ma Coong nói riêng
Những thành tựu đạt được về kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa bàn sinh sống của đồng bào Ma Coong đã thể hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc Kết cấu cơ
sở hạ tầng miền núi, vùng sâu vùng xa như: điện, đường, trường, trạm, chợ… là điều kiện cần cho đồng bào xây dựng cuộc sống mới Tiếp theo, để giúp đồng bào phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, Nhà nước tiếp tục hỗ trợ vốn; cơ chế, chính sách vay vốn ưu đãi; giao đất, giao rừng; khoa học kỹ thuật; giống cây trồng vật nuôi… Đặc biệt, chính sách vay vốn ưu đãi phát triển sản xuất; chính sách đầu tư xây dựng nông thôn mới với các hạng mục cơ sở vật chất, trường học, thiết chế văn hóa trên địa bàn hai xã Tân Trạch, Thượng Trạch đang mang lại những hiệu quả thiết thực
Hành trình gần lại với nhau, thu hẹp khoảng cách giữa miền núi, miền xuôi đã thênh thang rộng mở Đồng bào Ma Coong đã có đủ nhận thức lựa chọn cho mình những con đường phù hợp để cuối cùng đích đến vẫn là chiến thắng đói nghèo, xây dựng làng bản văn minh, giàu đẹp hơn
Trang 3427
Chương 2 ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MA COONG Ở
HUYỆN BỐ TRẠCH TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 2016
Trong chương 2, chúng tôi sẽ tập trung phân tích những đặc điểm kinh tế của cộng đồng người Ma Coong chủ yếu về các vấn đề như diện tích đất, sản xuất nông nghiệp, trao đổi buôn bán và khai thác tài nguyên
2.1 Diện tích đất canh tác
Trước năm 1975, trong điều kiện mọi tuyến đường băng qua rừng Trường Sơn nhằm mục đích vận chuyển lương thực, nhu yếu phẩm phục vụ cuộc chiến tranh của dân tộc, tuyến đường 20 chưa được khai thông Trong thăm thẳm mênh mông núi rừng, người Ma Coong như hiện thân của nhiều bí ẩn nguyên
sơ, họ sống như một cộng đồng khép kín trong một khu vực được bao quanh bởi rừng núi phía Tây huyện Bố Trạch với diện tích trên 110.000 ha, chiếm hơn 51% diện tích toàn huyện Hoạt động nông nghiệp là ngành sản xuất chính và mang yếu tố chủ đạo trong nền kinh tế tự cung tự cấp của đồng bào Ma Coong Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất Tuy nhiên, tư duy và ý thức của đồng bào chưa hình thành thói quen về sử dụng diện tích đất canh tác và sản xuất mang tính tự phát Đất đai là tài sản chung của cộng đồng người Họ cùng nhau làm và cùng hưởng lợi
Cuộc sống của người Ma Coong phụ thuộc vào hoạt động sản xuất nông nghiệp nên đất đai là thứ không thể tách rời với đời sống của người dân Do đặc điểm kiến tạo địa chất về thổ nhưỡng, đất đai tại khu vực sinh sống của người
Ma Coong được phân thành các loại như sau:
- Đất phù sa cổ không được bồi đắp, tập trung ở các thung lũng;
- Đất Feralit đồi núi màu vàng phát triển trên đá phiến thạch;
- Đất Feralit biến đổi do trồng cây hàng năm;
Trang 3528
- Đất đỏ vàng đá cát
Tất cả các loại đất canh tác đều nằm dọc các con suối, hai bên bờ khe và triền núi thấp Các sườn đồi hoặc thung lũng, cách xa nơi ở từ 3- 5km Với kinh nghiệm canh tác truyền thống, hiện nay đồng bào Ma Coong lựa chọn đất canh tác là loại đất có nguồn gốc đỏ vàng phiến thạch sét và đất có độ dốc tụ, khe suối có độ phì nhiêu tương đối lớn, tầng đất canh tác dày Tuy nhiên, những năm qua do việc sử dụng đất chưa khoa học và hợp lý khiến một phần đất canh tác bị xói mòn, rửa trôi và có biểu hiện suy thoái về độ màu mỡ
Trong tổng số diện tích đất tự nhiên của 2 xã là trên 73.000 ha, ngoài diện tích rừng đặc dụng là 53.301,1 ha đã được giao cho BQL Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng quản lý thì diện tích đất còn lại được phân bổ theo chính sách giao đất giao rừng của huyện Bố Trạch ở 18 thôn bản trên địa bàn xã Thượng
Trạch và bản 39 xã Tân Trạch [72, tr.9],
* Đất nông nghiệp
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 838,5 ha trong đó:
+ Đất canh tác lúa nước chỉ có 1,9 ha tại bản Chăm Pu, năng suất canh tác còn rất thấp (khoảng 2,5 tấn/ha) do người dân ở đây chưa áp dụng tốt kỹ thuật canh tác;
+ Diện tích canh tác lúa nương chiếm diện tích 745.33 ha Tuy nhiên diện tích canh tác lúa nương trên thực tế lớn hơn do tập quán canh tác nương rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số theo phương thức canh tác quảng canh với chu 5 năm một lần (canh tác trên đất lâm nghiệp không có rừng) Với phương thức canh tác lạc hậu cùng với không chủ động về nguồn nước tưới tiêu như hiện nay nên năng suất chỉ đạt từ 1 - 1,5 tấn/ha Tuy nhiên, với diện tích canh tác lớn là một trong những lợi thế của địa phương trong việc bố trí cơ cấu cây trồng, đồng thời
áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất là một trong những gải pháp tăng năng
Trang 3629 suất cây trồng và sản lượng lương thực của xã Từ đó gải quyết an ninh lương thực cho người dân địa phương
+ Diện tích trồng cây hàng năm khác là 81,27 ha với các loại cây trồng như ngô, sắn và lạc Năng suất cây trồng hàng năm còn thấp từ 1,3 – 1,3 tấn/ha/năm Để tăng năng suất và nâng cao sản lượng cây trồng hàng năm thì trong thời gian tới cần tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển dich cơ cấu cây trồng một cách hợp lý
Vì vậy, để đảm bảo sản lượng lương thực hàng năm đáp ứng nhu cầu đời sống của người dân địa phương với tập quán canh tác nương rẫy thì việc bố trí diện tích đất canh tác nương rẫy cần phải đảm bảo nguyên tắc mỗi hộ gia đình có tối thiểu 4 lô đất với diện tích bình quân từ 1,5 – 2 ha/hộ
Diện tích đất lâm nghiệp theo hiện trạng có 71.140,47 ha trong đó:
+ Diện tích rừng đặc dụng là 53.301,05 ha: đây là diện tích rừng đặc dụng năm trong vũng lỏi của Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng với sự đa dạng sinh học rất cao và đặc trưng bởi hệ sinh thái rừng trên núi đa vôi Diện tích rừng đặc dụng được quản lý bởi Ban quản lý vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng
+ Diện tích đất rừng sản xuất là 6020 ha, trong đó: Diện tích đất có rừng
tự nhiên là 4.197,1 ha với nhiều trạng thái khác nhau như IIa, IIb, IIIa1, IIIa2 và diện tích rừng tre nứa thuần loài Đây là diện tích rừng tự nhiên có chất lượng tương đối tốt với nhiều loại cây ưu thế như: Săng lẻ, Táu, Trám, Dổi toàn bộ diện tích rừng đều chưa có chủ và đang được quản lý bởi chính quyền cấp xã Ngoài ra diện tích rừng tre nưa chiếm tỷ khá cao trên diện tích nương rẫy bỏ hoang, diện tích tre nứa này nếu được quản lý và khai thác một cách hợp lý sẽ là nguồn thu nhập cho đồng bào Ma Coong, đồng thời sẽ bảo vệ được các đối tượng cây tái sinh mục đích
Trang 3730
- Diện tích rừng trồng trên toàn xã chỉ có 75,1 ha với đối tượng cây trồng chủ yếu là các loại Keo được hỗ trợ bởi dự án Phân cấp giảm nghèo miền trung, vốn ngân sách địa phương hàng năm Chất lượng rừng trồng trên địa bàn xã rất thấp và khó có khả năng thành rừng, vì vậy diện tích này cần phải được đánh giá
để có giải pháp tái trồng rừng trong thời gian tới
- Diện tích đất chưa có rừng là 1.580,4 ha, với diện tích đất chưa có rừng với nhiều đặc trưng bởi đặc tích đất đai còn khá tốt và thảm thực bì chủ yếu là cây bụi và trảng cỏ (phục hồi sau nương rẫy) là một trong những tiềm năng lớn trong việc phát triển trồng rừng cây bản địa và rừng nguyên liệu với nhiều đối tượng cây trồng khác nhau: cụ thể trồng rừng theo chương trình Dự án khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng và phát triển trồng rừng nguyên liệu
+ Diện tích đất rừng phòng hộ là 11.819,42 ha, trong đó diện tích đất có rừng phòng hộ là 10.148,6 ha và đất chưa có rừng là 1.670,82 ha Mặc dù diện tích rừng phòng hộ phân bố tập trung và với diện tích tương đối lớn nhưng hiện tại đang được quản lý bởi UBND xã nên công tác quản lý sử dụng rừng còn nhiều hạn chế Với diện tích rừng phòng hộ lớn có đặc trưng thảm thực bì còn rất tốt là một trong những tiềm năng để giao khoán cho đồng bào Ma Coong quản lý sử dụng theo quy chế quản lý 3 loại rừng, đặc biệt đối với 4 thôn bản nằm trong rừng phòng hộ như: bản Aky, bản Troi, bản Cồn Roàng, bản Tuộc
* Đất chưa sử dụng
Diện tích đất chưa sử dụng 133,29 ha, trong đó: đất bằng chưa sử dụng chỉ có 2,26 ha và 131,64 ha thuộc đất đồi núi chưa sử dụng Đây là diện tích hoang hóa sau canh tác nương rẫy của đồng bào Ma Coong, diện tích này có tiềm năng cho việc quy hoạch đồng cỏ chăn nuôi cho địa phương trong những năm tới
Trang 3831
2.2 Hoạt động nông nghiệp
2.2.1 Săn bắt và hái lượm
* Săn bắt
Đồng bào Ma Coong quen với truyền thống du canh, du cư trên núi cao, phụ thuộc vào tự nhiên, vì vậy việc săn bắt là không thể thiếu được trong đời sống Săn bắt và phân chia chiến lợi phẩm đã thể hiện tình đoàn kết cộng đồng
và sự tôn trọng của mỗi thành viên trong làng bản Sự cấu kết ấy là bền vững, giúp tộc người Ma Coong thích nghi với thiên nhiên Hình thức săn bắn chủ yếu
là đi săn tập thể và săn bắt cá nhân
Săn bắt thường diễn ra vào tháng 1 và tháng 2 là thời điểm mùa màng rảnh rỗi Trước đây, hình thức tổ chức săn bắn của người Ma Coong thường mang tính tập thể, thu hút nhiều thanh niên trai tráng va người già trong làng tham gia Săn bắt tập thể thường là săn bắn những con thú lớn như: Lợn rừng, gấu, hổ,… nhờ vào sức mạnh của tập thể mới giết được những con thú lớn như vậy Hình thức săn bắt tập thể cũng có hai cách: Một là đặt bẫy đâm theo đường
đi của con thú, khi người đặt bẫy phát hiện con thú mắc bẫy nhưng vẫn chưa chết, nó đang chạy được thì người đó về bản báo với mọi người cùng đi săn con thú ấy Đoàn người đi săn cử ra một người khỏe mạnh, tháo vát và nhanh nhẹn
đi đầu để đối chọi với con thú Những người còn lại im lặng theo sau sẵn sàng giúp người đi đầu đối phó với con thú dữ Khi thấy con thú, thì người đi đầu báo hiệu cho nhóm người đi sau biết để tìm cách bắn chết con thú Con thú bị hạ gục thì người đặt bẫy được quyền đến sờ con thú ấy trước Người Ma Coong kiêng đưa cả con vật về bản, vì vậy mà mổ thịt ngay tại chỗ, rồi mang thịt về bản chia phần Một nửa con thú thì chia cho người đặt bẫy làm con thú bị thương Nửa còn lại thì chia cho những người đi săn cùng người đặt bẫy và chia cho các hộ gia đình trong bản; Hai là khi một người đi rừng phát hiện có con thú lớn, thì chạy về báo cho mọi người trong bản cùng đi săn Trước khi đi săn con thú thì
Trang 3932 nhóm người này hội ý để chuẩn bị kỹ về súng, dao và cử ra người đi theo vết chân con thú để xua đuổi nó đến đầu kia có người rình sẵn để bắn Số người còn lại thì đón đầu, rình trên cây và sẵn sàng khi thấy con thú là bắn ngay Người bắn trước trúng con thú thì người đó là chủ của con thú, và người đó có quyền
sờ vào con thú trước, mới đến lượt người khác đến động vào con thú ấy Cả nhóm người cùng mổ con thú và đưa thịt về bản để chia phần Cách chia cũng giống như cách 1
Săn cá nhân thường là săn những con thú nhỏ như: chim, khỉ, hoẵng, sơn dương… Khi mang về thì không được mang con thú chết vào nhà, mà phải để làm thịt ở bên ngoài nhà Vì người Ma Coong cho rằng con thú là một cơ thể giống con người, nếu nó chết mà mang vào nhà thì mình đang mang một xác chết vào nhà mình, đó là việc tối kị không được làm, nếu không gia đình sẽ xảy
ra nhiều chuyện không may mắn
Để đi săn được nhiều thú, đồng bào Ma Coong cũng có những quy định đối với người thợ săn Nếu người đàn ông nào mà vợ đang có bầu thì tuyệt đối không cho đi săn cùng nhóm, và người đó cũng không bao giờ đi săn một mình
Vì họ cho rằng những người đàn ông như vậy thì dù có bắn hàng trăm phát đạn, hàng trăm mũi tên cũng không trúng và tiêu diệt được con vật Đi săn tập thể, khi bắt được con thú thì người chủ của con thú phải cắt một miếng thịt nhỏ nướng ăn trước mọi người trong đoàn đi săn Vì cho người khác ăn trước thì lần sau người ấy sẽ không may mắn săn được thú nữa
Các khu rừng tuy người dân được phép săn bắt, hái lượm, nhưng luật tục vẫn có các quy định rất chặt chẽ Việc săn bắt thú rừng, thu hái sản phẩm rừng
dù cho cá nhân hay tập thể đều thuộc về sở hữu chung cả cộng đồng Chẳng hạn, nếu một nhóm người trong bản săn bắn được một con thú, họ được thêm một cái đầu và một đùi chân trước, số còn lại phải được chia đều cho các gia đình trong bản Trường hợp cá nhân hoặc vài người trong một nhà săn được thú cũng chỉ
Trang 4033 được thêm một đùi chân trước, số còn lại phải đem chia cho các hộ trong bản Riêng già làng/chủ đất cũng chỉ được một phần như những hộ gia đình khác, nhưng phần thịt đó thường ngon nhất như thịt chỗ sườn hay cổ con thú, thể hiện lòng kính trọng của mọi người trong bản dành cho ông Vào dịp ấy, nếu gia đình nào có khách thì được thêm một phần nữa Rõ ràng, tính cộng đồng của người
Ma Coong được thể hiện rất rõ trong phân chia sản phẩm săn bắt được từ rừng Theo họ, những con thú trong rừng thuộc về cộng đồng, nếu chưa bị bắt nó vẫn còn ở lại với rừng, vì vậy, các cuộc săn bắn thường mang tính tập thể và có tổ chức Tổ chức ở đây là báo cáo với già làng, phân công người chỉ huy và cầm vũ khí, chọn thời gian, địa điểm Đối với những cuộc đi săn lớn, cần nhiều người
để bắt những con thú hung dữ và có khả năng ảnh hưởng liên quan đến các khu rừng cấm, hay làng bản khác thì phải báo cáo với chủ đất để nhận được sự giúp
đỡ, tham vấn Trong bối cảnh hiện nay, đa số bản Ma Coong vẫn duy trì tập tục trên, ngoại trừ một vài bản có nhiều người nơi khác đến ở hoặc làm việc trong một số dự án Những người ấy đã tìm mọi cách để mua bán, trao đổi hàng hóa làm ảnh hưởng đến tâm lý, tư tưởng một số người dân Ma Coong Từ sau khi đất nước đổi mới, người Ma Coong cũng đã có sự giao lưu, tiếp xúc nhiều hơn với các dân tộc khác, điều đó giúp họ có điều kiện hơn trong giao thương và mang đến cho họ nhiều nét mới trong đời sống - xã hội Tuy nhiên, ở đó cũng nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực như đã được đề cập ở các phần trên
Ngày nay, do diện tích rừng bị thu hẹp, muông thú cũng trở nên hiếm dần, vai trò hoạt động săn bắt ngày càng hạn chế, vì vậy người Ma Coong cũng ý thức để dần ổn định đời sống, khai hoang ruộng để trồng lúa nước và các cây lương thực đảm bảo đời sống… Đồng thời chính quyền địa phương đã đi sâu tuyên truyền cho người dân cũng như ra các quy định cấm không săn bắn thú rừng, bảo vệ động vật quý hiếm khu vực rừng Phong Nha Kẻ Bàng Để không vi phạm pháp luật, người Ma Coong đã từ bỏ tục săn bắn, chuyển sang canh tác