Những nhân tố ảnh hưởng đến việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An .... PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 3Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS.GVCC Đoàn Minh Duệ, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Huyện ủy Quỳ Châu, cán bộ Trung tâm Văn hóa huyện Quỳ Châu, Bào tàng văn hóa huyện Quỳ Châu, Phòng Thống kê huyện Quỳ Châu, UBND xã Diên Lãm, UBND xã Châu Tiến
Cảm ơn sự cộng tác giúp đỡ của ông Vi Văn Dũng, bà Sầm Thị Hằng, ông
Vi Ngọc Chân, ông Lữ Trọng Bằng, ông Quang Văn Châu
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, anh chị, bạn bè đồng nghiệp đã khích lệ, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Mặc dù đã cố gắng nhưng do năng lực nghiên cứu, nguồn tài liệu hạn chế nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến chân thành của quý thầy cô và bạn bè
Nghệ An, tháng 8 năm 2016
Tác giả
Quang Thị Hòa
Trang 4ii
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIỮ GÌN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI 6
1.1 Một số khái niệm 6
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống 12
1.3 Tầm quan trọng của việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái 21
Chương 2 THỰC TRẠNG GIỮ GÌN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN 26
2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An 26
2.2 Thực trạng giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An 33
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 67
3.1 Phương hướng giữ gìn các giá trị văn hóa của của dân tộc Thái 67
3.2 Một số giải pháp nhằm giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay 73
C KẾT LUẬN 86
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
E PHỤ LỤC 91
Trang 5Để xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, một vấn đề rất quan trọng đặt ra là giữ bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc tế Một bài học đắt giá của một số quốc gia trên thế giới trong quá trình hội nhập là không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống và tiếp thu các giá trị văn hóa mới Là quốc gia đi sau nhằm hòa chung trong không khí hòa nhập đó chúng ta phải nhìn nhận đúng đắn để có bước đi phù hợp, vừa hợp với xu thế vừa hợp với các điều kiện của quốc gia, dân tộc Hội nhập trên cơ sở kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, biểu dương các gía trị chân, thiện, mỹ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém, đấu tranh chống những cái phản văn hóa
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng chung sống Các dân tộc vừa có sự tương đồng trong các giá trị văn hóa, đồng thời do điều kiện địa lý cũng như sự đa dạng về sự phát triển kinh tế, xã hội nên mỗi dân tộc
có những giá trị văn hóa đặc sắc của riêng mình, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho nền văn hóa dân tộc
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở thì đến năm 2009 dân tộc Thái
có dân số 1.550.423 người, là dân tộc có số dân đứng thứ 3 sau dân tộc Kinh và dân tộc Tày ở Việt Nam Trong đó, ở Nghệ An có 295.132 người, chiếm 10,1%
Trang 62
dân số toàn tỉnh và 19,0% tổng số người Thái tại VIệt Nam, chỉ đứng sau Sơn
La là 572.441 người, chiếm 36,9% tổng số người Thái tại Việt Nam
Quỳ Châu là huyện vùng cao nằm trong vùng kinh tế Phủ Quỳ Từ xa xưa vùng đất này đã được coi là cái nôi của đồng bào Thái ở miền Tây Bắc Nghệ An nói riêng và đất nước nói chung, với dân số 56.704 người (2015), là nơi sinh sống chủ yếu của 2 dân tộc Kinh và Thái, trong đó dân tộc Thái có 43.813 người chiếm 78,02% dân số, tổng số người Kinh là 12.337 người chiếm 21,97% dân
số Trong dòng chảy phát triển chung của đất nước, đặc biệt là xu thế hội nhập
và phát triển như hiện nay, đồng bào Thái huyện Quỳ Châu, Nghệ An có những bước thay đối đáng kể trên mọi mặt của đời sống xã hội Bên cạnh đó, họ luôn ý thức được việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của mình, loại bỏ những hủ tục lạc hậu và không ngừng giao lưu, tiếp thu, học hỏi văn hóa của các dân tộc khác để làm phong phú thêm bản sắc của dân tộc mình
Tuy nhiên, quá trình hội nhập đã tạo ra không ít thách thức, đặc biệt là sự lai căng văn hóa của một bộ phận thế hệ trẻ làm phai nhạt dần những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thậm chí bị lãng quên Trước tình hình đó cần nghiên cứu và tìm ra một số giải pháp nhằm giữ gìn tốt hơn các giá trị văn hóa truyền thống đang có xu hướng mai một dần Đây cũng chính là lý do tác
giả chọn vấn đề “Giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
chuyên ngành Chính trị học
Hiện nay, vấn đề dân tộc Thái nói chung và văn hóa Thái nói riêng đã thu hút không nhỏ các nhà khoa học nghiên cứu Có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuốn sách, báo, tạp chí đã viết về người Thái trên đất nước Việt Nam
nói chung như: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (1978), Viện dân tộc học Việt Nam; Đặng Nghiêm Vạn (1997), Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái; Lê Ngọc Thắng (1990), Nghệ thuật trang phục người Thái, Nxb Văn hóa dân tộc; Cầm Trọng và Phan Hữu Dật (1995), Văn hóa Thái Việt Nam, Nxb Văn hóa dân
Trang 7Ở Nghệ An cũng đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về dân tộc
Thái: Nguyễn Đình Lộc (1993), Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An, Nxb Nghệ An;
Vi Văn An, Góp phần tìm hiểu hai nhóm Thái Đen và Thái Trắng ở miền Tây
Nghệ An, Tạp chí Dân tộc học, số 4/2001; Trần Trí Dõi- M.Ferlus (2004), Giới thiệu về chữ Lai Pao của người Thái Tương Dương, Nghệ An, Nxb Nghệ An;
Nguyễn Xuân Dung và Hồ Ngọc Thuyết (2001), Vài nét về đặc điểm đời sống
văn hóa dân tộc Thái ở Nghệ An, Nxb Nghệ An; PGS.TS Đoàn Minh Duệ,
Nguyễn Thị Minh (2009), Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của
dân tộc Thái ở xã Cà Tạ, Kỳ Sơn, Nghệ An, Nxb Nghệ An; Uỷ ban nhân dân tỉnh
Nghệ An (2002), Phát triển bền vững miền núi Nghệ An, Nxb Nông nghiệp; Quán Vi Miên (2011), Văn hóa Thái Nghệ An, Nxb Lao Động
Đặc biệt ở huyện Qùy Châu cũng có nhiều công trình nghiên cứu liên
quan đến dân tộc Thái nói chung và văn hóa người Thái như: Lịch sử Đảng bộ
huyện Qùy Châu, Nxb Nghệ An, 2009; Đậu Tuấn Nam, Hệ thống các phi của người Thái ở Quỳ Châu, Nghệ An, Tạp chí Dân tộc học, số 16/2003; Nguyễn Thị
Nuôi (2009), Đời sống văn hoá vật chất của người Thái ở huyện Quỳ Châu
(Nghệ An), Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Đại học Vinh;
Nguyễn Văn Mạnh (1990), Vài nét về tôn giáo tín ngưỡng của người Thái ở Quỳ
Châu, Nghệ Tĩnh; Trần Văn Thức (2011), Địa chí huyện Qùy Châu tỉnh Nghệ
An, Nxb Khoa học xã hội
Những nghiên cứu khoa học trên giúp cho tôi hiểu sâu hơn về thực trạng các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Thái nói chung và ở địa bàn huyện Qùy Châu nói riêng Đồng thời, đó là những nguồn tài liệu có giá trị cả về lý luận và
Trang 84 thực tiễn, giúp cho tác giả kế thừa và tìm ra một hướng nghiên cứu mới mà chưa
có một công trình nào đề cập tới một cách toàn diện
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc này
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái
- Làm rõ thực trạng giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu, Nghệ An trong thời gian qua
- Đề ra một số giải pháp nhằm giữ gìn tốt hơn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu, Nghệ An giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Luận văn nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu, Nghệ An về quá trình hình thành, phát triển và công tác giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống trong giai đoạn hiện nay
4.2 Phạm vi
Đề tài điều tra khảo sát văn hóa truyền thống dân tộc Thái huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010- 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp tổng hợp, so sánh;
- Phương pháp lịch sử - Lôgic;
- Phương pháp thống kê;
Trang 95
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu và xử lý thông tin
- Phương pháp mô tả, giải thích
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3
chương
Trang 106
B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIỮ GÌN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Văn hóa
Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, nó là sản phẩm sáng tạo của con người và phản ánh mối quan hệ tương tác giữa con người với thiên nhiên và xã hội Mối quan hệ tương tác đó mang tính biện chứng, thể hiện rất rõ qua hàng loạt các định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đề xuất trong các công trình nghiên cứu
Tại kỳ họp năm 1982 tại Mexico, UNESCO đã đưa ra định nghĩa tổng quát coi “ Văn hóa là tổng hòa các đặc tính nổi bật về tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm mà chúng đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội Nó bao gồm không chỉ nghệ thuật và văn học mà cả lối sống, những quyền cơ bản của nhân loại, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng ”
Trong cuốn “ Cơ sở văn hóa Việt Nam ”, GS.TS Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội
Hiện nay, theo tổ chức UNESCO thì có hơn 100 định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Tuy nhiên,
về cơ bản đều khẳng định văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh Một cách hiểu thông thường
khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và
cả đức tin, tri thức được tiếp nhận
Trang 117
Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức,lối sống Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn Trong khi theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử
Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, PGS.TSKH Trần Ngọc
Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội ” 33, tr.25
Theo Giáo sư Trần Đình Hượu, văn hóa theo nghĩa rộng nhất từ thời xã hội nguyên thủy Nhưng trải qua một thời gian lâu dài để bản lĩnh sáng tạo của con người được nâng cao khi con người thoát khỏi cuộc sống mông muội, ý thức được ngoại cảnh, tích lũy được tri thức về nó, những kinh nghiệm chế ngự, tổ chức đấu tranh làm chủ của nó, tạo ra sự khác biệt về thiên hướng và trình độ giữa các cộng đồng người, nhất là khi sự phân hóa dẫn tới sự hình thành các dân tộc, đủ sức định hình một hướng phát triển, khi có hệ tư tưởng, nền văn học nghệ thuật, những nhân vật văn hóa, tức là khi tạo được một cái vốn văn hóa riêng cho cộng đồng người đó thì mới bắt đầu nói đến đặc sắc dân tộc của văn hóa, nói đến dấu ấn văn hóa, gía trị văn hóa Giáo sư khẳng định: Văn hóa phát triển như một dòng sông chảy liên tục Trên lịch trình phát triển đó có những thời kỳ sôi động và một thời kỳ trong đó những giá trị tiêu biểu của dân tộc được định hình, hoặc là tư tưởng, hoặc là văn học, nghệ thuật phát triển đến mức điển phạm: văn hóa dân tộc tìm ra hướng đi vững chắc cho tương lai Đặc sắc văn hóa dân tộc được hình thành, bộc lộ chính ở thời kỳ đó Càng về sau, sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc càng thường xuyên, càng nhiều mặt Cho đến thời cận
Trang 128 đại, văn hóa phát triển có quy mô thế giới, văn hóa các dân tộc thâm nhập vào nhau Cho nên tìm dáng vẻ dân tộc trong văn hóa hiện đại không những là khó,
và đồng thời ở một số mặt nào đó có nhiều khi sắc thái dân tộc không phải là cái nên đặc biệt hoan nghênh
Trong Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) vấn đề văn hóa cũng được Đảng ta nêu rõ: “ Trong giai đoạn cách mạng dân tộc, dân chủ, lãnh đạo sự nghiệp văn hóa, Đảng ta đã sớm có Đề cương văn hóa (1943) Chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong các kỳ đại hội, Đảng ta đã đề cập đến đường lối văn hóa Đảng ta luôn luôn khẳng định văn hóa là một mặt trận, cách mạng tư tưởng và văn hóa là một trong ba cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”12, tr.12-13
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị quan trọng về văn hóa, nhưng chủ yếu liên quan đến lĩnh vực văn hóa - văn nghệ
Với Hội nghị Trung ương lần thứ 5 này, lần đầu tiên Đảng ta có một Nghị quyết về văn hóa theo nghĩa rộng, vừa có tính định hướng chiến lược, vừa nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách
Có nhiều định nghĩa về văn hóa Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”
26, tr.431 Người cũng đã từng nói: Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá
Văn hóa được đề cập trong Dự thảo Nghị quyết theo nghĩa rộng nói chung, trong đó đề cập tám lĩnh vực lớn, trong tám lĩnh vực này thì tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa được coi là những lĩnh vực quan trọng nhất hiện nay cần đặc biệt quan tâm
Trang 139 Như vậy, khi nói về văn hóa ta thấy có rất nhiều khái niệm Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng đều khẳng định rằng, văn hóa là hoạt động của con người nói chung trên hai lĩnh vực vật chất và tinh thần, đồng thời tạo ra các giá trị trên hai lĩnh vực đó Điều này cho thấy văn hóa không chỉ là những vật chất cụ thể mà còn có cả những giá trị tinh thần vượt mọi không gian và thời gian Ở chúng tồn tại đan xen lẫn nhau, hòa quyện nhau, văn hóa vật chất là sự vật chất hóa các giá trị tinh thần và các giá trị văn hóa tinh thần không phải chỉ tồn tại dưới dạng tinh thần thuần túy mà nó được vật thể hóa dưới dạng vật chất
1.1.2 Giá trị văn hóa
Giá trị là những sự vật, hiện tượng, quá trình hay tất cả những thứ được con người xem là có ý nghĩa nhất định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của con người và xã hội Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng và mỗi một nền văn hóa cũng có những giá trị riêng biệt
Giá trị văn hóa: “là cái dùng để căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá, so sánh nền văn hóa của dân tộc này với nền văn hóa của dân tộc khác, là cái để xác định bản sắc văn hóa của dân tộc, những nét đặc thù về truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống của một dân tộc trên nền tảng các giá trị chân, thiện, ích, mỹ” 30, tr.19
Theo PGS.TS Đoàn Minh Duệ: Giá trị văn hóa là cái mà chúng ta có thể xem như là “ mật mã di truyền xã hội", là cái cốt lõi, là những giá trị tiêu biểu của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng đó được tích lũy qua quá trình hoạt động của họ Quá trình hoạt động ấy đã tạo nên những bản sắc riêng của cộng đồng đó
Không phải tất cả mọi yếu tố, sản phẩm của hoạt động cộng đồng, dân tộc đều trở thành giá trị văn hóa, mà giá trị đó chỉ được định hình trong một giai đoạn đỉnh điểm của sự phát triển và đồng thời vì giá trị văn hóa ngoài tính dân tộc thì nó còn bị tác động bởi tính lịch sử, tính nhân loại chi phối: “ Văn hóa phát triển như một dòng sông chảy liên tục Trên lịch trình phát triển đó có
Trang 1410
những thời kỳ sôi động và một thời kỳ trong đó những giá trị tiêu biểu của dân tộc được định hình, hoặc là tư tưởng, hoặc là văn học, nghệ thuật phát triển đến mức điển phạm: văn hóa dân tộc tìm ra hướng đi vững chắc cho tương lai Đặc sắc văn hóa dân tộc được hình thành, bộc lộ chính ở thời kỳ đó Càng về sau, sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc càng thường xuyên, càng nhiều mặt Cho đến thời cận đại, văn hóa phát triển có quy mô thế giới, văn hóa các dân tộc thâm nhập vào nhau Cho nên tìm dáng vẻ dân tộc trong văn hóa hiện đại không những là khó, và đồng thời ở một số mặt nào đó có nhiều khi sắc thái dân tộc không phải là cái nên đặc biệt hoan nghênh” 17, tr.150
Nói cách khác giá trị văn hoá là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh và kết tinh đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người
1.1.3 Truyền thống
Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta thường hay nhắc đến cụm từ
“Truyền thống”, và trên thực tế có nhiều quan niệm khác nhau Cách hiểu thông thường thì truyền thống là cái tồn tại lâu đời, xuyên suốt quá trình tồn tại và phát triển của con người Nó được biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực: đạo đức, văn hóa, giáo dục
Theo Từ điển Tiếng Việt: “ Truyền thống là thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác”
35, tr 1017
Theo Giáo sư Trần Văn Giàu: “ Truyền thống là những đức tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng đó có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực” 14, tr.50
Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng: Truyền thống như là một hệ thống tính cách, các thế ứng xử của một tập thể (một cộng đồng), được hình thành trong lịch sử, trong một môi trường tự nhiên và nhân văn nhất định, trở nên ổn
Trang 1511 định, có thể chế hóa bằng luật hay bằng lệ và được trao truyền từ thế hệ này sang sang thế hệ khác, để đảm bảo tính đồng nhất của một cộng đồng
Trong mỗi thời điểm nhất định, truyền thống luôn tồn tại cả mặt tích cực
và mặt hạn chế Hai mặt này tồn tại đan xen lẫn nhau, mâu thuẫn và xung khắc nhau Mặt tích cực, tiến bộ sẽ góp phần tạo nên sức mạnh thúc đẩy xã hội phát triển hơn và tạo tiền đề cho các thế hệ mai sau noi theo, ngược lại mặt lỗi thời, hạn chế sẽ là mảnh đất cho sự dung dưỡng, duy trì mặt bảo thủ, lạc hậu và sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội Vì vậy, khi đánh giá các giá trị chúng ta cần nhìn nhận ở góc độ biện chứng để có cái nhìn khoa học và khách quan
Trên cơ sở những quan điểm nêu trên, chúng ta có thể khái quát: Truyền thống là những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành
vi, tư tưởng, phong tục tập quán, thói quen lối sống và cách ứng xử của cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài
1.1.4 Giá trị Văn hóa truyền thống
Trong mỗi dân tộc, dù ở trình độ văn minh cao hay thấp, dù đã phát triển hay đang phát triển thì cũng đều có những truyền thống đặc trưng của riêng mình và do đó có hệ thống giá trị văn hóa truyền thống của riêng mình Hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinh những gì tốt đẹp nhất qua các thời đại lịch sử khác nhau của dân tộc Nó được truyền lại cho thế hệ sau và với sự chuyển biến thăng trầm của lịch sử sẽ được bổ sung bằng các giá trị mới
Lịch sử phát triển văn hóa của nhân loại cho thấy, sự vận động của giá trị
và hệ giá trị có tính liên tục, chúng phát triển và biến đổi tùy thuộc vào điều kiện
tự nhiên và lịch sử - xã hội của từng quốc gia Sự vận động và biến đổi của giá trị được vận hành chủ yếu qua con đường sáng tạo, giao lưu và tiếp biến văn hóa Do đó ta phải xem xét chúng trong mối quan hệ tương tác giữa các giá trị văn hóa truyền thống mang tính đặc thù của dân tộc với các giá trị văn hóa mang tính phổ quát toàn nhân loại
Trang 1612 Theo Giáo sư Trần Văn Giàu: “ Giá trị truyền thống được biểu hiện là những cái tốt, bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị; mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến có nhiều tác dụng cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm” giá trị truyền thống” 14, tr.132
GS.TS Trần Ngọc Thêm nhấn mạnh: “ Văn hóa truyền thống là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định hóa dưới những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận ” 33, tr.133
Khi nói đến giá trị truyền thống là nói đến những truyền thống đã có sự đánh giá, đã được thẩm định nghiêm ngặt của thời gian, đã có sự chọn lọc, sự phân định và khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng trong lịch sử nhất định Truyền thống văn hóa có tính hai mặt nên không được lý tưởng hóa mặt nào Nếu xem các giá trị truyền thống là cái cố định, không biến đổi thì sẽ dẫn đến việc bảo thủ, lạc hậu và là tác nhân ngăn cản sự tiến bộ của xã hội Ngược lại, nếu phủ nhận một cách sạch trơn tất cả các giá trị truyền thống
và hiện đại hóa bằng con đường hội nhập thì sẽ tự mình đánh mất đi bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, tạo tiền đề cho sự lai căng văn hóa bên ngoài một
cách thụ động
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống
1.2.1 Sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trong thời kỳ toàn cầu hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi quốc gia, dân tộc Tốc độ phát minh khoa học ngày càng gia tăng Khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng rút ngắn Sự cạnh tranh về công nghệ cao diễn ra quyết liệt Truyền thông
về khoa học - công nghệ diễn ra sôi động Nhiều tri thức và công nghệ mới ra
Trang 1713 đời, đòi hỏi con người phải học tập thường xuyên, học tập suốt đời Quá trình giáo dục phải được tiến hành liên tục để người lao động có thể thích nghi được với những đổi mới của tiến bộ khoa học - công nghệ
Phát triển khoa học và công nghệ có tác dụng thực hiện tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững “Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011)” nhấn mạnh: “ Khoa học và công nghệ
giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới Phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ gắn với phát triển văn hoá và nâng cao dân trí Tăng nhanh và sử dụng có hiệu quả tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước, nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ”.
Khoa học và công nghệ không chỉ có ý nghĩa lớn lao trong lĩnh vực sản xuất vật chất, mà còn là cơ sở để xây dựng nền văn hóa tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước không phải chỉ là quá trình đổi mới về khoa học công nghệ, hiện đại hóa, thị trường hóa nền sản xuất xã hội mà còn là quá trình chuyển đổi về tâm lý, phong tục tập quán, lối sống thích ứng với nhịp độ và tốc độ của xã hội công nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế
Hiện nay, khoa học và công nghệ đang có vai trò to lớn trong việc hình thành nền “kinh tế tri thức” và “xã hội thông tin” , phát triển hàm lượng trí tuệ cao trong sản xuất, dịch vụ và quản lý ở tất cả các quốc gia Vì vậy, đầu tư cho khoa học và công nghệ là đầu tư cơ bản để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đầu tư
Trang 1814 ngắn nhất và tiết kiệm nhất để hiện đại hóa nền sản xuất xã hội và hiện đại hóa dân tộc Cuộc chạy đua phát triển kinh tế - xã hội trên thế giới hiện nay thực chất là cuộc chạy đua về khoa học và công nghệ, chạy đua nâng cao chất lượng
và hiệu quả lao động trên cơ sở hiện đại hóa nguồn nhân lực Hiện nay khoa học
và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu qủa, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Khoa học và công nghệ tác động đến mọi mặt đời sống của con người và nó tác động đến văn hóa theo các hướng sau:
Thứ nhất: Khoa học và công nghệ là một lĩnh vực trọng yếu của một nền văn
hóa
Các phát minh sáng chế khoa học là kết quả hoạt động sáng tạo của con người trong các mối quan hệ tương tác giữa con người với tự nhiên, giữa con người với xã hội Đây là hoạt động “nhân hoá tự nhiên” bằng nhiều mức độ khác nhau của con người Hiện nay, cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ với tốc độ chạy đua khủng khiếp trên phạm vi toàn cầu hoá, tạo
ra những bước nhảy vọt cho con người trong những can thiệp vào các quy trình sinh hoá của tự nhiên, giúp con người có thể đạt được khát vọng hạnh phúc tốt hơn
Thứ hai: Khoa học và công nghệ đã và đang tăng cường khả năng truyền
dẫn, lan toả và khuyếch tán văn hoá trong quá trình phát triển
Cuộc cách mạng về khoa học công nghệ đang hàng ngày hàng giờ thay đổi tư duy nhân loại Các thành quả khoa học công nghệ đã làm cho loài người xích lại gần nhau hơn để tiếp nhận những gì mới lạ đến từ ngoài lãnh thổ Với những thành tựu về công nghệ thông tin, phát thanh, truyền hình, internet, văn hoá nhân loại được lan toả khắp hành tinh hết sức nhanh chóng, ngoài sức tưởng tượng của con người
Trang 1915
Thứ ba: Khoa học và công nghệ đang làm thay đổi căn bản đời sống văn
hoá của thế hệ trẻ hiện nay so với văn hoá truyền thống của dân tộc
Khi công nghệ tự động phát triển, Internet cùng với điện thoại di động và truyền hình vô cùng phổ biến đã tạo ra đời sống văn hoá mới Khái niệm không gian và thời gian thay đổi Quan hệ xã hội chằng chéo phức tạp hơn thế kỷ trước Các yếu tố văn hoá và các yếu tố phản văn hoá đan xen dữ dội Văn hoá
cá nhân được đề cao trên các trang web riêng tư Dường như có một kiểu văn hoá nhiều tầng bậc đang hình thành Nghiên cứu tiếp cận các trạng thái văn hoá của con người hiện nay có thể thuận lợi nhiều hơn so với thế kỷ trước
Hoạt động sản xuất dây chuyền hàng loạt đã tạo ra quá nhiều sản phẩm
và tác động đến tâm lý xã hội Đó là tâm lý tiêu dùng, tâm lý được phục vụ và
“dịch vụ” tất cả những nhu cầu cuộc sống Người ta thay đổi lối sống, lẽ sống, nhịp sống theo hướng nhanh dần, gấp gáp hơn Khoa học công nghệ phát triển với tất cả các công cụ tiện ích như: mua bán các sản phẩm trên mạng, đi lại bằng
xe máy, ô tô định vị vệ tinh, tàu hoả cao tốc, tàu thuỷ cánh ngầm, chống nóng bằng máy lạnh, lên nhà cao tầng bằng thang máy, lên núi bằng cáp treo
Thứ tư: Khoa học và công nghệ tác động đến sự biến đổi văn hoá
Bước sang thế kỷ XXI, người ta đã chứng kiến cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ toàn cầu đang diễn ra như vũ bão Khoa học và công nghệ đã rút ngắn thời gian cho các quá trình sáng tạo, sản xuất, giúp con người làm việc nhanh chóng hơn
Khoa học và công nghệ với tính hai mặt của nó tác động một cách phức tạp đến văn hoá: vừa thúc đẩy sáng tạo phát triển, lại vừa can thiệp thô bạo và cơ cấu bên trong của văn hoá
Nếu con người chủ yếu dựa vào khoa học công nghệ, xa rời lao động cơ bắp, không tập luyện (trong chờ vào thuốc và y tế hiện đại), thích lối sống hưởng thụ, tiêu dùng thì cũng có nghĩa là văn hoá đang thay đổi từ quy luật sinh thành của nó Văn hoá là hoạt động thực tiễn của nhân loại Văn hoá được sinh
Trang 20Thứ năm: Khoa học và công nghệ tác động đến sự hình thành và phát
triển của thị trường văn hoá phẩm
Với những đột biến của khoa học và công nghệ, thị trường văn hoá phẩm được hình thành với sự đa dạng của các sản phẩm văn hoá đem đến cho con người sự thay đổi rất nhiều so với quá khứ, tạo ra sự hưởng thụ văn hoá phong phú trong cộng đồng
Thứ sáu: Khoa học và công nghệ tạo ra bước nhảy vọt của ngành công
nghiệp văn hoá
Khoa học công nghệ phát triển đã đem sức mạnh đến cho ngành công nghiệp điện ảnh những hình ảnh và âm thanh khác xa so với thế kỷ XX Các lĩnh vực văn hoá vui chơi giải trí, văn hoá thông tin, phát thanh, truyền hình, thông tin mạng toàn cầu đang tác động mạnh mẽ đến con người và cộng đồng
xã hội, làm đổi thay văn hoá một cách toàn diện và đầy bất ngờ Nhờ khoa học
và công nghệ mà thế giới tinh thần của con người trở nên phong phú hơn bao giờ hết, làm nên sự đa dạng văn hoá vô cùng vô tận
Tóm lại, khoa học và công nghệ hiện nay đã tác động nhiều chiều đến sự phát triển văn hoá Để phát huy những tác động tích cực, hạn chế những tác động trái chiều của khoa học công nghệ, đòi hỏi chúng ta phải có những nghiên cứu sâu sắc và cập nhật về từng lĩnh vực khoa học công nghệ và vận dụng phù hợp trong phát triển văn hoá
1.2.2 Tác động của nền kinh tế thị trường
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, văn hóa và kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, trong đó kinh tế không thể phát triển nếu thiếu nền tảng văn hóa và văn
Trang 21Văn hóa cũng tác động đến kinh tế theo ba hướng trên và sự tác động của văn hóa đến kinh tế, dù theo hướng nào thì cũng đều cho kết quả tích cực, cho trước mắt, đặc biệt cho lâu dài Vì văn hóa, xét ở hàm nghĩa cơ bản nhất của nó,
là kết tinh của các hoạt động kinh tế và các hoạt động xã hội nói chung
Trong quá trình xây dựng mục tiêu, giải pháp phát triển văn hóa phải căn
cứ và hướng tới mục tiêu, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, để phát triển văn hóa trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội Còn khi xác định mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội phải đồng thời xác định mục tiêu văn hóa, hướng tới
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người Muốn vậy, phải có chính sách đồng bộ trong phát triển kinh tế gắn với phát triển văn hóa Đồng thời, xây dựng chính sách văn hóa trong kinh tế để chủ động đưa các yếu tố văn hóa thâm nhập vào các hoạt động kinh tế - xã hội
1.2.3 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng vào cộng đồng quốc tế Xu thế quốc tế hóa không chỉ diễn ra trong lĩnh vực kinh tế mà nó còn diễn ra trong tất cả các lĩnh vực như chính trị, pháp luật, văn hóa Trên lĩnh vực văn hóa, văn hóa Việt Nam cũng chịu sự tác động của quá trình ấy
Giao lưu hội nhập văn hóa là một hiện tượng phổ biến của xã hội loài người, là một quy luật vận động và phát triển của văn hóa Thông qua quá trình hội nhập văn hóa mà các dân tộc có điều kiện để học hỏi và tiếp nhận những giá trị của nhau Điều này rất phù hợp với quy luật vận động và phát triển của văn
Trang 2218
hóa Chính nhờ có hội nhập văn hóa mà các nước, các khu vực chậm phát triển
có cơ hội trở thành một nước phát triển trong thời gian ngắn vì kế thừa được các giá trị của các dân tộc, các khu vực phát triển Hội nhập kinh tế quốc tế là một
xu thế, đòi hỏi chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập Đây là cơ hội để chúng ta phát triển nhanh có hiệu quả, nhưng cũng là thách thức rất lớn với nước
ta trên nhiều mặt, trong đó có cả văn hóa
Toàn cầu hóa có những mặt tích cực cơ bản là tạo điều kiện thuận lợi để giao lưu, hội nhập văn hóa, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa thế giới, thúc đẩy và hình thành nền kinh tế tri thức, góp phần hình thành lối sống văn minh, hiện đại Nhưng bên cạnh đó, toàn cầu hóa cũng có những tác động tiêu cực là tạo nguy cơ lệ thuộc về kinh tế, văn hóa, chính trị dẫn đến các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo; các giá trị văn hóa truyền thống bị phôi phai, biến dạng; đạo dức truyền thống bị xói mòn, lối sống thực dụng, vị kỷ, lai căng
Hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến văn hóa theo hai xu hướng: Một
mặt, nó “ góp phần nâng cao trình độ tư duy khoa học của xã hội công nghiệp,
thể hiện ở việc phổ biến các giá trị văn hóa công nghệ, văn hóa thông tin cùng các hoạt động và loại hình văn hóa mới phục vụ cho việc nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và qua đó, góp phần làm giàu thêm, phong phú thêm các giá
trị văn hóa Việt Nam truyền thống Mặt khác, nó cũng đặt ra trước dân tộc ta
những thách thức lớn trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Về phương diện này, có thể nói, thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là làm thế nào để các giá trị văn hóa dân tộc vừa có thể tiếp thu được các giá trị thời đại, tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa có thể giữ được bản sắc vốn có; tiếp tục phát triển trong sự giao lưu với cộng đồng thế giới mà không bị hòa tan, không bị nhấn chìm vào các nền văn hóa khác hoặc trở thành “ cái bóng mờ” của dân tộc khác, nền văn hóa khác” 28, tr.514
Việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa ở nước ta vừa có tính cấp bách, trước mắt, vừa mang tính chiến
Trang 2319 lược, lâu dài nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng nhân cách con người Việt Nam phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, để văn hóa thực sự là nền tảng, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Quốc tế hóa là điều kiện, là tiền đề cho hội nhập văn hóa, chuyển giao công nghệ hiện đại, liên kết trí tuệ, phát triển của các quốc gia dân tộc Nhưng đồng thời, quốc tế hóa cũng có thể đánh mất bản sắc dân tộc, đánh mất chủ quyền quốc gia Hiện nay, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng hệ thống truyền thông và giao lưu, hội nhập văn hóa để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” với mục đích nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân
ta đã lựa chọn và đang xây dựng
Quá trình hội nhập không phải là quá trình bắt chước nước ngoài, mà nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tuy nhiên, cũng không phải chỉ
vì giữ gìn bản sắc của mình mà đóng cửa không chịu hội nhập Quá trình hội nhập văn hóa đồng thời phải tiếp thu những tinh hoa của tri thức nhân loại để làm phong phú thêm giá trị văn hóa cho mình.Vì vậy, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong xu thế toàn cầu hiện nay là một yêu cầu tất yếu và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chúng ta Để tiếp tục phát triển và khẳng định mình trong quá trình toàn cầu hóa, ngoài nỗ lực tăng trưởng kinh tế thì một nhiệm vụ quan trọng là phải kết hợp với việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đúng như Đảng ta đã khẳng định: “Bản Sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch
sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính
Trang 2420 giản dị trong lối sống Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo” 12, tr.56
Giao lưu văn hóa là một vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình tồn tại
và phát triển của văn hóa dân tộc, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế như hiện nay Trong quá trình hội nhập và phát triển, chúng ta cần tiếp thu, học hỏi các tinh hoa văn hóa bên ngoài để làm phong phú cho văn hóa dân tộc, đồng thời giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước
1.2.4 Sự du nhập của các nền văn hóa nước ngoài
Hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa không chỉ đem lại mặt tích cực cho nền văn hóa dân tộc, bên cạnh đó còn là nơi dung dưỡng những mầm mống làm nhòa đi các giá trị văn hóa truyền thống Sự du nhập của văn hóa nước ngoài được biểu hiện trên nhiều phương diện
Trên mặt trận tư tưởng, điều tai hại nhất là những thế lực thù địch sử dụng
các tác nhân văn hóa, văn nghệ có nội dung xấu bôi nhỏ chế độ Trong lối sống của nhiều bạn trẻ ngày nay thể hiện rất rõ những vấn đề tiêu cực trong quá trình tiếp thu văn hóa nước ngoài Đối với hôn nhân, truyền thống tốt đẹp của dân tộc là đề cao trinh tiết của người phụ nữ, cái tình đi đôi với cái nghĩa, tình có thể hết nhưng nghĩa thì bền chặt Còn bây giờ, giới trẻ đang dậy lên những trào lưu như “sống thử”, “sống gấp” Bên cạnh đó, thói quen tiêu xài hoang phí và theo đuổi những lợi ích vật chất, lối sống thực dụng
là nét không đặc trưng cho con người Việt Nam cần, kiệm Nhiều bạn trẻ lười học tập, lười lao động lại muốn mau chóng nổi tiếng nên tự tạo “xì-căng-đan” cho mình Tiêu chuẩn về vẻ đẹp của người phụ nữ phương Đông truyền thống là
“công, dung, ngôn, hạnh” bị biến dạng, nhường chỗ cho sự táo bạo, phô trương, thậm chí thác loạn
Trong lĩnh vực giải trí, giới trẻ đang bị cuốn hút và mải mê chạy theo những trào lưu du nhập từ nước ngoài, thậm chí vấn đề đã lên đến mức báo
Trang 25Văn hóa trang phục hiện nay ở nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng
bị mai một, nhất là trong giới trẻ Họ chỉ thích mặc âu phục, quần bò, áo phông hơn là mặc trang phục truyền thống tự dệt, tự may Trong âm nhạc cũng vậy những câu hát then, hát xẩm, ca trù, cải lương, chèo, tuồng, không được ưa chuộng bằng nhạc trẻ
Văn hóa là vốn quý của quốc gia, là tài sản vô giá, là động lực của sự phát triển Bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống và học hỏi, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đấu tranh mạnh mẽ với những ảnh hưởng tiêu cực từ nước ngoài chính là góp phần xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh
1.3 Tầm quan trọng của việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái
1.3.1 Tạo nên sự đa dạng của đời sống văn hóa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với nhiều sắc màu văn hóa khác nhau Trong đó, dân tộc Thái là dân tộc có bề dày truyền thống, giữ gìn và phát huy tốt các giá trị văn hóa truyền thống sẽ góp phần tạo nên sắc màu lung linh cho nền văn hóa quốc gia
Trải qua quá trình di cư, tụ cư nhóm người Thái đã di cư đến các điểm khác nhau để sinh sống: Lào, Thái Lan, Việt Nam Trong quá trình đó nhóm người Thái đã giao lưu với nhiều luồng văn hóa khác nhau, họ vừa tiếp thu học hỏi, vừa giữ gìn bản sắc văn hóa của riêng mình Tuy nhiên, dưới sự tác động của nhiều yếu tố như: Kinh tế thị trường, quốc tế hóa đã làm cho đời sống của
Trang 2622 người Thái có nhiều thay đổi theo cả hai chiều, và người Thái ở Quỳ Châu, Nghệ An cũng chịu sự tác động của những nhân tố đó
Bên cạnh những mặt tốt đẹp, tiến bộ thì mặt tiêu cực cũng ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội và đặc biệt là ảnh hưởng tới các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Thái vùng đất Phủ Quỳ Hiện nay, một thực tế đang diễn ra hàng ngày là sự mai một dần về bản sắc văn hóa, đặc biệt là thế hệ trẻ Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau đã ảnh hưởng đến tâm lý thờ ơ, xem thường các giá trị văn hóa của dân tộc mình và chạy theo các luồng văn hóa khác Đó là sự mai một các giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình hội nhập,
mở cửa giao lưu với văn hóa nước ngoài Nét đẹp ru con bằng những câu ca dao
đã thưa vắng dần Ca dao, tục ngữ vốn là kho tàng quý báu của quần chúng nhân dân, là những bài học về đối nhân xử thế, bài học làm người nuôi dưỡng tâm hồn từ thơ bé, hướng con người tới chân - thiện - mỹ đã và đang mai một dần trong đời sống tinh thần Nghề truyền thống dệt thổ cẩm ở một số nơi hiện nay cũng không còn được chú trọng
Giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái là kế thừa những nét văn hóa có ý nghĩa tích cực nhằm thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội Vì vậy, để giữ gìn và phát huy tốt các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở Quỳ Châu hiện nay phải xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương
1.3.2 Góp phần bảo tồn, lưu giữ các giá trị văn hóa tốt đẹp, lành mạnh của dân tộc Thái
Truyền thống văn hóa của dân tộc Thái rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên không phải truyền thống nào cũng là giá trị tốt đẹp, phù hợp với thời đại
Vì vậy, chúng ta phải xác định rõ những giá trị tốt đẹp để giữ gìn, phát huy, mặt khác loại bỏ những yếu tố cổ hủ, lạc hậu ngăn cản sự phát triển của xã hội
Giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống là sản phẩm đặc trưng của người Thái và được thể hiện thông qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
Trang 2723
Thứ nhất: Đặc trưng hệ sinh thái nhân văn
Đó là mối quan hệ giữa con người và môi trường sống xung quanh trong
cả tự nhiên và xã hội Gắn liền đặc trưng này là nền “ văn hóa thung lũng” Khác với các dân tộc khác, người Thái chọn địa hình thung lũng để dựng bản lợp mường, sản xuất ven các khe suối, con sông
Thứ hai: Hệ thống kỹ thuật trong sản xuất và trong cuộc sống hàng ngày
Người Thái từ xa xưa đã gắn bó với thiên nhiên như núi đồi, khe suối, sông nên nguồn tài nguyên sẵn có và rất dồi dào Sản xuất của người Thái gắn
bó với hệ thống thủy lợi “ mướng, phái, lín” và “pặt nặm” (guồng quay) đây là nét đặc trưng trong hoạt động sản xuất lúa nước của đồng bào Thái
Trong kỹ thuật thiết kế nhà ở cũng không dùng đến một mẩu sắt mà thay vào đó là hệ thống các dây buộc chằng chịt, khá công phu và rất tinh xảo bằng lạt tre, giang, mây, nứa và một số vỏ cây chuyên dụng Trong kỹ thuật nấu nướng cũng rất đa dạng và kết hợp rất phong phú các nguồn nguyên vật liệu chủ yếu gắn liền động, thực vật sẵn có Bằng bàn tay khéo léo, tài tình họ đã tạo nên những món ăn dân giã, đậm vị đặc trưng của dân tộc mình
Thứ ba: Hệ thống thiết chế xã hội
Đặc điểm này thể hiện rõ ở cơ cấu gia đình phụ hệ, phụ quyền và tổ chức bản mường Gia đình hạt nhân là tế bào kinh tế xã hội của người Thái, và trong gia đình người chồng, người cha nắm quyền hành về mọi việc, tuy nhiên phụ nữ vẫn có vai trò quan trọng trong gia đình
Đơn vị Bản là một tổ chức dân cư ổn định, có ranh giới và đất đai ổn định,
là nơi tổ chức quản lý ruộng đất Nhiều Bản hợp thành Mường, đây là nét đặc trưng trong cơ cấu tổ chức chính quyền của người Thái Tổ chức xã hội của Mường theo mô hình vòng tròn đồng tâm, mỗi Mường có Châu Mường là người đứng đầu và cai quản chung, dưới Châu Mường là các Tạo, Quán cai quản các bản theo một trật tự ổn định Hiện nay mặc dù cấu trúc Bản Mường của người
Trang 2824
Thái không còn nguyên gốc nhưng trong tên gọi hành chính của địa phương thì Bản Mường vẫn còn tồn tại
Thứ tư: Hệ thống tư tưởng và tri thức của dân tộc
Trong ngôn ngữ giao tiếp: Người Thái có ngôn ngữ riêng, có nguồn gốc
chung với ngôn ngữ của các nhóm Tày, Nùng, Lào và có đặc điểm gồm nhiều vùng thổ ngữ, có âm tiết và thanh điệu Tiếng Thái rất đa dạng và phong phú, được biểu lộ dưới nhiều sắc thái tình cảm khác nhau trong cả tự nhiên và xã hội
Chữ viết: Dân tộc Thái là dân tộc có tiếng nói và sớm có chữ viết riêng
Chữ Thái có hai loại: viết theo hàng ngang, đọc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới giống chữ Thái ở Thái Lan và chữ Thái ở Lào Đây là loại chữ Thái phổ biến nhiều ở phía Bắc nước ta, loại viết theo hàng dọc gọi là chữ Lai Tay, đây là loại chữ phổ bển ở vùng đất phủ Quỳ, Nghệ An
Văn học, âm nhạc, nghệ thuật: Người Thái có một kho tàng văn học nghệ
thuật rất phong phú, đa dạng: Ca dao, tục ngữ, truyện thần thoại các hoa văn trong thêu dệt, đan lát Trong âm nhạc người Thái có lời ca tiếng hát rất ngọt ngào, thắm đượm tình yêu quê hương, đất nước, đặc biệt âm nhạc được dùng làm sợi chỉ nối nhịp cầu cho các đôi trai gái khi đến tuổi trăng rằm
Tín ngưỡng, tôn giáo: Người Thái thường thờ ông bà tổ tiên, thần mường
trời, thần đất, thần núi, thờ những người có công xây Bản lập Mường Người Thái không theo một tôn giáo cụ thể như Thiên chúa, đạo Phật và cũng không
du nhập hay chịu ảnh hưởng của bất kỳ tôn giáo nào khác
Như vậy, nền văn hóa của dân tộc Thái rất đa dạng, phong phú và là một nền văn hóa mở, nhờ sự giao lưu với các nền văn hóa bên ngoài đã góp phần làm cho văn hóa Thái rực rỡ hơn, mới hơn
Ngày nay, hòa chung các xu thế phát triển của nhân loại và sự phát triển của đất nước, nền văn hóa nước ta nói chung và nền văn hóa Thái nói riêng đang từng bước chuyển mình vào qua trình hội nhập Trong xu thế đó đòi hỏi chúng
ta một mặt phải tiếp thu có chọn lọc các giá trị tốt đẹp, mặt khác giữ gìn bản sắc
Trang 2925 văn hóa của dân tộc, chỉ có như vậy mới góp phần làm cho nền văn hóa nước ta trở thành nền văn hóa “ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Kết luận chương 1
Văn hóa là hoạt động của con người nói chung trên hai lĩnh vực vật chất
và tinh thần, đồng thời tạo ra các giá trị trên hai lĩnh vực đó Việt Nam là quốc gia của 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có những nét văn hóa đặc sắc tiêu biểu, điều đó góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho nền văn hóa quốc gia Văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở Việt Nam là một sợi chỉ màu rực rỡ mang đậm những đặc trưng riêng góp phần làm sáng thêm sắc màu văn hóa Việt
Trong xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay, các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc nói chung, các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái nói riêng ít nhiều chịu tác động của các yếu tố Một mặt, thúc đẩy
sự phát triển mạnh mẽ trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, mặt khác cũng tạo
ra những thách thức không nhỏ đối với dân tộc ta Vì vậy, việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái nói chung và dân tộc Thái ở Quỳ Châu, Nghệ An nói riêng cần được quan tâm và có những giải pháp thiết thực
Trang 3026
Chương 2 THỰC TRẠNG GIỮ GÌN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI
Ở HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN 2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An
2.1.1 Nhân tố tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Quỳ Châu là huyện miền núi, cách thành phố Vinh 145km về phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An Quỳ Châu có diên tích tự nhiên 105.765,63ha, chiếm khoảng 10% tổng diên tích toàn tỉnh Nghệ An Có tọa độ địa lý:19006, - 19047, vĩ
độ Bắc, 1050
54, - 105017, kinh độ Đông Qùy Châu có vị trí chuyển tiếp từ miền núi cao xuống miền núi thấp và trung du của tỉnh Nghệ An, phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Quế Phong, phía Tây Nam giáp huyện Tương Dương, phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, phía Đông giáp huyện Nghĩa Đàn, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Quỳ Hợp và huyện Con Cuông
Vị trí địa lý huyện Quỳ Châu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng Quốc lộ 48 chạy qua địa bàn huyện dài 39 km nối với các huyện Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu, Diễn Châu về phía Đông, với CHDCND Lào về phía Tây, với huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa về phía Bắc và Đông Bắc là điều kiện để Quỳ Châu giao lưu văn hóa với các địa phương trong tỉnh, với tỉnh Thanh Hóa và nước bạn Lào
2.1.1.2 Địa hình
Là thung lũng nằm trong thềm lục địa cổ, có hoạt động núi lửa nên địa hình Quỳ Châu rất phức tạp, đồi núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên, lãnh thổ bị chia cắt bởi mạng lưới sông ngòi khe suối Đặc điểm địa hình được thể hiện qua các yếu tố: độ dốc, độ cao và một số địa hình tiêu biểu Địa hình đa dạng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế theo hướng nông - lâm kết hợp
Trang 31Quỳ Châu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới bán cầu Bắc, ô gió mùa Châu
Á, tiểu vùng khí hậu Bắc Trung Bộ với đặc điểm chung là nhiệt đới ẩm gió mùa, Khí hậu Quỳ Châu có hai mùa: Mùa nóng (mưa nhiều) từ tháng 4 đến tháng 10
và mùa lạnh (mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Xen giữa là hai mùa chuyển tiếp: lạnh sang nóng (tương ứng mùa xuân ở vùng ôn đới) và nóng sang lạnh ( tương ứng mùa thu ở vùng ôn đới) Đồng thời, Quỳ Châu cũng ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết miền Tây Bắc Nghệ An nên có những đặc trưng riêng về yếu tố thời tiết Rét thường đến sớm và mùa khô hanh thường kéo dài
2.1.1.4 Hệ thống sông ngòi
Quỳ Châu có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ 5-7km2 Các sông suối có nguồn nước khá dồi dào, chạy trong địa hình dốc nên có thế năng lớn Hai sông chính ở Quỳ Châu là sông Hiếu và Sông Hạt
- Sông Hiếu là phụ lưu cấp 1 của sông Cả, chiếm 18% lưu vực sông Cả Sông Hiếu bắt nguồn từ núi Pù Hoạt huyện Quế Phong, Nghệ An, có độ cao 2.452m Gồm 5 phụ lưu chính là Nậm Hạt, Nậm Quang, Nậm Cườm, Nậm Chạng, Nậm Tôn
Sông Hiếu chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, đến huyện Nghĩa Đàn đổi hướng Đông Bắc - Tây Nam và đổ vào bờ cái Sông Cả tại Đào Giàng Tại Quỳ Châu, sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam qua các khu sản xuất và dân cư Sông Hiếu có diện tích lưu vực trong địa phận Quỳ Châu là 2470km2
; tổng lượng nước 2,13 km3, ứng với lưu lượng trung bình năm71,6m3/s; mô đun dòng chảy trung bình năm 44,31/s/km2
Đoạn Sông Hiếu chảy qua huyện Quỳ Châu khá dốc, nhiều thác, ghềnh nhỏ: Thác Đũa, Thác Tạt Ngoi, Khe Nậm Pông khá đẹp Tuy nhiên, do địa hình
Trang 3228
dốc, thảm thực vật nhiều nơi quá thưa nên khả năng điều tiết nước hạn chế, một
số nơi vẫn bị khô hạn Các sông suối có tiềm năng làm thủy điện nhưng giao thông bị hạn chế
- Sông Hạt là một nhánh lớn của Sông Hiếu, bắt nguồn từ dãy núi cao của huyện Thường Xuân - Thanh Hóa đổ vào sông Hiếu tại xã Châu Tiến - Quỳ Châu Sông Hạt có chiều dài 23 km, diện tích lưu vực 20km2, lưu lượng dòng chảy trung bình 2,85m3/s, độ dốc trung bình 0,03% Sông Hạt có vai trò lớn trong việc cung cấp nước tưới cho vùng trọng điểm lúa nước ở 2 xã Châu Tiến
và Châu Bính
2.1.1.5 Đất đai, tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Quỳ Châu là
105.765,63 ha (số liệu thống kê tính đến ngày 31/12/2007), trong đó: Đất nông nghiệp là 81.884,87ha, chiếm 77,39% diện tích đất tự nhiên của huyện Quỳ Châu; Đất lâm nghiệp có diện tích 76.189,99ha; Đất chưa sử dụng có 21.400,68ha chiếm 20,23% tổng diện tích; Đất phi nông nghiệp 2.525,08ha, chiếm 2,38% tổng diện tích tự nhiên
Tài nguyên khoáng sản: Quỳ Châu là địa phương có nhiều khoáng sản
quý hiếm như: Đá Rubi, vàng gốc, bô xít, thiếc, sắt, chì, vật liệu xây dựng Tài nguyên khoáng sản của huyện có giá trị kinh tế cao, tập trung ở một số khu vực gần đường giao thông, rất thuận lợi cho việc quản lý, thăm dò và khai thác như:
Đá quý Rubi ở xã Châu Bình, phân bổ trên diện tích khoảng 400ha nhưng chưa được khảo sát kỹ và đánh giá về chất lượng và trữ lượng
Vàng ở Tà Sỏi xã Châu Hạnh, có trữ lượng khoảng 8 tấn (chiếm 40% trữ lượng vàng toàn tỉnh) Riêng vùng trung tâm huyện đã đánh giá sơ bộ có trữ lượng khoảng 2,6 tấn, chất lượng tốt Ngoài ra còn có vàng sa khoáng trên sông Hiếu, đoạn chảy qua Châu Tiến, Châu Hạnh, Khe Tằn tạ Châu Hội và trên sông Quàng đoạn chảy qua xã Châu Tiến
Trang 3329 Ăngtimon tại bản Tà Sỏi, xã Châu Hạnh có trữ lượng khoảng 40ha Đá xây dựng tại các xã Châu Hạnh, Châu Tiến, Châu Bình, diện tích 758ha.Sét nguyên liệu làm đồ sứ tại xã Châu Hạnh Loại tài nguyên này ở Quỳ Châu có khả năng cung cấp nhu cầu cho các huyện khác trong tỉnh
Quặng Bauxit tại Khe Bấn xã Châu Hạnh, diện tích khoảng 2,9ha Quặng sắt tại xã Châu Bình và xã Châu Hội 36, tr.21
Động, thực vật: Rừng là một trong những thế mạnh của huyện Quỳ Châu
Diện tích rừng của huyện đứng thứ thư sau Tương Dương, Con Cuông và Quế Phong nhưng độ che phủ đứng đầu tỉnh Nghệ An: Năm 2009 là 74% Huyện có tài nguyên thực vật, động vật rừng phong phú, đa dạng Thực vật rừng gồm 84
họ, hơn 500 loài, trong đó có gần 400 loài có giá trị kinh tế cao và có đầy đủ các đặc trưng của rừng nhiệt đới
Rừng ở Quỳ Châu thuộc dải rừng ở Đông Bắc Trường Sơn có nhiều đá quý: Samu, trai, lim, sến, táu, dổi, kim giao
Trong tổng diện tích đất có rừng ở Quỳ Châu là 65.456,61ha rừng tự nhiên; 5.323,70ha rừng trồng; 5.409,68 ha rừng khoanh nuôi, phục hồi
Rừng nguyên sinh Pù Huống là lợi thế để phát triển du lịch sinh thái kết hợp với các loại du lịch khác
Động vật rừng khá phong phú, nhiều loại động vật quý hiếm: Gấu, khỉ, hươu, nai, voi, bò tót Trước đây, rừng Quỳ Châu là một trong những nơi giàu động vật quý hiếm Hiện nay, nguy cơ tuyệt chủng rất cao do giảm sút sự đa dạng sinh học, mất rừng và nạn săn bắn trái phép
2.1.2 Nhân tố kinh tế, xã hội
2.1.2.1 Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất
So với các huyện miền núi dọc Quốc lộ 48 như Quỳ Hợp, Quế Phong thì Quỳ Châu là huyện có nền kinh tế kém phát triển hơn, thương mại dịch vụ còn nhiều hạn chế, chỉ có các hộ gia đình cá nhân tham gia với các loại hình buôn bán nhỏ lẻ Các hộ kinh doanh dịch vụ vẫn ở quy mô nhỏ, giá trị tổng sản
Trang 3430
phẩm chiếm tỷ trọng chưa cao trong cơ cấu kinh tế Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với sự lãnh đạo của chính quyền địa phương cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện đã được nâng lên, cơ cấu kinh tế đa dạng hơn, thương mại dịch vụ có nhiều biến chuyển Tuy nhiên, nhìn chung mức sống của dân cư còn thấp, chủ yếu sống bằng nghề nông, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, chiếm 50,55%
2.1.2.2 Cơ cấu lao động
Hiện nay toàn huyện có 14.309 hộ với 56.704 nhân khẩu Tổng số lao động chính toàn huyện là 34.095 người chiếm 60.12 % số dân Trong đó, chủ yếu là lao động nông lâm nghiệp, các ngành nghề khác chiếm tỷ lệ nhỏ, phần lớn là chưa qua đào tạo Để giải quyết việc làm cho người lao động, cần kết hợp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành nghề sử dụng nhiều lao động phổ thông, gắn mục tiêu giải quyết việc làm và chiến lược phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân và trật tự an toàn xã hội
Vùng 2 (vùng trung tâm) gồm xã Châu Hạnh và thị trấn Tân Lạc, có tổng diện tích tự nhiên13.957 ha, dân số trên 1 vạn người Thị trấn Tân Lạc là trung tâm phát triển kinh tế - văn hóa xã hội của toàn huyện
Vùng 3 (vùng dưới) gồm 3 xã: Châu Hội, Châu Nga, Châu Bình Tổng diên tích tự nhiên là 33.179 ha, dân số trên 1,6 vạn người
Vùng 4 (vùng trong) gồm 3 xã : Châu Phong, Châu Hoàn và xã Diên Lãm, có tổng diện tích tự nhiên 35.614 ha, dân số trên 1 vạn người Đây là vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhất của toàn huyện
Trang 3531
Do có những đặc điểm khác nhau nên mỗi vùng có sự phát triển kinh tế -
xã hội không đồng đều, tạo ra sự đa dạng trong cơ cấu sản xuất
2.1.2.4 Dân cư và sự phân bố dân cư
Quỳ Châu là huyện có diện tích rộng 1.057,65km2, chiếm 6,4% tổng diện tích toàn tỉnh và đứng thứ 6 sau các huyện Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong, Con Cuông, Thanh Chương, dân số năm 2014 là 56.150 người Quỳ Châu là nơi
cư trú đông đảo của người Thái ở miền Tây xứ Nghệ
Bảng 1 Dân số huyện Quỳ Châu theo đơn vị hành chính
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Quỳ Châu, tháng 12 năm 2015)
Từ bảng trên có thể nhận xét như sau:
Nhìn chung dân số huyện Quỳ Châu phân bố không đồng đều giữa các vùng, các khu vực Dân số tập trung chủ yếu ở vùng trung tâm và các xã dọc
Trang 36tự nhiên thì mật độ dân số lại thấp như các xã Châu Nga, Châu Hoàn, Diên Lãm, những vùng tài nguyên thiên nhiên gần cạn kiệt thì mật độ dân số cao, như xã Châu Tiến, Châu Bình Mặc dù các ngành công nghiệp, dịch vụ, xây dựng đã
có chiều hướng phát triển nhưng do tập trung đông dân cư nên vùng trung tâm
và một số xã dọc quốc lộ vẫn xảy ra tình trạng lãng phí nguồn nhân lực, việc làm, và nguy cơ tăng cao các tệ nạn xã hội
Dân số Quỳ Châu châu chưa nhiều và tập trung chủ yếu ở những vùng có nhiều đồng ruộng, điều kiện sinh sống phát triển hơn, ngược lại những xã có nhiều núi và núi cao thì dân sống thưa thớt Số xã có trên 5000 dân chỉ có 4 xã
và có 3 xã dân số dưới 3000 người Cơ cấu nam nữ nhìn chung không chênh lệch nhiều 29,0/27,6
Bảng 2: Dân cư tôn giáo phân theo đơn vị hành chính
TT
Tổng số
Năm 2015
Số hộ (Hộ)
Số Khẩu (Người) Tổng số Tr.đó: Nữ
Trang 37(Nguồn Phòng Thống kê huyện Quỳ Châu, năm 2015)
Qua biểu trên ta thấy dân cư tôn giáo ở Quỳ Châu chiếm tỷ lệ không nhiều và phân bố tập trung ở một số xã vùng trọng điểm như Thị trấn Tân Lạc,
xã Châu Bình, xã Châu Hạnh, một số nhỏ ở xã Châu Tiến
Quỳ Châu là nơi tụ cơ chính của đồng bào Thái, bên cạnh đó còn có các dân tộc anh em cùng chung sống, tạo nên một cộng đồng đa màu sắc Tuy nhiên, tập trung đông dân cư nhất là dân tộc Thái và dân tộc Kinh Người Thái chiếm 78,02 % dân số và người Kinh là 21,97 % dân số Những đơn vị có tỷ lệ người Kinh cao là thị trấn Tân Lạc, xã Châu Bình, Châu Tiến, Châu Hội Ngoài ra, ở Quỳ Châu còn có các dân tộc khác cùng sinh sống là Tày 40 người, Mường 22 người, Thổ 67 người, Khơ Mú 5 người trong đó một số dân tộc chỉ gồm 1 đến
2 người như Hoa và Gia Rai
2.2 Thực trạng giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An
Quỳ Châu là huyện miền núi vùng cao, có điều kiện tự nhiên vừa thuận lợi vừa khó khăn Cơ cấu dân cư bao gồm nhiều thành phần tộc người, được hình thành trong những thời kỳ và lịch sử khác nhau Trong đó, dân tộc Thái là
chiếm hơn 75 % dân số và là tộc người tụ cư lâu đời ở vùng đất Quỳ Châu
Người Thái thuộc nhóm nhân chủng Mongolod Nam Á Tiếng Thái thuộc ngôn ngữ Tày Thái Đặc biệt người Thái có chữ viết riêng từ lâu đời Chữ Thái
có 4 cách viết khác nhau, trong đó người Thái ở miền Tây Nghệ An có cách viết riêng Tất cả các mẫu tự Thái đều bắt nguồn từ chữ Phạn, một loại hình văn tự
Trang 38họ cư trú ở Tây Bắc, một số tiếp tục di cư sang Lào rồi về vùng miền Tây Nghệ
An, một nhóm di cư vào Hòa Bình, Thanh Hóa rồi đến miền Tây Nghệ An
Nhìn vào sự phân bố của người Thái ở khu vực miền núi Bắc Trung Bộ, chúng ta thấy người Thái ở Nghệ An cư trú khá tập trung Đây là một đặc điểm vừa mang những yếu tố văn hóa truyền thống, thống nhất của người Thái, vừa mang những đặc thù của địa phương do những tác động của điều kiện sống và quá trình giao tiếp văn hóa với các văn hóa cư dân vùng kế cận
Hầu hết các nhà nghiên cưú đều cho rằng: Người Thái ở Quỳ Châu cũng như người Thái ở miền Tây Nghệ An đều có nguồn gốc từ người Thái ở vùng Tây Bắc đã di cư vào khoảng thế kỷ XIV như Mạc Đường (1964), Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn (1968), Lê Sỹ Giáo (1998), Vi Văn An (1998) Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, mặc dù người Thái ở Nghệ An đều có nguồn gốc chung
từ Tây Bắc, song đại bộ phận người Thái ở Quỳ Châu lại chủ yếu chuyển cư trực tiếp từ vùng Thượng Lào sang Sở dĩ như vậy là vì giữa miền Tây Bắc Việt Nam
và miền Tây Nghệ An có địa hình bị chia cắt phức tạp, rất khó đi lại, trao đổi; còn nếu từ Lào có thể thâm nhập bằng nhiều con đường khác nhau rất dễ dàng với miền Tây Nghệ An Điều này được phản ánh trong nhiều truyền thuyết dân gian của các nhóm người Thái ở Quỳ Châu như: Ông thủy tổ của họ đến từ
Luông Phá Bàng (Luông Pha Băng), hay trong các bài cúng bài mo thường hay
nhắc đến các địa danh liên quan đến nước Lào như: Nhân danh chấn Lạn Xạng,
mường Phá còn những địa danh ở vùng Tây Bắc ít được nhắc đến
Ở Nghệ An, người Thái có 3 nhóm chính sau đây:
Nhóm Tày Mường hay còn gọi là Tày Chiềng Nhóm này đến cư trú lập nghiệp sớm nhất ở vùng đất Châu Kim, Mường Nọc (Quế Phong), nơi đang lưu
Trang 39Nhóm Tày Mười hay còn gọi là Tày Muổi, nhóm này cư trú chủ yếu ở Yên Na, Yên Hòa, Yên Tĩnh, Yên Thắng, Nga My (Tương Dương), Chiêu Lưu, Hưũ Kiệm, Hữu Lập, Tà Cả (Kỳ Sơn)
Ngoài 3 nhóm trên, ở miền Tây Nghệ An còn có nhóm Tày Khăng, cư trú chủ yếu ở Na Loi, Phà Đánh, Tà Cả (Kỳ Sơn)
Dù thuộc ở các nhóm Thái khác nhau nhưng họ đều những đặc trưng của dân tộc Thái, đặc điểm dễ nhận thấy nhất đó là chung về ngôn ngữ và là những
cư dân nông nghiệp lúa nước, thường tụ cư, tập trung ở các dòng chảy, ở các thung lũng chân núi Các bản làng của người Thái thường được xây dựng ở gần bến nước với một bên là núi, một bên là ruộng Người Thái ở Quỳ Châu dù thuộc nhóm nào hay nguồn gốc khác nhau ra sao thì cũng đều tự hào về những
gì họ đã làm được cho quê hương đất nước
Dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu, Nghệ An là một bộ phận của cộng đồng dân tộc Thái ở đất nước ta, vì vậy đặc trưng văn hóa của người Thái ở Quỳ Châu vừa mang đặc trưng văn hóa Thái nói chung vừa mang dấu ấn đặc sắc riêng
2.2.1 Văn hóa vật chất
2.2.1.1 Tập quán canh tác lúa nước và săn bắn
- Tập quán trồng lúa nước: Với sự quy định của điều kiện thiên nhiên như
đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu nên đồng bào Thái đã chọn lối canh tác riêng phù hợp với điều kiện sinh sống Phương Thức canh tác và sản xuất chủ yếu của người Thái ở Quỳ Châu là trồng lúa nước: “ Hày tím tá bò mí tò ná hờ nừng” (Rẫy ngút tầm mắt không bằng ruộng một thửa), ngoài ra người Thái còn phát triển thêm nương rẫy Trên cơ sở đối tượng tác động vào tự nhiên mà họ đã tạo
Trang 40Người Thái ở Quỳ Châu chủ yếu là trồng lúa nếp, các loại rau, quả dưa, các loại gấc cao sản để đảm bảo cuộc sống và trao đổi hàng hóa Hơn nữa đối với đồng bào các dân tộc thiểu số khác thì việc đốt nương làm rẫy đồng nghĩa với cuộc sống du canh du cư Còn người Thái dẫu có làm rẫy vẫn là định cư Đây là nét văn hóa đặc sắc góp phần tạo cho xã hội người Thái một sự ổn định
Gắn liền với canh tác lúa nước và hoạt động nương rẫy, người Thái trong quá trình sản xuất đã sử dụng nhiều loại công cụ khác nhau như cày (tháy), bừa (phứa), dao (vánh), xẻng (lô, vên), cuốc (chả), bạch (giống cuốc nhưng nhỏ hơn, dùng để làm nương), hai (để gặt lúa nước), hẹp (để ngắt từng bông lúa trên nương), chà hẹ (gồm cái càn dài chừng 1m, đầu gắn với kim loại dùng để chọc
lỗ trỉa nại, trồng ngô), rìu (bán để chặt cây), cờ pê (cái bế), cờ chặt (sọt) Trong các công trên, mỗi công cụ có những vai trò khác nhau, trong đó con dao được coi là công cụ quan trọng nhất trong việc tạo ra các giá trị vật chất Vì vậy, trong công việc sản xuất hàng ngày, người Thái luôn mang bên mình con dao