Nh vậy, đối chiếu so sánh với ngôn ngữ toàn dân , ta có thể hình dung đối ợng khảo sát miêu tả của đề tài này sẽ là các lớp từ ngữ sau: - Những từ ngữ riêng biệt trong phơng ngữ Thanh Ho
Trang 1Lời cảm ơn.
Lời đầu tiên tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, TS Hoàng Trọng Canh đã tận tình hớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ ngôn ngữ nói riêng, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn nói chung – Trờng Đại học Vinh, đã động viên khích lệ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành khoá luận.
Với những bớc đầu tiên trên con đờng nghiên cứu khoa học và
đặc biệt là thời gian thực hiện cho khoá luận còn cha nhiều Vì vậy, khoá luận không thể tránh khỏi những mặt thiếu sót Rất mong đợc sự góp ý của các thầy cô giáo cùng những ai quan tâm đến đề tài này.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 05 năm 2003.
Ngời thực hiện:
Lê Thị Huệ
Mục lục
Nội dung Trang
Phần mở đầu ……… 4
1 Lý do chọn đề tài……… 4
2 Lịch sử vấn đề……… 5
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ……… 6
4 Đối tợng nghiên cứu ……… 7
Trang 25 Phơng pháp nghiên cứu……… 7
6 Cái mới của đề tài……….8
7 Cấu trúc của đề tài………9
Chơng 1: Một số vấn đề chung về phơng ngữ và phơng ngữ Thanh Hoá………10
1.1 Một số vấn đề chung về phơng ngữ……….10
1.1.1 Phơng ngữ - con đờng hình thành và mặt biểu hiện của tính đa dạng ngôn ngữ dân tộc……….10
1.1.2 Các phơng ngữ trong tiếng Việt và lịch sử nghiên cứu chúng…13 1.2 Phơng ngữ Thanh Hoá ………17
Chơng 2: Đặc điểm vốn từ địa phơng Thanh Hoá (qua so sánh với vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh)……… 25
2.1 Sự phong phú đa dạng của các lớp từ địa phơng Thanh Hoá………… 25
2.2 Đặc điểm ngữ âm của từ địa phơng Thanh Hoá……… 27
2.2.1 Những tơng ứng phụ âm đầu………27
2.2.2 Những tơng ứng khuôn vần……… 30
2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa vốn từ địa phơng Thanh Hoá……… 34
2.3.1 Kiểu I: Những từ vừa có sự tơng ứng về âm vừa có sự tơng đồng về nghĩa……….35
2.3.2 Kiểu II: Những từ có sự tơng ứng về ngữ nghĩa âm và biến đổi ít nhiều về nghĩa……….37
2.3.3 Kiểu III: Những từ cùng âm nhng xê dịch ít nhiều về nghĩa……….42
2.3.4 Kiểu IV: Những từ giống âm nhng khác nghĩa……….47
2.3.5 Kiểu V: Những từ khác âm nhng tơng đồng về nghĩa……….51
2.3.6 Kiểu VI: Những từ khác âm khác nghĩa……… 55
Kết luận……… 58
Tài liệu tham khảo……… 60
Phụ lục ………62
Trang 3Phần Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia thống nhất, là ngôn ngữ cho 54 dân tộc anh em
sống trên mọi miền Tổ quốc Trong bản chất của nó, ngôn ngữ quốc gia là thốngnhất cho toàn xã hội Nhng thống nhất không có nghĩa là đồng nhất ở mặt biểuhiện, ngôn ngữ rất đa dạng Tính đa dạng của ngôn ngữ thể hiện trên nhiều mặt, ởphong cách thể hiện Xét theo bình diện khu vực dân c, tiếng Việt có nhiều phơngngữ khác nhau trong đó phơng ngữ Thanh Hoá là một trong những biểu hiện củatính đa dạng ấy
Đề tài này khảo sát các đơn vị từ vựng tiếng Việt đợc thể hiện với những khácbiệt nhất định về ngữ âm từ vựng của nó so với ngôn ngữ toàn dân ở khu vực dân cThanh Hoá Nghiên cứu phơng ngữ Thanh Hoá là một việc làm cần thiết Bởi vì sựkhác biệt về ngữ âm và ngữ nghĩa giữa vốn từ địa phơng Thanh Hoá so với vốn tựtoàn dân là khá rõ nét Mặt khác nh ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu phơng ngữThanh Hoá là một trong những vùng còn bảo lu nhiều yếu tố cổ nhấtcủa tiếng Việt,nên việc nghiên cứu phơng ngữ thuộc địa bàn c dân này có thể góp thêm phần cứliệu soi sáng lịch sử tiếng Việt
1.2 Nh đã biết, trong một chừng mực nhất định việc nghiên cứu ngữ âm, ngữ
nghĩa, dới góc độ nghiên cứu ngôn ngữ, văn hoá, lịch sử tiếng Việt nói chung hayphơng ngữ và văn hoá địa phơng nói riêng đều phải dựa trên cơ sở vốn từ Cho nên,thu thập và khảo sát vốn từ địa phơng là một nhu cầu cần yếu Nhất là trong xu thếtất yếu của công cuộc hiện đại hoá đất nớc nh hiện nay, việc giao lu, tiếp xúc giữacác vùng, các tầng lớp xã hội ngày càng mở rộng, thờng xuyên, phạm vi sử dụng từngữ địa phơng bị thu hẹp một cách nhanh chóng, xét về mặt địa lý, dân c cũng nh ởcác tầng lớp thành viên sử dụng nó Mặt khác, nếu chúng ta cho rằng, từ địa phơng
là nơi lu giữ những dấu ấn văn hoá địa phơng, biểu hiện của ngời nói ở giao tiếp và
Trang 4nếu chúng ta muốn góp phần vào việc làm rõ bản sắc văn hoá địa phơng thì thực tiễn
đang diễn ra nh trên đòi hỏi việc thu thập vốn từ địa phơng và nghiên cứu nó càngcấp bách và có ý nghĩa hơn bao giờ hết Thực hiện đề tài này chính cũng khôngngoài ý nghĩa đó
1.3 Nhận xét đặc điểm lớp từ địa phơng Thanh Hoá có thể làm sáng tỏ nhiều vấn
đề Trớc hết, qua việc miêu tả và so sánh, bộ mặt phơng ngữ Thanh Hoá sẽ đợc hiệnlên với đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa chủ yếu Một ý nghĩa khác với 3 vùng phơngngữ lớn của tiếng Việt mà nhiều nhà nghiên cứu thờng nhắc tới thì phơng ngữ ThanhHoá thuộc vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ Khi phân tích đặc điểm các phơng ngữthuộc vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ, Trơng Văn Sinh, Nguyễn Thành Thân trongcông trình “Về vị trí của tiếng địa phơng Thanh Hoá” (Ngôn ngữ số 4, tr 64 - 65);Hoàng Thị Châu với công trình “Tiếng Việt trên các miền đất nớc”(Phơng ngữ học),Nxb KHXH, Hà Nội; Phạm Văn Hảo với công trình: “Về một số đặc trng của tiếngThanh Hoá, thổ ngữ chuyển tiếp giữa phơng ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ” (Ngônngữ số 4, tr 54 - 56) đều cho rằng: Phơng ngữ Thanh Hoá mang đặc điểm trunggian, chuyển tiếp giữa vùng phơng ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Vì vậy, nghiêncứu đặc điểm lớp từ địa phơng Thanh Hoá chúng ta sẽ góp phần làm cho phơng ngữvùng Bắc Trung Bộ hiện lên một cách rõ nét và bao quát hơn Đồng thời nghiên cứu
đặc điểm lớp từ địa phơng Thanh Hoá chúng ta sẽ thấy đợc đặc điểm rất thú vị này
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Đây là một vấn đề còn rất mới mẻ, cha đợc nhiều ngời quan tâm Từ trớc tớinay cha có nhiều công trình nghiên cứu, chỉ mới có một vài nhà nghiên cứu ngônngữ đi vào nghiên cứu vấn đề này ở đây, tôi xin điểm qua một số công trình có liênquan đến đề tài này
Trớc hết, phải kể đến công trình nghiên cứu của Hoàng Thị Châu mang tên
“Tiếng Việt trên mọi miền đất nớc”(1989), Nxb KHXH, Hà Nội Trong công trìnhnày, Hoàng Thị Châu đã đa ra nhiều ý kiến xác đáng của mình về phân chia cácvùng phơng ngữ và đặc điểm chung của các vung phơng ngữ đó Trong đó có phơngngữ Thanh Hoá thuộc vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ Đồng thời bà cũng chỉ ra rằngphơng ngữ Thanh Hoá là một trong 2 phơng ngữ đợc xem là phơng ngữ chuyển tiếp
Tiếp đến là công trình của Phạm Văn Hảo mang tên “Về một số đặc trng củatiếng Thanh Hoá, thổ ngữ chuyển tiếp giữa phơng ngữ Bắc Bộ và Bắc trung Bộ
”(1985), Ngôn ngữ số 4, tr 54 – 56 Đây là công trình giúp chúng tôi hiểu thêm về
đăc trng của tiêng địa phơng Thanh Hoá ở công trình này ông cùng chung ý kiếnvới Hoàng Thị Châu về việc xem phơng ngữ Thanh Hoá là phơng ngữ chuyển tiếpgiữa phơng ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Đồng thời ông cũng đa ra một số nhận xétcủa mình về đặc trng của tiếng địa phơng Thanh Hoá
Ngoài ra còn có công trình của Trơng văn Sinh và Nguyễn Thành Thân mangtên “Về vị trí của tiếng địa phơng Thanh Hoá ”(1985), Ngôn ngữ số 4, tr 64 – 65.Hai ông đã đa ra nhận xét của mình về vị trí của tiếng địa phơng Thanh Hoá là
Trang 5không thật ổn định; hoặc đợc xếp vào phơng ngữ Bắc Bộ hoặc đợc xếp vào phơngngữ Bắc Trung Bộ cùng với tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên.
Nh vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu có liên quan đến tiếng địa phơngThanh Hoá ta thấy vấn đề này cha đợc nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm.Tuy nhiên đây là những công trình rất cần thiết để chúng tôi tham khảo, phục vụ cho
đề tài này
Nh vậy, về tiếng địa phơng Thanh Hoá - Đây là một đề tài nghiên cứu kháthú vị nhng còn rất ít công trình nghiên cứu nó Hơn nữa, nh cháng ta đã thấy cáctác giả chỉ mới dựa vào một số t liệu hạn chế(nếu không muốn nói là nghèo nàn) đểrút ra các đặc điểm, nhận xét Do đó, chúng tôi thiết nghĩ thử cuung cấp một t liệuphong phú đầy đủ hơn bằng cách điều tra điền dã toàn bộ hệ thống vốn từ ThanhHoá Trên cơ sở đó bớc đầu kiểm chứng những nhận định của các tác giả đi trớc và
hy vọng có thể phát biểu đợc những nhận xét bổ sung riêng của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Mục đích nghiên cứu.
Thu thập vốn từ địa phơng Thanh Hoá, làm t liệu cho tất cả những ai quantâm tới những vấn đề về phơng ngữ văn hoá Thanh Hoá
Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phơng Thanh Hoá là nhằm góp phần bớc đầuxác định một bức tranh toàn cảnh về vốn từ địa phơng Thanh Hoá Nh vậy cũng làgóp phần làm cho diện mạo bức tranh chung về từ ngữ vùng phơng ngữ Bắc Trung
Bộ hiện lên rõ nét hơn, đầy đủ hơn
Trên cơ sở vốn từ đã đợc thu thập bớc đàu tìm hiểu đặc điểm vốn từ địa phơngThanh Hoá thông qua so sánh với vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh Cũng qua đó có thểthấy đợc một số vấn đề về sự biến đỏi của tiếng Việt trên các vùng, độ lan toả củacác làn sóng ngôn ngữ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Xuất phát từ mục đích của đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu đợc đặt ra là thu thập,khảo sát vốn từ địa phơng Thanh Hoá Qua so sánh với vốn từ toàn dân và vốn từ địaphơng Nghệ Tĩnh, kết luận rút ra đợc những đặc điểm riêng của tiếng địa phơngThanh Hoá
4 Đối tợng nghiên cứu.
Nghiên cứu phơng ngữ Thanh Hoá cũng nh các phơng ngữ khác trong tiếngViệt có thể miêu tả nó trên tất cả các phơng diện Nhng nh tên đề tài, với nhiệm vụ
đã nêu trên, chúng tôi chủ yếu thu thập vốn từ, khảo sát một số đặc điểm về từ vựng
- ngữ nghĩa của phơng ngữ Thanh Hoá so với ngôn ngữ Nghệ Tĩnh Vì vậy, đối tợng
khảo sát của đề tài này là toàn bộ từ ngữ của phơng ngữ Thanh Hoá bao gồm những
đơn vị từ vựng đặc trng Thanh Hoá Đó sẽ là lớp từ ngữ quen thuộc hằng ngày đợc ngời Thanh Hoá dùng một cách tự nhiên, phổ biến hầu khắp trên địa bàn c dân Thanh Hoá Đồng thời lớp từ ngữ này có sự khác biệt hoàn toàn hoặc ít nhiều ở mặt nào đó về ngữ âm, ngữ nghĩa hay ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân
Trang 6Nh vậy, Lớp từ địa phơng đợc thu thập và miêu tả ở đây là xét về bình diện khu vực dân c thể hiện của tiếng Việt Đó là sự thể hiện của các đơn vị từ vựng tiếng
Việt ở địa bàn Thanh Hoá với các dạng biến đổi khác nhau của nó
Nh vậy, đối chiếu so sánh với ngôn ngữ toàn dân , ta có thể hình dung đối ợng khảo sát miêu tả của đề tài này sẽ là các lớp từ ngữ sau:
- Những từ ngữ riêng biệt trong phơng ngữ Thanh Hoá không có quan hệ t-
t-ơng ứng ngữ âm , ngữ nghĩa với từ ngữ trong ngôn ngữ toàn dân nh: mẻ, nem chua,bánh gai…
- Lớp từ có sự tơng ứng ngữ âm hoặc ngữ nghĩa so với từ ngữ toàn dân nhng
có sự khác biệt ít nhiều về một hoặc cả hai mặt đó nh: khản(gải), lả(lửa), trốc(đầu)
…
5 Phơng pháp nghiên cứu.
5.1.Phơng pháp điều tra điền dã, thống kê.
Để có đợc vốn từ, cứ liệu thì trớc tên phải tiến hành phơng pháp điều tra điềndã, thống kê Đây là phơng pháp tiên quyết Từ chỗ lập ra một bảng từ, qua điến dã,
đối chiếu thu thập đợc các từ địa phơng Thanh Hoá thoả mãn các điều kiện nh đãxác định về khái niênj từ địa phơng Trên cơ sở đó, tập hợp toàn bộ các từ ngữ địa
địa phơng Thanh Hoá theo những giá trị nhất định ta có vốn từ địa phơng ThanhHoá
5.2 Phơng pháp so sánh đối chiếu
Mục đích chính của luận văn là bớc đầu vốn từ địa phơng Thanh Hoá so vớivốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh Cho nên phơng pháp so sánh - đối chiếu đợc xem nh làcái cốt lõi, quán xuyến, là phơng pháp chủ yếu để thực hiện đề tài này Ngoài yêucầu thờng xuyên phải so sánh đối chiếu với ngôn ngữ toàn dân nh một yêu cầu tấtyếu của việc nghiên cứu phơng ngữ học, chúng tôi phải so sánh với vốn từ địa phơngNghệ Tĩnh (qua “Từ điển tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh”(1999) - Hoàng Trọng Canh,Nguyễn Nhã Bản, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên, NXB Văn hoá thông tin,
Hà Nội) Nh ta đã biết, nghiên cứu vốn từ không phải là nghiên cứu các từ rời rạc
mà bao giờ chúng cũng đợc đặt trong những quan hệ nhất định Do đó, toàn bộ vốn
từ địa phơng Thanh Hoá sau khi đã thu thập sẽ đợc phân loại, nghiên cứu theonhững hệ thống, những giá trị nhất định - đó sẽ là các lớp từ vựng nhất định đợc xếptrong những quan hệ nhiều chiều, với các từ trong hệ thống phơng ngữ và với các từtrong ngôn ngữ toàn dân; với các từ địa phơng trong vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ
Do điều kiện thời gian , khi khảo sát vốn từ địa phơng Thanh Hoá trớc mắtchúng tôi mới chỉ nghiên cứu các lớp từ chứ cha nghiên cứu các đơn vị là ngữ cố
định
5.3.Phơng pháp phân tích từ vựng - ngữ nghĩa.
Khi so sánh các đặc điểm của vốn từ địa phơng Thanh Hoá với ngôn ngữ toàndân và với phơng ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi dùng phơng pháp phân tích từ vựng -
Trang 7ngữ nghĩa, trtong đó phơng pháp phân tích thành tố nghĩa thờng xuyên đợc dùngnhất là khi khảo sát những nhóm từ cụ thể
6 Cái mới của đề tài.
Tiếng địa phơng Thanh Hoá thuộc vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ nhng là mộttrong những phơng ngữ có rất nhiều điều thú vị Nó đợc xem nh là phơng ngữchuyển tiếp giữa hai vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nhng từ trớc tới nay mới chỉ cómột công trình đi sâu nghiên cứu đặc điểm vố từ địa phơng Thanh Hoá về mặt ngữ
âm đó là: “Về ngữ âm tiếng địa phơng Thanh Hoá”(Luận án phó tiến sĩ – PhạmVăn Hảo) Vì vậy, đây là công trình đầu tiên thu thập vốn từ địa phơng Thanh Hoá
và bớc đầu khảo sát đặc điểm của vốn từ này Qua đó cung cấp t liệu cho những aiquan tâm đến phơng ngữ Thanh Hoá nói riêng và vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ nóiriêng
7 Cấu trúc của khoá luận.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đợc trình bàytrong hai chơng:
Chơng 1: Một số vấn đề chung về phơng ngữ và phơng ngữ Thanh Hoá
Chơng 2: Nhận xét đặc điểm về lớp từ địa phơng Thanh Hoá.
Tiếp đến là phần: Tài liệu tham khảo
Và cuối cùng là phần phụ lục
Trang 8cố dần do tình trạng cát cứ, tình trạng phân tán cách biệt của các khu vực địa lý dân
c ở các quốc gia phong kiến
Con đờng hình thành phơng ngữ khi đã có ngôn ngữ quôc gia trong những
điều kiện địa lý giao tiếp cách biệt nh vậy, nhìn bên ngoài dờng nh đi ngợc lại, tráivới quy luật thồng nhất ngôn ngữ dân tộc, nhng hiện tợng này cũng chỉ tồn tại trongmột thời gian với điều kiện lịch sử cụ thể của từng nớc Các phơng ngữ đó cũng mấtdần tính cách biệt và đi đến thống nhất khi hàng rào địa lý và giao tiếp xã hội củacác công quốc(ở Châu Âu) các vùng địa lý dân c cách biệt về giao thông(các nớcphong kiến phơng Đông) bị xoá bỏ
Dù phơng ngữ có đợc hình thành theo con đờng nào, thì đó cũng chỉ lànguyên nhân kinh tế, địa lý, lịch sử xã hội – nguyên nhân bên ngoài ngôn ngữ Ph-
ơng ngữ ra đời còn là kết quả của một sự tác động bên trong, từ cấu trúc ngôn ngữ Ngôn ngữ luôn luôn phát triển và biến đổi Mặt biến đổi của nó đợc thể hiện trêntừng phơng ngữ về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
Sự biến đổi của ngôn ngữ là không đồng đều trên từng bình diện ngôn ngữcũng nh trên khắp các vùng dân c vì thế mà tạo ra đặc điểm riêng của từng phơngngữ làm nên tính đa dạng của ngôn ngữ trong hể hiện Trong điều kiện các c dân nóicùng một ngôn ngữ nhng sống trải rộng trên một địa bàn lớn mà các vùng dân c lạicách biệt nhau về địa lý, điều kiện giao thông và thông tin khó khăn, sự giao tiếp,tiếp xúc ngôn ngữ giữa các vùng không thờng xuyên, bị khép kín, thì thông thờng,một sự thay đổi nào đó về ngôn ngữ cũng chỉ lan truyền trong nội bộ c dân vùng địa
lý đó mà thôi Ban đầu sự thay đổi tạo nên sự khác nhau về ngôn ngữ giữa các vùng
địa lý dân c có thể chỉ là yếu tố rời rạc về mặt từ vựng nh sự xuất hiện của các từ
Trang 9mới, sự mất đi của các từ cũ, về sau những thay đổi lớn hơn bắt đầu chạm đến cấutrúc của hệ thống ngôn ngữ nh sự biến đổi của một vài âm vị, sự thay đổi của các từcông cụ, ngữ pháp trong từng vùng địa lý (nh 3 phụ âm quặt lỡi(tr, r, s ) mất đi trong
cách phát âm của c dân vùng Bắc Bộ, việc quen dùng các từ chỉ trỏ: mô, tê, răng, rứa mà không dùng: đâu, kia, sao, thế, ở địa bàn c dân Thanh Hoá.) đó là những dấu
hiệu của sự khác nhau về ngôn ngữ giữa các vùng dân c Nói cách khác, các phơngngữ địa lý đã ra đời Đứng về mặt phơng diện giao tiếp mà nói, ngôn ngữ thay đổitrong từng vùng dân c là sự thay đổi và tạo ra thói quen nói năng khác các vùng dân
c khac Tập hợp các thói quen nói năng khác nhau đó của một vùng dân c so vớivùng dân c khác là tập hợp tạo nên phơng ngữ của từng vùng Nh vậy, nhìn vào biểuhiện của ngôn ngữ trên từng khu vực địa lý, ta thấy có sự khác nhau Sự khác nhaucủa các phơng ngữ địa lý rõ ràng không phải do nguyên nhân địa lý Nguyên nhânsâu xa, bên trong là do sự phát triển biến đổi của ngôn ngữ Điều kiện địa lý chỉ lànhân tố khách quan bên ngoài ngôn ngữ làm cho các khác biệt của ngôn ngữ đợcgiữ laị và thể hiện ra Nếu không có sự phân bố tách biệt nhau về địa lý thì không cóphơng ngữ nhng đó chỉ là điều kiện đểcác thay đổi ngôn ngữ đợc phổ biến trongvùng Song cũng không nên quên, sự khác nhau giữa các phơng ngữ dù lớn đến đâucũng chỉ là sự khác biệt không đáng kể so với ngôn ngữ toàn dân, bởi các phơng ngữ
nh vậy, trên căn bản giống nhau về hệ thống cấu trúc Chúng vẫn dùng chung mộtmã ngôn ngữ thống nhất Xu hớng thống nhất ngôn ngữ, xoá bỏ dần sự khác biệtcủa các phơng ngữ trong toàn dân ở mỗi quốc gia là một tất yếu của sự phát triểncủa ngôn ngữ và xã hội
Những phơng ngữ địa lý mà chúng ta đã chỉ ra các nguyên nhân hình thành
nh trên là đã đợc nhìn theo chiều thời gian và không gian của sự phát triển biến đổi
và biểu hiện của ngôn ngữ dân tộc Phơng ngữ địa lý tạo thành hệ thống, quan hệgắn bó với hệ thống ngôn ngữ toàn dân, và là một trong những biểu hiện của tínhphong phú đa dạng của ngôn ngữ toàn dân
Từ những điều đã trình bày nh trên, ta có thể rút ra một vài đặc điểm của
ph-ơng ngữ nh sau:
Nếu nh ngôn ngữ dân tộc hay ngôn ngữ toàn dân là ngôn ngữ chung của toàndân tộc, là phơng tiện ngôn ngữ đợc dùng phổ biến rộng rãi hàng ngày trong toànquốc, không bị hạn chế về phạm vi sử dụng, thì :
- Phơng ngữ là một biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trong quá trình phát triểnbiến đổi của quy luật ngôn ngữ
- Sự phát triển , biến đổi của ngôn ngữ luôn luôn diễn ra trên hai mặt cấu trúc vàchức năng Cùng với sự phát triển chức năng nhiều mặt của ngôn ngữ , sự phát triểncấu trúc của ngôn ngữ thể hiện ở sự biến đổi về ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa, ngữpháp Phơng ngữ là nơi thể hiện kết quả của sự biến đổi ấy Chính vì vậy phơng ngữkhác ngôn ngữ toàn dân ở một vài khía cạnh nào đó, ở một mức độ nào đó, nhng
Trang 10trên căn bản, cái mã chung – hệ thống cấu trúc ngữ pháp, từ vựng, âm vị giữa
ph-ơng ngữ và ngôn ngữ toàn dân là giống nhau
- Phơng ngữ là một hệ thống biến thể của ngôn ngữ toàn dân bị hạn chế về phạm
vi sử dụng Nói cách khác giới hạn sử dụng của phơng ngữ là trong những vùng địa
lý dân c hoặc tầng lớp xã hội nhất định
- Phơng ngữ là một hiện tợng lịch sử, nó ra đời nh một tất yếu do sự phát triển ,biến đổi của ngôn ngữ cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội ,do đó với su thếthống nhất ngày càng cao, phạm vi sử dụng của ngôn ngữ ngày càng bị thu hẹp và
về mặt lý thuyết, nó sẽ mất đi trong tơng lai của một ngôn ngữ dân tộc thống nhất và
đợc tiêu chuẩn hoá cao
Tóm lại, nói tới phơng ngữ là nói tới một hiện tợng phức tạp của ngôn ngữkhông chỉ về mặt hệ thống cấu trúc cấu tạo cũng nh phơng diện thể hiện mà bảnthân nó còn là sự phản ánh của nhiều mối quan hệ trong và ngoài ngôn ngữ Chonên, để trả lời đợc câu hỏi : “Phơng ngữ là gì?” làm cơ sở cho mọi sự khảo sát vềphơng ngữ , ngời ta đành phải trừu tợng hoá để khái quát về những phơng diện cơbản của đối tợng nh các định nghĩa sau đây mà luận văn này xem là một trongnhững cơ sở về mặt lý luận Có thể nhấn mạnh đến những nét khác biệt trong biểuhiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể , nh định nghĩa của Hoàng ThịChâu: “Phơng ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữtoàn dân ở một địa phơng cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữtoàn dân hay một phơng ngữ khác”(Hoàng Thị Châu – 1988, tiếng Việt trên cácmiền đất nớc, Nxb KHXH, Hà Nội, tr24) Hoặc đồng thời chú ý thêm đến tình hệthống và các phơng diện thể hiện của nó nh quan niệm của nhóm tác giả Đái XuânNinh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vơng Toàn: “Phơng ngữ là hình thức ngônngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt đợc sử dụng ở một phạm vilãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ Là một hệ thống ký hiệu và quy tắc kếthợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác đợc coi là ngôn ngữ ( cho toàn dân tộc)các phơng ngữ (có ngời gọi là tiếng địa phơng, phơng ngôn) khác nhau trớc hết là ởcách phát âm, sau đó là ở vốn từ vựng”(Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, NguyễnQuang, Vơng Toàn – 1986, Ngôn ngữ học: Khuynh hớng – Lĩnh vực – Kháiniệm, tập 2, Nxb KH, Hà Nội)
1.1.2 Các phơng ngữ trong tiếng Việt và lịch sử nghiên cứu chúng.
Nhìn một cách sơ lợc và chung nhất thực tế nghiên cứu phơng ngữ học tiếngViệt, ta thấy những phơng hớng chủ yếu , những bình diện chính, các nội dung cơbản, mức độ và phạm vi nghiên cứu các phơng ngữ cụ thể đã đợc đẩy mạnh và thu
đợc nhiều thành tựu Song cũng còn nhiều công việc cha đợc tiến hành hoặc đi sâu
Ta thấy thực tế đó qua những nét khái quát sau:
Ta có thể nói đến các công trình đáng chú ý trớc nhất có đề cập đến phơng
ngữ tiếng Việt của các tác giả nớc ngoài là công trình: Nghiên cứu lịch sử ngữ âm tiếng Việt (1912) của H Maspéro; Ngữ âm tiếng Việt (Phơng ngữ miền thợng Trung
Trang 11kỳ); Ngữ âm tiếng Việt (Phơng ngữ miền hạ Trung kỳ) của L Cadiere; Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt(1951) của M.B.E Meneau; Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt(1984) của
M.V.Gordina và I.S.Bxtrov… Nhìn chung các công trình trên của các tác giả đềunghiên cứu tiếng Việt ở mặt biểu hiện của nó, chủ yếu về phơng diện ngữ âm nên ítnhiều đều mang tính chất phơng ngữ Tuy nhiên, phần lớn các công trình đó đều đivào miêu tả ngữ âm của một vùng nhất định nhng lại không đặt nó trong sự đối lậpvới ngôn ngữ toàn dân hoặc với các phơng ngữ khác vì thế nó mang tính chất củamột công trình ngôn ngữ nhiều hơn là một nghiên cứu phơng ngữ học, do đó các đặctrng của phơng ngữ không đợc thể hiện rõ nét
Một xu hớng nghiên cứu khác của phần lớn các nhà Việt ngữ học là dù đi vàonhững vấn đề cụ thể hay nghiên cứu những đặc trng khái quát, hệ thống của phơngngữ tiếng Việt, họ đều chú ý miêu tả các đặc trng phơng ngữ trong so sánh đối lập ,nên các công trình của họ mang tính chất của một công trình nghiên cứu phơng ngữthực sự Có thể kể đến công trình của các tác giả nh: Hoàng Thị Châu với 2 côngtrình: “Về 4 phụ âm ngạc hoá còn lại trong tiếng Việt vùng bắc Bình Trị Thiên”(Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam á, Nxb KHXH, Hà Nội, tr 19 - 22 );
“Tiếng Việt trên các miền đất nớc”(Phơng ngữ học), Nxb KHXH, Hà Nội; HồngDân với công trình: “Từ ngữ phơng ngôn và vấn đề chuẩn hoá từ vựng tiếngViệt”((1981)(Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ, Nxb KHXH, HàNội, tr 304 - 312)); Hoàng Dũng với công trình : “Cứ liệu từ vựng và biến đổi củacác phụ âm kép ML, BL, TL, PL, KL”(Luận văn cao học, trờng ĐHSP HN); Nguyễn
Đức Dơng, Trần Thị Ngọc Lang với công trình: “Mấy nhận xét bớc đầu về nhữngkhác biệt từ vựng – ngữ nghĩa giữa phơng ngữ miền Nam và tiếng Việt toàndân”(Ngôn ngữ số1, tr 47 - 51); Phạm Văn Hảo với: “Về một số đặc trng của tiếngThanh Hoá thổ ngữ chuyển tiếp giữa phơng ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ”(Ngônngữ số 4, tr 54 - 56); Cao Xuân Hạo với: “Số phận các vần có nguyên âm hẹp quacác phơng ngữ lớn của Việt Nam”(Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữnghĩa, Nxb GD, tr 116 - 119); Nguyễn Quang Hồng với: “Các lớp từ địa phơng vàchức năng của chúng trong ngôn ngữ văn hoá tiếng Việt”(Giữ gìn sự trong sáng củatiếng Việt về mặt từ ngữ, Nxb KHXH, tr 313 - 320); Trơng Văn Sinh và NguyễnThành Thân với: “Về vị trí của tiếng địa phơng Thanh Hoá”(Ngôn ngữ số 4, tr 64 -65); Nguyễn Nhã Bản và Nguyễn Hoài Nguyên với: “Nhát cắt thời gian trong tâmthức ngời Nghệ”(Ngôn ngữ số 4, tr 65 - 67); Võ Xuân Trang với: “Phơng ngữ BìnhTrị Thiên”(Nxb KHXH, Hà Nội)…
Ngày nay, phơng ngữ trong tiếng Việt đã thực sự là đối tợng của ngành phơngngữ học Trong các trờng đại học trong nớc có ngành Ngữ Văn, phơng ngữ học đều
đợc đa vào chơng trình giảng dạy cho sinh viên Nhiều giáo trình về phơng ngữ học
đợc biên soạn công phu nh: “Tiếng Việt trên các miền đất nớc”(Phơng ngữ học) củaHoàng Thi Châu; Giáo trình về từ vựng ngữ nghĩa học của Đỗ Hữu Châu nh: “Từvựng – ngữ nghĩa tiếng Việt”(1981),Nxb GD, Hà Nội; Nguyễn Thiện Giáp vớicông trình “Từ vựng học tiếng Việt”(1998),Nxb GD; Nguyễn Văn Tu với giáo trình
Trang 12“Từ vựng học tiếng Việt hiện đại”(1968),Nxb GD, Hà Nội…đều có những phầnnghiên cứu về phơng ngữ tiếng Việt.
Điểm qua các công trình nghiên cứu đã nêu trên, ở một phơng diện khác cũngcho ta thấy, phơng ngữ học tiếng Việt đã đợc nghiên cứu cả về mặt cấu trúc và chứcnăng và càng về sau các chức năng của phơng ngữ càng đợc chú ý nhiều hơn Haibình diện chính đợc đẩy mạnh nghiên cứu trong phơng ngữ tiếng Việt là ngữ âm và
từ vựng – ngữ nghĩa Các công trình nghiên cứu về ngữ âm và từ vựng – ngữnghĩa phơng ngữ, trớc nay phần nhiều đều hớng tới mục đích nghiên cứu lịch sửtiếng Việt, quan hệ giữa phơng ngữ với ngôn ngữ và nghiên cứu phơng ngữ phục vụcho công cuộc chuẩn hoá và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Bình diện đợc tậptrung nhiều nhất và có nhiều kết quả nhất là nghiên cứu ngữ âm của các phơng ngữ
Điều này cũng phản ánh một thực tế là sự khác biệt diễn ra chủ yếu và dễ thấy nhấtgiữa phơng ngữ với ngôn ngữ toàn dân cũng nh với các phơng ngữ khác là về mặtngữ âm Bình diện từ vựng – ngữ nghĩa cha đợc nghiên cứu nhiều Vả lại phầnnhiều các nghiên cứu về từ vựng - ngữ nghĩa lâu nay mới chỉ tập trung hớng tới mục
đích là chuẩn hoá ngôn ngữ Hớng nghiên cứu ngữ nghĩa phơng ngữ gắn với vănhoá địa phơng tuy rất lý thú và thiết thực nhng cũng mới chỉ đợc chú ý gần đây.Thực tế này cũng phản ánh rằng, ngữ nghĩa của từ vựng, nhất là đối với lớp từ địaphơng thờng là phức tạp và khó thấy, đòi hỏi phải có thời gian tìm hiểu công phu,nhất là với ngời sống ngoài địa bàn ngôn ngữ đó, nếu không trực tiếp sử dụng,không hiểu phong tục, tập quán, thói quen ngôn ngữ giao tiếp của ngời địa phơng thìrất khó, nếu không muốn nói là không thể thực hiện đợc
Một phơng diện khác về nghiên cứu phơng ngữ tiếng Việt, tuy đợc nhiều nhànghiên cứu trong và ngoài nớc quan tâm từ sớm, nhng cho đến nay vẫn cha có sựthống nhất cao là vấn đề xác định các phơng ngữ Tiếng Việt có bao nhiêu phơngngữ? Ranh giới của các phơng ngữ đến đâu? Về mặt lý luận và thực tế , xác địnhranh giới của các phơng ngữ , thổ ngữ trong một ngôn ngữ là hết sức phức tạp,không chỉ riêng với tiếng Việt Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ ,vấn đề ngôn ngữ và phơng ngữ các dân tộc thiểu số anh em có nhiều liên quan mậtthiết với tiếng Việt về cội nguồn và tiếp xúc Cho nên, nghiên cứu ngôn ngữ các dântộc thiểu số Việt Nam cũng liên quan và soi sáng nhiều vấn đề không riêng đối vớitiếng Việt nói chung mà còn đối với các phơng ngữ trong tiếng Việt nói riêng, trong
đó có vấn đề về sự hình thành của các phơng ngữ
Vấn đề ranh giới hay còn gọi phân vùng phơng ngữ trong tiếng Việt là mộttrong những nội dung đợc nhiều nhà nghiên cứu về tiếng Việt và phơng ngữ tiếngViệt quan tâm nhiều nhất Nhng đây cũng là chỗ thể hiện rõ nhất sự không thốngnhất về đờng ranh giới của các phơng ngữ Sở dĩ không có đợc một tiếng nói chung
về vấn đề này là do nhiều nguyên nhân Trớc hết bản thân đối tợng – ranh giới củacác phơng ngữ không phải là đờng ranh giới tự nhiên Ranh giới của phơng ngữ làphản ánh phạm vi biến đổi của các biến thể ngôn ngữ Nhng sự biến đổi của ngônngữ lại không chỉ xảy ra đối với một hiện tợng Vì vậy mỗi biến đổi của ngôn ngữ
Trang 13có thể tạo nên một đờng biên Tuỳ theo mức độ lan toả của mỗi biến thể ngôn ngữ
mà các đờng ranh giới (các đờng đồng ngữ) có phạm vi rộng hẹp khác nhau Hơnnữa ngôn ngữ lại liên tục phát triển, biến đổi vì thế các đờng đồng ngữ có thể chồngxếp, đan chéo lên nhau Do đó sẽ không bao giờ có đợc một đờng ranh giới phơngngữ lý tởng – mà nơi ấy là điểm hợp lu của các dòng chảy, là nơi gặp nhau của cáccon sóng ngôn ngữ , tạo nên sự trùng khít của các đờng đồng ngữ Bản thân đối tợngphức tạp nh vậy nên đờng ranh giới phơng ngữ mà các nhà nghiên cứu đa ra bao giờcũng chỉ là “ớc định” tơng đối Tuỳ theo cách nhìn của mỗi tác giả, nhấn mạnh đặc
điểm này thì đơng ranh giới phơng ngữ sẽ là thế này, nhấn mạnh đặc điểm kia , thì
đờng ranh giới phơng ngữ sẽ là thế kia Vì thế, không ai ngạc nhiên khi thấy có nhànghiên cứu chia tiếng Việt thành 5 phơng ngữ , nhiều ngời khác thì cho rằng tiếngViệt có 4 phơng ngữ , phần đông các tác giả lại chia tiếng Việt thành 3 vùng phơngngữ, nhng có 3 nhà nghiên cứu lại chỉ chia tiếng Việt thành 2 vùng phơng ngữ.Thậm chí có ngời cho rằng do trạng thái chuyển tiếp của ngôn ngữ tiếng Việt từ Bắcvào Nam là liên tục nên không thể phân chia tiếng Việt thành các vùng phơng ngữ Các xu hớng, quan niệm và kết quả khác nhau về phân chia phơng ngữ tiếng Việt
nh trên đã đợc Trơng Văn Sinh, Hoàng Thị Châu và một số tác giả khác tổng kết vìthế ở đây chúng tôi không nhắc lại Từ kết quả phân loại phơng ngữ của các nhànghiên cứu, chúng tôi thấy có 2 điểm liên quan đến luận văn này là :
- Xu hớng thống nhất hiện nay cũng nh ý kiến của phần đông các nhà nghiên cứu
đều cho rằng tiếng Việt có 3 vùng phơng ngữ lớn Đó là phơng ngữ Bắc(Bắc Bộ),phơng ngữ Trung(BắcTrung Bộ), phơng ngữ Nam(Nam Trung Bộ, Nam Bộ) Cả 3vùng phơng ngữ này , cho tới nay cha có vùng phơng ngữ nào đợc khảo sát toàndiện, triệt để
- Trong cách phân chia của nhiều tác giả, đờng ranh giới của các phơng ngữ có địabàn phân bố từ Thanh Hoá đến Thuận Hải thờng không trùng nhau; đặc biệt là địa vịcủa tiếng Thanh Hoá và Thừa Thiên Huế đợc định vị trong bảng phân loại của cácnhà nghiên cứu rất không ổn định Điều đó khách quan cũng nói lên tính phức tạpcủa các phơng ngữ phân bố ở địa bàn miền Trung này Tính chất chuyển tiếp và ảnhhởng qua lại của quan hệ tiếp xúc đã làm cho các phơng ngữ này manh tính khôngthuần nhất nh phơng ngữ Bắc và Nam Điều đó, theo thiển nghĩ của chúng tôi, để vẽnên bức tranh toàn cảnh, chẳng hạn nh bức tranh phơng ngữ Bắc Trung Bộ, mộttrong những cách làm trớc hết là chọn đợc một phơng ngữ tiêu biểu trong vùng,khảo sát miêu tả nó trên các bình diện khác nhau để khái quát thành những đặc
điểm chung Đồng thời khảo sát các phơng ngữ khác trong vùng sẽ làm đầy và rõhơn đặc điểm vùng và tinh chất giao thoa của vùng chuyển tiếp các phơng ngữ
Cả hai vấn đề nêu trên đều có liên quan đến việc xác định vị trí, vai trò củaphơng ngữ Thanh Hoá cũng nh mục đíc, ý nghĩa của việc nghiên cứu nó đối vớivùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ
Trang 14Tóm lại, điểm qua các công trình nghiên cứu phơng ngữ tiếng Việt lâu nay tathấy vấn đề phơng ngữ tiếng Việt ngày càng đợc đẩy mạnh nghiên cứu và đã thu đợcnhững kết quả đáng kể trên một vài phơng diện quan trọng; đóng góp đợc nhiều vấn
đề về lý luận và t liệu cho lịch sử tiếng Việt cũng nh các mặt văn hoá, xã hội , chuẩnhoá ngôn ngữ Song những kết quả thu đợc, cha thể nói là đã đáp ứng đợc đòi hỏicủa ngành phơng ngữ học nói riêng, Việt ngữ học nói chung Cần phải tiếp tục đẩymạnh nghiên cứu hơn nữa Nh đã nói, phần lớn các nghiên cứu phơng ngữ tiếng Việtmới chỉ tập trung vào bình diện ngữ âm ; bình diện từ vựng - ngữ nghĩa cha đợcquan tâm đúng mức Hớng nghiên cứu của phần nhiều các công trình phơng ngữ lâunay là để phân vùng phơng ngữ hoặc phục vụ cho việc chuẩn hoá ngôn ngữ Tuy đã
có một vài công trình đi vào nghiên cứu phơng ngữ từng vùng cụ thể , rất hữu íchnhng cho tới nay cũng cha có vùng phơng ngữ nào đợc nghiên cứu toàn diện trêncác bình diện khác nhau của nó Nh vậy, muốn dựng lên đợc diện mạo, đặc điểmcủa vùng phơng ngữ một cách đầy đủ cụ thể cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc nghiêncứu theo thuộc tính mở, nghiên cứu sâu hơn ngữ nghĩa trên cơ sở một vốn từ đã đợc
su tập, miêu tả so sánh giữa nó với ngôn ngữ toàn dân và các phơng ngữ khác
Nh vậy cách gọi này không nhằm thể hiện tính chất phân loại, phân vùng phơng ngữtiếng Việt
Mặt khác, quan niệm về phơng ngữ Thanh Hoá nh trên cũng phù hợp với cáchnhìn khoa học của một số nhà nghiên cứu phơng ngữ lâu nay Để nghiên cứu đợc
đối tợng một cách cụ thể, triệt để , sâu sắc, các nhà khoa học thờng có thao tác chiatách đối tợng thành những phạm vi , phơng diện khảo sát hẹp hơn, cụ thể hơn Nhờnhững nghiên cứu cụ thể nh vậy, trên cơ sở đó ngời ta mới đi đến những khái quátvừa toàn diện vừa cụ thể về đối tợng trên một phạm vi rộng hơn Dĩ nhiên để chiatách đợc đối tợng nh thế phải dựa trên những tiêu trí nhất định Hoàng Thị Châu
trong công trình Tiếng Việt trên các miền đất nớc(Phơng ngữ học), sau khi nêu lên ý
kiến của mìnhvề chia tiếng Việt thành 3 vùng phơng ngữ lớn, tác giả nêu lên nhữngnhận xét khái quát về từng vùng phơng ngữ ; bớc tiếp theo, bà đã chia các vùng ph-
Trang 15b) Phơng ngữ vùng Nghệ Tĩnh không phân biệt thanh ngã với thanh nặng Cả 5thanh tạo thành một hệ thống thanh điệu khác với phơng ngữ Bắc, có độ trầmlớn hơn.
c) Phơng ngữ Bình Trị Thiên không phân biệt thanh hỏi với thanh ngã Nhng vềmật điệu tính các thanh lại giống với thanh điệu Nghệ Tĩnh ”
Võ Xuân Trang cũng băn khoăn khi đứng trớc một phơng ngữ có địa bàn phân
bố rộng nh phơng ngữ Bắc Trung Bộ, những biến thể có phạm vi trong một vài tỉnhtrong phơng ngữ đó thì gọi là gì khi mà những biến thể trên một địa bàn hẹp hơn th-ờng đợc các nhà nghiên cứu quen gọi là thổ ngữ? Ông đề xuất dùng khái niệm vùngphơng ngữ để chỉ phơng ngữ Bắc, phơng ngữ Nam, phơng ngữ Trung Mỗi vùng ph-
ơng ngữ nh vậy bao gồm nhiều phơng ngữ khác nhau Với quan niệm đó theo ông:
“Về mặt địa lý , phơng ngữ là biến thể địa phơng có địa bàn phân bố trên một phạm
vi rộng gồm một hoặc nhiều tỉnh” Các phơng ngữ có những đặc điểm giống nhau
và đợc phân bố gần nhau có thể tạo thành một vùng phơng ngữ Giống nh HoàngThị Châu, ông cho rằng “Vùng phơng ngữ Trung có 3 phơng ngữ là phơng ngữThanh Hoá, phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Bình Trị Thiên”(Phơng ngữ BìnhTrị Thiên, 1997, Nxb KHXH, Hà Nội) Chúng tôi cũng cho rằng cách dùng phânbiệt thuật ngữ vùng phơng ngữ với phơng ngữ nh Võ Xuân Trang là phù hợp vớithực tế phơng ngữ tiếng Việt và có lợi cho công tác điều tra nghiên cứu sâu phơngngữ
Nh ta đã biết lâu nay vị trí của phơng ngữ Thanh Hoá và tiếng địa phơng ThừaThiên Huế thuộc phơng ngữ Bình Trị Thiên trong bảng phân loại phơng ngữ của cácnhà nghiên cứu thờng rất khác nhau Phơng ngữ Thanh Hoá, về ngữ âm và từ vựng
có những đặc điểm mang đặc trng của vùng phơng ngữ Trung nhng cũng có những
đặc điểm giống phơng ngữ Bắc Nếu xét trên những đặc trng cơ bản, phơng ngữThanh Hoá không có đặc điểm nào giống hoàn toàn với vùng phơng ngữ Trung,hoặc với vùng phơng ngữ Bắc Chẳng hạn có thể lấy 2 đặc trng cơ bản về ngữ âm đểphân biệt phơng ngữ Trung với phơng ngữ Bắc là có hay không có 3 âm quặt lỡi (|Ş|, |ţ|, |z|) và hệ thống thanh điệu 5 thanh hay 6 thanh làm căn cứ thì thấy cả 2 đặc
điểm đó đều thể hiện không triệt để trong phơng ngữ Thanh Hoá Có thể thấy rõ và
đầy đủ hơn về tính chất trung gian của phơng ngữ này trong các nghiên cứu củaPhạm Văn Hảo [2,tr 54-56]; Trơng Văn Sinh và Nguyễn Thành Thân [4, tr 64-65];Hoàng Thị Châu [1]…Hơn nữa, điều này cũng dễ hiểu vì nh chúng ta đã biết vị trí
địa lý của tỉnh Thanh Hoá nằm giữa miền Bắc và miền Trung Đợc bắt đầu từ BỉmSơn cho đến Tĩnh Gia (giáp Quỳnh Lu – Nghệ An).Thanh Hoá có một quá trìnhlịch sử hình thành và phát triển khá phức tạp Trải qua bao thăng trầm, ngày nayThanh Hoá là một tỉnh khá phát triển, dân c đông đúc Chính vì vậy đã tạo ra vốn từ
địa phơng khá phong phú và đa dạng
Thanh Hoá nh là điểm đóng lại của dải đồng bằng Bắc Bộ và là nơi bắt đầucủa dải đất miền Trung (chật hẹp chiều ngang lắm sông, nhiều đồi núi) Thanh Hoá
Trang 16cũng là nơi cuối cùng và cũng là nơi bắt đầu chịu sự tác động của 2 vùng văn hoáBắc Bộ và Bắc Trung Bộ; Thanh Hoá là nơi bắt đầu vùng ngôn ngữ Việt Mờng ở BắcTrung Bộ chịu ảnh hởng của ngôn ngữ Việt Bắc Bộ, khi tiếng Việt ở Bắc Bộ đã táchkhỏi tiếng Mờng thành ngôn ngữ riêng
Qua nhiều tài liệu nghiên cứu chúng tôi cho rằng tiếng địa phơng Thanh Hoá
là một phơng ngữ tồn tại hiện thực cùng với phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữBình Trị Thiên Phơng ngữ Thanh Hoá vừa có vị trí quan trọng đối với vùng phơngngữ Trung vừa mang sắc thái riêng, là đối tợng có thể nghiên cứu trên nhiều phơngdiện về ngữ âm , từ vựng - ngữ nghĩa
Nằm trong vùng phơng ngữ Trung , một vùng phơng ngữ có vị trí quan trọng
đối với nghiên cứu lịch sử tiếng Việt Cho nên, trực tiếp hay gián tiếp, ở phơng diệnnày hay phơng diện khác cho tới nay cũng đã có một số công trình quan tâm tới ph-
ơng ngữ Thanh Hoá Bộ mặt phơng ngữ Thanh Hoá đợc hiện lên qua những nét
khái quát phác thảo trong công trình nghiên cứu chung về phơng ngữ Tiếng Việt trên các miền đất nớc của Hoàng Thị Châu; Về một số đặc trng của tiếng Thanh Hoá, thổ ngữ chuyển tiếp giữa phơng ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ của Phạm Văn Hảo; Về vị trí của tiếng địa phơng Thanh Hoá của Trơng Văn Sinh và Nguyễn
Thành Thân…
Nh vậy, có thể nói cho tới nay nằm trong tình hình chung của phơng ngữtiếng Việt, phơng ngữ Thanh Hoá cha đợc nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống.Phơng diện ngữ âm tuy có đợc chú ý nhiều hơn nhng cũng mới chỉ là những nét lớnhết sức sơ lợc; mặt từ vựng - ngữ nghĩa hãy còn mờ nhạt và thấp thoáng, nếu có đợc
đề cập đến, thờng chú ý t liệu hệ thống, còn ít đi vào sử dụng Còn có nhiều vấn đềliên quan mật thiết với phơng ngữ nh văn hoá Thanh Hoá, rất lý thú nhng cha đợcchú ý Thực tế ấy đặt ra yêu cầu đẩy mạnh nghiên cứu toàn diện và sâu hơn nữa ph-
ơng ngữ Thanh Hoá, trớc hết là phơng diện từ địa phơng
Nh ta đã thấy, từ xa xa trong quan niệm của ngữ pháp truyền thống, từ là đơn
vị cơ bản, trung tâm của ngôn ngữ , nh là công cụ , hoạt động lời nói, là phần cấutrúc – cấu tạo câu nói Đi vào ngôn ngữ học hiện đại, hình vị cũng đ ợc xem là đơn
vị cơ bản bởi chức năng cấu tạo của nó, nhng nhìn rộng ra, xét đơn vị ngôn ngữ trênnhiều mặt về cấu trúc – cấu tạo , về chức năng, ở nhiều quan hệ, trong hoạt độngngôn ngữ , trong hoạt động giao tiếp, t duy của con ngời, trong quan hệ với phản
ánh thực tại…thì từ vẫn là đơn vị cơ bản quan trọng nhất
Một đơn vị tồn tại một cách hiển nhiên với những đặc trng cơ bản, chiếm vịtrí trung tâm của ngôn ngữ nh vậy , cho nên có thể nọi khi nghiên cứu ngôn ngữ dù
ở cấp độ nào, mặt âm thanh cũng nh ý nghĩa, theo hớng cấu trúc hay chức năng thì ítnhiều đều liên quan tới từ T liệu về từ càng đặc biệt quan trọng trong so sánh lịch
sử Để xác định nguồn gốc, quan hệ họ hàng gia các ngôn ngữ , ngời ta phải tiếnhành so sánh từ vựng trên t liệu của một bản từ đã đợc thu thập, từ đó tìm ra quy luậtbiến đổi ngữ âm của các ngôn ngữ ấy Việc so sánh các phơng ngữ trong một ngônngữ cũng có thể nói không đi ra ngoài nguyên tắc có tính phơng pháp đó Cho nên,
Trang 17việc thu thập đợc một số vốn từ làm cơ sở cho việc nghiên cứu phơng ngữ là rất cầnthiết và có lẽ nên là bớc đầu tiên Nghiên cứu phơng ngữ Thanh Hoá nói riêng, ph-
ơng ngữ tiếng Việt nói chung, lâu nay ở bình diện ngữ âm của từ đã đợc chú ý, nhthế đã là cần thiết nhng cần phải chú ý tới cả mặt ngữ nghĩa của từ và phải đẩy mạnhnghiên cứu hơn nữa Phải thấy rằng từ địa phơng không chỉ là biến thể ngữ âm mà
có thể còn là biến thể từ vựng - ngữ nghĩa, mà biểu hiện tập trung của nó là quan hệ
đa nghĩa của từ, đó nh là sự thể hiện giữa mặt biến đổi với mặt bất biến đổi, giữa
ph-ơng ngữ và ngôn ngữ toàn dân
Với sự cần thiết hữu ích nhiều mặt đối với việc nghiên cứu từ địa phơng nhthế chúng tôi đi vào khảo sát, nhận xét bớc đầu về đặc điểm lớp từ địa phơng ThanhHoá
Trớc khi đi vào những nghiên cứu cụ thể, chúng tôi đã tiến hành thu thập từngữ địa phơng bằng nhiều con đờng, bằng nhiều cách khác nhau Để thu thập đợc từngữ địa phơng chúng tôi dựa vào những tiêu chí nhất định Những tiêu chí(hay làcác căn cứ) ấy đợc rút ra từ các định nghĩa về từ địa phơng của một số nhà nghiêncứu Cũng xin đợc nói ngay rằng, ở đây chúng tôi không đặt ra nhiệm vụ là thảoluận và đa ra một định nghĩa mới về từ địa phơng Tuy là một khái niệm phức tạpcủa phơng ngữ học nhng chúng tôi thấy các định nghĩa về từ địa phơng của nhiềunhà nghiên cứu lâu nay đã cho thấy đợc những đặc điểm chính yếu nhất về đối tợngnày, có thể lấy đó làm cơ sở cho việc khảo sát, nghiên cứu ở luận văn này
Trớc hết có thể thấy các nhà ngôn ngữ học khi định nghĩa từ địa phơng đềuthống nhất ở 2 điểm Thứ nhất: Từ địa phơng là những từ bị hạn chế về phạm vi địa
lý sử dụng Thứ hai : Từ địa phơng có sự khác biệt nhất định về ngữ âm, từ vựng hayngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân Tuy vậy, mỗi tác giả có thể nhấn mạnh một
điểm nào đó trong định nghĩa của mình, nên việc vận dụng nó có thể gặp khó khăn,nếu chỉ dựa vào một định nghĩa nh thế Chẳng hạn Nguyễn Văn Tu đã nhấn mạnh
đến tính chất riêng của từ địa phơng Cái riêng đó làm cho “ngời của địa phơng nàykhông hiểu những từ của địa phơng khác” Ông viết: “Từ địa phơng không ở trongngôn ngữ văn học mà thuộc về tiếng nói của một vùng nhất định Chúng mang sắcthái địa phơng Ngời của địa phơng này không hiểu những từ của địa phơngkhác”(Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, 1968, Nxb GD, Hà Nội, tr129) Trong thực
tế, đi tìm những từ rất riêng và đóng kín trong một vùng nhất định nh vậy thì số từ
địa phơng thoả mãn tiêu chí đó quả thực không có nhiều Và rồi những từ nh: trốc,cẳng, tru, heo, mần, nhởi… ời nhiều địa phơng khác cũng hiểu, vậy có thể xemngchúng là từ địa phơng hay không?
Một hớng định nghĩa khác nhìn từ góc độ của ngời biên soạn từ điển , để cóthể thu nạp và định nghĩa đợc từ địa phơng trong từ điển phổ thông, Phạm Văn Hảocho rằng: “Khác với một số biến thể vốn là đơn vị trong cùng một hệ thống, từ ngữ
địa phơng là loại biến thể gắn với một hệ thống nằm ngoài hệ thống từ vựng tiếngViệt văn hoá Điều đó đảm bảo cho một phơng pháp định nghĩa phù hợp với chung
Định nghĩa qua từ có nghĩa tơng đơng(trong tiếng Việt văn hoá)”(Bàn thêm một số
Trang 18điểm về việc thu thập và định nghĩa từ địa phơng trong “Từ điển tiếng Việt phổthông” tập một – ngôn ngữ số 2, tr59) Nh vậy theo tác giả, là từ địa phơng thìphải có từ văn hoá tơng đơng về nghĩa Sự đối lập về từ địa phơng với từ toàn dân
nh vậy là triệt để Song trong thực tế có những từ do ngời của một địa phơng tạo ratrên cơ sở của chất liệu ngôn ngữ dân tộc để chỉ những “đặc sản” riêng của vùng đó
Do vậy, lớp từ này không có từ tơng ứng về nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân Đó lànhững từ nh: Sầu riêng, chôm chôm, măng cụt (Nam Bộ); nhút, cuđơ, chẻo (NghệTĩnh); mẻ, nem chua, bánh gai (Thanh Hoá)…nếu lấy định nghĩa trên làm tiêu chíthu thập từ địa phơng thì lớp từ vựng này sẽ bị bỏ qua Phần đông các nhà nghiêncứu nh: Nguyễn Quang Hồng, Hồng Dân, Trơng Văn Sinh, Nguyễn Nhã Bản,Nguyễn Thiện Chí, Trần Thị Ngọc Lang, Nguyễn Thiện Giáp, Võ Xuân Trang…
đều xem những từ nh trên là lớp từ riêng biệt, “đặc phơng ngữ ”(chữ dùng của TrơngVăn Sinh) của mỗi phơng ngữ
Một số nhà nghiên cứu ngoài việc thừa nhận trong vốn từ ngữ địa phơng cómột lớp từ riêng biệt có tính chất địa phơng nh trên còn thấy rằng có một lớp từ kháckhông bị bó hẹp phạm vi sử dụng chỉ trong một địa phơng cụ thể nên đã “nới lỏng”không gian tồn tại của từ địa phơng trong quan niệm của mình; điều này theo chúngtôi là phản ánh đúng thực tế hoạt động của phơng ngữ trong đời sống xã hội Có thểlấy định nghĩa của Nguyễn Thiện Giáp làm đại diện cho khuynh hớng này Tronggiáo trình: “Từ vựng học tiếng Việt ” ông đã viết: “Từ địa phơng là những từ đợcdùng hạn chế ở một hoặc vài địa phơng Nói chung, từ địa phơng là bộ phận từ vựngcủa ngôn ngữ nói hằng ngày của bộ phận nào đó của đân tộc chứ không phải là từvựng của ngôn ngữ văn học” Cũng với cách nhìn vừa bao quát vừa cụ thể sát thựcvới thực tế phơng ngữ tiếng Việt , Nguyễn Quang Hồng (và gần gũi với ông còn cómột số nhà nghiên cứu khác) trong bài viết: “Các lớp từ địa phơng và chức năng củachúng trong ngôn ngữ văn hoá tiếng Việt ” đã định nghĩa: “Từ địa phơng là những
đơn vị và dạng thức từ ngữ của một số ngôn ngữ dân tộc mà phạm vi tồn tại và sửdụng tự nhiên nhất của chúng chỉ hạn chế trong một vài vùng địa phơng nhất định”
Nh vậy, trong định nghĩa này, tác giả vừa chú ý đến các kiểu loại từ địa phơng (lànhững đơn vị và dạng thức từ ngữ của ngôn ngữ dân tộc) vừa chỉ ra phạm vi sửdụng(trong một vài vùng địa phơng) đồng thời cũng lu ý tới một đặc điểm quantrọng vốn diễn ra trong thực tế xét về phía ngời sử dụng đó là cảm thức tự nhiên,quen thuộc không gợng gạo về mặt tâm lý, mang tính bản ngữ của ngời dùng(sửdụng tự nhiên nhất) Cái cảm nhận tự nhiên về từ địa phơng mà Nguyễn QuangHồng nói tới cũng giống nh cái cảm thức quen thuộc của ngời Việt về những từ họxem là “thuần Việt”, không thể diễn ra đợc bằng các thao tác, các căn cứ có tínhchất khoa học để nhận diện nó nhng lại vô cùng quan trọng đối với ngời điều tra ph-
ơng ngữ, nếu lại là ngời thuộc địa phơng ấy thì đó là một lợi thế lớn
Dựa theo những nét chính yếu trong quan niệm của các nhà nghiên cứu đi
tr-ớc, đặc biệt là ý kiến của Nguyễn Quang Hồng Hoàng Trọng Canh trong cuốn luận
án tiến sĩ : “Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phơng Nghệ Tĩnh” đã rút ra môt cách
Trang 19hiểu chung nhất và phổ biến về từ địa phơng để làm cơ sở khảo sát và nghiên cứu
nh sau:
Từ địa phơng là những đơn vị và dạng thức từ ngữ đợc sử dụng quen thuộc ở một hoặc vài địa phơng nhất định có những nét khác biệt với ngôn ngữ toàn dân.
Với cách hiểu nh vậy, khảo sát ngôn ngữ toàn dân ở bình diện khu vực dân c thể
hiện, chúng tôi thu thập những đơn vị từ ngữ xuất hiện ở địa bàn c dân Thanh Hoá
thoả mãn hai điều kiện: 1 – có sự khác biệt ít nhiều(hoặc hoàn toàn) với ngôn ngữtoàn dân(về ngữ âm , ý nghĩa); 2 – Những từ ngữ có sự khác biệt đó đợc ngờiThanh Hoá quen dùng một cách tự nhiên
Những từ ngữ thu thập ở địa bàn Thanh Hoá nh vậy, chúng tôi gọi một cách
có tính chất ớc định là từ ngữ địa phơng Thanh Hoá Tập hợp các từ ngữ địa phơng
đó lại ta có vốn từ địa phơng Thanh Hoá
Với những điều đã trình bày nh trên đến đây có thể nói gọn lại rằng: Từ địa“
phơng Thanh Hoá” đợc dùng ở khoá luận này là dùng để chỉ những từ tồn tại ở
Thanh Hoá (chứ không phải mang tính Thanh Hoá), đợc dùng nhiều ở địa phơngThanh Hoá, có những nét khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân nên nó có sắc thái địaphơng Cũng có nghĩa là chúng tôi đi tìm sự biểu hiện của tiếng Việt – Ngôn ngữdân tộc ở địa bàn c dân Thanh Hoá - với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữtoàn dân
Từ chỗ xác định đợc đơn vị cơ bản là từ địa phơng Thanh Hoá chúng tôi xác
định: Vốn từ địa phơng Thanh Hoá là một hệ thống bao gồm toàn bộ từ và ngữ địaphơng Thanh Hoá có quan hệ với nhau
ở trên chúng tôi đã cố gắng trình bày những nét cơ bản nhất về quy luật biến
đổi và lan truyền của ngôn ngữ , những nhân tố hình thành phơng ngữ Để có cáinhìn cụ thể về không gian và thời gian lịch sử của tiếng Việt nói chung, vùng ThanhHoá nói riêng Cho phép khẳng định tính tồn tại hiện thực của phơng ngữ ThanhHoá trong vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ Đó cũng là cơ sở cho phép xác định đối t-ợng và phơng pháp nghiên cứu khoa học phù hợp có thể đi vào những vấn đề cụ thể
ở chơng 2
Trang 20Chơng 2
Đặc điểm vốn từ địa phơng Thanh Hoá
(Qua so sánh với vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh )
Nh mục đích đã xác định, chơng này sẽ nêu lên những khác biệt giữa từ địaphơng so với vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh , trên các bình diện chủ yếu, nhằm thểhiện bức tranh toàn cảnh về từ vựng - ngữ nghĩa, phơng ngữ Thanh Hoá
Phơng ngữ Thanh Hoá, nh đã nói ở phần trớc là phơng ngữ chuyển tiếp giữaphơng ngữ Bắc và phơng ngữ Trung Các từ ngữ này vừa có quan hệ gắn bó trongnội bộ vốn từ địa phơng vừa có quan hệ gắn bó chặt chẽ với hẹe thống vốn từ toàndân ở đây, luận văn chỉ đi vào nhận xát đặc điểm vốn từ địa phơng Thanh Hoá vềmặt ngữ âm, ngữ nghĩa thông qua so sánh đối chiếu với vốn từ địa phơng NghệTĩnh Nh chúng ta đã biết, khi nghiên cứu từ địa vựng ngời ta phải chú ý đến diệnmạo của từ và nghĩa của từ Nhng vì vốn từ địa phơng không phải là một hệ thốngtách biệt khỏi hệ thống vốn từ toàn dân, cũng nh vốn từ trong vùng, nên khi nghiêncứu vốn từ địa phơng không thể miêu tả một cách riêng rẽ biệt lập
Qua so sánh đối chiếu với ngôn ngữ toàn dân và với vốn từ địa phơng NghệTĩnh, vấn đề đặc điểm vốn từ Thanh Hoá sẽ đợc khảo sát miêu tả nh là đối tợngtrung tâm Trớc hết ta hãy nhìn mặt biểu hiện bên ngoài, có tính chất định lợng vềvốn từ phơng ngữ Thanh Hoá so với vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh
2.1 Sự phong phú và đa dạng của các lớp từ địa phơng Thanh Hoá.
Từ các nguồn khảo sát t liệu, bớc đầu chúng tôi đã thu thập đợc vốn từ địa
ph-ơng Thanh Hoá là 3273 từ, gồm các loại từ khác nhau Nếu phân chia vốn từ nàylàm hai loại cấu tạo thì thấy số lợng từ đa tiết nhiều hơn từ đơn tiết rất nhiều Cụ thể:
Từ đa tiết có số lợng là 2534 từ (chiếm 77,45 %), từ đơn tiết chủ có 738 từ (chỉchiếm 22,55 %) Trong khi đó ở vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh, theo phân tích củaHoàng Trọng Canh trong luận án tiến sĩ thì từ đa tiết cũng nhiều hơn từ đơn tiết nh-
ng không chênh lệch nh ở vốn từ địa phơng Thanh Hoá Cụ thể từ đa tiết có số lợng
là 3412 (chiếm 55,1 %), còn từ đơn tiết có số lợng là 2776 từ (chiếm 44,9 %)
Trong từ đa tiết thì số lợng từ ghép lại gấp 4,72 lần so với từ láy, trong khi đó
số luợng từ ghép của vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh gấp 4,8 lần từ láy Cụ thể: ở vốn
từ địa phơng Thanh Hoá số lợng từ ghép là 2091đơn vị (chiếm 63,92%), số lợng từláy là 443 đơn vị (chiếm 13,53%) Còn ở vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh thì số lợng từghép là 2822 từ chiếm 45.6 %, số lợng từ láy là 590 từ chiếm 9,5 %
Trang 21Nh vậy có thể khẳng định rằng về từ đa tiết vốn từ địa phơng Thanh Hoáchiếm tỉ lệ cao hơn vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh; Trong lớp từ đa tiết giữa hai phơngngữ , đem so sánh thì chúng tôi thấy số lợng từ ghép của hai phơng ngữ đều cao hơnrất nhiều so với từ láy Nhng ở phơng ngữ Thanh Hoá thì sự cách biệt giữa hai từ caohơn, chênh lệch hơn so với phơng ngữ Nghệ Tĩnh (số liệu cụ thể chúng tôi đã nêu ởtrên) Điều đó chứng tỏ sự lan toả về từ ngữ của phơng ngữ Thanh Hoá không mangtính chất đều khắp nh ở phơng ngữ Nghệ Tĩnh; từ đơn của phơng ngữ Thanh Hoáchiếm tỉ lệ thấp hơn so với phơng ngữ Nghệ Tĩnh, điều đó cũng chứng tỏ rằng cácyếu tố cổ của phơng ngữ Thanh Hoá đợc bảo lu là ít hơn so với phơng ngữ NghệTĩnh Điều này dễ lý giải vì phơng ngữ Thanh Hoá có vị trí địa lý gần với ngôn ngữtoàn dân (Bắc Bộ) Cho nên vốn từ địa phơng Thanh Hoá do chúng tôi khảo sát thuthập cũng ít hơn nhiều so với vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh (3273/6118)
Số lợng và tỉ lệ các loại từ đợc thể hiện qua bảng:
Bảng 1: Các loại từ địa phơng Thanh Hoá (phân theo cấu tạo)
đồng ngất của hai vốn từ địa phơng trong cùng một vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ
2.2 Đặc điểm ngữ âm của từ địa phơng Thanh Hoá
ở đề tài này chúng tôi không miêu tả, xem nó nh là một đối tợng khảo sát độclập Không trình bày từng đặc trng ngữ âm, nêu lên sự có mặt hay không có mặt của
đặc trng đợc miêu tả; Cũng không miêu tả ngữ âm phơng ngữ Thanh Hoá thành một
hệ thống âm vị nh một công trình nghiên cứu ngữ âm thờng thấy mà chỉ xem ngữ
âm ở đây nh là mặt hình thức của từ địa phơng trong quan hệ so sánh với từ địa
ph-ơng tph-ơng ứng Nói cụ thể hơn ở đề tài này chúng tôi chủ yếu miêu tả, nêu lên cácdạng biến thể ngữ âm của từ trong phơng ngữ Thanh Hoá trong sự tơng ứng với từtoàn dân
Trang 222.2.1 Những tơng ứng phụ âm đầu
Đối chiếu với từ ngữ trong ngôn ngữ toàn dân, chúng tôi thấy trong vốn từ địaphơng Thanh Hoá có một số lợng từ khá lớn có quan hệ tơng ứng phụ âm đầu với từtoàn dân, có 28 kiểu tơng ứng sau:
c , ,
: ngán – chán; ngần ngừ – chần chừ; ngành –cành; ngoặt – quặt; ngái – xa
Trang 23- T¬ng øng :
c r l
,
Trang 24,
- T¬ng øng :
t k
Trang 25| it - iêt | : tít – tiết, kít – kiết, bít – biết; | âp - ăp | : gập – gặp, cập – cặp;
…
- ở loại vần khép của từ địa phơng Thanh Hoá tơng ứng với từ toàn dân, so sánhvới từ địa phơng Nghệ Tĩnh ta thấy: phần lớn các vần đều giống nhau (5/7) chỉ cómột số vần phơng ngữ Thanh Hoá có mà phơng ngữ Nghệ Tĩnh không có và ngợclại Đó là : Phơng ngữ Thanh Hoá có 2 loại vần khép mà Phơng ngữ Nghệ Tĩnhkhông có là: | it - iêt | ; | âp - ăp | Phơng ngữ Nghệ Tĩnh có 2 vần mà phơng ngữThanh Hoá không có là: | ut - ôt | , | it - t |
Nh vậy, có thể kết luận ở loại vần khép từ địa phơng Thanh Hoá và từ địa
ph-ơng Nghệ Tĩnh phần lớn các vần đều giống nhau
- Loại vần nửa khép của từ địa phơng Thanh Hoá tơng ứng với vần nửa khép của từtoàn dân gồm có những vần sau: | ăm - ăn | : cắm – cắn; | ong - ông | : đòng -
đồng, cọng – cộng;| ang - ơng - ơng | : đàng - đờng - đờng; | ơn – an | : đờn - đàn;
| anh - ênh | : ghành(thác) – ghềnh(thác); | un – ôn | : khun – khôn;| ông – oong– ong | : nống – noong – nong; | âng - ng | : mầng – mừng;| n - ân | : chn –chân; | ăn – ay | : băn – bay; | inh – in | : chính(cân) – chín(cây); | iên - ê | : viền– về; | un - ôi | : thún – thối; | iên – in – uyên | : kiền(thế) – kìn(thế) –quyền(thế); | ơn - ơi | : nhởn – chơi; | ân - ây | : cân – cây, cấn – cấy; | an – ai |:vản – vải; | m - âm | : tm – tâm;| ơng - ơng | : giờng – giờng; | ing – iêng | : tíng– tiếng; …
Cũng so sánh tơng tự, ở loại vần nửa khép chúng ta thấy các vần nửa khép
t-ơng ứng với từ toàn dân của vốn từ địa pht-ơng Thanh Hoá so với voón từ địa pht-ơngNghệ Tĩnh giống nhau là không nhiều chỉ có 12 cặp giống nhau trên tổng số là 26
Số lợng vần khác nhau cũng tơng đơng với số lợng vần giống Cụ thể Thanh Hoá có
12 vần nửa khép tơng ứng với từ toàn dân mà phơng ngữ Nghệ Tĩnh không có là: |ing – iêng |, | oong – ong |, | ăn – ay | , | inh – in |, | iên - ê | , | un - ôi | , | iên –
in – uyên | , | ơn - ơi | , | ân - ây | ,| an – ai | , | m - âm | Ngợc lại, phơng ngữ NghệTĩnh có 12 vần nửa khép tơng ứng với từ toàn dân mà phơng ngữ Thanh Hoá không
có là : | uông - ông | , | ăng – an |, | anh – iêng |, | ơn - âm | , | ơng – ang |, | ong– uông |, | oen – en | , | oan – uyên |, | ơm – yêm |, | oan – uôn | , | in - ân |, |eng – iêng| Các số vần còn lại là những vần giống nhau
Nhìn vào sự liệt kê trên ta thấy sự tơng ứng giữa vần khép và nửa khép củaphơng ngữ Thanh Hoá với ngôn ngữ toàn dân khá phong phú và có quy luật chặtchẽ Xét về phía cuối vần : chúng cùng có phơng thức nh nhau Đồng thời phụ âmkết thúc 2 vần đều cùng phơng thức cấu âm, thậm chí phần lớn các trờng hợp đó đều
có cùng một phụ âm kết thúc giống nhau Những hiện tợng nh mũi (của vần nửakhép) cũng là 2 vần tơng ứng – phái cuối vần, cách kết thúc chỉ đợc phép dịchchuyển động chạm (chặt hay lỏng) mà thôi
Xét từ đỉnh vần: các nguyên âm làm đỉnh vần, phải cùng vị trí cấu âm(nghĩa
là cùng dòng: trớc/sau, tròn môi/ không tròn môi) Sự thay đổi tạo ra sự tơng ứng ỏ
Trang 26đỉnh vần khép là nó đợc tự do dịch chuyển độ nâng của lỡi(cao vừa hay thấp) trongcùng một vị trí cấu âm Tất cả những nhận xét này về phơng ngữ Thanh Hoá đềugiống với phơng ngữ Nghệ Tĩnh về 2 vần khép và nửa khép.
- Loại từ địa phơng có vần nửa mở tơng ứng với vần nửa mở trong ngôn ngữ toàndân, gồm có : | iêu – ao |: biểu – bảo; | ơi - ơi |: bơi – bới; | ơi - i |: chởi – chửi; |
ôi - ơi|: cổi(áo) – cởi(áo); | âu – ao |: cấu – gạo; | ai – ơi |: ngài – ngời; | au– ao |: tau – tao; | ơi - i |: gởi – gửi; | ây - ay|: nầy – này
So sánh với phơng ngữ Nghệ Tĩnh , chúng tôi thấy 9 loại vần nửa mở của
ph-ơng ngữ Thanh Hoá tph-ơng ứng với từ toàn dân thì trong phph-ơng ngữ Nghệ Tĩnh đềucó.Nhng phơng ngữ Nghệ Tĩnh có 6 vần nửa mở tơng ứng với từ toàn dân mà phơngngữ Thanh Hoá không có là: | eo – ao | , | ui - ôi |, | oi – uôi |, | ây – ai | , | ai - ơi |,
- Về vần mở có các cặp tơng ứng sau: | - ơ |: (bây) chừ – (bây) giờ; | uê - oa |:huê - hoa; | ê - e |: mệ – mẹ; | a - a|: lả - lửa; | o - ua |: lọ – lúa; | - a |: m - ma; | u– ua |: mu – mua
So sánh với phơng ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi thấy : phần lớn các vần mở tơngứng với từ toàn dân của phơng ngữ Thanh Hoá là giống nhau Nhng có một số vầnphơng ngữ Thanh Hoá có mà phơng ngữ Nghệ Tĩnh không có và ngợc lại Cụ thể:Thanh Hoá có 2 vần mở mà phơng ngữ Nghệ Tĩnh không có là: | - a | và | u – ua |.Ngợc lại phơng ngữ Nghệ Tĩnh có 3 vần mở mà phơng ngữ Thanh Hoá không có là:
| o - ô| , | ô - u |, | ô - o |
ở trên chúng tôi đã xét các loại vần cùng loại tơng ứng với nhau Sự tơng ứng
đó dù phong phú, phức tạp nhng vẫn mang tính quy luật rõ ràng Sau đây chúng tôixét qua những kiểu tơng ứng không cùng loại vần
- Sự tơng ứng giữa vần mở và vần nửa mở xảy ra ở các cặp sau: | u - âu |: bù –bầu; | i – ay |: mi – mày; | ai - ia |: ngãi – nghĩa; | ô - ao |: vô - vào; | u - âu |: chu– trâu; | ô - âu |: mô - đâu
So sánh với phơng ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi thấy : Nghệ Tĩnh có tất cả cácvần giống phơng ngữ Thanh Hoá Nhng Thanh Hoá không có 5 vần mà Nghệ Tĩnh
có là : | e – ia |, | ao – u |, | i - ơi | , | a - a |, | oi - ơi | Những cặp tơng ứng nàychúng tôi thấy chúng tơng ứng cùng dòng hoặc với dòng ngay bên cạnh
- Nhóm vần khép, nửa khép tơng ứng với nửa mở:
ở đây từ thực tế khảo sát chúng tôi thấy sự tơng ứng giuã vần khép, nửa khépvới các vần khác là cùng tính chất nên có thể nhập 2 loại vần này thành một nhóm
Trang 27Có các cặp tơng ứng sau: | ơn - ây |: cơn – cây; | eo – em |: đeo(theo) - đem(theo);
| ao - ác |: (ngơ) ngáo – (ngơ) ngác
So sánh với phơng ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi thấy : Nghệ Tĩnh có tất cả cácvần giống phơng ngữ Thanh Hoá Nhng Thanh Hoá không có 6 vần mà Nghệ Tĩnh
có là : | at – ao | , | e – ay – anh |, | iên – oi |, | ap – ao | , | uây – ac |
- Loại vần khép đối ứng với vần mở gồm có : | ơc - a |: ngớc(mặt) – ngửa(mặt) …
So sánh với phơng ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi thấy : Ngoài có vần giống vớiphơng ngữ Thanh Hoá thì phơng ngữ Nghệ Tĩnh còn có 4 vần mà phơng ngữ ThanhHoá không có đợc là: | i - ng | , | u - ng |, | ô - ây |, | ng - |
Những cặp tơng ứng này rất phức tạp và không phổ biến nên khó tìm đợc quyluật của chúng Phải chăng tính chất nhẫu nhiên của chúng là một biểu hiện không
đều đặn trong lời nói hơn là trong ngôn ngữ ?
- Trong sự tơng ứng phần vần khi hai vần có những âm vị , đoạn tính cấu tạo nhnhau thì sự tơng ứng đó xảy ta ở âm vị siêu đoạn tính(tức thanh điệu) Nh nhận xétcủa một số nhà ngôn ngữ học, hệ thống thanh điệu của tiếng địa phơng Thanh Hoá
có 5/6 thanh, thanh hỏi ( )và thanh ngã(~) là không phân biệt đợc với nhau Chẳnghạn “những” lại phát âm thành “nhửng”, và “khả” lại phát âm thành “khã”…Tiếptheo là số từ tơng ững ngữ âm đối với thanh điệu giữa thanh ngang không dấu vàthanh huyền ( ) toàn dân gồm các đơn vị: ba – vừa; kha – gà; la – còn; chi – gì;ngn – gần…Ngoài ra tất cả các thanh điệu khác trong tiếng địa phơng Thanh Hoá
đều hoạt động bình thờng giống trong ngôn ngữ toàn dân Còn ở phơng ngữ NghệTĩnh không phân biệt giữa thanh sắc và thanh nặng
Nh vậy sự đối ứng về thanh điệu với từ toàn dân không phức tạp nh phụ âm
đầu và phần vần
Qua sự miêu tả, so sánh mặt âm thanh của từ nh trên, có thể thấy: Sự tơng ứnggiữa từ ngữ địa phơng Thanh Hoá với từ toàn dân về ngữ âm là rất phong phú songcũng rất phức tạp sự tơng ứng ngữ âm ấy diễn ra ở phụ âm đầu, phần vần và ở cảthanh điệu nhng không theo một tỉ lệ đều khắp giữa các bộ phận âm thanh đó cũng
nh trong từng bộ phận Tuy thế, nhìn chung sự tơng ứng ngữ âm là có quy luật Phầnlớn phụ âm đầu của tiếng địa phơng Thanh Hoá tơng ứng với nhiều phụ âm đầu củangôn ngữ toàn dân Điều đó cũng chứng tỏ sự biến đổi ngữ âm của hệ thống phụ âm
đầu tiếng Thanh Hoá ít và chậm
Về phần vần sự tơng ứng phức tạp hơn nhất là đối với sự tơng ứng của các vầnkhác loại Song nhìn chung quy luật tơng ứng ấy thể hiện rõ ở chỗ các vần tơng ứng,cùng phơng thức cấu âm đối với phụ âm kết thúc Nguyên âm đỉnh vần phải cùngmột vị trí cấu âm, cùng dòng nhng tự do dịch chuyển độ nâng, cao, vừa, thấp của l-
ỡi Một điểm đáng chú ý khác, trong phơng ngữ Thanh Hoá có hiện tợng cùng tồntại nhiều vần tơng ứng với một vần trong ngôn ngữ toàn dân làm cho bức tranh vềvần Thanh Hoá thêm phong phú, mặt khác cũng thể hiện rõ sự biến đổi chậm củangữ âm phơng ngữ nhiều vần địa phơng đang nằm trong thế lựa chọn, cha đi đến sự
Trang 28kết thúc để có tơng ứng 1/1 giữa phần phơng ngữ với vần toàn dân và tiến tới dùngmột vần thống nhất trong toàn quốc.
Về thanh điệu, sự tơng ứng ấy không mấy phức tạp Chủ yếu lẫn lộn giữathanh hỏi và thanh ngã bên cạnh đó cũng có một số trờng hợp tơng ứng giữa thanhngang Thanh Hoá với thanh huyền toàn dân
Từ những khảo sát khái quát đặc điểm các lớp từ địa phơng Thanh Hoá về
ph-ơng diện ngữ âm qua so sánh, đối chiếu với phph-ơng ngữ Nghệ Tĩnh chúng tôi xin đa
ra nhận xét: Những tơng ứng về phụ âm đầu và khuôn vần của vốn từ địa phơngThanh Hoá không nhiều nh ở vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh, nhng vẫn mang nhữngsắc thái riêng, thể hiện rõ ở thanh điệu Những biến đổi ở phụ âm đầu của vốn từ địaphơng Thanh Hoá cũng không nhiều nh ở vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh, điều đóchứng tỏ phơng ngữ Thanh Hoá gần với phơng ngữ Bắc Bộ, cho nên phơng ngữThanh Hoá mang tính chất toàn dân hơn so với phơng ngữ Nghệ Tĩnh
2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của vốn từ địa phơng Thanh Hoá.
Mục đích chính của phần này là nêu lên những khác biệt chủ yếu về mặt ngữnghĩa giữa phơng ngữ Thanh Hoá với phơng ngữ Nghệ Tĩnh (tất nhiên là qua sosánh với ngôn ngữ toàn dân) Qua bức tranh so sánh từ vựng - ngữ nghĩa giữa 2 hệthống vốn từ mà thực chất chỉ là chỉ ra những đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ địa ph-
ơng Thanh Hoá Để thực hiện đợc mục đích đó chúng tôi tiến hành so sánh từ trêntừng tiểu loại đã đợc phân chia dựa vào quan hệ ngữ âm và ngữ nghĩa từ của phơngngữ Thanh Hoá và từ của phơng ngữ Nghệ Tĩnh với ngôn ngữ toàn dân Song có
điều việc phân loại vốn từ địa phơng, tuy dựa vào mặt âm thanh và nghĩa của từ
nh-ng khó đạt đợc sự triệt để Bởi nh-nghiã của từ là một hiện tợnh-ng phức tạp, tronh-ng từnh-ngtình huống giao tiếp nghĩa của từ biểu hiện thờng rất khác nhau Hơn nữa từ địa ph-
ơng vừa có quan hệ trong nội bộ vốn từ phơng ngữ lại vừa chịu tác động của hệthống vốn từ toàn dân nên nhiều khi sự phát triển biến đổi ngữ nghĩa của các từ tơngứng trong 2 hệ thống cũng không song hành ở tình huống giao tiếp này nghĩa của 2
từ tơng ứng có thể đợc dùng giống nhau nhng trong một tình huống giao tiếp khácsắc thái của nghĩa lại khác nhau Nếu chỉ dựa vào quan hệ kết hợp của từ trên bề mặtthì nhiều khi không giải thích đợc những hiện tợng đó mà phải dựa vào cả yếu tốbên ngoài cấu trúc nh tâm lý, thói quen của ngời địa phơng Nh vậy, nghĩa của mỗi
từ trong từng tình huống rất khác nhau Nó gồm tập hợp các nếp nghĩa, nhiều khi cócả những nếp nghĩa mới khác với ý nghĩa hệ thống, do đó không dễ dàng phân biệt
đợc một cách chi ly, rạch ròi nghĩa của các từ
Và rõ ràng từ ngữ địa phơng không chỉ có quan hệ nội bộ trong vốn từ phơngngữ mà còn chịu sự chi phối của vốn từ toàn dân Về nghĩa từ ngữ địa phơng nằmtrong những mối quan hệ chồng chéo, nhiều chiều nên những vấn đề thuộc về ngữnghĩa của từ địa phơng thờng khó thấy hơn, phức tạp hơn vấn đề ngữ âm Chúng ta
dễ dàng nhận ra, lập ra một bảng từ địa phơng có sự tơng ứng về âm so với từ toàndân nhng chúng ta lại khó có thể lập ra một bảng từ có sự tơng ứng về ngữ nghĩa
Trang 29giữa hai hệ thống ngôn ngữ theo từng cặp một nh ngữ âm ở nghĩa ít có sự song đôitoàn vẹn Việc phân loại vốn từ có thể tiến hành theo nhiều cách Càng chia nhỏ vốn
từ thì càng có điều kiện nghiên cứu cụ thể tỉ mỉ nhng ngợc lại cũng dễ dẫm đạp lênnhau Bởi một từ nào có thể mang nhiều đặc điểm, nó có thể thuộc nhiều lớp từ khácnhau Để tránh bớt sự chồng chéo, dựa trên những tiêu chí đã khu biệt, xét quan hệ
về mặt âm thanh và ý nghĩa giữa từ địa phơng với từ toàn dân, chúng tôi chia vốn từngữ địa phơng Thanh Hoá thành 6 loại (hay 6 kiểu loại): 1 – Những từ vừa có sự t-
ơng ứng về âm vừa có sự tơng đồng về nghĩa; 2 – Những từ có sự tơng ứng về âmnhng biến đổi ít nhiều về nghĩa; 3 – Những từ cùng âm nhng xê dịch ít nhiều vềnghĩa; 4 – Những từ giống âm nhng khác nghĩa; 5 – Những từ khác âm nhng t-
ơng đồng về nghĩa; 6 – Những từ khác âm khác nghĩa
ở đây, chúng tôi tiến hành so sánh về mặt ngữ nghĩa giữa từ địa phơng ThanhHoá với từ địa phơng Nghệ Tĩnh dựa trên sự phân tích ngữ nghĩa của một số từ địaphơng Nghệ Tĩnh trong công trình Luận án tiến sĩ của Hoàng Trọng Canh, mang tên
“Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phơng Nghệ Tĩnh”, và công trình: “Từ điển tiếng
địa phơng Nghệ Tĩnh” (Nguyễn Nhã Bản - chủ biên) Trên cơ sở đối chiếu so sánhchúng tôi rút ra đặc điểm ngữ nghĩa lớp từ địa phơng Thanh Hoá
ở mỗi kiểu loại nh vậy chúng tôi chỉ có thể nêu lên những mặt khác biệt cơbản, không thể so sánh cũng nh liệt kê đầy đủ về số lợng từ của kiểu loại đó
2.3.1 Kiểu I: Những từ vừa có sự tơng ứng về âm vừa có sự tơng đồng về nghĩa.
Đây là kiểu loại các từ đợc tạo thành có số lợng lớn nhất trong tổng số các từphơng ngữ đợc tạo thành bằng con đờng biến đổi ngữ âm gồm 1420 đơn vị(chiếmkhoảng 43,3 %) Trong khi đó ở phơng ngữ Nghệ Tĩnh, theo thống kê của HoàngTrọng Canh trong luận án tiến sĩ, thì ở kiểu loại này phơng ngữ Nghệ Tĩnh có 2032
đơn vị (chiếm 32,9 %) Nh vậy, so với phơng ngữ Nghệ Tĩnh thì phơng ngữ ThanhHoá chiếm tỉ lệ cao hơn
Trong đó có những từ là kết quả biến đổi lịch sử của các tổ hợp phụ âm cổ có
âm lỏng nh: BL, TL, ML,… mà nay thờng một dạng thức đợc dùng trong phơngngữ Chẳng hạn: mlặt – nhặt, lặt; mlài – nhài, lài; mlát – lát, nhát; tlộn – trộn,lộn; tlèo – trèo, leo Hoặc do biến đổi ngữ âm lịch sử của tiếng Việt ở các thời kỳ,
ở phụ âm đầu hoặc phần vần nh: ba – vừa; thổ – dỗ; chí – chấy; đàng - đờng;viền – về;…sự khác biệt về nghĩa giữa từ địa phơng với từ toàn dân tơng ứng ngữ
âm với nó là không đáng kể Về cơ bản chúng có sự đồng nhất về nghĩa với từ toàndân Các từ địa phơng kiểu này có quan hệ tơng ứng ngữ âm, ngữ nghĩa rất chặt với
từ toàn dân nên chúng rất dễ đợc nhận dạng cả về mặt âm và nghĩa qua so sánh - đốichiếu dạng thức của nó trong tiếng địa phơng với từ trong ngôn ngữ toàn dân
Ta có thể phân tích một vài ví dụ làm rõ điều này Ví dụ: nác và nớc là cặp
đồng nhất với nhau về nghĩa đợc tạo ra do biến thể ở phần vần, Theo Từ điển tiếng Việt (2002) Hoàng Phê chủ biên thì nớc có 5 nghĩa: 1 Chất lỏng không màu, không
mùi và trong suốt khi là nguyên chất, tồn tại trong tự nhiên ở sông hồ, ở biển; 2.Chất lỏng nói chung; 3 Lần, lợt sử dụng nớc thờng là đun sôi cho một tác dụng
Trang 30nhất định nào đó; 4 Lớp quét, phủ bên ngoài cho bền, đẹp; 5 (Kết hợp hạn chế) vẻ
ánh, bóng tự nhiên của một số vật tựa nh có một lớp mỏng chất phản chiếu ánh sáng
nào đó phủ bên ngoài Đối chiếu với nớc nh 5 nghĩa mà từ điển chỉ ra thì chúng ta thấy về cơ bản nác tơng đồng với 4 nghĩa đầu của nớc Ngời Thanh Hoá thờng nói
tự nhiên với các kết hợp: nác ma, nác lũ, nác noóng(nớc nóng), xe có các mạ tốt … đều thuộc về ph
đối chiếu với nghĩa thứ 5 của nớc, chúng tôi thấy nác thờng đợc ít dùng nh vậy Nói
đúng hơn nếu cần thể hiện nội dung nh vậy, ngời Thanh Hoá lại dùng nớc chứ không dùng nác Trong trờng hợp này dùng nớc mới là tự nhiên còn dùng nác lại trở thành không bình thờng Ví dụ: nớc sơn bóng nhoáng
Ngoài ra chúng tôi còn thấy khi nớc đợc dùng trong các từ ghép cùng với các yếu tố khác, ít nhiều mang nghĩa biểu trng trừu tợng, chỉ về khái niệm nh: đất nớc, non nớc hoặc nớc đợc dùng với nghĩa thuật ngữ chuyên môn nh: nớc cứng, nớc mềm, nớc nặng thì chẳng có ngời Thanh Hoá nào lại dùng nác thay cho nớc trong
các kết hợp đó
Tơng tự, so sánh từ lả với từ lửa cũng thấy hầu hết các kết hợp của từ lửa
nhằm chỉ: 1 Nhiệt và ánh sáng phát sinh đồng thời từ vật đang cháy; Hoặc 2 Trạng
thái, tinh thần tình cảm sôi sục , mạnh mẽ (ví dụ: ví nh có ngọn lửa đang bốc lên trong ngời) Chúng tôi thấy, lả đều có thể kết hợp lại nh vậy đợc Bởi ngời Thanh Hoá vẫn quen nói: châm lả, xin tí lả, lả bén, lả đổ thêm dầu Nhng trong phong cách văn chơng lả không đợc dùng rộng dãi, tự nhiên với nghĩa tu từ nghệ thuật nh lửa Nên chỉ nói: ngọn lửa căm thù, lửa cách mạng, hơng lửa, cơn binh lửa mà không thấy ai dùng lả trong các kết hợp đó bao giờ Ngay cả những sinh hoạt văn hoá trong
đó có dùng lửa ngày nay không còn xa lạ với nông thôn ngời ta cũng chỉ dùng từ lửa chứ không dùng lả nh: đêm lửa trại
Nếu so sánh kiểu nghĩa này với phơng ngữ Nghệ Tĩnh ,chúng tôi thấy giữaphơng ngữ Thanh Hoá và phơng ngữ Nghệ Tĩnh đều có cách dùng giống nhau Nóicách khác ở hai ví dụ trên , nh chúng tôi phân tích ở trên thì phơng ngữ Nghệ Tĩnh
và phơng ngữ Thanh Hoá có cách dùng giống nhau (so sánh với sự phân tích củaHoàng Trọng Canh trong luận án Tiến sĩ) Nh vậy, có thể nói rằng do phơng ngữThanh Hoá nằm trong vùng phơng ngữ Bắc Ttung Bộ, hơn nữa lại là tỉnh có vị trí địa
lý tiếp giáp với Nghệ Tĩnh cho nên có cách dùng từ địa phơng giống nhau âu đócũng là điều dễ hiểu
Từ các ví dụ nêu trên, ta thấy về căn bản các từ địa phơng kiểu loại này giốngnghĩa với từ toàn dân tơng ứng ngữ âm với nó, sự khác nhau về nghĩa là không đáng
kể, chủ yếu thể hiện ở phong cách khoa học và nghệ thuật, ở các sắc thái nghĩa tu từ,biểu trng hoặc thuật ngữ chuyên môn Điều đó chứng tỏ khả năng hoạt động của từ
địa phơng hạn chế hơn từ toàn dân, phạm vi sử dụng của nó bị thu hẹp, chủ yếudùng trong đời sống sinh hoạt hằng ngày Hay nói cách khác, sự khác biệt về nghĩagiữa từ địa phơng với từ toàn dân loại này là do khả năng, phạm vi đợc sử dụng ngàycàng rộng rãi trong các lĩnh vực, trong các phong cách khác nhau của từ toàn dân sovới khả năng ngày càng hạn chế của từ địa phơng Điều đó cũng cho thấy vai trò to
Trang 31lớn của từ toàn dân, của chuẩn ngôn ngữ và su hớng mở rộng dùng từ toàn dân, hạn
chế dùng từ địa phơng đang diễn ra một cách tự nhiên trong xã hội
2.3.2 Kiểu II: Những từ có sự tơng ứng về âm nhng biến đổi ít nhiều về nghĩa.
Lớp từ này gồm những từ dùng trong phơng ngữ Thanh Hoá tơng ứng về ngữ
âm với từ dùng trong ngôn ngữ toàn dân , cùng biểu thị một sự vật, tính chất, hiện t ợng, khái niệm … nhng có s khác biệt trên những nghĩa , nét nghĩa cụ thể Sự phân
-li về nghĩa giữa từ địa phơng và từ toàn dân kiểu này khá rõ Nói cách khác về hìnhthức, từ địa phơng vốn là biến thể ngữ âm của từ toàn dân về phụ âm đầu, về phầnvần hoặc thanh điệu, nên bên cạnh sự khác nhau về một trong các bộ phận đó, giữa
từ địa phơng và từ toàn dân phải giống nhau bộ phậh ngữ âm còn lại Kiểu nh : lạt– nhạt; lanh – nhanh; lọ – lúa… Về nghĩa từ địa phơng có những biến đổi khác
vớ từ toàn dân tơng ứng ngữ âm ở một vài ý nghĩa nào đó chứ không chỉ là s khau vềsắc thái kết hợp hay phong cách nh những từ kiểu I Sự biến đổi về nghĩa nh vậy,nguyên nhân chính là do hiện tợng phát triển nghĩa của từ đa nghĩa Có thể hìnhdung về con đờng biến đổi nghĩa của từ địa phơng một cách ớc định chung nhấtrằng: Từ địa phơng và từ toàn dân vốn là biến thể ngữ âm của nhau, nhng khi 2 hìnhthức biến thể này đợc sử dụng trong 2 hệ thống khác nhau, một trong 2 đơn vị hoặc
có thể cả 2 cùng phát triển nghĩa, tuỳ cùng theo quy luật chung nhng mỗi từ lại chịu
sự chi phối của những quan hệ riêng trong từng hệ thống Vì thế mà số lợng nghĩaphái sinh cũng nh hình thức phát triển từng nghĩa (ẩn dụ hay hoán dụ) có thể songhành với nhau Nh vậy những từ địa phơng kiểu này vừa có sự biến đổi về ngữ âmvừa có sự biến đổi về ngữ nghĩa so với từ toàn dân Một số ngời gọi nó là giao thoangữ âm, ngữ nghĩa hay từ vừa là biến thể ngữ âm vừa là biến thể từ vựng - ngữ nghĩa
so với từ toàn dân Do hiện tợng phát triển biến đổi ngữ nghĩa trong từ địa phơng nhvậy nên đối với bộ phận từ vựng này khi cần giải thích nghĩa không thể chỉ là địnhnghĩa qua từ có nghĩa tơng ứng trong ngôn ngữ toàn dân Bởi vì trong thực tế cónhững nghĩa phái sinh của từ không tơng đồng về nghĩa với vốn từ là biến thể ngữ
âm của nó mà lại tơng đồng với một từ khác Khi ta so sánh các từ đồng nghĩa là từ
đa nghĩa, thực chất là so sánh các nghĩa của từ đó chứ không phải so sánh các từ vớinhau
Số lợng mà chúng tôi thống kê đợc thuộc lớp từ này là 643 đơn vị (chiếmkhoảng 19,6 %) Còn ở phơng ngữ Nghệ Tĩnh, theo thống kê của Hoàng Trọng Canhtrong luận án tiến sĩ, thì ở kiểu loại này có 828 đơn vị (chiếm 13,4 %) Nh vậy, qua
so sánh ta thấy ở kiểu loại này phơng ngữ Thanh Hoá cũng chiếm tỉ lệ cao hơn
Trang 32biên, bãi có 2 nghĩa: 1 – Khoảng đất bồi bên sông, ven biển hoặc nổi lên ở giữa dòng nớc lớn Ví dụ: bãi phù sa; bãi biển 2 – Khoảng đất rộng rãi và thờng là bằng phẳng, quang đãng có một đặc điểm riêng nào đó Ví dụ: bãi sa mạc; bãi tha ma… đều thuộc về phtheo phân tích của chúng tôi bản có các nghĩa sau đây: 1 – Khoảng đất bồi bên sông, ven biển hoặc nổi lên ở giữa dòng nớc lớn Ví dụ: bãi phù sa; bãi biển 2
– Khoảng đất rộng rãi và thờng là bằng phẳng, quang đãng có một đặc điểm riêng
nào đó 3 – là cánh đồng rộng lớn chỉ trồng một loại cây Ví dụ: bản lạc; bản ngô
Nh
… vậy, qua so sánh các nghĩa của từ bản và bãi, chúng tôi thấy: từ bản trong
ph-ơng ngữ Thanh Hoá có 2 nghĩa giống với từ bãi trong ngôn ngữ toàn dân là nghĩa 1
và 2 Ngoài ra bản trong phơng ngữ Thanh Hoá còn có một nét nghĩa nữa là nghĩa 3
mà ở từ toàn dân không có
Chúng ta phân tích thêm một ví dụ nữa để làm dẫn chứng là từ cân (phơng ngữ Thanh Hoá) và cây (ngôn ngữ toàn dân) là biến thể ngữ âm của nhau theo quy
luật tơng tự nh trên (biến đổi phụ âm | n | thành bán nguyên âm |i| ) Hiện nay, trong
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, từ cân trong ngôn ngữ toàn dân có các nghĩa sau: 1 – dụng cụ đo khối lợng Ví dụ: đặt lên cân 2 – (dùng hạn chế trong một số tổ hợp) khối lợng đợc đo Ví dụ: thêm vào cho nặng cân 3 - Đơn vị cũ đo khối lợng bằng 10 lạng ta, tức bằng khoảng 0,605 kilogam Ví dụ: một cân vàng 4 – Tên gọi thông thờng của kilogam Ví dụ: một cân đờng Theo phân tích của chúng tôi từ cân trong phơng ngữ Thanh Hoá ngoài 4 nghĩa giống cân trong ngôn ngữ toàn dân còn có thêm một nghĩa giống với từ cây trong ngôn ngữ toàn dân ví
dụ: cân Bạch Đàn (cây Bạch Đàn)
Nếu so sánh với phơng ngữ Nghệ Tĩnh về kiểu nghĩa này thì phơng ngữ NghệTĩnh thờng có các biến đổi nghĩa nh sau:
Theo phân tích của Hoàng Trọng Canh trong luận án tiến sĩ, thì trớc hết
chúng ta phải kể đến những biến thể ngữ âm nh: bấp vấp – là những biến thể ngữ
âm của nhau (theo quy chung biến đổi phụ âm đầu |b| → |v| trong tiếng Việt, cùng
kiểu tơng ứng: bẹo véo; bíu víu; be ve – – – … đều thuộc về ph) vừa đồng nhất lại vừa dị biệt về nghĩa Theo Từ điển tiếng Việt, do Hoàng Phê chủ biên, vấp có 3 nghĩa: 1 – Va
mạnh chân vào một vật, do vô ý lúc đang đi; 2 – Bị ngắc ngứ; không lu loát, trôichảy; 3 – Gặp phải trở ngại hoặc thất bại một cách bất ngờ.Theo phân tích củaHoàng Trọng Canh, bấp trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh có 3 nghĩa nh sau: 1 – Va
mạnh chân vào một vật, do vô ý lúc đang đi; 2 - Đụng phải, chạm tới vật gì đó Đi bấp chắc (đi đụng phải nhau); 3 – Gặp phải trở ngại hoặc thất bại một cách bất
ngờ
So sánh nghĩa của từ bấp với vấp ta thấy 2 từ náy giống nhau ở nghĩa thứ nhất nhng đều khác nhau ở nghĩa thứ 2 Bấp không có nghĩa nào giống nghĩa thứ 2 của vấp Vì thế, có thể nói: đọc một hơi không hề vấp, mà không nói đọc một hơi không
hề bấp Ngợc lại nếu so sánh nghĩa của từ vấp với bấp trong cơ cấu nghĩa của vấp cũng không có nghĩa nào tơng đồng với nghĩa thứ 2 của bấp nêu trên Tơng đồng
Trang 33với nghĩa này của bấp, trong tiếng Việt toàn dân phải là đụng, chạm Thêm một
điểm phân biệt nhỏ khác, nghĩa thứ 3 của bấp tơng ứng không hoàn toàn với nghĩa 3 của vấp; giống ở chỗ cùng chỉ sự “gặp phải khó khăn bất ngờ”, khác ỏ nét nghĩa : bấp không chỉ sự “gặp phải thất bại ” nh vấp Nên, đối với vấp có thể nói: Bị vấp nhiều trong công tác; Mới ra trờng tránh sao khỏi vấp, nhng đối với bấp ngời Nghệ Tĩnh không nói đợc nh thế Nh vậy, so sánh nghĩa bấp với vấp ta thấy 2 từ này
giống nhau một nghĩa, khác nhau một nghĩa và một nghĩa vừa giống vừa khác (chỉgiống một phần)
Một ví dụ khác trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh có từ bây là biến thể ngữ âm,
t-ơng ứng với vấy trong ngôn ngữ toàn dân, theo quy luật biến đổi phụ âm đầu: |b| → | v| nh trờng hợp bấp vấp – đã phân tích ở trên Theo Từ điển tiếng Việt, do Hoàng
Phê chủ biên, vấy có 2 nghĩa: 1 – Dính chất dơ bẩn hoặc đáng ghê tởm; 2 – (dùng
sau một vài động từ) trút bừa tội lỗi sang ngời khác để trốn hoặc nhẹ bớt trách
nhiệm Theo phân tích của Hoàng Trọng Canh bây có các nghĩa nh sau: 1 – làm vấy bẩn, bừa bộn ra nhiều chỗ Bây bùn lên nền gạch; quần áo bây đầy dầu mỡ; 2
– Làm đụng đến nhiều việc nhng đều bỏ dở, không đâu vào đâu, chỉ tạo nên sự bừa
bộn: Việc ở cơ quan hắn cứ bây ra nhng nỏ có việc chi xong Đối chiếu các nghĩa của bây với các nghĩa của vấy, ta thấy về cơ bản nghĩa 1 của bây giống nghĩa 1 của vấy nhng bây không có nghĩa nào tơng đồng với nghĩa thứ 2 của vấy Vì thế, trong ngôn ngữ toàn dân, lối nói: Đổ vấy trách nhiệm cho bạn; khai vấy lung tung, là bình thờng về ngữ pháp thì trong phơng ngữ không thấy nói: Đổ bây cho bạn; khai bây lung tung Ngợc lại, vấy cũng không có nghĩa nào giống nghĩa 2 của bây nên cũng chẳng có thể nói: Việc ở cơ quan hắn cứ vấy nhng chẳng có việc gì xong Nh vậy, hai từ bây và vấy nằm trong 2 hệ thống vốn từ khác nhau, do sự phát triển nghĩa
riêng của mỗi từ nên bên cạnh nghĩa gốc giống nhau, các từ đó đều khá nhau ởnghĩa phái sinh
Qua các ví dụ phân tích trên của 2 phơng ngữ Thanh Hoá và Nghệ Tĩnh,chúng tôi đi đến một số nhận xét sau: ở kiểu loại: các từ có sự tơng ứng về âm nhngbiến đổi ít nhiều về nghĩa của phơng ngữ Thanh Hoá và phơng ngữ Nghệ Tĩnh cơbản là khác nhau Cụ thể, từ ngữ trong phơng ngữ Thanh Hoá thờng là biến đổi phụ
âm cuối thành bán nguyên âm, chẳng hạn bản bãi; cân cây – – nh chúng tôi đã phântích nh trên Còn từ ngữ trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh chủ yếu là biến đổi ở phụ âm
đầu, chẳng hạn: bây – vấy; bấp vấp – theo phân tích của Hoàng Trọng Canh trongluận án tiến sĩ Tuy nhiên, vì cùng nằm trong vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ Hơnnữa lại là 2 tỉnh tiếp giáp với nhau, cho nên từ ngữ phơng ngữ Thanh Hoá và từ ngữphơng ngữ Nghệ Tĩnh ngoài sự khác nhau thể hiện đặc trng riêng của từng phơng
ngữ thì vẫn có những từ biến đổi giống nhau Chẳng hạn ở từ: lanh nhanh,lanh –
trong phơng ngữ Thanh Hoá và phơng ngữ Nghệ Tĩnh có thể là biến thể cùng gốc
với nhanh trong vốn từ toàn dân cùng dạng biến thể với lát nhát; lặt nhặt; lạt – – – nhạt mà lu tích của nó còn thấy rõ trong Từ điển Việt – Bồ – La của A de