1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng đặc điểm, cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ địa phương thanh hóa vào tiết học ngữ văn lớp 7

30 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 558 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁPHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG ĐẶC ĐIỂM, CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA THÀNH NGỮ ĐỊA PHƯƠNG THANH HÓA VÀO TIẾT HỌC NGỮ VĂN Ở L

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VẬN DỤNG ĐẶC ĐIỂM, CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA THÀNH NGỮ ĐỊA PHƯƠNG THANH HÓA

VÀO TIẾT HỌC NGỮ VĂN Ở LỚP 7

Người thực hiện : Nguyễn Thị Hoa Chức vụ : Giáo viên

Đơn vị công tác : THCS Trần Mai Ninh SKKN thuộc môn: Ngữ Văn

THANH HOÁ NĂM 2019

Trang 2

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 5 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 13 2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để

giải quyết vấn đề

13

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo

dục, với bản thân,đồng nghiệp và nhà trường.

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Thành ngữ là một trong những hiện tượng độc đáo của ngôn ngữ nói chung,của tiếng Việt nói riêng Qua thành ngữ, có thể tìm thấy những dấu ấn riêng củangôn ngữ và bản sắc văn hóa của dân tộc Trong tiếng Việt, thành ngữ phongphú về số lượng, đa dạng về hình thức cấu tạo và ngữ nghĩa Nghiên cứu thànhngữ là góp phần khẳng định sự giàu đẹp, tinh tế của tiếng Việt, đồng thời thấyđược truyền thống văn hóa, thói quen ngôn ngữ và cách tri nhận của người Việt.Chương trình Ngữ văn trong nhà trường THCS lớp 7 tiết 48 (theo phân phối

chương trình) có bài Thành ngữ Qua tiết học này, học sinh đã nắm được kiến

thức cơ bản về thành ngữ Mặt khác, trong chương trình địa phương cũng cóphần văn học dân gian Vì vậy, nghiên cứu thành ngữ Thanh Hóa để học sinhhiểu sâu hơn về cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ Thanh Hóa là một điều cầnthiết để học sinh vừa khắc sâu kiến thức, vừa tìm hiểu về văn hóa quê nhà

Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất trong đa dạng Phương ngữ chính là hiệntượng biểu hiện tính đa dạng của Tiếng Việt Là một vùng địa phương nằm tiếpgiáp giữa hai vùng phương ngữ Bắc Bộ và Trung Bộ, tiếng địa phương ThanhHóa có những đặc điểm riêng, góp phần thể hiện sự đa dạng và phong phú củatiếng Việt về mặt biểu hiện Nghiên cứu thành ngữ trong tiếng địa phương ThanhHóa không những góp phần làm rõ bản sắc độc đáo của vùng đất này về mặtngôn ngữ và văn hóa mà còn khẳng định thêm sự phong phú, đa dạng và nét đặcsắc về thành ngữ của người Thanh Hóa nói riêng, tiếng Việt và văn hóa Việt nóichung

Trong thực tế nói năng, thành ngữ được người Việt nói chung, người ThanhHóa nói riêng sử dụng một cách thường xuyên Là một cụm từ nhưng thành ngữmang đặc trưng riêng của cấu tạo, ngữ nghĩa và mang đậm bản sắc văn hóa vùngmiền Nghiên cứu thành ngữ địa phương Thanh Hóa về cấu tạo, ngữ nghĩa vàcách sử dụng cũng chính là nghiên cứu một hiện tượng quan trọng của từ ngữ địaphương Thanh Hóa Những tư liệu mà tôi thu thập được trong quá trình thựchiện đề tài cũng như kết quả đánh giá có thể góp phần bổ sung thêm nhiều cứliệu quan trọng vào việc giảng dạy phương ngữ tiếng Việt cho học sinh trong nhàtrường

Với những lí do trên, tôi chọn đề tài Vận dụng đặc điểm, cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ của thành ngữ địa phương Thanh Hóa vào tiết học Ngữ Văn

ở lớp 7 để tìm hiểu và nghiên cứu

Trang 4

1.2 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, tôi hướng đến mục đích chính là nêu lên các đặcđiểm cấu tạo, ngữ nghĩa và hành chức của thành ngữ Thanh Hóa qua so sánh vớimột số thành ngữ của các vùng miền khác Từ đó, thấy được sự phong phú đadạng của thành ngữ địa phương Thanh Hóa nói riêng và tiếng Việt nói chung,đồng thời rút ra vai trò của nó trong sáng tác văn chương và trong đời sống vănhóa của người dân Thanh Hóa, bản sắc văn hóa và thói quen ngôn ngữ của cưdân địa phương Thanh Hóa và đặc biệt là tài liệu cho quá trình giảng dạy ở nhàtrường cấp THCS

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Để tìm hiểu phân tích đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ ThanhHóa, tôi đã chọn đối tượng nghiên cứu là toàn bộ thành ngữ địa phương Thanh

Hóa được sưu tầm trong các tài liệu Dân ca Thanh Hóa do Hoàng Tuấn Phổ-Đỗ

Ngọc Trâm-Ngô Xuân Thanh-Lê Huy Trâm sưu tầm, xuất bản tại Nxb VHHN

(9/1963); Ca dao sưu tầm ở Thanh Hóa của nhóm Lam Sơn, xuất bản tại Nxb VHHHN (1965); Thanh Hóa Quan Phong do Vũ Duy Trinh sưu tầm và giới thiệu (1973); Tục ngữ, dân ca, ca dao, vè Thanh Hóa (Miền xuôi trước cách

mạng tháng Tám) của nhóm tác giả Lê Huy Trâm-Hoàng Khôi-Lê Đức Hạnh sưu

tầm và biên soạn, Nxb Thanh Hóa (1983); Ca dao Thanh Hóa 1954-1975 của nhóm sưu tầm: Hoàng Khôi-Lê Huy Trâm; Tục ngữ Mường Thanh Hóa của tác

giả Cao Sơn Hải

Ngoài ra, tôi còn lấy nguồn dữ liệu từ các phiếu điều tra điền dã trực tiếp

từ học sinh các trường trung học cơ sở thuộc các huyện Nông Cống, QuảngXương nơi tôi đã từng giảng dạy và của người dân Thanh Hóa ở các địa phương

để ghi chép lại Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã áp dụng thử vào đối lượnghọc sinh lớp 7 (lớp 7C) trường THCS Trần Mai Ninh nơi tôi đang công tác

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm, tôi sử dụng đồng thời một

số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chính như phương pháp điều tra điền dã,phương pháp thống kê-phân loại, phương pháp miêu tả-so sánh, phương phápphân tích-tổng hợp

1.4.1.Phương pháp điều tra điền dã

Tôi tiến hành điều tra điền dã trực tiếp học sinh ở một số trường THCS:THCS Quảng Lĩnh (Quảng Xương), THCS Hoàng Giang (Nông Cống), Lớp 7C-THCS Trần Mai Ninh và người dân ở nhiều địa phương Thanh Hóa để thu thập

tư liệu tham khảo

Trang 5

1.4.2 Phương pháp thống kê, phân loại.

Từ các tư liệu thu thập được qua điều tra và qua một số công trình sưu tầm

về thành ngữ địa phương Thanh Hóa đã được xuất bản, tôi tiến hành khảo sát,thống kê, phân loại các thành ngữ Thanh Hóa, sau đó, tiếp tục phân chúng thànhcác nhóm theo từng tiêu chí cụ thể để làm cơ sở cho việc miêu tả, phân tích và sosánh

1.4.3 Phương pháp miêu tả, so sánh

Từ bảng số liệu đã thống kê và phân loại, tôi sẽ miêu tả những đặc điểmcủa thành ngữ địa phương Thanh Hóa về cấu tạo, ngữ nghĩa và cách sử dụng; đốichiếu những đặc điểm đó với thành ngữ ở các vùng địa phương khác để nêu bậtnhững đặc điểm đó

1.4.4 Phương pháp phân tích tổng hợp

Từ việc miêu tả, so sánh, tôi sẽ phân tích từng đặc điểm của thành ngữ địaphương Thanh Hóa về cấu tạo, ngữ nghĩa và cách sử dụng, từ đó tổng hợp nhữngđặc điểm khái quát nhất của thành ngữ ở địa phương này

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm

Đây là đề tài đi vào nghiên cứu thành ngữ Thanh Hóa một cách khá toàndiện về mặc cấu tạo, ngữ nghĩa và cách sử dụng

Trên cơ sở chỉ ra các đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa của thành ngữ ThanhHóa, so sánh thành ngữ Thanh Hóa với thành ngữ tiếng Việt ở những phươngdiện cụ thể, sáng kiến kinh nghiệm nêu lên một số nét đặc trưng của thành ngữThanh Hóa, đồng thời làm rõ sắc thái văn hóa địa phương Thanh Hóa

Sáng kiến kinh nghiệm lập ra các bảng biểu thống kê và phân tích các ví

dụ cụ thể của thành ngữ trong thơ ca dân gian Thanh Hóa và những dữ liệu thống

kê được từ điều tra, từ đó làm nổi bật cách cấu tạo của những từ ngữ nghĩa và vaitrò của thành ngữ trong cách sử dụng, nhất là cách sử dụng trong thơ ca dân gian

Ngoài ra sáng kiến kinh nghiệm còn đóng góp cho việc tìm ra những thànhngữ Thanh Hóa mà các tác giả đi trước chưa thu thập như một đối tượng điều trariêng Do vậy, sáng kiến kinh nghiệm hoàn thành sẽ cung cấp tư liệu cho ai quantâm tới vấn đề thành ngữ nói riêng, ngôn ngữ và văn hóa nói chung, đặc biệt làphục vụ cho công tác dạy và học Ngữ Văn trong trường THCS

Trang 6

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

2.1.1 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn

a Cơ sở lý thuyết

*Khái niệm thành ngữ

Thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ khá đặc biệt Trong tiếng Việt,thành ngữ có số lượng tương đối phong phú, có nguồn gốc và kiểu cấu tạo tươngđối đa dạng Song, cũng như nhiều đơn vị ngôn ngữ khác nhau, thành ngữ là mộtđơn vị đặc biệt và hết sức phức tạp Vì vậy, việc tìm ra những tiêu chí cụ thể, xácđáng để xác định khái niệm thành ngữ, đó không phải là việc làm đơn giản Vìvậy, dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ nhưng cho đến nay,các nhà ngôn ngữ học vẫn chưa đưa ra ý kiến thống nhất về nội hàm của kháiniệm này

Tác giả Nguyện Thiện Giáp (1975) nhận định: “Thành ngữ là những cụm

từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm… bên cạnh nộidung trí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng làm theo sắc thái bình giá, cảm xúcnhận đinh”(10, tr 181)

Tác giả Nguyễn Văn Tu (1976) quan niệm: “Thành ngữ là cụm từ cố định

mà các từ trong đó mất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợplàm lại một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩacủa từng thành tố tạo ra Có thể có tính hình tượng cũng có thể có cũng có thểkhông Nghĩa của chúng cũng khác nghĩa của những tư nhưng có thể cắt nghĩabằng từ nguyên học”(37, tr.189) Tác giả Hồ Lê (1976) cũng có ý kiến tương tự:

“Thành ngữ là những tổ hợp từ (gồm nhiều từ hợp lại) có tính vững chắc về cấutạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa để miêu tả một hình ành, một hình tượng, mộttính cách hay một trạng thái nào đó”(20 Tr.97)

Tác giả Nguyễn Văn Mệnh trong khi so sánh thành ngữ với tục ngữ cũngkhẳng định: “Mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoànchỉnh”(23, tr 12)

SGK Ngữ Văn Lớp 7-Tập 1(Tr.144): “Thành ngữ là một cụm từ có cấutạo cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh”

b Cơ sở thực tiễn

Trong giảng dạy chương trình địa phương phần văn học dân gian lớp 7 vàtiết 48 chương trình SGK Ngữ Văn 7:

Trang 7

+ Về phía giáo viên: Gặp không ít khó khăn khi tìm tư liệu để mở rộngcho học sinh Tài liệu tham khảo về chương trình địa phương ít phổ biến trên thịtrường.

+ Về phía học sinh, nhất là học sinh thành phố: Khi học, học sinh không

liên hệ được thành ngữ địa phương và bài Thành ngữ, tiết 48 SGK Ngữ Văn 7

(Tập 1) Nếu lồng ghép và lấy được ngữ liệu từ địa phương sẽ giúp các em hiểuhơn về phong tục, tập quán cũng như đặc điểm vùng miền thể hiện trong lời ăntiếng nói của nhân dân Mặt khác, các em thông qua thành ngữ cũng biết thêm về

địa lí quê hương VD: Cá mè sông Mực Học sinh sẽ tìm hiểu được vị trí sông

Mực (Hồ sông Mực–Như Thanh, Thanh Hóa)

2.1.2 Cấu tạo của thành ngữ và phân loại thành ngữ

Như đã nói ở trên, thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ phức tạp Tính phứctạp của thành ngữ biểu hiện trước hết ở đặc điểm cấu tạo của nó Là một đơn vịthuộc loại tổ hợp từ cố định nhưng thành ngữ có đặc điểm bền vững về hình tháicấu trúc Tính ổn định, bền vững của cấu trúc thành ngữ thể hiện ở sự ổn địnhthành phân từ vựng (nhiều trường hợp chặt chẽ đến mức loại bỏ khả năng thaythế từ đồng nghĩa) và sự ổn định về cấu tạo (ổn định về mối quan hệ giữa cácthành tố trong thành ngữ) Xét về kết cấu ngữ pháp, thành ngữ có kết cấu khá đadạng Thành ngữ có thể có kết cấu là cụm từ chính phụ, cụm từ đẳng lập hoặccụm chủ vị…

Có một điều đáng lưu ý nữa là thành ngữ là hiện tượng trung gian, nằm ởkhu đệm, giữa một bên là từ (thuộc từ vựng) và một bên là ngữ (thuộc cú pháp);

và còn một bên nữa là các hiện tượng thuộc văn học dân gian (tục ngữ, ca dao)

Do đó cấu tạo phức tạp và đặc tính trung gian nêu trên nên việc chỉ rõ câc đặctính cũng như phân loại thành ngữ không phải là vấn đề đơn giản Trong cáccông trình nghiên cứu về thành ngữ, các tác giả đã dựa vào nhiều tiêu chí khácnhau để phân loại thành ngữ về mặt cấu tạo Có thể phân loại theo 4 loại:

a Phân loại dựa vào số lượng thành tố trong thành ngữ.

Các tác giả Lương Văn Đang-Nguyễn Lực trong cuốn Từ điển thành ngữ

Tiếng Việt dựa vào số lượng thành tố trong thành ngữ đã chia thành ngữ ra làm 3

loại:

- Thành ngữ kết cấu ba tiếng: Bạc như vôi; Cá hóa rồng; Gươm kề cổ;

Nhảy chân sáo; Tay rờ gáy.

Trong kiểu này có một số trường hợp tuy hình thức là tổ hợp ba tiếng một,

nhưng về mặt kết cấu, đó chỉ là sự kết hợp của một từ đơn và một từ ghép như:

Nhảy chân sáo; Không bờ bến; Đau điếng người…hoặc kiểu có ba từ đơn, kết

cấu giống như cụm từ C-V : Tớ quên thầy.

Trang 8

- Thành ngữ kết cấu bốn từ đơn hay hai từ ghép liên hợp theo kiểu nối tiếp

hay xen kẽ là kiểu phổ biến nhất của thành ngữ tiếng Việt: Ăn cháo đái bát; đầu

trâu mặt ngựa; gió dập sóng vùi; mặt hoa da phấn; tay làm hàm nhai…

Trong đó các tác giả chia ra các kiểu:

+ Kiểu thành ngữ có láy ghép: Chạy ngược chạy xuôi; Ghét cay ghét

đắng; Tối mày tối mặt,…

+ Kiểu thành ngữ tổ hợp của hai từ ghép: Đau lòng xót ruột; Kín cổng cao

tường; Nằm gai nếm mật; Tầm sư học đạo…

- Thành ngữ kết cấu năm hay sáu tiếng cũng tương đương như kiểu kết

cấu trên: Ăn trông nồi ngồi trông hướng; Nói một đằng làm một nẻo…

Một số thành ngữ có kiểu kết cấu từ bảy, tám, mười tiếng Nó có thể haihay ba đoạn, hai hay ba mệnh đề liên hợp tạo thành một tổ hợp kiểu ngữ cú dài

cố định, như: Nói như dùi đục chấm mắm cáy; Giã gạo thì ốm, giã cốm thì

khỏe…

Như vậy, dựa vào số lượng thành tố trong thành ngữ để phân loại thànhngữ là chỉ dựa vào hình thức, không phản ánh được tính chất quan hệ và đặcđiểm bên trong của chúng

b Phân loại thành ngữ dựa vào kết cấu ngữ pháp:

Tác giả Nguyễn Văn Tu dựa vào kết cấu ngữ pháp chia thành ngữ thànhcác loại:

- Thành ngữ có cấu tạo là câu đơn giản: Trăm dâu đổ đầu tằm; Chó ngáp

phải ruồi; Trên dưới một lòng, Lời nói đọi máu… Ở loại câu này, tác giả phân ra

làm hai loại:

+ Câu đơn giản đủ hai thành phần chủ yếu, có thể thêm thành phần thứ

yếu theo mô hình: Chủ ngữ+Vị ngữ+Trạng ngữ hoặc Tân ngữ, ví dụ: Trăm dâu

+ Về mệnh đề phụ: Tay làm hàm nhai; Quýt làm cam chịu…

+ Về mệnh đề đẳng lập : C-V, C-V: Cơm thừa canh cặn; Binh hùng

tướng mạnh; Tai to mặt lớn…

Ngoài ra, thành ngữ còn có kiểu cấu tạo là câu phức hợp thiếu thành phầnchủ yếu như:

Trang 9

+ Kiểu VT-VT như: Ăn lông ở lỗ,…

+ Kiểu Vtr-Vtr: Ngủ ngày cày đêm; Ăn to nói lớn…

+ Kiểu trV-trV: Phàm ăn phàm uống; Nói dông nói dài,…

+ Kiểu: Số+danh+số+danh : Năm thê bảy thiếp,…

Nhìn chung, các phân loại dựa vào cấu tạo ngữ pháp đã chia thành ngữthành các kiểu cụ thể Tuy nhiên cách phân loại này sẽ khó có thể khảo sát thànhngữ tiếng Việt triệt để và chính xác về nội dung

c Phân loại thành ngữ dựa vào số lượng cụm từ

Dựa vào tiêu chí này, người ta chia thành ngữ tiếng Việt thành hai loại lớn: thànhngữ cấu tạo theo kiểu cụm từ đơn và thành ngữ cấu tạo theo kiểu cụm từ liênhợp Hai loại này, tiếp tục phân ra các tiểu loại nhỏ:

- Thành ngữ cấu tạo theo kiểu cụm từ đơn: đó là loại thành ngữ tiếng Việt

có cấu tạo chỉ gồm một cụm C-V, ví dụ: Than làm tội đời; Kẻ cắp gặp bà già,…

+ Thành ngữ có cấu tạo C-P là cụm từ đơn

Cụm từ C-P thường được gọi theo tên từ loại của thành tố chính trong cụm

từ đó, là cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ, cụm số từ, cụm đại từ Thànhngữ có cấu tạo là cụm từ C-P cũng có đầy đủ các loại cụm từ đã nêu trên; nhưng

số lượng nhiều nhất là cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ Trong các loạinày đều có cấu tạo là cụm từ đơn

- Thành ngữ có cấu tạo là cụm danh từ đơn:

Đây là loại thành ngữ tiếng Việt có quan hệ chính phụ giữa các yếu tố cấuthành, trong đó yếu tố đóng vai trò trung tâm là danh từ, cấu tạo chỉ gồm một

cụm C-P, ví dụ: Mồm cá ngão; Cờ cao Đế Thích,…

- Thành ngữ có cấu tạo là cụm động từ đơn

Đây là loại thành ngữ tiếng việt có một thành phần trung tâm là động từ, ví

dụ: Uốn ba tấc lưỡi; chỉ tay năm ngón,…

- Thành ngữ có cấu tạo là cụm tính từ đơn:

Là thành ngữ có cấu tạo cụm từ đơn không xuất hiện thành phần phụ

trước, chỉ bao gồm một trung tâm và một thành phần phụ sau, ví dụ: Trắng như

ngà; Nhanh như cắt; To như hộ pháp,…

+ Thành ngữ có cấu tạo kiểu cụm từ liên hợp

Đó là cấu tạo gồm 2 cụm từ trở lên kết hợp với nhau, gồm các kiểu:

- Thành ngữ có cấu tạo C-V là cụm từ liên hợp (C-V+ C-V)

Thành ngữ cấu tạo theo kiểu cụm từ liên hợp là thành ngữ có hai kết cấu

trung tâm, mà kết cấu trung tâm là kết cấu C-V, ví dụ: Trời đánh thánh vật,…

- Thành ngữ có cấu tạo C-P là cụm từ liên hợp (C-P + C-P)

Ở đây, người ta chia ra các tiểu loại theo cụm danh từ, cụm động từ, cụmtính từ, cụ thể:

Trang 10

- Thành ngữ có cấu tạo là cụm danh từ liên hợp.

Loại thành ngữ này có hai cụm từ chính phụ liên kết lại, hai cụm từ chính

phụ đó đều là cụm danh từ Đắp đập, đe bờ; Bịt mồm, bịt miệng,…

Ví dụ: Cơm niêu nước lọ; Chim trời cá biển,….

-Thành ngữ có cấu tạo là cụm động từ liên hợp.

Đây là loại thành ngữ tiếng Việt có hai thành phần trung tâm do động từ

đảm nhiệm, ví dụ: Đắp đập, be bờ; Bịt mồm, bịt miệng; Đắp nền, xây móng…

+ Thành ngữ có cấu tạo là cụm từ liên hợp

Thành ngữ này bao gồm hai thành phần trung tâm do tính từ đảm nhiệm,

có kiểu thành ngữ có cấu tạo là cụm từ liên hợp trên tổng 547 thành ngữ tiếng

việt có cấu tạo cụm tính từ : Xanh vỏ, đỏ lòng; Đỏ mặt, tía tai;…

Đây là một cách phân loại khá hợp lí, vì thành ngữ vốn là cụm từ cố định,

do đó dựa vào số lượng cụm từ có thể chia các kiểu kết cấu của thành ngữ

d Phân loại thành ngữ dựa vào phương thức cấu tạo

Trong Thành ngữ học tiếng Việt, tác giả Hoàng Văn Hành đã đưa ra tiêu

chí phân loại thành ngữ dựa vào phương thức cấu tạo Trên cơ sở đó, ông đãphân thành ngữ làm ba loại:

 Thành ngữ so sánh:

Loại này khá phổ biến trong thành ngữ Tiếng việt, thành ngữ so sánh làmột tổ hợp từ bền vững, bắt nguồn từ phép so sánh mang nét nghĩa biểu trưng

- A như B: Mình với ta như đa với cuội.

- At như B: Hát rề rề như bò đái đường

- t như B: Hớn hở như mèo tha tôm.

- Như B: Như bún trợ trưa.

 Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng:

Đây là loại thành ngữ phổ biến trong Tiếng Việt, theo giáo sư Hoàng VănHành, thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng làm nên diện mạo của thành ngữ tiếng Việt,

chiếm 2/3 tổng số thành ngữ Các thành ngữ có cấu trúc đối xứng như: Xanh vỏ,

đỏ lòng; Gạn đục, khơi trong; Tay kiếm, tay cờ;…

Các thành ngữ này có tính chất đối xứng giữa các bộ phận và các yếu tốtạo nên thành ngữ Quan hệ đối xứng đó được thiết lập dựa trên hai bình diện:đối ý và đối lời Đối ý là đối ở cấp độ vế, còn đối lời là đối ở cấp độ yếu tố

Ví dụ: thành ngữ: Bóc ngắn, cắn dài ta thấy: Bóc ngắn đối xứng với cắn

dài, đây là đối xứng ở cấp độ vế, nó giúp ta nhận ra nghĩa của thành ngữ này là:

Việc sử dụng, chi tiêu không cân đối với thành quả, thu nhập Nhưng để có quan

hệ đối ý này là nhờ vào quan hệ đối xứng giữa các yếu tố trong hai vế của thànhngữ-đó là quan hệ đối lời

Trang 11

Trong thành ngữ trên nhờ có quan hệ đối xứng giữa các yếu tố “bóc”và

“cắn”, “ngắn”và “dài”mà ta suy ra được ý nghĩa của thành ngữ Cần nhận thấy

để có được sự đối lời đó, thì nội dung ngữ nghĩa các yếu tố đối xứng nhau tronghai vế ở phần lớn các thành ngữ, đều phản ánh những đặc trưng thuộc cùng mộtnhóm phạm trù ngữ nghĩa và chúng phải có một phạm trù từ loại Hay nói cáchkhác, giữa các yếu tố trong hai vế có sự tương đồng về mặt ngữ pháp-ngữ nghĩa

Xét ví dụ: Bóc ngắn, cắn dài ta thấy có hai cặp yếu tố cùng phạm trù ngữ

nghĩa: “Bóc-cắn”, “ngắn-dài” Chúng cùng chỉ một hiện tượng, một sự vật, tínhchất… “Bóc”, “cắn” chỉ những hành động “ngắn, dài”chỉ tính chất của sự việc,

sự vật vừa nêu Mặt khác, các yếu tố ở hai vế của thành ngữ đó đều thuộc mộtphạm trù từ loại, cụ thể là “bóc”, “cắn” đối xứng với nhau và đều là động từ, còn

“ngắn”, “dài” đối xứng với nhau và đều là tính từ

Tương tự, có các thành ngữ ẩn dụ đối xứng: Bố bế, mẹ mang; Buông chén,

khoen đũa;…

Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng

Bên cạnh những thành ngữ có cấu trúc đối xứng và thành ngữ so sánh, còn

có một bộ phận không thuộc vào hai kiểu cấu tạo trên, tác giả Hoàng Văn Hànhgọi đó là thành ngữ thường “hay tốt hơn là thành ngữ ẩn dụ hóa phi đốixứng”(12,tr.47)

Thành ngữ có cấu trúc thường chiếm tỉ lệ không nhiều Về mặt cấu tạo,chúng không có tính chất đối xứng, bởi chúng được ra những cấu trúc ngữ phápbình thường Cụ thể là được cấu tạo theo hai kiểu kết cấu ngữ pháp : kiểu kết cấu

có một trung tâm và kiểu kết cấu có hai trung tâm Ta có thể hiểu một cách đơngiản như sau:

+ Kết cấu ngữ pháp có một trung tâm gồm 3 kiểu:

+Kết cấu danh ngữ: Môi cá mè,…

+Kết cấu động ngữ: Lượn như diều hâu,…

+Kết câu tính ngữ: Mòn đầu gối,…

+ Kết cấu ngữ pháp có hai trung tâm là kết cấu chủ -vị (C-V): Cá vượt

Trang 12

đơn vị định danh bậc hai Thành ngữ là đơn vị từ vựng có lượng nghĩa đôi và hainghĩa này gần như song song tồn tại: nghĩa đen là cơ sở, là gốc; nghĩa bóng haynghĩa phái sinh là nghĩa được sử dụng trong hành chức, là nghĩa hình thành qua

quá trình biểu trưng hóa Về điểm này, trong công trình Thành ngữ học tiếng

Việt, tác giả Hoàng Văn Hành đã nhận xét như sau: “Nội dung của thành ngữ

không hướng đến điều gì được nhắc đến trong nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên

thành ngữ, mà ngụ ý điều gì đó suy ra từ chúng Ví dụ, thành ngữ Cá nằm trên

thớt không phải miêu tả con cá nằm trên thớt như nói cuốn sách nằm trên bàn,

mà ngụ ý nói đến trạng thái nguy hiểm sống còn Đó là nghĩa bóng hay nghĩabiểu trưng được hình thành nhờ quá trình biểu trưng hóa”[12, tr.34] Nói cáchkhác, nghĩa của thành ngữ không phải là nghĩa của các từ cấu tạo nên thành ngữcộng lại, mà là nghĩa biểu trưng hóa, nghĩa được suy ra từ nghĩa của các từ đó

Nghĩa của thành ngữ tiếng Việt thường là kết quả của hai hình thái biểutrưng hóa: hình thái so sánh và hình thái ẩn dụ Bằng phép so sánh, chúng ta có

những thành ngữ như Đen như than; Trắng như trứng gà bóc;, Nhanh như cắt;

Chậm như rùa; Ngang như cua, Xấu như ma,… Bằng phép ẩn dụ, chúng ta có

những thành ngữ như Mèo mả gà đồng; Đầu voi đuôi chuột; Mắt tròn mắt dẹt;

Chân đăm đá chân chiêu; Vắt cổ chày ra nước,… Cần lưu ý rằng, sự đối lập giữa

hai hình thức biểu trưng hóa này chỉ mang tính chất tương đối nên vẫn có nhữngthành ngữ mang tính chất chuyển tiếp, tính chất trung gian giữa hai kiểu biểu

trưng hóa này này: Chạy rống Bái Công; Chạy như cờ lông công,…

b Đặc điểm, vai trò của thành ngữ trong sử dụng và phân biệt thành ngữ với tục ngữ

* Đặc điểm, vai trò của thành ngữ trong sử dụng.

Về sử dụng, thành ngữ là tổ hợp từ nhưng từ khi được dùng trong câu nóilại chỉ tương đương với từ về nghĩa và chức vụ cú pháp với tư cách yếu tố cấutạo câu Tạo nên đặc trưng này là do tính cố định hóa, tính định chắc, tính có sẵncủa thành ngữ trong kho tàng các đơn vị ngôn ngữ Về nghĩa, tuy tương đươngvới từ nhưng trong nhiều trường hợp, người nói thích sử dụng thành ngữ hơn là

do những đặc trưng ngữ nghĩa đặc biệt của thành ngữ như đã nói trên Hiệu quảtác động vừa cụ thể vừa sinh động tạo nên ấn tượng sâu sắc bởi nghĩa của nóđược thể hiện qua hình ảnh mang tính biểu trưng khái quát hóa cao Chẳng hạn,

người ta thích nói: “chúng nó là lũ mèo mả gà đồng hơn” là nói “chúng nó là lũ

vô lại, lăng loằn, đáng khinh ghét”, người ta thích nói “thằng ấy mặt búng ra

sữa” hơn là “thằng ấy nhìn nhỏ tuổi, non nớt”, “thằng này mặt trơ trán bóng”

thay vì “thằng này bướng lắm”,… Về ngữ pháp, nếu tục ngữ được cấu tạo theokiểu câu thì thành ngữ cấu tạo theo kiểu cụm từ (một trung tâm), cho nên thànhngữ chỉ là bộ phận của cậu, có chức năng ngữ pháp trong câu như từ

Trang 13

Trong văn học, thành ngữ được các nhà thơ, nhà văn sử dụng một cáchthường xuyên, tạo nên hiệu quả nghệ thuật lớn trong tác phẩm văn học Nhiềunhà thơ, nhà văn đã khai thác và sử dụng thành ngữ một cách tài tình, tạo thànhnhững dấu ấn phong cách riêng như cách sử dụng thành ngữ của Nguyễn Dutrong truyện Kiều, cách sử dụng thành ngữ trong văn thơ của Hồ Chí Minh,…

Như vậy, có thể thấy, thành ngữ được sử dụng thường xuyên trong giaotiếp hàng ngày cũng như trong các tác phẩm văn học của người Việt, góp phầntạo nên nét độc đáo trong thói quen nói năng cũng như dấu ấn phong cách vàhiệu quả nghệ thuật trong tác phẩm văn học

** Phân biệt thành ngữ và tục ngữ.

Lâu nay, trong lí luận văn học cũng như ngôn ngữ học, việc phân biệtthành ngữ và tục ngữ là một trong những vấn đề nhận được khá nhiều sự quantâm của các nhà nghiên cứu Đã có khá nhiều bài viết của các tác giả đi trước

bàn về vấn đề này như Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ với tục ngữ của tác giả

Vũ Đình Tú (1973); Khái niệm về thành ngữ tiếng Việt của Nguyễn Thiện Giáp (1975); Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ của Nguyễn Văn Mệnh (1972),…

Ngoài ra, trong các công trình nghiên cứu về thành ngữ và tục ngữ Việt Nam,

nhiều tác giả cũng đã bàn về vấn đề này như Thành ngữ học tiếng Việt của Hoàng Văn Hành, Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa – ngữ dụng của

Đỗ Thị Kim Liên,… Qua tìm hiểu các bài viết, công trình trên, tôi thấy, dù còn

có nhiều ý kiến khác nhau nhưng các tác giả vẫn thống nhất về tiêu chí nhận diện

và phân biệt thành ngữ và tục ngữ trên một số điểm cơ bản sau

Thứ nhất, có thể phân biệt thành ngữ và tục ngữ trước hết qua tiêu chíhình thức Theo đó, tục ngữ có số lượng chủ yếu là 6 âm tiết, lại nhiều nhất là 23

âm tiết Thành ngữ chủ yếu có từ 3 đến 4 âm tiết

Thứ hai là tiêu chí cấu trúc Trong tục ngữ, các thành tổ hợp thành có quan

hệ tương đối tự do nên có thể chuyển đổi, thêm bớt, tỉnh lược một số thành tố.Ngược lại, trong thành ngữ, giữa các thành tố lại có quan hệ cố định, chặt chẽnên khó có thể cải biến, thêm bớt hoặc tỉnh lược các thành tố

Thứ ba là tiêu chí chức năng Tiêu chí chức năng thể hiện rõ nhất ở sựtham gia với tư cách là đơn vị cấu thành trong hệ thống ngôn ngữ Trong sửdụng, nhiều trường hợp, thành ngữ trở thành thành tố trong cấu tạo của tục ngữ

như Cơm hàng cháo chợ ai lỡ thì ăn, Đẹp như tiên lo phiền cũng xấu,… Trong

trường hợp này, thành ngữ là cụm từ cố định, có giá trị tương đương như từ, thựchiện chức năng cấu tạo, còn tục ngữ tồn tại với tư cách là câu, hướng đến chứcnăng thông báo, có đích tác động đến người nghe

Tiêu chí thứ tư để phân biệt thành ngữ với tục ngữ là tiêu chí ý nghĩa.Nghĩa của tục ngữ thường thuộc một trong ba nhóm nghĩa: nghĩa tường minh,

Trang 14

nghĩa gián tiếp và đa nghĩa Chẳng hạn, với câu tục ngữ Có công mài sắt có

ngày nên kim thì nghĩa gián tiếp là có công sức lao động thực sự thì tất yếu sẽ có

thành quả như mong muốn; nhưng với câu tục ngữ Lời nói gói bạc thì có thể

hiểu là một lời nói có giá trị ngang tiền bạc, lời nói có giá trị hơn tiền bạc, lời nóiphải đi kèm với gói bạc,… Còn nghĩa của thành ngữ, thoạt đầu, đơn vị này đượchình thành từ cụm từ tự do, lâu dần thành cố định nên mang nghĩa bóng, nghĩakhái quát Nghĩa của thành ngữ toát lên từ toàn khối chứ không phải nghĩa củatừng thành tố riêng lẻ cộng lại Nghĩa của thành ngữ là nghĩa biểu trưng hóa

Tiêu chí thứ 5 để phân biệt thành ngữ và tục ngữ là tiêu chí đích tác động.Tiêu chí đích tác động thể hiện ở chỗ tục ngữ được chia thành hai nhóm là nhóm

có đích tác động trực tiếp (nhóm tục ngữ phản ánh kinh nghiệm sản xuất, thời

tiết của người lao động như: Trời đang nắng có gà trắng thì mưa; Khoai ruộng

lạ, mạ ruộng quen,… và nhóm có đích tác động gián tiếp như: Chết đuối vớ phải cọng rơm; Lươn ngắn chê chạch dài,… Thành ngữ tác động đến người nghe một

khi nó đi vào lời nói, được vận dụng trong lời nói, là bộ phận cấu thành lời nói,tương đương như từ, không thể xem xét thành ngữ tác động đến người nghe trựctiếp hay gián tiếp

2.1.4 Tiểu kết phần nội dung

Tôi đã giới thiệu một số nét khái quát về những vấn đề lí thuyết có liênquan đến đề tài này như vấn đề khái niệm thành ngữ, đặc trưng của thành ngữ vềcấu tạo và ngữ nghĩa, vấn đề phương ngữ và phương ngữ Thanh Hóa Qua đó,tôi rút ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, thành ngữ là cụm từ cố định, có chức năng định danh, có kết cấubền vững, có ý nghĩa hoàn chỉnh và bóng bẩy, nghĩa biểu trưng hóa, được sửdụng tương đương như từ

Thứ hai, so với tục ngữ, thành ngữ có nhiều nét khác biệt về cấu tạo, chứcnăng, ngữ nghĩa, đích tác động,…

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

- Thứ nhất: Trong quá trình dạy học, bản thân nhận thấy ở học sinh:

+ Chưa nắm vững hết cấu tạo (ngoài việc hiểu là một cụm từ cố định).+ Chưa nhận ra được thành ngữ có nguồn gốc ở địa phương Thanh Hóa.+ Chưa phân biệt rạch ròi giữa thành ngữ và tục ngữ

+ Chưa phân loại được thành ngữ trên cơ sở cấu tạo

- Thứ hai: Tài liệu về thành ngữ địa phương Thanh Hóa độc lập chưa cónên khó cho học sinh tham khảo

- Thứ ba: Trong thực tế thành ngữ được vận dụng rất nhiều trong đời sống,cũng như giới học sinh Đặc biệt là khi cuốn thành ngữ bằng tranh của nhà báoThanh Phong ra đời đã được học sinh mến mộ, đón đọc

Trang 15

Cụ thể, tôi đã khảo sát trước khi dạy lớp 48 ở lớp 7C:

BẢNG KHẢO SÁT TRƯỚC KHI DẠY TIẾT 48 (LỚP 7C) TRONGVIỆC VẬN DỤNG THÀNH NGỮ ĐỊA PHƯƠNG THANH HÓA

Số lượng % Số lượng % Số lượng % Số lượng %

hỗ trợ cho các sân chơi văn học dân gian

BẢNG KHẢO SÁT SAU KHI DẠY TIẾT 48 (LỚP 7C) TRONG VIỆC VẬN

DỤNG THÀNH NGỮ ĐỊA PHƯƠNG THANH HÓA

Số lượng % Số lượng % Số lượng % Số lượng %

Kết luận: Sau khi thực hiện tiết dạy thử nghiệm ở lớp 7C với phương pháp tích

hợp và mở rộng liên hệ với thành ngữ địa phương Thanh Hóa, tôi đã thu đượckết quả trên Số lượng học sinh Khá-Giỏi (trong việc vận dụng thành ngữ địaphương) tăng lên rõ rệt Dưới đây là một trong những bài tập vận dụng

Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn ngắn từ 5 đến 7 dòng (chủ đề: tự do) có vận dụng thành ngữ hoặc thành ngữ địa phương Thanh Hóa.

Học sinh có thể viết theo vốn kiến thức của các em Giáo viên chiếu đoạn văn mẫu:

“Hằng năm, cứ vào dịp ra xuân là làng mở hội Ai nấy áo thắm quần hồng, tưng

bừng đi trẩy hội Có lẽ, ở cái làng này, chỉ có lão vẫn phải làm việc hùng hục

Ngày đăng: 21/10/2019, 08:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w