1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh từ địa phương nghệ tĩnh và từ địa phương thanh hoá

71 617 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Từ Địa Phương Nghệ Tĩnh Và Từ Địa Phương Thanh Hóa
Tác giả Đặng Thị Thủy
Người hướng dẫn PGS. TS Hoàng Trọng Canh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 270 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ góp một phần nhỏ vàonguồn t liệu phơng ngữ Tiếng Việt nói chung, phơng ngữ Bắc Trung Bộ nóiriêng.Qua so sánh, đối chiếu từ trong hai phơng ngữ

Trang 1

Trờng đại học vinh

khoa ngữ văn

- -đặng thị thuỷ

so sánh từ địa phơng nghệ tĩnh

và từ địa phơng thanh hoá

khoá luận tốt nghiệp

Trang 2

Mở đầu

1 lý do chọn đề tài

1.1 Trên thế giới, không ngôn ngữ nào lại không có các phơng ngữ.

ở Việt Nam cũng vậy, dù tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất nhng thốngnhất không có nghĩa là nhất dạng.Trong thực tế tiếng Việt rất đa dạng, biểuhiện cụ thể của tính đa dạng đó là sự tồn tại của các phơng ngữ Mỗi phơngngữ nh một dòng suối nhỏ cùng chảy về một dòng sông lớn là ngôn ngữtoàn dân và mỗi phuơng ngữ có đặc điểm riêng, thể hiện rõ rệt nhất ở cáchphát âm địa phơng và ở vốn từ vựng đặc thù trong vùng Do đó, tìm hiểu vềphơng ngữ, nghiên cứu tính đặc thù của cách phát âm và từ vựng địa phơng

- và cả những lối diễn đạt mang màu sắc địa phơng - không những gópphần tìm hiểu sự phong phú, đa dạng của bức tranh tiếng Việt, thấy rõ cáiriêng của mỗi phơng ngữ mà còn sẽ nhận ra những tiềm năng ngôn ngữ nàotrong phơng ngữ có thể phát huy tác dụng tích cực trong ngôn ngữ văn học,qua đó đóng góp vào kho tàng chung của ngôn ngữ toàn dân

1.2 Theo ý kiến của Hoàng Thị Châu [6], Trơng Văn Sinh [29]và sau

này đợc tổng kết trong các nghiên cứu của các tác giả nh Hoàng TrọngCanh [4], Nguyễn Hoài Nguyên [24] thì vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ cóthể chia thành ba phơng ngữ nhỏ là phơng ngữ Thanh Hoá, phơng ngữNghệ Tĩnh và phơng ngữ Bình Trị Thiên Các tác giả cho rằng phơng ngữThanh Hoá mang đặc điểm trung gian, chuyển tiếp giữa vùng phơng ngữBắc Bộ và Bắc Trung Bộ Tơng tự, phơng ngữ Bình Trị Thiên mang tínhchất trung gian, chuyển tiếp giữa phơng ngữ Bắc Trung Bộ và phơng ngữNam Trung Bộ, Nam Bộ Nh vậy, phơng ngữ Nghệ Tĩnh đợc xem là “đạidiện xứng đáng tiêu biểu cho vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ” [4, tr.3] Chonên, qua việc so sánh tiếng địa phơng Thanh Hoá và tiếng địa phơng NghệTĩnh góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề Trớc hết, chúng ta thấy rõ đợc sự

Trang 3

đan xen phức tạp của vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ, đồng thời bộ măt

ph-ơng ngữ Nghệ Tĩnh và phph-ơng ngữ Thanh Hoá sẽ hiện lên với những đặc

điểm từ vựng - ngữ nghĩa chủ yếu Từ đó góp phần xác định cụ thể vị trí cụthể của mỗi phơng ngữ đối với vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ

2.Lịch sử vấn đề

Các công trình nghiên cứu đặc điểm của phơng ngữ tiếng Việt, chotới nay cha có nhiều Tuy vậy, qua các công trình đã công bố, các tác giả đãkhái quát đợc mối quan hệ giữa phơng ngữ và ngôn ngữ dân tộc, chỉ ra diệnmạo và đặc điểm của phơng ngữ tiếng Việt Trong đó, đặc điểm các vùngphơng ngữ trong tiếng Việt đã đợc phân biệt rõ ràng Tuy đứng ở nhữngbình diện và mục đích nghiên cứu khác nhau nhng các nhà nghiên cứu đãcho ta một cái nhìn tơng đối đầy đủ về vấn đề các phơng ngữ trong tiếngViệt Trong số đó phải kể đến công trình Phơng ngữ học tiếng Việt của

Hoàng Thị Châu [6], trong công trình này tác giả đã cung cấp một cái nhìnbao quát về bức tranh các phơng ngữ trong tiếng Việt với những điểmchung lẫn điểm riêng của các phơng ngữ Công trình đó đã đề cập đến một

số vấn đề liên quan đến đề tài này của chúng tôi Theo Hoàng Thị Châu

ph-ơng ngữ Nghệ Tĩnh và phph-ơng ngữ Thanh Hoá thuộc vùng phph-ơng ngữ BắcTrung Bộ Đồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng phơng ngữ Thanh Hoá mang

đặc điểm phơng ngữ chuyển tiếp còn phơng ngữ Nghệ Tĩnh là phơng ngữtiêu biểu của vùng Tuy vậy, hai phơng ngữ này nhận đợc mức độ quan tâmchú ý khác nhau, đặc biệt là phơng ngữ Thanh Hoá đang còn rất nhiều vấn

đề bỏ ngỏ

Nghiên cứu phơng ngữ tiếng Việt nói chung, phơng ngữ Bắc Trung

Bộ nói riêng, chúng tôi thấy, phơng ngữ Nghệ Tĩnh là phơng ngữ đợc quantâm nhiều nhất Cụ thể, có các chuyên luận: Bản sắc văn hoá ngời Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ) của Nguyễn Nhã Bản [2]; Luận án Tiến sĩ Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phơng Nghệ Tĩnh của Hoàng Trọng Canh

[3]; chuyên luận Từ địa phơng Nghệ Tĩnh: Về một khía cạnh ngôn ngữ văn hoá của Hoàng Trọng Canh [4]; Luận án Tiến sĩ Miêu tả đặc trng ngữ

Trang 4

-âm phơng ngữ Nghệ Tĩnh của Nguyễn Văn Nguyên [23]; Đặc điểm ngữ

âm Nghệ Tĩnh với việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt của Nguyễn Hoài

Nguyên [24]; Từ điển tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh (Nguyễn Nhã Bản chủ

biên) [1];…Về tiếng địa phơng Bình Trị Thiên có Phơng ngữ Bình Trị Thiên của Võ Xuân Trang [36]; Miêu tả và phân vùng phơng ngữ học Bình Trị Thiên của Võ Xuân Trang [37]…

Trong khi đó, tiếng địa phơng Thanh Hoá, một tiểu vùng của phơngngữ thì cha đợc nghiên cứu nhiều Đáng kể hơn cả là một số công trình củaPhạm Văn Hảo nh: Nghiên cứu đặc điểm ngữ âm tiếng Thanh Hoá (tiếng

Nga); Về một số đặc trng tiếng Thanh Hoá, thổ ngữ chuyển tiếp giữa

ph-ơng ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ [11] Các nghiên cứu có chăng cũng còn

mang tính chất nhỏ lẻ, sơ lợc nh: Thổ âm, thổ ngữ Thanh Hoá của Hoàng

Tuấn Phổ [25]; Về vị trí của tiếng địa phơng Thanh Hoá của Trơng Văn

Sinh, Nguyễn Thành Thân [31]

Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả có thể thấy, việcnghiên cứu về phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Thanh Hóa tuy đã đợcquan tâm nhiều nhng còn có nhiều vấn đề cha đợc nghiên cứu sâu Phơngngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Thanh Hoá trong thực tế có vị trí tiếp giápnhau, có mối quan hệ gắn bó gần gũi và cũng có cả những khác biệt Tuyvậy cha có công trình nào so sánh hai phơng ngữ này một cách tổng thể,

nh là một đề tài độc lập Do vậy chúng tôi chọn đề tài So sánh từ địa phơng Nghệ Tĩnh và từ địa phơng Thanh Hoá làm đối tợng nghiên cứu của khoá

luận này

3 Mục đích nghiên cứu

So sánh từ địa phơng Nghệ Tĩnh và từ địa phơng Thanh Hoá là gópphần định vị mỗi phơng ngữ trong bức tranh chung của vùng phơng ngữBắc Trung Bộ Đồng thời làm rõ nét hơn diện mạo vùng phơng ngữ BắcTrung Bộ vừa có sự thống nhất vừa có sự đa dạng

Trang 5

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ góp một phần nhỏ vàonguồn t liệu phơng ngữ Tiếng Việt nói chung, phơng ngữ Bắc Trung Bộ nóiriêng.

Qua so sánh, đối chiếu từ trong hai phơng ngữ trên những kiểu loại

cụ thể, xét về mặt âm thanh và ý nghĩa, khoá luận sẽ cố gắng rút ra những

đặc trng, những dị biệt, chủ yếu về mặt từ vựng - ngữ nghĩa của các lớp từ

địa phơng Nghệ Tĩnh và lớp từ địa phơng Thanh Hoá, cũng nh của mỗi lớp

từ địa phơng so với lớp từ toàn dân

Khoá luận cũng đi vào khảo sát, so sánh một số từ ngữ cụ thể xét vềphơng diện định danh trong quan hệ phản ánh thực tại Qua tên gọi và cáchgọi tên, qua sự tri nhận và cách thể hiện thế giới đợc lu giữ, phản ánh trong

từ ngữ, từ đó cố gắng rút ra những đặc trng văn hoá truyền thống của mỗi

địa phơng thể hiện qua tiếng nói của địa phơng mình

4 Đối tợng nghiên cứu

Khi đi vào thực tiễn nghiên cứu đề tài này, chúng tôi cũng tán thànhgiải pháp chia tiếng Việt ra thành ba vùng phơng ngữ lớn: Phơng ngữ Bắc

Bộ, phơng ngữ Bắc Trung Bộ và phơng ngữ Nam Trung Bộ - Nam Bộ

Ph-ơng ngữ Nghệ Tĩnh và phPh-ơng ngữ Thanh Hoá thuộc vùng phPh-ơng ngữ BắcTrung Bộ đợc tính từ Thanh Hoá đến đèo Hải Vân

Nghiên cứu, so sánh từ của hai phơng ngữ với nhau có thể so sánhtrên tất cả các phơng diện Nhng do mục đích của khoá luận đã nêu trênchúng tôi chủ yếu so sánh từ địa phơng Nghệ Tĩnh và từ địa phơng ThanhHoá ở một số đặc điểm về từ vựng - ngữ nghĩa mà thôi

Đối tợng khảo sát của khoá luận là toàn bộ từ ngữ địa phơng NghệTĩnh và từ ngữ địa phơng Thanh Hoá Trong đó, từ ngữ địa phơng NghệTĩnh là chúng tôi khảo sát dựa vào t liệu có sẵn trong công trình Từ điển tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh do Nguyễn Nhã Bản chủ biên [1] và các số liệu,

t liệu trong công trình Từ địa phơng Nghệ Tĩnh: về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hoá của Hoàng Trọng Canh [4] Còn đối với từ địa phơng Thanh

Trang 6

Hoá, chúng tôi chủ yếu dựa vào nghiên cứu của Nguyễn Thị Thắm trongluận văn Thạc sĩ Khảo sát từ địa phơng Thanh Hoá [34]

Nh vậy, lớp từ địa phơng đợc thu thập, miêu tả ở đây là xẽt về bùnhdiện khu vực dân c thể hiện của tiếng Việt Đó là sự thể hiện của các đơn vị

từ vựng tiếng Việt ở địa bàn Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá với các dạng biến thểkhác nhau của nó Trong số này có những từ ngữ cũng đợc lu hành ở các

địa bàn dân c khác thuộc vùng Bắc Bộ hoặc Bắc Trung Bộ Điều đó chứng

tỏ rằng phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Thanh Hoá tuy mang đầy đủ

đặc điểm vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ nhng chịu ảnh hởng ít nhiều củaphơng ngữ Bắc Bộ và giải thích tính phức tạp của tiếng Việt nói chung vàtiếng địa phơng Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá nói riêng

đối chiếu, so sánh với từ ngữ toàn dân, ta có thể hình dung đối tợngkhảo sát, miêu tả của khoá luận sẽ là các lớp từ ngữ cụ thể sau:

- những từ ngữ riêng biệt trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữThanh Hoá không có quan hệ tơng ứng ngữ âm, ngữ nghĩa với từ toàn dân

- lớp các từ có sự tơng ứng ngữ âm hoặc ngữ nghĩa với từ ngữ toàndân ngng có sự khác biệt ít nhiều về một hoặc hai mặt nào đó

- Phơng pháp so sánh đối chiếu: đây đợc xem nh cái lõi quán xuyến,

là phơng pháp chủ yếu, quan trọng để thực hiện đề tài

- Phơng pháp phân tích từ vựng - ngữ nghĩa: hỗ trợ đắc lực cho chúngtôi khi so sánh đặc điểm của các từ địa phơng với nhau và so sánh từ địaphơng với từ toàn dân

6 Cấu trúc của khoá luận

Trang 7

Ngoài phần mở đầu và phần két luận, nọi dung của khoá luận đợctrình bày thành các chơng sau:

Chơng1: Giới thuyết xung quanh đề tài

Chơng 2: So sánh đặc điểm ngữ âm của từ địa phơng Nghệ Tĩnh và

từ địa phơng Thanh hoá

Chơng 3: So sánh đặc điểm ngữ nghĩa của từ địa phơng Nghệ Tĩnh

và từ địa phơng Thanh hoá

Chơng1

Trang 8

Giới thuyết xung quanh đề tài

1.1 Một số vấn đề chung về phơng ngữ

1.1.1 Khái niệm phơng ngữ và từ địa phơng

Việc nghiên cứu ngôn ngữ nói chung hay phơng ngữ nói riêng khôngchỉ mang tính ngôn ngữ mà còn mang tính xã hội và văn hoá Vì vậy đểnắm bắt, nghiên cứu đối tợng đợc dễ dàng hơn, chính xác hơn, nhất quánhơn thì trớc hết ngời ta phải xác định khái niệm phơng ngữ

Thuật ngữ từ địa phơng ra đời từ rất sớm, bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp:dialektos có nghĩa là nói năng, từ đó trong tiếng Anh, tiếng Pháp cũng cóthuật ngữ dialect, dialecte

Hoàng Thị Châu phát biểu một cách cụ thể hơn: “Phơng ngữ là mộtthuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một

địa phơng cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dânhay với một phơng ngữ khác”.[6, tr.29]

Khái niệm nêu trên của Hoàng Thị Châu đã phản ánh khá rõ đặc

điểm của phơng ngữ, chúng tôi nhận thấy có thể lấy đó làm cơ sở để nghiêncứu những vấn đề cụ thể của phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ ThanhHoá

Gắn liền với việc xác định khái niệm phơng ngữ là việc xác lập kháiniệm từ địa phơng Nhiều nhà nghiên cứu khi xét đến từ địa phơng đã nhấnmạnh tính riêng biệt của nó và sự tồn tại chỉ ở một địa phơng

Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh đến tính khác biệt hai mặt ngữ âm và ngữnghĩa của từ địa phơng, cho rằng: “Những đơn vị từ vựng địa phơng lànhững đơn vị từ vựng có ý nghĩa khác nhau nhiều hay ít kèm theo sự khácnhau về ngữ âm nhiều hay ít không nằm trong sự sai dị ngữ âm đều đặn”[7,tr.256 - 257]

Nguyễn Thiện Giáp nhấn mạnh đến phạm vi sử dụng của từ địa

ph-ơng: “Nói chung từ địa phơng là những từ vựng ngôn ngữ nói hàng ngày

Trang 9

trong một bộ phận nào đó của ngôn ngữ dân tộc chứ không phải là từ vựngcủa ngôn ngữ văn học”[8]

Nguyễn Quang Hồng lại xét về góc độ chức năng của từ địa phơngtrong ngôn ngữ văn hoá tiếng Việt: “Từ địa phơng là những đơn vị và dạngthức từ ngữ của một dân tộc mà phạm vi tồn tại tự nhiên nhất của chúng làtrong một vài địa phơng nhất định” [14]

trong cuốn “ Từ điển tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Nhã

Bản, Phan Mậu Cảnh, Hoàng Trọng Canh, các tác giả đã đa ra định nghĩa: “

Từ địa phơng là vốn từ c trú ở một địa phơng cụ thể có sự khác biệt vớingôn ngữ văn hoá hoặc địa phơng khác về ngữ âm và ngữ nghĩa” [1, tr.6]

Qua các định nghĩa trên ta thấy rằng, mỗi khái niệm phản ánh mộtgóc nhìn cụ thể, một mức độ khái quát khác nhau Từ đó chúng tôi rút racho mình một cách hiểu chung về từ địa phơng để làm cơ sở cho việcnghiên cứu và so sánh :

Từ địa phơng là những đơn vị và dạng thức từ ngữ của ngôn ngữ dân tộc đợc sử dụng quen thuộc ở một hoặc vài địa phơng nhất định có những nét khác biệt với ngôn ngữ toàn dân.

Tóm lại, khi nói đến phơng ngữ hay từ địa phơng là nói đến hai

Trang 10

ngữ dân tộc đợc thừa nhận nh là thuộc tính bản chất, đồng thời tình trạngtồn tại trong lòng nó – ngôn ngữ dân tộc – những phơng ngữ địa lí và ph-

ơng ngữ xã hội là hiển nhiên mà chúng ta hoàn toàn có thể quan sát đợctrong tiếng Việt cũng nh các ngôn ngữ khác

Ngôn ngữ dân tộc là phơng tiện giao tiếp chung của toàn dân tộc, bất

kể sự khác nhau về lãnh thổ hay xã hội của họ Tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử

mà sự hình thành của dân tộc và ngôn ngữ dân tộc mỗi nơi, mỗi thời kì mộtkhác Ngôn ngữ là sản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định – thời đạihình thành thống nhất dân tộc Quá trình hình thành thống nhất dân tộccũng là quá trình hình thành thống nhất ngôn ngữ dân tộc, song không phảikhi ngôn ngữ dân tộc đã đợc hình thành thì không còn phơng ngữ Trái lại,trong lòng ngôn ngữ dân tộc, ở các mặt biểu hiện, trên các vùng địa lí dân

c khác nhau, trong các tầng lớp xã hội khác nhau phơng ngữ vẫn tồn tại

Quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc nh trên là sự phản ánh quyluật phân tán và thống nhất của ngôn ngữ Quy luật chung đó của ngôn ngữgắn liền với lịch sử phát triển của xã hội mà phơng ngữ là một hiện tợngkhông thể tách rời của quá trình hình thành và thống nhất của ngôn ngữ dântộc, vì vậy phơng ngữ ra đời cũng gắn liền với điều kiện lịch sử xã hội củatừng quốc gia trong từng thời kì cụ thể Trong từng thời kì lịch sử, tuỳ theochế độ xã hội của từng quốc gia, trong lòng ngôn ngữ dân tộc thống nhấtvẫn xảy ra hiện tợng các phơng ngữ đợc hình thành và củng cố dần do tìnhtrạng cát cứ, tình trạng phân tán, tách biệt của các khu vực địa lí dân c ở cácquốc gia phong kiến

Con đờng hình thành phơng ngữ khi đã có ngôn ngữ quốc gia trongnhững điều kiện địa lí cách biệt nh vậy, nhìn bên ngoài tởng đi ngợc lại, tráivới quy luật thống nhất ngôn ngữ dân tộc, nhng hiện tợng này cũng chỉ tồntại trong một thời gian với điều kiện lịch sử cụ thể của từng quốc gia Cácphơng ngữ sẽ mất dần tính cách biệt và đi đến thống nhất khi hàng rào địa

lí và giao tiếp xã hội của các công quốc (ở Châu Âu) và các vùng địa lí dân

c cách biệt về giao thông (các nớc phong kiến phơng Đông) bị xoá bỏ

Trang 11

Dù phơng ngữ đợc hình thành theo con đờng nào thì đó cũng chỉ lànhững nguyên nhân kinh tế, địa lí, lịch sử xã hội, dân c – nguyên nhân bênngoài ngôn ngữ Bên cạnh đó, phơng ngữ ra đời còn là kết quả của một sựtác động từ bên trong, từ cấu trúc ngôn ngữ Ngôn ngữ luôn luôn phát triển

và biến đổi, mặt biến đổi của nó đợc thể hiện trên từng phơng ngữ về ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp

Ngôn ngữ ở thời kì bộ lạc cũng nh ở giai đoạn đã hình thành dân tộc

đều không ngừng biến đổi Sự biến đổi của ngôn ngữ là không đồng đềutrên từng bình diện ngôn ngữ cũng nh trên khắp các vùng dân c, vì thế màtạo ra đặc điểm riêng của từng phơng ngữ, làm nên tính đa dạng của ngônngữ trong thể hiện Trong điều kiện các c dân nói cùng một ngôn ngữ nhngsống trải rộng trên một địa bàn lớn mà các vùng c dân lại cách biệt nhau về

địa lí, điều kiện giao thông và thông tin khó khăn, sự giao tiếp, tiếp xúcngôn ngữ giữa các vùng không thờng xuyên, bị khép kín, thì thông thờng,một sự thay đổi nào đó về ngôn ngữ cũng chỉ lan truyền trong nội bộ c dânvùng địa lí đó mà thôi Ban đầu những thay đổi tạo nên sự khác nhau vềngôn ngữ giữa các vùng địa lí dân c có thể chỉ là những yếu tố rời rạc vềmặt từ vựng, nh sự xuất hiện của các từ mới, sự mất đi của các từ cũ, về saunhững thay đổi lớn hơn, bắt đầu chạm đến cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ,

nh sự biến đổi của một vài âm vị, sự thay đổi của các từ công cụ, ngữ pháptrong từng vùng địa lí (nh 3 phụ âm quặt lỡi (tr, r, s) mất đi trong cách phát

âm của c dân vùng Bắc Bộ, việc quen dùng các từ chỉ trỏ: mô, tê, răng, rứa

mà không dùng: đâu, kia, sao, thế ở địa bàn c dân Trung Bộ), đó là những

dấu hiệu của sự khác nhau về ngôn ngữ giữa các vùng dân c Nói cáchkhác, phơng ngữ địa lí đã ra đời Đứng về phơng diện giao tiếp mà nói,ngôn ngữ thay đổi trong từng vùng dân c là sự thay đổi và tạo ra thói quennói năng khác với các vùng dân c khác Tập hợp các thói quen nói năngkhác nhau đó của một vùng dân c so với vùng dân c khác là tập hợp tạo nênphơng ngữ của vùng Nh vậy, nhìn vào biểu hiện ngôn ngữ từng khu vực địa

lí ta thấy có sự khác nhau Sự khác nhau của các phơng ngữ địa lí rõ ràng

Trang 12

không phải do nguyên nhân địa lí Nguyên nhân sâu xa bên trong là do sựphát triển, biến đổi của ngôn ngữ Điều kiện địa lí chỉ là nhân tố kháchquan bên ngoài ngôn ngữ làm cho các khác biệt của ngôn ngữ đợc giữ lại

và hiện ra Nếu không có sự phân bố tách biệt nhau về địa lí thì không cóphơng ngữ nhng đó chỉ là điều kiện để các thay đổi ngôn ngữ đợc phổ biếntrong vùng Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, sự khác nhau giữa các phơngngữ dù lớn đến đâu cũng chỉ là sự khác biệt không đáng kể so với ngôn ngữtoàn dân Chính vì vậy mà những ngời dù nói các phơng ngữ khác nhau nh-

ng trong cùng một ngôn ngữ thì về cơ bản có thể giao tiếp và hiểu nhau

đ-ợc, bởi các phơng ngữ trên căn bản giống nhau về hệ thống cấu trúc, chúngvẫn dùng chung một mã ngôn ngữ thống nhất Xu hớng thống nhất ngônngữ, xóa bỏ dần sự khác biệt của các phơng ngữ so với ngôn ngữ toàn dân ởmỗi quốc gia là một tất yếu của sự phát triển của ngôn ngữ và xã hội

Từ những điều đã trình bày nh trên, ta có thể rút ra một vài đặc điểmcủa phơng ngữ nh sau:

Nếu nh ngôn ngữ dân tộc hay ngôn ngữ toàn dân là ngôn ngữ chungcủa toàn dân tộc, là biểu hiện của sự chuẩn mực, là phơng tiện ngôn ngữ đ-

ợc dùng phổ biến rộng rãi hàng ngày trong toàn quốc, không bị hạn chế vềphạm vi sử dụng thì:

- phơng ngữ là hình thức của ngôn ngữ, một biểu hiện của ngôn ngữtoàn dân trong quá trình biến đổi của quy luật ngôn ngữ

- Sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ luôn diễn ra trên hai mặt cấutrúc và chức năng Cùng với sự phát triển chức năng nhiều mặt của ngônngữ, sự phát triển cấu trúc của ngôn ngữ thể hiện ở sự biến đổi về ngữ âm,

từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp Phơng ngữ là nơi thể hiện kết quả của sựbiến đổi ấy Chính vì vậy phơng ngữ khác ngôn ngữ toàn dân ở một vài khíacạnh nào đó, ở một mức độ nào đó, nhng trên căn bản cái mã (code) chung– hệ thống cấu trúc ngữ pháp, từ vựng, âm vị gữa phơng ngữ và ngôn ngữtoàn dân là giống nhau

Trang 13

- phơng ngữ là một hệ thống biến thể của ngôn ngữ toàn dân, bị hạnchế về phạm vi sử dụng Nói cách khác, giới hạn sử dụng của phơng ngữ làtrong những vùng địa lí dân c hoặc tầng lớp xã hội nhất định.

- phơng ngữ là một hiện tợng lịch sử, nó ra đời nh một tất yếu do sựphát triển, biến đổi của ngôn ngữ cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội

Do đó, với xu thế thống nhất ngôn ngữ ngày càng cao thì phạm vi sử dụngcủa phơng ngữ ngày càng bị thu hẹp, về lí thuyết nó sẽ mất đi trong tơng laicủa một ngôn ngữ dân tộc thống nhất và đợc tiêu chuẩn hoá cao

Tóm lại, nói tới phơng ngữ là nói tới một hiện tợng phức tạp của ngôn ngữkhông chỉ về mặt hệ thống cấu trúc, cấu tạo cũng nh phơng diện thể hiện

mà bản thân nó còn là sự phản ánh của nhiều mối quan hệ trong và ngoàingôn ngữ

1.1.3 sự phân vùng phơng ngữ tiếng Việt

Tiếng Việt có bao nhiêu phơng ngữ? Ranh giới của các phơng ngữ

đến đâu? Đây là phơng diện đợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nơcquan tâm từ rất sớm nhng cho đến nay vẫn cha có sự thống nhất cao Vềmặt lí luận và thực tế, xác định ranh giới của các phơng ngữ, thổ ngữ là hếtsức phức tạp, không chỉ riêng với tiếng Việt Việt Nam là một quốc gia đadân tộc, đa ngôn ngữ, vấn đề ngôn ngữ và phơng ngữ các dân tộc thiểu sốanh em có nhiều liên quan mật thiết với tiếng Việt về cội nguồn và tiếp xúc.Cho nên, nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng liênquan và soi sáng nhiều vấn đề không riêng đối với tiếng Việt nói chung màcòn đối với các phơng ngữ trong tiếng Việt nói riêng, trong đó có vấn đề sựhình thành của các phơng ngữ

Từ quy luật của sự hình thành ngôn ngữ và các phơng ngữ nói chung,khi nhìn vào một ngôn ngữ nào đó về biểu hiện, ngời ta đều có thể nói đợcrằng ngôn ngữ ấy bao gồm nhiều phơng ngữ và trong từng phơng ngữ lại

có thổ ngữ khác nhau Song đi vào các ngôn ngữ cụ thể, bức tranh ngôn ngữ

và phơng ngữ trong lịch sử là luôn luôn thay đổi và ở mỗi dân tộc có một sự

Trang 14

phức tạp riêng Sự thay đổi của bức tranh ngôn ngữ vừa mang dấu ấn khônggian vừa mang dấu ấn thời gian của lịch sử, địa lí, dân c và sự phát triểnbiến đổi của bản thân ngôn ngữ Một ngôn ngữ cũng nh một phơng ngữ nào

đó hiện nay, có thể trớc đây chúng đã biến đổi qua nhiều không gian rộnghẹp khác nhau, cho nên bức tranh ngôn ngữ hiện nay không phải là kết quảcủa một sự phát triển tuần tự và trùng khít của bức tranh ngôn ngữ quá khứtrong từng vùng cũng nh trong toàn quốc Vì vậy khi tiếp cận các phơngngữ và ngôn ngữ cần phải “chấp nhận một thực tế là không gian ngôn ngữhiện nay chỉ là không gian bề mặt, trong đó nó đựng nhiều tầng không giankhác nhau phản ánh một lịch sử phát triển đa chiều của chúng” Và “khôngloại trừ khả năng pha trộn ngôn ngữ trong quá trình phát triển lịch sử” Đivào các phơng ngữ, nhất là xác định ranh giới chúng trong tiếng Việt,chúng ta sẽ thấy “tính chất không thuần nhất của không gian thuần Việt”[7, tr.23] Thực tế đó đã làm cho các nhà ngôn ngữ học nói chung, phơngngữ học nói riêng, khi xác định ranh giới của các phơng ngữ trong tiếngViệt đã không có tiếng nói chung

Sở dĩ không có đợc một tiếng nói chung về vấn đề này là do nhiềunguyên nhân Trớc hết, do bản thân đối tợng - ranh giới của các phơng ngữkhông phải là đờng ranh giới tự nhiên Ranh giới của phơng ngữ là phản

ánh phạm vi biến đổi của biến thể ngôn ngữ Nhng sự biến đổi của ngônngữ lại không chỉ xảy ra đối với một hiện tợng Vì vậy, mỗi biến đổi củangôn ngữ có thể tạo nên một đờng biên Tuỳ theo mức độ lan toả của mỗibiến thể ngôn ngữ mà các đờng ranh giới (các đờng đồng ngữ) có phạm virộng hẹp khác nhau Hơn nữa, ngôn ngữ lại liên tục phát triển biến đổi vìthế các đờng đồng ngữ có thể chồng xếp, đan chéo lên nhau Do đó sẽkhông bao giờ có đợc một đờng ranh giới phơng ngữ lí tởng - mà nơi ấy là

điểm hợp lu của các dòng chảy, là nơi gặp nhau của các con sóng ngônngữ, tạo nên sự trùng khít của các đờng đồng ngữ Bản thân đối tợng phứctạp nh vậy nên đờng ranh giới phơng ngữ mà các nhà nghiên cứu đa ra baogiờ cũng chỉ là “ớc định”, tơng đối Vì thế, không ai ngạc nhiên khi nhìn

Trang 15

thấy có nhà nghiên cứu chia tiếng Việt thành năm phơng ngữ , nhiều ngờikhác thì cho rằng tiếng Việt có bốn phơng ngữ, phần đông các tác giả lạichia tiếng Việt thành ba vùng phơng ngữ, nhng có nhà nghiên cứu lại chỉchia tiếng Việt thành hai vùng phơng ngữ, thậm chí, có ngời cho rằng dotrạng thái chuyển tiếp của ngôn ngữ tiếng Việt từ Bắc vào Nam là liên tụcnên không thể phân chia tiếng Việt thành các vùng phơng ngữ.

Xu hớng chung hiện nay cũng nh ý kiến của phần đông các nhànghiên cứu đều cho rằng tiếng Việt có ba vùng phơng ngữ lớn Đó là, ph-

ơng ngữ Bắc (Bắc Bộ), phơng ngữ Trung (Bắc Trung Bộ), phơng ngữ Nam(Nam Trung Bộ, Nam Bộ) Cả ba vùng phơng ngữ này, cho tới nay cha cóvùng nào đợc khảo sát nghiên cứu toàn diện, triệt để

Việt Nam, với vị trí địa lí trải dài từ Bắc xuống Nam chia thành bavùng rõ rệt: Bắc - Trung - Nam và do những điều kiện lịch sử, chính trị, vănhoá - xã hội…nên theo chúng tôi, việc phân chia thành ba vùng phơng ngữ

là phù hợp với tình hình phân bố phơng ngữ, thổ ngữ tiếng Việt trong mộtthời gian dài trớc đây và vẫn còn tồn tại đến ngày nay Ba vùng phơng ngữ

đã hình thành và phát triển với những đặc trng riêng, lu giữ những bản sắcriêng của mình: phơng ngữ Bắc Bộ mang đậm nét ý nhị và tinh tế, phơngngữ Bắc Trung Bộ với cái nắng gay gắt của gió lào mang hơng vị đậm đàcủa gió cát, phơng ngữ Nam Trung Bộ - Nam Bộ mang đậm tính hồn hậu,chất phác và thoải mái của những ngời đi mở đất khai hoang

Tuy vậy cũng cần thấy rằng, tình hình này không ổn định mà đangbiến động mạnh mẽ theo những biến động to lớn của cuộc cách mạng Xãhội chủ nghĩa trong toàn quốc Việc chuẩn hoá ngôn ngữ tiếng Việt ngàycàng cao, vì vậy ba vùng phơng ngữ mà ta tạm phân chia chỉ phản ánh tìnhhình phân bố phơng ngữ trong một giai đoạn lịch sử nhất định

1.2 Từ địa phơng Nghệ Tĩnh, từ địa phơng Thanh Hoá với phơng ngữ Bắc Trung Bộ

Theo Nguyễn Tài Cẩn [5], phơng ngữ Bắc Trung Bộ đợc hình thànhcách đây chừng năm trăm năm do sự tác động của tiếng Việt Bắc Bộ Sau

Trang 16

vài thế kỉ ở Bắc Bộ dới sự tác động của tiếng Hán, tiếng Việt Bắc Bộ đãtách khỏi tiếng Mờng thành hai ngôn ngữ.

Nh vậy, sau khi tiếng Việt Bắc Bộ đã tách khỏi tiếng Mờng do ảnh ởng của tiếng Hán thì vài thế kỉ sau vùng Bắc Trung Bộ vẫn là tiếng nóiViệt Mờng Nếu nh tiếng Việt Bắc Bộ tách khỏi tiếng Mờng là do ảnh hởngtrực tiếp của tiếng Hán thì tiếng Việt Bắc Trung Bộ tách khỏi tiếng Mờng là

h-do ảnh hởng trực tiếp của tiếng Việt Bắc Bộ Do đó, trong tiếng nói của cdân Bắc Trung Bộ mang dấu ấn tiếng Mờng đậm hơn vùng Bắc

Bộ, cũng có nghĩa là tiếng nói vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ mang tínhchất cổ hơn

Cũng bàn về vùng phơng ngữ này, Hoàng Thị Châu trong công trình

Phơng ngữ học tiếng Việt, sau khi nêu lên ý kiến của mình về chia tiếng

Việt thành ba vùng phơng ngữ lớn đã tiếp tục chia các vùng phơng ngữ nàythành những phơng ngữ nhỏ hơn, căn cứ trên đặc điểm ngữ âm riêng củatừng vùng Cụ thể đối với phơng ngữ Bắc Trung Bộ tác giả viết: “phơng ngữTrung cũng gồm ba phơng ngữ nhỏ hơn khác nhau về thanh điệu:

a) Phơng ngữ Thanh Hoá lẫn lộn thanh hỏi và thanh ngã (phát âmkhông phân biệt), nhng các thanh khác lại giống với phơng ngữ Bắc

b) Phơng ngữ vùng Nghệ Tĩnh không phân biệt thanh ngã với thanhnặng Cả năm thanh tạo thành một hệ thống thanh điệu khác với phơng ngữBắc, có độ trầm lớn hơn

c) Phơng ngữ vùng Bình Trị Thiên không phân biệt thanh hỏi vớithanh ngã Nhng về mặt điệu tính các thanh lại giống với thanh điệu NghệTĩnh…” [6, tr.95]

Nh đã nói, việc phân vùng phơng ngữ chỉ mang tính “ớc định”, tơng

đối Cách phân chia trên cũng vậy, đờng ranh giới của các phơng ngữ có địabàn phân bố từ Thanh Hóa đến Thuận Hải thờng không trùng nhau, đặc biệt

là địa vị của tiếng Thanh Hoá và Thừa Thiên Huế đợc định vị trong bảngphân loại của các nhà nghiên cứu rất không ổn định Điều đó khách quancũng nói lên tính phức tạp của các phơng ngữ phân bố ở địa bàn miền

Trang 17

Trung này Tính chất chuyển tiếp và ảnh hởng qua lại của quan hệ tiếp xúc

đã làm cho các phơng ngữ này không mang tính thuần khiết nh phơng ngữBắc và phơng ngữ Nam Vì vậy, theo thiển nghĩ của chúng tôi, để vẽ nênbức tranh toàn cảnh về vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ một trong ngữngcách làm trớc hết là chọn đợc một phơng ngữ tiêu biểu trong vùng, khảosát, miêu tả nó trên các bình diện khác nhau để khái quát thành những đặc

điểm chung Đồng thời khảo sát các phơng ngữ khác trong vùng sẽ làm đầy

và rõ hơn đặc điểm vùng và tính chất giao thoa của vùng chhuyển tiếp cácphơng ngữ

Các vấn đề nêu trên đều có liên quan đến việc xác định vị trí, vai tròcủa phơng ngữ Nghệ Tĩnh, phơng ngữ Thanh Hoá, cũng nh mục đích, ýnghĩa của việc nghiên cứu nó đối với phơng ngữ Bắc Trung Bộ

Khi chúng tôi dựa vào ý kiến phần đông các nhà nghiên cứu cho rằngtiếng Việt có ba vùng phơng ngữ lớn nh nêu trên thì cũng có nghĩa việc

định vị phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Thanh Hoá là không tách rời vịtrí của phơng ngữ Bắc Trung Bộ

Vùng Nghệ Tĩnh, phía Bắc bắt đầu từ khe Nớc Lạnh - đèo HoàngMai ngăn cách với Thanh Hoá, phía Nam có dãy Hoành Sơn - Đèo Ngang

là đờng phân giới với Bình Trị Thiên Dải đất này vừa hẹp về chiều nganglại ít nhiều bị đóng kín với nhiều hàng rào ngăn cách Nghệ Tĩnh là mộttrong những địa bàn c trú của ngời Việt cổ, là bộ phận phía Nam của nớcVăn Lang và Âu Lạc xa, thời Bắc thuộc có tên là Hàm Hoan (quận CửuChân), quận Cửu Đức, rồi sau đó là Hoan Châu, Hoan Châu và Diễn Châu,Nghệ An, Hà Tĩnh, Nghệ Tĩnh…Khi nói đến Nghệ Tĩnh là để chỉ Nghệ An

và Hà Tĩnh vì giữa hai tỉnh nhìn chung chủ yếu là sự gắn kết, thống nhấtlàm một Đó là sự gắn kết, thống nhất về mặt ngôn ngữ, văn hoá, phong tục,tập quán.Tính thống nhất ấy đã ăn sâu vào tâm thức của ngời Nghệ Tĩnh

Về phơng ngữ Nghệ Tĩnh, Hoàng Trọng Canh [3, tr.55] chỉ ra rằng: “ trong

ba phơng ngữ thuộc vùng phơng ngữ Trung, phơng ngữ Nghệ Tĩnh có thểxem là đại diện tiêu biểu nhất cho phơng ngữ vùng về nhiều phơng diện”

Trang 18

Vùng Thanh Hoá, thời Hùng Vơng là bộ Cửu Chân, thời Bắc thuộc tựchủ là Châu ái, lộ, trấn Thanh Hoa rồi tỉnh Thanh Hoá Địa phận ThanhHoá bắt đầu từ đèo Ba Dội (Tam Điệp) mở cửa ra đồng bằng Bắc Bộ bao la

đến khe Nớc Lạnh (Hàn Khê) thông lối vào dải đất dằng dặc miền Trung.Thanh Hoá là nơi cuối cùng và cũng chính là nơi bắt đầu chịu sự tác độngcủa vùng văn hoá Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Nhìn vào bản đồ lịch sử địa líViệt Nam cận đại cũng nh bản đồ ngôn ngữ chúng ta thấy rằng Thanh Hoágiống nh khu vực “đệm” ở giữa miền Bắc và miền Trung Một số học giảngời Pháp thời trớc muốn đem Thanh Hoá nhập vào Bắc Kì, dựa vào ngônngữ và khí hậu để tách Thanh Hoá ra khỏi Trung Kì “trực trị” của triều đìnhHuế, thể hiện kín đáo một ý đồ chính trị, vì bấy giờ Bắc Kì là đất bảo hộcủa Pháp Sau này, dựa trên những cơ sở, tiêu chí cụ thể nhiều nhà nghiêncứu đã xếp Thanh Hoá vào các vùng phơng ngữ khác nhau Dựa vào ý kiếncủa nhiều tác giả, chúng tôi cho rằng phơng ngữ Thanh Hoá là một trong

ba phơng ngữ nằm trong vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ Xét về vị trí, tínhchất của phơng ngữ Thanh Hoá trong quan hệ với vùng phơng ngữ này,Hoàng Trọng Canh [4] đã chỉ ra rằng, phơng ngữ Thanh Hoá (cùng với ph-

ơng ngữ Bình Trị Thiên) là phơng ngữ mang tính chất chuyển tiếp, trunggian của vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ

Tóm lại, khi nói đến từ địa phơng Nghệ Tĩnh, từ địa phơng Thanh Hoávới phơng ngữ Bắc Trung Bộ ta thấy: tính chất trung gian của phơng ngữThanh Hoá thể hiện rõ qua ngữ âm và từ vựng, có những đặc điểm mang

đặc trng của vùng phơng ngữ Trung nhng cũng có những đặc điểm giốngphơng ngữ Bắc Còn phơng ngữ Nghệ Tĩnh thể hiện đầy đủ và rõ nhất các

đặc trng cơ bản của vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ Chẳng hạn, có thể lấyhai đặc trng cơ bản về ngữ âm để phân biệt phơng ngữ Trung với phơng ngữBắc là có hay không ba phụ âm quặt lỡi (tr, r, s)và hệ thống năm thanh haysáu thanh làm căn cứ thì thấy cả hai đặc điểm đó đều thể hiện không triệt

để trong phơng ngữ Thanh Hoá Trong khi đó sự thể hiện của hai đặc trngtrên có tính chất phổ biến khắp các địa bàn Nghệ Tĩnh

Trang 19

1.3 Từ địa phơng Nghệ Tĩnh và từ địa phơng Thanh Hoá - cơ sở

so sánh

So sánh bao giờ cũng đợc thực hiện với những đối tợng trong cùngmột hệ thống (có thể là phạm vi rộng hay hẹp), kiểu loại, trên cùng một tiêuchí Qua so sánh chúng ta thấy đợc những điểm tơng đồng, khác biệt, từ đóhiện lên bức tranh toàn cảnh về các đối tợng, làm nổi rõ đặc trng riêng củamỗi đối tợng Từ địa phơng Nghệ Tĩnh và từ địa phơng Thanh Hoá đềuthuộc vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ, mà vùng phơng ngữ này đã có những

đặc điểm riêng, có tính chất khu biệt với các vùng phơng ngữ khác Vậy cơ

sở so sánh của từ địa phơng Nghệ Tĩnh

và từ địa phơng Thanh Hoá là gì?

Chơng 2

So sánh đặc điểm ngữ âm của từ địa phơng

nghệ tĩnh và từ địa phơng thanh hoá

Các đặc điểm của từ địa phơng bao giờ cũng chỉ đợc hiện lên qua cácmiêu tả, so sánh với từ toàn dân và từ của phơng ngữ khác Nh mục đích đãxác định, chơng này khoá luận nhằm chỉ ra những khác biệt của từ địa ph-

ơng Nghệ Tĩnh và từ địa phơng Thanh Hoá về mặt ngữ âm Đặt trong sosánh với từ toàn dân và so sánh giữa hai phơng ngữ, các đặc điểm đợc miêutả cũng chính là những khác biệt của từ địa phơng Nghệ Tĩnh, từ địa phơngThanh Hoá so với từ toàn dân và những khác biệt giữa hai phơng ngữ

Nh đã nói ở chơng 1, phơng ngữ Nghệ Tĩnh là phơng ngữ đại diệntiêu biểu nhất cho vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ, còn phơng ngữ ThanhHoá là phơng ngữ chuyển tiếp giữa phơng ngữ Bắc Bộ và phơng ngữ BắcTrung Bộ Các từ ngữ này vừa có quan hệ gắn bó trong nội bộ vốn từ địaphơng vừa có quan hệ gắn bó chặt chẽ với hệ thống vốn từ toàn dân ở đâykhoá luận chỉ đi vào nhận xét đặc điểm vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh và

Trang 20

Thanh Hoá về mặt ngữ âm thông qua so sánh đối chiếu với vốn từ toàn dân

và giữa hai vốn từ với nhau Nh chúng ta đã biết, khi nghiên cứu từ vựngngời ta phải chú ý đến diện mạo của từ và nghĩa của từ Nhng vì vốn từ địaphơng không phải là một hệ thống tách biệt khỏi hệ thống vốn từ toàn dâncũng nh vốn từ trong vùng, nên khi nghiên cứu vốn từ địa phơng không thểmiêu tả một cách riêng rẽ, biệt lập

Qua so sánh, đối chiếu với từ của ngôn ngữ toàn dân và giữa hai

ph-ơng ngữ với nhau, vấn đề đặc điểm ngữ âm của từ địa phph-ơng Nghệ Tĩnh và

từ địa phơng Thanh Hoá sẽ đợc khảo sát, miêu tả nh là những đối tợngtrung tâm Trớc hết có thể mô tả mặt biểu hiện bên ngoài, có tính chất địnhlợng về vốn từ phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Thanh Hoá trong quan

hệ so sánh, đối chiếu lẫn nhau

2.1 Độ phong phú về từ vựng của từ địa phơng Nghệ Tĩnh và từ

địa phơng Thanh Hoá

Từ các nguồn khảo sát t liệu, bớc đầu chúng tôi đã thu thập đợc, từ

địa phơng Thanh Hoá là 4.503 từ gồm các từ loại khác nhau tạm gọi đó làvốn từ địa phơng Thanh Hoá Nếu phân chia vốn từ này căn cứ theo số lợng

âm tiết tạo nên từ ta có kết quả: số lợng từ đa tiết nhiều hơn từ đơn tiết rấtnhiều Cụ thể: Từ đa tiết có số lợng là 3.193 từ (chiếm 70,9%), từ đơn tiếtchỉ có 1.310 từ (chiếm 29,1%) Trong khi đó, theo phân tích của HoàngTrọng Canh trong Từ địa phơng Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hoá [4, tr.86 - 87] thì vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh gồm có 6.188 từ, từ

đa tiết cũng nhiều hơn từ đơn tiết, nhng không chênh lệch nh ở từ địa phơngThanh Hoá Cụ thể: từ đa tiết trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh có số lợng là3.412 từ (chiếm 55,1%), còn từ đơn tiết có số lợng là 2.776 từ (chiếm44,9%) Nh vậy, số lợng từ địa phơng Nghệ Tĩnh không những phong phúhơn mà số lợng từ đơn tiết cũng cao hơn (gấp đôi) Số lợng từ đơn tiết trongtiếng địa phơng Nghệ Tĩnh có tỉ lệ cao hơn tiếng địa phơng Thanh Hoáchứng tỏ lớp từ gốc, lớp từ cặn còn đợc bảo lu nhiều hơn tiếng địa phơngThanh Hoá Đó cũng là dấu hiệu cho thấy từ địa phơng Nghệ Tĩnh cổ hơn;

Trang 21

từ địa phơng Thanh Hoá có lớp từ đa tiết cao nh vậy chứng tỏ đây là lớp từphái sinh về sau có sự khác biệt với từ toàn dân.

Cụ thể hơn, trong từ đa tiết thì số lợng từ ghép của vốn từ địa phơngThanh Hoá lại gấp 5 lần so với từ láy Còn số lợng từ ghép trong vốn từ địaphơng Nghệ Tĩnh gấp 4,78 lần từ láy Chi tiết, trong vốn từ địa phơngThanh Hoá, số lợng từ ghép là 2.672 đơn vị (chiếm 83,7% từ đa tiết), số l-ợng từ láy là 521 đơn vị (chiếm 16,3% từ đa tiết) Còn ở vốn từ địa phơngNghệ Tĩnh, số lợng từ ghép là 2.822 đơn vị (chiếm 82,7% từ đa tiết), số l-ợng từ láy là 590 đơn vị (chiếm 17,3% từ đa tiết)

Nh vậy, có thể thấy rằng, về tỉ lệ giữa các loại từ trong từ đa tiết ởvốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh và vốn từ địa phơng Thanh Hoá gần nh tơng đ-

ơng với nhau Trong lớp từ đa tiết giữa hai phơng ngữ, đem so sánh thìchúng tôi thấy số lợng từ ghép của hai phơng ngữ đều cao hơn rất nhiều sovới từ láy Nhng ở phơng ngữ Thanh Hoá thì sự cách biệt giữa hai loại từlớn hơn, chênh lệch hơn so với phơng ngữ Nghệ Tĩnh (số liệu cụ thể chúngtôi đã nêu ở trên) So sánh ba loại từ phơng ngữ, điều khác biệt rõ nhất là từ

đơn của phơng ngữ Thanh Hoá chiếm tỉ lệ thấp hơn so với phơng ngữ NghệTĩnh Điều đó chứng tỏ rằng, vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh còn bảo lu nhiềuyếu tố cổ, yếu tố gốc của tiếng Việt hơn phơng ngữ Thanh Hoá Vấn đề này

dễ lí giải, vì phơng ngữ Thanh Hoá có vị trí địa lí gần kề với vùng phơngngữ đại diện cho phơng ngữ toàn dân (phơng ngữ Bắc Bộ) Có thể vì vậy,vốn từ địa phơng Thanh Hoá do chúng tôi khảo sát, thu thập cũng ít hơnnhiều so với vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh (4.503/6.188) Số lợng và tỉ lệ cácloại từ đợc thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1: Các loại từ địa phơng Thanh Hoá (phân theo cấu tạo)

Từ ghép Từ láy

Trang 22

Bảng 2.2: các loại từ địa phơng Nghệ Tĩnh(phân theo cấu tạo) - theo

2.2 so sánh đặc điểm ngữ âm của từ địa phơng Nghệ Tĩnh và từ

địa phơng Thanh Hoá

ở đề tài này khi tiến hành so sánh chúng tôi không miêu tả ngữ âm,không xem ngữ âm tiếng Nghệ Tĩnh, tiếng Thanh Hoá nh một đối tợngkhảo sát độc lập; không trình bày từng đặc trng ngữ âm; cũng không miêutả ngữ âm phơng ngữ Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá thành một hệ thống âm vị nhmột công trình ngữ âm thờng thấy mà chỉ xem ngữ âm ở đây nh là mặt hìnhthức của từ địa phơng trong quan hệ so sánh với nghĩa của từ địa phơng t-

ơng ứng Nói cụ thể hơn, ở đề tài này chúng tôi chỉ miêu tả, nêu lên cácdạng biến thể ngữ âm của từ trong phơng ngữ Thanh Hoá để từ đó tiến hành

so sánh với các dạng biến thể ngữ âm trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh (dựa vàokết quả thống kê, miêu tả của Hoàng Trọng Canh [4, tr.98 -118] Về nguồngốc thành phần của vốn từ phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Thanh Hoákhá đa dạng: Có lớp từ đợc tạo nên từ sự biến đổi ngữ âm của tiếng Việttrong lịch sử, có lớp từ là kết quả của sự biến đổi ngữ nghĩa của từ trong từvựng, có lớp từ là những từ cổ, từ cũ của tiếng Việt…Trong đó chiếm số l-ợng đáng kể nhất là lớp từ có nguồn gốc là biến thể ngữ âm của tiếng Việt.Theo thống kê phân loại của chúng tôi lớp từ này chiếm 55,3% vốn từ

Trang 23

chung của phơng ngữ Thanh Hoá, gồm 2.489 từ ngữ, trong đó có loại làbiến thể ngữ âm ở phần phụ âm đầu, có loại là biến thể ở phần vần cũng cóloại chỉ là biến thể thanh điệu Còn tỉ lệ và số lợng từ biến âm trong phơngngữ Nghệ Tĩnh theo thống kê, phân loại của Hoàng Trọng Canh [4, tr.89]chiếm 46,2% vốn từ chung của phơng ngữ Nghệ Tĩnh, gồm 2.860 tữ ngữ.

nh vậy số lợng lớp từ có nguồn gốc là biến thể ngữ âm của tiếng Việt ở cảhai phơng ngữ đều chiếm tỉ lệ rất lớn So sánh giữa phơng ngữ Nghệ Tĩnh

và phơng ngữ Thanh Hoá chúng tôi thấy, lớp từ này trong phơng ngữ ThanhHoá chiếm tỉ lệ cao hơn (chênh lệch nhau 9,1%) Để có cái nhìn rõ hơn,thấy đợc những điểm tơng đồng và khác biệt về đặc điểm ngữ âm của haiphơng ngữ chúng tôi sẽ đi vào những bình diện cụ thể dới đây

2.2.1 những tơng ứng phụ âm đầu

đối chiếu với từ ngữ trong ngôn ngữ toàn dân, chúng tôi thấy trongvốn từ địa phơng Thanh Hoá có một số lợng từ khá lớn có quan hệ tơng ứngphụ âm đầu với từ toàn dân, có 43 kiểu tơng ứng sau:

- tơng ứng | ? | - | r | : âm (đau âm) - râm (đau râm); ám (nắng)-rám (nắng)…Số lợng từ trong phơng ngữ Thanh Hoá tơng ứng với từ toàndân ở phụ âm này không nhiều

- Tơng ứng: | c | - | z| : chi - gì; chạng - giạng

| z|

|ʐ | , |ɲ| , |c| , | l | , |b|

(lỗ) dún - (lỗ) rốn, (bóng) dâm - (bóng) râm, diệu (chè) - rợu (chè), dáo dác

- nháo nhác, dánh - nhánh, dùng - chùng, dùa - lùa, dứt – bứt

| l |

|ɲ| , |ţ | ‚ |t'| ‚ |k| ‚ |c|

Trang 24

Lên - nhên, lanh - nhanh, l¹t - nh¹t; læ - træ, lång - trång; lßi - thßi; l¾t - c¾t;

- T¬ng øng: |v| - | b| : ve - be, vÊu - bÊu

Trang 25

Phổ - vỗ, phẩy - vẩy; phịa - bịa, phít - bít; phủng - thủng, phòi - thòi.

Còn trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, theo miêu tả của Hoàng TrọngCanh [4, tr.98 - 104], thì vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh có 45 kiểu tơng ứngphụ âm đầu Cụ thể, trong 43 kiểu tơng ứng miêu tả ở trên có 9 kiểu tơngứng sau không có trong từ địa phơng Nghệ Tĩnh:

Trang 26

|ɲ|

- T¬ng øng: |γ| , |c| : nhÐo - ghÑo, nhãp - gãp ; nh«ng - chång,nhëi - ch¬i…

|r |

- T¬ng øng: |n| : rµy - nµy, ran - nan, rêm rîp - nêm nîp

|ʂ|

T¬ng øng: |t'|, | s| : s¸ch th¸ch sÌm thÌm; sô xï, s¶ x¶…

|ţ|

Trang 27

- Tơng ứng: |r| , |ʂ| , |x| , |t'| : (con) trấn (con) rận, trẽ rẽ; (con) trâu - (con) sâu, trẹo - sẹo; troà - xoà, troa - xoa; tróng - thòng(lọng)…

Qua đối chiếu, so sánh chúng tôi rút ra một số điểm tơng đồng vàkhác biệt về những kiểu tơng ứng phụ âm đầu của hai phơng ngữ nh sau:

Nhìn qua sự liệt kê ở trên chúng ta thấy đợc sự đối ứng phức tạp giữaphụ âm đầu từ địa phơng Nghệ Tĩnh và từ địa phơng Thanh Hoá với từ toàndân Sự đối ứng ở đây không chỉ xảy ra theo tơng quan 1/1 mà còn xảy ratheo tơng quan 1/ hơn Những tơng ứng phụ âm đầu giữa từ địa phơngThanh Hoá với từ toàn dân nh miêu tả trên chủ yếu giống với những tơngứng phụ âm đầu từ địa phơng Nghệ Tĩnh so với từ toàn dân (34 kiểu giốngnhau)

Số lợng các kiểu tơng ứng phụ âm đầu với từ toàn dân trong phơngngữ Nghệ Tĩnh nhiều hơn phơng ngữ Thanh Hoá (2 kiểu), số lợng từ tơngứng trong mỗi kiểu cũng phong phú hơn Ngoài 34 kiểu giống nhau thìtrong phơng ngữ Nghệ Tĩnh có 14 kiểu tơng ứng phụ âm đầu mà phơng ngữThanh Hoá không có; phơng ngữ Thanh Hoá có 9 kiểu tơng ứng phụ âm

Trang 28

Nh vậy, qua miêu tả và so sánh chúng ta thấy, tuy phơng ngữ ThanhHoá có một vài tơng ứng phụ âm đầu giống Bắc Bộ nhng chỉ xảy ra trongmột vài thổ ngữ, về cơ bản tơng ứng phụ âm đầu với từ toàn dân của từ địaphơng Thanh Hoá giống với từ địa phơng ngữ Nghệ Tĩnh.

2.2.2 những tơng ứng phần vần

Dựa vào cách kết thúc vần ta thấy 4 loại vần trong ngôn ngữ toàn

dân đều có mặt trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Thanh Hoá,chúng phối hợp với nhau và có những kiểu tơng ứng phổ biến nh sau (cácloại vần trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh chúng tôi dựa vào thống kê, miêu tảcủa Hoàng Trọng Canh [4, tr.106 -111] vì vậy chúng tôi không miêu tả lạitoàn bộ mà chỉ miêu tả một số trờng hợp để làm dẫn chứng, chứng minh):

- Loại vần khép

Vần khép của từ địa phơng Thanh Hoá tơng ứng với vần khép của từtoàn dân gồm có 7 vần và những từ sau:

| ot | - | at |: hột – hạt; |εk| - |ek| : lạch – lệch; |ak| - |ɯγk |:nác – nớc; | ut | - | uot |: vút – vuốt, bút – buốt; |ɯp| - |γp|: cựp rựp –cập rập; | it | - | iet |: kít – kiết, tít – tiết, bít – biết; |γp| - |ăp|; gập –gặp, cập – cặp; |γk| - |ɯk|: cậc – cực, bậc – bực …

Vần khép của từ địa phơng Nghệ Tĩnh tơng ứng với vần khép của từtoàn dân gồm có 8 vần [4, tr.106] Phần lớn các vần của hai phơng ngữ đềugiống nhau (5/7 vần miêu tả ở trên), chỉ có 2 vần trong phơng ngữ ThanhHoá tơng ứng với ngôn ngữ toàn dân mà phơng ngữ Nghệ Tĩnh không có

Đó là: |it| - |iet|; |γp| - |ăp| Ngợc lại, phơng ngữ Nghệ Tĩnh cũng có 3vần tơng ứng với ngôn ngữ toàn dân mà phơng ngữ Thanh Hoá không có

Đó là: |it| - |γt|: nhít – nhất; |ut| - |ot|: đút - đốt; |it| - |ɯt|: bít – bứt

Nh vậy, ở loại tơng ứng vần khép với từ toàn dân, từ địa phơng NghệTĩnh có số lợng vần nhiều hơn từ địa phơng Thanh Hoá nhng không đáng

Trang 29

kể (1vần) Nhìn chung, phần lớn các vần trong hai phơng ngữ đều giốngnhau.

γη | - |ɯγη|: giờng – giờng; | iη | - | ieη |: tíng – tiếng

Vần nửa khép của từ địa phơng Nghệ Tĩnh tơng ứng với vần nửa khépcủa từ toàn dân gồm 25 cặp vần [4, tr.106 – 107]

So sánh giữa hai phơng ngữ chúng ta thấy số lợng loại vần này ở

ph-ơng ngữ Nghệ Tĩnh nhiều hơn phph-ơng ngữ Thanh Hoá (9 cặp vần) Trong đó

có 10 cặp tơng ứng vần nửa khép giống nhau Số lợng vần khác nhau, cụ thể

ở từ địa phơng Thanh Hoá có 6 vần nửa khép tơng ứng với vần nửa khépcủa toàn dân mà phơng ngữ Nghệ Tĩnh không có là: | ɔ:η | - | ɔη |; | iη

|- | ieη |; | iη | - | in |; | ien| - | in | - | uien |; |ɯm | - | γm |.Ngợc lại, phơng ngữ Nghệ Tĩnh có 15 vần nửa khép tơng ứng với vần nửakhép của toàn dân mà phơng ngữ Thanh Hoá không có là:| ăm | -| ăn |:cắm – cắn; | uoη | - | oη |: cuông - công; | ăη | - | an |: dăng (díu) - dan(díu); | εη | - | ieη |: mánh - miếng; | εη | - | ieη |: mẹng – miệng; |

ɯγn| - |γm |: mơn – mâm; | ɯγη |- | aη |: nờng – nàng; | ɔη | - | uoη

|: rọng – ruộng; | uεn | - | εn |: thoen – then; | uan | - | uien |: troàn –

Trang 30

truyền; |ɯγm| - | iem |: ớm – yếm; | uan | - | uγn|: xoan – xuân; | γη |

- | ɯη |: mờng – mừng; | in |- | γn |: chin – chân; | um | - | ɯm |:

đùm - đừm

Nh vậy, có thể thấy các vần nửa khép tơng ứng với vần nửa khép từtoàn dân của từ địa phơng Nghệ Tĩnh và từ địa phơng Thanh Hoá giốngnhau là không nhiều

Bên cạnh những điểm khác nhau về các vần, số lợng vần, nhìn vào liệt

kê trên của phơng ngữ Thanh Hoá về hai vần khép và nửa khép, so sánh vớiphơng ngữ Nghệ Tĩnh ( theo nhận xét của Hoàng Trọng Canh [4, tr.107 –108]) chúng tôi thấy có một số điểm tơng đồng Cụ thể, sự tơng ứng giữavần khép và nửa khép của hai phơng ngữ với ngôn ngữ toàn dân khá phongphú và có quy luật chặt chẽ

xét về cuối vần, chúng cùng có phơng thức giống nhau, đồng thờiphụ âm kết thúc hai vần đều cùng phơng thức cấu âm, thậm chí phần lớncác trờng hợp đó đều có cùng một phụ âm kết thúc giống nhau Những hiệntợng nh mũi (của vần nửa khép) cũng là hai vần tơng ứng – phía cuối vần,cách kết thúc chỉ đợc phép dịch chuyển (chặt hay lỏng mà thôi)

xét từ đỉnh vần, các nguyên âm làm đỉnh vần phải cùng vị trí cấu âm(nghĩa là cùng dòng trớc / sau; tròn môi / không tròn môi) Sự thay đổi tạo

ra sự tơng ứng ở đỉnh vần khép là nó đợc tự do dịch chuyển độ nâng của lỡi(cao, vừa hay thấp) trong cùng một vị trí cấu âm

Trang 31

Vần nửa mở của từ địa phơng Nghệ Tĩnh tơng ứng với vần nửa mởtrong từ của ngôn ngữ toàn dân gồm có 15 cặp vần [4, tr.108] So sánh haiphơng ngữ chúng tôi thấy: Phơng ngữ Nghệ Tĩnh có số lợng cặp vần nửa

mở tơng ứng với vần nửa mở trong ngôn ngữ toàn dân nhiều hơn phơng ngữThanh Hoá (4 cặp) và 9 cặp vần trên của phơng ngữ Thanh Hoá đều có mặt

đầy đủ trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh Ngoài ra, phơng ngữ Nghệ Tĩnh có 6vần nửa mở tơng ứng với từ toàn dân mà phơng ngữ Thanh Hoá không cólà: | εo | - | au |: (con) beo – (con) báo; | ui | - | oi |: chủi – chổi; | ɔi

| - | uoi |: đòi - đuổi; | ai | - | γi |: giái – giới; | γi | - | uăi |: xây (ngài)– xoay (ngời)

Nh vậy, rõ ràng sự biến âm phần vần nửa mở của phơng ngữ NghệTĩnh phức tạp và phong phú hơn so với phơng ngữ Thanh Hoá

- Loại vần mở:

Trong từ địa phơng Thanh Hoá có 7 cặp vần mở tơng ứng với vần mở

từ toàn dân nh sau: | ɯ | -| γ |: (bây) chừ – (bây) giờ; | e | - | a |: huê –hoa; | e | - | ε |: mệ – mẹ; | a | - | ɯγ |: lả - lửa; | ɔ | - | uo |: ló –lúa; | ɯ | - | ɯγ |: m – ma; | u | - | uo |: mu – mua

Vần mở của từ địa phơng Nghệ Tĩnh tơng ứng với vần mở từ toàndân gồm 8 cặp vần[4, tr.109]

So sánh từ của hai phơng ngữ chúng tôi thấy, phần lớn các vần mở

t-ơng ứng với từ toàn dân trong từ địa pht-ơng Nghệ Tĩnh và vần mở từ địa

ơng Thanh Hoá là giống nhau (5 cặp giống nhau), nhng có một số vần

ph-ơng ngữ Thanh Hoá có mà phph-ơng ngữ Nghệ Tĩnh không và ngợc lại Cụthể, phơng ngữ Thanh Hoá có hai vần mở tơng ứng với từ toàn dân mà ph-

ơng ngữ Nghệ Tĩnh không có là: | ɯ | - | ɯγ |: m – ma; |u| - |uo|: mu –mua Ngợc lại, phơng ngữ Nghệ Tĩnh có ba vần mở tơng ứng với từ toàn

Trang 32

dân mà phơng ngữ Thanh Hoá không có là: | ɔ | - | o |: bọ – bố; |o | - |

u |: cố – cụ; | o | - | ɔ |: (cái) nộ – (cái) nỏ

ở trên chúng tôi đã xét các loại vần cùng loại tơng ứng với nhau Sựtơng ứng đó dù phong phú, phức tạp nhng vẫn mang tính quy luật rõ ràng.Sau đây chúng tôi xét qua những kiểu tơng ứng không cùng loại vần

- sự tơng ứng giữa vần mở và vần nửa mở và vần nửa mở, trong vốn

từ địa phơng Thanh Hoá xảy ra ở 5 cặp sau: | u - γu |: bù – bầu, chu –trâu; | i - ăi |: mi – mày; | ai - ie |: ngãi – nghĩa; | o - au |: vô - vào; | o

- γu |: mô - đâu Còn trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh sự tơng ứng trên xảy ra ở

10 cặp vần [4, tr.110] Qua so sánh, chúng tôi thấy: Nghệ Tĩnh có tất cả cácvần giống phơng ngữ Thanh Hoá Nhng phơng ngữ Nghệ Tĩnh có 5 cặp vần

mà phơng ngữ Thanh Hoá không có là: | ε - ie |: ẻ – ỉa; | au - u |: mạo –mũ; | i - γi |: mì - mới; | a - γ |: (dao) rạ - (dao) rựa; | i - γ |: tròi (gộc)– trơ (gốc) Những cặp tơng ứng này chúng tôi thấy chúng tơng ứng cùngdòng hoặc với dòng ngay bên cạnh

- Nhóm vần khép, nửa khép tơng ứng với vần mở:

ở đây, từ thực tế khảo sát chúng tôi thấy sự tơng ứng giữa vần khép,nửa khép với các vần khác là cùng tính chất nên có thể nhập hai loại vầnnày thành một nhóm Trong từ địa phơng Thanh Hoá có các cặp tơng ứngsau: |γn - γi |: cơn – cây;| εu - εm |: đeo - đem; | au - ak |: (ngơ) ngáo –(ngơ) ngác…So sánh với từ địa phơng Nghệ Tĩnh chúng tôi thấy, ngoàinhững vần giống với từ địa phơng Thanh Hoá thì từ địa phơng Nghệ Tĩnhcòn có các vần tơng ứng khác là: | i - ɯη |: (lợn) ri – (lợn) rừng; | u - ɯη

|: rú – rừng; | o - γn |: trộ – trận…Những cặp tơng ứng này rất phức tạp

và không phổ biến nên khó tìm đợc quy luật của nó Phải chăng tính ngẫunhiên của chúng là một biểu hiện không đều đặn trong lời nói hơn là trongngôn ngữ?

Trang 33

- Trong sự tơng ứng phần vần khi hai vần có những âm vị đoạn tínhcấu tạo nh nhau thì tơng ứng đó xảy ra ở âm vị siêu đoạn tính (tức thanh

điệu)

Nh nhận xét của nhiều nhà ngôn ngữ học và qua so sánh những tơngứng thanh điệu của từ địa phơng Nghệ Tĩnh và từ địa phơng Thanh Hoáchúng tôi thấy: hệ thống thanh điệu của tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh và tiếng

địa phơng Thanh Hoá đều không đầy đủ nh ngôn ngữ toàn dân Cụ thể, hệthống thanh điệu của tiếng địa phơng Thanh Hoá có 5/6 thanh, thanh hỏi vàthanh ngã không phân biệt đợc với nhau Chẳng hạn, "những" lại phát âm

thành "nhửng", "mãi" phát âm thành "mải" Tiếp theo là số từ tơng ứng

ngữ âm đối với thanh điệu giữa thanh ngang (không dấu) trong phơng ngữThanh Hoá và thanh huyền của từ toàn dân, gồm các đơn vị: ba – vừa, kha – gà, la – còn, chi – gì…Ngoài ra tất cả các thanh điệu khác trong tiếng

địa phơng Thanh Hoá đều hoạt động bình thờng giống trong ngôn ngữ toàndân Còn trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, nhất loạt thanh ngã phát âm thànhthanh nặng Có nhiều thổ ngữ của phơng ngữ Nghệ Tĩnh hệ thống thanh

điệu chỉ có bốn thanh, thậm chí ba thanh (Nghi Lộc, Nghi Xuân…)

Nh vậy, có thể thấy sự đối ứng về thanh điệu giữa từ địa phơng NghệTĩnh và địa phơng Thanh Hoá với từ toàn dân không phức tạp nh phụ âm

đầu và vần Tuy nhiên, trong đó sự đối ứng về thanh điệu giữa từ địa phơngNghệ Tĩnh với từ toàn dân có phần phức tạp hơn tiếng địa phơng ThanhHoá, thể hiện tính khu biệt của hệ thống thanh điệu Nghệ Tĩnh trầm

Trang 34

tơng ứng ngữ âm ấy diễn ra ở phụ âm đầu, phần vần và ở cả thanh điệu

nh-ng khônh-ng theo một tỉ lệ đều khắp giữa các bộ phận âm thanh cũnh-ng nh tronh-ngtừng bộ phận

Về phần vần, sự tơng ứng rất phức tạp, nhất là sự tơng ứng của cácvần khác loại Song nhìn chung, quy luật tơng ứng ấy thể hiện rõ ở chỗ cácvần tơng ứng phải cùng phơng thức cấu âm đối với phụ âm kết thúc.Nguyên âm đỉnh vần phải cùng một vị trí cấu âm, cùng dòng nhng tự dodịch chuyển độ nâng: cao, vừa, thấp của lỡi Một điểm khác đáng chú ý,trong cả hai phơng ngữ đều có hiện tợng cùng tồn tại nhiều vần tơng ứngvới một vần trong ngôn ngữ toàn dân làm cho bức tranh về vần của từ địaphơng Nghệ Tĩnh và từ địa phơng Thanh Hoá thêm phong phú, mặt kháccũng thể hiện rõ sự biến đổi chậm của ngữ âm phơng ngữ; nhiều vần tiếng

địa phơng đang nằm trong thế lựa chọn, cha đi đến sự kết thúc để có sự

t-ơng ứng 1/1 giữa vần pht-ơng ngữ với vần toàn dân và tiến tới cùng một vầnthống nhất trong toàn quốc

Chơng 3

Trang 35

So sánh đặc điểm ngữ nghĩa của từ địa phơng Nghệ Tĩnh và từ địa phơng Thanh Hóa

Hệ thống vốn từ địa phơng khi đã tồn tại với t cách là một phơng ngữ

độc lập thì tất yếu sẽ mang những đặc trng riêng về ngữ âm - ngữ nghĩa.Mục đích chính của phần này là nêu lên những khác biệt chủ yếu về mặtngữ nghĩa giữa từ địa phơng Nghệ Tĩnh và từ địa phơng Thanh Hoá (dĩnhiên là trong đối sánh với ngôn ngữ toàn dân) Qua bức tranh so sánh từvựng ngữ nghĩa giữa hai hệ thống vốn từ thực chất là để chỉ ra những đặc

điểm ngữ nghĩa của từ địa phơng Nghệ Tĩnh và từ địa phơng Thanh Hoá

Thực hiện mục đích đó chúng tôi tiến hành so sánh từ trên từng kiểuloại đã đợc phân chia dựa vào hai tiêu chí âm và nghĩa của từ địa phơngNghệ Tĩnh và từ địa phơng Thanh Hoá so với từ ngôn ngữ toàn dân Mặc dùvậy cũng cần thấy rằng, việc phân loại từ địa phơng khó đạt đợc sự triệt đểvì nghĩa của từ là một hiện tợng vô cùng phức tạp, trong từng tình huốnggiao tiếp nghĩa của từ thờng biểu hiện rất khác nhau Hơn nữa, từ địa phơngvừa có quan hệ trong nội bộ vốn từ phơng ngữ lại vừa chịu sự tác động của

hệ thống vốn từ toàn dân nên nhiều khi sự phát triển, biến đổi ngữ nghĩacủa các từ tơng ứng trong hai hệ thống không song hành Trong tình huốnggiao tiếp này nghĩa của hai từ tơng ứng có thể đợc dùng giống nhau nhngtrong tình huống giao tiếp khác sắc thái nghĩa của từ lại khác nhau Nếuchúng ta chỉ dựa vào quan hệ kết hợp của từ trên bề mặt thì nhiều khikhông giải thích đợc những hiện tợng đó mà phải dựa vào cả yếu tố bênngoài cấu trúc nh tâm lý, thói quen của ngời địa phơng Nh vậy, nghĩa củamỗi từ trong từng tình huống rất khác nhau, việc phân biệt cho thật chi tiết,rành mạch là không hề đơn giản Và rõ ràng, từ ngữ địa phơng không chỉ cóquan hệ nội bộ trong vốn từ phơng ngữ mà còn chịu sự chi phối của vốn từtoàn dân Về nghĩa, từ ngữ địa phơng nằm trong các quan hệ chồng chéo,nhiều chiều nên những vấn đề thuộc về ngữ nghĩa của từ địa phơng thờng

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.nguyễn nhã bản, phan mậu cảnh, Hoàng trọng canh, nguyễn hoài nguyên(1999), từ điển tiếng địa phơng nghệ tĩnh, NXB văn hoáthông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: từ điển tiếng địa phơng nghệ tĩnh
Tác giả: nguyễn nhã bản, phan mậu cảnh, Hoàng trọng canh, nguyễn hoài nguyên
Nhà XB: NXB văn hoáthông tin
Năm: 1999
2. Nguyễn Nhã bản (2001), bản sắc văn hoá của ngời nghệ tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ), nxb nghệ an Sách, tạp chí
Tiêu đề: bản sắc văn hoá của ngời nghệ tĩnh(trên dẫn liệu ngôn ngữ)
Tác giả: Nguyễn Nhã bản
Nhà XB: nxb nghệ an
Năm: 2001
3. hoàng trọng canh (2001), Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa ph-ơng Nghệ Tĩnh, luận án Tiến sĩ ngữ văn - ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa ph-"ơng Nghệ Tĩnh
Tác giả: hoàng trọng canh
Năm: 2001
4. hoàng trọng canh (2009), Từ địa phơng nghệ tĩnh: về một khía cạnh ngôn ngữ – văn hoá, nxb khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ địa phơng nghệ tĩnh: về mộtkhía cạnh ngôn ngữ – văn hoá
Tác giả: hoàng trọng canh
Nhà XB: nxb khoa học xã hội
Năm: 2009
5. Nguyễn Tài Cẩn (1995), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơthảo), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ"thảo)
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
6. hoàng thị châu (2004), phơng ngữ học tiếng việt, nxb đhqg hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phơng ngữ học tiếng việt
Tác giả: hoàng thị châu
Nhà XB: nxb đhqghà nội
Năm: 2004
7. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dôc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáodôc
Năm: 1999
8. Trần Trí Dõi (1999), nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số việt nam, nxb đhqg hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu sốviệt nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: nxb đhqg hà nội
Năm: 1999
9. Nguyễn Thiện Giáp (2002), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dôc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáodôc
Năm: 2002
10. Phạm Văn Hảo (1979), Bàn thêm một số điểm về thu thập vàđịnh nghĩa từ địa phơng trong "Từ điển tiếng Việt phổ thông " tập I, Tạp chí Ngôn ngữ (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Phạm Văn Hảo
Năm: 1979
11. Phạm Văn Hảo (1985), Về một số đặc trng của tiếng Thanh Hoá, thổ ngữ chuyển tiếp giữa phơng ngữ Bắc và Trung Bộ, Tạp chí Ngôn ng÷ (sè 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số đặc trng của tiếng ThanhHoá, thổ ngữ chuyển tiếp giữa phơng ngữ Bắc và Trung Bộ
Tác giả: Phạm Văn Hảo
Năm: 1985
12. Phạm Văn Hảo (1988), "Về đặc trng một số đờng đồng ngữtrong các phơng ngữ tiếng Việt", Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Namá, nxb khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc trng một số đờng đồng ngữtrong các phơng ngữ tiếng Việt
Tác giả: Phạm Văn Hảo
Nhà XB: nxb khoa học xã hội
Năm: 1988
13. Phạm Văn Hảo (1999), "Thử xem xét các phơng ngữ Việt theo lí thuyết "làn sóng ngôn ngữ"", Ngữ học trẻ 99, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử xem xét các phơng ngữ Việt theo líthuyết "làn sóng ngôn ngữ
Tác giả: Phạm Văn Hảo
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1999
14. Nguyễn Quang Hồng (1981), "Các lớp từ địa phơng và chức năng của chúng trong ngôn ngữ văn hoá tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ", NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lớp từ địa phơng và chứcnăng của chúng trong ngôn ngữ văn hoá tiếng Việt, giữ gìn sự trong sángcủa tiếng Việt về mặt từ ngữ
Tác giả: Nguyễn Quang Hồng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1981
15. phan thị tố huyền (2005), Đặc điểm từ địa phơng Quảng Bình, Khoá luận tốt nghiệp Ngữ văn, ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đặc điểm từ địa phơng Quảng Bình
Tác giả: phan thị tố huyền
Năm: 2005
16. Nguyễn Văn Khang (2008), Mối quan hệ giữa ngôn ngữ học xãhội với phơng ngữ học trong cách tiếp cận phơng ngữ với t cách là đối t- ợng nghiên cứu, Tạp chí Ngôn ngữ (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa ngôn ngữ học xã"hội với phơng ngữ học trong cách tiếp cận phơng ngữ với t cách là đối t-ợng nghiên cứu
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Năm: 2008
17. Nguyễn Thuý Khanh (2004), Sự thâm nhập của từ địa phơng vào ngôn ngữ toàn dân (dới cách nhìn của từ điển học), Tạp chí Ngôn ngữ(sè 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thâm nhập của từ địa phơngvào ngôn ngữ toàn dân (dới cách nhìn của từ điển học)
Tác giả: Nguyễn Thuý Khanh
Năm: 2004
18. Trần Thị Ngọc Lang (1982), Nhóm từ có liên quan đến sông n- ớc trong phơng ngữ Nam Bộ, Tạp chí Ngôn ngữ (số phụ), ( số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhóm từ có liên quan đến sông n-ớc trong phơng ngữ Nam Bộ
Tác giả: Trần Thị Ngọc Lang
Năm: 1982
19. Trần Thị Ngọc Lang (1995), Phơng ngữ Nam Bộ - những khác biệt về từ vựng - ngữ nghĩa so với phơng ngữ Bắc Bộ, NXB Khoa học xãhéi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng ngữ Nam Bộ - những khácbiệt về từ vựng - ngữ nghĩa so với phơng ngữ Bắc Bộ
Tác giả: Trần Thị Ngọc Lang
Nhà XB: NXB Khoa học xãhéi
Năm: 1995
20. Trần Thị Ngọc Lang (2009), Chức năng văn hoá - xã hội của tiếng Việt ở Nam Bộ, Tạp chí Ngôn ngữ (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng văn hoá - xã hội củatiếng Việt ở Nam Bộ
Tác giả: Trần Thị Ngọc Lang
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Các loại từ địa phơng Thanh Hoá (phân theo cấu tạo) - So sánh từ địa phương nghệ tĩnh và từ địa phương thanh hoá
Bảng 2.1 Các loại từ địa phơng Thanh Hoá (phân theo cấu tạo) (Trang 21)
Bảng 2.2: các loại từ địa phơng Nghệ Tĩnh(phân theo cấu tạo) - theo - So sánh từ địa phương nghệ tĩnh và từ địa phương thanh hoá
Bảng 2.2 các loại từ địa phơng Nghệ Tĩnh(phân theo cấu tạo) - theo (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w