1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ của phú tiếng việt

83 526 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngôn ngữ của phủ tiếng Việt
Tác giả Trần Hoàng Anh
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Minh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 285 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Mục lục

Trang

mở đầu… ……… 1

Lý do chọn đề tài… ……… 1 … ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 .1

2 Lịch sử vấn đề… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 … ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 .2

3 Mục đích nghiên cứu… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 … ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 .8

4 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 8

5 Phơng pháp nghiên cứu … ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 … ……… 1… ……… 1… ……… 1 .9

6 Dự kiến đóng góp của đề tài… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 … ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 .9

7 Cấu trúc luận văn… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 … ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 .9

Chơng I: Một số giới thuyết chung… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 … ……… 1 11

1.1 Đặc trng của thể phú… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 … ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 .11

1.1.1 Nguồn gốc của thể phú… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 11

Trờng đại học vinh ……

Trần Hoàng Anh đặc điểm ngôn ngữ của phú tiếng việt Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ M số: 60.22.01ã số: 60.22.01

luận văn thạc sĩ ngữ văn

Ngời hớng dẫn khoa học:

Vinh - 2007

Trang 2

1.1.2 Các đặc trng của thể phú… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 121.2 Thể phú trong văn học Việt Nam ……… ………17

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1.17

1.2.2 Vai trò của phú trong Văn học Việt Nam… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 26

*Tiểu kết… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 … ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 28

Chơng II: Đặc điểm về hình thức và về từ ngữ của Phú tiếng Việt … ……… 1 29

2.1 Đặc điểm hình thức của văn bản phú tiếng Việt… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 … ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 29

2.1.1 Hình thức tổng thể của phú tiếng Việt ……… 31 2.1.2 Hình thức đoạn mở đầu trong phú tiếng

Việt ……… 33 2.1.3 Hình thức đoạn kết thúc trong phú tiếng

Việt ……… 36 2.1.4 Hình thức câu trong phú tiếng Việt ……… 39

2.1.5 Vần và nhịp trong phú tiếng Việt ……… 41

2.2 Đặc điểm về từ ngữ của phú tiếng Việt… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 47

2.2.1 Các lớp từ ngữ giàu màu sắc tu

từ ……… 47 2.2.2 Sự khác biệt về ngôn ngữ giữa phú cổ và phú mới

3.1.1 Các giá trị nội dung của phú cổ

Trang 3

3.2.2 Ngôn từ biểu hiện thái độ đối với cuộc đời ………

83

………

3.2.3 Ngôn từ biểu hiện ý thức độc lập dân tộc, chống ngoại xâm ………

85

3.3 Ngôn từ biểu hiện các giá trị nội dung trong phú mới… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 … ……… 1… ……… 1 87

3.3.1 Ngôn từ biểu hiện thái độ yêu nớc theo xu hớng cải lơng …… 87 3.3.2 Ngôn từ biểu hiện thái độ yêu nớc

theo lập trờng cách mạng vô sản………

89 3.3.3 Ngôn từ biểu hiện giá trị hiện thực và nhân đạo ……… …

92

*Tiểu kết… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 … ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1… ……… 1 95

Kết luận……… ……… 97Tài liệu tham khảo……… ……… 99

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Phú là một trong những thể tài văn học hình thành và có lịch sử tồn tạilâu dài trong đời sống văn học Trung Quốc Phú đợc ngời Việt Nam sử dụng từnhững thế kỷ đầu xây dựng nền văn học dân tộc Đến nay phú là thể loại văn họctruyền thống trong nền văn học Việt Nam Phú có mặt trong tất cả các thời kỳ củavăn học Việt Nam từ trung đại, cận đại sang hiện đại Đặc biệt trong văn học trung

đại, phần lớn các tác giả nổi tiếng đều sử dụng hình thức nghệ thuật này và thời kỳnào cũng có những tác phẩm xuất sắc Nghiên cứu phú là nghiên cứu một thể tàivăn chơng quan trọng của văn học Việt Nam trung đại Hơn nữa phú Việt Nam đợcviết bằng cả chữ Hán và chữ Nôm Nghiên cứu phú tiếng Việt sẽ hiểu thêm về đặc

điểm của một bộ phận văn chơng chữ Nôm, qua đó góp phần làm sáng tỏ lịch sửvăn học nớc nhà

Trang 4

Bên cạnh đó, chữ Nôm khi đợc sử dụng để sáng tác văn chơng thì cũng chủyếu là ở thơ và phú Do nhiều nguyên nhân mà phú tiếng Việt bị mất một khối lợng

đáng kể và có thể nói chỉ trên những tác phẩm hiện còn thì sự nghiên cứu dành cho

phú tiếng Việt cha tơng xứng “Phú Nôm là nơi gặp gỡ giữa chuẩn mực lâu đời

(thể phú) và cái đang hình thành phát triển (ngôn ngữ dân tộc) Phú Nôm là nơi chứng kiến sự gặp gỡ giữa những giá trị xa nhau nhất: thể tài văn chơng bác học

và chất liệu văn vần dân gian, khẩu ngữ ” [41, tr.60] Trớc một đối tợng phong

phú nh phú tiếng Việt, trớc những thành quả nghiên cứu đã có về nó, trong đề tàinày chúng tôi tập trung nghiên cứu một số vấn đề về đặc điểm ngôn ngữ của phútiếng Việt

1.2 Trong số các thể loại của văn học Việt Nam trung đại, thể phú ít đợcquan tâm nghiên cứu đúng mức cả về giá trị nội dung lẫn giá trị hình thức nghệthuật biểu hiện Cho đến nay ở Việt Nam cha có công trình chuyên khảo về phútiếng Việt Chỉ một số vấn đề về thể tài và về các tác phẩm phú đợc đề cập đếntrong các công trình văn học sử hoặc các tuyển tập phú Gần nh là điều tự nhiên,một số công trình nhìn nhận phú Việt Nam trong sự tơng đồng hay khác biệt vớiphú Trung Quốc và thực tế cho thấy thành quả nghiên cứu phú Việt Nam khôngchỉ phụ thuộc vào sự chiếm lĩnh bản thân đối tợng này mà còn phụ thuộc đáng kểvào sự hiểu biết về phú Trung Quốc Do đặc điểm của đối tợng và do thực tiễnnghiên cứu đã có, chúng tôi chọn đề tài này nhằm tìm hiểu về các đặc điểm củangôn ngữ, biểu hiện trong các bài phú tiếng Việt từ cổ chí kim, qua đó góp phầnvào việc nghiên cứu thể phú nói chung

1.3 Một trong những yêu cầu của việc dạy học tác phẩm văn học là phảihình thành ở học sinh cảm xúc thể loại Các tác phẩm văn học bao giờ cũng là sựthể hiện nhận thức, t tởng, tình cảm thẩm mĩ của con ngời qua ngôn ngữ và hình t-ợng nghệ thuật Cảm xúc thể loại là khả năng tiếp nhận nội dung tác phẩm trong

đặc trng thể loại của nó Đề tài này nghiên cứu đặc điểm về hình thức và ngôn từbiểu hiện các giá trị nội dung của một thể loại quan trọng trong văn học Việt Nam(thể phú) chính là góp phần vào việc dạy học tác phẩm văn học theo thể loại, đặcbiệt nó phù hợp với xu hớng dạy học tích hợp nh hiện nay Đây là hớng nghiên cứuphù hợp với thời điểm hiện tại, thời điểm mà giới nghiên cứu đã chú ý hơn đến vấn

đề thể loại trong văn học dân tộc, trong đó có việc nhận thức đúng hơn về thể phú

2 Lịch sử vấn đề

Cho đến nay, cha có nhiều những công trình nghiên cứu chuyên sâu về phútiếng Việt Một số vấn đề về phú đã đợc đề cập đến trong các công trình lý luậnvăn học, công trình văn học sử hoặc các tuyển tập phú Dựa trên đặc điểm của đối

Trang 5

tợng và thực tiễn nghiên cứu đã có, chúng tôi điểm lại lịch sử vấn đề theo từng khíacạnh, trong đó chú ý đến trình tự thời gian để làm rõ diễn biến của lịch sử nghiêncứu về thể loại phú.

2.1 Về thể phú và phú Việt Nam nói chung

Phú là một thể tài quan trọng trong văn học Việt Nam, bởi vậy phú đã đợcquan tâm nghiên cứu rất sớm Từ thời Lê Thánh Tông (1442 - 1497),phú đã đợcbàn luận:

“Kinh thi có sáu nghĩa mà phú là một Phú có nghĩa là phô vậy: Phô bày sự

việc, phô bày nghĩa lý” [37, tr.306]

Những năm đầu thế kỷ XX đến trớc 1960, một số công trình nghiên cứu vềphú đã đợc các tác giả là những ngời từng đợc đào luyện trong nhà trờng phong

kiến giới thiệu Tiêu biểu có những công trình sau: “Việt Hán văn khảo” của Phan

Kế Bính (1918), “Văn chơng – thi phú Annam” thi phú Annam” của Đ Hồ Ngọc Cẩn (1923),

“Phú Nôm” của Vũ Khắc Tiệp (1931), “Việt Nam văn học sử yếu” của Dơng Quảng Hàm (1943), “Quốc văn cụ thể” của Bùi Kỷ (1950) Nhìn chung các công

trình này trình bày về thể phú khá đơn giản và ngắn gọn, mang tính giáo khoa chứkhông phải nghiên cứu Sau khi định nghĩa thể phú, các tác giả phân chia thành cáctiểu loại và giới thiệu các kiểu câu trong phú Đờng luật

Trong năm 1960 – thi phú Annam” 1990, việc nghiên cứu về thể phú có những bớc tiến

đáng kể do áp dụng phơng pháp nghiên cứu một cách khoa học và do tiếp cận với

thành tựu của giới nghiên cứu Trung Quốc Tuyển tập “Phú Việt Nam cổ và kim ”

của Phong Châu và Nguyễn Văn Phú (1960), trong phần nghiên cứu về phú đã nêu

đợc một số ý khá cơ bản về phú cũng nh quá trình phát triển của phú ở Việt Nam.Các tác giả đã nhận xét về nghệ thuật của phú nh sau:

“Về mặt nghệ thuật, phú có nhiều vẻ, có khi khoa trơng tán tụng, có khi tả

cảnh, tả tình, có khi đề cập đến một sự việc hoặc một vấn đề tâm lý xã hội; lời văn lúc thì nhẹ nhàng bay bớm, lúc thì mạnh mẽ, rừng rực lửa căm thù, lúc thì u hoài nhớ thơng, đau xót, lúc thì tình tứ, lại có lắm lúc châm biếm, giễu cợt, đã kích thực

là mãnh liệt” [3, tr.77].

Phần viết về thể phú trong công trình “Thơ ca Việt Nam – thi phú Annam” hình thức và thể loại” (1971) do GS Bùi Văn Nguyên viết cũng kế thừa lối viết trong các tài liệu tr-

ớc nhng rành mạch và kỹ hơn Tác giả xếp loại phú tứ tự, thất tự, sở từ, lu thuỷ vào

cổ thể Trong tiểu luận “Tìm hiểu văn Phú thời kỳ Trần – thi phú Annam” Hồ”, nhà nghiên cứu

Trần Lê Sáng cũng nói đến một số đặc tính của thể phú: “ Phú là một thể văn bắt

nguồn từ thơ, về sau phát triển thành một thể loại nằm giữa thơ và văn xuôi Phú không trữ tình đợc nh thơ ca nhng nó cũng không có tính chất lý thuyết hoặc tự sự

Trang 6

nh văn xuôi Phú thờng dùng những lời đẹp đẽ để phô diễn nội dung, miêu tả sự vật

và nói lên ý chí” [32, tr.103].

Từ năm 1990 trở về sau là giai đoạn có nhiều thành tựu hơn cả Phần viết về

thể phú trong công trình “Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam” của

GS Trần Đình Sử là một bớc tiến lớn ở Việt Nam về việc nghiên cứu thể phú Thểphú đã đợc đề cập một cách cơ bản và hệ thống theo lý thuyết nghiên cứu ngữ vănhiện đại Tác giả dùng hệ thống phân loại đã đợc giới nghiên cứu Trung Quốc thừanhận Ông đã nhận xét khái quát về phú:

“Tóm lại, thể phú với t cách là một thể loại nghệ thuật cổ điển có vị trí

quan trọng trong văn học Việt Nam Đó là thể loại chẳng những có nội dung độc

đáo Việt Nam mà còn cung cấp một môi trờng rèn luyện ngôn ngữ có tác dụng làm cho các bài cáo, bài hịch, bài văn tế thêm điêu luyện Một mặt khác, với cái nhìn văn xuôi, phú là thể loại có vai trò tiên phong dẫn nhập ngôn ngữ từ văn xuôi đời thờng vào văn học ”[33, tr.279].

Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đã khẳng định sự khác biệt giữa phú Việt

Nam và phú Trung Quốc GS Lê Trí Viễn chỉ ra diễn biến ở phú nớc ta: “Đề tài

buổi đầu giữ nếp trang trọng nhng về sau mở rộng ra với những đề tài đời sống trần tục, có khi phàm tục, hài hớc, đồng thời cũng lỏng lẻo trong phép tắc” [38,

tr.230] Nhà nghiên cứu còn chỉ ra sự khác biệt giữa phú Việt Nam và phú Trung

Quốc: “Phú nớc ngoài phong cách trang trọng Vào Việt Nam phú chấp nhận mọi

đề tài, kể cả đề tài thông tục, hoạt kê ” [38, tr.114].

GS Trần Đình Sử khẳng định “nội dung độc đáo Việt Nam” ở thể phú và những sự đổi mới của phú: “Trong quá trình Việt hóa phú đã từ thể loại ngợi ca

tán tụng vua chúa dần dần chuyển hoá và phân hóa thành phú tỏ chí, phú giáo huấn, phú phong cảnh, phú ẩn c, phú tuyên truyền và phú tự trào, châm biếm phê phán ”[33, tr.280]

2.2 Về phú tiếng Việt

Lịch sử phú tiếng Việt đợc nói trong công trình “Phú Việt Nam cổ và kim”

(1960), tuy vậy còn sơ lợc Phú tiếng Việt chủ yếu đợc nghiên cứu theo từng giai

đoạn văn học sử Việc nghiên cứu phú tiếng Việt còn gặp thêm khó khăn là số tácphẩm khuyết danh nhiều, hơn nữa số tác phẩm phú chữ Nôm bị mất mát một khốilợng không nhỏ

Ngời đầu tiên nghiên cứu phú tiếng Việt là Vũ Khắc Tiệp Năm 1931 trong

công trình “Phú Nôm” (2 tập – thi phú Annam” Vĩnh Hng Long th quán, Hà Nội), tác giả đã tiếp

cận theo lối bình phẩm văn chơng Trong số 41 bài phú chữ Nôm đợc đa vào tuyểntập, 32 bài đợc soạn giả bình phẩm ở sau Lời bình tập trung khen ngợi giá trị t t-

Trang 7

ởng đạo đức và nghệ thuật đặt câu hay, dùng từ đắt… ……… 1 của các tác giả Thảng hoặc

ông cũng chỉ ra những chỗ cha nhuần nhị Điều đáng ghi nhận là tác giả rất nhiệtthành đề cao phú tiếng Việt

Đến năm 1960, hai tác giả Phong Châu và Nguyễn Văn Phú trong công trình

“Phú Việt Nam cổ và kim” đã nghiên cứu sơ lợc về phú Hai tác giả này đã nhận

xét về phú tiếng Việt nh sau:

“Phú tiếng Việt, đặc biệt là những bài phú kim, thiên về tính chất tả thực,

trào phúng và đả kích nhiều hơn Nghệ thụât của những bài phú tiếng Việt kết hợp khéo léo và tài tình những nhịp điệu, âm thanh đăng đối của lối văn biền ngẫu với

ca dao tục ngữ để so sánh và làm nổi bật lên những hình ảnh thực của xã hội, của con ngời” [3, tr.78].

Hai công trình nêu trên mang tính chất su tầm, chú thích nhiều hơn là khảocứu về phú Tuy nhiên trong điều kiện khó khăn trớc đây, việc su tầm và nghiêncứu nh vậy rất đáng trân trọng

Càng về sau tính chất nghiên cứu càng đợc nâng cao GS Đinh Gia Khánh

đã phân tích các bài phú Nôm thời Trần về phơng diện từ ngữ: “Các tác giả thời

Trần đã đặt đợc những nền tảng vững chắc cho ngôn ngữ văn học dân tộc Phép

đối xứng mà tục ngữ thờng dùng thì ở đây, với thể phú lại đợc đề lên theo một yêu cầu phức tạp hơn Và chính là qua khuôn khổ ấy mà ngôn ngữ hàng ngày đã đợc lọc lựa, nhào nặn, để trở thành một thứ ngôn ngữ trau chuốt về ý nghĩa, về âm thanh, về nhịp điệu ( … ở đây những từ gốc Hán, đặc biệt là những thuật ngữ liên ) quan đến triết học, t tởng, nghệ thuật … đã đ ợc phối hợp một cách khá linh hoạt với các từ gốc Việt Tất nhiên, việc dùng từ gốc Hán có chỗ còn sợng hoặc không

đợc thanh thoát ( … ) Và các từ gốc Hán đã đ ợc Việt hoá làm cho kho từ vựng của ngôn ngữ văn học ngày càng phong phú”[20, tr.227-233].

PGS Bùi Duy Tân phân tích phú Nôm của Nguyễn Hàng và Nguyễn Bá

Lân Nhà nghiên cứu cho rằng nét nổi bật trong phú Nôm Nguyễn Hàng là “niềm

tự hào của kẻ sĩ ẩn dật trong cảnh an bần lạc đạo, là niềm yêu mến tha thiết thiên nhiên, đất nớc hùng vĩ, tơi đẹp, là nghệ thuật sử dụng khả năng to lớn của ngôn ngữ dân tộc để miêu tả đất nớc Việt, con ngời Việt ” [21, tr.276-277], “Phú Nguyễn Hàng và Nguyễn Bá Lân là những bằng chứng về sự thoát ly ngày càng nhiều ảnh hởng của Hán học, đồng thời cũng lại là bằng chứng về khả năng to lớn của ngôn ngữ văn học dân tộc trong cấu trúc văn biền ngẫu Dới ngòi bút của Nguyễn Hàng và Nguyễn Bá Lân ngôn ngữ văn học dân tộc đã kết tinh, nhào nặn những nguyên liệu dân gian và đồng hóa những nguyên liệu Hán học, đã có sức biểu hiện rất linh hoạt phong phú khi phản ánh những hiện tợng cụ thể của đời

Trang 8

sống hàng ngày và trình bày những khái niệm trừu tợng của t duy Từ những câu văn thanh tao, thi vị, sinh động còn xen những lớp từ gốc Hán đã đợc Việt hoá”

[21, tr.289] PGS Hoàng Hữu Yên cho rằng: “Trong bài Hàn Nho Phong vị phú

lời nói thông tục nhng linh hoạt đợc tác giả triệt để khai thác” [24, tr.299].

Một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra những nội dung, chủ đề cảm hứng ởphú chữ Nôm khác phú chữ Hán GS Lê Trí Viễn cho rằng phú khi viết bằng tiếng

Việt “thì thờng đợc quần chúng hóa rộng rãi, có khi chẳng còn chút gì nghiêm

trang, trang trọng Bởi đề tài không nhất thiết phải cao quý mà toàn là của trớc mắt, hàng ngày, ngoài làng, giữa chợ” [38, tr.173].

Không những thế, với phú tiếng Việt, chức năng thể loại cũng đổi mới GS

Trần Đình Sử viết: “Phú từ viết bằng chữ Hán nh một thể loại cung đình đã trở

thành một thể loại dân giã của các nhà Nho, ông đồ ẩn dật, sinh hoạt điền viên hoặc niềm ham thích cảnh trí quê hơng hoặc thể hiện tâm t tình cảm của lớp bình dân” [33, tr.274] GS Phan Ngọc khi nói về hiện tợng khúc xạ trong văn học chữ

Nôm so với văn học Trung Hoa cho rằng sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú ( “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), … ),

tất cả đều thay đổi về nôi dung, trở thành mách qué Có thể nói thuật ngữ mách qué thể hiện đúng nội dung chứa đựng trong khái niệm khúc xạ Nó có nghĩa là

hình thức thì hết sức khuôn phép, chặt chặt chẽ không chê vào đâu đợc, nhng nội dung thì lại mang tính phê phán châm biếm cay độc, chống lại tôn ti luận của Nho giáo”[27, tr.58].

Về phơng diện hình thức, các nhà nghiên cứu rất dè dặt khi đa ra những nhậnxét về sự đổi mới của phú tiếng Việt so với phú Trung Quốc Vũ Khắc Tiệp cho

rằng “thể phú Nôm là mô phỏng ở phú Tàu mà làm ra” [36, tr.46], nhng ông

không nói rõ có độ chênh hay không giữa cái chính gốc (phú Trung Quốc) và cái

mô phỏng (phú Nôm) PGS Bùi Duy Tân thì kết luận: “Sự sáng tạo còn khá mờ

nhạt ( … ), thi pháp thể loại phú (vần, luật, cú pháp, kết cấu … ) vẫn ch a có gì đổi thay đáng kể” [34, tr.16].

Mối quan hệ giữa phú tiếng Việt với văn vần dân gian Việt Nam cũng đợcnghiên cứu dần từng bớc Ban đầu là việc nhận ra vai trò của tục ngữ trong một số

bài phú Nôm Vũ Khắc Tiệp bình phẩm “Thế tục phú” nh sau: Đọc bài phú này “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…),

mà ta lại càng biết rõ rằng tục ngữ phơng ngôn có ích lợi cho quốc văn là thế” [36,

tr.46] Về sau mối quan hệ này luôn đợc nói đến khi phân tích phú tiếng Việt trongcác công trình văn học sử Nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh nhận xét rất đúng rằng:

Trong suốt quá trình lớn mạnh của văn học quốc âm, tục ngữ ngày càng gắn với

“sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…),

văn học nhiều hơn: không những có ảnh hởng đến thơ, mà đến cả loại văn xuôi Nôm có nhịp điệu nh phú Nôm” [7, tr.263].

Trang 9

Năm 2001, trong Luận án tiến sỹ bảo vệ tại Đại học s phạm Hà Nội về “Thể

phú trong văn học trung đại Việt Nam”, tác giả Phạm Tuấn Vũ (Đại học Vinh) đã

có những nhận xét xác đáng về phú Tác giả đã giành riêng một chơng (chơng III)

để bàn về phú Nôm trung đại Trong chơng này tác giả đã nói về nghệ thuật thểhiện cảm hứng hài hớc nh thủ pháp thậm xng, sự đăng đối của câu phú Đờng luậtcũng nh chất liệu nghệ thuật của phú Nôm trung đại Việc sử dụng chất liệu vănhóa dân gian thành ngữ, tục ngữ trong phú Nôm đợc tác giả thống kê phân tích.Tuy nhiên đây cũng là công trình mà tác giả đứng từ góc độ văn học để suy xét

Nh vậy các công trình nghiên cứu về phú đã thu đợc những kết quả đángmừng Song do xuất phát từ nhiều mục đích, ở những điều kiện khác nhau nên cáckết luận trong các tài liệu đó ít nhiều còn mang tính khái quát, cha thực sự đi sâuvào các đặc điểm ngôn ngữ biểu hiện cụ thể trong phú tiếng Việt, đặc biệt là cácbài phú kim

Trong đề tài này chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu những điều mà các tác giảtrớc cha có điều kiện để nghiên cứu Đó là đặc điểm về ngôn ngữ của phú tiếngViệt (đặc điểm về hình thức và về từ ngữ, các ngôn từ biểu hiện các giá trị nộidung), đồng thời qua đó so sánh và tìm ra những nét tơng đồng, khác biệt trongngôn ngữ giữa các bài phú cổ và các bài phú mới

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu của luận văn này nhằm đến mục đích:

Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của các bài phú tiếng Việt về các phơng diện:hình thức, từ ngữ và ngôn từ biểu hiện nội dung; từ đó xác định những điểm tơng

đồng và khác biệt trong ngôn ngữ hiểu hiện giữa các bài phú cổ và phú mới, qua đógóp thêm vào việc nghiên cứu thể phú cũng nh văn học Việt Nam trung đại

4 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tợng

Khảo sát ngôn ngữ biểu hiện của tất cả các bài phú tiếng Việt (có tên tác

giả) in trong sách “Phú Việt Nam cổ và kim” (NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội,

2002) Bao gồm tổng cộng 40 bài trong đó: Thời kỳ nhà Lê 2 bài, thời kỳ nhà Mạc

3 bài, thời kỳ Hậu Lê 5 bài, thời kỳ nhà Nguyễn 20 bài, thời kỳ Pháp thuộc 5 bài,thời kỳ hoà bình lập lại 5 bài

Trang 10

5.4 Phơng pháp tổng hợp

Trên cơ sở các t liệu, chúng tôi đi sâu vào phân tích đánh giá, tổng hợp, rút

ra kết luận về những đặc điểm ngôn ngữ trong các bài phú tiếng Việt

Các phơng pháp trên đợc áp dụng đồng thời trong quá trình thực hiện đề tài

6 Đóng góp của đề tài

Với đề tài này chúng tôi hy vọng sẽ tổng hợp và nêu lên đợc một số đặc

điểm về ngôn ngữ của phú tiếng Việt Bên cạnh đó đề tài muốn tìm ra những nét

t-ơng đồng và khác biệt trong ngôn ngữ biểu hiện giữa các bài phú cổ và các bài phúmới, qua đó góp phần vào việc nghiên cứu đặc trng thể phú nói chung, đặc biệt lànhững bài phú mới vốn đang ít đợc nghiên cứu

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn đợc

triển khai trong ba chơng nội dung:

Chơng I Một số giới thuyết chung

Chơng II Đặc điểm về hình thức và về từ ngữ của phú tiếng Việt.Chơng III Ngôn từ biểu hiện các giá trị nội dung trong phú tiếngViệt

Trang 11

Chơng i Một số giới thuyết chung

1.1 Đặc trng của thể phú

1.1.1 Nguồn gốc của thể phú

Phú là một trong những thể tài văn học Trung Quốc du nhập vào Việt Nam,tồn tại và phát triển ở đây hàng mấy trăm năm Khi nghiên cứu phú Việt Nam, cácvăn nhân, học giả thờng so sánh với phú Trung Quốc Thực tế cho thấy, giá trị củanhững nghiên cứu thể phú ở Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào hiểu biết phú ViệtNam mà còn phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết phú Trung Quốc Chính vì lẽ đókhi tìm hiểu đặc trng của thể phú chúng tôi thấy cần phải giới thiệu một vài nét vềnguồn gốc của phú ở Trung Quốc

Phú xuất hiện từ cuối đời Xuân Thu và có vị trí quan trọng trong lịch sử vănhọc Trung Quốc.Theo t liệu hiện còn, Tuân Huống (298-239 TCN) là ngời đầu

tiên viết phú Thời Tiên Tần, chữ phú có hai nghĩa Một nghĩa là bố tức là phô bày

ý nghĩa ra Trịnh Huyền đời Hán nói: “Nói phú trải bày, tức là phô bày trực tiếp

cái thiện cái ác của chính giáo hiện tại” Lu Hiệp đời Lơng thì giải thích: “Phú tức là trải ra: trải màu trình văn để miêu tả vật, biểu hiện chí” Nghĩa thứ hai của

chữ phú là đọc Quốc ngữ chép rằng: “Cổ thiên tử thính chính, sử công khanh chí

vu liệt sĩ hiến thi … tẩu phú mông tụng” Với cả hai nghĩa đó, chữ phú đã đợc dùng

để định danh cho thể tài văn học mới ra đời lúc ấy Phú dùng thủ pháp phô bày sự

Trang 12

vật Phú là thể tài không dùng để hát mà chỉ đọc (Nghệ văn chí của Hán th giải thích: Bất ca “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), nhi tụng vị chi phú ).

Về nguồn gốc và tên gọi của thể tài, ngời xa đa phần theo cách giải thích lu

truyền từ đời Hán Kinh Thi có sáu nghĩa: một là phong, hai là phú, ba là tỷ, bốn “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…),

là hứng, năm là nhã, sáu là tụng ” (Kinh Thi bản do Mao Trờng biên tập) Nhà văn

Ban Cố đời Đông Hán nói về phú, cho rằng phú là một dòng của cổ thi (phú giả cổ

thi chi lu) Lu Hiệp trong “Văn tâm điêu long” cũng cho rằng tên gọi thể phú bắt

nguồn từ Kinh Thi Ông viết: “Kinh Thi có sáu nghĩa, nghĩa thứ hai là phú” Ông

còn khẳng định, xét về nguồn gốc rõ ràng phú bắt nguồn từ nớc Sở và thịnh lên ở

đời Hán (“thảo kỳ nguyên lu, tín hng Sở nhi thịnh Hán hỹ”).

Nhiều học giả cho rằng chữ cổ thi mà ngời xa nói bao gồm cả Sở từ Nh vậy

Kinh Thi và Sở từ đều góp phần hình thành thể phú Điều này có thể chứng thực

đ-ợc Loại câu chủ yếu của Kinh Thi gồm bốn tiếng, loại câu chủ yếu của Sở từ gồm sáu tiếng thỉnh thoảng có tiếng đệm hề “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” đợc bảo lu trong thể phú, nhất là phú đời

Hán Cách gieo vần chân ở thể phú (nếu có h từ thì gieo trớc h từ) cũng là sự bảo

l-u cách gieo vần của hai loại cổ thi này Thủ pháp phô bày của Kinh Thi, phong cách trữ tình nồng đợm và sự tởng tợng phong phú của Sở từ cũng có vai trò trong việc hình thành thể phú Sở từ gần gũi với phú đến mức có ngời cho rằng có thể

xem chúng là cùng một thể loại văn học

Bên cạnh đó, văn xuôi Tiên Tần cũng là một ngọn nguồn quan trọng để hình

thành nên thể phú Thủ pháp độn từ dĩ ẩn ý, quyệt tí dĩ chỉ sự “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” của ẩn ngữ - một

loại văn xuôi thời Tiên Tần đã đợc Tuân Huống sử dụng để sáng tác những bài phú

đầu tiên Đây là thủ pháp giảm bớt từ ngữ để ý tứ sâu sắc khó thấy Hình thức đốithoại rất phổ biến trong trớc tác của văn ch tử đã thành lối chủ - khách vấn đáptrong thể phú Hình tợng mang tính chất ngụ ngôn của văn ch tử cũng đợc các tácgiả phú tiếp thu

Nh vậy, ở Trung Quốc phú hình thành từ rất sớm Ba ngọn nguồn quan trọng

tạo thành thể phú là Kinh Thi, Sở từ và văn xuôi Tiên Tần Kết quả, phú là thể tài

đứng giữa thơ ca và văn xuôi Đây thực sự là một thể tài tổng hợp nghệ thuật

1.1.2 Các đặc trng của thể phú

1.1.2.1 Đặc trng hình thức

Phú thờng đợc chia thành bốn loại là: cổ phú, bài phú, luật phú và văn phú

Đây là cách phân chia của Từ S Tăng (đời Minh) mà về sau đợc nhiều ngời chấpthuận

Cổ phú chủ yếu để chỉ phú ra đời thời Lỡng Hán Tên gọi cổ phú đã nói lên

sự ra đời sớm của loại phú này Những tác phẩm của hậu thế mô phỏng phú Lỡng

Trang 13

Hán, không chú trọng đối tợng, thanh luật đều đợc gọi cổ phú Cổ phú còn có tên

gọi khác là từ phú Cổ phú có thể chia làm ba loại: phú tản văn, phú tao thể và tiểu

phú Loại phú thịnh hành đời Hán có văn vần và tản văn đan xen nhng nặng về tảnvăn gọi là phú tản văn Phú tản văn thờng dài, quy mô lớn nên gọi là tán thể đạiphú hoặc đại Hán phú Đại Hán phú văn vẽ hoa lệ, từ ngữ trau chuốt Phú tao thể

để chỉ những tác phẩm phú mô phỏng Sở từ tối đa Tiểu phú là những bài phú ngắn,phân biệt với đại phú Thông thờng tiểu phú không đi theo lối hỏi đáp, văn vần vàtản văn đan xen của đại phú mà dùng vần thông (thông vận) Câu văn có khi bốnchữ hoặc bốn chữ làm chính, kết hợp với ba chữ, sáu chữ, bảy chữ Tiểu phú còn cóthể phân chia thành tiểu phú trử tình (những tác phẩm tiểu phú lấy ngôn chí trử tìnhlàm chính) và tiểu phú vịnh vật (những tác phẩm tiểu phú lấy vịnh vật làm chính)

Bài phú còn gọi là biền phú là thể phú mới, đợc biến đổi và phát triển trên cơ

sở cổ phú Bài phú có từ thời Nguỵ – thi phú Annam” Tấn và thịnh hành vào thời Nam – thi phú Annam” Bắc

triều Bài hay biền đều có nghĩa là câu chữ đối nhau Đặc điểm chủ yếu của bài

phú là cân đối về câu chữ, hài hoà về âm thanh Phú đời Hán ít dùng các cặp câu

đối nhau mà thờng dùng nhiều câu liên tiếp và có hiện tợng đối cùng chữ Đốixứng chỉnh tề, đó là chỗ làm bài phú khác hẳn cổ phú

Luật phú (phú cận thể) là một biến thể của biền phú Luật phú rất chú trọng

âm vận Luật phú đợc đặt theo luật lệ quy định chặt chẽ nhằm thích ứng chế độkhoa cử đời Đờng – thi phú Annam” Tống Vần trong luật phú đợc gieo theo nhiều lối khác nhaunh: độc vận (một vần từ đầu chí cuối) hoặc năm, sáu, bảy, tám vần, tuỳ sự hạn vận(tức ra một câu làm giới hạn bắt buộc gieo vần theo thứ tự các chữ trong câu) hoặcphóng vận (gieo vần tự do phóng túng) Phú cận thể bao giờ cũng đặt câu gồm hai

vế đối nhau, vần nằm ở cuối vế dới Có các loại câu nh: câu tứ tự, câu bát tự, câusong quan (hai cửa, mỗi vế năm đến chín chữ), câu cách cú (mỗi vế gồm hai đoạn,một đoạn ngắn, một đoạn dài), câu gối hạc hay tất hạc (mỗi vế có ba đoạn trở lên,

đoạn giữa thờng ngắn nh đầu gối ở chân con hạc) Bố cục một bài luật phú thờng

có sáu phần sau:

1- Lung khởi (mở đầu, nói một ý bao quát toàn bài)

2- Biện nguyên (nói gốc tích, ý nghĩa của đầu bài)

3- Thích thực (giải thích, phân tích ý nghĩa của đầu bài)

4- Phu diễn (trình bày, dẫn chứng, minh hoạ làm rõ phần giải thích, phântích)

5- Nghị luận (bình luận, nhận xét ý nghĩa của đầu bài)

6- Kết (thắt lại, kết thúc)

Trang 14

Luật phú yêu cầu đối phải chặt chẽ hơn cả biền phú Ngoài ra luật phú cònlấy hạn vận làm một đặc điểm cơ bản Mục đích của việc này là thêm những điềuràng buộc để chủ khảo dễ phân định bài thi cao thấp Về luật bằng trắc, có thểnăm bằng ba trắc, sáu bằng hai trắc, ba bằng năm trắc, đến đời Trang Tông (vãn

Đờng) có thêm bốn bằng bốn trắc Luật phú cũng hạn định cả số chữ, thờng làkhông quá bốn trăm chữ

Văn phú ra đời do ảnh hởng của phong trào cổ văn đời Đờng – thi phú Annam” Tống Đặc

điểm chủ yếu của văn phú là chống lại sự hạn chế của biền ngẫu, vần điệu, cũng cónghĩa là đi theo xu hớng tản văn Văn phú không chạy theo sự hoa lệ mà vần của

nó tơng đối tự do Câu của tiểu loại này vẫn lấy bốn chữ, sáu chữ làm chính nhngngoài ra còn có một số lợng đáng kể loại câu trờng cú Hình thức của văn phú khác

xa phú Lục Triều và gần với phú đời Hán nhng lại khắc phục đợc nhợc điểm củaphú đời Hán là xây chất ngôn từ phô trơng chải chuốt Nhìn chung văn phú khôngbài xích biền ngẫu nhng ít dùng và không theo đuổi sự hài hoà hoa lệ của âmthanh

Khi nói về hình thức của phú, ngời ta có thể lấy tác phẩm phú Trung Quốc,phú chữ Hán Việt Nam hay phú tiếng Việt để làm dẫn chứng Điều này có nghĩa làngời ta mặc nhiên cho rằng về hình thức văn thể, phú Việt Nam tuân thủ nhữngphép tắc chung của thể phú Tất nhiên có những tiểu loại chúng ta sử dụng nhiềuhơn khi sáng tác (chẳng hạn nh phú Đờng luật tức luật phú hay phú cận thể).Phong Châu và Nguyễn Văn Phú đã nhận định chung về phú Việt Nam nh sau:

Phú Việt Nam rập khuôn theo phú Trung Quốc

“sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” [3, tr.10] Vũ Khắc Tiệp thì cho

rằng: thể phú Nôm là mô phỏng phú Tàu mà “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ra”[36, tr.35] GS Phan Ngọc nhân

nói về tác giả một bài văn tế đã đề cập đến hiện tợng khúc xạ ở những tác phẩm

chữ Nôm theo thể loại Trung Hoa Ông cho rằng: Sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), phú , hình thức thì hết sức khuôn phép, chặt chẽ, không chê vào đâu” “ đợc” [27,

tr.10] PGS Bùi Duy Tân cũng khẳng định thi pháp thể loại (vần, luật, cú pháp, kếtcấu) ở phú Việt Nam vẫn cha có gì thay đổi đáng kể

Tóm lại, về hình thức ở phú diễn ra nhiều lần thay đổi lớn do những nguyênnhân văn học và cả nguyên nhân phi văn học Nhng dù biến đổi thế nào cũngkhông làm mất những đặc tính của thể loại, mà nổi bật nhất là đặc tính nửa vănxuôi nửa thơ ca

1.1.2.2 Đặc trng nội dung

Rất nhiều các tài liệu trớc nay nghiên cứu về phú thờng chú trọng tới mô tảhình thức bề ngoài mà ít chú ý đến đặc trng nội dung và cấu trúc bên trong của nó.Tính nội dung của thể phú thể hiện ở cách sử dụng Tính chất chung của phú là ca

Trang 15

ngợi Xét theo chức năng, có hai loại: phú phúng gián và phú tỏ chí Phú phúnggián là thể loại viết cho vua, ngợi ca cuộc sống vơng giả, để ngụ ý khen chê kín

đáo Ca tụng tài đức của thiên tử và sự hùng hậu của đất nớc là chức năng mà thểphú có thể đảm nhận một cách thuận lợi, hữu hiệu Nhà mỹ học Trung Quốc Lu

Trạch Hậu khái quát: “Đối tợng miêu tả của phú là: sơn, thuỷ, cây rừng, chim, thú,

thành thị, cung khuyết, mỹ nữ, y phục, bách nghệ”[13, tr.84] Phú với hình thức tao

nhã, ngôn từ lộng lẫy khoa trơng, hình tợng phi thờng, hết sức phù hợp để tụng ca.Bản chất của Hán phú là văn học cung đình, nên chức năng tụng ca càng nổi bật.Tuy nhiên cũng khó tìm thấy những sáng tác để tụng ca mà có tính nghệ thuật thựcsự

Phúng gián (dùng lối nói bóng gió để khuyên can) là một trong những chứcnăng của phú đã đợc khẳng định từ xa xa Dơng Hùng, một ngời làm phú nổi tiếng

đời Hán khẳng định dứt khoát: Hùng này cho rằng phú phải h “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ớng tới phong”

(Hùng dĩ vi phú giả, tơng dĩ phong chi) Ông cho rằng phong “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” là đặc tính tất yếu

của phú và lấy làm buồn vì phú thời ông cha đáp ứng đợc điều này Trong số

những bài phú dĩ phúng dụ vi tôn “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” ngời ta thờng kể đến Phong phú của Tống

Ngọc Tác giả miêu tả gió hùng của nhà vua và gió th của thứ dân, ẩn ý so sánhcuộc sống xa hoa của nhà vua và cuộc sống bi thảm của bách tính Bài phú nhằm

công kích Sở vơng Thất phát của Mai Thặng thể hiện thật sinh động đời sống cung

đình gửi gắm với ngụ ý rằng t tởng trụy lạc sẻ làm cho cách sống trụy lạc

Phú tỏ chí với chức năng ngôn chí trữ tình xuất hiện vào thời Ngụy Tấn, khi

t tởng đại nhất thống “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” Trung Hoa suy tàn, kẻ sĩ thơng xót thân phận Trong Văn tâm điêu long, bộ sách chuyên ngành đầu tiên trong lịch sử lý luận phê bình văn

học Trung Quốc, Lu Hiệp viết: Phú ( “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), … ) tả chí dã ” Sự khái quát này dựa trên

thực tiễn sáng tác rất phong phú đã có Ngay trong cả những bài phú miêu tả đờisống sinh hoạt của đế vơng, sự phồn thịnh của đế quốc, các tác giả cũng bộc lộ lýtởng xã hội chính trị của mình Có thể nói các bài phú nhằm phúng gián cũng làmột dạng ngôn chí trử tình đặc biệt Đặc biệt ở chỗ hớng về đối tợng đặc biệt

(thiên tử) và nhằm vào những vấn đề liên quan đến vận mệnh của đế quốc Nói “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…),

phú là phô bày nhng trớc hết là thuật: khách có kẻ … rồi tả, kể một cách khách

quan để ngời nghe tự xét, là tởng tợng nhân vật h cấu, cuộc đối đáp giữa chủ và khách, sau đó mới dùng lời văn khoa trơng cực độ cho ngời nghe loá mắt, choáng

tai, phục tài khéo nói” [33, tr.269] Chính vì điều này mà phú lại phù hợp với t

t-ởng cao cả, trang trọng, phù hợp với việc “tỏ chí” của kẻ sĩ.

Trên đây là những đặc trng cơ bản về nội dung của thể phú Tất nhiên khi dunhập vào Việt Nam nó sẽ không đồ lại cấu trúc chức năng của phú Trung Quốc mà

Trang 16

nó sẽ phản ánh đặc thù của đời sống con ngời và lịch sử Việt Nam Một số tácphẩm phú chữ Nôm theo xu hớng tả thực đã miêu tả sát hợp với thực tiễn đất nớc,làm cho màu sắc dân tộc ở thể phú thêm đậm đà Điều này GS Trần Đình Sử đã

khái quát: “Trong quá trình Việt hoá phú đã từ thể loại ngợi ca tụng tán vua chúa

dần dần chuyển hoá và phân hoá thành phú tỏ chí, phú giáo huấn, phú phong cảnh, phú ẩn c, phú tuyên truyền và phú tự trào, châm, phê phán”[33, tr.280].

1.2 Thể phú trong văn học Việt Nam

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển

Phú Việt Nam bao gồm có phú chữ Hán và phú tiếng Việt (chữ Nôm và chữQuốc ngữ) Trớc khi nghiên cứu về các đặc điểm ngôn ngữ của phú, chúng tôi thấycần phải tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của hai loại phú đó Trongphần này chúng tôi chỉ nêu những nét tổng quát và những đặc điểm chủ yếu về nộidung cũng nh hình thức của phú Việt Nam thuộc từng thời kỳ lịch sử xã hội ViệtNam từ xa tới nay

1.2.1.1 Phú chữ Hán trong văn học Việt Nam

Trớc thế kỷ thứ X đã có ngời Việt Nam, hay nói đúng hơn là ngời TrungQuốc gốc Việt Nam làm phú chữ Hán đó là Khơng Công Phụ Ông này đậu tiến sĩ

năm 780, làm quan dới thời Đờng Đức Tông Theo Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi thì bài phú cổ nhất còn truyền lại là Bạch vân chiếu xuân hải

phú (Mây trắng dọi biển xuân phú) Bài phú của họ Khơng lời lẽ tao nhã mà “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…),

thoát sáo, đợc ngời đời Đờng xng phục, đợc chép trong Văn uyển anh hoa của

Tàu” [4, tr.87] Tuy nhiên trong hầu hết các cuốn lịch sử văn học đợc viết sau này

đều không xem bài phú ấy là mở đầu cho thể phú ở Việt Nam

Theo các tác giả nh Nguyễn Đổng Chi và Vũ Khắc Tiệp thì phú có từ đời Lý

bằng Hán văn, nhng đến nay không còn lu truyền lại đợc Trong cuốn cổ sử là Việt

sử lợc không phải chỉ một lần nói tới việc làm phú ở đời Lý Sử chép: Năm Quý “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), mùi, hiệu Minh Đạo năm thứ hai (1043) … Mùa hạ tháng 4, vua ngự đến chùa Tùng Sơn ở châu Vũ Ninh, thấy trong toà điện nát có cây cột đá đổ nghiêng, vua có ý

định sửa chữa lại điện đó, cột đá bỗng nhiên dựng thẳng lại Nhân đó nhà vua sai nho làm bài phú để ghi lại việc lạ đó ” Và: Năm Kỷ hợi, hiệu Trinh Phù năm thứ “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…),

t (1179) … tháng mạnh đông (tháng 10) vua và thái hậu ngự ra điện Sùng Ch ơng thi con em tam giáo về các môn chép ra thơ cổ, làm thơ phú, kinh nghĩa, làm toán”

[32, tr.94] Chữ Nôm thời Lý còn ở giai đoạn manh nha, vậy thì ta có thể suy luậnrằng những bài phú mà cổ sử nói đó là phú chữ Hán

Trang 17

Theo những nghiên cứu mới nhất thì hiện nay chúng ta mới biết đợc 16 bàiphú chữ Hán thời Trần – thi phú Annam” Hồ, chủ yếu là xuất hiện từ giữa đời Trần trở về sau.Những bài phú chữ Hán này đều ra đời sau những bài phú Nôm thời Trần hiện còn.

Điều này chứng tỏ rằng phú chữ Hán trớc đó đã bị mất mát một số lợng nhiều, vìtheo nh lôgíc mà suy, ngời Việt dùng chữ Hán để làm văn chơng trớc khi dùngchữ Nôm Để có thể dùng chữ Nôm, trớc hết phải tập dợt qua việc dùng chữ Hán

Phú chữ Hán đời Trần viết về nhiều đề tài và thể hiện nhiều chủ đề Bạch Đằng

giang phú viết về chiến công giữ nớc để ca ngợi đờng lối chính trị nhân nghĩa Thiên Hng trấn phú miêu tả một vùng đất giàu đẹp để ca ngợi chính sách huệ dân

của triều đình Ngọc tỉnh liên phú là bài phú vịnh vật, ngụ ý tự tiến Một số bài lấy

sự tích Trung Quốc để ngụ ý phúng gián: Trảm xà kiếm phú, Cần chính lâu phú,

Thang bàn phú… ……… 1Một số bài dùng ngay việc đơng thời mà cũng có chức năng hớngthợng đó nh hai bài phú của Nguyễn Phi Khanh và Đoàn Xuân Lôi đều cùng nhan

đề Diệp mã nhi phú Đời Trần để lại cho hậu thế số lợng phú chữ Hán tuy không

nhiều nhng lại rất to lớn về giá trị và ý nghĩa Có thể dẫn ra sự đánh giá của học giả

Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục về phú đời Trần: Đời Trần có nhiều bài phú “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), lạ kỳ, hùng vĩ, trôi chảy, tốt đẹp, bố cục và cách điệu thì gần đợc nh lối phú của

bài phú viết về đề tài chiến công giữ nớc (so với đời Trần chỉ có Bạch Đằng giang

phú) Có cả một chùm bài ca ngợi địa danh lịch sử Lam Sơn nh: Chí Linh sơn phú

của Nguyễn Mộng Tuân, Phú núi Chí Linh của Nguyễn Trãi, Lam Sơn Lơng Thuỷ

phú của Lê Thánh Tông… ……… 1 Các bài phú thời kỳ này rất thống nhất về chủ đề: ngợi

ca địa linh nhân kiệt, ngợi ca nhà vua Sau khi kháng chiến thành công thì hai chủ

đề lớn mà phú tập trung đó là: hoặc hăm hở hởng ứng chiếu cầu hiền tài của LêLợi, hoặc bất hởng ứng, đề cao triết lý thủ dân vi đại Phú giữa thời Lê sơ đến cuốithời Lê sơ có sự chuyển đổi đề tài Phần lớn các tác giả lấy đề tài trong sử sách

Trang 18

Các tác giả Đàng ngoài nh Nguyễn Bá Lân, anh em họ Ngô Thì đều có những tácphẩm phú nổi tiếng đợc ngợi ca và chép trong nhiều tuyển tập Nhiều bài phú thời

này lấy đề tài là nhân vật và phong cảnh Trung Quốc: Hoàng Hạc lâu phú (Ngô Thì Nhậm), Dịch đình thừa dơng xa phú (Nguyễn Bá Lân) Cũng có những tác phẩm biểu hiện tình cảm riêng của con ngời, miêu tả phong cảnh đất nớc: Đăng ải

Vân sơn phú (Ngô Thì Nhậm), Tây Hồ phong cảnh phú (Ngô Thì Sĩ), Kỳ Giang kiều phú (Bùi Dơng Lịch) Thiên nhiên trong phú thời kỳ này đơn thuần là hiện t-

ợng tự nhiên chứ không phải thiên nhiên gắn các chiến công giữ nớc nh trong phúthời Lê sơ

Sang thế kỷ XIX, phú chữ Hán đời Nguyễn nh đánh giá của PGS Nguyễn

Lộc là thụt lùi so với các thế kỷ tr “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ớc”[25, tr.32] Điều này là do văn học chữ

Nôm sau khi đạt đến đỉnh cao ở thế kỷ XVIII vẫn tiếp tục khẳng định u thế củamình Các nhân tài văn học nổi tiếng nh Nguyễn Khuyến, Tú Xơng, Nguyễn Thiện

Kế sáng tác theo khuynh hớng tố cáo hiện thực nên dùng chữ Nôm thuận lợi hơnnhiều Thời kỳ này phú chữ Hán không có tác phẩm đặc sắc Nội dung một số bài

phú giảng giải về những vấn đề triết học, ít tính nghệ thuật nh Vô phú của Bùi

D-ơng Lịch Cũng có những tác phẩm mặc dù không có tính nghệ thuật nhiều nhng

lại giàu giá trị hiện thực nh Nghĩa trng phú của Nguyễn Thông.

Tóm lại phú chữ Hán Việt Nam có bảy thế kỷ tồn tại Tiến trình phát triểncủa nó nói chung càng về sau càng ít thành tựu Điều này cũng là hợp lệ, bởi nhiềuthể tài cũng có sự phát triển và đảm nhiệm một phần chức năng của thể phú ví dụ

nh văn xuôi nghệ thuật Hơn nữa phú tiếng Việt (phú chữ Nôm) càng ngày càngchiếm phần u thắng

1.2.1.2 Phú tiếng Việt trong văn học Việt Nam

Phú tiếng Việt bao gồm có phú chữ Nôm và phú chữ Quốc ngữ Để thuận

tiện hơn trong việc nghiên cứu chúng tôi tạm thời phân chia thành hai loại là phú

cổ và phú mới Phú cổ là là những tác phẩm phú tiếng Việt viết bằng chữ Nôm,

thuộc phạm trù văn học trung đại Việt Nam Còn phú mới là những tác phẩm phútiếng Việt thuộc phạm trù văn học cận đại và hiện đại, viết bằng chữ Nôm và chữquốc ngữ

a) Phú cổ

Phú cổ (phú Nôm) chỉ xuất hiện khi ngời Việt đã dùng chữ Hán để làm phú

và khi chữ Nôm đã phát triển đến độ có số lợng lớn các từ, phép tắc tơng đối thuầnthục Văn chơng chữ Nôm xuất hiện thì phú tiếng Việt cũng bắt đầu hình thành.Theo quốc sử và theo một số tài liệu khác hiện còn, có thể khẳng định văn học chữNôm có từ đời Trần Những bài phú đầu tiên là của Nguyễn Sĩ Cố đến nay đều bị

Trang 19

thất lạc Thời Trần còn để lại năm bài phú Nôm: C trần lạc đạo và Đắc thú lâm

tuyền thành đạo của Trần Nhân Tông, Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang, Giáo tử phú của Mạc Đỉnh Chi và Nam dợc quốc ngữ phú của Tuệ Tĩnh.

Theo Đào Duy Anh, hình thức văn thể của C trần lạc đạo xa lối phú Hán mà

gần với phú Đờng, đã thấy ba yếu tố của phú Đờng luật là: Câu gối hạc, niêm luật

và đối ngẫu Bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo mỗi câu bốn chữ, hoặc mỗi câu tám chữ chia làm hai phần là do cú pháp của thể Hán phú biến thành Vịnh Vân Yên tự

phú làm theo thể phú tám vần, mỗi đoạn một vần, theo thể khoa cử đời Trần Có

một hiện tợng đợc xem là độc đáo về hình thức trong phú Nôm đời Trần, đó là

Nam dợc quốc ngữ phú Bài phú gồm hai mơi t đoạn, viết về các loại thuốc nam

dùng để chữa các loại bệnh Bài phú làm theo kiểu chuyển đoạn kết hợp với chuyểnvần, có điều các đoạn không liên kết với nhau bằng các cụm từ liên kết nh trongphú Tác phẩm này thuộc loại văn ứng dụng viết bằng hình thức phú chứ khôngphải là một sáng tác nghệ thuật

Sang thời kỳ Lê sơ (thế kỷ XV), văn học chữ Nôm có những bớc tiến vợtbậc ở thể phú, đây cũng là thời kỳ xuất hiện lợng tác gia đông đảo với số lợng tác

phẩm lớn Thế nhng số lợng tác phẩm phú chữ Nôm thời kỳ này trong Tổng tập

văn học cũng nh các tuyển tập đều thấy vắng bóng Đây là một hiện tợng lạ bởi vì

quan niệm chính thống đơng thời không có sự kỳ thị chữ Nôm, thậm chí có vẻ

ng-ợc lại Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi đều sáng tác bằng chữ Nôm Về phơng diệnthể tài thì thể phú đã đợc ngời đơng thời sử dụng thuần thục Hiện tợng này chỉ cóthể giải thích nh sau Khi kháng chiến thành công, nhà Lê đợc thiết lập, Lê Lợi banchiếu cầu hiền tài Việc này đã tạo nên một cuộc bút chiến rầm rộ bằng thể phúgiữa những ngời hợp tác và những ngời bất hợp tác với tân triều Bày tỏ tình cảmtrớc võ công của dân tộc bằng tác phẩm chữ Hán rõ ràng là trang trọng hơn, đấutranh t tởng trong giới kẻ sĩ thì dùng chữ Hán là thuận tiện và sang trọng hơn.Chính vì vậy mà số lợng tác phẩm chữ Hán thời kỳ này nhiều

Thế kỷ XVI - XVII (thời Lê - Mạc) có nhiều tác giả làm phú bằng chữ Nômhơn, số lợng tác phẩm có dấu ấn riêng cũng nhiều hơn Tuy nhiên chế độ phongkiến ở thời kỳ này suy yếu dần nên phú tiếng Việt phát triển nhng không mạnh mẽcho lắm Những bài phú nổi tiếng trong thời kỳ này là ba bài phú của Nguyễn

Hàng: Đại Đồng phong cảnh phú, Tịch c ninh thể phú và Tam ngng động phú Ngoài ra còn có Phụng thành xuân sắc phú của Nguyễn Giản Thanh, Cung trung

bảo huấn phú của Bùi Vịnh, Ngã ba Hạc phú của Nguyễn Bá Lân T tởng chán

ghét chế độ phong kiến, xa lánh cuộc đời nhơ bụi, sống ở ẩn một nơi, vui thú vớicảnh thiên nhiên đã đợc biểu hiện trong các bài phú Khuynh hớng ca tụng phong

Trang 20

kiến cũng đợc thể hiện trong Cung trung bảo huấn phú của Bùi Vịnh Về mặt nghệ

thuật, PGS Bùi Duy Tân nhận xét rằng phú của Nguyễn Hàng thể hiện đợc sự uyểnchuyển tinh tế của ngôn ngữ văn học dân tộc Với Nguyễn Hàng, phú chữ Nôm đãthực sự chuyển hớng từ phong cách khoa trơng trang trọng sang phong cách bình dịtrào lộng, phong cách tả thực Phú của Nguyễn Hàng là bằng chứng về sự thoát lyngày càng nhiều ảnh hởng Hán học [35, tr.477] Phong Châu và Nguyễn Văn Phú

thì nhận xét: Bài Tịch c “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ninh thể phú của Nguyễn Hàng ít dùng chữ Hán, đã có nhiều tiến bộ rất lớn về tính dân tộc và tính đại chúng, ít dùng điển cố, lời văn chịu

ảnh hởng của ca dao tục ngữ ” [3, tr.20]

Từ thế kỷ XVIII đến nữa đầu thế kỷ XIX (thời Lê Trung hng – thi phú Annam” Nguyễn),phú tiếng Việt phát triển mạnh cùng với sự trởng thành của ngôn ngữ tiếng Việt và

sự phồn thịnh của văn chơng tiếng Việt PGS Nguyễn Lộc cho rằng những bài phú

có giá trị nhất của giai đoạn này thuộc bộ phận phú chữ Nôm: Hàn nho phong vị

phú, Tài tử đa cùng phú, Tụng Tây Hồ phú Có thể nói những bài phú tiêu biểu cho

khuynh hớng dân tộc hoá thể loại vay mợn trên nhiều phơng diện Hàn nho phong

vị phú và Tài tử đa cùng phú đợc đánh giá là đạt đến trình độ điển phạm Ngoài các

tác phẩm trên thì Hàn vơng tôn phú và Tần cung nữ oán Bái công của Đặng Trần Thờng, Khổng Tử mộng Chu công phú của Nguyễn Nghiễm, Trơng Lu hầu phú của Nguyễn Hữu Chỉnh cũng là những tác phẩm nổi trội Tụng Tây Hồ phú và Chiến

Tụng Tây Hồ phú thuộc số những bài phú Nôm dài nhất, có nghệ thuật nhuần nhị

nhất Một điểm nổi bật trong nội dung của phú thời kỳ này là tính chất hiện thực đã

đợc thể hiện một cách tinh vi, phơi bày những cảnh nghèo khổ đau đớn của con

ng-ời dới chế độ phong kiến và tố cáo thói đng-ời đen bạc cùng với mọi bất công của xãhội Tinh thần nhân đạo chủ nghĩa cũng là điểm nổi bật trong các bài phú tiếngViệt ở giai đoạn này Lòng oán thán của ngời cung nữ đợc Đặng Trần Thờng thể

hiện một cách thống thiết trong Tần cung nữ oán Bái công Về mặt nghệ thuật,

“ngôn ngữ hình ảnh đã trở thành một lợi khí màu nhiệm, óc tởng tợng lên đến một

độ cao Ca dao tục ngữ không những có nhiều ảnh hởng trong các bài phú mà còn lan tới cả văn tế, kinh nghĩa, văn sách ” [3, tr.22] Sở dĩ văn học chữ Nôm cũng nhphú tiếng Việt có đợc nhiều thành tựu trong giai đoạn này là do tổng hoà nhiềunhân tố Nhân tố tâm lý xã hội hết sức thuận lợi cho văn chơng quốc âm Thời đạiQuang Trung tuy ngắn ngủi nhng đã thực hiện đợc một việc rất có ý nghĩa đối vớivăn hoá dân tộc là để chữ Nôm thay thế chữ Hán ở phơng diện quốc gia Hơn nữa

đến lúc này văn học chữ Nôm đã có lịch sử sáu trăm năm Việc có những tác giảlớn hầu nh chỉ viết bằng chữ Nôm nh Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ là dẫnchứng hùng hồn về sức sống của tiếng Việt Đời sống lịch sử xã hội có những biến

Trang 21

động lớn: xã hội suy đồi, kỷ cơng phong kiến đỗ nát, những giá trị cá nhân đợcthức tỉnh Những giá trị tinh thần phi chính thống ấy chủ yếu đợc thể hiện ở vănchơng quốc âm bằng nhiều thể tài Phú có dung lợng lớn hơn thơ Đờng luật, thể tàinày có thể làm gia tăng các yếu tố tự sự, trữ tình và triết lý nên có nhiều thành tựu.

Cuối thế kỷ XIX, trong văn học giai đoạn triều Nguyễn thời Pháp xâm lợc,văn học chữ Nôm tuy không có nhiều thành tựu nh văn học từ nửa thế kỷ XVIII

đến nửa đầu thế kỷ XIX nhng vẫn nổi trội hơn so với văn học chữ Hán Phú cổ(phú chữ Nôm) là một bộ phận đáng kể của văn chơng quốc âm nhng cho đến naycha đợc các nhà nghiên cứu quan tâm thích đáng Trong một công trình, khi kể têncác loại hình văn học chính, ngời soạn sách nêu: truyện thơ, thơ Nôm trữ tình vàtrào phúng, kịch bản văn học tuồng, văn tế mà không kể đến phú [18] Hay ở một

công trình khác chẳng hạn trong Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX [26], phần

thể loại văn học, tác giả không viết về phú Phần viết về Nguyễn Khuyến khôngnhắc đến phú của ông Phú của Tú Xơng đợc dùng để nói về cuộc đời của nhà thơ,nói về bức tranh xã hội, để nói về cái tôi trong sáng tác của ông chứ không đợcxem là đối tợng khảo sát trên phơng diện thể loại trong sự nghiệp sáng tạo của tácgiả này

Số lợng các bài phú tiếng Việt trong giai đoạn này rất nhiều, đến nay cha sutầm hết đợc Nội dung của phú giai đoạn này đợc các tác giả tập trung theo các chủ

đề sau

Một số bài nêu cao tinh thần yêu nớc thơng dân, ca ngợi lòng hy sinh dũngcảm, xót xa về những cảnh lầm than của nhân dân, vạch trần tội ác của bè lũ cớp n-

ớc và bán nớc, gây căm thù và cổ vũ toàn dân đứng lên chiến đấu đến cùng Tiêu

biểu có các bài nh: Bài phú Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất của Phạm Văn Nghị,

Phú Trung lễ thất hoả của Lê Trọng Đôn… ……… 1 Bên cạnh đó còn có những bài phúyêu nớc ở một mức độ thấp hơn nh đề cao tinh thần bất hợp tác với giặc, nguyềnrủa, thù ghét bọn chúng

Ngoài xu hơng yêu nớc, còn có nhiều bài phú của Nguyễn Khuyến, Tú

X-ơng, Trần Văn Nghĩa, Nguyễn Thiện Kế, Ngô Điền, Phan Văn ái và nhiều bài phú

khuyết danh có xu hớng trào phúng Những bài phú nh: Lẳng lơ phú, Phú thuốc

phiện, Phú tài bàn, Phú gái quá thì… châm biếm, chế diễu thói đời đen bạc, đề

cao đạo đức và chống lại những cảnh lố lăng của xã hội mà đồng tiền đã làm đảo

lộn hết thảy Một số bài khác nh: Phú thầy đồ, Phú hỏng thi, Phú ông đồ ngông… ……… 1

thì lại chế diễu nhà nho và chán ngán cho cảnh thi cử trong những ngày cuối mùa

Đặc điểm nổi bật của phú cổ ở dạng chủ đề này là tính phi nho rất rõ rệt, tính thếtục đậm đà và có mối liên hệ nhiều mặt với văn hoá dân gian

Trang 22

Phong Châu và Nguyễn Văn Phú đã kết luận: “Về mặt nghệ thuật, lối văn

biền ngẫu rất thịnh hành vì nó có khả năng đi vào quần chúng làm nhiệm vụ kêu gọi, hô hào thúc dục, ca ngợi tinh thần hi sinh chiến đấu và châm biếm mọi thói h tật xấu của xã hội Ngôn ngữ bình dân tràn ngập trong các bài văn Nôm na lúc này không còn là cha mách qué nữa”[3, tr.24].

Tóm lại phú cổ đã có lịch sử tồn tại, diễn biến trong hơn bảy trăm năm.Cùng với thơ Nôm Đờng luật, phú cổ là bộ phận có lịch sử lâu dài nhất trong vănhọc quốc âm

b) Phú mới

Từ đầu thế kỷ XX đến những năm 1930, phú có nhiều biến chuyển khác

tr-ớc Đây là thời kỳ nền văn học nớc nhà đang có những bớc chuyển mình sangphạm trù hiện đại Rất nhiều những nhà chí sĩ đã làm phú để tỏ lòng cảm khái củamình Nội dung trong đa số các bài phú đều tập tập trung vào chủ đề yêu nớc Đấtnớc là điểm hội tụ những tấm lòng của những ngời con đợc sinh ra trên đất mẹ

Đây là chủ đề mang tính truyền thống trong văn học Việt Nam Tuy nhiên nộidung những bài phú của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thợng Hiền,

Huỳnh Thúc Kháng, nhóm Đông Kinh nghĩa thục… ……… 1 đã có xu hớng cải lơng, xu ớng cách mạng t sản và nhằm vào đối tợng nhất định Do đó nó đã có tính chất là

h-một thứ văn chơng cách mạng Các tác phẩm phú nh: Tâm huyết phú (hai bài),

Tỉnh quốc dân phú của Phan Bội Châu, Phú cải lơng của Nguyễn Thợng Hiền là

những luồng gió mới thổi bùng ngọn lửa yêu nớc đang âm ỉ cháy trong tầng lớpthanh niên lúc bấy giờ

Về mặt nghệ thuật, lời văn thấm đợm một tình cảm lớn lao, chân thành, lúcthì rừng rực lửa căm thù, lúc thì u hoài giàu chất trữ tình, lúc thì cứng rắn đanhthép, lúc thì có giọng điệu nh một bản bi hùng ca, mặc dù có nói tới thất bại nhngvẫn luôn luôn thúc dục chiến đấu, tin tởng

Năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời Dới ngọn cờ lãnh đạo của

Đảng, cách mạng tháng Tám 1945 thành công, cuộc trờng kỳ kháng chiến chốngPháp thắng lợi, miền Bắc nớc ta đợc hoàn toàn giải phóng và tiến lên xây dựng chủnghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nớc nhà, bảo vệ hoà bình thế giới Những bàiphú mới đợc ra đời khi văn học Việt Nam đã chuyển sang phạm trù hiện đại và vănhọc quốc âm (chữ Nôm) không còn vị trí phát triển trên văn đàn

Một điểm đáng chú ý hơn hết là sau 1930, nếu trong địa hạt văn chơng cónhiều xu hớng khác nhau thì riêng về phú và văn tế làm theo lối phú không cókhuynh hớng lãng mạn tiêu cực suy đồi mà chỉ có hai khuynh hớng, đó là hiệnthực phê phán và cách mạng, bằng giọng văn đả kích, trào phúng

Trang 23

Trong khuynh hớng hiện thực phê phán, ở giai đoạn 1930 – thi phú Annam” 1945, nhữngtác phẩm phú của Tú Mỡ, Đồ Phồn là những tác phẩm tiêu biểu Với giọng văn hài

hớc, châm biếm và chế diễu sâu cay, tác giả của những bài phú nh: Hồ Gơm phú,

Dân ngu phú, phú thầy Phán (Tú Mỡ), Phú ông đồ nho (Đồ Phồn), Tù xuân phú

(Nguyễn Văn Từ)… ……… 1 đã đả kích mạnh vào nhữmg thói h tật xấu của xã hội, vạchtrần bộ mặt gian dối, lừa bịp của đế quốc và bè lũ phong kiến tay sai Hà Văn Đức

đã nhận xét nh sau: Làm công chức lâu năm ở sở tài chính, Tú Mỡ hiểu hơn ai hết “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), tính chất vô nghĩa, rỗng tuếch của lớp ngời - máy, lớp ngời - công cụ, và đã vẽ nên bức chân dung tiêu biểu của các ông Phán Nhng đòn bút của Tú Mỡ không dừng

lại ở hình thức, dáng vẻ bên ngoài, thông qua hình ảnh ông Hàn ông Phán Tú Mỡ

đã phê phán mạnh mẽ sự sa đoạ của giới công chức nhà nớc nói chung ” [6,tr.503]

Khuynh hớng cách mạng thể hiện rõ ở những bài phú và văn tế làm theo lốiphú của các chiến sĩ cách mạng Tác phẩm của họ đã nêu cao tinh thần hi sinh anhdũng của các chiến sĩ cách mạng và tấn công quyết liệt vào bọn đế quốc phongkiến

Từ 1945 cho đến hết cuộc trờng kỳ kháng chiến chống Pháp, những bài phúphần nhiều là của Tú Mỡ (ký dới biệt hiệu Bút chiến đấu), đã vang lên cái khí thếmãnh liệt, anh dũng của nhân dân ta, hô hào cổ vũ toàn dân tiến lên dới ngọn cờ

của Đảng, đánh đổ đế quốc phong kiến, giải phóng dân tộc Các tác phẩm: Phú

chống giặc bắt lính, Phú cảnh cáo bọn việt gian… ……… 1 là những tác phẩm tiêu biểu.Lời văn đả kích rất đanh thép, sâu cay

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), hoà bình đợc lập lại, đế quốc

Mỹ nhảy vào miền Nam và biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới Các tác phẩm

phú yêu nớc lại xuất hiện, tiêu biểu nh : Nhắn gửi họ Ngô (Nguyễn Ngọc Tỉnh),

Phú chúc tết Ngô Chí “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), … ” (Tú Sụn), Phú miền Nam bất khuất (Ba Dân), Phú kể Sỉ tội Mỹ Diệm (Chu Hà)… ……… 1 đã vạch trần bộ mặt gian ác, xảo trá cùng với mọi hành

động quỷ quyệt, dã man của bè lũ Mỹ Diệm manh tâm chia cắt đất nớc, biến miềnNam thành thuộc địa kiểu mới

Tóm lại từ đầu thế kỷ XX đến những năm sau này, bên cạnh dòng thơ cáchmạng thì Phú mới với hình thức gò bó của lối văn biền ngẫu, vẫn chứa đựng mộtnội dung phong phú về t tởng Mác - Lênin, một nhân sinh quan mới, một chủnghĩa nhân đạo mới: nhân sinh quan cách mạng và chủ nghĩa nhân đạo của giaicấp công nhân

1.2.2 Vai trò của phú trong văn học Việt Nam

Trang 24

Phú là một thể tài văn chơng hình tợng có mặt từ thời kỳ đầu, tồn tại trongsuốt tiến trình văn học Việt Nam và thời kỳ nào cũng có những tác phẩm mang giátrị lớn về nội dung và nghệ thuật Phần lớn tác giả văn chơng xa đều sử dụng hìnhthức nghệ thuật này Từ các sĩ tử học thi cho đến các đại thần, thiên tử đều có ítnhất dăm ba bài phú để lại đời sau Trong thời đại phong kiến Việt Nam, họ làmphú không chỉ vì mục đích nghệ thuật mà còn vì cả mục đích chính trị, kinh tế.Một ngời làm phú giỏi sẽ đợc ngời đời kính nể, sẽ đậu đạt và chắc chắn địa vịchính trị, kinh tế đợc nâng cao Nh vậy phú chính là một thể loại quan trọng khôngthể thiếu trong văn học nớc nhà, đặc biệt là trong văn học trung đại Phú tồn tại

trong thế quân bình “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” với các thể tài văn chơng hình tợng chủ yếu của Việt Nam

thời trung đại

Trong nền văn học Việt Nam ở những thế kỷ đầu, phú kiêm nhiệm một phầnchức năng của văn xuôi Văn xuôi tự sự Việt Nam xuất hiện muộn và khi xuất hiệnthì ở những thế kỷ đầu cũng không phát triển lắm, điều đó khiến thể phú càng đợcchú trọng Khi các thể tài khác có điều kiện phát triển thì phú cũng không đến nỗi

th

“sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), a vắng ” “Thế quân bình ” này là do ngời Việt Nam tiếp thu thể phú cùng với

hệ thống các thể tài văn học Trung Quốc khác

ở một phơng diện khác, phú đặc biệt là phú tiếng Việt có vai trò lớn trongviệc rèn giũa ngôn ngữ văn học dân tộc Chữ Nôm mấy thế kỷ đợc dùng để sáng

tạo văn chơng nhng hầu nh chỉ trong địa hạt thơ ca Ngôn ngữ “Nôm” trong thể

phú chính là bộ phận ngôn ngữ bên cạnh tính chất thơ ca còn mang tính chất ngônngữ văn xuôi đáng kể nhất trong ngôn ngữ các thể tài Phú tiếng Việt thuộc vào sốnhững bộ phận văn chơng nhạy bén nhất trong việc sử dụng những thành tựu ngônngữ và văn hoá của dân tộc

Một điều cần phải nói thêm, mối liên hệ mật thiết với văn học dân gian làmột đặc điểm nổi bật của phú tiếng Việt Mối liên hệ này là một tất yếu kháchquan xét từ phơng diện tác giả, nội dung tác phẩm, ngôn ngữ, và mức độ nào đó là

ở phơng thức lu hành Mối liên hệ này càng làm cho nội dung của phú tiếng Việt

đậm đà chất thông tục và làm gia tăng phẩm chất nghệ thuật của lời văn Văn họcdân gian Việt Nam không góp phần hình thành thể phú nh văn học dân gian TrungQuốc nhng vẫn có ý nghĩa lớn đối với thành tựu của thể phú, chủ yếu là phú tiếngViệt Ngợc lại, cũng có thể một số câu phú tiếng Việt đã trở thành tác phẩm vănhọc dân gian qua việc thành ngữ hoá, bởi phú tiếng Việt cũng nói về nhân tình thếthái bằng ngôn ngữ giàu nhạc điệu

Tóm lại phú là một thể loại nghệ thuật cổ điển có vị trí quan trọng trong văn

học Việt Nam Nó không những có nội dung độc đáo Việt Nam mà còn cung cấp “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…),

Trang 25

một môi trờng rèn luyện ngôn ngữ, có tác dụng làm cho các bài cáo, bài hịch, bài văn tế thêm điêu luyện Một mặt khác, với cái nhìn văn xuôi, phú là thể loại có vai trò tiên phong dẫn nhập ngôn từ văn xuôi, đời thờng vào văn học ” [33, tr.279 -280].

*Tiểu kết

Phú là một thể tài văn chơng hình tợng đợc hình thành rất sớm trong lịch sửvăn học Trung Quốc Ba ngọn nguồn quan trọng tạo thành thể phú là Kinh Thi, Sở

từ và văn xuôi Tiên Tần Mặc dù ở phú diễn ra nhiều lần thay đổi về hình thức nh

-ng đặc tính nửa thơ ca nửa văn xuôi vẫn khô-ng hề mất đi ở phú

Phú khi du nhập vào Việt Nam thì hình thức văn thể của nó cơ bản vẫn tuânthủ những phép tắc chung của thể phú Về nội dung, tất nhiên phú tiếng Việt sẽphản ánh đặc thù đời sống, con ngời và lịch sử Việt Nam Chính điều này làm chomàu sắc dân tộc ở thể phú thêm đậm đà

Phú Việt Nam (kể cả phú chữ Hán và phú tiếng Việt) tồn tại và phát triểntrong nền văn học nớc nhà hơn bảy thế kỷ Trong thời gian đó mặc dù có lúc

thăng

“sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” lúc trầm “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” nhng phú vẫn đứng ở thế quân bình “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” với các thể tài văn

ch-ơng hình tợng chủ yếu khác của Việt Nam Nó có vai trò quan trọng trong việc rèngiũa, phát triển ngôn ngữ văn học dân tộc

Chơng II

đặc điểm về hình thức và về từ ngữ

của Phú tiếng Việt

2.1 Đặc điểm hình thức của văn bản phú tiếng Việt

ở chơng I chúng tôi đã khẳng định: về hình thức văn thể thì phú tiếng Việttuân thủ những phép tắc chung của thể phú Tuy nhiên trong quá trình tiếp nhậnthể loại ngoại nhập này thì các tiểu loại phú đợc sử dụng rất khác nhau Căn cứ vàonhững bài phú đợc đa vào diện khảo sát và đợc biết, có thể kết luận rằng cổ phú,

Trang 26

bài phú, văn phú (gọi chung là phú cổ thể) ít đợc dùng và càng về sau càng ít dùng

hơn Trong số 40 bài từ thời kỳ nhà Lê về sau đợc tập hợp trong Phú Việt Nam cổ

và kim của Phong Châu và Nguyễn Văn Phú, chỉ có Tài bàn phú (Nguyễn Thiện

Kế) là theo cổ thể bằng thể tứ tự Chiếm u thế tuyệt đối về số lợng là phú Đờng luật(luật phú) Về điều này đã đợc một số nhà nghiên cứu đề cập Dơng Quảng Hàm

cho rằng phú Đờng luật “là lối phú thông dụng nhất”[11, tr.129] GS Bùi Văn Nguyên cũng khẳng định: “Nếu phú cổ thể ít đợc dùng trong văn học quốc âm thì

hầu nh phú cận thể đợc dùng rất phổ biến” [28, tr.327] Những nhận xét nh vậy

còn có thể bắt gặp nơi này nơi khác nhng điều còn thiếu là cắt nghĩa thực trạng đó.Theo chúng tôi, có mấy lý do chính khiến phú Đờng luật đợc sử dụng phổ biến

Thứ nhất, phú Đờng luật là tiểu loại mà nho sĩ xa đào luyện để thi cử, từ đóthành thể thức quen thuộc nhất Thời trung đại văn cử tử chi phối vận mệnh của cảnền văn học, hiện tợng chúng ta đang nói cũng nằm trong tình hình chung đó Tuynhiên nếu nhìn rộng ra một tý, so sánh với phú Đờng luật ở Trung Quốc thì tìnhhình có khác Thành quả của phú Đờng luật ở Trung Quốc rất khiêm tốn Một nhànghiên cứu ở Trung Quốc đã nhận định: thi cử dới thời phong kiến rất chú trọng vềhình thức, vì vậy luật phú gần nh là một trò chơi về văn tự Trong khi ở Việt Namtiểu loại này không chỉ chiếm u thế tuyệt đối về số lợng, còn có nhiều đỉnh cao vềchất lợng, bởi vậy không nên xem việc sử dụng thể loại này ở Việt Nam chỉ nh mộtthói quen từ việc dùi mài cho thi cử

Thứ hai, khi sử dụng thể phú Đờng luật để sáng tác thì nhạc tính của tiếngViệt đợc phát huy cao độ, đáp ứng đợc cảm thức ngôn từ của ngời Việt xa Dơng

Quảng Hàm cho rằng: “Văn chơng của Tàu và ta rất chú trọng về âm điệu, nghĩa

là lời văn đặt sao cho êm ái, nhịp nhàng, khiến cho khi đọc khi ngâm, đợc vui tai, sớng miệng Bởi thế không những trong văn vần mà cả trong văn xuôi cũng chú trọng đến âm luật, nghĩa là các tiếng bằng, trắc, các thanh phù, trầm phải sắp đặt cho khéo để câu văn khỏi trúc trắc khó nghe; lại hay dùng phép đối (biền ngẫu), nhiều khi văn thờng đợc đặt thành hai đoạn đối nhau, hoặc hai câu đối nhau, ngay trong một câu văn cũng thờng có những đoạn con đối nhau và những chữ đơn, chữ kép phải sắp đặt sao cho cân cắn không so le thì đọc lên mới đợc êm ái dễ nghe ”

[11, tr.196-197]

Thể thức phú Đờng luật cũng rất thuận lợi với nhu cầu trữ tình của ngời Việt

Nam GS Bùi Văn Nguyên khẳng định: “Chức năng của phú là miêu tả, tả cảnh,

tả tình nói chung Nhng phú vốn là từ thơ mà ra, cho nên nhà văn thờng dùng phú

mà tự tình để có một dung lợng khá lớn, trong chừng mực khuôn khổ của thơ, kể cả thơ bài luật vẫn là chật hẹp” [28, tr.81] Khi tác phẩm phú đợc dùng để trữ tình,

Trang 27

ngôn ngữ của nó mang đặc điểm chung của ngôn ngữ loại hình trữ tình, đợc tổchức chặt chẽ về ngữ điệu và nhịp điệu Sự đối lập giữa thanh bằng và thanh trắctạo nên sự trầm bổng, sự tơng ứng hoặc đối lập về trờng độ của các ngữ đoạn tạonên tiết tấu phong phú cho ngôn từ… ……… 1 Những điều này kết hợp tạo ra nhạc tính gópphần biểu hiện cảm xúc của con ngời Với những đặc điểm riêng của mình khichuyển tải nội dung trữ tình, phú vẫn tồn tại ngay cả thời kỳ thơ trữ tình thịnh đạtnhất Và phú cũng không bị tan biến vào văn xuôi Một nhà nghiên cứu Trung

Quốc đã nói về ngôn ngữ phú nh sau: “Ngôn ngữ ở đây chẳng những để truyền đạt

t tởng, mà còn giống nh âm thanh giai điệu trong âm nhạc, bản thân là một sự truyền đạt trực tiếp về mặt nghệ thuật”[15, tr.240].

Trên đây là hai lý do cơ bản khiến hình thức phú Đờng luật đợc sử dụng phổbiến khi sáng tác Chính vì vậy trong phần này chúng tôi sẽ tìm hiểu những đặc

điểm về hình thức từ hình thức tổng thể, đoạn mở đầu, đoạn kết thúc, hình thức câuvăn cho đến vần và nhịp trong phú (dựa trên ngữ liệu chủ yếu là những tác phẩmphú tiếng Việt thuộc tiểu loại phú Đờng luật)

2.1.1 Hình thức tổng thể của phú tiếng Việt

ở trên chúng tôi đã dẫn lời một số nhà nghiên cứu khẳng định việc đại bộphận phú tiếng Việt viết theo thể Đờng luật Bởi vậy tìm hiểu hình thức tổng thểcủa văn bản phú tiếng Việt thực chất là tìm hiểu hình thức tổng thể của phú Đờngluật đã đợc tuân thủ nh thế nào ở phú tiếng Việt

Bố cục một bài phú Đờng luật đầy đủ có sáu phần: lung khởi, biện nguyên,thích thực, phu diễn, nghị luận và phần kết Tuy nhiên, theo GS Bùi Văn Nguyên

thì “thực chất một bài phú thờng gồm bốn đoạn: mở đầu, giải thích, bình luận và

kết” [28, tr.256] Trong 40 bài phú tiếng Việt (có tác giả) mà chúng tôi khảo sát

trong Phú Việt Nam cổ và kim (Phong Châu và Nguyễn Văn Phú tổng hợp), có tới

21 bài không đầy đủ các phần Trong đó bài có bốn phần gồm 4 bài (Đại Đồng

phong cảnh phú của Nguyễn Hàng, Thầy đồ đi trọ phú của Trần Tế Xơng, Xem cờ

để mảnh phú của Nguyễn Hổ Trừu và Tù xuân phú của Nguyễn Xuân Từ); 17 bài

còn lại có 5 phần Bài dài nhất là Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lợng gồm

1800 chữ, bài ngắn nhất là Xem cờ để mảnh phú của Nguyễn Hổ Trừu chỉ có 198

chữ

Trong Phú Nôm, soạn giả Vũ Khắc Tiệp viết: “Trong tập phú này gần hết là

những bài dùng độc vận cả, cho nên các bộ phận không đợc đầy đủ” [36, tr 34].

Lập luận của soạn giả dựa trên những chứng cớ khá hiển nhiên, nhng theo chúngtôi thì quan hệ giữa vần và bố cục không phải lúc nào cũng theo kiểu nhân quả nh

vậy Tụng Tây Hồ phú(độc vận: hồ) của Nguyễn Huy Lợng là một chứng cớ Trớc

Trang 28

khi phú đợc dùng trong thi cử thì yêu cầu về vần, số đoạn trong bài phú còn lỏnglẻo Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, việc đa ra quy định về số đoạn, về vần,thậm chí quy định phải theo thứ tự các vần là yêu cầu của văn cử tử, để ràng buộcngời làm phú và cốt để chủ khảo dễ phân định ngôi thứ Chính vì điều này mà tìnhtrạng nhiều bài phú tiếng Việt không đầy đủ các phần trong bố cục cần phải đợcnhìn nhận trớc hết từ mục đích sáng tác trong phú tiếng Việt Hơn nữa chữ Nômtuy có nhiều điểm tơng đồng với chữ Hán và có lợng từ Hán – thi phú Annam” Việt lớn nhng xét ởphơng diện tâm lý văn học thì cả xã hội, cả ngời sáng tác, cả ngời thởng thức thờitrung đại đều có sự phân biệt ngôi thứ giữa phú chữ Hán và phú chữ Nôm (phútiếng Việt), tuy từng nơi từng lúc mức độ có khác nhau Thành kiến với các sángtác bằng chữ Nôm là có tác dụng tiêu cực, điều ấy đã rõ Nhng việc không đặt tácphẩm chữ Nôm ngang hàng với chữ Hán khiến nó không bị ràng buộc quá chặt chẽbởi những quy phạm nghệ thuật phong kiến Phần lớn những bài phú tiếng Việt nàykhông đợc đánh giá bằng những tiêu chuẩn có tính chất quan phơng, do vậy ngờiviết không nhất thiết phải triển khai tác phẩm với đầy đủ các phần, mà làm sao cốt

thể hiện đợc chủ đích nghệ thuật của mình Chẳng hạn bài Xem cờ để mảnh phú

của Nguyễn Hổ Trừu Bài phú diễn tả sự đắc chí của các nho sinh khi thấy một côgái hàng xóm sang ngồi chơi hớ hênh Họ không để ý gì đến sách vở, chữ nghĩanữa Bất ngờ hơn là thầy học của họ cũng nói ra thành lời nỗi tiếc rẽ là mình không

đợc chứng kiến cảnh bất thờng đó:

ối trời ôi! ối đất ôi!

Thế mà hôm qua không có tôi!

Bài phú cha đầy hai trăm chữ Thật khó hình dung nổi nội dung tác phẩm

nh vậy lại đợc triển khai thành sáu phần đầy đủ nh một bài phú chuẩn mực Bàiphú này giống nh một hoạt cảnh ngắn nhng rất sinh động với hai nhân vật thầy vàtrò

Hiện tợng tác phẩm không đủ tất cả các phần cũng thờng gặp ở phú chữ

Hán Chẳng hạn nh những bài phú của Đoàn Nguyễn Tuấn: Ngũ hiểm than phú chỉ có bốn đoạn, Nhạc dơng lâu phú chỉ có năm đoạn… ……… 1 Một điều có thể khẳng

định đợc là tỷ lệ những bài phú có đầy đủ các phần ở phú chữ Hán cao hơn phú

tiếng Việt Ví dụ tất cả các bài phú chữ Hán đợc tuyển trong Tổng tập văn học Việt

Nam (tập 7) đều đủ sáu phần Phú tiếng Việt nhiều bài không đủ sáu phần không

phải do độc vận, mà do khi viết phú quốc âm, tâm thế của tác giả tự do thoải máihơn

Trong phú tiếng Việt, hình thức khách - chủ phú hầu nh không đợc dùng.Xây dựng tác phẩm phú qua việc chia ngôi chủ - khách vấn đáp là lối phổ biến đời

Trang 29

Hán Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã chỉ ra một cách rất đúng đắn rằng ý nghĩachủ yếu của lối triển khai tác phẩm nh thế này là làm tăng tính chất thuyết lý củatác phẩm Phú chữ Hán Việt Nam đời Trần, đời Hậu Lê thỉnh thoảng dùng lối này.Trong tất cả những bài phú tiếng Việt mà chúng tôi đợc biết, qua khảo sát thìkhông có bài nào theo lối khách - chủ phú Đây lại thêm một cứ liệu để khẳng định

về hai điều Thứ nhất, phú tiếng Việt chủ yếu theo lối Đờng phú chứ không phảitheo lối Hán phú Thứ hai, phú tiếng Việt không chú trọng lý thuyết mà nghiêng vềtrữ tình

Tóm lại khi viết bằng tiếng Việt, ngời làm phú không nhất thiết phải triểnkhai tác phẩm với đầy đủ các phần mà điều quan trọng hơn là thể hiện đợc chủ

đích nghệ thuật, phù hợp với nhu cầu thẫm mỹ, nhu cầu trữ tình, nhu cầu phát huycái hay, cái đẹp của ngôn ngữ tiếng Việt Chính điều này tạo nên những phá cách

độc đáo trong nghệ thuật của phú tiếng Việt, làm nên những giá trị mới cho vănchơng

2.1.2 Hình thức đoạn mở đầu trong phú tiếng Việt

Trong một bài phú đoạn mở đầu không bao giờ khuyết Điều đó có nghĩa làtrong một bài phú không đủ sáu phần thì phần khuyết sẻ rơi vào các phần khác

Trong cuốn Thơ ca Việt Nam – thi phú Annam” Hình thức và thể loại, GS Bùi Văn Nguyên đã

nhận định: “Cách sắp đặt đoạn mạch trong một bài phú Đờng luật cũng chặt chẽ

nh trong một bài thơ Đờng luật, nghĩa là cũng có khai, thừa, thực, luận, kết ( … ).Đây là nói chung, thực chất một bài phú th ờng gồm bốn đoạn: đoạn mở, đoạn giải thích, đoạn bình luận và đoạn kết” [28, tr.256] Nh vậy theo GS Bùi Văn

Nguyên thì các phần thiếu trong một bài phú Đờng luật không đầy đủ thờng làthích thực và phu diễn Đây là một nhận định đúng và sát với thực tế tác phẩm

Trong 39 bài phú tiếng Việt thuộc diện khảo sát(40 bài, trừ bài Tài bàn phú của

Nguyễn Thiện Kế không làm theo thể Đờng luật), tất cả đều có phần mở đầu Có

21 bài không đầy đủ các phần, trong đó có 4 bài thiếu cả hai phần thích thực và

phu diễn là: Đại Đồng phong cảnh phú của Nguyễn Hàng, Thầy đồ đi trọ phú của Trần Tế Xơng, Xem cờ để mảnh phú của Nguyễn Hổ Trừu và Tù xuân phú của

Nguyễn Xuân Từ; số còn lại (17 bài) thiếu một trong hai phần trên

Cũng theo GS Bùi Văn Nguyên thì “ở đoạn mở đầu cũng nh ở phần đầu

mỗi đoạn không dùng câu dài nh câu cách cú hay tất hạc, mà chỉ dùng câu ngắn

nh bát tự, song quan rồi mới đến câu dài” [28, tr.256] Theo chúng tôi thì đây là

nhận xét có phần áp đặt và không sát với thực tế tác phẩm, đặc biệt là đối với phútiếng Việt Trong 39 bài phú thuộc diện khảo sát, chúng tôi thấy ở đoạn mở đầu

các tác giả đã sử dụng rất nhiều kiểu câu khác nhau chứ không “chỉ dùng những

Trang 30

câu ngắn nh bát tự, song quan” Tác giả có thể mở đầu bài phú bằng những câu tứ

Long lanh sắc nớc, bát ngát hơng trời.

Đôi bờ bến cũ, một lá thuyền câu.

(Hơng Giang thu phiếm – thi phú Annam” Phan Bội Châu)

Hay kết hợp rất nhiều kiểu câu:

Hàn vơng tôn!

Hàn vơng tôn!

Vũ khúc giáng thần,

Kim kê ứng thuỵ.

Kinh sử năm xe chứa chất, ngang trời dọc đất ấy kinh luân;

Tôn, Ngô bảy quyển làu thông, đè sóng xông mây là chí khí.

Sạch sành sanh kẻ đói kẻ giầu;

Truốt luột luột nhà lim, nhà một.

(Phú Trung Lễ thất hoả - Lê Trọng Đôn)

Tác giả cũng có thể mở đầu bằng những câu dài nh câu cách cú, tất hạc:

- Bốn lần đào nở, cảnh hoà bình báo đã mấy tin xuân?

Muôn trái tim sôi, cuộc thống nhất hỏi bao giờ tính sổ?

Trang 31

Rồi tiếp đến hăm ba tháng chín, thằng Tây quay lại, xe tăng đại bác đi đầu; Cũng mùa thu này ngày hăm ba, Nam bộ thét vang, dao mác tầm vông cản mũi.

Thà chết không chịu làm nô lệ, miền Nam nếm mật nằm gai, mới tô đậm nét Thành đồng Tổ quốc rạng danh;

Quyết đứng lên diệt giặc đến cùng, miền Bắc vào sinh ra tử, nên khắc sâu

đài chiến thắng Điện Biên tên tuổi.

(Miền Nam bất khuất phú – thi phú Annam” Ba Dân)

Hoặc có thể kết hợp cả hai kiểu câu dài cách cú và tất hạc:

Đông qua xuân lại, nền Cộng hoà luẩn quẩn đã bốn năm “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ”

Năm hết tết về, tuổi Tổng thống cập kê gần sáu chục “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ”

Chạnh nghĩ phận dân cùng, khố rách, lang thang mấy độ, đội ơn trên tiếng hão tự do ; “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ”

Nên mợn dòng giấy trắng, mực đen, mách qué vài vần, mừng đời mới thêm bóng ma hạnh phúc “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ”

(Phú chúc tết Ngô Chí “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), … ” – thi phú Annam” Tú Sụn) Sỉ

Bàn về đoạn mở đầu tác phẩm phú, Phong Châu và Nguyễn Văn Phú nhận

định có phần hợp lý hơn: “Thờng bao giờ mở đầu cũng là những câu bốn chữ rồi

tám chữ, rồi đến những câu song quan, cách cú, gối hạc” [3, tr.76] Theo t liệu

khảo sát, chúng tôi thống kê đợc trong số 25 bài phú cổ thì chỉ có hai bài là Bắc sở

tự tình phú của Lê Quýnh và Bài phú Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất của Phạm

Văn Nghị đợc mở đầu bằng những câu dài (câu cách cú) Số còn lại đều sử dụngnhững câu ngắn để mở đầu, mà chủ yếu là câu tứ tự (20 bài), câu bát tự (1 bài), câusong quan (2 bài) Ngợc lại trong số 15 bài phú mới thì có tới 7 bài sử dụng loạicâu dài cách cú và tất hạc để mở đầu tác phẩm Điều này cho thấy có sự khác biệtrất nhiều trong hình thức đoạn mở đầu giữa phú cổ và phú mới Theo chúng tôitrong phú cổ, tính chất quy phạm dẫu sao cũng ảnh hởng rất lớn đến các tác giả lànhững sĩ tử trờng thi Còn trong các tác giả phú mới mặc dù cũng có những ngời đ-

ợc đào luyện trên con đờng cử tử nhng tính chất “học – thi phú Annam” thi – thi phú Annam” làm quan” không

còn là vấn đề quan trọng hàng đầu nữa Đối với họ hai chữ “phạm quy” không cần

phải để ý nhiều nh trớc Cách viết của họ cũng phóng khoáng hơn, có rất nhiều

những “phá cách”, phạm luật Chính điều này mang đến cho tác phẩm của họ

những nét độc đáo, tạo nên những thành công trong nghệ thuật

Tóm lại, hình thức đoạn mở đầu trong bài phú rất đa dạng và phong phú

Đây là đoạn luôn luôn có mặt trong một tác phẩm phú Trong cái đa dạng về hìnhthức ấy, vẫn có sự khác nhau rất lớn giữa phú cổ và phú mới

Trang 32

2.1.3 Hình thức đoạn kết thúc trong phú tiếng Việt

Cũng giống nh đoạn mở đầu, đoạn kết thúc trong một bài phú không bao giờkhuyết Nó cũng đợc các tác giả triển khai rất đa dạng và phong phú về hình thức.Các kiểu câu tứ tự, bát tự, song quan, cách cú, tất hạc đều có mặt trong đoạn kếtcủa các bài phú tiếng Việt Tất nhiên mỗi bài có một cách kết thúc và sử dụng cáckiểu câu khác nhau Chẳng hạn:

Toà nhà Khai Trí bên đền, trống bài điểm chát! tom! thái th “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ờng quá nhỉ!

Vờn cảnh Bôn Be trớc mặt, khách phồn hoa nhộn nhịp, vui vẻ xiết bao!

(Hồ Gơm phú – thi phú Annam” Tú Mỡ)

Hay kết bằng những câu dài:

Năm chó đã toàn tin chó chết , thân chó đành lâm b “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” ớc gian nan; Tết heo còn lắm chuyện heo toi , kiếp heo liệu thoát bề khổ nhục? “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” Ngó quá khứ , cần lao ch “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” a phỉ, lao, lao thêm cho chóng đến … nhà mồ; Nhắm tơng lai, thăng tiến thật hăng, tiến, tiến mãi để mau về “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” … địa ngục.

(Phú chúc tết Ngô Chí “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), … ” – thi phú Annam” Tú Sỉ

Sụn)

Trong 40 bài phú mà chúng tôi khảo sát, có 15 bài các tác giả sử dụng cáckiểu câu dài cách cú và tất hạc để kết thúc Số còn lại là dùng những câu ngắn màchủ yếu là câu tứ tự (18 bài); câu bát tự và song quan chỉ có năm bài

Trong số 15 bài phú mới thì có tới 10 bài là sử dụng những câu dài để kếtthúc, chiếm tỷ lệ hơn 66,6% Điều này chứng tỏ trong phú mới tính chất văn xuôi

đậm nét hơn Các câu dài dẫu sao cũng tạo cho ngời đọc cảm giác “văn” rất lớn;

đành rằng trong phú chất thơ vẫn đợc các yếu tố nh vần, nhip, đối duy trì đều đặn

Nghiên cứu các thể loại văn học di thực sang một đất nớc khác, điều khiếncác nhà nghiên cứu rất quan tâm là sự thay đổi của chúng Riêng thể phú, B.L.Riptin - nhà ngữ văn học Xô viết trớc đây cho rằng cái mới của phú Việt Nam là có

những câu thơ ở phần kết: “Thể phú sau khi phổ biến ở Việt Nam vào thế kỷ XIV

XV đã có một số thay đổi về kết cấu của những đề tài truyền thống (đã xuất hiện

– thi phú Annam”

những đoạn thơ kết luận trớc đây cha có ở thể phú Trung Quốc)” [29, tr.120].

Trong số 40 bài phú tiếng Việt (có tác giả) đợc tập hợp trong Phú Việt Nam cổ và

Trang 33

Kim (sđd), có hai bài sử dụng “những đoạn thơ kết luận”; đó là: Phú ông đồ ngông

của Nguyễn Khuyến và Hơng giang thu phiếm của Phan Bội Châu Thực ra thì hiện tợng này đã có ở phú Trung Quốc thời Lục triều, chẳng hạn Xuân phú của Dĩu Tín

mở đầu và kết thúc bằng bài thơ thất ngôn Các nhà nghiên cứu Trung Quốc chorằng chức năng chính của những câu thơ là nhằm làm tăng chất trữ tình của tác

phẩm Trong bài phú các đoạn thơ nh vậy đợc gọi là lời ca Lời ca có cả trong phú

chữ Hán và phú tiếng Việt, đơn cử trong phú tiếng Việt (khuyết danh) có các bài

nh: Lắm mối tối nằm không phú, Mẹ ơi con muốn lấy chồng phú, Hồng nhan bạc

phận phú Về điều này soạn giả Vũ Khắc Tiệp giải thích: “Làm phú có lối đến cuối bài, bao nhiêu ý tứ đã nói hết thì làm một bài thơ hay một bài ca để cho ý trong bài đợc sung thiệm hơn” [36, tr.45] Nhìn chung, tác dụng của phần thơ này

cũng giống nh ở phú chữ Hán và phú Trung Quốc Chúng đều là những điểm nhấnthẫm mỹ Còn nội dung thẫm mỹ thì tuỳ thuộc từng bài phú cụ thể Xu hớng chungvẫn là nh truyền thống, tức là làm tăng thêm chất trữ tình cho tác phẩm

Có một điều cần phải bàn thêm là trong hai đoạn thơ kết luận này, các tác

giả đều sử dụng trợ từ ngữ khí “hề” chen vào Thêm vào một từ “hề” sẽ làm giảm

đáng kể màu sắc của câu thơ và làm tăng màu sắc của câu phú Sự ngắt nhịp ở chữ

“hề” có tác dụng nhấn mạnh ý nghĩa của ngữ đoạn phía sau, chẳng hạn:

Thơ đầy túi, hề rợu đầy lng bầu.

Ngang trời, dọc đất hề một thuyền câu

Gió hiu hắt hề hơi thu

Khoảng rừng đông hề chốc mây mù.

Sóng bể dậy hề chốc mù mù

Thuyền ta, thuyền ta hề bát cạy mau

Ngâm một khúc phá thiên sầu hề ai biết

Thuyền ông nay ở đâu?

(Hơng giang thu phiếm – thi phú Annam” Phan Bội Châu)

ở bài Thầy đồ ngông phú của Nguyễn Khuyến, đoạn thơ kết thúc gồm 12

câu, 6 câu có trợ từ “hề” Đây chính là minh chứng còn sót lại của loại câu chủ yếu trong Sở từ.

Nh vậy hình thức đoạn kết thúc trong bài phú cũng lắm vẽ, nhiều kiểu loại.Trong phú mới thì nó mang đậm tính chất văn xuôi hơn nhờ sử dụng rất nhiều câudài Bên cạnh việc tạo nên sự phong phú về hình thức thì các đoạn thơ kết luậnchính là những điểm nhấn thẫm mỹ làm tăng thêm chất trữ tình cũng nh thực hiện

ý đồ nghệ thuật riêng của tác phẩm

2.1.4 Hình thức câu trong phú tiếng Việt

Trang 34

Đại bộ phận phú tiếng Việt viết theo thể phú Đờng luật, bởi vậy chúng ta chỉtìm hiểu các loại câu của tiểu loại này Phú Đờng luật có các loại câu sau:

* Câu tứ tự: Mỗi vế có 4 chữ; chữ cuối vế trên đối với chữ cuối vế d ới Vídụ:

Nghĩ đến thôn dân,

Ngán ngay hủ tục!

(Dân ngu phú – thi phú Annam” Tú Mỡ)

* Câu bát tự: Mỗi câu có hai vế, mỗi vế bốn chữ Chữ cuối vế trên và chữcuối vế dới thanh bằng hoặc thanh trắc đối nhau Ví dụ:

Nón sơn úp ngực, đi liểu đi liều.

Bút thuỷ cài tai, sớn sơ sớn sở.

(Bài phú ông đồ ngông – thi phú Annam” Nguyễn Khuyến)

* Câu song quan: Câu gồm hai vế, mỗi vế từ sáu đến chín chữ, chữ cuối mỗi

vế bằng trắc đối nhau Ví dụ:

Cơm hai bữa cá kho rau muống;

Quà một chiều khoai lang lúa ngô.

(Thầy đồ đi trọ phú – thi phú Annam” Trần Tế Xơng)

* Câu cách cú: Mỗi câu có hai vế, mỗi vế chia làm hai phần, một phần dài vàmột phần ngắn Chữ cuối của phần thứ nhất từng vế (gọi là sáp cớc) và chữ cuốicủa từng vế (gọi là chữ đậu câu) phải bằng trắc đối nhau Nếu chữ sáp cớc là vầntrắc thì chữ đậu câu phải là vần bằng, nếu chữ sáp cớc là vần bằng thì chữ đậu câulại phải là vần trắc Ví dụ:

Thầy chắc hẳn văn chơng có mực, mợn khách xem dò;

Cô mừng thầm mũ áo đến tay, gặp ngời nói mộng.

(Hỏng thi phú – thi phú Annam” Trần Tế Xơng)

* Câu gối hạc (hạc tất): Là loại câu dài, hai vế, mỗi vế ba phần Chữ cuốimỗi phần vế trên và chữ cuối mỗi phần vế dới bằng trắc đối nhau Ví dụ:

áo vải thô nặng trịch, lạnh làm mền, nực làm gối, bốn mùa thay đổi bấy nhiêu;

Khăn lau giắt đỏ lòm, giải làm chiếu, vận làm quần, một bộ ăn chơi quá thú

(Hàn nho phong vị phú – thi phú Annam” Nguyễn Công Trứ)

Theo t liệu mà chúng tôi đã khảo sát thì trong 39 bài phú tiếng Việt làm theo

thể phú Đờng luật (trừ Tài bàn phú của Nguyễn Thiện Kế) các tác giả sử dụng tất

cả các loại câu trên Tất nhiên các loại câu sẽ có mặt đầy đủ hoặc không đầy đủtrong mỗi bài phú Tổng cộng có 1247 cặp câu, tỷ lệ phần trăm các loại câu nh sau:

Trang 35

Bát tự 83 cặp câu (9,9%) 28 cặp câu (6,9%) 111 cặp câu (8,9%)

Song quan 192 cặp câu

1247 cặp câu (100%)

Nhìn vào bảng số liệu chúng ta thấy loại câu bát tự ít đợc sử dụng nhất(8,9%); câu cách cú là loại câu đợc sử dụng phổ biến trong phú (43,1%) Các loạicâu còn lại sử dụng với tỷ lệ khá cân bằng Tuy nhiên các loại câu này tỷ lệ sửdụng ở trong phú cổ và phú mới hoàn toàn khác nhau Các loại câu ngắn nh: tứ tự,bát tự, song quan trong phú mới đều giảm nhiều về tần số sử dụng so với phú cổ.Trong số 204 cặp câu tứ tự, 111 cặp câu bát tự và 252 cặp câu song quan thì phú cổchiếm phần chủ yếu:

* Câu tứ tự: Phú cổ: 142 cặp câu, chiếm tỷ lệ 69,6%

Phú mới: 62 cặp câu, chiếm tỷ lệ 30,4%

* Câu bát tự: Phú cổ: 83 cặp câu, chiếm tỷ lệ 74,8%

Phú mới: 28 cặp câu, chiếm tỷ lệ 25,2%

* Câu song quan: Phú cổ: 192 cặp câu, chiếm tỷ lệ 76,2%

Phú mới: 60 cặp câu, chiếm tỷ lệ 23,8%

Ngợc lại loại câu dài, đặc biệt là câu gối hạc, tần số sử dụng trong phú mớităng phổ biến, từ 6,8% lên đến 21,1% Trong tổng số 143 câu gối hạc thì có tới 86câu thuộc về phú mới chiếm hơn 60,1%

Với con số đã thống kê ở trên chúng ta thấy lại có thêm một cơ sở nữa đểkhẳng định về tính chất văn xuôi đậm nét trong phú mới so với phú cổ Việc ít sửdụng những loại câu ngắn, chủ yếu sử dụng những loại câu dài trong phú mới gắnliền với quá trình phát triển tự nhiên của phú ở Việt Nam cùng với sự phát triển củangôn ngữ tiếng Việt

2.1.5 Vần và nhịp trong phú tiếng Việt

Thể phú có lịch sử tồn tại rất lâu dài ở Trung Quốc quãng thời gian ấy cótới hai ngàn năm; ở Việt Nam cũng ngót ngàn năm Nhiều đặc tính của phú đã có

Trang 36

những thay đổi đáng kể theo thời gian, nhng có một đặc tính căn bản luôn đợc bảolu: phú đứng giữa thơ và văn xuôi Về phơng diện hình thức, nếu nh các kiểu câu

dài (gối hạc, cách cú) tạo nên tính chất “văn” của phú thì hai yếu tố quan trọng tạo

nên tính chất thi ca của thể tài này là vần và nhịp điệu Sau đây chúng tôi sẽ lần l ợttìm hiểu hai yếu tố này

2.1.5.1 Vần

Vần là một yếu tố quan trọng của thể phú Cùng với đối, vần là yếu tố cơbản để các nhà nghiên cứu dựa vào đó mà vạch ra những giai đoạn phát triển củathể tài này và phân chia thành các tiểu loại của nó Tìm hiểu vần trong phú tiếngViệt, chúng tôi sẽ không dành nhiều tâm lực để chứng minh phú tiếng Việt tuânthủ cao độ những nguyên tắc về vần ở thể phú đã đợc đúc kết thành các điển phạm

Điều này là tất yếu Chúng tôi cho rằng sẽ có ý nghĩa hơn nếu chỉ ra đợc những đặc

điểm riêng hay thậm chí là những sự không tuân thủ các quy tắc về vần đã đợc đúc

kết trên cơ sở phú Trung Quốc Về t liệu khảo sát, chúng tôi chọn cuốn Phú Việt

Nam cổ và kim (sđd) để khảo sát Trong cuốn này chúng tôi cũng chỉ chọn những

bài phú tiếng Việt có tác giả Đây là tuyển tập những bài phú đợc phiên âm ra quốcngữ khá sớm Cuốn sách tập hợp đợc một số lợng tác phẩm phong phú của nhiềutác giả, nhiều thời kỳ Có cả phú chữ Nôm đợc phiên âm ra quốc ngữ và phú viếtbằng chữ quốc ngữ; có cả phú cổ và phú kim, có cả phú khuyết danh và khôngkhuyết danh

nghiên cứu cho biết “do khuôn khổ của các bài phú tơng đối dài nên thờng thờng

phải đổi vần, loại phú từ đầu đến cuối chỉ có một vần là rất ít”[3, tr.69].

Cách cắt nghĩa mà chúng tôi vừa nói tới ở trên, rằng phú phải đổi vần vì độdài của tác phẩm, tỏ ra không phù hợp với phú tiếng Việt Bài dài nhất ở phú tiếng

Việt là Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lợng Bài phú gồm 1800 chữ, gấp

khoảng bốn lần độ dài mà một bài phú cử tử yêu cầu, và bằng ba phần t độ dài của

Lam Sơn Lơng Thuỷ phú của Lê Thánh Tông – thi phú Annam” bài dài nhất trong phú chữ Hán

Việt Nam Vậy mà đó là bài phú độc vận (vần “hồ”) Hơn nữa xét trong nội bộ phú

tiếng Việt, không phải cứ bài nào nhiều vần cũng có dung lợng lớn Bởi vậy theochúng tôi vấn đề là ở chỗ khi viết bằng chữ Hán ngời ta phải tuân thủ chặt chẽ cácquy tắc (trong đó có quy tắc kết hợp chuyển vần với chuyển đoạn mà các nhà

Trang 37

nghiên cứu đã đúc kết) Một số lợng đáng kể những bài phú tiếng Việt viết theoyêu cầu đa dạng của cuộc sống nên không nhất thiết phải theo phép tắc của văn cử

tử cũng là điều dễ hiểu

Có nhiều bài phú tiếng Việt độc vận vẫn có dung lợng lớn và thuần thục

Điều đó chứng tỏ vốn từ tiếng Việt từ xa đã rất phong phú Hàn nho phong vị phú của Nguyễn Công Trứ dùng độc vận “khó”, tất cả các câu sau đều thuận vần không

gò ép: nó, có, cỏ, gió, dỗ, nhố, ngó, bỏ, ngỏ, … Bài Lợng nh long phú của Nguyễn

Tắc Dĩnh – thi phú Annam” một trong những bài phú Nôm cổ, độc vận “rồng” làm vào thời kỳ nhà Lê vậy mà các vần đều rất thuận: rồng, tông, mong, dòng, trông, xông, phong,

công, hồng, sông, không,… Hoặc các bài phú mới sau này Ví dụ: Tối hậu phú … gửi Ngô Chí Sĩ “sự khúc xạ rõ rệt nhất là ở thể phú (…), ” của Chu Hà dùng độc vận “sĩ”, các tiếng hiệp vần: nhỉ, nhị, quỷ,

tị, chỉ, khí, sĩ, kỹ, khỉ, ị, tuý, quy, thí, thị, trị, tỷ, đĩ,…hay Nhắn gửi họ Ngô của

Nguyễn Ngọc Tỉnh độc vận “ngô”, các tiếng hiệp vần là: sổ, đổ, cố, bố, khổ, tổ, hố,

cổ, thổ, lộ, độ, hộ, …

Quan niệm về vần của các tác giả làm phú tiếng Việt không thật chặt chẽ

Ngay những tác phẩm nổi tiếng cũng có hiện tợng vần không chặt Tụng Tây Hồ

phú độc vận “hồ” nhng có những chỗ gieo vần theo khuôn âm khá xa: mua, bùa, rùa, vụ, chùa, rù, khu, thu, mùi, thù,… ……… 1 Trong Trơng Lơng hầu phú của Nguyễn

Hữu Chỉnh, các chữ gieo vần là: tợng, tởng, nhợng, táng, nhoáng, đáng, choáng,

láng, … Thực ra những trờng hợp trên chỉ là vần gần, ở văn chơng chữ Hán có thể

không đợc chấp nhận ở Trung Quốc xa đã có những bộ sách quy định các bộ vần

mà ngời làm văn chơng phải tuân theo Ngời Việt Nam khi sáng tác văn chơngbằng chữ Hán cũng phải tuân theo những chuẩn mực đó Còn khi làm thơ văn bằngtiếng Việt, họ mô phỏng chúng hoặc theo sự thẩm âm của mình

b) Hiện tợng trùng vần

Một trong những điều cấm kị của phép làm phú là trùng vần Theo Vũ Khắc

Tiệp thì “khi trong một bài phú, một vần ở trên đã dùng, dới lại hạ vần ấy là trùng

vần”[36, tr.21] Thực ra điều này đã đợc quy định từ lâu ở Trung Quốc Vần của

phú là vần chân dựa trên nguyên tắc không trùng lặp Nó chấp nhận hiện tợng đồng

âm nhng khác nghĩa Quy ớc này không chỉ áp dụng ở phú mà còn cả ở thơ Đờngluật ở phú chữ Hán Việt Nam, hiện tợng trùng vần rất ít gặp, trong khi đó ở phútiếng Việt thì trùng vần diễn ra khá phổ biến Chúng ta có thể kể đến các tác phẩm

nh: Xem cờ để mảnh phú (Nguyễn Hổ Trừu) trùng vần “ra”, Thế tục phú (Trần Văn Nghĩa) trùng vần “mốc”, “phúc”, Hỏng thi phú (Trần Tế Xơng) trùng vần

“hỏng”, Tần cung nữ oán Bái công (Đặng Trần Thờng) trùng vần “tình”, Dân ngu

phú (Tú Mỡ) trùng vần “mốc”… ……… 1

Trang 38

Những bài phú trên đều có nội dung thế tục đậm đà, phóng túng, nghệ thuật

điêu luyện Sự vi phạm về nguyên tắc gieo vần này thực sự không do non yếu mà là

do các tác giả không quan tâm lắm đến sự ràng buộc kiểu trờng quy mà thôi Biếtrằng gieo vần trùng là kị nhng ngời viết không nề hà và ngời đọc cũng không bắt

bẽ Chính lẽ đó đã tạo đợc những giá trị nghệ thuật độc đáo mang tính phá cách ởphú tiếng Việt

2.1.5.2 Nhịp

Nhịp cũng là yếu tố quan trọng tạo nên tính chất thi ca của phú Theo Bùi

Công Hùng thì “nhịp điệu là sự nối tiếp của các tiếng sắp xếp thành từng khung

đều đặn của giọng nói và theo thời gian”[17, tr.179] Từ điển thuật ngữ văn học

giải thích nhịp điệu là “một phơng tiện quan trọng để cấu tạo hình thức nghệ thuật

trong văn học, dựa trên sự lặp lại có tính chất chu kì, cách quãng hoặc luân phiên của các yếu tố có quan hệ tơng đồng trong thời gian hay quá trình nhằm chia tách

và kết hợp các ấn tợng thẫm mỹ Trong văn học nhịp điệu là sự lặp lại cách quãng

đều đặn và có thay đổi của các hiện tợng ngôn ngữ , hình ảnh, mô típ … nhằm thể hiện sự cảm nhận thẫm mỹ về thế giới, tạo ra cảm giác vận động của sự sống, chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của văn bản nghệ thuật”[9, tr.205] Để phân biệt

thơ ca ta với các thể thơ ca mô phỏng theo thơ ca Trung Quốc nh thơ Đờng luật,phú,… ……… 1 chẳng những cần nhận rõ sự khác nhau giữa cách gieo vần, mà còn phảinhận rõ sự khác nhau về tiết tấu trong cách ngắt nhịp Theo Bùi Văn Nguyên, HàMinh Đức thì nhịp của thơ ca ta là lẻ trớc, chẵn sau, còn nhịp của thơ ca của TrungQuốc là chẵn trớc, lẻ sau [28, tr.151]

Đối với phú – thi phú Annam” một thể tài mô phỏng thơ ca Trung Quốc thì cách ngắt nhịpchẵn/chẵn là rất phù hợp với các kiểu câu trong thể tài này Phú có hai loại câuchẵn là tứ tự (mỗi vế 4 chữ) và bát tự (mỗi vế 8 chữ chia làm 2 đoạn, mỗi đoạn 4chữ) Ngữ đoạn gồm 4 chữ và 6 chữ phổ biến nhất trong phú (ngời xa gọi là câu tứlục) Bên cạnh đó các loại câu khác nh cách cú, gối hạc cũng có thể dùng các ngữ

đoạn bốn chữ hoặc sáu chữ này Cách ngắt nhịp của phú thờng tơng xứng với cácngữ đoạn ở trong câu Chẳng hạn:

Câu tứ tự, nhịp 2/2:

Dấu lành/ sự cũ,

Nghiệp tốt/ đời xa.

(Cung trung bảo huấn – thi phú Annam” Bùi Vịnh)

Câu bát tự, nhịp 4/4:

Vài khoa thi hỏng,/ xót ruột tiền cơm,

Mấy tháng công non,/ bấm gan thóc nợ.

Trang 39

(Phú ông đồ ngông – thi phú Annam” Nguyễn Khuyến)

Câu song quan, nhịp 4/3:

Cổ bàn nhỏ to,/ chi sá kể

Quần áo dài vắn,/ há đâu cần.

(Tù xuân phú – thi phú Annam” Nguyễn Xuân Từ)

Câu cách cú, nhịp 4/6, 6/4 và 4/2/4:

Trăm năm thế cuộc,/ chở che đội lợng càn khôn;

Một dải trời nam,/ gây dựng nhờ tay tạo hoá.

Tản Lĩnh cao tày Thái Đại,/ rạng vẻ thần minh;

Nhĩ Hà sâu sánh Giang Hoài,/ nối dòng vơng tá.

Chốn chốn gỗ thông,/ gỗ trắc,/ cây cũng thơm tho;

Nơi nơi khóm trúc,/ khóm lan,/ cỏ càng thanh thả.

(Bài phú Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất – thi phú Annam” Phạm Văn Nghị)

(Bài phú Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất – thi phú Annam” Phạm Văn Nghị)

Bên cạnh các kiểu ngắt nhịp chẵn/chẵn hoặc chẵn trớc lẻ sau theo phú TrungQuốc thì cách ngắt nhịp lẻ ở phú tiếng Việt, đặc biệt là ở phú mới cũng rất phổbiến Ví dụ:

(Phú cải lơng – thi phú Annam” Nguyễn Thợng Hiền)

Theo chúng tôi, trong phú mới các tác giả đã sử dụng rất nhiều thành ngữ,tục ngữ; mà nhịp trong thành ngữ, tục ngữ thì đa dạng và linh hoạt vô cùng Trong

Trang 40

một đơn vị thành ngữ, tục ngữ có thể có nhiều loại nhịp Có những câu do thóiquen của từng ngời hay tuỳ theo nhu cầu nhấn mạnh ý khi sử dụng mà sự ngắt nhịp

có thể thay đổi Đặc biệt trong tục ngữ có nhịp đậm và nhịp nhạt Nhịp nhạt là nhịpngắt hai vế trong một câu đơn và do đó khi đọc ngắt hơi rất nhanh Nhịp đậm lànhịp ngắt giữa hai câu đơn (hai vế lớn) trong một câu ghép [5, tr.112-116] Chúngtôi cho rằng những đặc điểm trên đây phù hợp một cách lý tởng với câu văn củaphú Có những câu phú rất hay mà thực chất chỉ là chắp mấy câu thành ngữ, tụcngữ và thêm vào vài từ đa đẩy:

Thảm đến ai vạch lá tìm sâu, đợc lòng đất mất lòng đò, nghĩ sao cho phải; Hay chỉ rán sành ra mỡ, buộc cổ mèo treo cổ chó, đến thế thì thôi.

(Phú cải lơng – thi phú Annam” Nguyễn Thợng Hiền)

Nh vậy nhịp trong phú tiếng Việt rất đa dạng và phong phú Nếu nh trongphú cổ cách ngắt nhịp chẵn/chẵn hoặc chẵn trớc, lẻ sau là chủ yếu thì trong phúmới, với việc sử dụng rất nhiều những thành ngữ, tục ngữ, nhịp trở nên rất đa dạng

và biến hoá linh hoạt Chính điều này cũng góp phần làm nên tính dân tộc đậm đàtrong phú tiếng Việt

2.2 Đặc điểm về từ ngữ của phú tiếng Việt

2.2.1 Các lớp từ ngữ giàu màu sắc tu từ

Từ ngữ là sản phẩm có sẵn trong ngôn ngữ, chung của toàn dân; nó là kếtquả của một quá trình lịch sử văn hoá lâu dài Một ngời nghệ sĩ muốn thể hiện tàinăng của mình đều phải thông qua từ ngữ Họ vận dụng vốn từ ngữ đó vào việcsáng tạo nghệ thuật Qua khảo sát nghiên cứu, chúng tôi thấy trong phú tiếng Việtcác tác giả đã sử dụng các lớp từ ngữ tiêu biểu, giàu màu sắc tu từ

2.2.1.1 Lớp từ Hán Việt

Lớp từ Hán – thi phú Annam” Việt bao gồm những từ Hán đã đợc Việt hoá, đợc sử dụngkhá rộng rãi trong các phong cách chức năng Lớp từ này đợc dân tộc ta vay mợnchủ yếu từ thế kỷ VIII đến thế kỷ X (đời Đờng) Mặc dù vậy, trong tiếng Việt lớp

từ đó lại chiếm số lợng khá lớn (trên 60%) trong vốn từ vựng của tiếng Việt Nhờ

có lớp từ này mà số lợng từ ngữ của chúng ta đã tăng lên nhanh chóng trong cácphong cách khoa học, báo chí, chính luận, hành chính… ……… 1 Từ Hán – thi phú Annam” Việt mangnhững sắc thái nghĩa thờng là đối lập với từ thuần Việt Các sắc thái nghĩa của từHán – thi phú Annam” Việt là: sắc thái tao nhã, sắc thái trang trọng, sắc thái khái quát, sắc thái

cổ Những sắc thái nghĩa này từ thuần Việt không có đợc

Trong phú tiếng Việt, các tác giả đã sử dụng khá thành công lớp từ Hán – thi phú Annam”Việt, tạo nên những sắc thái riêng cho tác phẩm của mình Theo khảo sát củachúng tôi thì trong phú cổ các tác giả sử dụng lớp từ Hán – thi phú Annam” Việt với mật độ nhiều

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Kế Bính (1930), Việt Hán văn khảo, Trung bắc tân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Hán văn khảo
Tác giả: Phan Kế Bính
Năm: 1930
2. Đ. Hồ Ngọc Cẩn (1923), Văn chơng - thi Phú Annam, Hong Kong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chơng - thi Phú Annam
Tác giả: Đ. Hồ Ngọc Cẩn
Năm: 1923
3. Phong Châu, Nguyễn Văn Phú (1960), Phú Việt Nam cổ và kim, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phú Việt Nam cổ và kim
Tác giả: Phong Châu, Nguyễn Văn Phú
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1960
4. Nguyễn Đổng Chi (1942), Việt Nam cổ văn học sử, Nxb Hàn Thuyên, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam cổ văn học sử
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Hàn Thuyên
Năm: 1942
5. Phan Thị Đào (1999), Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam, Nxb Thuận hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Đào
Nhà XB: Nxb Thuận hoá
Năm: 1999
6. Phan Cử Đệ, Trần Đình Hợu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức (1998), Văn học Việt Nam (1900 - 1945), Nxb Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900 - 1945)
Tác giả: Phan Cử Đệ, Trần Đình Hợu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
7. Cao Huy Đỉnh (1976), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1976
8. Lê Quý Đôn (1997), Kiến văn tiểu lục, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến văn tiểu lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1997
9. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
11. Dơng Quảng Hàm (1943), Việt Nam văn học sử yếu, Nha học chính Đông - Pháp xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dơng Quảng Hàm
Năm: 1943
13. Lu Trạch Hậu (1999), Mỹ học tam th, Nxb Văn nghệ, An Huy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học tam th
Tác giả: Lu Trạch Hậu
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1999
14. Lu Hiệp (1996), “ Văn tâm điêu long , ” Tạp chí Văn học nớc ngoài, số 3, tr.143-209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn tâm điêu long
Tác giả: Lu Hiệp
Năm: 1996
15. Chơng Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh chủ biên (2000), Văn học sử Trung Quốc, tập 1, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học sử Trung Quốc
Tác giả: Chơng Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh chủ biên
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2000
16. Hợp tuyển thơ văn thế kỷ X - thế kỷ XVII (1976), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển thơ văn thế kỷ X - thế kỷ XVII
Tác giả: Hợp tuyển thơ văn thế kỷ X - thế kỷ XVII
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1976
17. Bùi Công Hùng (2000), Tiếp cận nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn hoá Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin Hà Nội
Năm: 2000
18. Nguyễn Phạm Hùng (1999), Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX), Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX)
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 1999
19. Trần Đình Hợu (1999), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hợu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
20. Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chơng (1978), Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII, tập I, Nxb ĐH và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chơng
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1978
21. Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chơng (1979), Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII, tập II, Nxb ĐH và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chơng
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1979
22. Bùi Kỷ (1950), Quốc văn cụ thể, Tân việt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc văn cụ thể
Tác giả: Bùi Kỷ
Năm: 1950

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Nhìn vào bảng số liệu chúng ta thấy các loại câu ngắn nh tứ tự, bát tự, song quan trong phú mới đều giảm nhiều về tần số sử dụng so với phú cổ - Đặc điểm ngôn ngữ của phú tiếng việt
h ìn vào bảng số liệu chúng ta thấy các loại câu ngắn nh tứ tự, bát tự, song quan trong phú mới đều giảm nhiều về tần số sử dụng so với phú cổ (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w