Anh thường làm sáng rõ chủ đề bằng cách diễn đạt ngắn gọn, có những phát hiện dễ dàng lại thật sâu sắc vàmới mẻ.” Ngoài những đánh giá về thơ Vũ Quần Phương nói chung, nhiều tác giảcũng
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ thơ nói riêng là
một trong những hướng nghiên cứu cần thiết của việc nghiên cứu ngôn ngữ với
tư cách là phương tiện của nghệ thuật Trong lịch sử nghiên cứu văn học nóichung, nghiên cứu thơ ca nói riêng, ngôn ngữ thơ đã được nhiều tác giả quan tâmnghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau như góc nhìn văn hoá, góc nhìn phân tâmhọc… Mặc dù những xu hướng này có những ưu thế riêng mà các hướng tiếpcận khác không có được, nhưng nghiên cứu ngôn ngữ thơ theo hướng này dễ rơivào cách cảm nhận mang màu sắc chủ quan, cảm tính Trong những năm gầnđây, ngôn ngữ thơ đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới góc nhìn ngôn ngữ đểxem xét các quan hệ nội tại và ngoại tại của chất liệu tác phẩm; khai thác tínhnghệ thuật của ngôn ngữ thơ và cơ chế hình thành thuộc tính đó Hầu hết các tácgiả đều khẳng định ý nghĩa và hiệu quả thẩm mỹ của ngôn ngữ thơ nói riêng,ngôn ngữ nghệ thuật nói chung phụ thuộc rất lớn vào sự nhận thức đối tượngphản ánh của chủ thể phát ngôn Điều đó cho thấy, việc nghiên cứu ngôn ngữ thơdưới góc nhìn ngôn ngữ là hướng nghiên cứu quan trọng giúp người đọc nhận raphong cách nghệ thuật của tác giả và những đóng góp của họ qua từng giai đoạnvăn học Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ Vũ Quần Phương là một trongnhững đề tài nằm trong hướng đi cần thiết đó
1.2 Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, Vũ Quần Phương là một trong
những nhà thơ có vị trí quan trọng Với Vũ Quần Phương, thơ là kinh nghiệmsống, được thu nhận từ cảm xúc và cũng được gửi đi bằng cảm xúc Chính vì thế
Trang 3trong 40 năm qua ông đã thu nhận và gửi đi những cảm xúc của mình qua từngtrang thơ, tạo nên những ấn tượng khó quên trong lòng độc giả Giữa giai đoạncác nhà thơ Việt Nam đang hướng vào cách tân thơ một cách mạnh mẽ cả về nộidung cũng như hình thức, Vũ Quần Phương vẫn trầm lặng tìm cho mình một lối
đi riêng, đem đến cho thơ Việt đương đại những vần thơ giản dị, sâu sắc, đầycảm xúc và suy tư Tuy nhiên, bên trong sự giản dị, thơ Vũ Quần Phương vẫn làmột tiếng thơ mới mẻ và độc đáo cả về nội dung và hình thức, đặc biệt là hìnhthức
1.3 Cho đến nay, vị trí của Vũ Quần Phương trong nền thơ Việt Nam
đương đại đã được khẳng định Thơ Vũ Quần Phương nói chung, tập thơ Vết
thời gian nói riêng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều bài
viết về tác giả Vũ Quần Phương và các tác phẩm của ông đăng trên các tuần báovăn nghệ, tạp chí văn học và một số bài viết trong giáo trình, sách tham khảo ,song hầu hết những bài viết đó mới đi vào một vài khía cạnh chung về phươngdiện nội dung Phương diện hình thức, trong đó có đặc điểm ngôn ngữ thơ của
Vũ Quần Phương vẫn là vấn đề chưa được quan tâm đúng mức
Đó chính là những lí do cơ bản để chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu đề tài:
Đặc điểm ngôn ngữ thơ Vũ Quần Phương trong tập " Vết thời gian"
2 Lịch sử vấn đề
Vũ Quần Phương là một nghệ sĩ đa tài Trước khi trở thành nhà thơ, ông làmột bác sỹ, thuộc lớp nhà thơ xuất hiện thời chống Mỹ, Vũ Quần Phương đếnvới thơ từ rất sớm Năm 1965, chàng sinh viên đại học Y khoa Hà Nội Vũ NgọcChúc xuất hiện trong làng thơ Việt Nam với bút danh Vũ Quần Phương qua tập
Trang 4thơ "Sức mới" Ngay trong tập thơ đầu tiên, Vũ Quần Phương đã tạo cho mìnhmột giọng thơ riêng - giọng thơ trữ tình, sâu lắng, nặng suy tư:
Trong khói mẹ cời rơm thổi lửa
Chim gù trên tổ, bếp cơm reo
Em nhỏ học bài trên ngưỡng cửa Khói bay ra mờ mịt ao bèo.
Cho đến nay, Vũ Quần Phương đã có trên 40 năm gắn bó với thơ, suốt thờigian ấy, Vũ Quần Phương đã gắng sức không mệt mỏi cho lao động thi ca Ôngluôn sáng tác với cả bầu nhiệt huyết, với ý thức vượt lên chính mình để có nhữngsáng tạo làm rung động lòng người Và chính sự chân thực xuất phát từ đáy tâmhồn của nhà thơ đã đưa tác phẩm của ông đọng lại trong lòng người đọc, đượcbạn bè và nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận
Nhận định về thơ Vũ Quần Phương nói chung, trong bài viết “Lòng VũQuần Phương run khi xuống câu”, tác giả Lê Thiếu Nhơn khẳng định: “Cái tàicủa Vũ Quần Phương là có thể dùng những chi tiết rất cũ, hình ảnh rất cũ để tạonên câu thơ mới Do vậy không cần biết tên riêng từng bài thơ, vẫn có thể hấpthụ cảm xúc thơ ông”; “Tập thơ Vũ Quần Phương theo hệ thống xuyên suốt tôinhận ra chỉ cần rời khỏi bốn bức tường vuông vắn nơi phố thị thì trái tim thi sỹcủa ông lập tức đánh đu với thiên nhiên mà hình thành những câu thơ thật baybổng” [11.tr.2] Cùng chung ý kiến với Lê Thiếu Nhơn, nhà phê bình Vũ Nho
cũng đã nhận xét: “Vũ Quần Phương ưa khám bề sâu, chiêm nghiệm bề dày,
hướng tới bề xa Với anh hành trình là cần thiết, nhưng quan trọng hơn cả hànhtrình là quãng dừng chân suy ngẫm”, “Nàng thơ của Vũ Quần Phương cứ như là
cô gái chân quê, có đổi mới thì cũng chỉ tới mức “áo cài khuy bấm” chứ chưaphải các cô váy ngắn áo thun hay quần jin te tua, mắt xanh, môi đỏ Cấu tứ, cách
Trang 5cảm, cách phô diễn của Vũ Quần Phương nghiêng về thơ cổ điển Nó không đẹp
vẻ đẹp chói loà, kiêu sa, gây ấn tượng mạnh cuốn hút lập tức, mà đẹp một vẻ đẹpdung dị khiêm nhường phải nhìn tinh mới thấy, mà đã thấy thì có thể quên”[42,tr.36] Và Minh Phương cũng có cái nhìn sắc sảo về thơ Vũ Quần Phươngqua bài viết đăng trên Báo Nhân dân số ra ngày mùng 7 tháng 7 năm 2000: “Cáchiện tượng ngỡ như vụn vặt, ngẫu nhiên của đời sống trong cách chiêm nghiệmcủa anh nâng lên thành chân lý, thành phương châm xử thế Thơ anh nhuầnnhuyễn trong giọng thơ giản dị và tứ thơ kiệm lời Anh thường làm sáng rõ chủ
đề bằng cách diễn đạt ngắn gọn, có những phát hiện dễ dàng lại thật sâu sắc vàmới mẻ.”
Ngoài những đánh giá về thơ Vũ Quần Phương nói chung, nhiều tác giảcũng đã tìm hiểu, nghiên cứu về đặc điểm thơ Vũ Quần Phương qua từng tập thơ
của ông, trong đó, có tập Vết thời gian Có thể nói, trong sự nghiệp sáng tác của
Vũ Quần Phương, tập Vết thời gian (1996) là tập thơ tiêu biểu nhất Viết về tập
thơ này, tác giả Nguyễn Thị Lan nhận định: “Thơ Vũ Quần Phương là vậy: nhẹnhàng tinh tế đầy dư vị, dư vang Thơ Vũ Quần Phương là thơ trữ tình tâm tư.Như một khúc nhạc dịu êm, âm hưởng của những câu thơ anh gieo vào lòng tamột nỗi buồn da diết, một nỗi buồn làm trong lại hồn người" [11, tr1]
Trong bài viết Ba bài thơ, ba phận đời nghệ sĩ trên trang web cand.com,
tác giả Tuấn Đạt đã có những nhận xét hết sức xác đáng về mảng thơ viết về cácnghệ sĩ lớn, đặc biệt là ba nhà thơ: Trần Huyền Trân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên
trong tập Vết thời gian của Vũ Quần Phương Tác giả khẳng định: "Thơ Vũ
Quần Phương ở mảng chân dung này có cái thấm thía ở hình ảnh, bùi ngùi ởgiọng điệu Ba bài anh viết về Chế Lan Viên, về Xuân Diệu, về Trần Huyền Trân
mà tôi đang nhắc tới là ba bài có bút pháp linh hoạt, điệu thơ có thể làm ta nhớ
Trang 6tới khí chất của những con người ấy, cũng như các thể loại thơ họ vẫn ưa dùngkhi còn trên dương thế" [11,tr.5].
Như vậy, nhìn một cách khái quát, có thể thấy rằng, có khá nhiều bài viếtnghiên cứu về thơ Vũ Quần Phương Nhìn chung, các ý kiến đều khẳng địnhchiều sâu ý nghĩa và sức nặng cảm xúc của thơ Vũ Quần Phương Tuy nhiên,phần lớn các bài viết này chủ yếu đi vào tìm hiểu những đặc sắc về chủ đề, tưtưởng, nội dung và mới chỉ dừng lại ở mức độ phác hoạ một cách sơ lược chândung thơ Vũ Quần Phương Ngôn ngữ thơ Vũ Quần Phương nói chung, ngôn
ngữ thơ Vũ Quần Phương trong tập Vết thời gian nói riêng vẫn còn là một vấn đề
còn bỏ ngỏ, cần được quan tâm nghiên cứu
3 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn này chúng tôi tập trung tìm hiểu tập thơ Vết thời gian của Vũ
Quần Phương trên các phương diện: đặc điểm từ ngữ, các biện pháp nghệ thuật,cách thức tổ chức và các phương tiện liên kết bài thơ như vần, nhịp,… Do yêucầu đối sánh để làm nổi bật những nét đặc sắc riêng của tập thơ nên chúng tôi sẽkhảo sát một số phương diện trong các tập thơ khác của Vũ Quần Phương và cáctác giả khác cùng thời
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu ngôn ngữ thơ Vũ Quần Phương trong tập Vết thời gian, chúng
tôi hướng tới hai mục đích nêu bật được những nét đặc sắc của ngôn ngữ thơ
trong tập Vết thời gian để thấy được đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Vũ
Quần Phương
Trang 74.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra cho luận văn nhiệm vụ nhận diện, mô
tả, đánh giá một cách có hệ thống những nét đặc sắc ngôn ngữ thơ Vũ Quần
Phương trong Vết thời gian trên các phương diện: từ ngữ, biện pháp tu từ, đặc
điểm thể thơ, vần, nhịp,…
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Tư liệu khảo sát gồm 65 bài thơ trong tập “ Vết thời gian”, Nxb Văn học,
H 1996
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học để tiến hành thống kê, phân loại vàxác lập tư liệu
- Phương pháp phân tích, miêu tả và tổng hợp nhằm khái quát những nétđặc trưng ngôn ngữ thơ Vũ Quần Phương
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: so sánh ngôn ngữ thơ Vũ QuầnPhương với một số nhà thơ cùng thời để thấy những đặc điểm phong cách ngônngữ riêng của nhà thơ
6 Đóng góp của luận văn
Có thể nói, đây là lần đầu tiên tập thơ Vết thời gian của Vũ Quần Phương
được khảo sát và nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện từ góc độ ngôn ngữ
Trang 8học Các tư liệu cùng với những nhận xét, đánh giá của luận văn giúp người đọc
nhận biết một cách đầy đủ về đặc điểm ngôn ngữ thơ Vũ Quần Phương trong
Vết thời gian.
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
Chương 2: Vần, nhịp và thể thơ trong Vết thời gian
Chương 3: Các lớp từ nổi bật và một số biện pháp tu từ đặc sắc trong
Vết thời gian
Trang 9Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ
1.1.1 Định nghĩa thơ
Thơ là gì và nó ra đời từ khi nào vẫn là một câu hỏi thật khó trả lời Từtrước đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thơ, tuy nhiên, cho đếnnay, cách hiểu về thơ vẫn chưa được thống nhất
Như chúng ta đã biết, thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểuhiện trữ tình, thơ gắn với cái tôi trữ tình nên có nhiều cung bậc, cảm xúc phongphú đa dạng Thơ tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, bằngkhả năng gợi cảm sâu sắc, bằng sự rung động của ngôn từ giàu chất nhạc Mỗitác giả khi nghiên cứu về thơ đều nhìn thơ bằng nhiều giác độ khác nhau Đócũng là lý do tạo nên nhiều quan niệm, nhiều cách lý giải khác nhau, thậm chítrái ngược nhau về bản chất của thơ ca Tuy vậy, nhìn một cách tổng quát, chođến nay, vẫn tồn tại ba khuynh hướng thể hiện cách quan niệm khác nhau về thơ
Khuynh hướng thứ nhất là thần thánh thơ ca, cho rằng thơ ca là những gìthuộc về thần thánh, thiêng liêng, huyền bí Platôn xem bản chất thơ ca thể hiệntrong linh cảm - những cảm giác linh thiêng nhất giữa thế giới cao xa của thầnthánh và thế giới con người, nhà thơ là người trung gian có năng lực cảm giác vàbiểu hiện chúng Hay “Văn xuôi thuộc phía con người, thơ ca thuộc phe thượng
đế” (Satre) Hàn Mặc Tử khẳng định:“Làm thơ tức là điên” [21, tr.91], Chế Lan
Trang 10Viên cũng cho rằng: “Làm thơ là làm tâm sự phi thường, thi sĩ không phải làngười, nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, làTinh, là Yêu Nó thoát tại Nó xáo trộn dĩ vãng Nó ôm trùm tương lai Người takhông hiểu được nó, vì nó nói tới những cái vô nghĩa, tuy rằng có những cái vônghĩa hợp lý” [21, tr.91] Nhóm Xuân Thu Nhã Tập quan niệm “Thơ là cáihuyền ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu”.
Khuynh hướng thứ hai là hình thức hóa thơ ca, coi bản chất thơ thuộc vềnhững nhân tố hình thức So với các loại hình văn học và nghệ thuật khác, thơ tựbộc lộ mình bằng chính ngôn ngữ của đời sống một cách trực tiếp, không có sự
hỗ trợ nào khác của sự kiện cốt truyện, tình huống từ tiếng nói quen thuộc củađời sống, ngôn ngữ thơ ca đã tạo thêm cho mình năng lực kỳ diệu Ngôn ngữ thơ
ca được một số nhà nghiên cứu đẩy lên bình diện thứ nhất, xem bản chất thơ cathuộc về nhân tố hình thức, đánh giá cao tính chất sáng tạo trong thơ là sự sángtạo ngôn ngữ hoặc tổ chức kết cấu hơn là nhân tố nội dung Trong cuốn “Văntâm điêu long” của Lưu Văn Hiệp ra đời cách đây 1500 năm, đã chỉ ra 3 phương
diện cấu thành tác phẩm thơ là Hình văn (sự vật), Thanh văn (Nhạc điệu) và
Tình văn (cảm xúc)[ 25, tr.17] Đến đời Đường, bạch Cư Dị lại cụ thể một bước
các yếu tố cấu thành thơ ca: "Với thơ, gốc là tình cảm, mà lá là ngôn ngữ, hoa là
âm thanh, quả là ý nghĩa"[dẫn theo 53] Giáo sư Phan Ngọc trong bài viết Thơ là
gì đưa ra quan niệm: "Thơ là một tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt
người phải tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức
ngôn ngữ này" [38,tr.18] Chữ quái đản mà Phan Ngọc nói ở đây chính là nói
đến cách tổ chức khác thường của ngôn ngữ thơ
Khuynh hướng thứ ba là gắn sứ mệnh và bản chất thơ với xã hội Người tacoi cuộc sống chính là mảnh đất màu mỡ của thơ ca Do vậy, người nghệ sỹ
Trang 11không nên chú trọng đẽo gọt ngôn từ, xa rời cuộc sống mà phải bám sát cuộcsống Nói như Tố Hữu "Thơ chỉ trào ra khi cảm xúc trong tim cuộc sống thật
tràn đầy" Cuộc sống chính là nơi xuất phát và điểm đi tới của thơ ca.
Tóm lại, ba khuynh hướng với các quan niệm tuy có khác nhau nhưng đềugặp nhau ở chỗ, đó là đều làm rõ bản chất của thơ ca và vai trò của người nghệ
sỹ trong sáng tạo nghệ thuật Tuy nhiên, các khuynh hướng, quan niệm đó chưachỉ ra được đặc trưng riêng biệt của thơ ca
Theo chúng tôi, trong hơn 300 định nghĩa về thơ để tìm ra được một địnhnghĩa bao quát được cả nội dung và hình thức của thơ là một công việc khá nandãi Xin dẫn ra hai định nghĩa, theo chúng tôi là tiêu biểu và đầy đủ hơn cả:
- Định nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt : "Thơ là một hình thức nghệ thuật
dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, có nhịp điệu, vần điệu để thể hiện ý tưởng và cảmxúc nào đó của tác giả một cách hàm xúc" [ 58 , tr.288]
- Theo nhóm các nhà phê bình nghiên cứu Văn học Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi: "Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống,thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ, bằng ngôn ngữ hàm xúc,giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu" [ 20, tr.210]
Qua các quan niệm và định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra mội số đặcđiểm chung của thơ ca như sau: thơ là một tổ chức của hệ thống ngôn từ, có tổchức riêng, có vần điệu, nhịp điệu, thể hiện cảm xúc qua hình ảnh, biểu tượng
1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ
Trước tiên, phải khẳng định ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản củavăn học Vì vậy, văn học được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ M.Gorki
khẳng định: "ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học" Từ đó có thể hiểu: "ngôn
Trang 12ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học" [20, tr.149] Thơ là một thể
loại sáng tác của văn học nghệ thuật Do đó ngôn ngữ thơ trước hết là ngôn ngữcủa văn học nghệ thuật
Nếu xét về phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một đặc trưng vềngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hoá, khái quát hoá hiện thực kháchquan theo cách tổ chức riêng của thơ ca
1.1.2.1 Phân biệt thơ và văn xuôi
Vấn đề phân biệt thơ với văn xuôi đã diễn ra từ lâu và đã có rất nhiềungười thực hiện Một nhà phê bình cho rằng, thơ khác với các thể văn khác ở chỗ
in sâu vào trí nhớ Một câu hoặc một bài thơ hay thì có đặc điểm là ghi ngay vàotrí nhớ của ta, làm cho ta không quên được nữa Văn xuôi trái lại, trôi qua trí nhớcủa ta Cái hay của một đoạn văn xuôi còn lại sau khi đã quên hết đoạn văn ấy.Còn đặc tính của bài thơ là in lại, từ gọi từ, câu gọi câu, đọc từ trước phải đến từsau, đọc câu trước phải đến câu sau, không thể nào khác
Trước hết, ta thấy rằng trên cùng một chất liệu ngôn ngữ nhưng các nhàvăn, nhà thơ có sự tư duy, lựa chọn, sử dụng khác nhau Trong văn xuôi, các đơn
vị ngôn ngữ cùng một loạt giống nhau được tập hợp nhờ thao tác lựa chọn thôngqua mối quan hệ liên tưởng, hay nói cách khác, trong cùng một hệ hình nhà văn
có thể lựa chọn bất kỳ đơn vị nào trong mỗi hệ hình rồi kết hợp lại với nhau đểtạo nên thông báo Tuy nhiên, lựa chọn đơn vị nào trong từng hệ hình cũng đượcnhưng không được phép lặp lại Đây là nguyên lý làm việc của văn xuôi, làmviệc bằng thao tác kết hợp Do đó các thông báo trong văn xuôi bao giờ cũng gợiđến một ngữ cảnh nào đó chứ hoàn toàn không phải để giải mã các đơn vị ngônngữ Chúng ta chỉ bắt gặp trong văn xuôi các thông báo được dùng để xây dựng
Trang 13phương trình như thế trong một trường hợp duy nhất Vậy là, trong văn xuôi, lặplại là điều tối kị Nhưng chính cái điều văn xuôi tối kị lại là thủ pháp làm việccủa thơ Trong thơ, tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại dùng để xâydựng các thông báo Như đã biết, trong thơ thường xuất hiện các hiện tượng điệp
âm (phụ âm, nguyên âm), điệp từ, điệp câu Như vậy, ngôn ngữ thơ khai tháctriệt để thủ pháp lặp lại các đơn vị ngôn ngữ Điều đó cho thấy các nhà thơ đã tưduy trên chất liệu ngôn ngữ một cách khá đặc thù: hình thành các hệ hình rồi từcác hệ hình xây dựng các phương trình thành chiết đoạn Cứ như thế các đơn vịngôn ngữ thơ chồng lên nhau tạo thành nhiều tầng, nhiều lớp trên bề mặt
Khác với văn xuôi, sự tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ trong thơ sẽtạo nên chiết đoạn tạo thành thông báo bao giờ cũng bao hàm một sự tươngđương về nghĩa Tức là, cơ cấu lặp lại của kiến trúc song song trong thơ chính là
ở chỗ tạo nên một láy lại, song song trong tư tưởng Như vậy, chức năng mỹ họcchiếm ưu thế nhưng lại không loại trừ chức năng giao tiếp nên đã làm cho thông
báo trở nên đa nghĩa, mập mờ có tính nước đôi Thơ phải là ý tại ngôn ngoại,
hàm xúc cô đọng
Bên cạnh đó, ta thấy rằng sự khác nhau giữa văn xuôi và thơ còn ở chỗngôn ngữ văn xuôi là liền mạch nhưng ngôn ngữ thơ lại chia cắt thành nhữngđơn vị tương ứng nhau Việc tổ chức ngôn ngữ trong thơ bao giờ cũng theonhững quy luật tuần hoàn âm thanh mà ở đó luôn luôn đề ra sự chia cắt thànhtừng vế tương đương Câu trong văn xuôi không theo một kích thước bó buộcnào, còn câu trong thơ có kích thước nội tại Về cơ bản, ngữ pháp của thơ khácngữ pháp điển phạm của văn xuôi Cấu trúc ngữ pháp của câu thơ nhiều khi làbất quy tắc Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ nhiều màu sắc, âm thanh, nhịp điệuvới những cấu trúc đặc biệt Mỗi chữ trong thơ có ý nghĩa riêng nhưng trong
Trang 14những trường hợp khác, những cấu trúc khác sẽ mang những ý nghĩa khác Mỗichữ, mỗi từ không chỉ là xác mà là hồn, là chiều sâu ngữ nghĩa, độ sâu của ngânvang, của cảm quan nghệ thuật Mỗi thể loại thơ lại mang một sắc thái riêng, đòihỏi một cách tổ chức có màu sắc riêng Trong thơ, ngôn ngữ bác học, ngôn ngữđịa phương, thậm chí ngôn ngữ thông tục đều được phát huy hết giá trị của nó.Trong thơ, cái thật cái ảo gắn bó mật thiết, có ý thức và vô thức, tiềm thức; cócảm giác và trực giác, ảo giác Do đó, tìm hiểu thơ khác với văn xuôi ở chỗphải sử dụng liên phương pháp mới phát hiện được vấn đề, xác lập được nhiềulớp nghĩa, nhiều thông báo trong một văn bản cô đọng, hàm xúc Người đọc thơ
có khi phải sử dụng một siêu giác quan để cảm thơ, hiểu thơ
Hơn nữa, khác với văn xuôi, thơ là một cấu trúc đầy nhạc tính Thơ có thể
bỏ vần, không chặt chẽ bằng bằng trắc trắc nhưng thơ không thể bỏ được nhịpđiệu Nhịp điệu là linh hồn của thơ Thơ là văn bản ngôn từ được tổ chức bằngnhịp điệu Nhịp điệu làm nên sức ngân vang cho thơ, tạo sự ám ảnh người đọc vàtiếng đồng vọng của ngững tiếng lòng
Như vậy, so với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ có nhiều nét đặc trưng
1.1.2.2 Đặc trưng ngôn ngữ thơ
Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi của sáng tạo văn học nghệthuật Vì vậy ngôn ngữ thơ trước hết là ngôn ngữ văn học, là ngôn ngữ mangtính nghệ thuật được dùng trong văn học Đặc trưng của ngôn ngữ thơ là: “ tính
chính xác, tính hàm xúc, tính đa nghĩa, tính tạo hình, tính biểu cảm” [30, tr.183].
Xét ở phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ được biểu hiện là một chùm đặctrưng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hoá, khái quát hóa hiệnthực khách quan theo cách tổ chức riêng của thơ Đặc trưng của thơ được thểhiện trên ba bình diện ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp
Trang 15a Về ngữ âm
Thơ là hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt mang thuộc tính thẩm mĩ vềngữ âm Do vậy, hình thức ngữ âm trong thơ là vô cùng quan trọng, các yếu tố
âm thanh như: âm, vần, điệu là những yếu tố tạo nên tính nhạc của thơ Đây cũng
là điểm nổi bật để phân biệt thơ và văn xuôi Tuy nhiên, đặc điểm này thể hiệnmột cách khác nhau tuỳ vào cách cơ cấu, cách cấu tạo và tổ chức khác nhau củamỗi ngôn ngữ Theo Tômasepki: "Mỗi một dân tộc, mỗi một ngôn ngữ đều cócách hoà âm riêng của mình Cách thức đó dựa vào truyền thống của từng dântộc và hình thức của từng ngôn ngữ cụ thể " [14 tr.202] Tiếng Việt có số lượngthanh điệu phong phú (6 thanh), số lượng các đơn vị nguyên âm và phụ âm đadạng (14 nguyên âm, 21 phụ âm) Những đơn vị này được khai thác để tổ chứcbài thơ Và cũng chính những đơn vị này tạo nên âm hưởng, tiết tấu và nhạc điệutrong thơ: khi du dương, khi trầm bổng, khi dìu dặt ngân nga, khi dồn dập Vì thếkhi khai thác tính nhạc trong thơ chúng ta cần chú ý những đối lập sau:
- Sự đối lập về trầm / bổng, khép/ mở của các nguyên âm làm đỉnh vần.
- Sự đối lập vang / ồn giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh
trong các phụ âm cuối
- Sự đối lập về cao/ thấp, bằng /trắc giữa các thanh điệu.
Bên cạnh sự đối lập đó, cần phải chú ý đến vần và nhịp bởi hai yếu tố nàycũng góp phần quan trọng trong việc tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca Tínhnhạc trong ngôn ngữ đưa thơ ca xích lại gần với âm nhạc Vì vậy, mà từ xa xưa,nhiều hình thức ca hát dân tộc đã lấy thơ ca dân gian làm chất liệu sáng tác âmnhạc, và trong nền âm nhạc hiện đại, nhiều bài thơ được các nhạc sĩ phổ nhạc
thành công như: Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, Đợi của Vũ Quần Phương,
Em đi chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Biển nỗi nhớ và em của Hữu Thỉnh
Trang 16Nhạc thơ là thứ nhạc đặc trưng, nó khác với âm nhạc thông thường Nhạcthơ được tạo thành bởi ba yếu tố là âm điệu, vần điệu và nhịp điệu.
* Về âm điệu
Có thể hiểu âm điệu là sự hòa âm được tạo ra từ sự luân phiên xuất hiện ởcác đơn vị âm thanh (tiếng), có những phẩm chất tương đồng và dị biệt trên trụctuyến tính Trong tiếng Việt nhờ tính đối lập các âm tiết đã tạo nên âm điệu trongthơ cách luật Phẩm chất ngữ âm của tiếng Việt là tổng hòa các mặt như cao độ,trường độ, âm sắc Trường độ của hai âm tiết khác nhau là do hoàn cảnh phátngôn hoặc do âm lượng của nguyên âm Chẳng hạn âm tiết kết thúc bằng nguyên
âm, bán nguyên âm và phụ âm vang thì có độ vang và khả năng kéo dài trường
độ lớn hơn âm tiết kết thúc bằng các phụ âm tắc vô thanh
* Về vần điệu
Trong thơ vần có một vị trí quan trọng Vần là yếu tố lặp lại của một bộphận âm tiết Ở các khổ thơ, câu thơ, vần có chức năng tổ chức, chức năng liênkết các câu thơ (dòng thơ) thành khổ thơ, các khổ thơ thành bài thơ Có thể hìnhdung: "Vần như sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau, do đó giúp ngườiđọc được thuận miệng, nghe thuận tai và làm cho người nghe dễ thuộc, dễ nhớ" [10, tr 215]
Vần còn là yếu tố quan trọng tạo nên sự hoà âm giữa các câu thơ Đơn vịbiểu diễn vần trong thơ tiếng Việt là âm tiết, trong các vần thơ bao giờ cũng có
sự cộng hưởng, sự hoà xướng với nhau của hai âm tiết có vần Sự hiệp vần giữa
âm tiết này với âm tiết khác tạo sự hòa âm cho các cặp vần Ngoài ra, nói đến tácdụng hoà phối, kết hợp, tương hỗ của các yếu tố cấu tạo âm tiết còn phải kể đến
sợ hòa xướng, đối lập nhau giữa các yếu tố tương ứng giữa hai yếu tố hiệp vần
Đó là sự hòa âm giữa hai thanh điệu của âm tiết này với âm tiết kia; giữa âm
Trang 17chính, âm cuối của âm tiết này với âm chính, âm cuối của âm tiết kia Vì vậy âmtiết của tiếng Việt có vai trò rất lớn trong việc xác lập các vần thơ Tất cả các yếu
tố cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt đều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt củavần thơ Việt Nam, trong đó, thanh điệu và âm chính, âm cuối là yếu tố chínhtham gia vào việc tạo nên sự hòa âm cho các vần thơ
Trong thơ, vần được phân loại theo ba cách: theo vị trí các tiếng hiệp vần,theo mức độ hoà âm giữa các tiếng hiệp vần và theo đường nét thanh điệu trongcác tiếng hiệp vần Theo vị trí các tiếng hiệp vần, thơ Việt Nam có hai loại vần:
vần chân và vần lưng Theo mức độ hoà âm giữa các tiếng hiệp vần, trong thơ
phân biệt vần chính và vần thông Theo đường nét thanh điệu trong các tiếng hiệp vần, truyền thống thơ Việt Nam đã phân biệt vần bằng và vần trắc.
* Về nhịp điệu
Có thể hiểu nhịp điệu là điệu tính được tạo ra từ sự luân phiên các ngữđoạn ngữ lưu Theo F.de.Sausure: "Dòng âm thanh chỉ là một đường thẳng, mộtdải liên tục trong đó thính giả không thấy sợ phân chi nào đầy đủ và chính xác,muốn có sự phân chia như vậy phải viện ý nghĩa Nhưng khi đã biết cần phảigắn cho mỗi bộ phận của chuỗi âm thanh một ý nghĩa và một vai trò gì thì ta sẽthấy những bộ phận đó tách ra và cái dãi vô hình kia sẽ phân ra từng đoạn" [50,
tr 9]
Như vậy, nhịp điệu của giao tiếp thông thường được hình thành từ tínhphân phối ngữ nghĩa Trong thơ nhịp điệu là kết quả hoà phối âm thanh được tạo
ra từ sự ngắt nhịp Nhịp điệu chỉ cách thức nhất định khi phát âm hay còn gọi là
sự ngắt nhịp Cho đến nay, ngắt nhịp trong thơ có thể phân thành hai loại là ngắt
nhịp cú pháp và ngắt nhịp tâm lý Nhịp thơ gắn kết tình cảm, cảm xúc, là những
ngân vang trong tâm hồn nhà thơ Các trạng thái xúc động, rung cảm, cảm xúc
Trang 18đều ảnh đến việc lựa chọn và tổ chức của câu thơ Hai loại nhịp này có khi hoàquyện vào nhau, có khi tách bạch tuỳ vào cấu trúc ngôn từ của dòng thơ, thể thơ
và cảm hứng của nhà thơ Như vậy, nhịp thơ là cái được nhận thức thông quatoàn bộ sự lặp lại có tính chu kì, cánh quãng hoặc luân phiên theo thời gian củanhững chỗ ngừng nghỉ, ngắt hơi trên những đơn vị cơ bản như câu thơ (dòngthơ), khổ thơ, thậm chí cả đoạn thơ Yếu tố tạo nên nhịp điệu là những chỗngừng nghỉ trong sự phân bố mau thưa theo sự chuyển định của thể thơ hoặctheo sự đa dạng của cảm xúc, thi hứng Nhịp thơ khác với nhịp văn xuôi Nhịpthơ không hoàn toàn trùng với nhịp cú pháp Trong một số thể thơ cánh luật,ngắt nhịp bị chi phối bởi yếu tố tâm lý và cấu trúc âm điệu Cách ngắt nhịp, tạonhịp trong thơ hết sức đa dạng, muôn màu muôn vẻ, tùy vào từng bài thơ cụ thể.Nhịp trong thơ thể hiện bản sắc của từng nhà thơ, bộc lộ cá tính thi ca rõ nét
Ví dụ: Trong thơ lục bát, sự ngắt nhịp trước hết diễn ra dưới áp lực củavần lưng và xu hướng tăng song tiết hoá của tiếng Việt Vì vậy, trong thể thơ nàylúc nào cũng chứa một loại nhịp đặc thù là nhịp tâm lý Nhịp này xuất hiện khibối cảnh không đủ sức cho nhịp lẻ tồn tại Nhịp tâm lý có nguồn gốc từ sự đồnghóa nhịp lẻ bởi tính nhịp nhàng của nhịp đôi trong dòng thơ và giữa các cặp 6/8với nhau Nhịp chẵn 2/2/2; 2/2/2/2 và tiết tấu nhịp đôi đã hình thành từ lâu và trởthành nét đặc trưng của tiếng Việt Loại nhịp này dễ dàng tương hợp với mỗidòng thơ lục bát vốn có số tiếng chẵn Tuy nhiên, không loại trừ nhịp lẻ mặc dùloại nhịp này không có tính ưu thế vì người Việt vốn ưa cân đối, hài hoà Nếunhịp lẻ có xuất hiện thì cũng ưu tiên nhịp lẻ cân đối 3/3, sau đó mới đến các loạinhịp lẻ khác
Trong thơ tự do, có những câu thơ rất gần gũi với văn xuôi song lại có sứcngân vang rất lớn Hiệu quả đó là do nhà thơ đã có ý cho vào đó một số âm tiết
Trang 19làm cho câu thơ dài và trùng với đơn vị cú pháp của văn xuôi, làm cho người đọc
có cảm tưởng như đang bơi trên một dòng chảy không dứt của một chuỗi ngôn từđầy ấn tượng, câu thơ có sức ngân vang rất lớn Theo GS Mai Ngọc Chừ thì nhịp
điệu là "tiền đề cho hiện tượng gieo vần" [10, tr.28] Nhịp điệu là kết quả hòa
phối âm thanh, liên kết các yếu tố ngữ âm lại với nhau để tạo ra nhạc tính, tạo ra
sự trầm bổng trong thơ
Như vậy, âm điệu, vần và nhịp là những đơn vị ngữ âm không thể thiếutrong ngôn ngữ thi ca Trong đó tuy vần và nhịp là hai hiện tượng khác nhaunhưng chúng có mối quan hệ hữu cơ và tương hỗ lẫn nhau, cái này là tiền đề củacái kia Chúng bổ sung cho nhau tạo nên một bộ mặt hoàn chỉnh của những yếu
tố hình thức thơ ca
b Về ngữ nghĩa
Thơ là một loại hình nghệ thuật đặc thù Ngôn ngữ thơ là một phương diệnhình thức góp phần đặc biệt quan trọng làm nên phong cách, diện mạo của thơ
Vì vậy, ngôn từ khi đưa vào thơ đều đã được sự lựa chọn của tác giả
Từ ngữ khi đi vào thơ hoạt động rất đa dạng, linh hoạt và biến hoá Vănxuôi không hạn chế số lượng âm tiết, từ ngữ, câu chữ, còn trong thơ, tuỳ theotừng thể thơ mà ngôn ngữ có những cấu trúc nhất định Khi đi vào thơ, do áp lựccủa cấu trúc và ngữ nghĩa, ngôn từ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩagốc, nghĩa ban đầu của nó mà được xác lập những nghĩa mới tinh tế, đa dạnghơn nhiều Chính vì thế, mỗi từ ngữ trong thơ chứa đựng sức mạnh tiềm tàng, ẩnchứa những thông điệp thẩm mĩ tinh tế, sâu sắc Vì vậy, ngữ nghĩa trong thơphong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa trong văn xuôi và trong giao tiếp hàngngày Trong thơ mỗi đơn vị ngôn từ đều chứa tất cả mọi giá trị sáng tạo mangtính nghệ thuật ngoài giá trị ý niệm chung của ngôn từ
Trang 20Dù nhịp điệu đóng vai trò quan trọng trong thơ song một mình nó khôngthể tạo nên giá trị bài thơ Ngữ nghĩa và ngữ âm là hai mặt cơ bản để cấu thànhtác phẩm thi ca Điều kì diệu của ngôn từ trong thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ vừa gọitên sự vật vừa gợi những liên tưởng khiến người đọc phát hiện ra những nét tiềmtàng mà trong giao tiếp hàng ngày không có được Đó là sức mạnh của ngôn ngữnghệ thuật nói chung, ngôn ngữ thơ ca nói riêng Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ khơigợi và thực hiện chức năng thẩm mỹ Các đơn vị ngôn ngữ trong bài thơ phảiđược lựa chọn sắp xếp theo những cách thức nhất định của từng nhà thơ Hiệu
quả biểu đạt theo nguyên tắc ý tại ngôn ngoại là mục đích muôn đời của thi ca.
Cho nên, khi nghiên cứu ngôn ngữ thi ca ta phải chỉ ra được các phương thức tạolập những đơn vị ngôn ngữ có hiệu quả biểu đạt cao, tức là có giá trị tu từ Đặctrưng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ thơ một sức cuốn hút kỳ lạ đối với ngườiđọc, người nghe Bởi đến với thơ, chúng ta không chỉ tiếp nhận bằng mắt, bằngtai mà bằng cả tình cảm, cảm xúc, bằng trí tưởng tượng, liên tưởng và bằng điệutâm hồn Điều đó làm cho ngôn ngữ thơ không chỉ là phương tiện giao tiếp màcòn đóng vai trò tiếng nói nội tâm đồng điệu Trong quá trình vận động của ngônngữ thơ, cái biểu hiện và cái được biểu hiện đã xâm nhập chuyển hoá vào nhautạo nên cái khoảng không ngữ nghĩa vô cùng cho thi ca
c Về ngữ pháp
Nếu như Phan Ngọc từng cho rằng: "Thơ là một tổ chức ngôn ngữ hết sức
quái đản" [38, tr.18], thì sự quái đản đó thể hiện rõ trong bình diện ngữ pháp của
ngôn ngữ thi ca
Trước hết, đó là sự phân chia ranh giới các dòng thơ Có người quan niệmmỗi dòng thơ tương ứng với một câu thơ nhưng trong thực tế ranh giới giữa câuthơ và dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau Có những câu thơ bao gồm nhiều
Trang 21dòng thơ, có dòng thơ lại bao gồm nhiều câu thơ Các thành phần trong dòng,trong câu hay bị đảo lộn trật tự Các từ nhiều lúc không sắp xếp theo trật tự bìnhthường và điều này khác với văn xuôi Đặc điểm này được thể hiện rất rõ trongthơ ca hiện đại ở hiện tượng câu vắt dòng.
Cấu trúc trong ngôn ngữ thơ thường không tuân theo quy tắc bắt buộc vàchặt chẽ như câu trong văn xuôi và ngữ pháp thông dụng Do vậy, nhà thơ cóquyền sử dụng những kiểu câu như đảo ngữ, tách biệt Câu vắt dòng, câu trùngđiệp mà không làm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận văn bản Mặt khác,chính nó lại mở ra những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thi ca Chính sự
quái đản về cú pháp của ngôn ngữ thơ giúp nhà thơ diễn đạt được những lớp
nghĩa phức tạp, tinh tế vô cùng của sự vật trong sự hữu hạn của câu chữ và tạonên phong cách của từng nhà thơ
Tóm lại, qua ba cấp độ về ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp, ta thấy ngôn
ngữ thơ ca là ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù, nó không chỉ là sản phẩm thể hiện tàinăng, sáng tạo của tác giả mà còn là đối tượng không kém phần lý thú của ngườiđồng sáng tạo Với đặc trưng nghệ thuật ấy, ngôn ngữ thơ ca có khả năng vô tậntrong việc khám phá, miêu tả những trạng thái tinh tế, bí ẩn của thế giới tâm hồncon người
1.2 Một số nét giới thiệu về Vũ Quần Phương và sáng tác của ông 1.2.1 Nhà thơ Vũ Quần Phương
Nhà thơ Vũ Quần Phương tên thật là Vũ Ngọc Chúc, sinh năm 1940, quêgốc ở xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Ông sinh ra trong một giađình gia giáo, nề nếp, luôn lấy sự học làm trọng, mẹ là cô giáo, bố là công chứcđịa chính thời Pháp Trước khi trở thành nhà thơ Vũ Quần Phương là một Bác
Trang 22sỹ Khi còn ngồi trên ghế sinh viên, Vũ Quần Phương học rất giỏi Cả 6 năm liềnông đều được nhận học bổng toàn phần Rồi khi ra trường, ông là sinh viên duynhất của khoá (gồm 300 người) được lấy về Bộ Y tế Thế nhưng, sau khi tốtnghiệp đại học Y khoa Hà Nội, về công tác tại Bộ Y tế, hai năm sau, Vũ QuầnPhương đã về làm công tác biên tập văn học ở đài tiếng nói Việt Nam, Nhà xuấtbản Văn học, và Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội trên cương vị Chủ tịchHội Nhà thơ Vũ Quần Phương là đại biểu Quốc hội khoá IX (1992- 1997), Phó
tổng biên tập tạp chí Văn Chương Việt Nam Nhiều năm công tác tại Hội Nhà
văn Việt Nam, hiện nay, ông là Chủ tịch Hội đồng Thơ - Hội Nhà văn Việt Nam
Năm 2007, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học (đợt II)
Vũ Quần Phương là người có sức sáng tạo dồi dào Ông thông hiểu thơ,tin yêu và trân trọng văn học dân tộc Vũ Quần Phương còn là nhà phê bình có
uy tín Ông đã từng chủ biên, viết lời giới thiệu nhiều công trình, tuyển tập thơlớn Nổi tiếng từ thời còn trẻ, đến nay đã bước qua ngưỡng cửa của tuổi thấtthập, ông vẫn không ngừng sáng tạo, đem đến cho thơ ca Việt Nam đương đại
nhiều tác phẩm có giá trị, Vết thời gian là một trong những tập thơ tiêu biểu nhất.
1.2.2 Thơ Vũ Quần phương và tập Vết thời gian
1.2.2.1 Thơ Vũ Quần Phương
Thuộc lớp nhà thơ xuất hiện từ thời chống Mỹ, Vũ Quần Phương đến vớithơ từ rất sớm Trong khi Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, NguyễnĐức Mậu, đều khoác áo lính ra chiến trường trực tiếp chiến đấu thì Vũ QuầnPhương ở lại tuyến hai trong cương vị bác sỹ Chính vì vậy, ông gắn bó với hậuphương nhiều hơn Những đề tài mà ông quan tâm là những vấn đề nơi hậuphương Qua mỗi tác phẩm của mình, Vũ Quần Phương đưa vào trong nó từng
Trang 23nét đẹp của văn hoá dân tộc, của những miền đất, miền quê, của tình yêu và tìnhngười.
Thơ Vũ Quần Phương, như nhận xét của nhiều người, gắn bó có chủ đíchvới mạch sống chung của dân tộc, của đất nước với bao nhiêu đổi thay kì diệu,làm sáng lên những phẩm chất bình dị mà cao quý từ hậu phương đến tiền tuyếnlớn, từ những điều giản dị ẩn khuất đến hành động cao cả, anh hùng Ông viết vềBác Hồ kính yêu với lòng biết ơn vô hạn:
Bác Hồ ơi, vị muối mặn con ăn
Đã kết đậm bao tình thương của Bác
Manh áo ấm con mặc khi trở rét
Đã dệt vào trăm mối Bác lo toan
( Thấm trong di chúc)
Chất trữ tình trong thơ Vũ Quần Phương được thể hiện một cách điềmđạm, giản dị và sâu sắc, ông không bao giờ ồn ào lên gân hoặc cao giọng Tácphẩm của ông đến với người đọc một cách nhẹ nhàng, và chạm khắc trong lòngđộc giả những cảm xúc khó quên Vũ Quần Phương là nhà thơ có con mắt xanh
và trái tim nồng ấm tình đời, sự mẫn cảm, thông tuệ của người quan trắc Còn nhớ câu thơ Vũ Quần Phương viết khi còn trẻ măng, trong đêm thức cùng đất
nước, lắng nghe trong cõi huyền vi trời đất chuyển vần có cả Tiếng trẻ nhà ai u
ơ trở giấc / theo gió đêm về vọng đến đài tôi Ông đã có câu thơ bộc lộ nhân sinh
quan của thời đại mới:
Ta tính đất trời ta định đời ta
(Trên đài quan trắc khí tượng, 1958)
Nhà thơ đã "phát hiện và mách bảo chúng ta, sau cái vẻ ngoài bình lặngcủa cuộc sống, có một mạch ngầm ấm nóng với bao nỗi vui- buồn- mừng-
Trang 24giận hy sinh, chiến thắng Cái hương vị ngọt ngào của tình yêu, hạnh phúc"(Vũ Quang Vinh- Vũ Quan Sinh)[11, tr.6] :
Dẫu ngày mai cỏ che khuất chân bia
Tiếng bom dội qua câu thơ tình ái
Vẫn rung lòng những đôi lứa mai sau
(Những điều cùng đến)
Thơ Vũ Quần Phương luôn giữ được sự điềm tĩnh cần thiết giữa dòngchảy hối hả của cuộc đời Ông cảm động trước sự cần mẫn của những người
trồng cỏ bên hè phố, nao lòng trước một làn điệu dân ca vấn vít ba cánh đồng
trăng sáng, lững thững trong một chiều trung du đến với một người chăn bò sữa,
trầm tư khi trở về với các cụ chép sách trong thư viện, với người chăn vịt mộtđêm sao
Vũ Quần Phương cũng nổi tiếng ở mảng thơ tình Nhưng thơ tình của VũQuần Phương thường nghiêng về quá khứ, tình yêu lắng lại của những gì đãyêu Tình yêu dành cho những người từng trải hơn là người trẻ tuổi:
Biết nói gì trước biển em ơi Trước cái xa xanh thanh khiết không lời Cái hào hiệp ngang tàng của gió
Cái kiên nhẫn của ngàn đời sóng vỗ Cái trang nghiêm của đá đứng chen trời
(Trước biển)
Một chủ đề mà Vũ Quần Phương luôn dành nhiều tâm sức nữa là cuộcsống sáng tạo của các nhà thơ và công việc làm thơ :
Cân áo, cân cơm
Cân vua, cân chúa
Trang 25Bao giờ thơ được như men
Ủ trong ché rượu hồng lên mặt người
Bao giờ thơ giúp được đời Bát cơm ấm dạ lửa ngời trong đêm
( Bao giờ)
Tóm lại, sự trưởng thành của thơ Vũ Quần Phương ở cả hai phương diệntiếp cận đời sống bằng sự chín mồi của tư tưởng, cảm xúc và thuần thục trongnghệ thuật phô diễn là một quá trình chậm và xuyên thấm vào nhau Nó là bước
đi của con cuốn chiếu với những cặp chân li ti nhưng bền bỉ, dẻo dai và khoảngcách thu được không ngờ Vũ Quần Phương là một biên tập viên cẩn trọng, tinh
tế, là người bình thơ có duyên, có nghề, phát hiện và bình giá nhiều vẻ đẹp thơ
ca từ cổ chí kim
* Các tác phẩm chính:
- Cỏ mùa xuân (in chung với Văn Thảo Nguyên, 1964)
- Hoa trong cây (1977)
Trang 26- Giấy mênh mông trắng (2003).
- Thơ và lời bình( 1996)
1.2.2.2 Tập thơ Vết thời gian
Năm 1996, tập thơ Vết thời gian của Vũ Quần Phương được ra mắt bạn đọc Tập thơ gồm 65 bài, đó là sự ám ảnh khôn nguôi trước bước đi ngùn ngụt của thời gian Thật ra không phải đến Vết thời gian mà ngay từ Những điều cùng đến, Vầng trăng trong xe bò, thời gian đã là một sự ám ảnh với nhà thơ Tuy nhiên đến tập thơ
này, nỗi ám ảnh thời gian mới thực sự được bộc lộ một cách rõ nét Tác giả nói đến
thời gian bằng sự chiêm nghiệm, triết lý về cuộc đời của một người từng trải.
Nguyễn Thị Lan đã có một nhận xét khá tinh tế về thơ của ông: “Như một khúcnhạc dịu êm, âm hưởng của những câu thơ anh gieo vào lòng ta một nỗi buồn dadiết, một nỗi buồn làm trong lại hồn người Sự cộng hưởng giữa tâm hồn nhà thơ vàtâm hồn người đọc làm cho thơ anh thật đằm và sâu” [11, tr.1] Cũng như vậy, tácgiả Trịnh Thanh Sơn cảm nhận: “ Tập thơ kết tinh bao nhiêu trải nghiệm, nhữngnông nỗi cuộc đời Dấu vết của tháng năm in đậm và xuyên suốt cảm xúc của anh,
tạo nên những câu thơ thâm trầm, sâu lắng và đầy dằn vặt” [ 46] Vết thời gian thực
sự là tập thơ mang nhiều điểm độc đáo, cần được quan tâm nghiên cứu
1.3 Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã làm rõ một số quan điểm về ngôn ngữ thơ vàđặc trưng của ngôn ngữ thơ Đồng thời, chúng tôi cũng chỉ ra vị trí của nhà thơ Vũ
Quần Phương trong nền thơ Việt; vai trò của tập thơ Vết thời gian trong sự nghiệp
sáng tác của nhà thơ Qua đó, chúng tôi thấy, có nhiều quan niệm về ngôn ngữ thơ,các quan niệm tuy có khác nhau nhưng đều gặp nhau ở chỗ đều làm rõ bản chất
Trang 27của thơ ca và vai trò của người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật Trong tươngquan với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ có những đặc trưng riêng trên cả baphương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Những đặc trưng này chính là cơ sở lýthuyết quan trọng để chúng tôi tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ Vũ Quần Phương
trong tập Vết thời gian.
Trang 28Chương 2
VẦN, NHỊP VÀ THỂ THƠ TRONG VẾT THỜI GIAN
Trong ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ thơ ca nói riêng, hình thức và nội
dung luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Hình thức luôn phải phù hợp với nội dungphản ánh Mỗi bài thơ được xem như một chỉnh thể Tìm hiểu về đặc điểm hình
thức ngôn ngữ thơ Vũ Quần Phương trong Vết thời gian, chúng tôi chủ yếu đi
sâu tìm hiểu một số khía cạnh sau: tìm hiểu đặc điểm các thể thơ, vần và nhịp.Qua các phương diện đó, chúng ta có thể thấy rõ hơn về phong cách và diện mạoriêng của thơ Vũ Quần Phương trong thơ ca Việt Nam hiện đại
2.1 Thể thơ trong Vết thời gian
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thể loại là “dạng thức của tác phẩm văn
học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển củalịch sử văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặcđiểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan
hệ nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy” [20,tr.299] Thể loại văn họctrong bản chất “phản ánh những khuynh hướng phát triển bền vững, vĩnh hằngcủa văn học, và các thể loại văn học tồn tại để giữ gìn, đổi mới thường xuyên cáckhuynh hướng ấy” [20, tr 300]
Sự lựa chọn thể loại văn học nói chung, thể thơ nói riêng đều xuất phát từ
sự đòi hỏi của nội dung từ cái nhìn của tác giả, nói cách khác là cái “tông, tạng”trên trục lựa chọn của mỗi tác giả Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng: "Mỗi
Trang 29thể loại có nội dung riêng của nó, nội dung ấy chỉ thích hợp với một quan điểmnhìn nhất định"
Khảo sát tập thơ Vết thời gian, gồm 65 bài, chúng tôi thấy Vũ Quần
Phương đã sử dụng rất nhiều thể thơ như thể 4 tiếng, 5 tiếng, 6 tiếng, 7 tiếng, 8tiếng, lục bát và thể tự do Cũng theo kết quả thống kê của chúng tôi, trong tập
thơ Vết thời gian, nhà thơ Vũ Quần Phương sử dụng khá nhiều các thể thơ: 5
tiếng có 4 bài, 7 tiếng, 8 tiếng, có 12 bài, thơ lục bát có 16 bài và thơ tự do có 29bài Do vậy, trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu đi vào trình bày đặc điểm củanhững thể thơ này
2.1.1 Thể thơ 5 tiếng
Thể thơ 5 tiếng là một trong những thể thơ truyền thống của Việt Nam
Trong công trình Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, Bùi Văn Nguyên - Hà
Minh Đức đã khẳng định: thể thơ này "phổ biến trong trong tục ngữ và hát giặm
Nghệ Tĩnh" [ 41, tr 156] Từ đầu thế kỉ XX, thể thơ này được khá nhiều nhà thơ
sử dụng để sáng tác, tạo nên nhiều thi phẩm có giá trị nghệ thuật
Trong tập Vết thời gian của Vũ Quần Phương, qua khảo sát, chúng tôi thấy
có 4/65 bài thơ được sáng tác theo thể thơ 5 tiếng, chiếm 6.2%
Trước đây, nếu như Lưu Trọng Lư dùng thể thơ 5 tiếng để tái hiện một
khoảnh khắc mơ màng, huyền diệu, thổn thức của mùa thu trong Tiếng thu,
Nguyễn Nhược Pháp dùng thể thơ 5 tiếng để tái hiện câu chuyện tình đầy mộng
mơ của cô gái tuổi trăng rằm trong Chùa Hương, thì giờ đây, Vũ Quần Phương
lại gửi gắm vào trong thể thơ này nỗi niềm, sự trăn trở, suy tư của một con ngườibước qua bao bể dâu của cuộc đời Với thể thơ 5 chữ, Vũ Quần Phương đã để
Vết thời gian in hằn trong nỗi buồn, sự cô đơn của thời quá vãng Trong cảm
nhận của Vũ Quần Phương, thời gian trôi đi một cách vô tình Thời gian là "cái
Trang 30hư không", không thể nắm bắt, không thể cảm nhận một cách cụ thể, nhưng trênhành trình của nó, vết thời gian luôn in hằn trên cả cõi hữu hình và vô hình:
Nó là cái hư không
mà chất chồng kí ức Không nắm được trên tay
mà hằn trên nét mặt Thân người về xứ khác tình người còn đâu đây
( Thời gian) Hay ở bài thơ Không đề, tác giả đã viết về tâm trạng cô đơn, nỗi day dứt,
dằn vặt, tự vấn của chàng trai một cách chân thực, xúc động nhưng đầy ám ảnh
và dư ba trong lòng người đọc Trong cảm nhận của nhân vật trữ tình, những gì
thời gian để lại cho con người chỉ là những kỷ niệm đã gãy nát, nhạt nhoà:
Anh còn gì cho em Những tháng ngày gẫy nát Tuổi thanh xuân qua rồi Dăm câu thơ nhoà nhạt
Lá trong chiều thu rơi
(Không đề)
Thế nhưng, cũng có lúc, sự trăn trở, suy tư của con người dường như tạmlắng lại Thời gian hoà vào cảm xúc, tình yêu của con người trong một khônggian đầy mơ mộng:
Anh dắt tay mùa xuân
Đi cùng em ánh sáng Không gian đầy men say
Trang 31(Trái chín)
Như vậy, có thể thấy, khi sử dụng thể thơ 5 chữ, các nhà thơ khác thườnghướng tới khắc họa một khoảnh khắc của cảm xúc, của tâm trạng Ngược lại, VũQuần Phương đã vượt ra khỏi giới hạn của câu chữ để vừa thể hiện cảm xúc, vừabộc lộ nỗi suy tư, trăn trở của mình về thời gian, về cuộc đời
2.1.2 Thể thơ 7 tiếng, 8 tiếng
Thể thơ 7 tiếng và 8 tiếng là hai thể thơ khá phổ biến trong tục ngữ, cadao, dân ca người Việt và một số truyện thơ Tày Nùng
Ở đây, cần phân biệt thể thơ 7 tiếng của Việt Nam với thể thơ thất ngôncủa Trung Quốc Khác với thể thơ thất ngôn của Trung Quốc, thể thơ 7 tiếngtrong thơ Việt có những nét riêng Nếu nhịp của thể thơ thất ngôn là nhịp 4/3 thìnhịp trong thơ 7 tiếng của người Việt là nhịp 3/4 Nếu vần trong thơ thất ngônthường là vần chân thì vần trong thơ 7 tiếng của người Việt có thể là vần liền,vần chân và vần lưng Nếu như lời thơ trong thơ cổ nói chung, thơ thất ngôn nóiriêng là lời thơ "siêu cá thể" - lời "vô chủ thể" (theo cách nói của Lixêvich) thìlời thơ trong thơ 7 tiếng của người Việt là lời thơ của một chủ thể sáng tạo có cátính độc đáo
Trang 32Thể thơ 7 tiếng và thể thơ 8 tiếng là hai thể thơ được sử dụng khá nhiều
trong thơ Việt hiện đại, đặc biệt là trong phong trào Thơ mới Trong tập Vết thời
gian, hai thể thơ này cũng được Vũ Quần Phương sử dụng khá nhiều Qua khảo
sát và thống kê, chúng tôi thấy, trong tập thơ Vết thời gian có đến 12/65 bài
được sáng tác theo hai thể thơ này, chiếm 18,4% Trong đó, thể thơ 7 chữ có 9bài, thể thơ 8 chữ có 3 bài
Khảo sát các tác phẩm được viết theo thể thơ 7 tiếng và thể thơ 8 tiếngtrong thơ Vũ Quần Phương, chúng tôi thấy, hầu hết các bài thơ sáng tác theo haithể thơ này không dài Theo Nguyễn Phan Cảnh: “Cái mạnh của thơ 7 chữ là néthàn lâm", "cái mạnh của thơ 8 chữ là chất hoành tráng" [6, tr.150] Thật vậy,
trong Vết thời gian, mỗi bài thơ viết theo thể 7 tiếng, 8 tiếng có dung lượng
không nhiều nhưng cũng như thể 5 tiếng, Vũ Quần Phương đã gửi gắm vào tácphẩm của mình những hoài niệm, những suy tư, trăn trở, sự chiêm nghiệm quanhững câu thơ đầy tính triết lý Chẳng hạn, đó là giây phút con người lắng lại,suy tư, chiêm nghiệm về quãng đời đã qua và nhận ra:
Con bỗng thương cha vợ nhói thương chồng
xa rất xa mà rọi tận sát lòng ngỡ nhoà tắt, bỗng hằn lên từng nét cõi nhỏ li ti, cõi lớn vô cùng
Trang 33dẫu có vậy nhưng còn được vậy tôi là cầu nhưng em là chi!
( Cầu và sông)
Bên cạnh những vần thơ đầy suy tư, trăn trở, thơ 7 tiếng và 8 tiếng của VũQuần Phương còn chứa đựng những gam màu bàng bạc của một quá khứ xavắng, đó là gam màu của "Vết thời gian" để lại trong cuộc đời mỗi con người, làgam màu của "nỗi niềm lẫn trong hư vô", của "chân trời không rõ":
Bỗng nhớ một chân trời không rõ Một miền xa chưa đến bao giờ một năm tháng chưa từng được sống một nỗi niềm lẫn trong hư vô
muốn được hỏi từng viên đá lát
đá còn ôm những dấu chân ai người ra đi người không trở lại
ta bây giờ ta không ngày mai
(Mưa trên thành cổ)
Cũng có những lúc, thể thơ 7 tiếng, 8 tiếng được Vũ Quần Phương được
sử dụng để viết nên những câu thơ trữ tình đầy cảm xúc Nhưng đó không phải làcảm xúc của tuổi trẻ đầy nhiệt huyết và mạnh mẽ trong Thơ mới mà là cảm xúcđằm thắm, lắng sâu đầy ưu tư, khắc khoải của một con người đã bước vào chặngđường cuối cùng của cuộc đời
Cơn mưa xa ướt cánh rừng gầy Lửa trên má, trên môi, trên tóc
Em hay lửa, ta hay cơn sốt
Trang 34Cơn sốt rừng hoang vu mưa bay
(Cơn sốt rừng)
Gió vẫn thổi qua nòng súng cổ
Em che sao cho đủ chân trời Ngón tay thưa mà mưa đã nặng Sao tóc người lại trắng như vôi
(Mưa trên thành cổ)
Trong công trình Ngôn ngữ thơ, khi nhấn mạnh vẻ đẹp của thể thơ 7 tiếng,
8 tiếng, Nguyễn Phan Cảnh cũng đưa ra hạn chế của hai thể thơ này Tác giả chorằng, làm thơ 7 tiếng, "nếu yếu sức thì rơi vào vịnh", "nếu làm không khéo thìthành ra tấu" [ 6, tr.151] Trong tập thơ Vết thời gian, Vũ Quần Phương đã vượt
qua giới hạn của câu chữ để gửi gắm vào hai thể thơ này những nội dung đầycảm xúc, ưu tư, trăn trở của một con người trên hành trình tìm kiếm "vết thờigian" của cuộc đời
2.1.3 Thể thơ lục bát
Lục bát là thể thơ truyền thống tiêu biểu của dân tộc, nói như Trần KhánhThành: "Thơ lục bát là nhịp thở giống nòi" [dẫn theo 4, tr.1] Thơ lục bát là mộtthể tổ hợp giữa một câu 6 chữ (câu lục) và một câu 8 chữ (câu bát), mỗi bài thơ
có số câu không hạn định, có bài chỉ có một cặp câu (gồm 2 câu thơ), có bài dàiđến hàng trăm hàng nghìn câu Âm luật của thể thơ lục bát mang những đặctrưng của ngữ âm tiếng Việt, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày, có sự luân phiênbằng trắc cân đối, trầm bổng hài hoà Nhịp thơ đều đặn như hơi thở, dễ đọc, dễngâm, dễ thuộc Dòng lục và dòng bát kết hợp hài hoà với nhau cả bằng vần
Trang 35chân và vần lưng, âm trước gọi âm sau, câu trước rủ câu sau, vừa quấn quýt, vừađưa đẩy trôi đi trong điệu nhạc uyển chuyển êm đềm.
Trong thơ ca dân gian, thể thơ lục bát được sử dụng phổ biến trong ca dao,dân ca và các làn điệu tuồng, chèo, các bài hát vè, các tập diễn ca Trong văn học
Việt Nam thế kỷ XVIII, thể thơ lục bát đạt đến đỉnh cao trong kiệt tác Truyện
Kiều của Nguyễn Du Trước và cùng thời với Vũ Quần Phương, đã có những tác
giả ghi dấu ấn của mình trong thể thơ này như Nguyễn Bính, Tố Hữu, NguyễnDuy… và trong dòng chảy lịch sử của thể thơ dân tộc, Vũ Quần Phương đã tiếpnối thế hệ các nhà thơ đi trước, tạo nên những vần thơ lục bát vô cùng giản dị, tựnhiên và đằm thắm, lắng sâu và da diết, gợi nhiều suy tư, trăn trở về tình yêu,cuộc sống và con người
Khảo sát tập thơ Vết thời gian của Vũ Quần Phương, chúng tôi thấy, thể
thơ lục bát là 16/65 bài (chiếm 24,6%) So với số bài thơ lục bát của Tố Hữu,Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Nguyễn Trọng Tạo, … đây là con số không nhiều
Tuy nhiên, trong tương quan với số lượng những thể thơ khác trong tập thơ Vết
thời gian thì có thể khẳng định, tỉ lệ thơ lục bát trong thơ Vũ Quần Phương khá
lớn Điều đó chứng tỏ, nhịp điệu êm đềm của thể thơ dân tộc vẫn luôn đồng hànhcùng nhà thơ trên hành trình sáng tạo nghệ thuật
Điều đáng chú ý là, trong số 16 bài thơ lục bát này, có tới 9 bài được VũQuần Phương sử dụng để tái hiện không gian và cảnh sắc của quê hương đấtViệt Đó là không gian cổ kính, tĩnh lặng, trầm tư của cố đô Huế:
Sông dài đầy ánh hoàng hôn Chân vui phố chợ mắt buồn cố đô Tĩnh Tâm sen nở trong hồ Nắng lưu trên nếp rêu mờ ải quan
Trang 36Mái chèo không nhặt không khoan Biết ai sông nước đò giang với mình
(Huế)
Vẻ đẹp trong trẻo, thanh khiết, yên bình, thơ mộng và tình tứ của Hà Bắc:
Ta về Hà Bắc mưa ngâu Nhớ thương từ đẩu từ đâu Đêm dài.
Sông Thương nước chảy bên ngoài Gió lên trên núi Thiên Thai một mình Đây Từ Sơn, đây Thuận Thành Câu ca quan họ nửa lành nửa đau
(Mưa ngâu Hà Bắc)
Vẻ đẹp kỳ vĩ, thiêng liêng nhưng vẫn rất bình dị, thân thuộc của Nhà thờ
đá Phát Diệm:
Xà ngang, bậu cửa, mè rui
Ơ hay nhà chúa lại vui nét làng
Ở đâu hư ảo thiên đàng Chứ đây thân thuộc mơ màng cau tre Hoa cương kì diệu tay nghề Nhìn trên nền đá nhớ về cha ông Cũng là ánh mắt ngùi trông Cũng vần trán nổi bão dông bời bời Chúa mang tên lạ xứ người
Về đây chúa sống cuộc đời xứ ta
(Nhà thờ đá Phát Diệm)
Trang 37Bên cạnh việc tái hiện cảnh sắc, không gian của quê hương, Vũ QuầnPhương còn sử dụng thể thơ lục bát để viết về những kỉ niệm, cảm xúc của thờiquá vãng Đó là giây phút nhà thơ nghiêng mình để bày tỏ nỗi lòng của mình khiđọc thơ Xuân Diệu:
Con sông ấy có bến thuyền Câu thơ ấy có một miền xót xa Thơ tình tặng khắp người ta Hại thay… trắng một vòng hoa bên mồ
Chân đi trăm núi nghìn hồ Gửi hương cho gió bao giờ mới xong
Chúng mình đi giữa người ta
Áo chan chan nắng, môi ngà ngà say
… Thế rồi em hoá người ta
Ba lô rách, mộng hào hoa cũng tàn (Hồi ức)
Điều đặc biệt là, trong dòng trôi chảy nhẹ nhàng, trầm bổng của thể thơlục bát, Vũ Quần Phương vẫn không nguôi trăn trở về cuộc đời, giọng thơ vì thế
mà trầm lắng, nhiều khi day dứt đến xót xa:
Trang 38Kiếp sinh như ngọn sóng trào Dào lên một đợt lặn vào thiên thu Hết phiên về cõi sa mù Thơ làm ngọn lửa đền bù trên tay Trăm năm người ấy phút này Nỗi đêm thao thức, nỗi ngày lo toan Mặt người đẫm nắng nhân gian Làn da cháy nắng cơ hàn biển dâu Bây giờ đấy, bấy giờ đâu Vẫn vầng trán ấy cày sâu nỗi người
( Nỗi người)
Cách tách đoạn chia khổ trong lục bát Vũ Quần Phương cũng rất lạ Thơlục bát truyền thống thì một khổ thơ thường gồm có 4 hoặc 8 dòng thơ Các tácphẩm của ông đôi khi được chia làm nhiều khổ, có những khổ chỉ một cặp lục
bát ( Mưa ngâu Hà Bắc, Đọc Xuân Diệu, Vu vơ, Biểu tượng Ê đê ) Chẳng hạn:
Trời làm ta nhớ vu vơ người đi phía núi, ta chờ phía sông
Mùa thu rụng lá ngô đồng câu thơ còn đó gánh gồng đã xa
Người là ngọn gió bay qua
ta là lá cỏ sương sa ướt đầm.
(Vu vơ)
Trang 39Một điều đáng chú ý nữa là khi viết thơ lục bát, trong tập thơ Vết thời
gian, nhiều lần tác giả tìm về với giọng tập Kiều, tập các thi nhân đời sau để giãi
bày những điều sâu thẳm thiêng liêng nhất Chẳng hạn, trong bài Đọc Xuân
Diệu, mỗi từ, mỗi câu, mỗi hình ảnh thơ lại nhắc gợi ta trở về với cuộc đời và sự
nghiệp của người nghệ sĩ vô cùng đa cảm và tài hoa - ông hoàng của tình yêunhưng cũng là thi sĩ cô đơn trong phong trào Thơ mới
Con sông ấy có bến thuyền câu thơ ấy có một miền xót xa Thơ tình tặng khắp người ta hại thay… trắng một vòng hoa trên mồ
Chân đi trăm núi ngũ hồ gửi hương cho gió bao giờ mới xong Chữ trên mặt giấy phập phồng trái tim im lặng dưới vồng cỏ may
Sự dung hợp đó khiến cho bài thơ trở thành một liên văn bản đầy ý nghĩa,thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của tác giả với người nghệ sĩ tài hoa, nặng tìnhtrăm phương mà cô đơn suốt cuộc đời Mặt khác, bài thơ còn là lời tri ân, thểhiện sự trân trọng tiếc nuối một hồn thơ mãnh liệt, trẻ trung, khát yêu, khát sốngđến cháy rát “chữ trên mặt giấy phập phồng”, dù “ trái tim im lặng dưới vồng cỏmay”…
Như vậy có thể thấy rằng, trong Vết thời gian, thể thơ lục bát được Vũ
Quần Phương sử dụng một cách tự nhiên, giản dị để khắc họa vẻ đẹp của thiênnhiên, cảnh sắc, không gian của quê hương đất Việt cũng như gửi gắm những kỷniệm, những hồi ức đầy cảm xúc của một thời quá vãng Và, dưới những vần thơlục bát êm đềm, người đọc vẫn có thể nhận thấy một hồn thơ luôn trăn trở, suy tư
Trang 40về cuộc đời, giọng thơ vì thế mà có lúc lắng đọng, thiết tha, có lúc xót xa, daydứt Đó là điểm riêng của thơ lục bát Vũ Quần Phương.
2.1.4 Thể thơ tự do
Thể thơ tự do là thể thơ “không bị ràng buộc vào các quy tắc nhất định về
số câu, số chữ, về niêm, luật, vần, đối…” Nó phân biệt với thơ văn xuôi ở chỗ
“văn bản có phân dòng và xếp song song thành hàng, thành khổ như những đơn
vị nhịp điệu, có thể có vần” [20, tr.318-319] Theo kết quả khảo sát, thống kê của chúng tôi, trong 65 bài thơ của tập thơ Vết thời gian, có 29 bài được viết theo thể
thơ tự do, chiếm tỉ lệ 44,6% Có thể so sánh tỉ lệ này với tỉ lệ của thể thơ tự do
trong tập Ánh trăng của Nguyễn Duy và Thư mùa đông của Hữu Thỉnh qua bảng
Vũ Quần Phương Vết thời gian 29 65 44,6%Hữu Thỉnh Thư mùa đông 20 36 56%Nguyễn Duy Ánh trăng 20 33 60.6%
Qua bảng thống kê trên, có thể thấy, so với nhiều nhà thơ khác cùng thờinhư Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, thể thơ tự do được Vũ Quần Phương sử dụng
trong tập thơ Vết thời gian có số lượng và tỉ lệ tương đương Điều này cho thấy,
thể thơ tự do là một trong những thể thơ chiếm ưu thế trong thơ hiện đại và đượcnhiều nhà thơ sử dụng để sáng tác Tuy nhiên, để nghiên cứu phong cách ngônngữ của Vũ Quần Phương thì con số này vẫn chưa nói được điều gì Kết quả