Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đã có sự phát triển ấn tượng, với tốc độ tăng trưởng tài sản đạt 210%, đứng đầu thế giới Nước ta cũng nổi bật với nhiều mặt hàng xuất khẩu, như hồ tiêu và gạo, lần lượt đứng đầu và thứ ba thế giới, cùng với thủy sản xếp thứ ba toàn cầu Việt Nam còn nằm trong nhóm 10 quốc gia xuất khẩu hàng dệt may hàng đầu và đứng thứ 6 thế giới về tốc độ phát triển du lịch, dẫn đầu châu Á.
Vịnh Hạ Long và hang Sơn Đoòng là hai trong số 10 địa điểm đẹp nhất trên thế giới Việt Nam cũng xếp thứ 6 trong danh sách các thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất toàn cầu.
Nền kinh tế Việt Nam đạt được sự phát triển ấn tượng nhờ nhiều yếu tố, trong đó quảng cáo thương mại đóng vai trò quan trọng Quảng cáo thương mại, một hoạt động của xúc tiến thương mại, đã xuất hiện ở nước ta từ lâu Kể từ sau năm 1986, khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng, sự phát triển của quảng cáo thương mại đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
1 Jeff Desjardins Chú thích địa chỉ trang web “Visualizing a Global Shift in Wealth Over 10 Years” (26/1/2018) https://www.visualcapitalist.com (truy cập ngày 3/12/2018)
2 Benjamin Elisha Sawe Chú thích địa chỉ trang web “The World’s Top Black Pepper Producing Cointries” (25/4/2017) https://www.worldatlas.com (truy cập ngày 3/12/2018)
3 Data visualized by Tableau software Chú thích địa chỉ trang web “Principal rice exporting countries worldwide in 2017/2018” (in 1,00 metric tons) (2018) https://www.statista.com (truy cập ngày 3/12/2018)
4 Oishimaya Sen Nag Chú thích địa chỉ trang web “Top Fish And Seafood Exporting Countries” (25/4/2017) https://www.worldatlas.com (truy cập ngày 3/12/2018)
5 WTO Chú thích địa chỉ trang web “World Trade Statistical Review 2017” (2017) https://www.wto.org (truy cập ngày 3/12/2018)
6 Vy An Chú thích địa chỉ trang web “Việt Nam đứng thứ 6 thế giới về tốc độ phát triển du lịch” (11/8/2017) https://dulich.vnexpress.net (truy cập ngày 3/12/2018)
Quảng cáo thương mại đã trở thành một công cụ thiết yếu trong việc quảng bá sản phẩm và dịch vụ, giúp các nhà kinh doanh xây dựng thương hiệu và cung cấp thông tin đến người tiêu dùng Sự cạnh tranh trong thị trường ngày càng gia tăng, với nhiều loại sản phẩm và dịch vụ được giới thiệu Để thúc đẩy tiêu thụ, các nhà kinh doanh đã áp dụng quảng cáo thương mại nhằm tạo ra hiệu ứng tâm lý tích cực, khuyến khích người tiêu dùng mua sắm và sử dụng dịch vụ của họ.
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh hiện nay, các nhà kinh doanh cần tận dụng tối đa lợi ích từ quảng cáo thương mại để đạt lợi nhuận cao, vì quảng cáo có ảnh hưởng lớn đến quyết định của người tiêu dùng Tuy nhiên, bên quảng cáo thường có nhiều lợi thế hơn, nhờ vào tài chính, kiến thức chuyên môn và sự am hiểu về sản phẩm, dịch vụ Ngược lại, người tiêu dùng thường tiếp nhận quảng cáo một cách thụ động, dẫn đến việc họ có thể mua sản phẩm hoặc sử dụng dịch vụ theo hướng mà các nhà kinh doanh định hướng thông qua quảng cáo.
Quảng cáo thương mại được thực hiện qua nhiều hình thức và phương tiện khác nhau như báo, tạp chí, truyền hình, internet và quảng cáo ngoài trời, góp phần vào sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, việc lợi dụng quảng cáo để trục lợi có thể gây thiệt hại cho người tiêu dùng, trong khi pháp luật chưa hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của họ Để bảo vệ người tiêu dùng, Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999, sau đó được thay thế bằng Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Ngoài ra, từ năm 1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 194/CP quy định về hoạt động quảng cáo, sau này được thay thế bằng Pháp lệnh quảng cáo năm 2001 và được quy định chi tiết hơn trong Luật Quảng cáo.
Trong nhiều năm qua, lĩnh vực quảng cáo thương mại đã phát sinh nhiều vấn đề pháp lý chưa được điều chỉnh hoặc không còn phù hợp với thực tiễn hiện tại, như trách nhiệm của người đại diện quảng cáo và các mặt hàng có tác động tiêu cực đến người tiêu dùng, chẳng hạn như bia và đồ uống có cồn Những vướng mắc này cho thấy pháp luật vẫn chưa bảo vệ đầy đủ lợi ích của người tiêu dùng.
Tác giả chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại” cho Luận văn Thạc sĩ Luật học tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc Gia TP.HCM nhằm nghiên cứu và trình bày quan điểm về bảo vệ người tiêu dùng trong quảng cáo Mục tiêu của tác giả là góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý điều chỉnh mối quan hệ phức tạp giữa người tiêu dùng và bên quảng cáo hiện nay.
Tình hình nghiên cứu đề tài
Nước ta hiện nay đang sử dụng Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
Luật bảo vệ người tiêu dùng được ban hành vào năm 2010 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm giúp người tiêu dùng tránh thiệt hại khi mua sắm và sử dụng dịch vụ Bên cạnh đó, người tiêu dùng còn được bảo vệ bởi các quy định pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể Do đó, trong mối quan hệ quảng cáo thương mại, người tiêu dùng không chỉ được bảo vệ bởi các quy định về quyền lợi mà còn được bảo vệ bởi các quy định liên quan đến quảng cáo thương mại.
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban hành vào năm 2010 đã thay thế Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng năm 1999, nhưng sau 10 năm, nhiều hạn chế trong pháp luật vẫn tồn tại, đặc biệt trong lĩnh vực quảng cáo Người tiêu dùng chưa được bảo vệ đầy đủ trước những tác động tiêu cực từ quảng cáo thương mại, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện và cập nhật quy định pháp lý liên quan.
Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quảng cáo thương mại, được thể hiện qua các hình thức như luận văn, công trình nghiên cứu, sách và bài viết Những nghiên cứu này đóng góp quan trọng vào việc hiểu rõ hơn về quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực quảng cáo.
Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Như và Dương Thúy Diễm, bảo vệ tại Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2008 và 2009, nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam Tuy nhiên, cả hai luận văn đều không đề cập đến quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực quảng cáo Hơn nữa, các nghiên cứu này đã được thực hiện từ lâu, dẫn đến việc thiếu cập nhật về những thay đổi nhanh chóng trong hoạt động thương mại và quảng cáo thương mại tại Việt Nam trong thời gian gần đây.
Luận văn Thạc sĩ Luật học của Lê Thị Ngọc Hân, bảo vệ năm 2014 tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM, tập trung vào việc bảo vệ người tiêu dùng trước quảng cáo gian dối Tác giả phân tích các vấn đề lý luận và quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đồng thời đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý hành vi quảng cáo gian dối Qua đó, luận văn chỉ ra những bất hợp lý trong quy định hiện hành và đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ giới hạn trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng khi quảng cáo gian dối gây ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của họ.
Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Bảo Ngọc, bảo vệ năm 2016 tại Trường Đại học Kinh tế - Luật thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu về bảo vệ người tiêu dùng trước hành vi quảng cáo không lành mạnh của các doanh nghiệp Bài viết tập trung vào việc phân tích những ảnh hưởng tiêu cực của quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh đến quyền lợi của người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam.
Luận án Tiến sĩ Luật học “Hoàn thiện pháp luật về quảng cáo thương mại” của Nguyễn Thị Tâm, bảo vệ năm 2016 tại Học viện Khoa học xã hội, đã chỉ ra sự lỗi thời và tính không khả thi của quy định về quảng cáo thương mại Nghiên cứu cũng phân tích những bất hợp lý trong công tác quản lý hoạt động quảng cáo thương mại, từ đó đề xuất nguyên tắc chung được xác nhận trong các văn bản pháp lý có giá trị cao của nhà nước.
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết liên quan như:
Quyển sách “Nghiên cứu người tiêu dùng – Những vấn đề về việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam” của Đoàn Văn Trường, xuất bản năm 2003, khám phá tâm lý, thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng, ảnh hưởng đến hành vi mua sắm và sử dụng dịch vụ Tác giả nhấn mạnh quyền lợi của người tiêu dùng, giáo dục họ, cũng như chia sẻ kinh nghiệm bảo vệ người tiêu dùng từ các quốc gia khác và hoạt động bảo vệ tại Việt Nam Mặc dù sách đề cập đến bảo vệ người tiêu dùng trong quảng cáo, nhưng nội dung này chỉ chiếm một phần nhỏ, phản ánh thực trạng quảng cáo kém chất lượng và sự sai lệch giá cả giữa thực tế và quảng cáo.
Quyển sách “Hỏi – đáp về luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” của Trường Hồng Quang và Trần Thị Quang Hồng, xuất bản năm 2012 bởi Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, trình bày các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dưới dạng hỏi và trả lời Trong đó, có hai câu hỏi quan trọng về hoạt động quảng cáo: một là bảo vệ người tiêu dùng đối với quảng cáo các sản phẩm, dịch vụ bị cấm; hai là bảo vệ người tiêu dùng liên quan đến quảng cáo mỹ phẩm theo Điều 21 của Thông tư 06/2011/TT-BYT ngày 27 tháng 12 năm 2007 về quản lý mỹ phẩm.
Các tạp chí khoa học chuyên ngành Luật tại Việt Nam thường đăng tải nhiều bài viết liên quan đến các đề tài nghiên cứu quan trọng.
Bài viết của Nguyễn Thị Vân Anh trên tạp chí Luật học năm 2010 phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Tác giả chỉ ra rằng hệ thống pháp luật hiện hành còn thiếu tính cụ thể, với nhiều quy định trùng lặp và mâu thuẫn, đồng thời thiếu sự phân công rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan có thẩm quyền Ngoài ra, việc tổ chức và hoạt động của các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng còn nhiều bất cập, không đảm bảo bảo vệ trọn vẹn lợi ích của người tiêu dùng, và các chế tài đối với hành vi vi phạm cũng chưa hợp lý.
Bài viết của tác giả Vũ Phương Đông, đăng trên tạp chí Luật học năm 2011, đã phân tích thẩm quyền quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo ở một số quốc gia, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam Tác giả chia cơ quan quản lý quảng cáo thành ba hình thức chính: đầu tiên, cơ quan nhà nước ban hành quy định pháp luật và quản lý hoạt động quảng cáo thương mại; thứ hai, các tổ chức thực hiện quảng cáo phải chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước; và cuối cùng, cơ quan độc lập kiểm duyệt và quản lý hoạt động quảng cáo, không thuộc sự quản lý trực tiếp của nhà nước.
Bài viết của Nguyễn Thị Dung trên tạp chí Luật học năm 2011 phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo, chỉ ra những thủ tục hành chính phức tạp gây khó khăn cho bên quảng cáo và sự thiếu phối hợp giữa Bộ Công Thương và Bộ Thông tin và Truyền thông Tác giả cũng nêu rõ việc chia cấp quản lý quảng cáo chưa hiệu quả và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm khắc phục những vấn đề này.
Các bài viết trước đây đã trở nên lạc hậu so với tình hình hiện tại trong việc bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực quảng cáo thương mại.
Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Yến, đăng trên tạp chí Luật học, phân tích các hoạt động quảng cáo bị cấm theo pháp luật hiện hành, đồng thời chỉ ra những bất cập trong quy định này và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến quảng cáo.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn này là hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động quảng cáo thương mại tại Việt Nam, tập trung vào khía cạnh bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
Luận văn này nhằm hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng trong quảng cáo thương mại, đặc biệt nhấn mạnh bản chất pháp lý của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực này.
Luận văn này tập trung vào việc hệ thống hóa và phân tích các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực quảng cáo thương mại.
Luận văn nghiên cứu và đánh giá thực trạng áp dụng quy định bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quảng cáo thương mại, nhằm phát hiện những hạn chế trong quy định pháp luật và quá trình thực thi Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực này.
Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận văn đã thực hiện những phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, gồm:
Phương pháp so sánh là kỹ thuật dùng để đối chiếu các khái niệm lý luận với các quy định pháp luật hiện hành, cũng như so sánh các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực với những văn bản trước đó Ngoài ra, phương pháp này còn được áp dụng để so sánh các quy định pháp luật trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng đều liên quan đến một vấn đề chung Phương pháp so sánh chủ yếu được sử dụng trong chương 1.
Phương pháp phân tích và tổng hợp được áp dụng để xem xét các khái niệm và vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quảng cáo thương mại, từ cả góc độ lý luận và pháp luật Qua đó, phương pháp tổng hợp giúp đánh giá và kết luận về những vướng mắc trong quy định pháp luật, nhằm đưa ra giải pháp cải thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực này Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt trong tất cả các chương của luận văn.
Phương pháp diễn giải quy nạp là cách thức sử dụng để giải thích các nội dung và trích dẫn liên quan, sau đó tổng hợp chúng về vấn đề chính mà luận văn cần làm rõ trong từng chương Phương pháp này được áp dụng chủ yếu trong tất cả các chương của luận văn.
Phương pháp hệ thống hóa là cách trình bày nội dung luận văn một cách hợp lý, kế thừa kết quả từ các nghiên cứu trước và phát triển nội dung mới Phương pháp này được áp dụng trong tất cả các chương của luận văn, giúp đảm bảo sự liên kết và logic trong việc trình bày thông tin.
Kết cấu của đề tài
Luận văn bao gồm bốn phần chính: lời nói đầu, nội dung, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Phần nội dung được chia thành hai chương, cụ thể là
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
KHÁI QUÁT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm quảng cáo thương mại
Quảng cáo thương mại là công cụ thiết yếu trong kinh doanh, giúp tăng cường hoạt động bán hàng và mang lại lợi nhuận cho cá nhân, tổ chức Nó không chỉ thúc đẩy nhận thức của khách hàng về sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ mà các nhà kinh doanh cung cấp, mà còn giúp khách hàng tìm kiếm những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của họ.
Quảng cáo thương mại đã xuất hiện từ sớm, gắn liền với sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh Qua thời gian, khái niệm này đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, và các nhà nghiên cứu đã tiếp cận quảng cáo thương mại từ nhiều góc độ đa dạng.
Quảng cáo, theo từ điển Hán Việt, là hoạt động tuyên truyền và giới thiệu hàng hóa, dịch vụ hoặc thương hiệu thông qua nhiều hình thức khác nhau Mục tiêu của quảng cáo là thu hút và thuyết phục người tiêu dùng, từ đó thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hóa hiệu quả.
Quảng cáo được định nghĩa trong giáo trình Marketing căn bản của GS.TS Trần Minh Đạo là hình thức truyền thông không trực tiếp và phi cá nhân, sử dụng các phương tiện truyền thông có trả phí, với chi phí do các chủ thể quảng cáo chịu.
8 Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa – Thông tin, trang 432
9 Trần Minh Đạo (2013), Giáo trình Marketing căn bản, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, trang 127
Theo Philip Kotler, chuyên gia trong ngành Marketing nói chung và ngành quảng cáo nói riêng lại đưa ra một khái niệm khác về quảng cáo Ông định nghĩa:
“Quảng cáo là một hình thức trình bày gián tiếp và khuếch trương ý tưởng, sản phẩm hay dịch vụ được người tài trợ trả tiền” 10
Theo Hiệp hội Marketing Mỹ (AMA), quảng cáo được định nghĩa là bất kỳ hình thức hiện diện không trực tiếp nào của hàng hóa, dịch vụ hoặc ý tưởng mà người tiêu dùng phải trả tiền để nhận biết người quảng cáo.
Quảng cáo là hình thức tuyên truyền nhằm giới thiệu thông tin về công ty, sản phẩm, dịch vụ hoặc ý tưởng Đây là hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người với người, trong đó thông tin được truyền tải qua các phương tiện truyền thông đại chúng Mục tiêu của quảng cáo là tác động đến hành vi và thói quen mua sắm của khách hàng và người tiêu dùng.
Quảng cáo có hai yếu tố cơ bản: thông tin quảng cáo và mục đích quảng cáo Mục đích chính là thông báo về sản phẩm hoặc dịch vụ của nhà kinh doanh, thuyết phục khách hàng mua và duy trì thói quen sử dụng Đối với một số thương nhân, quảng cáo là cần thiết để vượt qua đối thủ cạnh tranh, tập trung vào việc thể hiện ưu điểm của sản phẩm nhằm thu hút khách hàng chuyển đổi từ thương hiệu khác Hơn nữa, quảng cáo còn giúp các nhà kinh doanh củng cố vị thế trên thị trường.
10 Philip Kotler (2010), Marketing căn bản, NXB Lao động – Xã hội, trang 376
Thiết lập hình ảnh thương hiệu đáng nhớ là yếu tố quan trọng trong quản trị marketing, giúp tạo dựng sự tin tưởng từ khách hàng tiềm năng đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp.
Quảng cáo được định nghĩa theo pháp luật như là việc sử dụng các phương tiện để giới thiệu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đến công chúng với mục đích sinh lợi hoặc không sinh lợi Đối tượng của quảng cáo bao gồm các hoạt động kinh doanh có khả năng sinh lời cũng như những quảng cáo phục vụ mục tiêu chính trị, văn hóa, xã hội Quảng cáo thương mại là hình thức quảng cáo có mục đích sinh lợi từ hoạt động kinh doanh hàng hóa và dịch vụ.
Theo Điều 102 Luật Thương mại năm 2005, quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm giới thiệu hàng hóa và dịch vụ đến khách hàng Định nghĩa này xác định quảng cáo thương mại là một phần quan trọng trong xúc tiến thương mại, bao gồm các hoạt động như khuyến mại, quảng cáo, trưng bày hàng hóa và tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại (Khoản 10 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005).
Quảng cáo thương mại là hoạt động nhằm thúc đẩy mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, giúp nhà kinh doanh giới thiệu sản phẩm đến khách hàng và người tiêu dùng Qua đó, người tiêu dùng có cơ hội tìm kiếm sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình.
Quảng cáo thương mại là hoạt động giới thiệu hàng hóa và dịch vụ nhằm mục đích lợi nhuận của thương nhân Theo pháp luật hiện hành, quảng cáo thương mại là một phần của hoạt động quảng cáo tổng thể, và do đó, nó không chỉ có những đặc điểm chung mà còn có những đặc điểm riêng biệt.
1.1.2 Đặc điểm của quảng cáo thương mại
Quảng cáo thương mại là một hình thức quảng cáo đặc trưng, với những đặc điểm chung như tính đơn phương, chỉ cung cấp thông tin từ phía người quảng cáo Nó không chỉ nhắm đến cá nhân mà còn hướng tới toàn bộ đối tượng, phục vụ cho mục tiêu cụ thể của người quảng cáo Để truyền tải thông tin đến người tiếp nhận, quảng cáo thương mại cần thông qua các phương tiện trung gian.
Quảng cáo thương mại, khác với quảng cáo nói chung và các hoạt động xúc tiến thương mại khác, có những đặc điểm cơ bản riêng biệt.
Chủ thể của hoạt động quảng cáo thương mại là thương nhân, điều này cho thấy quảng cáo thương mại mang bản chất của một hoạt động thương mại do thương nhân thực hiện Mặc dù quảng cáo thương mại và quảng cáo nói chung đều là quá trình thông tin, nhưng chúng vẫn có sự khác biệt rõ rệt.
KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TIÊU DÙNG
Khái niệm "người tiêu dùng" đã có mặt từ lâu trên toàn cầu Theo Khoản 1 Điều 3 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam, định nghĩa này được quy định rõ ràng, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong nền kinh tế hiện đại.
Người tiêu dùng được định nghĩa là cá nhân hoặc tổ chức mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt của bản thân, gia đình hoặc tổ chức, mà không nhằm mục đích thương mại hay sinh lời Điều này cho thấy rằng không chỉ có cá nhân mà cả các tổ chức cũng thuộc đối tượng người tiêu dùng khi họ thực hiện các giao dịch này.
Người tiêu dùng có thể là người mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ, hoặc chỉ tham gia vào một trong hai hoạt động này Tuy nhiên, điều quan trọng là họ phải sử dụng sản phẩm với mục đích tiêu dùng, không phải để phục vụ cho sản xuất hay thực hiện giao dịch mua bán nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Hai khái niệm người tiêu dùng và khách hàng thường dễ bị nhầm lẫn Người tiêu dùng là người mua hàng hóa, dịch vụ với mục đích sử dụng cá nhân để thỏa mãn nhu cầu, trong khi khách hàng có thể mua hàng hóa, dịch vụ cho mục đích cá nhân hoặc đầu tư, phục vụ sản xuất kinh doanh Do đó, khái niệm người tiêu dùng có phạm vi đối tượng hẹp hơn so với khách hàng.
Người tiêu dùng thường ở vị thế yếu hơn trong việc tiếp cận thông tin về hàng hóa và dịch vụ mà họ muốn mua, dẫn đến khó khăn trong việc hiểu và xử lý thông tin từ thương nhân Họ cũng gặp bất lợi về khả năng chịu rủi ro khi tiêu dùng sản phẩm Thông thường, người tiêu dùng chỉ tìm hiểu thông tin khi có ý định mua hàng hóa hoặc dịch vụ, điều này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức và thông tin cho người tiêu dùng trong quá trình mua sắm hàng ngày.
Người tiêu dùng thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về hàng hóa và dịch vụ, vì thông tin không phải lúc nào cũng đầy đủ và chính xác Hơn nữa, họ cũng thiếu khả năng chuyên môn để đánh giá độ tin cậy của quảng cáo thương mại Quảng cáo không chỉ cung cấp thông tin mà còn ảnh hưởng đến thói quen và hành vi tiêu dùng thông qua các yếu tố tâm lý Do đó, việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng là cần thiết để tạo ra sự cân bằng trong mối quan hệ với các thương nhân.
SỰ CẦN THIẾT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng đóng vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nếu sản phẩm không có người tiêu thụ, sẽ dẫn đến tình trạng thừa hàng hóa, khiến doanh nghiệp không có lợi nhuận để duy trì hoạt động Để khuyến khích người tiêu dùng mua sắm, các nhà sản xuất và kinh doanh thực hiện nhiều hoạt động, trong đó quảng cáo thương mại là một trong những phương pháp quan trọng.
Quảng cáo thương mại đã trở thành một công cụ thiết yếu cho các doanh nghiệp, không chỉ giới hạn trong các hình thức truyền thống mà còn mở rộng ra nhiều phương tiện truyền thông khác nhau để quảng bá sản phẩm Điều này cho thấy rằng người tiêu dùng hiện nay thường xuyên tiếp xúc với các sản phẩm quảng cáo thương mại trong cuộc sống hàng ngày.
Người tiêu dùng, mặc dù là lực lượng đông đảo trong xã hội, nhưng thường yếu thế hơn các thương nhân trong quảng cáo thương mại Do đó, việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng là cần thiết để tạo ra sự cân bằng trong mối quan hệ này.
Người tiêu dùng thường thiếu kiến thức chuyên môn để đánh giá chất lượng hàng hóa và dịch vụ theo quảng cáo Do đó, nhiều thương nhân đã lợi dụng quảng cáo thương mại để tác động đến tâm lý, chất lượng sản phẩm, sở thích và hành vi tiêu dùng của khách hàng.
Pháp luật yêu cầu thương nhân phải chú trọng đến quyền lợi của người tiêu dùng, không được lợi dụng sự yếu thế của họ để trục lợi và gây thiệt hại Điều này nhằm nâng cao vị thế của người tiêu dùng trong mối quan hệ với thương nhân.
Thứ hai, người tiêu dùng cũng cần được bảo vệ để tránh khỏi những thiệt hại do quảng cáo thương mại gây ra
Quảng cáo của các doanh nghiệp có thể khiến người tiêu dùng mắc sai lầm trong việc lựa chọn hàng hóa, dẫn đến việc sử dụng sản phẩm và dịch vụ không đáng tin cậy và thiếu an toàn Người tiêu dùng thường thiếu thông tin cần thiết về sản phẩm và chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình, do đó họ thường phải gánh chịu nhiều thiệt thòi.
Kinh doanh sản phẩm và dịch vụ thiếu tin cậy có thể mang lại lợi nhuận cao cho nhà kinh doanh, nhưng lại gây hại cho quyền lợi của người tiêu dùng Điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống, sức khỏe và tính mạng của họ Do đó, pháp luật cần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng cách đảm bảo thông tin rõ ràng và chính xác trong quảng cáo thương mại.
Việc quy định trách nhiệm của thương nhân đối với quảng cáo thương mại không chỉ nâng cao tính minh bạch mà còn góp phần xây dựng một xã hội nhân văn và tốt đẹp hơn.
Quảng cáo thương mại có tác động tích cực đến người tiêu dùng, giúp họ dễ dàng tìm kiếm sản phẩm phù hợp theo lứa tuổi, giới tính và sở thích Thông tin từ quảng cáo tạo ra nhiều lựa chọn, thúc đẩy cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, từ đó cải thiện chất lượng và mẫu mã sản phẩm Khách hàng là những người hưởng lợi từ sự cạnh tranh này Đặc biệt, quảng cáo có nội dung lành mạnh không chỉ xây dựng thương hiệu mà còn nâng cao nhận thức văn hóa xã hội, khuyến khích hành vi tích cực như bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng.
Các nhà kinh doanh thường sử dụng mọi ý tưởng và phương thức quảng cáo để gây ấn tượng với người tiêu dùng, dẫn đến việc tác động tiêu cực của quảng cáo trở nên đáng lo ngại hơn Họ không ngần ngại vi phạm để tạo ra những quảng cáo thương mại gây bất lợi, như thông tin sai lệch và lừa dối, khiến người tiêu dùng dễ bị mắc lừa Việc sử dụng sản phẩm giả, như thuốc và thực phẩm kém chất lượng, không chỉ gây hại cho sức khỏe mà còn đe dọa tính mạng Hơn nữa, quảng cáo còn ảnh hưởng mạnh đến tâm lý và hành vi của người tiêu dùng, đặc biệt là giới trẻ, dẫn đến những hành vi ứng xử sai lệch và tạo ra một xã hội bất ổn với những cá nhân có tâm lý không lành mạnh.
Quảng cáo có những tác động mạnh mẽ, dẫn đến nhu cầu cấp thiết bảo vệ người tiêu dùng qua các biện pháp pháp lý Hệ thống pháp luật Việt Nam đã được xây dựng nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực quảng cáo thương mại, và đang ngày càng được hoàn thiện để đáp ứng tốt hơn yêu cầu này.
1.4 SỰ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quảng cáo thương mại là điều cần thiết, và việc hình thành pháp luật liên quan là yếu tố quan trọng để đảm bảo điều này Tại Việt Nam, đã có sự phát triển đáng kể trong pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực quảng cáo thương mại, được chia thành các giai đoạn cụ thể.
Trong giai đoạn hiện tại, Việt Nam thiếu văn bản pháp lý liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng trong quảng cáo thương mại Nguyên nhân chủ yếu là do hậu quả chiến tranh kéo dài, khiến đất nước gặp nhiều khó khăn Thêm vào đó, sự nóng vội và duy ý chí trong việc xây dựng đất nước đã dẫn đến việc không chú trọng đến vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Do đó, pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại vẫn chưa được xây dựng đầy đủ.
Giai đoạn từ năm 1986 đến trước năm 1999:
Các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, bao gồm Bộ luật Dân sự năm 1995 và Nghị định số 57/CP ngày 31/5/1997 của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hóa Đặc biệt, Hiến pháp Việt Nam năm 1992 lần đầu tiên đề cập đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, với Điều 28 quy định rõ ràng về quyền lợi này.
Nhà nước cam kết bảo vệ quyền lợi của cả người sản xuất và người tiêu dùng, đảm bảo rằng quyền lợi của người tiêu dùng được tôn trọng trong tất cả các lĩnh vực, bao gồm cả quảng cáo thương mại.
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CHỦ THỂ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG QUÁ TRÌNH QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
Là một người kinh doanh, thương nhân có thể tự thực hiện quảng cáo hoặc sử dụng dịch vụ quảng cáo từ bên ngoài để thúc đẩy hoạt động kinh doanh Hoạt động quảng cáo thương mại nhằm mục đích tăng cường tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ, nhắm đến khách hàng và người tiêu dùng Một quảng cáo thương mại có thể được thực hiện bởi một cá nhân hoặc thông qua sự hợp tác của nhiều bên khác nhau.
Theo quy định trong Luật Quảng cáo, các chủ thể tham gia vào hình thành nên quảng cáo thương mại bao gồm:
+ Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo;
+ Người phát hành quảng cáo;
+ Người cho thuê địa điểm, phương tiện quảng cáo
Quảng cáo thương mại cung cấp thông tin cho người tiêu dùng, giúp họ lựa chọn hàng hóa và dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình Khi sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng được nhu cầu, người tiêu dùng sẽ quyết định mua sắm, từ đó tạo ra sự tham gia của một đối tượng khác trong quá trình quảng cáo, đó là người tiếp nhận quảng cáo.
13 Nguyễn Viết Tý (2006), Giáo trình Luật Thương mại Tập II, NXB Công an nhân dân, trang 153
2.1.1 Trách nhiệm của thương nhân
Thương nhân tham gia quảng cáo thương mại bao gồm người quảng cáo, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo và người cho thuê địa điểm, phương tiện quảng cáo, theo quy định của Luật Quảng cáo Quyền thực hiện hoạt động quảng cáo của họ không chỉ được điều chỉnh bởi Luật Quảng cáo mà còn bởi Luật Thương mại, với từng loại thương nhân có quyền quảng cáo khác nhau tùy thuộc vào nội dung, hình thức và đối tượng quảng cáo Ngoài quyền lợi, pháp luật cũng quy định trách nhiệm của họ đối với các quảng cáo thương mại, đặc biệt là trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nhằm đảm bảo nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng và đạo đức trong kinh doanh.
Theo Khoản 2 Điều 14 Luật Thương mại, thương nhân phải đảm bảo chất lượng và tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Các nghĩa vụ liên quan đến quảng cáo thương mại cũng phải tuân thủ quy định cụ thể để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Khi thực hiện quảng cáo thương mại, việc cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng là rất quan trọng Điều này được quy định rõ ràng trong chương 2 của Luật Quảng cáo, nhấn mạnh trách nhiệm của từng chủ thể trong quảng cáo.
Theo Khoản 2 Điều 14 Luật Quảng cáo, thông tin gửi đến người tiêu dùng phải đầy đủ, trung thực và chính xác về các cơ quan, tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ Việc cung cấp thông tin đúng đắn từ các chủ thể quảng cáo giúp người tiêu dùng đánh giá sự phù hợp của sản phẩm với nhu cầu và khả năng tài chính của họ trong việc mua sắm.
Thương nhân có trách nhiệm đảm bảo rằng chất lượng sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ phải phù hợp với nội dung quảng cáo, giúp người tiêu dùng tiết kiệm chi phí Nếu sản phẩm không đúng như quảng cáo, người tiêu dùng sẽ phải mua lại, gây tốn kém Hơn nữa, thông tin về thành phần, chất lượng, độ an toàn và xuất xứ của sản phẩm phải chính xác để bảo vệ sức khỏe và tính mạng của người tiêu dùng.
Các chủ thể thực hiện quảng cáo phải liên đới chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo của mình, ngay cả khi thuê người khác thực hiện Nếu không có quy định này, trong trường hợp tranh chấp, thương nhân có thể đẩy trách nhiệm cho nhau, khiến người tiêu dùng gặp khó khăn trong việc xác định đối tượng khởi kiện do thiếu kiến thức pháp lý Quy định về trách nhiệm liên đới buộc tất cả các bên liên quan đến hoạt động quảng cáo thương mại phải chịu trách nhiệm đối với người tiêu dùng, đặc biệt khi quảng cáo gây thiệt hại cho họ.
Thương nhân cần cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khi được yêu cầu bởi người tiếp nhận quảng cáo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền Điều này là cần thiết vì chỉ có chủ sản phẩm và người thực hiện quảng cáo nắm rõ thông tin về hàng hóa, dịch vụ, trong khi người tiêu dùng thường thiếu thông tin Việc không cung cấp thông tin đầy đủ có thể dẫn đến tổn thất về tài chính hoặc sức khỏe cho người tiêu dùng Hơn nữa, khi có tranh chấp, thương nhân cần thể hiện sự hợp tác để giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Cuối cùng, thương nhân cần tuân thủ quy định cấm quảng cáo các sản phẩm và dịch vụ bị hạn chế nhằm bảo vệ người tiêu dùng khỏi những tác động tiêu cực về tinh thần và sức khỏe Điều này đặc biệt quan trọng đối với trẻ em, vì việc cấm quảng cáo có thể dẫn đến những suy nghĩ và hành động không đúng đắn, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường của các em.
Thương nhân có thể tự thực hiện quảng cáo hoặc thuê một thương nhân khác để thực hiện hoạt động này Theo Khoản 2 Điều 107 Luật Thương mại, người phát hành quảng cáo phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến phương tiện quảng cáo thương mại, bao gồm luật về báo chí, xuất bản, quản lý mạng thông tin máy tính, và các chương trình văn hóa, thể thao, hội chợ, triển lãm Điều này có nghĩa là họ phải đảm bảo việc sử dụng các phương tiện quảng cáo mà họ nắm giữ phù hợp với các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Quy định yêu cầu người phát hành quảng cáo thương mại phải kiểm tra tính hợp pháp của quảng cáo trước khi phát hành Sau khi hoàn tất kiểm tra, quảng cáo mới được phép công bố, đảm bảo rằng người tiêu dùng nhận được thông tin đúng theo tiêu chí pháp luật Mục tiêu của các tiêu chí này là bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên liên quan, bao gồm cả người tiêu dùng.
Chủ thể quảng cáo thương mại phải tuân thủ các quy định chung về quyền và nghĩa vụ, đồng thời cần chú ý đến các quy định riêng đối với từng loại sản phẩm Ví dụ, quảng cáo rượu bia phải tuân theo Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia và các luật khác như Luật An toàn vệ sinh thực phẩm và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa Điều này đảm bảo rằng không chỉ nội dung quảng cáo mà cả sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cũng phải đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng cần thiết, giúp người tiêu dùng đạt được mục đích tiêu dùng khi tiếp nhận quảng cáo và mua sản phẩm.
Trong quá trình quảng cáo thương mại, có nhiều chủ thể tham gia chịu trách nhiệm liên đới với người quảng cáo khi vi phạm quy định Theo Điều 13 đến Điều 15 Luật Quảng cáo, người quảng cáo không chỉ chịu trách nhiệm cho sản phẩm của mình khi thực hiện quảng cáo mà còn liên đới khi thuê người khác thực hiện Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải chịu trách nhiệm cho quảng cáo của mình và kiểm tra tài liệu liên quan từ các chủ thể khác Người phát hành quảng cáo cũng phải chịu trách nhiệm cho quảng cáo do người khác cung cấp Cuối cùng, người cho thuê địa điểm và phương tiện quảng cáo sẽ liên đới chịu trách nhiệm nếu công trình quảng cáo không đúng giấy phép xây dựng.
Quy định quảng cáo thương mại ảnh hưởng đến cách người tiêu dùng tiếp nhận thông tin, từ đó tạo điều kiện cho phản hồi tích cực đối với hoạt động kinh doanh Điều này không chỉ nâng cao thương hiệu mà còn thúc đẩy doanh số và lợi nhuận cho các nhà kinh doanh.
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NỘI DUNG QUẢNG CÁO NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
2.2.1 Quy định về nội dung quảng cáo phải đảm bảo được quyền lợi của người tiêu dùng
Hoạt động kinh tế hiện nay, đặc biệt là quảng cáo thương mại, đang ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống người tiêu dùng Trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong quảng cáo trở nên cấp thiết Để đảm bảo nguyên tắc "bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng", Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này.
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quảng cáo thương mại chủ yếu được quy định bởi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, Luật Thương mại 2005 và Luật Quảng cáo 2012 Theo Điều 14 của Luật Thương mại, thương nhân có trách nhiệm bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, bao gồm việc cung cấp thông tin đầy đủ và trung thực về hàng hóa và dịch vụ, cũng như đảm bảo chất lượng và tính hợp pháp của sản phẩm mà họ kinh doanh.
Trong Luật Thương mại, hoạt động quảng cáo thương mại chủ yếu được điều chỉnh bởi các điều kiện hợp pháp cho sản phẩm quảng cáo, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, cũng như hình thức pháp lý của thỏa thuận giữa họ Tuy nhiên, luật này không có quy định riêng về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực quảng cáo thương mại Chỉ có hai điều khoản liên quan đến người tiêu dùng, cụ thể là Điều 14 và Điều 320, quy định nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng như một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại Việc vi phạm các quy định bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng được xem là hành vi vi phạm pháp luật thương mại.
Luật Quảng cáo quy định về hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong thương mại Theo Điều 10, các tổ chức nghề nghiệp về quảng cáo phải phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước để tuyên truyền và phổ biến pháp luật, từ đó xây dựng niềm tin cho người tiêu dùng Mặc dù không có quy định nào khác trong luật đề cập trực tiếp đến người tiêu dùng, nhưng họ vẫn được bảo vệ quyền lợi như những người tiếp nhận quảng cáo Do đó, các quy định bảo vệ quyền lợi của người tiếp nhận quảng cáo cũng được áp dụng để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Chỉ quy định trong Luật Thương mại và Luật Quảng cáo là không đủ để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực quảng cáo thương mại Do đó, cần áp dụng các quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng được nêu rõ trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010.
Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người tiêu dùng theo Tổ chức quốc tế người tiêu dùng (CI) và Bản hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng bao gồm quyền được thông tin đầy đủ, quyền được lựa chọn, quyền được an toàn, quyền được lắng nghe và quyền được bồi thường Người tiêu dùng cũng có trách nhiệm sử dụng sản phẩm một cách hợp lý, bảo vệ quyền lợi của chính mình và tham gia vào việc giám sát chất lượng hàng hóa, dịch vụ.
1 Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản: Là quyền được có những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, nơi ở, chăm sóc sức khỏe, nhu cầu tinh thần… với giá hợp lý
2 Quyền được an toàn: Là quyền có những hàng hóa, dịch vụ an toàn, không gây nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng, cả trước mắt và lâu dài
3 Quyền được thông tin: Người tiêu dùng được cung cấp các thông tin trung thực, chính xác và đầy đủ về các hàng hóa, dịch vụ để có thể lựa chọn một cách khách quan, chính xác Quyền này còn bao gồm việc được bảo vệ chống lại các thủ đoạn dối trá, lừa đảo, các quảng cáo lừa dối
4 Quyền được lựa chọn: Có quyền được lựa chọn hàng hóa và dịch vụ mình cần một cách trung thực, không bị ép, lừa dối hoặc làm lạc hướng… với chất lượng hàng hóa, dịch vụ phù hợp giá cả
5 Quyền được lắng nghe: Quyền được bày tỏ ý kiến trong việc hoạch định các chủ trương, chính sách có liên quan đến lợi ích của người tiêu dùng, cả đối với cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh doanh Quyền này bao gồm cả việc được tham khảo ý kiến trực tiếp hoặc thông qua đại diện của mình về những vấn đề liên quan đến người tiêu dùng
6 Quyền được khiếu nại và bồi thường: Người tiêu dùng khi bị thiệt thòi có quyền khiếu nại và đòi hỏi được bồi thường hợp lý những thiệt hại chính đáng của mình, kể cả quyền khiếu nại và kiện ra tòa án
7 Quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng: Người tiêu dùng được quyền bồi dưỡng về những kiến thức về tiêu dùng, về kỹ năng tiêu dùng, về phong cách tiêu dùng lành mạnh và hợp lý để có thể chủ động và sáng suốt trong lựa chọn, nhằm có tiêu dùng hợp lý và có thể tự bảo vệ mình, góp phần phát triển xã hội
8 Quyền có được môi trường sống lành mạnh và bền vững: Được sống trong một môi trường an toàn, lành mạnh, được sống xứng đáng, không bị đe dọa tới hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai 16
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định quyền và nghĩa vụ chung của người tiêu dùng tại Điều 8 và Điều 9, phù hợp với 8 quyền của Tổ chức quốc tế người tiêu dùng (CI) và Bản hướng dẫn của Liên Hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng Những quy định này đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người tiêu dùng trong thị trường.
16 Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Thương mại (2006), Sổ tay công tác bảo vệ người tiêu dùng, NXB
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG
2.3.1 Xử lý vi phạm hành chính
Các tổ chức và cá nhân xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng sẽ phải chịu các biện pháp chế tài như chế tài dân sự, hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hại nghiêm trọng Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam quy định tại Điều 11 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này Cụ thể, cá nhân và tổ chức vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, đồng thời phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Việc xử phạt hành vi vi phạm trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật, bao gồm Nghị định 75/2010/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong hoạt động văn hóa, Nghị định 02/2011/NĐ-CP về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, Nghị định 71/2014/NĐ-CP về xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh, và Nghị định 159/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản.
Các hình thức xử lý vi phạm hành chính bao gồm hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả Hình thức xử phạt chính gồm cảnh cáo và phạt tiền, trong khi hình thức xử phạt bổ sung có thể bao gồm tịch thu tang vật và tước quyền sử dụng giấy phép Tùy thuộc vào tính chất, mức độ và loại vi phạm, tổ chức hoặc cá nhân vi phạm có thể bị áp dụng nhiều biện pháp khắc phục hậu quả Đối với vi phạm trong lĩnh vực quảng cáo, chủ yếu có hai hình thức xử phạt: phạt tiền và áp dụng các biện pháp phụ, với khung phạt tiền được quy định theo loại đối tượng và phương tiện quảng cáo thương mại.
Theo quy định, mức phạt tiền từ 40 đến 50 triệu đồng sẽ áp dụng đối với các hành vi quảng cáo thuốc lá, rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên, sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ cho trẻ dưới 24 tháng, sản phẩm dinh dưỡng bổ sung cho trẻ dưới 6 tháng, bình bú và vú ngậm nhân tạo, cũng như quảng cáo thuốc kê đơn và thuốc không kê đơn mà cơ quan nhà nước khuyến cáo hạn chế sử dụng hoặc phải có sự giám sát của thầy thuốc Ngoài ra, các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ bị cấm quảng cáo cũng sẽ bị xử phạt tương tự.
Phạt tiền từ 70 - 100 triệu đồng đối với hành vi quảng cáo hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, sản phẩm có tính chất kích dục, súng săn, đạn súng săn, vũ khí thể thao và các sản phẩm kích động bạo lực Ngoài mức phạt, người vi phạm còn bị buộc tháo gỡ hoặc xóa quảng cáo vi phạm.
Phạt tiền từ 50-70 triệu đồng đối với các hành vi quảng cáo sai sự thật, không đúng quy cách, chất lượng, công dụng, nhãn hiệu, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, xuất xứ, chỉ dẫn địa lý, phương thức phục vụ, thời hạn sử dụng, bảo quản, bảo hành hàng hóa, dịch vụ Điều này bao gồm quảng cáo lừa dối, gây nhầm lẫn cho công chúng và người tiêu dùng về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, hoặc tính năng, tác dụng của chúng Ngoài ra, việc quảng cáo gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và người tiếp nhận quảng cáo cũng bị xử phạt Cấm sử dụng hình ảnh bản đồ Việt Nam không đầy đủ chủ quyền quốc gia và hình ảnh đồng tiền Việt Nam trong quảng cáo.
Phạt tiền từ 70 - 90 triệu đồng đối với các hành vi như quảng cáo tiết lộ bí mật nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Đảng kỳ, hoặc tôn nghiêm của anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa Đối với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo xảy ra trước ngày 01 tháng 7 năm 2013, nếu bị phát hiện sau đó, sẽ áp dụng quy định có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm.
2.3.2 Xử lý vi phạm hình sự
Thương nhân vi phạm pháp luật về quảng cáo có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm của hành vi Theo Điều 197 Bộ luật Hình sự năm 2015, việc quảng cáo gian dối về hàng hóa, dịch vụ có thể dẫn đến mức phạt tiền từ 10.000.000 đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm Ngoài ra, người vi phạm còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đến 50.000.000 đồng, và bị cấm hành nghề từ 01 đến 05 năm nếu đã bị xử phạt hành chính hoặc kết án trước đó mà chưa xóa án tích.
Nhà nước đã thể hiện sự quan tâm đến quyền lợi của các chủ thể bị ảnh hưởng bởi quảng cáo thông qua việc xử phạt hình sự đối với quảng cáo thương mại Một điểm tiến bộ quan trọng là việc bỏ nội dung "gây hậu quả nghiêm trọng" trong Bộ luật Hình sự năm 1999, điều này giúp dễ dàng hơn trong việc áp dụng Tuy nhiên, mặc dù tình hình kinh tế xã hội đã thay đổi qua nhiều năm, quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn giữ nguyên mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Bộ luật Hình sự chỉ quy định xử lý vi phạm đối với hành vi gian dối trong quảng cáo, trong khi có nhiều loại vi phạm khác trong lĩnh vực quảng cáo cần được xem xét.
Trong luận văn Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Thị Tâm (2016) tại Học viện Khoa học xã hội, tác giả đã đề cập đến việc hoàn thiện pháp luật về quảng cáo thương mại Nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều vấn đề tồn tại trong quảng cáo, bao gồm việc quảng cáo các sản phẩm và hàng hóa bị cấm, cũng như các hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh lành mạnh.
2.3.3 Thực trạng thực hiện các quy định về xử lý vi phạm quảng cáo
Về xử lý vi phạm hành chính:
Theo Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ban hành vào tháng 5/2017, mức xử phạt vi phạm trong lĩnh vực quảng cáo đã tăng gấp 5 lần so với trước đây Sự tăng cường hình phạt này nhằm điều chỉnh và răn đe các hành vi vi phạm pháp luật trong ngành quảng cáo.
Hiện nay, các quy định về xử phạt vi phạm trong quảng cáo thương mại đang phân tán trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, bao gồm Nghị định số 56/2006/NĐ-CP, Nghị định số 71/2014/NĐ-CP và Nghị định số 159/2013/NĐ-CP Sự phân tán này không chỉ gây khó khăn cho các chủ thể trong việc tuân thủ pháp luật mà còn làm cho các cơ quan quản lý gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng pháp luật hiệu quả.
Về xử lý vi phạm hình sự:
Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ quy định về tội Quảng cáo gian dối, nhưng trên thực tế có nhiều hình thức quảng cáo vi phạm khác như quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh và quảng cáo sản phẩm, dịch vụ bị cấm Đối với những hành vi vi phạm này, việc xử lý hành chính không đủ sức răn đe cho các chủ thể tái phạm.
Luận văn của Võ Thị Hạnh (2015) nghiên cứu về việc bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại theo pháp luật Việt Nam Đây là một công trình thuộc chương trình Thạc sĩ Luật học tại Trường Đại học Luật Hà Nội, nhằm phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong bối cảnh quảng cáo thương mại hiện nay.