Vốn dĩ trong hoạt động kinh doanh, thương nhân thường tìm mọi cách để đạt được tối đa hóa lợi nhuận nên các quảng cáo thường không trung thực, thổi phồng về mặt chất lượng, giá trị và gi
Trang 1U T
TRƯỜ I H C KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN NG C MỸ LINH
BẢO VỆ QUYỀN LỢ ƯỜ T ÊU DÙ
TRONG HO T ỘNG QUẢ ÁO T I VIỆT NAM
Trang 2LỜ O
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận
án chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Ngọc Mỹ Linh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢNG CÁO VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO 11
1.1 Khái niệm về quảng cáo và pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo 11
1.1.1 Khái niệm quảng cáo 11
1.1.2 Đặc điểm của quảng cáo 13
1.1.3 Pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo 15
1.2 Bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo 19
1.2.1 Sự cần thiết phải bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo 19
1.2.1.1 Người tiêu dùng là đối tượng bị tác động trực tiếp bởi thông tin quảng cáo của các doanh nghiệp 19
1.2.1.2 Bảo vệ người tiêu dùng chính là bảo vệ sự phát triển của thị trường, đảm bảo sự cân bằng lợi ích giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp 21
1.2.2 Cơ chế bảo vệ người tiêu dùng bằng pháp luật quảng cáo 22
1.2.2.1 Chủ thể bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 23
1.2.2.2 Các biện pháp pháp lý hướng đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo 27
1.2.3 Bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo ở một số quốc gia 32
1.2.3.1 Quy định pháp luật về quảng cáo của Vương Quốc Anh 33
1.2.3.2 Quy định pháp luật về quảng cáo thương mại của Hoa Kỳ 34
1.2.3.3 Quy định pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về hoạt động quảng cáo thương mại của Trung Quốc 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TẠI VIỆT NAM 40
2.1 Tổng quan về thực trạng bảo vệ quyền lợi ngưởi tiêu dùng 40
2.2 Thực trạng về hoạt động quảng cáo tại Việt Nam qua một số vụ việc 49
Trang 52.2.1 Quảng cáo gây nhầm lẫn và quảng cáo gian dối 49
2.2.2 Quảng cáo với nội dung cạnh tranh không lành mạnh 59
2.2.3 Các hình thức quảng cáo khác gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng 63
2.2.3.1 Quảng cáo quá mức 63
2.2.3.2 Quảng cáo cố tình bỏ sót thông tin 66
2.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo tại Việt Nam 67
2.3.1 Hoàn thiện thể chế pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo 67
2.3.2 Tăng cường thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 6LỜI MỞ ẦU
1 Lý do c ọn đề t i
Ngày nay cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội và khoa học – kỹ thuật, quảng cáo đã trở thành một công cụ vô cùng quan trọng trong bất kỳ hoạt động kinh doanh nào Không còn là những tờ rơi quảng cáo đơn giản trên tường thành của những người Ai Cập cổ từ 3000 năm trước Công nguyên mà quảng cáo ngày nay đa dạng, phong phú và nghệ thuật hơn Quảng cáo xuất hiện trong mọi ngóc ngách của đời sống xã hội, từ quảng cáo trên báo chí đến quảng cáo trên truyền hình, quảng cáo giờ đây có mặt trên cả những phương tiện di chuyển như xe buýt, tàu lửa… Không nằm ngoài sự phát triển của thế giới, hoạt động quảng cáo ở Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ với sự gia tăng về số lượng sản phẩm quảng cáo cũng như sự mở rộng về hình thức, quy mô và công nghệ quảng cáo
Có thể nói, quảng cáo ở Việt Nam đóng vai trò trung gian quan trọng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, giữa người bán và người mua, là công cụ hiệu quả nhất để đưa sản phẩm của doanh nghiệp đến gần với người tiêu dùng và xã hội Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, quảng cáo không chỉ thực hiện mỗi một chức năng là cung cấp thông tin về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng, mà nó đã trở thành công cụ truyền thông hữu hiệu để doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường, tác động trực tiếp tới quyết định mua bán của khách hàng, xây dựng thương hiệu trong lòng người tiêu dùng Vốn dĩ trong hoạt động kinh doanh, thương nhân thường tìm mọi cách để đạt được tối đa hóa lợi nhuận nên các quảng cáo thường không trung thực, thổi phồng về mặt chất lượng, giá trị và giá cả của sản phẩm và dịch vụ mà họ đưa ra so với thực tế, hơn nữa việc được giới thiệu công khai và đăng phát với tần suất cao trên các phương tiện truyền thông như báo chí, truyền hình hằng ngày khiến người tiêu dùng phần nào tin tưởng sản phẩm đã đạt được sự bảo đảm nào đó Dưới sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông số, các quảng cáo thương mại đang bị lạm dụng trở thành phương tiện lừa dối khách hàng, làm mất đi công dụng, lợi ích vốn có của việc quảng cáo, làm thiệt hại về mặt kinh tế và tinh thần không chỉ cho người mua, mà còn cho cả những
Trang 7doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trung thực khi nhiều người tiêu dùng không còn tin vào quảng cáo và cuối cùng là thiệt hại chung cho toàn xã hội Bên cạnh đó, tuy chúng ta đã có Luật Quảng cáo từ năm 2012 nhưng đến nay tình hình người tiêu dùng bị lừa gạt bởi những thông tin quảng cáo sai sự thật vẫn không có dấu hiệu giảm bớt Để ngăn chặn tình trạng này xảy ra, pháp luật về quảng cáo cần can thiệp như thế nào để quản lý chất lượng quảng cáo đặc biệt hơn hết là bảo vệ quyền và lợi
ích số đông người tiêu dùng trên khắp cả nước Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo tại Việt Nam” làm luận
văn tốt nghiệp
2 Tìn ìn n i n cứu đề t i
Vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam
từ việc Nhà nước ban hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999
và sau đó là Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Nhưng mãi đến những năm gần đây khi dân trí phát triển cao mọi người trong xã hội bắt đầu quan tâm đến những lợi ích chính đáng của bản thân thì vấn đề này mới bắt đầu được xã hội quan tâm một cách đúng mức Cũng theo đó, nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực riêng biệt như quảng cáo cũng còn khá mới mẻ trong môi trường khoa học pháp lý
Tính đến nay chỉ có số ít bài viết đề cập trực tiếp đến vấn đề này, đó là:
“Pháp luật về chống quảng cáo không trung thực ở Việt Nam và một số nước trên thế giới” của Nguyễn Bá Diến đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật năm 1997,
bài viết “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong pháp luật cạnh tranh” của Ngô
Vĩnh Bạch Dương trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật năm 2000 hay gần đây là
ThS Trần Quỳnh Anh với bài viết “Thực trạng quản lí nhà nước về quảng cáo
thương mại với mục tiêu hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng” trên Tạp chí Luật học năm 2014 Đây là các bài viết mang tính
chất nghiên cứu, trao đổi, trình bày quan điểm với nhiều các góc nhìn khác nhau của các tác giá, là những công trình nghiên cứu hữu ích giúp tác giả có nguồn tham
Trang 8khảo trong quá trình hoàn thiện đề tại của mình Những công trình trên chỉ đề cập đến góc độ nhỏ liên quan đến quảng cáo hay quyền lợi người tiêu dùng chứ chưa nghiên cứu toàn diện về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo tại Việt Nam Hơn nữa, đa số các bài viết trên ra đời trước khi Luật Quảng cáo và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có hiệu lực nên có nhiều vấn
đề không còn phù hợp với quy định của luật hiện hành nhưng vẫn có giá trị tham khảo cao
Đề tài “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo tại
Việt Nam” của tác giả sẽ làm sáng tỏ cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng hiện nay như thế nào Bên cạnh đó, luận văn cũng chỉ rõ những bất cập cũng như kiến nghị những giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật quảng cáo để nhằm bảo vệ người tiêu dùng tốt hơn Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu trong cùng lĩnh vực liên quan
3 Mục đíc v n iệm vụ của đề t i
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu những điểm nổi bật cũng như những hạn chế còn tồn tại trong việc bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực quảng cáo tại Việt Nam qua những năm gần đây, trên cơ sở đó đưa những kiến nghị hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về quảng cáo bảo vệ người tiêu dùng trong tương lai
Để thực hiện mục đích này, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Phân tích khái quát các vấn đề cơ bản về pháp luật quảng cáo và vấn đề pháp luật bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành;
- Nghiên cứu so sánh pháp luật về quảng cáo ở góc độ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam với một số quốc gia trong các quảng cáo gây hiểu nhầm cho người tiêu dùng, các quảng cáo ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ em, các quảng cáo bị hạn chế… cũng như thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tại mỗi nước;
Trang 9- Đưa ra những kiến nghị xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về pháp luật quảng cáo trên cơ sở kế thừa, học hỏi pháp luật nước ngoài
4 Phạm vi n i n cứu
Trước hết, tác giả sẽ đi nghiên cứu những quy định của pháp luật về quảng cáo quy định trong một số văn bản cụ thể như Luật Cạnh tranh 2004, Luật Thương mại 2005, Luật Quảng cáo 2012 đồng thời liên hệ với Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2010 để làm rõ vấn đề mà đề tài đang hướng đến Tác giả nghiên cứu tập trung về pháp luật quảng cáo thương mại ở Việt Nam, đặc biệt ở khía cạnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các quảng cáo không trung thực, quảng cáo cường điệu Cùng với việc tham khảo các quy định của pháp luật các nước về lĩnh vực quảng cáo, đề tài sẽ đưa ra sự đối chiếu giữa các quy định để cho thấy những mặt tích cực và hạn chế của pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ người tiêu dùng ở lĩnh vực này, đồng thời qua đó xem xét sự phù hợp của những quy định của pháp luật các nước trong việc học tập áp dụng vào Việt Nam để hoàn thiện pháp luật trong nước, góp phần thúc đẩy cung – cầu, kích thích tiêu dùng tạo môi trường kinh doanh lành mạnh
5 ươn p áp n i n cứu
Để làm rõ các nội dung mà đề tài đã đặt ra, trước hết, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống cơ bản đi từ nghiên cứu lý thuyết cơ bản đến thực trạng pháp luật và cuối cùng là kiến nghị hoàn thiện pháp luật Ngoài ra, đề tài còn vận dụng các phương pháp của Chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lênin và các phương pháp chuyên ngành khoa học pháp lý để giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đưa ra Trong đó, đề tài chú trọng sử dụng các phương pháp logic và phương pháp phân tích để làm rõ mối quan hệ giữa các văn bản pháp luật quy định về bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo Trong một số vấn đề cụ thể, đề tài sử dụng phương pháp so sánh pháp luật giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật các nước như Hoa Kỳ, EU, một số quốc gia Châu Á khác… Bên cạnh đó,
Trang 10đề tài còn sử dụng phương pháp tổng hợp nhằm đánh giá trung thực hiện trạng thực hiện quyền được bảo vệ của người tiêu dùng tại Việt Nam
Trang 11ƯƠ 1: NHỮNG VẤ Ề LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢ ÁO V BẢO VỆ ƯỜ T ÊU DÙ TRO O T ỘNG QUẢ ÁO
1.1 ái niệm về quản cáo v p áp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo
1.1.1 ái niệm quản cáo
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam năm 2005 thì quảng cáo được định nghĩa là: “tuyên truyền, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ hay kinh doanh những hàng
hoá, dịch vụ đó, nhằm tạo sự hấp dẫn và kích thích người mua để đẩy mạnh việc bán hàng hoá và thực hiện dịch vụ”1
Riêng về từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý năm 2006 đưa ra hai khái niệm về “quảng cáo” và “quảng cáo thương mại” Trong đó, quảng cáo là
“hoạt động giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời nhằm tạo ra sự hấp dẫn và kích thích người tiêu dùng, thu hút người tiêu dùng quan tâm đến sản phẩm của mình” và quảng cáo thương mại được hiểu là “hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ”2
Về mặt khoa học pháp lý thì khái niệm quảng cáo xuất hiện nhiều trong một số văn bản pháp luật Cụ thể tại Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012 đưa ra
khái niệm: “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công
chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không
có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân” Luật Thương
mại 2005 lại đưa ra khái niệm về quảng cáo trong lĩnh vực thương mại tại như sau:
“Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình”
Trang 12Luật Quảng cáo 2012 thừa nhận quảng cáo bao gồm cả quảng cáo thương mại và quảng cáo phi thương mại (quảng cáo phi lợi nhuận) Trong khi đó, pháp luật một số quốc gia trên thế giới cho rằng hoạt động quảng cáo luôn chứa đựng mục đích thương mại Cụ thể tại Khoản 2 Điều 2 Luật Quảng cáo năm 1999
của Hàn Quốc thì quảng cáo nghĩa là việc các doanh nghiệp và tổ chức thương mại
thông báo hoặc cho khách hàng biết các thông tin liên quan tới sản phẩm được đưa
ra trong các điểm của Khoản 1 thông qua báo, tạp chí, phát thanh và các phương tiện khác được đề cập trong Nghị định của Chính phủ 3 Còn Bộ luật Quảng cáo của
Singapore ghi nhận rằng quảng cáo là bất kỳ hình thức truyền thông thương mại
nào đối với hàng hóa và dịch vụ, bất kể phương tiện sử dụng, bao gồm cả quảng cáo trên bao bì, nhãn, thiết bị vật liệu bán hàng 4 … Hay Luật Quảng cáo trên truyền
hình của Hồng Kông năm 2001 tại Chương 2 cũng quy định quảng cáo hay tài liệu
quảng cáo là bất cứ một tài liệu nào được bao gồm trong một dịch vụ chương trình truyền hình được thiết kế nhằm tăng doanh thu bán hàng của một sản phẩm hay dịch vụ đặc thù, hay thúc đẩy lợi ích của bất kì tổ chức, cơ sở thương mại hay cá nhân nào5… Và Luật Quảng cáo năm 1995 của Cộng hòa Liên bang Nga tại Điều 2
có quy định quảng cáo là phổ biến các thông tin về thể nhân hoặc pháp nhân, các
thể loại hàng hóa, ý tưởng hoặc các dự án (thông tin quảng cáo) dưới mọi hình thức với sự hỗ trợ của bất kỳ phương tiện truyền thông nào, dành cho một nhóm người không xác định và có mục đích tạo lãi suất hoặc tăng lãi suất của các pháp nhân và thể nhân, hàng hóa, ý tưởng và các dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bán các loại hàng hóa, ý tưởng 6 Cá nhân tác giả cho rằng ngày nay trong điều kiện
3
Viện Nghiên cứu lập pháp (2012), Nghiên cứu so sánh quy định về quảng cáo Việt Nam và một
số nước trên thế giới,
http://www.vnclp.gov.vn/ct/cms/nghiencuuchuyende/Lists/nghiencuuphapluat/View_Detail.aspx?Ite mID=76, tr.9, (truy cập lần cuối ngày 20/12/2017)
Trang 13nền kinh tế thị trường, quảng cáo luôn đi liền với tính thương mại, mang bản chất lợi nhuận là chủ yếu; các quảng cáo phi lợi nhuận nhằm tuyên truyền vận động vì mục đích xã hội cộng đồng chiếm số lượng không đáng kể Và vì một lẽ, quảng cáo phi lợi nhuận thường đề cập đến các vấn đề chính trị hay xã hội mang tính chất thông tin là chủ yếu nên sẽ không gây ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng Hơn nữa người tiêu dùng là khái niệm dùng để chỉ những người mua, sử dụng hàng hóa trong môi trường kinh tế Do đó trong phạm vi bài nghiên cứu của tác giả và mối tương quan giữa nội dung bài nghiên cứu, quảng cáo sẽ được hiểu cụ thể là
quảng cáo thương mại Dựa trên các khái niệm trên, tác giả cho rằng “quảng cáo là
việc thương nhân sử dụng các phương tiện truyền thông nhằm phổ biến các thông tin về các thể loại hàng hóa, ý tưởng hoặc các dự án (thông tin quảng cáo) dưới mọi hình thức, dành cho một nhóm người không xác định (khách hàng hay người tiêu dùng) và có mục đích sinh lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bán các loại
hàng hóa, ý tưởng, dịch vụ đó”
1.1.2 ặc điểm của quản cáo
Theo định nghĩa pháp lý thì quảng cáo có những đặc điểm như sau: (i) Chủ thể chính tham gia hoạt động quảng cáo thương mại là thương nhân Thương nhân theo quy định tại Điều 6 Luật Thương mại 2005, là những tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Hiểu cách khác, thương nhân là những
cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thương mại Trong lĩnh vực quảng cáo thương mại, chủ thể tham gia chính bao gồm: thương nhân quảng cáo, thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo Ngoài ra, trên thực tế tùy thuộc vào mục đích, cách thức và mức độ tham gia, hoạt động quảng cáo có thể có sự tham gia của cá nhân và
tổ chức khác như người phát hành quảng cáo và người cho thuê phương tiện quảng cáo
http://www.vnclp.gov.vn/ct/cms/nghiencuuchuyende/Lists/nghiencuuphapluat/View_Detail.aspx?Ite mID=76, tr.9, (truy cập lần cuối ngày 20/12/2017).
Trang 14(ii) Quảng cáo là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Quảng cáo là kênh trung gian để khuếch trương ý tưởng, hàng hóa hay dịch vụ, đưa sản phẩm đến gần hơn với người tiêu dùng, góp phần đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa sau này Cụ thể, theo Điều 120 Luật Thương mại 2005, các thương nhân được phép trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ cho mình thông qua những hình thức sau đây: (i) Mở phòng trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ; (ii) Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ tại các trung tâm thương mại hoặc trong các hoạt động giải trí, thể thao, văn hoá, nghệ thuật; (iii) Tổ chức hội nghị, hội thảo có trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ; (iv) Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ trên internet và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
Quảng cáo là một hoạt động mang tính hỗ trợ, đóng vai trò là trung gian thúc đẩy cho hành vi mua bán, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ được thường xuyên
và liên tục Hầu hết các quảng cáo hiện nay trên thế giới được thực hiện thông qua bên thứ ba là thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo
(iii) Quảng cáo là hoạt động truyền tải thông tin hướng đến mục đích thu hút người tiêu dùng, cụ thể như sau:
Đối với hoạt động truyền tải thông tin: Quảng cáo cung cấp những thông tin xúc tích rõ ràng đến với đối tượng quảng cáo Những thông tin đó có thể là sự ra đời hay tính năng công dụng của một sản phẩm, hoặc là những thông tin về chiến lược của công ty Trước hết quảng cáo phải mang được những thông tin đó truyền tải được đến toàn bộ công chúng mục tiêu sau đó những thông tin của quảng cáo sẽ tác động lên công chúng mục tiêu và giúp cho công chúng biết được những gì người làm quảng cáo muốn mang tới, biết đến thương hiệu và sản phẩm của công ty
Đối với hoạt động thu hút tiêu dùng: Quảng cáo cần phải truyền tải được thông điệp của mình bằng những hình ảnh, tiêu đề, nội dung… thật hấp dẫn, lôi cuốn khán giả Khi đó họ sẽ ghi nhớ và có thể tự mình tìm hiểu về công ty hay về sản phẩm, đồng nghĩa với việc đó là khả năng khách hàng có nhu cầu và ưa thích
Trang 15sản phẩm của công ty sẽ lớn hơn Từ đó tạo ra sự hiểu biết cho khách hàng về hàng hóa, dịch vụ của mình, lôi kéo khách hàng, công ty và dịch vụ khác về phía mình
(iv) Quảng cáo là hoạt động thông tin một chiều từ phía người quảng cáo:
Xuất phát từ mục đích để bán được hàng hóa, dịch vụ nên nội dung quảng cáo hầu như chỉ mang thông tin khái quát phụ thuộc vào ý chí và sự lựa chọn của nhà quảng cáo Quảng cáo thường thể hiện những thông tin mang tính chủ quan, cục bộ mà nhà quảng cáo muốn truyền tải Thông qua quảng cáo, những khiếm khuyết của sản phẩm đều bị lược bỏ hoặc giảm nhẹ hết mức có thể và hầu như chỉ trưng bày, giới thiệu những hình ảnh, đặc tính đẹp nhất, tối ưu nhất của sản phẩm để tác động đến thị hiếu của người xem nhằm kích thích sự quan tâm của người tiêu dùng, thu hút khách hàng về mình Do vậy, quảng cáo thường mang ý nghĩa đẹp đẽ, tôn vinh các ưu điểm của sản phẩm, hàng hóa
1.1.3 áp luật điều chỉnh hoạt động quản cáo
Hoạt động quảng cáo tồn tại với nhiều hình thức khác nhau và xuất hiện trên mọi mặt của đời sống xã hội Tùy theo điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và truyền thống lập pháp của từng quốc gia mà hoạt động quảng cáo được điều chỉnh bằng các loại văn bản pháp luật ở các cấp độ khác nhau, có nước sử dụng Bộ luật Quảng cáo (Code of Advertising Practice) như Hồng Kông, Canada, Ba Lan, Hà Lan…; có nước sử dụng Luật quảng cáo (Advertising Law) như Liên bang Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc ; có nước lại điều chỉnh bằng các văn bản luật chuyên ngành như ở Úc…7
Riêng tại Việt Nam, pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo trải qua những giai đoạn cụ thể sau:
Trang 16Giai đoạn những năm 90: Tại Việt Nam trong khoảng thời gian này hoạt
động quảng cáo được điều chỉnh thông qua Luật Thương mại 1997 và các văn bản dưới luật như Nghị định 194/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam; Nghị định 32/1999/NĐ-CP ngày 05/5/1999 của Chính phủ về khuyến mại, quảng cáo thương mại và hội chợ, triển lãm thương mại; Thông tư 85/1999/TT-BVHTT ngày 19/6/1999 của Bộ Văn hóa - Thông tin hướng dẫn thực hiện một số điểm về hoạt động quảng cáo quy định tại Nghị định 194/CP ngày 31/12/1994, Nghị định 87/CP ngày 12/12/1995 và Nghị định 32/1999/NĐ-CP ngày 05/5/1999 của Chính phủ Trong giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường, quảng cáo hoàn toàn được xem là hành vi thương mại Do đó, các quy định pháp luật về quảng cáo gắn liền với các quy định trong lĩnh vực kinh tế, và hoạt động quảng cáo được xem là một bộ phận nhỏ trong pháp luật thương mại
Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012: Nhận thấy tầm quan trọng của
lĩnh vực quảng cáo đối với nền kinh tế, năm 2001, Quốc hội chính thức xây dựng và ban hành Pháp lệnh Quảng cáo – văn bản quy phạm riêng biệt cho lĩnh vực này thay thế Nghị định 194/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ trước đây Pháp lệnh là văn bản đầu tiên mang giá trị pháp lý cao đưa ra các khái niệm, nội dung chặt chẽ, cụ thể hơn trong lĩnh vực quảng cáo, góp phần đưa hoạt động quảng cáo tại Việt Nam
đi vào khuôn khổ Bên cạnh đó, một số văn bản khác liên quan đến quảng cáo cũng được ban hành nhằm củng cố hoàn thiện các chế định về quảng cáo trong hệ thống pháp luật như Nghị định 24/2003/NĐ-CP ngày 13/3/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Quảng cáo; Thông tư 43/2003/TT-BVHTT ngày 16/7/2003 của Bộ Văn hóa – Thông tin hướng dẫn thi hành Nghị định 24/2003/NĐ-CP; Thông tư 79/2005/TT-BVHTT về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư 43/2003/TT-BVHTT Song song đó, Luật Thương mại 2005 thay thế Luật
1997 tiếp tục quy định những quy phạm liên quan đến hoạt động quảng cáo thương mại trong chương xúc tiến thương mại Đặc biệt Luật Cạnh tranh ra đời lần đầu tiên năm 2004 cũng đề cập đến quy định về hoạt động quảng cáo dưới dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên hoạt động quảng cáo chỉ được đề cập duy
Trang 17nhất tại Điều 45 của Luật mà không có bất kì hướng dẫn cụ thể nào sau đó Và trong giai đoạn này, ta còn có thể tìm thấy các chế định liên quan đến hành vi quảng cáo ở nhiều các văn bản thuộc các lĩnh vực riêng khác như Luật Xuất bản, Luật Báo chí…
Vì vậy mà việc áp dụng các quy định trong lĩnh vực này còn khó khăn và chưa được thống nhất
Giai đoạn từ năm 2012 đến nay: Kinh tế, xã hội Việt Nam bắt đầu có
những chuyển biến mới mẻ tích cực khi bước vào giai đoạn năm 2010 – 2015, những chế định pháp luật trước đây đã không còn phù hợp trong giai đoạn này Hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung, thay thế khiến các quy định về hoạt động quảng cáo không nằm ngoài sự phát triển của cả hệ thống pháp luật Qua hơn 10 năm thi hành, Pháp lệnh Quảng cáo bộc lộ một số điểm không còn phù hợp với tình hình thực tiễn, cụ thể như sau:
Một là, về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động quảng cáo: Pháp lệnh Quảng cáo chưa quy định cụ thể về hành vi quảng cáo so sánh; sử dụng sản phẩm quảng cáo gây hại cho sức khoẻ và sự hình thành nhân cách của trẻ em; quảng cáo bằng hình thức phát tờ rơi, tờ gấp, dán vẽ sản phẩm quảng cáo nơi công cộng
không theo quy định, dùng đoàn người để quảng cáo Việc quy định về “cấm quảng
cáo sản phẩm, hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép thực hiện tại thời điểm quảng cáo” không phù hợp với chiến lược tiếp thị, khai thác thị
trường của các doanh nghiệp (trừ trường hợp hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục cấm kinh doanh hoặc cấm quảng cáo)
Hai là, về phương tiện quảng cáo: Pháp lệnh Quảng cáo chưa có định nghĩa về phương tiện quảng cáo; các phương tiện quảng cáo đang phát triển như mạng viễn thông, phương tiện điện tử, người chuyển tải khối lượng lớn sản phẩm quảng cáo chưa có quy định cụ thể để điều chỉnh
Ba là, về quảng cáo trên báo chí: Pháp lệnh Quảng cáo đã quy định về tỷ
lệ diện tích, thời lượng quảng cáo trên báo chí Tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng, quy định này đã bộc lộ nhiều bất cập và chưa phù hợp với cơ chế tự chủ tài chính của các cơ quan báo chí, thúc đẩy sự phát triển hoạt động quảng cáo, đóng góp vào
Trang 18sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đồng thời, quy định phải cấp phép phụ trang, phụ bản, kênh, chương trình chuyên quảng cáo, quy định không được quảng cáo trên trang nhất, bìa một của báo in áp dụng tương tự với báo điện tử tại Pháp lệnh Quảng cáo cũng không còn phù hợp
Bốn là, về quảng cáo trên mạng: Pháp lệnh Quảng cáo quy định việc cấp phép thực hiện quảng cáo trên phương tiện này Trên thực tế, đây là quy định không
có tính khả thi vì nội dung quảng cáo trên mạng thông tin máy tính chuyển tải liên tục, thay đổi thường xuyên với số lượng rất lớn nên không thể quản lý bằng cấp phép mà nên áp dụng phương pháp quản lý bằng hậu kiểm
Năm là, về quảng cáo trên bảng, biển, pa-nô, băng-rôn: Trong thực tế, quảng cáo trên bảng, biển, pa-nô, băng-rôn là một hoạt động cần phải có sự quản lý của nhiều ngành tại địa phương Tuy nhiên, Pháp lệnh Quảng cáo chưa quy định cụ thể về trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan có liên quan, nhất là trong việc xây dựng quy hoạch quảng cáo ngoài trời để đảm bảo trật tự, mỹ quan đô thị
Sáu là, về hoạt động quảng cáo có yếu tố nước ngoài: Pháp lệnh Quảng cáo quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo nước ngoài được đặt chi nhánh tại Việt Nam Tuy nhiên, khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO thì
tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo nước ngoài được hợp đồng, hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với đối tác Việt Nam nhưng không được thành lập chi nhánh Như vậy, quy định về quảng cáo có yếu tố nước ngoài tại Pháp lệnh Quảng cáo không còn phù hợp với cam kết của Việt Nam với WTO
Do đó, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn về phát triển quảng cáo, những bất cập của hệ thống văn bản pháp luật hiện hành thì từ năm 2012, Pháp lệnh Quảng cáo được nâng lên thành Luật Quảng cáo với 05 Chương và 43 Điều khoản quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động quảng cáo; quản
lý nhà nước về hoạt động quảng cáo… Luật Quảng cáo 2012 ra đời có những điểm mới, phần nào khắc phục được những bất cập của Pháp lệnh Quảng cáo nêu trên
Nhận xét: Có thể nói, Luật Quảng cáo 2012 ra đời sau, đã kế thừa tinh
thần bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng tại Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2010, bắt
Trang 19đầu dành sự quan tâm nhiều hơn đến quyền lợi người tiêu dùng thông qua việc đưa
ra những chế định pháp luật chặt chẽ nhằm bảo vệ người tiêu dùng như cấm các quảng cáo ảnh hưởng đến trẻ em, các quy định về trách nhiệm của người quảng cáo
và người kinh doanh dịch vụ quảng cáo…
1.2 Bảo vệ n ười ti u dùn trong hoạt động quản cáo
1.2.1 Sự cần thiết phải bảo vệ n ười ti u dùn trong hoạt động quản cáo
1.2.1.1 ười ti u dùn l đ i tượng bị tác động trực tiếp bởi t ôn tin quản cáo của các doan n iệp
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng có vai trò quan trọng, mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, một thương hiệu Quảng cáo trở thành phương tiện không thể thiếu của doanh nghiệp trong việc đưa sản phẩm, ý tưởng, dịch vụ của doanh nghiệp đến với người tiêu dùng Với một lượng thông tin khổng lồ tiếp nhận hàng ngày, người tiêu dùng là đối tượng bị tác động trực tiếp của quảng cáo, chịu ảnh hưởng của quảng cáo theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực
Xét về mặt tích cực, quảng cáo đưa đến cho người tiêu dùng những thông tin hữu ích về nhãn hiệu, sản phẩm, dịch vụ… Điều đó giúp người tiêu dùng trang bị những kiến thức để có thể lựa chọn và mua sắm được sản phẩm dịch vụ đúng với lứa tuổi, giới tính, sở thích, nhu cầu của mình Quảng cáo tạo ra nhiều sự lựa chọn cho khách hàng, qua đó thúc đẩy tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Chất lượng, mẫu mã của sản phẩm ngày càng được quan tâm và khi đó, khách hàng
là đối tượng được hưởng những lợi ích từ sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Đặc biệt, đối với những quảng cáo có nội dung lành mạnh, phù hợp văn hóa thuần phong
mỹ tục, nó góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết văn hóa xã hội, hướng người tiêu dùng đến những ứng xử xã hội tích cực như bảo vệ môi trường, sử dụng nguồn năng lương tiết kiệm… Nhờ có quảng cáo người tiêu dùng tiết kiệm được cả về thời gian, chi phí cho việc mua sắm Quảng cáo giúp nâng cao được trình độ và nhận thức của
Trang 20người tiêu dùng về thị trường, đồng thời có thể nhắc nhở họ thay đổi thói quen tiêu dùng tốt hơn
Tuy nhiên, hiện nay tác động tiêu cực của quảng cáo cũng ảnh hưởng không nhỏ đến người tiêu dùng Để tạo sự khác biệt, các nhà quảng cáo không ngần ngại sử dụng mọi ý tưởng, mọi cách thức để đạt được mục đích gây ấn tượng đến với người tiêu dung, không cần quan tâm đó là ấn tượng xấu hay tốt Cụ thể, nhiều sản phẩm quảng cáo truyền hình xuất hiện không đúng lúc, đúng chỗ, gây tâm lý khó chịu cho người xem Chẳng hạn, quảng cáo sản phẩm băng vệ sinh vào giờ ăn tối của gia đình; quảng cáo sản phẩm phòng tắm, phòng ngủ sử dụng hình ảnh không đẹp mắt… khiến người tiêu dùng phải nhận những quảng cáo không mong muốn Còn với quảng cáo ngoài trời, những tấm biển quảng cáo cỡ lớn được đặt ở những nơi cộng đồng, nơi điểm nút giao thông với những hình ảnh phản cảm, không những không phát huy hiệu quả mà còn gây khó chịu cho người đi đường, gây ách tắc giao thông… Đó là những tác động tiêu cực ở mức độ thấp của quảng cáo Ở mức độ ảnh hưởng nặng hơn, quảng cáo tác động mạnh đến tâm lý, hành vi ứng xử của giới trẻ Những quảng cáo mang tính bạo lực, giới tính sẽ tác động không tốt đến nhận thức các em dẫn đến những hành vi ứng xử sai lệch của đối tượng này Ngoài ra, nội dung của sản phẩm quảng cáo cũng tác động tiêu cực đến người tiêu dùng Người tiêu dùng có thể là nạn nhân của những quảng cáo không trung thực khi mua phải những sản phẩm không đúng chất lượng quảng cáo, đắt hơn giá trị thực tế hoặc hàng khuyến mại giá trị thấp…, chỉ vì họ tin vào những lời quảng cáo hoa mỹ Tác động xấu nhất của quảng cáo là những quảng cáo hàng giả, hàng nhái khiến người tiêu dùng bị mắc lừa và việc sử dụng những sản phẩm giá nguy hiểm như thuốc, thực phẩm, mỹ phẩm còn gây nguy hại đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng Bởi bản thân các hoạt động quảng cáo thương mại là những hoạt động mang tính chất mở, dễ bị lạm dụng để thực hiện các hành vi bất chính Những tác động của quảng cáo đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải bảo vệ người tiêu dùng bằng mọi biện pháp, trước hết bằng pháp luật
Trang 21Tại Hội thảo Hội nghị nhiệm kỳ II Câu lạc bộ Doanh nghiệp tin cậy vì người tiêu dùng với sự tham gia của Vinastas, đại diện Cục Quản lý cạnh tranh, đại diện Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, đại diện văn phòng luật sư, và người tiêu dùng đã nhận định rằng trong giai đoạn hiện nay, xét về mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng dễ dàng nhận thấy người tiêu dùng đang trở nên yếu thế, đặc biệt là trong hoạt động tranh chấp Bởi do sự yếu thế của người tiêu dùng trong mối quan hệ với các nhà quảng cáo, các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ nên người tiêu dùng thường không thể đưa ra lựa chọn đúng đắn và phù hợp với lợi ích của họ Hơn nữa, trong kinh doanh thương nhân với những ưu thế về vốn, chuyên môn… họ có thể có nhiều cách thức khác nhau để bảo vệ quyền lợi cho mình còn người tiêu dùng thì khả năng tự bảo vệ mình hạn chế hơn nhiều Trong khi thương nhân luôn muốn tối đa hóa lợi nhuận và thực hiện các hành động ngoài tầm pháp luật thì người tiêu dùng lại mặc nhiên chấp nhận các hành vi đó của thương nhân nếu chúng chưa gây thiệt hại và ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân mình
1.2.1.2 Bảo vệ n ười ti u dùn c ín l bảo vệ sự p át triển của thị trườn , đảm bảo sự cân bằng lợi íc iữa n ười ti u dùn v doan n iệp
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không những là bảo vệ lợi ích của số đông mà còn làm cho xã hội được văn minh, công bằng hơn, chống lại sự lũng đoạn của những người sản xuất, kinh doanh không chân chính, ủng hộ những người sản xuất kinh doanh trung thực, chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh, làm cho kinh
tế phát triển, mang lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chính là để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chính vì vậy, việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không chỉ ở cấp quốc gia mà phải tiến hành ở từng địa phương, tỉnh huyện để người tiêu dùng nhanh chóng kịp thời phản ánh về chất lượng sản phẩm hàng hóa
Mặc dù bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng liên quan đến rất nhiều lĩnh vực, nhưng tại nhiều nước trên thế giới trong những năm trở lại đây và trong tương lai gần, lĩnh vực quảng cáo vẫn luôn là ưu tiên hàng đầu của cơ quan quản lý nhà
Trang 22nước Tại Việt Nam, quảng cáo cũng đang phát triển mạnh mẽ và chắc chắn sẽ còn phát triển rất nhanh và phong phú trong tương lai Với vai trò của mình, Nhà nước cần phải can thiệp bằng pháp luật để thông qua đó bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng chính là bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, của các tổ chức xã hội khác Cụ thể, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 và các Nghị định hướng dẫn thi hành
ra đời là bước ngoặt lớn để xã hội hóa công tác bảo vệ người tiêu dùng, là công cụ thực sự mạnh mẽ và cần thiết đối với việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, tạo tâm lý yên tâm khi trao đổi, mua bán trên thị trường và bảo vệ các nhà sản xuất kinh doanh chân chính, góp phần vào sự phát triển lành mạnh của thị trường và định hướng phát triển kinh tế của đất nước
1.2.2 ơ c ế bảo vệ n ười ti u dùn bằn p áp luật quản cáo
Theo tôi, khái niệm “cơ chế bảo vệ người tiêu dùng” có thể được hiểu là một hệ thống bao gồm bộ máy các cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyên trách và các quy tắc, thủ tục, biện pháp có liên quan để thúc đẩy và bảo vệ các quyền và lợi ích của người tiêu dùng
Đề cập đến khía cạnh quy tắc, thủ tục trong vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, chúng ta nhận thấy một điều rằng pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của hầu hết các nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam không nằm ở các quy định riêng lẻ tại một văn bản pháp luật cụ thể, mà khái quát tập trung thành một hệ thống Bởi lẽ, một sản phẩm để đến được tay người tiêu dùng phải trải qua nhiều công đoạn, nhiều quan hệ sản xuất khác nhau và mỗi khâu sản xuất lại phải chịu sự điều chỉnh của một văn bản pháp luật khác nhau Ngoài sự điều chỉnh trực tiếp Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, sản phẩm đôi khi còn phải tuân thủ các quy định về quy chuẩn, tiêu chuẩn sản xuất (Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật), chất lượng hàng hóa (Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa), an toàn vệ sinh thực phẩm (Luật An toàn vệ sinh thực phẩm), quảng cáo (Luật Quảng cáo), cạnh tranh (Luật Cạnh tranh), giao dịch dân sự (Bộ luật Dân sự)… Thực tiễn trong lĩnh vực quảng cáo, bảo vệ người tiêu dùng sẽ chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật, cụ thể là Hiến pháp Việt Nam 2013; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 và các văn bản hướng dẫn;
Trang 23Luật Quảng cáo 2012 và các văn bản hướng dẫn, trong đó, các luật liên quan có đề cập đến vấn đề quảng cáo phải kể đến như: Luật Thương mại 2005; Luật Cạnh tranh 2004; Bộ luật Dân sự 2005; Bộ luật Hình sự 2015…
Bên cạnh đó, khác với nhiều lĩnh vực pháp luật khác, việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội, vì
một lẽ, “bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung của Nhà nước và
toàn xã hội” (Khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ người tiêu dùng) Do đó, nhiệm vụ bảo
vệ người tiêu dùng là nhiệm vụ của tất cả các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, và
cả các tổ chức đoàn thể trong xã hội
1.2.2.1 Chủ thể bảo vệ quyền lợi n ười ti u dùn
Một là, chủ thể là cơ quan nhà nước:
Trước những vụ việc xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng trong những năm qua, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã và đang từng bước được hoàn thiện nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của người tiêu dùng với nguyên tắc “bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xã hội”
Luật Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng quy định “cơ quan quản lý nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dung” Trên cơ sở đó, Luật cũng quy định “tổ chức xã hội thành lập theo quy định của pháp luật và hoạt động theo điều lệ được tham gia hoạt động bảo vệ người tiêu dùng (Điều 27, Điều 28, Điều 29 Luật Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng 2010) và được Nhà nước “tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân chủ động tham gia vào việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” Theo đó, khi “phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích công cộng thì người tiêu dùng, tổ chức xã hội có quyền yêu cầu trực tiếp hoặc bằng văn bản đến cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện nơi thực hiện giao dịch giải quyết”, và “cung cấp thông tin, bằng chứng có liên quan đến hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ”
Trang 24Là cơ quan quyền lực, Quốc Hội có nhiệm vụ ban hành luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong phạm vi cả nước, đồng thời phân công các Bộ, cơ quan ngang Bộ tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mình mà ban hành, tổ chức thực hiện các chính sách, văn bản liên quan đến việc bảo vệ người tiêu dùng; chỉ đạo, phối hợp với nhau trong hoạt động bảo vệ lợi ích người tiêu dùng; kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật cũng như giải quyết khiếu nại, tố cáo của người tiêu dùng đồng thời xử lý các hành vi xâm phạm đến lợi ích của người tiêu dùng Việc phân cấp quản lý nhà nước trong lĩnh vực này như sau:
- Bộ Công Thương là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Trung ương Trong đó, Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan giúp
Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Phòng Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là bộ phận trực thuộc Cục Quản
lý cạnh tranh giúp Cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại địa phương là cơ quan quản lý nhà nước
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở địa phương Sở Công Thương là cơ quan giúp Chủ tịch Ủy Ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương
- Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định đơn vị giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn huyện mình
Hai là, chủ thể là tổ chức/ hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng: Tính đến cuối năm 2016, Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngoài đã tổ chức được 50 hội ở phạm vi các tỉnh, thành trên cả nước, việc quản lý chung sẽ giao cho Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS)
Trang 25Bảng 2.1 S lượng hiệp hội bảo vệ quyền lợi n ười ti u dùn qua các năm
Nguồn: Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam –Vinastas (2017)
Tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được xác định là tổ chức xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt thành phần kinh tế, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, trình độ, nghề nghiệp; là tổ chức đại diện để bảo vệ quyền lợi tiêu dùng theo quy định của pháp luật (Điều 14 Nghị định 69/2001/NĐ-CP) Các tổ chức này phải hoạt động theo nguyên tắc (1) là tổ chức đại diện cho tiêu dùng, (2) không liên quan đến việc khuyếch trương cho bất kỳ tổ chức, các nhân nào khác, (3) không quảng cáo cho bất kỳ mục đích thương mại nào trong các hoạt động của mình, (4) không được khai thác thông tin, hướng dẫn tiêu dùng nhằm mục đích kinh doanh, (5) không chịu ảnh hưởng hoặc chịu lệ thuộc bởi việc nhận tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trong mọi hoạt động Đây là các nguyên tắc hoạt động đặc trưng của một tổ chức xã hội có thể được tiếp nhận bởi Luật về Hội đang được xây dựng Tuy nhiên, Nghị định này cũng không trao cho loại hội này một quyền hạn cụ thể nào cả Điều lệ các hội loại này tự xác định nhiệm vụ của mình, và đều có cùng nội dung Nghị định 69/2001/NĐ-CP là nghị định quy định chi tiết Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hiện đã được thay thế bởi Nghị định 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Bảo vệ người tiêu dùng Tuy nhiên, tại Nghị định 99/2011/NĐ-CP lại đưa ra tiêu chí đơn giản cho việc thành lập tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Điều 27 như (1) được thành lập theo quy định của pháp luật, (2) có tôn chỉ,
Trang 26mục đích hoạt động vì bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, (3) có thời gian hoạt động tối thiểu là một (01) năm, (4) có phạm vi hoạt động từ cấp tỉnh trở lên Việc quy định đơn giản hơn cho việc thành lập hội tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hiệp hội, tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên khắp cả nước
Ba là, chủ thể là người tiêu dùng tự bảo vệ:
Thời gian qua đã và đang có rất nhiều vụ việc vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực quảng cáo xảy ra và hậu quả để lại là rất nghiêm trọng Điển hình như vụ Công ty cổ phần sản xuất thương mại dịch vụ Vi Thy (32-
34 đường 1A, phường An Lạc, quận Bình Tân) năm 2010 đã đăng tải hình ảnh quảng cáo nón bảo hiểm hơi đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật “nón bảo hiểm bảo vệ người đi xe gắn máy”, trong khi, toàn bộ nón này chỉ dành cho người đi xe đạp Tuy nhiên, mức phạt từ Chi cục Quản lý thị trường TP HCM chỉ là 27,5 triệu đồng Một mức phạt quá thấp cho sự coi thường tính mạng người tham gia giao thông8 Thực
tế vẫn còn có rất nhiều vụ việc khác xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng đã và đang xảy ra hàng ngày… nhưng qua một số vụ việc nêu trên cho thấy hậu quả để lại cho người tiêu dùng và xã hội là không nhỏ Đó là nhiều hàng hóa, sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng là hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng… người tiêu dùng bị mất tiền oan, quyền lợi, sức khỏe của người tiêu dùng bị ảnh hưởng, bị xâm hại Trong khi đó các chế tài xử phạt những hành vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng hầu như chưa phát huy được hết sức mạnh và chưa đầy đủ Bên cạnh đó, một phần cũng do người tiêu dùng đã chủ quan không tự bảo vệ được mình, khi quyền lợi bị xâm phạm cũng không mấy mặn mà với việc khiếu nại, khiếu kiện, không nắm rõ quyền, nghĩa vụ của mình đã được pháp luật ghi nhận và bảo vệ; khi
bị xâm phạm cũng không biết kêu với ai, khiếu nại ở đâu Một phần bởi các cơ quan chức năng, Hội bảo vệ người tiêu dùng cũng chỉ tham gia với vai trò thương lượng
8
Thanh Huyền (2012), Luật quảng cáo mới người tiêu dùng vẫn phải thông thái,
http://petrotimes.vn/luat-quang-cao-moi-nguoi-tieu-dung-van-phai-thong-thai-59819.html , (truy cập lần cuối ngày 20/12/2017)
Trang 27khi có đơn khiếu kiện Lợi dụng sự thiếu hiểu biết, chủ quan của người tiêu dùng, các chế tài xử phạt của pháp luật chưa đủ mạnh, còn thiếu; các cơ quan quản lý nhà nước và thực thi pháp luật còn xử lý chưa nghiêm, chưa dứt điểm, còn đẩy trách nhiệm cho nhau… nên rất nhiều doanh nghiệp làm ăn phi pháp không ngừng lợi dụng những kẽ hở và bất cập đó thực hiện những hành vi bất hợp pháp xâm hại quyền lợi người tiêu dùng
Do đó, để tự bảo vệ quyền lợi, người tiêu dùng cần phải tự trang bị kiến thức pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Người tiêu dùng phải biết phê bình: Khi thấy những hiện tượng tiêu cực làm ảnh hưởng tới lợi ích của mình và của xã hội, người tiêu dùng có trách nhiệm phát hiện, phê bình và đấu tranh, như các hiện tượng làm và lưu hành hàng giả, hàng chất lượng xấu, có hại tới sức khoẻ, phá hoại môi trường, các thủ đoạn gian dối, giá cả bất hợp lý
Người tiêu dùng cần phải hành động: Phải chủ động và thực hiện việc phê bình, đấu tranh nhằm làm cho xã hội công bằng, dân giàu, nước mạnh
Người tiêu dùng cần bồi dưỡng kiến thức cơ bản về tiêu dùng: Người tiêu dùng cần tự rèn luyện mình để trở thành người tiêu dùng có trình độ hiểu biết để tự bảo vệ mình, tự tìm hiểu về môi trường để góp phần tạo lập và duy trì một môi trường sống lành mạnh, bền vững, đảm bảo hạnh phúc cho thế hệ hiện tại và tương lai
Người tiêu dùng cần thiếp lập các mối quan hệ cộng đồng: Người tiêu dùng cần quan tâm đến nhau, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau hành động để nâng cao sức mạnh, bảo vệ được mình và mang lại công bằng hạnh phúc cho xã hội
Ngoài ra, quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng (người tiếp nhận quảng cáo) được quy định cụ thể tại Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 16 Luật Quảng cáo Vì vậy người tiêu dùng cần biết quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật để tự
có cơ chế bảo vệ
1.2.2.2 ác biện p áp p áp lý ướn đến việc bảo vệ quyền lợi
n ười ti u dùn trong hoạt động quản cáo
Trang 28Quyền lợi của người tiêu dùng được bảo vệ trước, trong và sau giao dịch hàng hóa, dịch vụ với thương nhân Trước và trong khi diễn ra quan hệ tiêu dùng, Nhà nước can thiệp bằng pháp luật vào các hoạt động có sự tham gia của người tiêu dùng để đảm bảo sự công bằng, bằng cách quy định tại Điều 7, Khoản 9 và Khoản
14 Điều 8 Luật Quảng cáo; Khoản 2 và Khoản 4 Điều 45 Luật Cạnh tranh; Khoản 5
và Khoản 7 Điều 109 Luật Thương mại về những quảng cáo bị cấm hay quảng cáo gây thiệt hại đến người tiêu dùng Nếu người tiêu dùng bị thiệt hại hay bị xâm phạm quyền lợi, có thể tìm đến một trong ba con đường sau đây để bảo vệ mình:
Một là, xét trên góc độ hành chính:
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, cơ quan, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt
vi phạm hành chính Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là: phạt cảnh cáo, phạt tiền (Điều 11 Luật Quảng cáo) Tùy tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức còn có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả Cụ thể, hiện nay chế tài xử phạt đối với hành vi quảng cáo trên được quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 51 Nghị định 158 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo Theo đó, người nào có hành vi quảng cáo lừa dối, gây nhầm lẫn cho công chúng, người tiêu dùng, khách hàng về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo với tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khác hoặc lừa dối, gây nhầm lẫn về tính năng, tác dụng của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng
Về mặt hành chính, người tiêu dùng có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền về các hành vi vi phạm của thương nhân (Khoản 7 Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng) Xét trên yếu tố tâm lý người tiêu dùng Việt Nam, phương thức khiếu nại được xem là nhanh gọn, ít tốn kém và phiền hà nhất Lợi ích bị xâm phạm
Trang 29sẽ được xem xét trên cơ sở chứng cứ mà người tiêu dùng hoặc tổ chức/cá nhân đại diện quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng cung cấp được Các đơn vị, tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sẽ hỗ trợ người tiêu dùng trong quá trình khiếu nại thông qua việc nộp đơn, hướng dẫn trình tự và đại diện ủy quyền (nếu cần) Trường hợp việc khiếu nại không đạt kết quả, trên cơ sở đề nghị của bên bị thiệt hại, cơ quan quản lý Nhà nước sẽ can thiệp thông qua các hình thức kiểm tra, thanh tra và kiểm định chất lượng, hoặc giải quyết tranh chấp thông qua vụ kiện về quyền lợi người tiêu dùng Hiện nay, hành vi quảng cáo sai sự thật chiếm tỷ trọng khá cao trong các vụ việc thực hiện hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng, bao gồm những quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá, số lượng, chất lượng, công dụng hoặc bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng Xử phạt vi phạm hành chính là chế tài được áp dụng phổ biến nhất dành cho các hành vi quảng cáo vi phạm pháp luật Tùy vào hình thức vi phạm và loại sản phẩm cụ thể được quảng cáo
mà doanh nghiệp có hành vi quảng cáo sai sự thật sẽ bị xử lý bằng hình thức phạt tiền với giá trị khác nhau từ 20 - 70 triệu đồng Đặc biệt, đối với các sản phẩm sữa, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, sản phẩm dinh dưỡng , doanh nghiệp còn có thể chịu thêm mức phạt từ 10 - 15 triệu đồng cho hành vi quảng cáo sản phẩm không đúng với các tài liệu về an toàn vệ sinh thực phẩm hoặc công bố hợp quy Ngoài hình thức phạt tiền, doanh nghiệp có quảng cáo vi phạm còn phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như cải chính thông tin, tháo gỡ, tháo dỡ hoặc xóa quảng cáo Doanh nghiệp vi phạm có thể chịu mức phạt từ 60 - 140 triệu đồng và chịu một hoặc một số mức hình phạt bổ sung như tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm, tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ quảng cáo vi phạm hoặc buộc phải cải chính công khai Đa phần các vụ việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam đều được thực hiện thông qua trình tự khiếu nại Cụ thể, người tiêu dùng khi gặp các vấn đề liên quan tới quyền lợi của mình có quyền khiếu nại trực tiếp tới nhà sản xuất hoặc nhà phân phối để yêu cầu bồi thường hoặc gửi đơn tới tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (tổ chức phi chính phủ); cơ quan bảo vệ người tiêu dùng trực thuộc
Trang 30Bộ Công thương hoặc khởi kiện ra tòa án để đòi quyền lợi Các con số báo cáo từ Cục Quản lý cạnh tranh năm 2011 cho thấy có tới hơn 2.600 vụ việc khiếu nại được gửi tới ba thiết chế này, đa phần đều là các vụ việc có giá trị tranh chấp rất thấp Quyền khiếu nại được nhìn nhận như là khởi đầu của quá trình giải quyết tranh chấp, đồng thời có ý nghĩa dẫn dắt tiến trình giải quyết tranh chấp sau đó cũng như ảnh hưởng tới việc lựa chọn và thực hiện các phương thức giải quyết tranh chấp Thực tiễn áp dụng pháp luật của Việt Nam cho thấy, đa phần người tiêu dùng cá nhân (nhóm cá nhân quy mô nhỏ) - đối tượng chủ yếu tham gia vào các tranh chấp tiêu dùng có xu hướng lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp mang tính
ôn hòa, nhằm hạn chế thủ tục, tránh mất nhiều thời gian và chi phí như thương lượng, hòa giải với nhà cung cấp, hàng hóa sản phẩm để lấy bồi thường sau khi thực hiện các thủ tục khiếu nại cần thiết
Hai là, xét trên góc độ dân sự:
Về biện pháp dân sự, người tiêu dùng có thể lựa chọn 2 phương thức, hoặc là phương thức giải quyết tiền tố tụng (hòa giải và thương lượng), hoặc là phương thức giải quyết thông qua tố tụng (tòa án và trọng tài) (Khoản 1 Điều 30 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng) Theo thống kê, các tranh chấp với một bên
là người tiêu dùng đa phần được giải quyết theo cơ chế tự thỏa thuận (thương lượng hoặc hòa giải) hoặc thông qua con đường khiếu nại (cơ chế hành chính) là chủ yếu Đối với các cơ chế giải quyết tranh chấp như trọng tài, tòa án, người tiêu dùng và cả
thương nhân đều có xu hướng né tránh
(i) Phương thức giải quyết tranh chấp tiền tố tụng: Phương thức được áp dụng phổ biến do các nhà kinh doanh lẫn người tiêu dùng đều không muốn dựa vào tài phán (Toà án hay trung tâm trọng tài) để phân xử các tranh chấp ngay từ ban đầu Khi tranh chấp phát sinh, các bên muốn mình hoặc thông qua người thứ 3 làm đại diện để thương lượng, dàn xếp tranh chấp theo cách hữu nghị, hòa bình nhất Các phương pháp này được tiến hành dựa trên cơ sở ý chí tự nguyện của các bên đương sự, không ai có thể hiểu rõ mọi tình tiết, nguyên nhân tranh chấp bằng chính các bên tranh chấp, do vậy họ được quyền tự do lựa chọn cách giải quyết hợp tình
Trang 31hợp lý bằng chính những cố gắng và nỗ lực của bản thân họ Vì lý do này, các phương pháp thương lượng trực tiếp có khả năng giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng Trong trường hợp các tranh chấp mà các bên không thể dung hòa về lợi ích, các chủ thể có liên quan (người tiêu dùng và doanh nghiệp) mới tìm đến các phương pháp giải quyết tranh chấp có khả năng mang lại kết quả phân xử có hiệu lực pháp lý, ràng buộc các bên thi hành, về mặt lý thuyết, cả toà án và trọng tài đều
có thể đáp ứng được yêu cầu đó Phương thức này đồng thời cũng giúp các bên lựa chọn được bên thứ ba đáp ứng được yêu cầu trình độ chuyên môn và đảm bảo yếu
tố bí mật kinh doanh Tuy vậy, phương pháp này cũng bộc lộ một số nhược điểm như chỉ nên được áp dụng và có thể mang lại kết quả tốt khi các bên tranh chấp có thái độ hợp tác, tôn trọng lẫn nhau để cùng nhanh chóng giải quyết tranh chấp Nếu một bên thiếu nhiệt tình, không có thiện chí thì việc vận dụng phương pháp này sẽ tốn thời gian vô ích Vai trò của người trung gian chỉ dừng lại ở vai trò của người góp ý kiến, không có thẩm quyền ra quyết định phân xử Nhược điểm lớn nhất của các phương pháp này là phương án giải quyết tranh chấp được các bên nhất trí không có giá trị ràng buộc các bên và không được pháp luật cưỡng chế thi hành
(ii) Phương thức giải quyết tranh chấp tố tụng: Đối tượng bị xâm hại bởi quảng cáo sai sự thật bao gồm người tiêu dùng và các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm cạnh tranh với sản phẩm được quảng cáo Tại Việt Nam, doanh nghiệp có hành vi quảng cáo sai sự thật có thể bị khởi kiện tại Tòa án theo thủ tục bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do những tác động xấu của quảng cáo đối với người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác Do yêu cầu bồi thường thiệt hại là một quyền được pháp luật thừa nhận nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể kinh doanh cũng như người tiêu dùng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được áp dụng đồng thời với các chế tài khác Hiệu lực thi hành của phán quyết tòa án hoặc phán quyết trọng tài là ưu điểm nổi bật của phương thức này so với phương thức giải quyết tranh chấp tiền tố tụng Phương thức giải quyết thông qua tố tụng đòi hỏi các bên phải có cơ sở pháp lý và chứng cứ rõ ràng để tự bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình Chính điều này khiến cho thủ tục tố tụng trở nên phức tạp, đòi
Trang 32hỏi mất nhiều thời gian và chi phí Tính chung thẩm trong phán quyết trọng tài hay quyết định của tòa án (có thể là quyết định sơ thẩm hay phúc thẩm) là cơ sở pháp lý
rõ ràng để thực hiện thi hành án, buộc một trong các bên phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật Mặc dù được coi là giải pháp cuối cùng được các bên viện tới khi có tranh chấp phát sinh, tuy nhiên thông thường hệ quả khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp này dễ thấy khi một trong các bên không đạt được sự chia sẻ về lợi ích, quan hệ giữa các bên đương sự không thể duy trì và đổ vỡ sau khi kết thúc quá trình tố tụng Đồng thời, việc lựa chọn bên thứ ba tham gia giải quyết tranh chấp tuy chỉ được áp dụng với trọng tài, tuy nhiên, hạn chế về bên thứ ba giải quyết tranh chấp ở khía cạnh nào đó vẫn tồn tại, làm hạn chế sự “tự do” của các bên Ngoài ra, chi phí cao và thời gian là một trong những hạn chế của phương thức này đặc biệt trong các tranh chấp nhỏ lẻ, với giá trị thấp hoặc một trong các bên gặp khó khăn về khả năng tài chính
Ba là, xét trên góc độ hình sự
Trong trường hợp quảng cáo sai sự thật có đầy đủ dấu hiệu của hành vi
“quảng cáo gian dối” theo Điều 197 Bộ luật Hình sự 2015, cơ quan có thẩm quyền
sẽ căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm mà áp dụng chế tài hình sự thích hợp Người tiêu dùng có thể gửi đơn tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền nếu nhận thấy hành vi của thương nhân đã vi phạm pháp luật hình sự Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10 đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù
từ 06 tháng đến 03 năm Ngoài ra, người phạm tội còn có thể chịu hình phạt bổ sung
là phạt tiền đến 50 triệu đồng, bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự 2015 lại không áp dụng với chủ thể là pháp nhân vi phạm trong lĩnh vực quảng cáo trong khi đa phần các hoạt động quảng cáo lại do các pháp nhân thực hiện nên trên thực tế điều này khó có thể thi hành
1.2.3 Bảo vệ n ười ti u dùn trong hoạt động quản cáo ở một s
qu c gia
Trang 331 2 3 1 u địn p áp luật về quản cáo của Vươn u c Anh 9
Ngày nay, để có một sản phẩm quảng cáo gửi tới công chúng, dù qua phương tiện nào cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật về quảng cáo Việc kiểm soát ngành quảng cáo được thực hiện khá chặt chẽ, thông qua hệ thống cơ quan nhà nước có thẩm quyền Để điều chỉnh hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo, ở Anh có Bộ luật quảng cáo và khuyến mại Bên cạnh
Bộ luật Quảng cáo và khuyến mại là văn bản pháp lý quy định chủ yếu về quản lý hoạt động quảng cáo, Vương quốc Anh còn có những văn bản pháp luật khác tham gia điều chỉnh hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo như: Luật Bảo vệ người tiêu dùng (1984), Luật Dược phẩm (1968)…
Cơ quan giám định các tiêu chuẩn quảng cáo (ASA) có thẩm quyền độc lập trong việc thẩm định các sản phẩm quảng cáo, các cáo buộc có liên quan đến quảng cáo Nếu như ASA đồng ý rằng, người quảng cáo đã quy phạm Bộ luật quảng cáo và khuyến mại thì họ có quyền yêu cầu dỡ bỏ hoặc sửa đổi sản phẩm quảng cáo
đó Tiếp theo, phải kể đến vai trò của các cơ quan tiêu chuẩn quảng cáo được thành lập năm 1962 để bảo đảm các quảng cáo được thực hiện đúng quy định Bên cạnh
đó, việc thực thi các quy định quảng cáo thương mại còn được giám sát bởi Ủy ban thực hành quảng cáo với sự tham gia của Nhà nước, đại diện các nhà quảng cáo, các
cơ quan và lĩnh vực truyền thông quảng cáo
Măc dù, giữa Việt Nam và Anh quốc có sự khác biệt lớn về thể chế, cơ cấu tổ chức nhà nước, nhưng thông qua việc nghiên cứu một cách khái quát pháp luật về quảng cáo của Anh quốc, có thể nhận thấy cơ chế giám sát, tổ chức thực hiện các quy định về quảng cáo khá chặt chẽ, khoa học, với sự tham gia của Nhà nước, của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực quảng cáo và của chính nhà sản xuất hàng hóa, dịch vụ Sự phối hợp mang tính đại diện cho nhiều lợi ích sẽ
Trang 34giúp cho hệ thống quảng cáo vận hành có hiệu quả trên thực tế Đây là kinh nghiệm quan trọng để Việt Nam có thể tham khảo vì một trong những hạn chế của luật Việt Nam về quảng cáo là hiệu quả của cơ chế tổ chức thực thi còn thấp
1.2.3.2 Quy địn p áp luật về quản cáo t ươn mại của oa ỳ 10
Là một quốc gia liên bang, do đó hoạt động quảng cáo ở Hoa Kỳ có điểm đặc thù là được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật liên bang và pháp luật mỗi bang Cơ quan có thẩm quyền quản lý hoạt động quảng cáo là Hội đồng Thuơng mại liên bang (FTC) Hội đồng thương mại liên bang với Đạo luật FTC có khả năng tác động lớn tới các hoạt động thương mại cửa thương nhân nói chung và tới lĩnh vực quảng cáo nói riêng FTC có quyền cấm hành vi hay động thái không công bằng và dối trá làm ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng, có quyền ra lệnh phải đính chính sửa đổi, miêu tả rõ ràng và thông báo cho khách hàng Văn bản pháp lý quan trọng khác điều chỉnh hoạt động quảng cáo là Luật Lanham 15 U.S.C Mặc dù, nội dung chính của đạo luật này điều chỉnh nhãn hiệu hàng hóa, nhưng tại Chương 43 có các quy phạm pháp luật điều chỉnh về quảng cáo Nội dung của luật Lanham chủ yếu điều chỉnh các hành vi quảng cáo như: quảng cáo sai sự thật, quảng cáo cạnh tranh, quảng cáo so sánh và biện pháp trừng phạt Bên cạnh đó pháp luật Hoa Kỳ còn có những quy định riêng cho một số sản phẩm và lĩnh vực nhạy cảm Pháp luật cũng đề cập tới các phương tiện truyền thông và quy định giới hạn sử dụng như: Quảng cáo dán tường, quảng cáo cho trẻ em
1 2 3 3 u địn p áp luật bảo vệ qu ền lợi n ười ti u dùn về oạt độn quản cáo t ươn mại của Trun u c 11
Luật Quảng cáo của Trung Quốc được thông qua tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa VIII ngày 27/10/1994 Mục đích của đạo luật này là chấn chỉnh các hoạt
10 Tùng Bách (2013), Một số quy định về quảng cáo trên thế giới,
http://www.vca.gov.vn/PrintNews.aspx?ID=1442 , (truy cập lần cuối ngày 20/12/2017)
11
Viện Nghiên cứu lập pháp (2012), Pháp luật quảng cáo một số nước trên thế giới,
www.vnclp.gov.vn/ct/cms/ /Lists/nghiencuuphapluat/ /PLQuangCaoss-part1.pdf, tr.4, (truy cập
lần cuối ngày 20/12/2017)
Trang 35động quảng cáo, tạo điều kiện để lĩnh vực này phát triển lành mạnh, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng, bảo đảm sự ổn định xã hội và trật tự kinh tế, nhằm đưa quảng cáo đóng vai trò tích cực trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Trong đạo luật này, có những quy định cụ thể về các quảng cáo bị cấm, về vấn đề thẩm định quảng cáo, giao trách nhiệm giám sát các hoạt động quảng cáo cho các cơ quan quản
lý về thương mại
Với việc ban hành Luật Quảng cáo, Trung Quốc đã thiết lập một cơ chế luật pháp đồng bộ, thống nhất điều chỉnh hoạt động quảng cáo, mà không tách biệt quảng cáo và quảng cáo thương mại Các quy định nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực thương mại cũng được quy định trong luật bảo vệ người tiêu dùng Luật cạnh tranh dựa trên lập luận rằng, những hành vi thương mại gây tổn hại đến người tiêu dùng thường là những hành vi nhằm vào đối thủ cạnh tranh Nghiên cứu pháp luật quảng cáo của Trung Quốc có ý nghĩa quan trọng vì Trung Quốc là nước có điều kiện kinh tế - chính trị tương đồng với Việt Nam
Nghiên cứu pháp luật quảng cáo ở một số quốc gia, tác giả nhận thấy một vài điểm mới, tiến bộ cần tham khảo áp dụng tại Việt Nam:
Một là, quảng cáo phải trung thực, thông điệp quảng cáo phải rõ ràng,
không cường điệu quá đáng, không gây sự hiểu nhầm tai hại trực tiếp hay gián tiếp cho người tiêu dùng, không được quảng cáo trá hình để đánh lừa người tiêu dùng, ảnh bắt chước những ngôn ngữ, hình ảnh, biểu ngữ quảng cáo bao bì, nhãn hiệu của những mẫu quảng cáo khác đã tung ra trước đó nhằm cố ý tạo sự nhầm lẫn hay mập
mờ trên thị trường
Hai là, quảng cáo phải vô tư, thông điệp quảng cáo không được lợi dụng
lòng tin và khai thác sự thiếu kinh nghiệm và hiểu biết của công chúng Không lợi dụng danh tiếng, nhãn hiệu của doanh nghiệp, sản phẩm đã nổi tiếng từ trước hay đăng thông tin hình ảnh nhân vật có thật mà không có sự cho phép trước của người này hoặc đại diện luật pháp của người này trước pháp luật
Ba là, quảng cáo phải lịch sự, đòi hỏi quảng cáo không đưa ra những
thông điệp có tính cách phỉ báng, xúc phạm đến tôn giáo, tín ngưỡng, thuần phong
Trang 36mỹ tục Không được khai thác và đưa ra những nội dung gây tai hại đến thể xác, tinh thần và đạo đức của trẻ em Nhiều nước còn ngăn cấm quảng cáo có nội dung kích động bạo lức và tình dục Những yêu cầu trên được "luật hóa" và trở thành các nguyên tắc về đạo đức nghề nghiệp mà các công ty quảng cáo phải tuân thủ khi thực hiện một sản phẩm quảng cáo
Bốn là, quy định về các nguyên tắc chung trong lĩnh vực quảng cáo Việc
đặt ra nguyên tắc chung trong một lĩnh vực sẽ khiến cho mọi hoạt động tuân thủ theo một chiều hướng nhất định Hơn nữa, nếu rơi vào trường hợp thiếu các quy phạm pháp luật cụ thể điều chỉnh hành vi cụ thể có thể áp dụng nguyên tắc chung để giải quyết vấn đề đó
Năm là, quy định về quảng cáo thực phẩm Việt Nam không có bất kì qui
định riêng biệt nào về quảng cáo thực phẩm, cái mà có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng Vì vậy việc áp dụng kinh nghiệm của các nước là rất cần thiết để xây dựng thể chế và chế tài cho quảng cáo về thực phẩm
Sáu là, quy định về quảng cáo đối với trẻ em Quảng cáo cho trẻ em cũng
là đối tượng mà quảng cáo hướng đến nhiều nhất trong những năm gần đây Trẻ em vốn không có khả năng chống cự lại sự cám dỗ của các chương trình quảng cáo và nhất là qua quảng cáo đối với trẻ em người ta có thể lôi cuốn cả người lớn vì cha mẹ chìu chuộng con, nhiều khi nghe theo ý chúng Do đó, cần có những quy định cụ thể
để giới hạn quảng cáo hướng về trẻ em Luật của nhiều quốc gia đã ưu ái đưa những quy định có liên quan đến người tiêu dùng ở độ tuổi này lên hàng đầu Luật Quảng cáo trên truyền hình của Trung Quốc dành hẳn một chương 7 về “quảng cáo và trẻ em” Ở Châu Âu, các thành viên của thị trường chung EU đã ngăn cấm nghiêm khắc, không cho phép quảng cáo trong chương trình dành cho trẻ em Đó là trường hợp các quốc gia như Bỉ, Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Hy Lạp12 Các nước khác cũng có các biện pháp ngăn ngừa tối thiểu như Anh đã ghi rõ điều đó trong
Trang 37đạo luật về thông tin đại chúng năm 1990 (Broadcasting Act) và trong pháp chế về quảng cáo (British Codes of Advertising) Ở Bỉ, năm phút trước và sau chương trình truyền hình cho trẻ em, không được phép phóng ảnh quảng cáo Ở Hy Lạp, quảng cáo đồ chơi bị cấm đến 10 giờ tối, lúc trẻ em đi ngủ Thụy Điển cấm tất cả mọi thứ quảng cáo cho trẻ em dưới 12 tuổi và nước này đã đề nghị với tất cả các thành viên của thị trường chung Âu Châu cùng áp dụng luật lệ này
Bảy là, quy định về Hội đồng thẩm định quảng cáo Ở các nước, quảng
cáo trước khi tung ra thị trường bắt buộc phải được kiểm duyệt thông qua một hội đồng thẩm định độc lập, cụ thể: Cơ quan quản lý chất lượng quảng cáo của Singapore (ASAS), Cơ quan về tiêu chuẩn quảng cáo của Malaysia (ASA) Các cơ quan này có chức năng kiểm duyệt các quảng cáo trước khi đăng tải hay có thẩm quyền rút lại quảng cáo, ra chế tài đối với bất kỳ quảng cáo sai phạm hay là cơ quan tiếp nhận, xem xét giải quyết khiếu nại tố cáo đối với quảng cáo
Trong khi đó tại Việt Nam, giao trách nhiệm xem xét chất lượng nội dung quảng cáo cho đài truyền hình… và việc giải quyết khiếu nại tố cáo là của Bộ Văn hóa - Thể Thao và Du lịch, còn rút quảng cáo lại thuộc thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông Điển hình như Luật Báo chí, Luật Quảng cáo quy định
rõ các nội dung thông tin quảng cáo được phép đăng tải trên báo chí nói chung và phát thanh - truyền hình nói riêng Người đứng đầu cơ quan báo chí chịu trách nhiệm về nội dung, hình thức, vị trí, thời lượng, diện tích quảng cáo trên phương tiện của mình Cũng theo các quy định pháp luật về quảng cáo, sản phẩm trước khi quảng cáo trên báo chí phải có đầy đủ giấy chứng nhận tiêu chuẩn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Doanh nghiệp cung cấp sản phẩm quảng cáo phải chịu trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm của mình Cơ quan báo chí trước khi cho đăng, phát sản phẩm quảng cáo phải kiểm tra, xác minh các giấy chứng nhận, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm quảng cáo, bảo đảm sản phẩm quảng cáo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Bộ Thông tin và Truyền thông không cấp phép quảng cáo trên hệ thống các đài phát thanh và truyền hình Hoạt động quảng cáo trên phát thanh, truyền hình do các đài tự chịu trách nhiệm và việc quảng cáo đối với từng
Trang 38sản phẩm (mặt hàng) cụ thể sẽ do cơ quan quản lý chuyên ngành cấp phép Ví dụ: Quảng cáo thực phẩm chức năng, thuốc do Bộ Y tế cấp phép Nếu nghi ngờ về chất lượng sản phẩm quảng cáo, người tiêu dùng có thể liên hệ với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (hiện nay là cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về quảng cáo) để đề nghị thẩm định sản phẩm quảng cáo Nếu quảng cáo không đúng
sự thật, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, nếu người tiêu dùng có khiếu kiện thì sẽ tùy từng trường hợp cụ thể để xem xét xử lý theo quy định của pháp luật
Theo quy định tại Khoản 8 Điều 2 Nghị định số
132/2013/NĐ-CP ngày16/10/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông thì Bộ Thông tin và Truyền thông
“thực hiện các nhiệm vụ về quản lý quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng,
trên xuất bản phẩm và quảng cáo tích hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin” Tuy nhiên, hiện nay Bộ Văn hoá, Thể thao và Du
lịch chịu trách nhiệm quản lý chung về nội dung quảng cáo và việc xét duyệt đối với từng nội dung quảng cáo cụ thể về một số sản phẩm hàng hoá thuộc trách nhiệm của các cơ quan quản lý chuyên ngành (ví dụ: thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm … do Bộ Y tế quản lý; chất lượng sản phẩm hàng hoá do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý; lực lượng quản lý thị trường thuộc Bộ Công Thương chịu trách nhiệm về vấn đề hàng giả, hàng nhái)
Theo quy định Luật Báo chí, Luật Quảng cáo thì người đứng đầu cơ quan báo chí chịu trách nhiệm về nội dung, hình thức, vị trí, thời lượng, diện tích quảng cáo trên phương tiện của mình; sản phẩm trước khi quảng cáo trên báo chí phải có đầy đủ giấy chứng nhận tiêu chuẩn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; doanh nghiệp cung cấp sản phẩm quảng cáo phải chịu trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm của mình; cơ quan báo chí trước khi cho đăng, phát sản phẩm quảng cáo phải kiểm tra, xác minh các giấy chứng nhận, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm quảng cáo, bảo đảm sản phẩm quảng cáo tuân thủ đúng các quy định pháp luật Như vậy, Bộ Thông tin và Truyền thông không chịu trách nhiệm xét duyệt, cho phép đối với từng sản phẩm và nội dung quảng cáo cụ thể trên hệ thống các Đài
Trang 39Phát thanh và Truyền hình Hoạt động quảng cáo trên phát thanh, truyền hình do các Đài tự chịu trách nhiệm và việc quảng cáo đối với từng sản phẩm (mặt hàng) cụ thể
sẽ do cơ quan quản lý chuyên ngành xem xét, phê duyệt
Bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo là nội dung quan trọng được đề cập trong chương I xuất phát từ những lý do như người tiêu dùng là đối tượng bị tác động trực tiếp bởi thông tin quảng cáo của các doanh nghiệp hay việc bảo vệ người tiêu dùng chính là bảo vệ sự phát triển của thị trường, đảm bảo sự cân bằng lợi ích giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp Đây là tiền đề cho việc tìm hiểu, nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ hệ thống văn bản pháp luật quảng cáo
về bảo vệ người tiêu dùng và đặc biệt hơn là nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dưới góc độ chủ thể bảo vệ và các biện pháp pháp lý Đề cập đến chủ thể bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các hoạt động quảng cáo có thể kể đến các cơ quan Nhà nước, các tổ chức/ hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam và chính bản thân người tiêu dùng cũng phải biết tự bảo vệ mình Các biện pháp pháp lý được áp dụng để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được nhìn nhận dưới góc độ dân sự, hành chính và hình sự Trên cơ sở đó có cái nhìn tổng thể, bao quát nhằm xác lập cách thức, định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật quảng cáo về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Ngoài ra, trong chương này, nghiên cứu pháp luật quảng cáo ở một số quốc gia như Anh, Hoa Kỳ, Trung Quốc… tác giả nhận thấy những điểm mới, tiến
Trang 40bộ cần tham khảo áp dụng tại Việt Nam như quy định về quảng cáo thực phẩm, quy định về quảng cáo đối với trẻ em, quy định về Hội đồng thẩm định quảng cáo…
ƯƠ 2: THỰC TR NG Á LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI ƯỜI
T ÊU DÙ TRO O T ỘNG QUẢ ÁO T I VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về thực trạng bảo vệ quyền lợi n ười ti u dùn
Mỗi năm các hội trên cả nước giải quyết được trên 2.000 vụ việc khiếu nại về quyền lợi của người tiêu dùng với tỷ lệ thành công từ 80 - 82% Một số Hội ở các tỉnh như Hải Phòng, Hà Tĩnh, Kiên Giang tỷ lệ giải quyết thành công lên đến 90% Việc tiếp nhận và giải quyết phản ánh của người tiêu dùng của các cơ quan có chức năng bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng đã có những bước tiến bộ Hàng năm, có khoảng 550 vụ việc khiếu nại về quyền lợi của người tiêu dùng được gửi đến các Sở Công thương, khoảng 60 vụ gửi đến Cục Quản lý cạnh tranh và tỷ lệ giải quyết thành công trên 90% Các vụ việc vi phạm bị phát hiện và xử lý chủ yếu liên quan đến các lĩnh vực như an toàn thực phẩm, đo lường, sở hữu trí tuệ, quảng cáo Hàng hóa liên quan phần lớn là hàng thực phẩm, điện tử và mỹ phẩm13
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong thời gian qua còn có những hạn chế nhất định Nhiều người tiêu dùng khi quyền lợi của mình bị xâm phạm chỉ biết im lặng, không dám lên tiếng Khi có tình huống vi phạm, thông thường người tiêu dùng chỉ biết phản ánh với cơ sở bán hàng và nếu không được đền bù thì cũng cho qua mặc dù họ biết có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đảm bảo về số lượng và chất lượng như cam kết Chỉ khi quyền lợi bị xâm phạm nghiêm trọng, thiệt hại với giá trị lớn thì người tiêu dùng mới gửi đơn khiếu nại và trong nhiều trường hợp, người tiêu dùng không biết gửi đơn khiếu nại đến cơ quan nào, trình tự giải quyết ra sao Theo kết quả công bố, đã có 3.000 bản khảo sát được gửi đến 12
13
Báo cáo của ông Nguyễn Phương Nam - Phó Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh tại Hội thảo
“Nhìn lại 3 năm thực thi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” tổ chức ngày 28-10-2014 tại Hà Nội