CƠ CHẾ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI KHI CÓ TRANH CHẤP ...25 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1...28 CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG H
Trang 1HUỲNH THẢO NGUYÊN
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2020
Trang 2HUỲNH THẢO NGUYÊN
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã ngành: 8380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS DƯƠNG KIM THẾ NGUYÊN
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn đề tài: “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu
Trang 3hướng dẫn của TS Dương Kim Thế Nguyên.
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực vàchưa được sử dụng để bảo vệ tại một công trình khoa học nào Các thông tin, tài liệutrong luận văn đã được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địađiểm công bố
Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tàiluận văn của mình
Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 05 năm 2020
Người cam đoan
HUỲNH THẢO NGUYÊN
Trang 4MỤC LỤC TRANG
PHẦN MỞ ĐẦU 1
ĩ ĩ _ Ạ 1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 8
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4.1 Đối tượng nghiên cứu 9
4.2 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Kết cấu của đề tài 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI 12
1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI 12
1.1.1 Khái niệm quảng cáo thương mại 12
1.1.2 Đặc điểm của quảng cáo thương mại 15
1.1.3 Vai trò của quảng cáo thương mại 16
1.2 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TIÊU DÙNG 18
1.3 SỰ CẦN THIẾT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI 19
Trang 51.5 CƠ CHẾ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG
CÁO THƯƠNG MẠI KHI CÓ TRANH CHẤP 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ 29
2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CHỦ THỂ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG QUÁ TRÌNH QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI 29
2.1.1 Trách nhiệm của thương nhân 30
2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng 34
2.1.3 Thực trạng thực hiện quy định về trách nhiệm của chủ thể trong quảng cáo thương mại 36
2.1.4 Kiến nghị hoàn thiện các quy định về trách nhiệm của chủ thể trong quảng cáo thương mại 38
2.2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NỘI DUNG QUẢNG CÁO NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI 39
2.2.1 Quy định về nội dung quảng cáo phải đảm bảo được quyền lợi của người tiêu dùng 39
2.2.2 Quy định về các nội dung bị cấm trong quảng cáo thương mại 43
2.2.2.1 Các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ bị cấm quảng cáo 43
2.2.2.2 Quy định về các hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo 45
Trang 62.3 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG QUẢNG
CÁO THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG 51
2.3.1 Xử lý vi phạm hành chính 51
2.3.2 Xử lý vi phạm hình sự 53
2.3.3 Thực trạng thực hiện các quy định về xử lý vi phạm quảng cáo 54
2.3.4 Kiến nghị hoàn thiện các thực hiện các quy định về xử lý vi phạm quảng cáo 55 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
KẾT LUẬN 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, nền kinh tế nước ta đã có những bướcphát triển ấn tượng trong việc kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ Cụ thể, nước ta
có tốc độ tăng trưởng tài sản lớn nhất thế giới là 210%1 Một số mặt hàng xuất khẩucũng giữ vị trí cao trên thế giới như: xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới2, xuất khẩugạo xếp thứ 3 trên thế giới3, xuất khẩu thủy sản xếp thứ 3 trên thế giới4, nằm trongnhóm 10 nước xuất khẩu hàng dệt may hàng đầu thế giới5 Việt Nam là quốc giađứng thứ 6 thế giới và đứng đầu châu Á về tốc độ phát triển du lịch giới (với 2 trong
10 nơi đẹp nhất hành tinh là Vịnh Hạ Long và hang Sơn Đoòng)6 Bên cạnh đó, ViệtNam còn nằm ở vị trí thứ 6 trong bảng xếp hạng các thị trường bán lẻ hấp dẫn nhấtthế giới7
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh tế để nước ta đạt được sự pháttriển ấn tượng như vậy Trong nhiều yếu tố đó, phải kể đến sự ảnh hưởng của quảngcáo thương mại - một trong những hoạt động của xúc tiến thương mại Quảng cáothương mại ở nước ta ra đời cách đây đã lâu Có thể nói từ sau năm 1986, kinh tếnước ta chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa Từ đó, thị trường mua bán được mở rộng với sự xuất hiện củanhiều loại sản phẩm và dịch vụ Sự cạnh tranh giữa những nhà kinh doanh sản phẩm
1 Jeff Desjardins Chú thích địa chỉ trang web “Visualizing a Global Shift in Wealth Over 10 Years” (26/1/2018) https://www.visualcapitalist.com (truy cập ngày 3/12/2018)
2 Benjamin Elisha Sawe Chú thích địa chỉ trang web “The World's Top Black Pepper Producing Cointries” (25/4/2017) https://www.worldatlas.com (truy cập ngày 3/12/2018)
3Data visualized by Tableau software Chú thích địa chỉ trang web “Principal rice exporting countries worldwide in 2017/2018” (in 1,00 metric tons) (2018) https://www.statista.com (truy cập ngày 3/12/2018)
4 Oishimaya Sen Nag Chú thích địa chỉ trang web “Top Fish And Seafood Exporting Countries” (25/4/2017) https://www.worldatlas.com (truy cập ngày 3/12/2018)
5 WTO Chú thích địa chỉ trang web “World Trade Statistical Review 2017” (2017) https://www.wto.org (truy cập ngày 3/12/2018)
6 Vy An Chú thích địa chỉ trang web “Việt Nam đứng thứ 6 thế giới về tốc độ phát triển du lịch” (11/8/2017) https ://dulich.vnexpress.net (truy cập ngày 3/12/2018)
7Greg Portell, Osamu Goto, Mirko Warschun Chú thích địa chỉ trang web “Global Retail Development Index” (2017) https://www.atkearney.com (truy cập ngày 3/12/2018)
Trang 8và cung ứng dịch vụ ngày càng lớn Để đẩy mạnh sức tiêu thụ sản phẩm và dịch vụcủa người tiêu dùng; các nhà kinh doanh đã tiến hành quảng cáo thương mại.
Đến nay, quảng cáo thương mại là một công cụ quan trọng hỗ trợ cho nhàkinh doanh trong việc quảng bá sản phẩm, dịch vụ; tạo dựng thương hiệu; cũng nhưđưa thông tin hàng hóa - dịch vụ đến người tiêu dùng Đồng thời, quảng cáo thươngmại còn tạo hiệu ứng tâm lý tác động lên người tiêu dùng làm cho họ mua sản phẩmhay sử dụng dịch vụ của các nhà kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh sôi động như hiện nay, nhữngnhà kinh doanh nếu muốn đạt lợi nhuận cao thì phải tận dụng tối đa những lợi ích màquảng cáo thương mại đem lại Bởi vì quảng cáo thương mại có ảnh hưởng lớn đếnquyết định của người tiêu dùng Tuy nhiên, trong quan hệ quảng cáo thương mại, bênquảng cáo lại là bên có nhiều lợi thế hơn so với người tiêu dùng bởi các ưu thế về tàichính, kiến thức chuyên môn, sự am hiểu đối với chính sản phẩm, dịch vụ mà mìnhkinh doanh Còn người tiêu dùng thường chỉ tiếp nhận quảng cáo một cách thụ động.Thế nên họ có thể sẽ mua sản phẩm hoặc sử dụng dịch vụ theo hướng mà những nhàkinh doanh hướng họ theo - thông qua quảng cáo thương mại
Hơn thế nữa, việc quảng cáo thương mại lại được thực hiện với nhiều hìnhthức và quy mô khác nhau thông qua những phương tiện như: báo, tạp chí, đài phátthanh, truyền hình, internet, thư tính, di động, hội chợ, triển lãm thương mại, quảngcáo tại điểm bán hàng, quảng cáo ngoài trời hay quảng cáo trên bao bì sản phẩm.Đây là một ưu điểm để phát triển kinh tế Khi những nhà kinh doanh lợi dụng việcquảng cáo thương mại nhằm mục đích kiếm lợi mà gây ra thiệt hại cho người tiêudùng, mà pháp luật lại chưa thực sự hoàn thiện để điều chỉnh mối quan hệ giữa ngườitiêu dùng với bên còn lại, thì đây là một việc ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêudùng
Để bảo vệ người tiêu dùng nói chung, trong đó có bảo vệ người tiêu dùngtrong hoạt động quảng cáo thương mại nói riêng, từ năm 1999, Việt Nam đã banhành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, sau đó Pháp lệnh này được thay
Trang 9thế bằng Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Trong lĩnh vực quảngcáo, từ năm 1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 194/CP ngày 31 tháng 12năm 1994 quy định về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam Nghị định nàysau đó được thay thế bằng Pháp lệnh quảng cáo được ban hành năm 2001 Về sau,hoạt động quảng cáo chính thức được quy định chi tiết hơn tại Luật Quảng cáo năm2012.
Nhiều năm trôi qua, lĩnh vực quảng cáo thương mại đã phát sinh thêm nhiềuvấn đề mà pháp luật chưa điều chỉnh, hay có quy định điều chỉnh nhưng đã khôngcòn phù hợp với tình hình hiện tại Đơn cử như các quy định về trách nhiệm của chủthể là người đại diện quảng cáo thương mại; hay là những mặt hàng có tác động tiêucực đến người tiêu dùng nhưng chưa được pháp luật quy định thống nhất trong hoạtđộng quảng cáo như bia và những đồ uống có cồn khác Bên cạnh đó còn một sốvướng mắc khác mà tác giả sẽ đề cập đến ở phần sau của luận văn Có thể nói, phápluật vẫn chưa bảo vệ được trọn vẹn lợi ích cho người tiêu dùng
Với tình hình đó, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùngtrong hoạt động quảng cáo thương mại” để thực hiện Luận văn Thạc sĩ Luật họcchuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đạihọc Quốc Gia TP.HCM không chỉ với mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu; trình bàynhững ý kiến, quan điểm về vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong quảng cáo thươngmại mà còn mong muốn góp phần hoàn thiện cho cơ sở pháp lý điều chỉnh mối quan
hệ giữa người tiêu dùng và bên quảng cáo còn nhiều phức tạp hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nước ta hiện nay đang sử dụng Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
2010 và những văn bản hướng dẫn thi hành luật này để bảo vệ người tiêu dùng tránhđược những thiệt hại khi mua hàng hóa và sử dụng dịch vụ tiêu dùng Mặt khác,người tiêu dùng còn được bảo vệ bởi những quy định pháp luật trong từng lĩnh vựcliên quan cụ thể khác Vì thế nên trong quan hệ quảng cáo thương mại, người tiêudùng vừa được bảo vệ bởi những quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêudùng, vừa được bảo vệ bởi những quy định pháp luật về quảng cáo thương mại
Trang 10Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra đời năm 2010 kịp thời thay thế Pháplệnh bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 mà khi Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng năm
1999 không còn phù hợp nữa Thế nhưng đã qua thời quan 10 năm kể từ khi LuậtBảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cùng với những văn bản pháp luật khácliên quan đến bảo vệ người tiêu dùng ở lĩnh vực quảng cáo ra đời, pháp luật về bảo
vệ người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại lộ ra nhiều hạn chế, thiếusót Người tiêu dùng vẫn chưa được bảo vệ một cách trọn vẹn trước những quảng cáothương mại tác động tiêu cực đến đời sống của họ
Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêudùng trong quan hệ quảng cáo thương mại Những nghiên cứu đó được thể hiện dướinhiều hình thức như: luận văn, công trình nghiên cứu, sách hoặc bài viết Có thể kểđến:
Luận văn Thạc sĩ Luật học “Hoàn thiện pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay”, của Nguyễn Thị Như bảo vệ năm 2008 tạiTrường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh và luận văn Thạc sĩ Luật học “Phápluật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng - Thực trạng và một số kiến nghị hoànthiện pháp luật”, của Dương Thúy Diễm bảo vệ năm 2009 tại Trường Đại học Luậtthành phố Hồ Chí Minh Hai luận văn này nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi người tiêudùng nói chung nhưng không đề cập đến quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vựcquảng cáo Hơn nữa, các nghiên cứu này thực hiện đã lâu nên thiếu sự cập nhật đốivới những thay đổi nhanh chóng của hoạt động thương mại nói chung và quảng cáothương mại nói riêng đang diễn ra ở nước ta trong thời gian gần đây
Luận văn Thạc sĩ Luật học “Bảo vệ người tiêu dùng trước quảng cáo giandối”; của Lê Thị Ngọc Hân bảo vệ năm 2014 tại Trường Đại học Kinh tế -Luật, Đạihọc quốc gia TP.HCM Luận văn đề cập đến những vấn đề lý luận cũng như là quyđịnh của pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trước quảng cáo gian dối Mặc khác,tác giả tiến hành đánh giá hoạt động xử lý hành vi quảng cáo gian dối để thấy được
sự bất hợp lý trong quy định của pháp luật, từ đó có những đề xuất để hoàn thiện hơn
hệ thống pháp luật về bảo vệ người lợi người tiêu dùng trước quảng cáo gian dối
Trang 11Tuy nhiên, luận văn này chỉ nghiên cứu đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi sựgian dối của quảng cáo tác động tiêu cực đến lợi ích của họ.
Luận văn Thạc sĩ Luật học “Bảo vệ người tiêu dùng đối với hành vi quảngcáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam”, của Nguyễn BảoNgọc bảo vệ năm 2016 tại Trường Đại học Kinh tế - Luật thành phố Hồ Chí Minh.Luận văn này tìm hiểu và nghiên cứu về bảo vệ người tiêu dùng khi các nhà kinhdoanh vì cạnh tranh không lành mạnh với nhau mà đưa ra những quảng cáo ảnhhưởng xấu đến quyền lợi người tiêu dùng
Luận án Tiến sĩ Luật học “Hoàn thiện pháp luật về quảng cáo thương mại”,của Nguyễn Thị Tâm bảo vệ năm 2016 tại Học viện Khoa học xã hội đã đề cập đến
sự lỗi thời và tính không khả thi của quy định về quảng cáo thương mại Đồng thờicũng phân tích sự không hợp lý trong công tác quản lý hoạt động quảng cáo thươngmại Từ đó, đề xuất nguyên tắc chung đã được khẳng định trong các văn bản có giátrị pháp lý cao của nhà nước
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết liên quan như:
Quyển sách “Nghiên cứu người tiêu dùng - Những vấn đề về việc bảo vệquyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam” của Đoàn Văn Trường xuất bản năm 2003,nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật viết về những tâm lý, thị hiếu và nhu cầu củangười tiêu dùng ảnh hưởng đến hành vi mua sản phẩm và sử dụng dịch vụ của nhữngnhà kinh doanh Đồng thời, tác giả còn đề cập đến quyền của người tiêu dùng; vấn đềgiáo dục người tiêu dùng cũng như là kinh nghiệm bảo vệ người tiêu dùng của thếgiới và hoạt động bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam Sách cũng có nội dung liênquan đến việc bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo nhưng là một phầnrất nhỏ Đó là thực trạng quảng cáo được dán ở những nơi công cộng hoặc nhữngtấm biển quảng cáo siêu vẹo, méo mó trở thành “đống rác quảng cáo” và sự sai lệch
về giá của sản phẩm trên thực tế so với giá của sản phẩm trong quảng cáo
Quyển sách “Hỏi - đáp về luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” của nhómtác giả Trường Hồng Quang và Trần Thị Quang Hồng được xuất bản năm 2012, nhà
Trang 12xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội là sách dưới hình thức hỏi và trả lời những vấn
đề liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Trong số những câu hỏi đó, cóhai câu hỏi liên quan đến hoạt động quảng cáo Thứ nhất, đó là bảo vệ người tiêudùng đối với quảng cáo các loại hàng hóa đặt biệt mà trong sách nói đến là nhữngloại sản phẩm, dịch vụ bị cấm quảng cáo Thứ hai, vấn đề bảo vệ người tiêu dùng đốivới quảng cáo, giới thiệu mỹ phẩm thuộc về Điều 21 của Thông tư 06/2011/TT-BYT ngày 27 tháng 12 năm 2007 quy định về quản lý mỹ phẩm
Các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành Luật tại Việt Namcũng có những bài viết liên quan đến đề tài nghiên cứu, trong đó có thể kể đến như:
Bài viết “Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêudùng”, của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh đăng trên tạp chí Luật học năm 2010 số 11,
tr 3-11 viết về tổng quan hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùnghiện hành và hạn chế trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của pháp luật ViệtNam là thiếu tính cụ thể, quy định trong các văn bản còn trùng lập và mâu thuẫnnhau, chưa có sự phối và phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan có thẩm quyền,bất cập trong quy định về tổ chức, hoạt động của các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng,chưa thật sự bảo vệ trọn vẹn lợi ích của người tiêu dùng và những chế tài đối vớihành vi vi phạm chưa hợp lý
Bài viết “Thẩm quyền quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo theopháp luật một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” của tácgiả Vũ Phương Đông đăng trên tạp chí Luật học năm 2011 số 11, tr 3-8 đã tìm hiểu
và nghiên cứu về quản lý nhà nước của một số nước trên thế giới Sau đó, tác giảchia cơ quan quản lý hoạt động quảng cáo làm 3 hình thức chủ yếu: Thứ nhất, cơquan nhà nước ban hành các quy định pháp luật và chịu trách nhiệm quản lý hoạtđộng quảng cáo thương mại Thứ hai, cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động quảngcáo chịu trách nhiệm với quảng cáo mình thực hiện trước cơ quan nhà nước có thẩmquyền Và cuối cùng là cơ quan, tổ chức độc lập với cơ quan quản lý nhà nước vàbên thực hiện quảng cáo, chịu trách nhiệm kiểm duyệt và quản lý hoạt động quảngcáo
Trang 13Bài viết “Thẩm quyền quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo - Thựctrạng và hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Thị Dung đăng trên tạp chí Luật họcnăm 2011 số 12, tr 10-16 có nội dung về thực trạng những thủ tục hành chính phứctạp gây khó khăn cho việc tiến hành quảng cáo của bên quảng cáo, quản lý hoạt độngquảng cáo chưa phối hợp tốt giữa hai cơ quan Bộ Công Thương và Bộ Thông tin vàTruyền thông Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến việc nhà nước ta thực hiện việcchia cấp để quản lý hoạt động quảng cáo chưa được hiệu quả Từ đó, tác giả đề xuấthướng hoàn thiện những quy định của pháp luật để khắc phục những tình trạng trên.
Những bài viết nêu trên được viết cách đây khá lâu, cũng dần trở nên lạc hậuvới tình hình bảo vệ người tiêu dùng trong tình hình hiện nay trong hoạt động quảngcáo thương mại
Bài viết “Hoạt động quảng cáo bị cấm theo pháp luật hiện hành - bất cập vàkiến nghị hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Thị Yến đăng trên tạp chí Luật học năm
2014 số 9, tr 47-52 đề cập đến trường hợp mâu thuẫn giữa Luật Quảng cáo và LuậtThương mại khi mà hai luật này quy định không giống nhau đối với số phần trăm củanồng độ cồn trong rượu, một trong những trường hợp pháp luật quy định cấm quảngcáo Đồng thời cũng nói đến việc khó thẩm định đối với những hành vi quảng cáotrái truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục
Bài viết “Pháp luật về quảng cáo ở Việt Nam - những bất cập và kiến nghịhoàn thiện” của tác giả Phan Thị Lan Phương được đăng trên tạp chí Nghiên cứu lậppháp số 10, kỳ 2 tháng 5/2018 đã làm nổi bật lên những bất cập của pháp luật vềquảng cáo ở Việt Nam như: Quy định về quảng cáo trên truyền hình và mạng internetcòn thiếu cụ thể, quy định về các loại hàng hóa đặc biệt bị cấm quảng cáo còn mâuthuẫn, quy định về xin cấp phép xây dựng công trình quảng cáo chưa thống nhất,đồng bộ, quy định về trách nhiệm của đại diện thương hiệu quảng cáo còn bị bỏ ngỏ,quy định của văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quảng cáo năm 2012 về xác nhận nộidung quảng cáo trái với Luật
Xét một cách tổng thể, có thể thấy đã có rất nhiều nghiên cứu hoặc bài báokhoa học đã khẳng định ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi người
Trang 14tiêu dùng, tuy nhiên, những nghiên cứu về vấn đề này trong từng lĩnh vực cụ thểchưa nhiều Cụ thể là việc nghiên cứu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước nhữngquảng cáo thương mại gây thiệt hại còn ít Nhận thức được điều đó, tác giả đã tìmhiểu nhằm kế thừa những kết quả đạt được, mặt khác nghiên cứu sâu vấn đề “Bảo vệquyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại”.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của Luận văn này là hướng tới việc hoàn thiện các quy định củapháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo thương mại tại Việt Nam dưới góc nhìncủa pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụthể sau đây:
Thứ nhất, luận văn có nhiệm vụ hệ thống hóa những vấn đề lý luận về bảo vệngười tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại, trong đó, tập trung làm rõbản chất pháp lý của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt độngquảng cáo thương mại
Thứ hai, luận văn tập hợp, hệ thống hóa, phân tích và làm rõ hệ thống các quyđịnh pháp luật Việt Nam hiện nay về bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động quảngcáo thương mại
Thứ ba, luận văn nghiên cứu và đánh giá thực trạng áp dụng các quy định vềbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại, từ đó pháthiện những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật và những hạn chế bất cậptrong quá trình thực thi các quy định của pháp luật để từ đó đề xuất các hướng hoànthiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáothương mại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 154.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn các quy định của pháp luật Việt Nam vềbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại và thực tiễnthực hiện các quy định này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Quảng cáo thương mại là cầu nối giữa bên quảng cáo và người tiêu dùng,cũng như giữa các nhà kinh doanh với nhau, giúp cho các doanh nghiệp nắm đượcthế mạnh của nhau, từ đó thúc đẩy sự hợp tác liên kết, hoặc cạnh tranh trên thịtrường
Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sẽ chỉ xét đến những vấn đề liên quan đếnbên quảng cáo và người tiêu dùng, tìm hiểu hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng trong hoạt động này ở Việt Nam Như vậy, phạm vi nghiên cứuđược xác định như sau:
Về không gian: đề tài nghiên cứu các quy định và thực thi quy định về bảo vệngười tiêu dùng trong quảng cáo thương mại tại Việt Nam nói chung mà không giớihạn tại phạm vi một địa phương cụ thể nào của Việt Nam
Về thời gian: các số liệu, thông tin, tình huống được thu thập nhằm phục vụcho việc nghiên cứu đề tài này là các số liệu, thống tin, tình huống được ghi nhậnthời điểm từ khi Luật Quảng cáo có hiệu lực thi hành (năm 2012) cho đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận văn đã thựchiện những phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, gồm:
Phương pháp so sánh: phương pháp này dùng để so sánh các khái niệm trong
lý luận với những khái niệm trong quy định của pháp luật, so sánh giữa các quy địnhpháp luật trong những văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực và những vănbản quy phạm pháp luật trước đó, đồng thời tiến hành so sánh những quy định phápluật trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng cùng điều chỉnh một vấn đề Phương phápnày được sử dụng chủ yếu ở chương 1
Trang 16Phương pháp phân tích và tổng hợp: phương pháp phân tích dùng để phân tíchcác khái niệm, những vấn đề về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt độngquảng cáo thương mại trong dưới góc độ lý luận và góc độ pháp luật Từ đó, sử dụngphương pháp tổng hợp để tiến hành đánh giá, kết luận những vướng mắc ở nhữngquy định pháp luật nhằm đưa ra giải pháp hoàn thiện hơn pháp luật về bảo vệ quyềnlợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại Phương pháp này được
sử dụng ở tất cả các chương của luận văn
Phương pháp diễn giải quy nạp: phương pháp này dùng để diễn giải nhữngnội dung, trích dẫn liên quan sau đó quy nạp chúng về vấn đề mà luận văn cần làm rõtrong từng chương Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở tất cả các chương củaluận văn
Phương pháp hệ thống hóa: phương pháp này dùng để trình bày những nộidung của luận văn theo một trình tự, bố cục hợp lý từ việc kế thừa những kết quả củacác nghiên cứu trước đó và phát triển nội dung mới được xác định trong luận văn.Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của luận văn
6 Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm các phần sau: lời nói đầu, phần nội dung, phần kết luận vàdanh mục tài liệu tham khảo Trong đó, phần nội dung luận văn có kết cấu 2 chương,
Trang 17CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI 1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm quảng cáo thương mại
Quảng cáo thương mại là một công cụ cần thiết trong hoạt động kinh doanh.Quảng cáo thương mại giúp xúc tiến hoạt động bán hàng cũng như mang lại lợinhuận cho cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh doanh Đồng thời, quảng cáothương mại cũng thúc đẩy khách hàng biết thêm nhiều thông tin về sản phẩm, hànghóa, dịch vụ mà các nhà kinh doanh cung cấp Thông qua quảng cáo thương mại ,khách hàng có thể tìm được những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầucủa mình
Với chức năng đó, quảng cáo thương mại đã xuất hiện từ rất sớm cùng với sự
ra đời và phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh Qua thời gian, nó cũng đượccon người biết đến bằng nhiều định nghĩa khác nhau Chính vì lẽ đó, khái niệm vềquảng cáo thương mại đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khácnhau như:
Trong từ điển Hán Việt, quảng cáo có nghĩa là tuyên truyền, giới thiệu bằngnhiều hình thức về hàng hóa, dịch vụ hay về hãng kinh doanh những hàng hóa đónhằm hấp dẫn và thuyết phục người mua để đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa.8
Theo như giáo trình Marketing căn bản do GS.TS Trần Minh Đạo chủ biên cóđịnh nghĩa về quảng cáo như sau: “Quảng cáo là những hình thức truyền thông tinkhông trực tiếp, phi cá nhân, được thực hiện thông qua các phương tiện truyền tinphải trả tiền và các chủ thể quảng cáo phải chịu chi phí”.9
Theo Philip Kotler, chuyên gia trong ngành Marketing nói chung và ngànhquảng cáo nói riêng lại đưa ra một khái niệm khác về quảng cáo Ông định nghĩa:
“Quảng cáo là một hình thức trình bày gián tiếp và khuếch trương ý tưởng, sản phẩm
8Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa - Thông tin, trang 432.
9Trần Minh Đạo (2013), Giáo trình Marketing căn bản, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, trang 127.
Trang 18hay dịch vụ được người tài trợ trả tiền”.10
Theo hiệp hội Marketing Mỹ (AMA): “Quảng cáo là bất cứ loại hình nào của
sự hiện diện không trực tiếp của hàng hóa, dịch vụ hay tư tưởng hành động mà người
ta phải trả tiền để nhận biết người quảng cáo” 11
Như vậy, có thể hiểu quảng cáo là hình thức tuyên truyền để thực hiện việcgiới thiệu thông tin về công ty, sản phẩm, dịch vụ hay ý tưởng nào đó Quảng cáo làhoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người với người Trong đó, người muốntruyền tải thông tin phải thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng để đưathông tin đến người tiếp nhận thông tin Quảng cáo là việc các nhà kinh doanh tácđộng tới hành vi, thói quen mua hàng của khách hàng nói chung và người tiêu dùngnói riêng
Những định nghĩa trên tuy có khác nhau nhưng nhìn chung đều khẳng địnhhoạt động quảng cáo có hai yếu tố cơ bản là thông tin quảng cáo và mục đích quảngcáo Mục đích chính của việc quảng cáo là để thông báo tới mọi người về một sảnphẩm hoặc dịch vụ được cung cấp bởi nhà kinh doanh, thuyết phục họ mua sản phẩmhoặc sử dụng các dịch vụ đó Sau đó, quảng cáo còn có tác dụng thuyết phục kháchhàng mua thêm sản phẩm và tiếp tục duy trì thói quen sử dụng dịch vụ đó
Đối với một số thương nhân thì họ cần đến một lượng lớn các quảng cáo để
có thể vượt qua chướng ngại đến từ đối thủ cạnh tranh khác trong ngành Khi đó,quảng cáo sẽ tập trung thể hiện tính ưu việt của sản phẩm, dịch vụ nhằm thu hútkhách hàng đang sử dụng sản phẩm được cung cấp bởi hãng khác chuyển sang sửdụng sản phẩm của mình Ngoài ra, việc quảng cáo cũng giúp các nhà kinh doanhthiết lập cho mình một hình ảnh thương hiệu đáng nhớ - điều này sẽ đem đến sự tintưởng nhất định cho những khách hàng tiềm năng đối với chất lượng sản phẩm, hànghóa hoặc dịch vụ được cung cấp
Từ đó, quảng cáo được pháp luật định nghĩa như sau: “Quảng cáo là việc sử
10 Philip Kotler (2010), Marketing căn bản, NXB Lao động - Xã hội, trang 376.
11 Nguyễn Tường Huy, Quản trị Marketing - Chiến lược chiêu thị, xem tại:
https://www.slideshare.net/tuonghuy03/qun-tr-marketing-chin-lc-chiu-th (truy cập ngày 1/6/2019)
Trang 19dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
có mục đích sinh lợi hay sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi Tổ chức, cánhân kinh doanh dịch vụ, hàng hóa, sản phẩm được giới thiệu, trừ tin thời sự, chínhsách xã hội, thông tin cá nhân” (Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo năm 2012)
Định nghĩa trên cho thấy đối tượng của hoạt động quảng cáo là hoạt độngkinh doanh hàng hóa, dịch vụ có khả năng sinh lời hoặc không có khả năng mang lạilợi nhuận cho cá nhân, tổ chức Quảng cáo không sinh lời là những quảng cáo đượcthực hiện cho mục tiêu chính trị, văn hóa, xã hội Còn quảng cáo có mục đích sinhlời của thương nhân trong hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thì được gọi làquảng cáo thương mại
Theo Điều 102 Luật Thương mại năm 2005: Quảng cáo thương mại là hoạtđộng xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạtđộng kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình Cách định nghĩa này đã liệt kê quảngcáo thương mại vào một trong các hoạt động xúc tiến thương mại Theo đó, xúc tiếnthương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứngdịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giớithiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại (Khoản 10 Điều 3 LuậtThương mại năm 2005)
Như vậy, quảng cáo thương mại được hiểu là một hoạt động thương mạinhằm thúc đẩy việc mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ của các nhà kinh doanhbằng cách giới thiệu đến khách hàng nói chung và người tiêu dùng nói riêng về sảnphẩm của mình Song song đó, thông qua quảng cáo thương mại, người tiêu dùngcũng có cơ hội tìm kiếm những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của bản thân
Tóm lại, quảng cáo thương mại là một hoạt động giới thiệu hàng hóa, cungứng dịch vụ được thương nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận Như vậy, trongpháp luật hiện hành quảng cáo thương mại chỉ là một bộ phận của hoạt động quảngcáo nói chung Vì lẽ đó mà quảng cáo thương mại bên cạnh việc mang những đặcđiểm chung của hoạt động quảng cáo, còn mang những đặc điểm riêng biệt
Trang 201.1.2 Đặc điểm của quảng cáo thương mại
Quảng cáo thương mại thực chất là một hoạt động quảng cáo Vì vậy, quảngcáo thương mại mang những đặc điểm chung của quảng cáo như quảng cáo mangtính đơn phương, chỉ có thông tin từ phía người quảng cáo; quảng cáo không chỉdành riêng cho cá nhân đơn lẻ mà quảng cáo hướng tới toàn thể mọi người, phục vụcho mục tiêu đã định của người quảng cáo; quảng cáo phải thông qua phương tiệntrung gian để truyền tải thông tin đến người tiếp nhận quảng cáo
Tuy vậy, khác với quảng cáo nói chung và các hoạt động xúc tiến thương mạikhác thì quảng cáo thương mại có các đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, về chủ thể: chủ thể của hoạt động quảng cáo thương mại là thương
nhân Với bản chất là một hoạt động thương mại do thương nhân thực hiện, quảngcáo thương mại khác biệt với quảng cáo nói chung, mặc dù chúng đều có chung đặcđiểm đều là một quá trình thông tin
Với tư cách là người kinh doanh, thương nhân thực hiện quảng cáo thươngmại để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của mình hoặc thực hiện dịch vụ quảng cáocho thương nhân khác theo hợp đồng để tìm kiếm lợi nhuận Đây là đặc điểm khácbiệt của quảng cáo thương mại với các quảng cáo phi lợi nhuận khác như: cổ động,tuyên truyền về đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhànước,
Thứ hai, về tổ chức thực hiện: do quảng cáo thương mại có tác động rất lớn
đến hoạt động buôn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nên thương nhân sử dụng quảngcáo thương mại để quảng bá hàng hóa, dịch vụ của mình Thương nhân có thể tựmình thực hiện các công việc cần thiết để quảng cáo thương mại Trong trường hợp
tự mình không có đủ điều kiện để quảng cáo hoặc quảng cáo không đạt hiệu quảmong muốn, thương nhân có quyền thuê thương nhân khác thực hiện việc quảng cáocho mình thông qua hợp đồng và phải trả chi phí cho việc đó
Thứ ba, về mục đích của quảng cáo thương mại: mục đích của quảng cáo
thương mại là giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ nhằm xúc tiến thương mại, đáp ứng
Trang 21mục tiêu lợi nhuận và nhu cầu cạnh tranh của thương nhân Thông qua các hình thứctruyền đạt thông tin, thương nhân giới thiệu về các loại hàng hóa, dịch vụ mới, tính
ưu việt về chất lượng, giá cả, khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng của người tiêudung
Như vậy, thương nhân thông qua quảng cáo thương mại có thể tạo cho ngườitiêu dùng có thêm kiến thức về hàng hóa, dịch vụ Người tiêu dùng dễ dàng so sánhcác sản phẩm cùng loại của từng nhà kinh doanh khác nhau thông qua thông tin màquảng cáo thương mại mang lại Quảng cáo thương mại làm người tiêu dùng bị thuhút bởi hàng hóa, dịch vụ từ việc nhấn mạnh đặc điểm, lợi ích cho đến tính ưu việtcủa sản phẩm Có thể nói đây là những lợi thế mà thương nhân có thể khai thác vì nó
có vai trò rất lớn trong việc định hướng nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội
1.1.3 Vai trò của quảng cáo thương mại
Thứ nhất, vai trò của quảng cáo thương mại đối với thương nhân:
Nhờ có quảng cáo thương mại, các thương nhân có thể đưa sản phẩm củamình đến với người tiêu dùng nhằm tăng sức mua tiêu dùng của người tiêu dùng;đồng thời mở rộng thị phần của mình trên thị trường Bên cạnh đó, bằng việc nângcao tần suất và mật độ quảng cáo cho sản phẩm của mình, thương nhân còn nâng caogiá trị thương hiệu của doanh nghiệp bằng cách tạo ra sự hiện diện thương hiệuthường xuyên nhằm khắc sâu dấu ấn thương hiệu trong tâm trí khách hàng nói chung
và người tiêu dùng nói riêng
Ngoài ra, quảng cáo thương mại còn góp phần hỗ trợ cho việc bán hàng củathương nhân, giảm được một lượng lớn chi phí phải bỏ ra trong việc phân phối sảnphẩm vì khách hàng sẽ tự tìm đến mua sản phẩm của thương nhân Nếu các thươngnhân làm tốt công việc truyền tải thông tin về sản phẩm, gây được ấn tượng tốt chongười tiêu dùng về sản phẩm của mình thì có thể khai thác được thị trường đó mộtcách hiệu quả nhất Quảng cáo thương mại tốt cũng giúp duy trì thương hiệu củathương nhân trong mắt người tiêu dùng, nó đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệhình ảnh của thương nhân trước sự cạnh tranh từ các thương nhân khác
Trang 22Thứ hai, vai trò của quảng cáo thương mại đối với người tiêu dùng:
Hoạt động quảng cáo thương mại mang đến cho người tiêu dùng sự lựa chọn
về hàng hóa, dịch vụ thông qua việc tiếp cận với các thông tin cần thiết về sản phẩmnhư thương hiệu, giá cả, địa điểm mua bán sản phẩm, chất lượng, độ an toàn, Quảng cáo thương mại một cách đúng đắn đã góp phần định hướng cho người tiêudùng mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ sao cho phù hợp với nhu cầu của bản thân
Thứ ba, vai trò của quảng cáo thương mại đối với xã hội:
Hoạt động quảng cáo phát triển mạnh dẫn đến việc hình thành ngành nghềquảng cáo Chính ngành nghề này sẽ thu hút được một lượng lớn lao động góp phầntạo ra thu nhập cho các thương nhân hoạt động trong ngành quảng cáo nói chung vàngười lao động hoạt động trong lĩnh vực này nói riêng, dẫn đến việc đóng thuế theoquy định, tăng nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước
Quảng cáo thương mại là phương tiện truyền tải thông tin chủ yếu về hànghóa, dịch vụ đến với người tiêu dùng Chính vì thế, nguồn thông tin được đưa tớingười tiêu dùng thông qua quảng cáo sẽ kích thích họ có nhu cầu mua sản phẩm,dịch vụ Qua đó, thương nhân sẽ bán được nhiều hàng hóa hơn, có thêm vốn để mởrộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hình thành nên một nền kinh
tế thị trường với nhiều loại sản phẩm, dịch vụ hơn, chất lượng hơn Thực hiện quảngcáo thương mại một cách đúng đắn cũng góp phần tạo nên một môi trường cạnhtranh lành mạnh giữa các nhà kinh doanh với nhau cũng như là bảo vệ được quyềnlợi của người tiêu dùng, góp phần tạo nên sự bình ổn trong xã hội
1.2 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TIÊU DÙNG
“Người tiêu dùng” là một khái niệm đã tồn tại khá lâu trên thế giới Theopháp luật Việt Nam, Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì
“người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng,
sinh hoạt của các nhân, gia đình, tổ chức” Như vậy, theo quy định này, người tiêu
dùng không chỉ bao gồm các đối tượng là các cá nhân mà còn có tổ chức thực hiệnviệc mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, không nhằm mục đích
Trang 23thương mại là để bán lại hoặc mục đích sinh lời.
Ngoài ra, người tiêu dùng có thể là người mua và sử dụng, cũng có thể làngười chỉ mua hoặc chỉ sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhưng phải thỏa mãn điều kiện lànhằm mục đích tiêu dùng chú không phải phục vụ cho sản xuất hay trao đổi mua bán
vì mục tiêu lợi nhuận
Thông thường hai khái niệm người tiêu dùng và khái niệm khách hàng rất dễ
bị nhầm lẫn Tuy nhiên, thông qua khái niệm về người tiêu dùng được cụ thể hóa ởtrên, ta có thể dễ dàng phân biệt hai khái niệm này Trong khi người tiêu dùng muahàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng, sử dụng sản phẩm nhằm thỏa mãn nhucầu của bản thân thì khách hàng là người mua hàng hóa, dịch vụ có thể cho mục đích
cá nhân hoặc mua sản phẩm đầu tư, phục vụ cho sản xuất kinh doanh Từ đó ta cóthể thấy khái niệm người tiêu dùng có phạm vi đối tượng hẹp hơn
Người tiêu dùng luôn ở vị thế yếu hơn ở khía cạnh tiếp cận các thông tin vềhàng hóa, dịch vụ mà họ muốn mua và sử dụng Họ yếu thế hơn trong mối quan hệvới thương nhân khi tiếp cận, xử lý và hiểu các thông tin về hàng hóa, dịch vụ; yếuthế hơn về khả năng chịu rủi ro trong quá trình tiêu dùng sản phẩm Bởi vì người tiêudùng phần lớn mua hàng hóa, dịch vụ đều phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngàycủa mình, nên chỉ khi nào họ có dự định mua hàng hóa hoặc dịch vụ, họ mới thực sựtìm hiểu các thông tin về hàng hóa, dịch vụ đó
Tuy nhiên, điều khó khăn đối với họ là các thông tin về hàng hóa, dịch vụkhông phải lúc nào cũng sẵn có, đầy đủ, chính xác và người tiêu dùng cũng không cókhả năng chuyên môn để đánh giá tính đúng đắn của những thông tin trong quảngcáo thương mại Mặc khác, quảng cáo thương mại cũng gián tiếp tác động đến hành
vi thói quen của người tiêu dùng thông qua những ảnh hưởng về mặt tâm lý Chính
vì sự yếu thế này mà người tiêu dùng mới cần được bảo vệ để đảm bảo một sự cânbằng quyền lợi trong mối quan hệ với thương nhân
Trang 241.3 SỰ CẦN THIẾT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng, mangtính quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp Nếu như sản phẩm làm
ra mà không có người tiêu thụ sẽ dẫn đến tình trạng thừa sản phẩm và các doanhnghiệp nếu không bán được sản phẩm sẽ không có lợi nhuận để tồn tại Để thúc đẩyngười tiêu dùng tiêu thụ sản phẩm, các nhà sản xuất kinh doanh tiến hành thực hiệnnhiều hoạt động, trong đó có hoạt động quảng cáo thương mại
Từ đó, quảng cáo thương mại trở thành một trong những phương tiện khôngthể thiếu của các nhà làm kinh doanh Thế giới quảng cáo ngày nay không còn bóhẹp trong các hình thức truyền thống mà đã tận dụng mọi phương tiện truyền thông
để quảng bá cho sản phẩm Điều này cũng cho thấy, trong đời sống thường nhật,người tiêu dùng đã bị bao vây bởi các sản phẩm quảng cáo thương mại
Thứ nhất, người tiêu dùng là lực lượng đông đảo trong xã hội, nhưng lại yếu thế hơn so với các thương nhân khi tham gia quảng cáo thương mại nên cần bảo vệ người tiêu dùng để cân bằng lại mối quan hệ này.
Bản thân người tiêu dùng nói chung thường không có đủ kiến thức chuyênmôn cũng như điều kiện cần thiết để có thể nhận biết được hàng hóa, dịch vụ đượcquảng cáo có thực sự tốt như những thông tin trong quảng cáo đưa ra hay không.Chính vì lý do đó, nhiều thương nhân lợi dụng quảng cáo thương mại tác động đếnngười tiêu dùng cả về tâm lý, chất lượng sản phẩm, thị hiếu và tác động đến hành vitiêu dùng trong cuộc sống
Bởi lẽ đó, pháp luật có những quy định buộc người thương nhân phải quantâm đến quyền lợi của người tiêu dùng, không vì sự yếu thế của người tiêu dùng màtrục lợi, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, giúp nâng cao vị thế của người tiêu dùnghơn trong mối quan hệ với thương nhân
Thứ hai, người tiêu dùng cũng cần được bảo vệ để tránh khỏi những thiệt hại
do quảng cáo thương mại gây ra.
Trang 25Thông qua những quảng cáo mà các nhà doanh nghiệp đưa ra, người tiêudùng thường mắc phải những sai lầm trong việc lựa chọn hàng tiêu dùng và có nguy
cơ sử dụng hàng hóa dịch vụ thiếu độ tin cậy, quan trọng nhất thiếu độ an toàn.Người tiêu dùng luôn ở vào vị trí bất lợi về thông tin sản phẩm, họ lại chưa nhậnthức đúng đắn về quyền lợi của mình nên thường chịu nhiều thua thiệt
Việc kinh doanh những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thiếu tin cậy, an toànthường mang lại lợi nhuận cao với chi phí sản xuất thấp Điều này đem đến lợi íchcao cho các nhà kinh doanh nhưng lại gây tổn hại đến quyền lợi của người tiêu dùng,
có thể ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống, sức khỏe hay tính mạng của ngườitiêu dùng nên pháp luật cần phải bảo vệ quyền lợi cho họ bắt đầu từ việc đảm bảothông tin rõ ràng, chính xác trong quảng cáo thương mại
Thứ ba, việc quy định thương nhân có trách nhiệm với quảng cáo thương mại của mình góp phần hướng đến một xã hội tốt đẹp mang tính nhân văn.
Xét về mặt tích cực, thông tin trong quảng cáo thương mại sẽ tác động đếnngười tiêu dùng Tùy từng lứa tuổi, giới tính, sở thích, nhu cầu, người tiêu dùng dễdàng tìm thấy cho mình loại sản phẩm phù hợp nhất Thông tin mà quảng cáo thươngmại mang lại, tạo ra nhiều sự lựa chọn cho người tiêu dùng Từ đó, quảng cáo thươngmại cũng một phần thúc đẩy tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, nhằm tạo ra sảnphẩm, dịch vụ ngày càng tốt hơn để thu hút người tiêu dùng Chất lượng, mẫu mãcủa sản phẩm ngày càng được quan tâm và khi đó, khách hàng là đối tượng đượchưởng những lợi ích từ sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
Đặc biệt, đối với những quảng cáo thương mại có nội dung lành mạnh, phùhợp văn hóa thuần phong mỹ tục, vai trò của quảng cáo thương mại lúc này khôngchỉ dừng lại ở việc xây dựng thương hiệu, mà còn góp phần nâng cao nhận thức, hiểubiết văn hóa xã hội, hướng họ đến những ứng xử xã hội tích cực như bảo vệ môitrường, sử dụng năng lượng tiết kiệm
Tuy nhiên, để gây ấn tượng với người tiêu dùng, các nhà kinh doanh thựchiện hoạt động quảng cáo không ngần ngại sử dụng mọi ý tưởng, mọi cách thức
Trang 26truyền tải đến người tiêu dùng Vì vậy mà tác động tiêu cực của quảng cáo đến ngườitiêu dùng lại được quan tâm nhiều hơn Để người tiêu dùng chú ý và ghi nhớ nộidung quảng cáo, các nhà kinh doanh không màng vi phạm để tạo ra những quảng cáothương mại gây bất lợi cho người tiêu dùng.
Đơn cử như các quảng cáo thương mại với thông tin sai lệch, gây nhầm lẫnhay lừa dối khiến người tiêu dùng bị mắc lừa và việc sử dụng những sản phẩm giảnguy hiểm như thuốc, thực phẩm, mỹ phẩm còn gây nguy hại đến sức khỏe, tínhmạng của người tiêu dùng Bên cạnh đó, còn có các quảng cáo thương mại tác độngmạnh đến tâm lý hành vi ứng xử của người tiêu dùng, dẫn đến những hành vi ứng xửsai lệch, nhất là giới trẻ hiện nay Điều này tạo ra một xã hội bất ổn với những cánhân có tâm lý không lành mạnh, những tranh chấp có thể nổ ra,
Những tác động của quảng cáo đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải bảo vệ ngườitiêu dùng bằng mọi biện pháp, mà trước hết là bằng pháp luật Pháp luật Việt Namcũng đã hình thành cho mình một hệ thống pháp lý về bảo vệ quyền lợi người tiêudùng trong hoạt động quảng cáo thương mại, và hệ thống này đang ngày càng đượchoàn thiện hơn
1.4 SỰ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI.
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại làthật sự cần thiết như đã phân tích trên đây Chính vì thế, để bảo vệ hiệu quả quyềnlợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại thì sự hình thành phápluật liên quan đến lĩnh vực này là điều tất yếu Tại Việt Nam, đã có lịch sử hìnhthành và phát triển pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáothương mại Có thể phân chia sự hình thành và phát triển của lĩnh vực pháp luật nàyqua những giai đoạn cụ thể sau:
Giai đoạn trước năm 1986:
Trong giai đoạn này, ở Việt Nam hầu như không có một văn bản pháp lý nàoliên quan đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại
Trang 27Điều này xuất phát từ việc sau nhiều năm chiến tranh kéo dài, đất nước bị tàn phánặng nề, Việt Nam đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn do hậu quả chiến tranh đểlại Một phần nguyên nhân khác xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, nóng vội và duy
ý chí muốn xây dựng đất nước nhanh chóng mà không tính đến những điều kiện cụthể Từ đó, vấn đề về bảo vệ người tiêu dùng trong chưa được chú trọng, pháp luật vềbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại cũng chưađược xây dựng
Giai đoạn từ năm 1986 đến trước năm 1999:
Các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở thời kỳ này nằm rải ráctrong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự năm 1995, Nghị định số57/CP ngày 31/5/1997 của Chính Phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hóa Và cũng trong giai đoạn này, lầnđầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định vấn
đề bảo vệ người tiêu dùng Theo đó, Điều 28 của Hiến pháp 1992 quy định “Nhànước có chính sách bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và quyền lợi của người tiêudùng” Như vậy, quyền lợi của người tiêu dùng phải được đảm bảo trong mọi lĩnhvực, trong đó bao gồm cả lĩnh vực quảng cáo thương mại
Bên cạnh đó, tại Việt Nam trong khoản thời gian này hoạt động quảng cáođược điều chỉnh thông qua Luật Thương mại 1997 và các văn bản dưới luật nhưNghị định 194/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ về hoạt động quảng cáo trên lãnhthổ Việt Nam; Nghị định 32/1999/NĐ-CP ngày 05/5/1999 của Chính phủ về khuyếnmại, quảng cáo thương mại và hội chợ, triển lãm thương mại; Thông tư 85/1999/ TT-BVNTT ngày 19/6/1999 của Bộ Văn hóa - Thông tin hướng dẫn thực hiện một sốđiểm về hoạt động quảng cáo quy định tại Nghị định 194/CP ngày 31/12/1994, Nghịđịnh 87/CP ngày 12/12/1995 và Nghị định 32/1999/NĐ-CP quảng cáo hoàn toànđược xem là hành vi thương mại
Trong Luật Thương mại năm 1997 và những văn bản liên quan kể trên đã chú
ý bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo nói chung vàquảng cáo thương mại nói riêng Luật pháp quy định thương nhân không được
Trang 28“Quảng cáo dối trá”, không được làm ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng.Nếu quyền lợi của người tiêu dùng bị xâm phạm, người tiêu dùng có quyền thành lập
tổ chức để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hay có quyền khiếu nại thương nhânđến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện thương nhân tại Toà án theoquy định
Giai đoạn từ năm 1999 đến trước năm 2010:
Sau nhiều lần biên soạn và lấy ý kiến, vào ngày 27/4/1999, Pháp lệnh Bảo vệquyền lợi người tiêu dùng ra đời đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 1992 vềvấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Sự ra đời của văn bản pháp luật này mang
ý nghĩa rất quan trọng bởi lẽ nó là văn bản pháp lý mang tính tổng hợp đầu tiên, quyđịnh đầy đủ quyền và trách nhiệm của các ngành, các cấp chính quyền; trách nhiệmcủa các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đối với quyền lợi người tiêu dùng và tráchnhiệm của người tiêu dùng Trong hoạt động quảng cáo thương mại, Pháp lệnh Bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng yêu cầu thương nhân phải quảng cáo chính xác, trungthực, nghiêm cấm quảng cáo sai sự thật
Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001 được Quốc hội xây dựng và ban hành là vănbản pháp lý đầu tiên đưa ra các khái niệm, nội dung chặt chẽ, cụ thể hơn trong lĩnhvực quảng cáo, đồng thời cũng thể hiện việc nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thông qua các quy định về nộidung, hình thức, các hành vi quảng cáo bị cấm,
Ngoài ra một số văn bản khác liên quan đến quảng cáo cũng được ban hànhnhằm củng cố hoàn thiện các chế định về quảng cáo trong hệ thống quyền lợi nhưNghị định 24/2003/NĐ-CP ngày 13/3/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hànhPháp lệnh Quảng cáo; Thông tư 43/2003/TT-BVNTT ngày 16/7/2003 của Bộ Vănhóa - Thông tin hướng dẫn thi hành Nghị định 24/2003/NĐ-CP; Thông tư79/2005/TT-BVNTT về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư43/2003/TT-BVNTT Việc củng cố các quy định về quảng cáo cũng góp phần củng
cố thêm những cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạtđộng này
Trang 29Đến năm 2005, Luật Thương mại mới được ban hành thay thế Luật Thươngmại năm 1997 tiếp tục quy định những điều khoản liên quan đến bảo vệ người tiêudùng trong hoạt động quảng cáo thương mại Đặc biệt Luật Cạnh tranh ra đời năm
2004 cũng đề cập đến quy định về hoạt động quảng cáo dưới dạng hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh
Mà các thương nhân trong quá trình thực hiện quảng cáo để cạnh tranh khôngđược gây thiệt hại đến người tiêu dùng Tuy đã có những quy định để bảo vệ quyềnlợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại, nhưng vẫn còn nhiềuthiếu sót Hoạt động quảng cáo chỉ được đề cập duy nhất tại Điều 45 của Luật màkhông có bất kì hướng dẫn cụ thể nào sau đó Vì vậy mà việc áp dụng pháp luật gặpkhó khăn
Giai đoạn từ năm 2010 đến nay:
Trong bối cảnh phát triển kinh tế ngày càng sâu và rộng, Pháp lệnh Bảo vệquyền lợi người tiêu dùng dần trở nên thiếu sót, bất cập, không còn bảo đảm việc bảo
vệ quyền lợi của người tiêu dùng Chính vì vậy, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêudùng số 59/2010/QH12 ngày 17/11/2010 được ban hành Luật này bổ sung nhiều quyđịnh quan trọng đối với lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt độngquảng cáo thương mại với nhiều quy định hơn, chi tiết hơn
Đến năm 2012, trải qua hơn 10 năm, Pháp lệnh Quảng cáo được thay thế bằngLuật Quảng cáo để phù hợp hơn với tình hình thực tiễn Luật Quảng cáo quy định cụthể và chi tiết hơn về trách nhiệm của các thương nhân, quyền của người tiếp nhậnquảng cáo nói chung và người tiêu dùng nói riêng, nội dung quảng cáo và hành vi bịcấm,
Từ đó, văn bản này góp phần làm vững chắc thêm nền tảng bảo vệ người tiêudùng được trong hoạt động quảng cáo thương mại Những điểm mới trong LuậtQuảng cáo 2012 phần nào khắc phục được những bất cập của văn bản luật trước đó
Theo đó, những văn bản hướng dẫn Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vàLuật Quảng cáo, Luật Thương mại cùng với những văn bản pháp luật khác có liên
Trang 30quan như Luật Phòng chống tác hại của rượu bia, Luật An toàn vệ sinh thực phẩm,Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tạo thành một khung pháp lý với các quyđịnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại.
Qua quá trình hình thành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tronghoạt động quảng cáo thương mại, có thể thấy quyền lợi của người tiêu dùng ngàycàng được bảo vệ một cách trọn vẹn
1.5 CƠ CHẾ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI KHI CÓ TRANH CHẤP
Khi quảng cáo thương mại vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến lợi ích củangười tiêu dùng thì người tiêu dùng có thể lựa chọn hai phương thức là phương thứcgiải quyết tiền tố tụng bao gồm hòa giải, thương lượng; hay phương thức giải quyếtthông qua tố tụng bao gồm trọng tài, tòa án
Phương thức giải quyết tranh chấp tiền tố tụng: Thương lượng hoặc hòa giải.
Phương thức được áp dụng phổ biến do các nhà kinh doanh lẫn người tiêudùng đều không muốn dựa vào tài phán (Tòa án hay trung tâm trọng tài) để phân xửcác tranh chấp ngay từ ban đầu Khi tranh chấp phát sinh, các bên muốn tự mìnhthương lượng hoặc thông qua người thứ ba làm đại diện để hòa giải đối với tranhchấp theo cách hữu nghị, hòa bình nhất
Các phương pháp này được tiến hành dựa trên cơ sở là ý chí tự nguyện củacác bên đương sự Không ai có thể hiểu rõ mọi tình tiết, nguyên nhân tranh chấpbằng chính các bên tranh chấp, do vậy họ được quyền tự do lựa chọn cách giải quyếthợp tình, hợp lý, phù hợp nhất bản thân họ Vì lý do này, các phương pháp thươnglượng, hòa giải trực tiếp có khả năng giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng
Tuy vậy, phương pháp này cũng bộc lộ một số nhược điểm như chỉ nên được
áp dụng và có thể mang lại kết quả tốt khi các bên tranh chấp có thái độ hợp tác, tôntrọng lẫn nhau để cùng nhanh chóng giải quyết tranh chấp Nếu một bên thiếu nhiệttình, không có thiện chí thì việc vận dụng phương pháp này sẽ tốn thời gian vô ích.Vai trò của người trung gian trong hòa giải chỉ dừng lại ở vai trò của người góp ý
Trang 31kiến, không có thẩm quyền ra quyết định phân xử Nhược điểm lớn nhất của cácphương pháp này là phương án giải quyết tranh chấp được các bên nhất trí không cógiá trị ràng buộc các bên và không được pháp luật cưỡng chế thi hành.
Trong trường hợp đối với các tranh chấp mà các bên không thể dung hòa vềlợi ích cũng như và phương pháp giải quyết tranh chấp, các chủ thể có liên quan(người tiêu dùng và doanh nghiệp) mới tìm đến các phương pháp giải quyết tranhchấp có khả năng mang lại kết quả phân xử có hiệu lực pháp lý, ràng buộc các bênthi hành như Tòa án hoặc trọng tài Phương thức này đồng thời cũng giúp các bên lựachọn được bên thứ ba đáp ứng được yêu cầu trình độ chuyên môn về cơ sở pháp lý
Phương thức giải quyết tranh chấp tố tụng: Tòa án hoặc trọng tài.
Đối tượng bị xâm hại bởi hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ người tiêudùng trong hoạt động quảng cáo thương mại là người tiêu dùng có thể lựa chọnphương thức giải quyết tranh chấp tố tụng Tại Việt Nam, doanh nghiệp có hành vipháp luật về quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng có thể bịkhởi kiện tại Tòa án theo thủ tục bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do những tácđộng xấu của quảng cáo thương mại đối với người tiêu dùng
Do yêu cầu bồi thường thiệt hại là một quyền được pháp luật thừa nhận nhằmbảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể, trong đó có người tiêu dùng, trách nhiệmbồi thường thiệt hại có thể được áp dụng đồng thời với các chế tài khác Hiệu lực thihành của phán quyết Tòa án hoặc phán quyết trọng tài là ưu điểm nổi bật của phươngthức này so với phương thức giải quyết tranh chấp tiền tố tụng
Phương thức giải quyết thông qua tố tụng đòi hỏi các bên phải có cơ sở pháp
lý và chứng cứ rõ ràng để tự bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình Chínhđiều này khiến cho thủ tục tố tụng trở nên phức tạp, đòi hỏi mất nhiều thời gian vàchi phí Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa bên quảng cáo và người tiêu dùng, vì vịthế của người tiêu dùng yếu hơn, nên pháp luật yêu cầu người tiêu dùng không cónghĩa vụ chứng minh khi khởi kiện
Tính chung thẩm trong phán quyết trọng tài hay phán quyết của Tòa án là cơ
Trang 32sở pháp lý rõ ràng để thực hiện thi hành án, buộc một trong các bên phải thực hiệnnghĩa vụ theo quy định pháp luật Mặc dù được coi là giải pháp cuối cùng được cácbên hướng tới khi phát sinh tranh chấp, tuy nhiên thông thường hệ quả lựa chọnphương thức giải quyết tranh chấp này dễ thấy khi một trong các bên không đạt được
sự chia sẻ về lợi ích, quan hệ giữa các bên đương sự không thể duy trì và đổ vỡ saukhi kết thúc quá trình tố tụng
Ngoài ra, chi phí cao và thời gian là một trong những hạn chế của phươngthức này, đặc biệt trong tranh chấp nhỏ, với giá trị thấp hoặc một trong các bên cókhó khăn về tài chính.12
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Với tư cách là hoạt động xúc tiến thương mại, quảng cáo thương mại đượcxem là công cụ hữu hiệu thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của người tiêudùng Tuy nhiên, nếu hoạt động quảng cáo thương mại không được quản lý tốt sẽgây ảnh hưởng khách hàng nói chung và đến người tiêu dùng nói riêng Đây đốitượng trực tiếp chịu sự ảnh hưởng của quảng cáo thương mại
Bởi vì người tiêu dùng là thế yếu trong mối quan hệ với các nhà kinh doanhnên quyền lợi người tiêu dùng phải được đảm bảo Cùng với việc nghiên cứu cơ sở
lý luận về quản lý hoạt động quảng cáo thương mại, luận văn đã khái quát khái niệmquảng cáo thương mại, cũng như là đặc điểm và vai trò của quảng cáo thương mại.Thông qua đó, luận văn thể hiện rõ quyền lợi của người tiêu dùng bị ảnh hưởng từquảng cáo thương mại Từ đó đặt ra vấn đề cần bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùngtrong hoạt động quảng cáo thương mại
Nhận ra được sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nhà nước ta
đã từng bước xây dựng và hoạt thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại trong từng thời kỳ khác nhau
12 Nguyễn Ngọc Mỹ Linh (2018), Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo
thương mại tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường đại học Kinh tế - Luật.
Trang 33CHƯƠNG 2:
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
- THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ.
2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CHỦ THỂ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG QUÁ TRÌNH QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
Với tư cách là người kinh doanh, thương nhân có thể tự thực hiện quảng cáo
để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của mình hoặc sử dụng các dịch vụ quảng cáo docác thương nhân khác cung cấp.13 Hoạt động quảng cáo thương mại là hoạt độngnhằm xúc tiến quá trình tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ; nên quảng cáo thương mạihướng đến các đối tượng là khách hàng nói chung và người tiêu dùng nói riêng Đểtạo nên một quảng cáo thương mại thì có thể chỉ do một chủ thể thực hiện, cũng cóthể do sự phối hợp của nhiều chủ thể khác nhau
Theo quy định trong Luật Quảng cáo, các chủ thể tham gia vào hình thànhnên quảng cáo thương mại bao gồm:
+ Người quảng cáo;
+ Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo;
+ Người phát hành quảng cáo;
+ Người cho thuê địa điểm, phương tiện quảng cáo
Thông qua quảng cáo thương mại, người tiêu dùng tiếp nhận thông tin từ nó,nếu hàng hóa, dịch vụ đó phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng thì họ lựa chọnmua hàng hóa, dịch vụ của các thương nhân Từ đó, có một chủ thể nữa tham gia vào
quá trình quảng cáo thương mại đó là người tiếp nhận quảng cáo.
2.1.1 Trách nhiệm của thương nhân
Thương nhân tham gia vào quá trình quảng cáo thương mại gồm: ngườiquảng cáo; người kinh doanh dịch vụ quảng cáo; người phát hành quảng cáo; người
13 Nguyễn Viết Tý (2006), Giáo trình Luật Thương mại Tập II, NXB Công an nhân dân, trang 153