1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm của kịch thơ trong phong trào thơ mới

127 1,1K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Của Kịch Thơ Trong Phong Trào Thơ Mới
Tác giả Hoàng Thị Ngọc Hà
Người hướng dẫn Ts. Lê Thị Hồ Quang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 605,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

-Hoàng thị ngọc hà

đặc điểm của kịch thơ

Trong phong trào thơ mới

Chuyên ngành: văn học Việt Nam Mã số: 60.22.34

Trang 2

hết, chúng tôi mong muốn đem đến một cách nhìn mới, toàn diện hơn về đặcđiểm của bộ phận văn học này, đồng thời qua đó để góp thêm một tiếng nóikhẳng định về giá trị phong phú, nhiều mặt của phong trào Thơ mới trong lịch

sử văn học dân tộc

1.2 Thơ mới đã được nhiều nhà nghiên cứu phê bình, bạn đọc khámphá bằng nhiều chuyên luận, luận án, bài viết… Kịch thơ trong phong tràoThơ mới cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm Nhưng nhìn chung, nhữngkhảo sát đó chỉ dừng lại ở phương diện hẹp, trong phạm vi tác giả, tác phẩm

cụ thể Do vậy chúng tôi thấy cần phải có cách nhìn nhận, đánh giá một cáchtoàn diện hơn về bộ phận kịch thơ này

1.3 Thơ mới cũng là một bộ phận văn học được quan tâm nhiều trongnhà trường phổ thông, nên chúng ta cần nhìn nhận, khảo sát nó ở nhiều góc

độ Vì vậy tìm hiểu kịch thơ trong phong trào Thơ mới, chúng ta sẽ nhìn nhậnThơ mới toàn diện hơn, điều này giúp cho việc giảng dạy Thơ mới trong nhàtrường phổ thông có hiệu quả tốt hơn Với những lí do cơ bản trên, chúng tôitìm đến đề tài nghiên cứu này

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Về bộ phận kịch thơ trong phong trào Thơ mới

Từ khi ra đời cùng với phong trào Thơ mới từ 1932 - 1945 đến nay,chưa có một công trình, một bài viết nào nghiên cứu về kịch thơ giai đoạn nàynhư một đối tượng độc lập Có một số ý kiến quan tâm đến kịch thơ như mộtthể loại của văn học Việt Nam trong các công trình nghiên cứu về Thơ mới vàmột số bài viết về thể loại kịch thơ xuất hiện trên các trang web liên mạng

Trước 1945, Lê Thanh, nhà báo, nhà phê bình văn học đã nhận xét: “Đểlàm sống lại cái tinh thần dân tộc trong lúc này không có phương pháp giáohoá quần chúng nào mạnh bằng việc đem diễn những vở kịch chứa đựngnhững lời thơ hùng hồn Kịch thơ chính có thể giúp ta mục đích ấy” (dẫn theo[30, 731- 732]) Ở đây, ông đã nhấn mạnh hoàn cảnh tất yếu ra đời của thểloại kịch thơ mang đề tài lịch sử

Trang 3

Hoàng Thiếu Sơn thì nhận xét: “Kịch khó đọc hơn tiểu thuyết, cho nênngười mình ít đọc Vả lại, một vở kịch soạn ra là để diễn chứ không phải đểđọc mà còn hiếm nhân tài thì thể văn kịch thế nào cũng tiến chậm hơn thể vănkhác”[38, 435] Ông còn cho rằng: “Các nhà soạn kịch Việt Nam đã khéodung hoà hai nguồn cảm hứng Hoa, Chiêm cùng theo tinh thần Việt Nam, củalối văn hát tuồng Việt Nam đặc biệt”[38, 436] Những ý kiến này, ông nóichung cho thể loại kịch ra đời ở giai đoạn này, nhưng cũng đúng với kịch thơtrong phong trào Thơ mới

Trần Đình Hượu trong bài viết về Cái mới của Thơ mới từ xung khắc đến hoà giải với truyền thống, đã khẳng định: “Thơ mới đã đưa được cái mới

vào thơ ca dân tộc hơn thế nó đã đưa thơ liên kết với kịch, tiểu thuyết, táchkhỏi thơ văn phú lục, tức hoàn chỉnh bộ mặt văn học hiện đại”[6, 67] Ông đãnhận ra rằng văn học hiện đại Việt Nam đã có hiện tượng cộng sinh thể loạigiữa kịch và thơ, giữa thơ và tiểu thuyết

Nguyễn Huệ Chi trong Từ điển văn học bộ mới khi nói về kịch thơ

1932- 1945 đã nhận định: “Phong trào Thơ mới ghi được những thành tựu rực

rỡ và đang phát triển thành cao trào, nhất là khi đời sống thành thị, nhu cầu

ngâm thơ diễn tấu rộ lên khắp nơi, kịch thơ đầu tiên xuất hiện là Anh Nga (1934), Tiếng địch sông Ô (1935)”[22, 742] Ông cho rằng kịch thơ giai đoạn

này có hai thế hệ mở đầu gồm Huy Thông, Phan Khắc Khoan với tính chấtthể nghiệm đã lựa chọn cho kịch thơ một thể thơ phù hợp là thơ tám chữ Thế

hệ thứ hai của kịch thơ trong phong trào Thơ mới là Thế Lữ, Vũ HoàngChương, Nguyễn Bính, Yến Lan, Thao Thao, Lưu Quang Thuận, HoàngCầm…Ông nhận thấy rằng: “Nhìn vào thời gian có vẻ như kịch thơ ở ViệtNam là một “trào lưu ngược” với quy luật kịch thơ thế giới - nó xuất hiện saukhi kịch nói đã xuất hiện, kỳ thực đây là bước đệm trong tiến trình lâu dài hợpvới quy luật, kịch thơ đã lấp vào cái khoảng trống mà người nghệ sỹ cảm thấythiếu, việc trình diễn giọng ngâm không quá đi xa giọng nói nhưng khôngđồng nhất hẳn với giọng nói, giúp khán giả không quá đột ngột, trên từng

Trang 4

bước làm quen với sân khấu hiện đại và rời bỏ sân khấu cổ truyền…”[22, 742

- 743] Ông đã giúp ta định hình về nguồn gốc và quá trình phát triển của thểloại kịch thơ trong phong trào Thơ mới, nhưng chưa thể đi sâu khám phánhững đặc điểm cụ thể của nó

Phan Huy Dũng trong Luận án Tiến sĩ Kết cấu thơ trữ tình (Nhìn từ góc độ loại hình) đã nhận định một cách xác đáng về kịch thơ trong Thơ mới:

“Nói đến nguyên tắc kết cấu thơ mới thiết tưởng cần phải đề cập loại thơ trữtình mang hình thức kịch gắn với một vài tác giả như Huy Thông, Hàn Mặc

Tử Đây là hình thức mới của thơ trữ tình, hoàn toàn là sản phẩm của Thơmới Xin lưu ý: chúng tôi có phân biệt loại thơ trữ tình mang hình thức kịchvới loại kịch thơ (hay là loại kịch có hình thức thơ - cũng là một đóng góp

mới của Thơ mới cho nền thi ca dân tộc) Những tác phẩm như Trần Can, Lý Chiêu Hoàng, Nguyễn Hoàng của Phan Khắc Khoan, Yêu Ly, Lê Lai đổi áo của Lưu Quang Thuận, Kiều Loan của Hoàng Cầm … thực sự là những vở

kịch bằng thơ”[9, 137 - 138] Ở đây, tác giả luận án đã phân loại kịch thơtrong Thơ mới thành hai loại: Thơ kịch và kịch thơ, ngoài ra, tác giả còn địnhdanh loại thơ kịch là: ““kịch hoá tiếng nói trữ tình”, nhằm giúp độc giả cảmnhận sâu sắc hơn về độ căng cũng như sắc thái cá biệt của cảm xúc”[9, 139]

Có thể nhận thấy kịch thơ chưa phải là đối tượng nghiên cứu có tính chuyênbiệt, nhưng tác giả đã có đóng góp cho người đọc và giới nghiên cứu mộtđiểm nhìn xác thực có ý nghĩa khoa học

Khoá luận tốt nghiệp Đại học Vinh (2005) với đề tài Hiện tượng cộng sinh thể loại giữa văn xuôi và thơ thời kỳ 1900 – 1945 của tác giả Nguyễn Thị

Hằng có đề cập: “Sự pha trộn thơ và kịch tạo nên “kịch thơ” có sự độc lập vàthăng trầm riêng sau này Đó là thành tựu tổng hợp của sự lai ghép “Thơ mới”

và kịch nói Độ đậm nhạt trong sự phối hợp thơ - kịch này cũng khá biếnhoá”[20, 13] Đây là cảm nhận riêng của tác giả dựa trên cơ cở hình thức củakịch thơ giai đoạn này Dù những nhận định đánh giá có tính chất chung,

Trang 5

nhưng cũng có ý nghĩa đáng kể trong việc chỉ ra nguồn gốc thể loại kịch thơnói chung.

Ngoài ra còn có thể kể đến rất nhiều bài báo ở nhiều trang web khác,nhiều nhất là của Nguyễn Thị Minh Thái, Tùng Sơn, Hoàng Cầm, Lê Thoa,Hoài Hương, Nguyễn Trọng Tạo… Tùng Sơn phỏng vấn nhà văn NguyễnCông Khanh trên Việt Báo, ông đã trả lời: “Tôi cho rằng, nó khó viết nhấttrong các bộ môn văn học Hai phần “kịch” và “thơ”phải hài hoà khăng khít

và gần như cân xứng Quá nặng nề kịch tính sẽ giảm chất thơ Quá nghiêng vềthơ, kịch sẽ dàn trải, lỏng lẻo và có thể làm lệch ý của kịch Bằng thơ và chỉbằng thơ thôi để miêu tả tính cách nhân vật, hoàn cảnh sự việc, trường hợp,tình tiết, giai đoạn với tất cả những diễn biến của nó theo chiều hướng khácnhau, nhưng nhất thiết không chệch tuyến đi của kịch Thơ trong kịch có thểnâng kịch cao hơn, có mùi vị riêng, đặc sắc hơn nhưng cũng có thể phá hỏngkịch, kể cả thơ hay…Vì yêu cầu khắt khe như vậy, mà không phải ai cũngviết được kịch thơ và dành thời gian tâm huyết cho nó Kịch thơ là thứ “hànghoá” xa xỉ Mà nhu cầu người xem bây giờ hăm hở với nhiều thứ khác ”[49]

Rõ ràng ông đã thấy được một đặc điểm trong sáng tác và tiếp nhận kịch thơlà: vừa khó trong sáng tạo vừa kén người trong tiếp nhận Các nhà nghiên cứugiai đoạn sau này cũng nhiều người quan tâm đến kịch thơ trong Thơ mới,nhưng chưa có một bài viết hay một đề tài nào viết về mảng này một cách quy

củ và có hệ thống

2.2 Về một số tác giả kịch thơ trong Thơ mới

Ngoài các công trình quan tâm đến kịch thơ trong Thơ mới nói chungcòn có những ý kiến riêng về một số tác giả, tác phẩm kịch thơ cụ thể cũngđược quan tâm trong nhiều công trình nghiên cứu từ trước Cách mạng đếnnay Những năm 30, 40 đến cuối thế kỉ XX thế kỉ chưa có một công trình nàonghiên cứu chuyên sâu nào, mà chủ yếu là những bài giới thiệu trao đổi, phátbiểu trên báo chí Những ý kiến đánh giá rải rác, chỉ xuất hiện đôi ba dòng

Trang 6

trong một số công trình bài viết về một vài tác giả kịch thơ của một số nhàphê bình như Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan…

Nhà nghiên cứu Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam (1942), khi nói

đến Huy Thông – tác giả kịch thơ có nhiều tác phẩm vào loại sớm nhất viết:

“cũng may Huy Thông thỉnh thoảng biết vờ quên mình đi để giấc mộng ân áiđượm một vẻ mơ hồ riêng Hoặc người tạo ra cái không khí lạ khiến ta nhớđến những chiêm bao chính ta đã từng trải qua hay những chiêm baoShakespeare đã đưa lên sân khấu Hoặc người cầu cứu lịch sử cái môn ngườivẫn sở trường để dẫn nẻo nguồn mơ - Người mượn lời của một thiếu nữ để

gợi cảnh xưa …”[56, 80 - 81] Trong chú thích của tác phẩm Anh Nga, ông thắc

mắc: “Không hiểu sao Huy Thông lại viết thành bản kịch, có nhiều câu - mà lại

là những câu hay - cần lời của tác giả không thể là lời của nhân vật”[56, 82].Điều này chứng tỏ ông cho rằng kịch thơ Huy Thông là loại thơ kịch, lời nhânvật trữ tình bài tỏ cảm xúc là yếu tố chính, sử dụng hình thức kịch chỉ là đểgiãi bày tình ý của nhà thơ một cách rõ ràng, dài hơi hơn

Lê Tràng Kiều khi phê bình Thuyền Mơ của Thao Thao, một tác giả

tiêu biểu của bộ phận kịch thơ trong Phong trào Thơ mới đã phê bình: “ÔngThao Thao không phải là một thi sĩ, mà cũng không phải là một nhà thơ sànhsõi Thao Thao chỉ là người ghép vần vụng về, chỉ thế thôi”[39, 397] Điềunày chứng tỏ, lúc bấy giờ, các tác phẩm kịch thơ có nhiều đánh giá khen chêkhác nhau và cũng chưa được nhiều người ủng hộ

Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại đã đánh giá về kịch thơ của hai

tác giả kịch thơ giai đoạn này: “Phạm Huy Thông là người làm thơ hùng trángnhất trong lối thơ mới Thơ ông cứng cỏi đanh thép, nhưng không khỏi khôkhan và kém về vần điệu hơn”, còn với “Phan Khắc Khoan tuy cũng thuộcvào phái mới nhưng khác hẳn Chế Lan Viên, ông tả tình không lấy gì làm đặc

sắc, nhưng lại tả cảnh màu mè như những bài ở tập “Trong sương gió”, rồi có

khi lời thơ rất hùng tráng, như nhiều đoạn thơ trong vở kịch Trần Can”[44,

Trang 7

631] Từ hai nhà viết kịch thơ này, ông nhận thấy đặc điểm của kịch thơ lịch

sử là giọng điệu hùng tráng, hào sảng

Trong Thi nhân tiền chiến, Nguyễn Tấn Long đã bình luận về kịch thơ Thao Thao: “Ở Người mù đạo trúc hoặc Quán biên thùy thi nhân đã đưa tâm

hồn mình đóng khung vào lĩnh vực “anh hùng cá nhân” đi vào yếm thế “ Ôngđánh giá kịch thơ Phan Khắc Khoan: “Phan Khắc Khoan cho ta sống lại thờiđại những trang thanh niên nghĩa khí vung gươm dục ngựa xông pha trênmuôn nẻo núi rừng mang theo tấm lòng ưu ái quốc gia, dân tộc dù có nhữngngộ nhận”[30, 744] Có thể khẳng định Nguyễn Tấn Long đã chú ý đến một

số tác phẩm, tác giả kịch thơ mà ông cho là tiêu biểu nhất nhằm giới thiệu vớimong muốn độc giả tham khảo và hưởng ứng Điều này chứng tỏ, ông đánhgiá cao thể loại này trong tiền chiến

Phan Cự Đệ đã phát biểu về kịch thơ Huy Thông đã khẳng định: “trong

thơ Huy Thông cũng có phần mơ mộng yêu đương như các thi sĩ khác (Yêu đương, Anh Nga) Nhưng cái cảm xúc chính thi sĩ vẫn là những giấc mơ về

anh hùng lịch sử Nhà thơ ca ngợi Kinh Kha, người tráng sĩ một sáng quasông Ô Địch ra đi không hẹn ngày trở lại Đặc biệt thi sĩ đã dùng những lờithơ hùng tráng sảng khoái nhất để ngợi ca, sự nghiệp anh hùng của HạngVũ”[16, 118] Ông cũng đã khẳng định: “Huy Thông xây dựng thể thơ kịch

(Tiếng địch sông Ô, Anh Nga) Gọi là kịch nhưng thực chất là bài thơ (Mỵ Châu Trọng Thuỷ của Xuân Diệu cũng vậy), hình thức đối thoại giúp cho thơ

đi xa hơn, đỡ đơn điệu hơn Hơn nữa phù hợp với sự diễn biến của tình cảm,thi sĩ có thể sử dụng nhiều thể thơ khác nhau trong bài thơ kịch Vì là thơ kịchnên Huy Thông ít chú ý đến kịch tính cũng như trang trí dàn cảnh”[16, 139]

Có thể khẳng định Phan Cự Đệ là nhà nghiên cứu có nhiều đánh giá khá xácđáng về kịch thơ, đặc biệt là kịch thơ Huy Thông

Hà Minh Đức ở bài viết Tự lực văn đoàn trào lưu và tác giả nhận định:

“Thế Lữ là người có công với nghệ thuật kịch trong thời kì đầu gây dựng vàphát triển Trong mục kịch của Thế Lữ thời kì trước cách mạng, Thế Lữ đã

Trang 8

gây ấn tượng về kịch thơ Vở kịch thơ năm hồi Dương Quý Phi (với sự cộng

tác của Vi Huyền Đắc) đã khai thác đề tài lịch sử của Trung Quốc…”[38, 78].Cũng như các nhà nghiên cứu khác, ông nhận ra đề tài lịch sử của kịch thơ vàhơn thế ông còn nhận ra xung đột kịch trong kịch thơ Thế Lữ là từ: “hainguồn mâu thuẫn chung đúc thành tình thế một mất một còn…”[ 38, 79]

Nguyễn Viết Lãm (1997) khi nhắc đến hai vở kịch thơ của Hàn Mặc Tử

đã nhận xét: “hai vở kịch thơ Duyên kỳ ngộ và Quần Tiên hội đã dành cho cô

thiếu nữ chưa hề gặp mặt một tình yêu đằm thắm”[55, 134] Nguyễn Thụy Khacũng cho rằng: “Vì Thương Thương đối với tâm tưởng của Trí là khát vọng vềmối tình nguyên lượng trinh bạch ”[55, 367] Chúng ta có thể nhận thấy, hainhà phê bình đều đánh giá hai vở kịch thơ của Hàn Mặc Tử là những bài thơ tìnhmang hình thức kịch với cảm xúc tình yêu chân thành, trong sáng nhất

Còn Đào Thụy Nguyên (2009) (theo htt://www thienky.com) thì khẳng

định trong bài viết Giới thiệu nhà kịch, nhà thơ tiền chiến Phan Khắc Khoan:

“xét về tác phẩm, thì Phan Khắc Khoan nổi bật hơn cả ở loại hình kịch thơ.Kịch thơ của ông thường khai thác đề tài lịch sử, mang nhiều kịch tính căngthẳng, nhưng cũng rất lãng mạn và trữ tình Chủ đề thường xoay việc cổ vũchí khí của kẻ làm trai và trách nhiệm với thời cuộc”[40] Ông đã khẳng địnhmạnh mẽ giá trị về nội dung và nghệ thuật của kịch thơ Phan Khắc Khoan.Bên cạnh đó, chúng tôi còn đọc thêm một số công trình bài viết củanhiều tác giả trên các tạp chí, trên các báo, các công trình nghiên cứu khác.Trong các công trình và bài viết này dù chỉ viết thoáng qua về một số tác giả,tác phẩm kịch thơ trong Thơ mới, chúng tôi vẫn tìm thấy những nhận địnhthiết thực, hữu dụng

Nhìn chung, đến nay việc nghiên cứu kịch thơ trong phong trào Thơ mớithường mới chỉ dừng lại ở các mức độ và hình thức sau: Kết hợp trong cáccông trình nghiên cứu về Thơ mới, dừng ở những bài viết về một tác giả nào

đó có kịch thơ là một bộ phận trong sáng tác, qua các cuộc phỏng vấn của cácnhà văn… Ở đây, các nhà nghiên cứu chủ yếu xem xét bộ phận này từ góc độ

Trang 9

thể loại Tuy nhiên, kịch thơ trong phong trào Thơ mới với những đặc điểmriêng biệt và giá trị sâu sắc của nó là vấn đề còn bỏ ngỏ, cần thiết phải đượcnghiên cứu sâu hơn nữa.

3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm của kịch thơ trong phong trào Thơ mới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau đây:

- Tìm hiểu khái niệm kịch thơ và vị trí của kịch thơ trong phong tràoThơ mới

- Khảo sát đặc điểm của kịch thơ trong Thơ mới trên các phương diện:

đề tài, nhân vật, xung đột, ngôn ngữ Lí giải các đặc điểm đó trên cơ sở vănhoá, thẩm mỹ tương ứng

- Tìm hiểu hai tác giả kịch thơ trong Thơ mới tiêu biểu là Huy Thông

và Hoàng Cầm

3.3 Phạm vi văn bản khảo sát

Tài liệu khảo sát nghiên cứu chính của chúng tôi, là những tác phẩm

kịch thơ trong Tổng tập văn học Việt Nam (Tập 23), Nxb Giáo dục, Hà Nội,

1997 và thêm một số tác phẩm cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ 2000) (kịch bản văn học), quyển sáu, Nxb Văn học, Hà Nội, 2007, hai vở kịch thơ Duyên kỳ ngộ và Quần Tiên hội của Hàn Mặc Tử là từ Hàn Mặc Tử Thơ

XX(1900-và Đời, Nxb, Văn học, Hà Nội, 2004, Lữ Huy Nguyên sưu tầm tuyển chọn

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đặc điểm của kịch thơ trong Thơ mới, luận văn kết hợp

sử dụng một số phương pháp nghiên cứu là: Phương pháp thống kê - phântích, phương pháp phân loại so sánh, phương pháp xã hội học, phương pháp

so sánh lịch sử, phương pháp loại hình và các thao tác khác như so sánh, khảosát, chứng minh, lí giải…

5 Đóng góp của luận văn

Trang 10

Luận văn miêu tả và lí giải tương đối kĩ lưỡng và hệ thống về đặc điểm

của kịch thơ trong phong trào Thơ mới

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được cấutrúc 3 chương:

Chương 1 Vị trí của kịch thơ trong phong trào Thơ mới

Chương 2 Đặc điểm kịch thơ trong phong trào Thơ mới trên phương

diện đề tài, nhân vật, xung đột, ngôn ngữ

Chương 3 Hai tác giả kịch thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới:

Huy Thông và Hoàng Cầm

Trang 11

Chương 1

VỊ TRÍ CỦA KỊCH THƠ TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI

1.1 Giới thuyết khái niệm kịch thơ

1.1.1 Khái niệm kịch thơ

Kịch thơ là một bộ phận của loại hình nghệ thuật sân khấu, được xácđịnh và phân loại dựa vào đặc điểm hình thức lời thoại là ngôn ngữ thơ: “Ởnhiều thời đại của Châu Âu (từ cổ Hyla – Sile, Hugo) kịch đều chủ yếu viếtbằng thơ và dựa vào độc thoại, điều khiến kịch gần gũi với nghệ thuật hùngbiện (diễn thuyết)[22, 740] Như vậy, kịch thơ là một thể loại có mặt từ lâuđời trong lịch sử văn học nghệ thuật của nhân loại

Nhìn từ góc độ văn học (nghĩa là xét trên phương diện kịch bản), kịch

thơ là một thể loại của loại hình văn học kịch Từ điển văn học (bộ mới) đã

khẳng định: “Sử dụng lời thơ có vần, kịch thơ lấy vần làm một trong nhữngphương tiện nối liền đường dây đối thoại và độc thoại, thậm chí là cả lời hậuđài trên sân khấu”[22, 741] Như vậy, kịch thơ là thể loại kịch sử dụng hìnhthức lời thơ để xây dựng hình tượng, tính cách nhân vật, xung đột kịch vàthậm chí cả không khí của vở kịch Chính ngôn ngữ của kịch thơ tạo nên đặcđiểm khu biệt nó với thể loại kịch nói Nếu kịch nói “hướng về những lời nóithật đắt được chặt bẻ nhằm ngụ ẩn các triết lí thâm thúy, nhưng hình thức phải

là những lời nói thường, hệt như trong đời sống, thì cảm hứng của kịch thơ làhướng về những lời thơ réo rắt hay trầm hùng vừa gây được kịch tính vừathỏa mãn khoái cảm của sự cảm thụ chất thơ trong ngôn từ”[22, 742]

Tất nhiên, trong kịch thơ vẫn phải xây dựng được những xung đột kịchtính, đẩy tính kịch đến cao trào và mở nút để giải quyết những mâu thuẫnkịch Nhưng nếu như ở kịch nói sự tiến triển của những mâu thuẫn kịch diễn

ra dồn dập, thì ở kịch thơ, do “tính trữ tình” đặc thù, thì có phần chậm rãi hơn.Chính vì thế mà kịch thơ thích hợp với loại hình kịch lãng mạn và hiện thựctâm lí hơn là loại hình kịch đòi hỏi giải đáp những vấn đề bức thiết của đời

Trang 12

sống như loại hình hiện thực Đó là những câu chuyện tình yêu, nhưng câuchuyện quá khứ đầy bi kịch, những dằng xé giữa hiện thực và khát vọng…Đây là những đề tài mà kịch thơ ưa thích lựa chọn.

Trong một thể loại văn học, tương ứng với một nội dung là một hìnhthức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể Với tư cách

là một thể loại văn học, trong kịch thơ có sự thống nhất và quy định lẫn nhaugiữa chủ đề, cảm hứng kịch, nhân vật kịch và xung đột, hành động kịch và lờithoại là thơ Sự thống nhất này là do phương thức chiếm lĩnh đời sống khácnhau quy định, thể hiện quan điểm thẩm mĩ khác nhau, mang lại những khảnăng khác nhau trong tái hiện đời sống Dĩ nhiên, không phải là vở kịch thơnào được sáng tác ra là đều được diễn trên sân khấu, mà có nhiều vở kịchsáng tác chỉ có thể để đọc, để ngâm Ở Châu Âu không chỉ kịch viết bằng thơ,

mà tiểu thuyết đều có thể được viết bằng thơ, có những vở cũng chỉ dùng đểđọc chứ không phải dùng cho đông đảo người xem trên sân khấu Có lẽ vì lí

do đó mà “về phương diện diễn xuất, sự khác biệt giữa kịch thơ và kịch nói làkhá rõ rệt song cũng không gây nên những đảo lộn lớn trong trong kết cấucũng như kịch tính, cũng không phá vỡ yêu cầu mĩ học của nghệ thuật kịchArixtôt và quy luật tam duy nhất của kịch cổ điển nói chung”[22, 742]

Cũng cần chú ý phân biệt giữa khái niệm “kịch thơ” và “thơ kịch” Thơ

kịch thực chất là những bài thơ trữ tình dài hơi và chúng được đưa vào một số yếu

tố kịch là do các tác giả “muốn tránh sự đơn điệu của “động tác” trữ tình, muốn đưavào một tác phẩm thơ dài nhiều chỗ ngừng nghỉ hơn để độc giả có thể dễ dàng theodõi mạch của cảm xúc và để tổ chức nhịp điệu của tác phẩm thêm đa dạng và cuốnhút”[9, 138] Như vậy, “thơ kịch” thực chất là những bài thơ trữ tình manghình thức kịch, chúng gắn với những xúc cảm được hóa thân từ cái tôi trữ tìnhcủa tác giả, còn “kịch thơ” lại là một thể loại văn học - sân khấu (ngang hàngvới kịch hát, kịch nói…) và chúng hoàn toàn có thể được dựng thành những

vở diễn đầy hấp dẫn trên sân khấu (Tất nhiên, trên thực tế, sự phân biệt nàyxét đến cùng cũng chỉ có tính chất tương đối.)

Trang 13

Từ một số phân tích sơ lược trên, chúng tôi xin khái quát những nét

chính về khái niệm kịch thơ được sử dụng trong luận văn như sau:

Kịch thơ là một thể loại của loại hình văn học kịch Kịch thơ được

“định danh” theo đặc điểm ngôn ngữ lời thoại Dù lời thoại được viết bằngthơ, nhưng lời thơ không làm mất đi tính tính kịch, tính xung đột, nghĩa làkhông phá bỏ những đặc trưng cơ bản của một tác phẩm kịch Như vậy, kịchthơ là một hiện tượng “hỗn dung” thể loại, nó là sự kết hợp giữa yếu tố kịch

và thơ theo những nguyên tắc mĩ học nhất định, tạo nên những đặc trưng thểloại đặc thù

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi không nghiên cứu kịch thơ nhưmột loại hình nghệ thuật sân khấu mà chỉ nghiên cứu phần kịch bản - thơ,thuộc loại hình nghệ thuật ngôn từ, cụ thể là bộ phận kịch thơ trong phongtrào Thơ mới

1.1.2 Kịch thơ - vài nét lịch sử

Kịch thơ là một thể loại văn học ra đời và phát triển từ rất lâu đời, lịch

sử phát triển của nó đã được ghi nhận qua các thời kì lịch sử các nền văn họctrên thế giới Chúng tôi nhận thấy lịch sử hình thành và phát triển của kịch thơ

có nhiều thành tựu nổi bật Sau đây, trên cơ sở những tài liệu đã thu thậpđược, chúng tôi xin điểm lại một số nét sơ lược về kịch thơ qua các thời đạivới một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu

Kịch thơ từ thời Hi Lạp cổ đại cho đến kịch thơ thời kì Phục hưng, rồikịch thơ của chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn (tiêu biểu là Shakespeare,Goethe, Victor Hugo…), kịch thơ Việt Nam, đều chủ yếu xoáy sâu vào cácvấn đề cơ bản trong thực tế cuộc sống ở thời đại mà tác phẩm ra đời

Thời Hi Lạp cổ đại, kịch thơ thường đề cập đến tinh thần nhân văn caođẹp, thông qua những hình tượng thần thoại, truyền thuyết, lịch sử Nhữnghình tượng này mang đầy tinh thần thời đại, trở thành những tấm gương chocon người noi theo Trong kịch thơ thời kì này: “đề tài và nội dung ở các vởkịch đầu tiên xoay quanh cuộc đời thần Điônizôx sau này mới được mở ra ở

Trang 14

các đề tài thần thoại hoặc trong thực tế cuộc sống”[12, 75] Chính thần rượunho trở thành niềm cảm hứng sáng tác cho các soạn nhà kịch thời Hi Lạp màkịch cổ đại Hi Lạp chủ yếu được sáng tác bằng thơ “Niềm đắm say củaĐiônizôx … hình như được phác họa lên những tình cảm mà bi kịch sau nàynuôi dưỡng: nỗi đau khổ, niềm sợ hãi, lòng thương xót Và đặc biệt cuộc đờicủa Điônizôx có nhiều chi tiết mang tính kịch, mang sắc thái quần chúng hơn,phong phú hơn về những nỗi đau khổ…”[12, 78 - 79] Nhưng ở một phươngdiện nào đó có thể nói nghệ thuật sân khấu Hi Lạp có nguồn từ những bản anhhùng ca nổi tiếng như Homeros Bên cạnh đó kịch cũng có sự ảnh hưởng củacác nghi lễ tôn giáo của người Hi Lạp vốn đã chứa đựng kịch tính.

Nhà viết kịch Aiskhilos - “người được xem là cha đẻ của bi kịch”, khôngchỉ mở đường cho thể loại này mà tác phẩm của ông đạt tới trình độ hoàn chỉnhnhất định, phản ánh những nét nổi bật của cuộc sống và con người thời đại ấy.Kịch của Aiskhilos là những tác phẩm lấy từ đề tài những người anh hùng trongchiến đấu Tác phẩm của ông bừng lên ánh sáng của công lí, chính nghĩa, hình ảnhcao đẹp bi hùng mà người đương thời luôn ngưỡng mộ Hình tượng những người

anh hùng trong Bảy anh hùng vệ quốc thành Thebas, hình tượng tập thể nhân dân

Hi Lạp trong Quân Ba Tư đã thể hiện hào khí Aiskhilos, thời đại của những người

chiến sĩ trên cánh đồng Maraton, không lùi bước trước quân thù Lấy đề tài chiếntranh là cuộc chiến Hi - Ba, vở bi kịch này của Aiskhilos đã gợi lên niềm tự hàodân tộc sâu sắc không chỉ ở chiến công oanh liệt mà còn khẳng định sự văn minhtiến bộ của đất nước Hi Lạp

Ngoài Aiskhilos còn có Sophocle và Eurripide, hai nhà viết kịch thơtiêu biểu ở Hi lạp cổ đại Họ có nhiều đóng góp lớn cho văn học thế giới.Sophocle “nhà thơ hoàn hảo” “nhà thơ am hiểu kịch hơn ai hết” Kịch của ông

đa dạng về đề tài phong phú về nội dung và giàu tính triết lí Kịch của ôngthường đề cập đến giữa hai thế lực đối lập trong xã hội thế lực tiến bộ và thếlực phản tiến bộ, hay bi kịch của con người có phẩm chất cao đẹp với số phận

nghiệt ngã (Edip làm vua) Ông còn đề cập đến thân phận người phụ nữ với

Trang 15

vấn đề hạnh phúc tình yêu… Con người trong kịch của Sophocle có đầy đủnhững phẩm chất từ tốt đẹp đến xấu xa, đau khổ đến hạnh phúc, nhìn chungkịch của ông mang tinh thần nhân đạo sâu sắc mà kịch Aiskhilos chưa cóđược Còn trong các tác phẩm kịch Eurripide, ông nhìn nhận đánh giá mọivấn đề của thời đại với một cách nhìn chân xác, nghiêm khắc ở nhiều phươngdiện như tôn giáo, chiến tranh, thần thánh, dân tộc, con người cá nhân, thếthái nhân tình… Kịch thơ của Eurripide thực sự là “bách khoa toàn thư” củathời đại với rất nhiều hình tượng nghệ thuật được xây dựng một cách đa dạng,phong phú và mang ý nghĩa thời đại sâu sắc.

Có thể thấy ngay trong giai đoạn đầu của lịch sử văn học, kịch thơ đã

có nhiều giá trị nổi bật trong lịch sử văn học thế giới Các nhà viết kịch đại tàicủa Hi Lạp cổ đại đã tạo nên giá trị nhân văn cho tác phẩm của mình quanhững đề tài quen thuộc như thần thoại, truyền thuyết, lịch sử xã hội

Kịch Hi Lạp tuy còn đơn giản về mặt bố cục, cũng như trong phương diệnxây dựng tính cách nhân vật, nhiều tác phẩm đã sử dụng các thủ pháp mô tảnghệ thuật một cách sáng tạo Giọng văn trong kịch thơ của Aiskhilos khi hùngtráng khi trữ tình, có sức truyền cảm mạnh mẽ với người đọc người xem Cácnhân vật kịch cũng rất sinh động để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người xem như

Prometheus (Aiskhilos), Edip, Andromacque (Sophocle), Heraclet (Eurripide),

tạo nên những hình tượng nghệ thuật có giá trị thẫm mĩ cao Các màn đốithoại kịch rất thú vị và có nhiều kịch tính, đã được đánh giá: “Bi kịch củaXôphôclơ mang yếu tố tương phản và vì vậy nó là loại bi kịch cao cấp phứctạp” [12, 105] Đến Eurripide thì ông đã biết vận dụng cái hài hòa quyện cái

bi để gợi lên những nụ cười và nước mắt, thể hiện dáng vẻ cuộc sống hiệnthực đầy mâu thuẫn Có thể khẳng định về mặt hình thức nghệ thuật, kịch thơthời Hi Lạp cổ đại đã có nhiều đóng góp thực sự có giá trị cho kịch thơ thếgiới nói riêng, văn học nói chung, xứng đáng được xem: “là những “viên gạchvàng” đặt nền móng cho tòa nhà lớn bi kịch của nhân loại”[12, 90]

Trang 16

Các nhà viết kịch Châu Âu thế hệ sau, tiếp nối được của thế hệ trướcnhững giá trị truyền thống đó với nhiều tên tuổi nổi bật Chúng tôi xin đượcnhắc đến nhà viết kịch thiên tài nhất của thời đại như William Shakespeare,người được xem “đỉnh cao chót vót” trong lĩnh vực kịch Với các tác phẩmcủa mình, ông đã giúp con người hiểu biết sâu sắc hơn chính bản thân họ Đặcbiệt trong kịch thơ của ông, đề tài tình yêu được quan tâm nhiều nhất, ông cangợi tình yêu đẹp và theo ông tình yêu có khả năng chinh phục hết thẩy kẻ thù

và đẩy lùi cái chết, là đôi cánh để con người bay cao và xa hơn Ông đề cao trítuệ, lên án những kẻ ngu dốt, giáo điều, cũ kĩ, lỗi thời phản chân lí Những vở

kịch kinh điển của ông như Hamlet, Macbeth, Romeo và Juliet, Vua Lia đều

là những bản tình ca bất diệt và những bi kịch của con người trong xã hội Cóthể khẳng định rằng giá trị lớn nhất của kịch thơ Shakespeare chính là giá trịnhân bản sâu sắc mà bất cứ thời đại nào con người cũng luôn hướng tới

Về mặt hình thức, kịch thơ Shakespeare đã được giới nghiên cứu vănhọc trên thế giới đánh giá cao, ở đây chúng tôi chỉ xin điểm qua vài nét cơbản Ông học tập Eurripide cách đưa cái bi trộn lẫn cái hài, nâng lên một tầmcao mới tạo không khí cho vở kịch vừa cổ kính vừa hiện đại, vừa như chuyện

cổ vừa như thời sự tạo nên sức hấp dẫn của vở kịch Về mặt ngôn ngữ kịchcủa ông đã tạo ra những vở kịch cả thơ xen lẫn văn xuôi, thơ tự do không chútrọng vần mà chỉ chú trọng nhịp điệu, các đoạn độc thoại thường dùng thơ đểthể hiện sự sâu lắng Đối với ngôn ngữ nhân vật, ông luôn chú trọng tính cáthể của ngôn ngữ, mỗi nhân vật đều có “khẩu khí” riêng Ngôn ngữ kịch thìgiàu hình ảnh, sắc nét, ngay cả những vấn đề có tính triết lí trừu tượng ông

cũng “hình ảnh hóa”, chẳng hạn ông cho Hamlet gọi cuộc đời là “một vườn hoang đầy cỏ rác thối tha” Đối thoại trong kịch thơ Shakespeare cũng đặc

biệt sắc sảo, đầy ý nghĩa phê phán và tính triết lí thâm thúy Ông cũng chútrọng đi sâu khắc họa thế giới nội tâm của nhân vật, tôn trọng quy luật pháttriển và không để cho cái chủ quan của mình lấn ất cái khách quan một cách

vô lí để kịch phát triển thật tự nhiên Nhiều nhà văn trên thế giới đều thừa

Trang 17

nhận thiên tài “Sêcxpia không chỉ thuộc về Anh mà ông thuộc về mọi thờiđại”[12, 239]

Đến thế kỉ XVII, với nhiều nhà viết kịch nổi tiếng như Piere Corneille,Molier, Racine, họ thông qua diễn biến tâm lí của nhân vật để diễn tả những

chuyển biến của lịch sử và thời đại Le Cid, Andromacque là những vở bi kịch

có ý thức đi sâu vào tâm lí nhân vật lấy lòng người làm đối tượng mô tả vàbiểu hiện, mượn các đề tài văn học cổ đại, đã làm sống lại lí tưởng anh hùng

La Mã thời cộng hòa với những con người xuất chúng Ở họ sáng rực tinhthần dám hi sinh, khước từ lợi ích riêng Sự giằng co quyết liệt giữa tình cảm

và lí trí là những vật lộn đau xót ghê gớm trong nội tâm Nó là thước đo phẩmgiá người anh hùng, là lí tưởng cao cả phục vụ cho chế độ chuyên chế vàquyền lợi quốc gia Còn Moliere là nhà hài kịch đại tài đã đưa nghệ thuật kịchPháp lên đỉnh cao của tính cổ điển Đề tài của kịch Moliere là rất phong phú,được khai thác từ nhiều nguồn, chẳng hạn từ trong văn học La Mã, lịch sửChâu Âu, văn học dân gian Pháp…, nhưng ông đặc biệt quan tâm đến đờisống tâm hồn của con người trong xã hội đương thời Ông phát hiện ra nhữngmâu thuẫn kệch cỡm trong xã hội lỗi thời, để tống tiễn những cái xấu xa, làmtrong sạch hơn đời sống, làm vang lên những tiếng cười lạc quan khỏe khoắn

Có thể thấy, ba tác gia này tuy có cái nhìn khác nhau về cuộc sống và đốitượng nghệ thuật, nhưng đều hướng tới cái mới, mong muốn xã hội tốt đẹphơn, văn minh hơn

Đến thế kỉ XVIII, Goethe thực sự là ngôi sao sáng của nền văn học Đức

với nhiều tác phẩm thực sự có giá trị, tiêu biểu đó là vở kịch thơ Fauxt Đây

là tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc, Fauxt bị vướng vào mâu thuẫn khônggiải quyết được giữa tình yêu và lí tưởng trong xã hội phong kiến Nhưng tinhthần nhân đạo cao cả, cơ bản toát lên từ chủ đề của vở kịch, qua mối quan hệgiữa Fauxt và Mephinxto chính là tính hai mặt trong một con người Cái nhânđạo của vở kịch chính là nằm ở tư tưởng khẳng định cuộc sống là sự vươn lênkhông ngừng, dừng lại có nghĩa là chết Và con người vươn lên bằng cách

Trang 18

luôn luôn khắc phục những mặt tiêu cực, trì trệ, ngưng đọng Vì thế QuỷMephinxto xét về mặt nào đó là cần thiết cho con người “do chúa ban cho conngười” để kích thích, để gây hấn, bởi nếu thiếu nó con người không còn cái gì

để khắc phục và cuộc sống sẽ dừng lại: “Fauxt là vở bi kịch nhưng lại đậm đà

hương vị lạc quan và triết lí sống - triết lý hành động, ngoài ra còn dựng lạiquá trình tích lũy tư bản và dựng lại hình ảnh lâu đài phong kiến đang có

nguy cơ tan rã”[12, 400] Fauxt là một tác phẩm đồ sộ, vượt quá khả năng của

một vở kịch thơ, có khi người ta gọi là bản trường ca, một bản anh hùng ca:

“Trong văn học thế giới, không có mấy tác phẩm nội dung phong phú, tưtưởng sâu sắc, với phương tiện văn chương biến đổi linh hoạt đến thế Ngay

cả lối thơ và vần luật cũng thay đổi theo các hành động Các đối thoại xen kẽvới các cảnh sinh hoạt, các khúc ca trữ tình xen kẽ với văn xuôi”[12, 393]

Đến thế kỉ XIX, ở Châu Âu xuất hiện nhiều nhà viết kịch thơ tiêu biểunhư Vonltaire, Byron, Victo Hugo… Với Byron ông viết hàng loạt vở kịchthơ toàn những vở kịch chỉ dùng để đọc chứ không phải để diễn trên sânkhấu Theo Puskin: “Bairơn chỉ sáng tạo có mỗi một tính cách …, phân chiacho các nhân vật của mình những tính cách riêng biệt của mình và như vậy

đó, từ một tính cách toàn vẹn, u ám và kiên nghị, tạo ra một tính cách vônghĩa lí – đây hoàn toàn không phải là bi kịch”[12, 465] Tác phẩm của Byronthể hiện được những thất vọng của người trí thức trước những biến cố xã hội.Các nhân vật có đều có nhân cách kì vĩ, khát vọng tự do mãnh liệt, đấu tranh

để bảo vệ nhân quyền, chống lại sự độc ác của bọn độc tài trong xã hội, phơibày một hiện thực xã hội tối tăm không lối thoát, bày tỏ những triết lí về cuộcsống tình yêu Kịch Byron là loại kịch thơ trữ tình triết lí Chúng tôi sẽ nóithêm về kịch thơ của Victo Hugo vì ông là người có nhiều thành tựu vớinhiều thể loại, nhưng với địa hạt kịch thơ chúng ta lại thấy ông mang đếnnhững vở dram với nội dung: “bắt nguồn từ những nền văn hoá sinh động vàlành mạnh của quần chúng, biến thành những hình tượng kết hợp cái cao cả

và thấp hèn (mà ngày nay Bakhtin chỉ ra nguồn gốc với tên gọi là truyền

Trang 19

thống cacnavan của văn hoá dân gian)”[12, 478] Hugo quan tâm đến phản đềcủa cái cao cả cái thấp hèn từ bên trong tác phẩm, rõ ràng quan điểm và hìnhtượng kịch của Hugo gắn liền với thời sự và “âm vang lanh lảnh” của thời đại.

Đề tài trong kịch thơ của ông vô cùng phong phú Những vấn đề Hugo quantâm nhất đó là tình yêu đôi lứa và xã hội với nhiều tầng lớp đối kháng cầnđược điều hoà Nhà thơ có những cay đắng về hố sâu ngăn cách giữa quyềnlực và tình yêu Có thể khẳng định, kịch thơ là thể loại phù hợp với những tácphẩm lãng mạn, mang những giá trị nhân văn của mọi thời đại Kịch thơVicto Hugo là loại hình kịch thơ lãng mạn, “nhà thơ thổi luồng bão tố vănxuôi lên những câu thơ alexăngđranh cổ kính đã định hình và ông đã phá vỡquy tắc duy nhất về thời gian và địa điểm, đề tài ngoại lai hướng về thời gianquá khứ, qua những câu thơ mãnh liệt và trẻ trung về tình yêu, qua hầu hếtnhững nhân vật trẻ, chúng ta thấy mô típ của chủ nghĩa lãng mạn với trungtâm của nó là nhà thơ”[12, 497 - 498] Kịch thơ của ông chịu ảnh hưởng củavăn hóa dân gian Pháp, đó là nguồn văn hóa sinh động, lành mạnh của quầnchúng Có thể nói những vở dram của Hugo thực sự có những đóng góp vềmặt thể loại cho loại “sân khấu tự do” này

Kịch thơ Việt Nam ra đời đầu thế kỉ XX, với nhiều tác giả tác phẩmthực sự mang tính khởi xướng và mở đầu cho một thể loại văn học mới Cáckịch gia chịu tác động mạnh mẽ về cả nghệ thuật và tư tưởng của văn họcphương Tây, đặc biệt là văn học Pháp Ngoài ra, tinh thần dân tộc và truyềnthống yêu nước vốn có của người Việt Nam đã ảnh hưởng không nhỏ đến tácphẩm kịch thơ của các nhà thơ giai đoạn này Họ là những nhà Thơ mới mangtrong mình những khát vọng cháy bỏng của cái tôi cá nhân nên kịch của họcũng thể hiện những khát vọng rất riêng của mỗi cá thể trong đời sống xã hội

Khác với kịch thơ trong phong trào Thơ mới, những nhà thơ - nhà viếtkịch giai đoạn sau cách mạng tháng 8 - 1945, vẫn tiếp nối những giá trị nộidung giàu tinh thần dân tộc của thế hệ trước và hơn nữa các nhà viết kịch thơgiai đoạn này còn được tiếp thu lí tưởng mới đó là tư tưởng của Chủ nghĩa

Trang 20

cộng sản Nội dung của kịch thơ hoàn toàn hướng đến lí tưởng giải phóng dântộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa Dù kịch thơ giai đoạn này vẫn lấy đề tài lịch

sử nhưng cái nội dung cơ bản là tính chiến đấu, những phẩm chất cao quý củanhững người anh hùng say mê lí tưởng…Có thể khẳng định rằng kịch thơ ViệtNam giai đoạn này cùng hoà mình vào phong trào yêu nước của văn học thờiđại, với sắc đỏ của tinh thần yêu nước và lí tưởng cao đẹp nhất mà cả dân tộcđều hướng tới – lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước

Nếu kịch thơ của phong trào Thơ mới, chịu ảnh hưởng của kịch thơlãng mạn Pháp với chất trữ tình trong câu thơ văn xuôi thì kịch thơ Việt Namsau cách mạng lại có âm điệu hào sảng, đậm chất sử thi Ngôn từ của nhân vậtkịch đều thực sự trở thành những lời thơ sắc bén, đậm chất anh hùng ca, nhằmthể hiện khát vọng và lí tưởng mới Nhưng hạn chế của kịch thơ thời kì này là

ở chỗ họ thường chú trọng tính kịch nhiều hơn lời thơ nên kịch thơ bị vănxuôi hóa, chất trữ tình bị giảm hẳn Nguyễn Đình Thi sau cách mạng đượcxem là nhà viết kịch thơ thành công nhất: “Chất trữ tình bao trùm và thẩm thấutất cả cảm hứng sử thi anh hùng gắn chặt với đề tài yêu nước và chiến đấu bảo

vệ đất nước, sự tôn vinh lãng mạn tình yêu nam nữ, sự khẳng định quan hệ thânthiết đồng chất giữa con người với thiên nhiên, cảm hứng về dân tộc như một giátrị tối cao và bất tử và chỉ ở đây, con người mới tìm thấy ý nghĩa cho cuộc sốngcủa mình”[46, 145] Tuy nhiên, vị trí của kịch thơ đang mất dần trên văn đàn,ngày càng ít tác giả viết kịch thơ - đặc biệt thời đương đại chưa thấy nhà viếtkịch hay vở kịch thơ nào tạo được tiếng vang cho thể loại văn học này.Nguyễn Huệ Chi khẳng định: “với tư cách là một thể loại văn học kịch, vậnmệnh của kịch thơ ở Việt Nam hầu như khép lại ở những năm cuối thế kỉXX”[22, 744] Nhưng theo chúng tôi thì kịch thơ chưa hết vai trò của nó, sân

khấu vẫn làm sống dậy nhưng vở kịch thơ như Kiều Loan, Bến Nước Ngũ Hồ

(Hoàng Công Khanh) và gần đây có một số nhà viết kịch trẻ như Văn TrọngHùng cùng với các đạo diễn sân khấu trẻ thực hiện phối hợp kịch thơ với múađương đại để làm mới, hấp dẫn kịch thơ hơn, nhằm lôi cuốn khán giả trẻ

Trang 21

1.1.3 Tính chất “pha trộn thể loại” trong kịch thơ

Nhiều sáng tác nghệ thuật, người ta không biết gọi tên thể loại mộtcách chính xác là gì: là truyện hay là thơ, tiểu thuyết hay truyện vừa… Ở tác

phẩm Chiến tranh và hoà bình của Lep Tonxtoi là sử thi hay tiểu thuyết?

Nhiều người khi nhắc đến các tác phẩm của Lecmotop, Laphonten, truyệnngắn Thạch Lam , họ thường phải tự biện luận cho nó bằng định ngữ “tự sựhay trữ tình” Những băn khoăn đó chứng tỏ thực tế sáng tác văn học vô cùngphong phú, đa dạng hơn bất cứ một hệ thống phân loại nào Việc phân chiacác thể loại chỉ mang tính chất tương đối, không có sự phân loại nào có thểbao quát được trọn vẹn và đầy đủ hết thế giới văn học, vì vậy giữa các thể loạivẫn có sự “pha trộn” và “giao thoa” với nhau Ngoài những đặc trưng cơ bảnkhá ổn định, thể loại đó còn “mở cửa” để tiếp nhận thêm một số yếu tố quantrọng ở thể loại khác tạo nên những khu vực chung giữa các thể loại Kịch thơchính là một thể loại văn học trung gian như vậy Trong kịch thơ, ta thấy có

sự kết hợp rất độc đáo giữa yếu tố thơ và kịch, chất trữ tình và chất kịch tính

Tính chất trữ tình là gì? Theo chúng tôi, tính chất trữ tình được tạo nên

tự sự hòa quyện vẻ đẹp cảm xúc, tâm trạng trong tình cảm với vẻ đẹp củangôn ngữ, cách thức biểu hiện để khơi gợi những rung động nhân văn - thẩm

mĩ Nhà văn chú ý khai thác và thể hiện những xúc cảm, tâm trạng của nhânvật hoặc chính mình trước thế giới bằng lối hành ngôn truyền cảm, phù hợpvới rung động của tâm hồn Một tác phẩm được coi là có tính chất trữ tình,khi mối bận tâm của người viết không chỉ đặt vào việc kể lại những biến cố,

Trang 22

mâu thuẫn hành động, sự việc mà là còn làm nổi bật lên một trạng thái đờisống hoặc tâm hồn con người.

Kịch thơ là những tác phẩm kết hợp cả đặc điểm, cách thể hiện cuộc sốngtheo phương thức kịch và cả phương thức trữ tình Trong những tác phẩm này ta

sẽ thấy một mặt là sự thể hiện cuộc sống qua các tính cách hoàn chỉnh, qua các sựkiện, xung đột mâu thuẫn, hành động, mặt khác lại trình bày cảm nghĩ của mìnhtheo quan điểm cá nhân, qua những lời thoại mang đậm tính cảm xúc chủ quan.Tính chất trữ tình của kịch thơ được tăng thêm bởi hình thức ngôn ngữ thơ ca của

nó Là một thể loại văn học trung gian, kịch thơ có điều kiện nhiều phương thức,thủ pháp trữ tình Chẳng hạn, các nhân vật trong kịch thơ có thể trình bày trực tiếpcảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ của mình Lời thơ khiến những xúc động trữ tình baogiờ cũng mang tính hiện tại và có những rung động thầm kín mang tính chủ quan,

cá nhân, thậm chí cá biệt của tác giả dễ dàng được người đọc tiếp nhận như nhữngrung động của chính bản thân họ, tạo nên những sức mạnh truyền cảm lớn cho tácphẩm Lời thoại của kịch thơ phần lớn là lời thơ, do đó, thường giàu tính nhạc,tính biểu cảm Từ ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu… của các câu thơ - lời thoại,đến cảm xúc của nhân vật, bằng các thủ pháp trữ tình trong các lời thoại kịch,tạo nên những nét đặc sắc riêng của kịch thơ Có thể nói việc sử dụng ngôn ngữthơ là phù hợp nhất nếu muốn có tính chất trữ tình đậm nét trong kịch Dĩ nhiên,trong một tác phẩm kịch thơ, khi tính trữ tình lấn át tính kịch thì khi đó vở kịch sẽ

bị “biến chất”, như ta thấy trên thực tế của Thơ mới – chúng sẽ biến thành “thơ kịch” chứ không còn là “kịch thơ” nữa

Thời kì nào mà cảm hứng lãng mạn, chủ nghĩa lãng mạn phát triển thìphương thức trữ tình xâm nhập vào tất cả các thể loại văn học: “không phải ngẫunhiên mà nhiều nước trên thế giới những nhà thơ trữ tình lớn nhất của một dân tộcthường xuất hiện cùng với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa lãng mạn”[22, 374] Là một bộ phận văn học nằm trong phong trào Thơ mới – phong tràothơ Việt Nam hiện đại chịu ảnh hưởng đậm nét của chủ nghĩa lãng mạn phươngTây, kịch thơ cũng mang đậm màu sắc trữ tình lãng mạn như một tất yếu

Trang 23

1.1.3.2 Tính chất kịch tính trong kịch thơ

Để phản ánh đời sống trong tính khách quan, tác phẩm tự sự và kịchđều dựa vào hệ thống sự kiện biến cố được tổ chức thành cốt truyện, nhưngđiểm khác nhau giữ tác phẩm kịch và tự sự là ở kịch tính Tính chất kịch tính

là một đặc trưng cơ bản nhất của thể loại kịch nói chung

Vậy kịch tính là gì? Trong tiếng Anh, Dramatis là từ để chỉ tính li kỳ,hào hứng, hồi hộp, sôi động Có thể trong kịch thơ từ thời Hi Lạp cổ đại, tínhchất kịch tính được bộc lộ hết qua các tác phẩm của các tác giả như Aiskhilos,Sophocle và Eurripidva: “Thần thánh và một số mệnh đè nặng lên cuộc sốngcon người và quyết định tất cả, tư tưởng ấy của thần thoại đã phả vào bi kịch

Hi lạp một tư tưởng định mệnh mang tính chất bi thảm và tạo nên cái “bi” của

phần lớn bi kịch[12, 89] Ngay trong tác phẩm Prométhée bị xiềng tác giả

Aiskhilos đã phát triển xung đột kịch triển khai xung đột giữa hai thế lực đốilập là Prométhé, vị thần quả cảm không khuất phục trước quyền lực và thầnZot - kẻ thống trị với những tay sai hung hãn nhất như Quyền Lực, BạoLực… Đến thời đại của Shakespeare, Piere Corneille, Goethe đều có rất nhiềutác phẩm kinh điển giàu tính chất kịch tính: “vì khi phản ánh mâu thuẫn xungđột của hiện thực đời sống, các vở kịch này đều làm nổi bật sức mạnh của cáchành động có lí do, có ý đồ, có khuynh hướng tính cách cùng ý chí tự do củacon người và vì hành động ấy con người phải chịu một hậu quả một tráchnhiệm nào đó? Cũng như thế loại kịch, khác kịch thơ cũng chịu những hànhđộng đối nghịch, nguồn gốc của kịch tính là hành động “drama” - bao giờcũng nằm ở vị trí trung tâm của hệ thống lí thuyết kịch”[48, 331] Vì thế màHeghen cho rằng: “phải trình bày cho chúng ta một biến cố, kì công, mộthành động, nhưng nó phải tước mất tính chất bên ngoài của chúng và phải đưamột cá nhân có ý thức và hành động vào thay thế”[48, 332]

Đã nói đến kịch là nói đến những xung đột, những mâu thuẫn tức làđang nói đến tính chất kịch tính của tác phẩm Ở những tác phẩm thơ kịch, kịchtính thường được biểu hiện qua thế giới nội tâm nhân vật kịch, những dằng xé mâu

Trang 24

thuẫn bên trong khó thể dung hòa tạo nên những nỗi đau những lớp sóng ngầmtrong lòng nhân vật Đồng thời, nó còn được bộc lộ qua việc xây dựng những xungđột mâu thuẫn gây gắt giữa các nhân vật kịch hay giữa các tư tưởng, thế lực vàthậm chí giữ chủ quan với cái tất yếu và khách quan trong tác phẩm kịch, nhằmthúc đẩy sự vận động của hệ thống sự kiện, biến cố trong cốt truyện kịch Kịchtính trong kịch thơ là một đặc điểm mang tính loại hình Xung đột kịch trongkịch thơ cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển của hành động, nhằm xác lậpnhững mối quan hệ mới giữa các nhân vật Thiếu xung đột kịch sẽ mất đi đặctrưng cơ bản đầu tiên của thể loại, tác phẩm sẽ trở thành vô nghĩa hoặc bị gọi

là vở kịch tồi Goethe trong thư gửi Schiller đã nói đại ý: Hành động kịch làyếu tố trực tiếp thể hiện xung đột kịch, xung đột kịch là yếu tố quyết địnhchọn lọc và tổ chức hành động kịch

Kịch tính chi phối các giai đoạn phát triển của cốt truyện kịch: trìnhbày, thắt nút, phát triển, đỉnh điểm, mở nút Có thể khẳng định cơ sở củamọi cốt truyện kịch thơ cũng là từ những xung đột xã hội, là khúc xạ quanhững xung đột nhân cách hoặc xúc cảm của con người nhà thơ Trong vở

kịch thơ Yêu Ly của Lưu Quang Thuận, tác giả đã xây dựng xung đột kịch

có ý nghĩa khái quát cao, đó là xung đột giữa chữ tín - chữ nghĩa và hạnhphúc cá nhân, xung đột này đã xuyên thấu cả bề mặt hình thức lẫn cốtchuyện Chính những mâu thuẫn kịch tính đã chi phối đến toàn bộ diễnbiến tiếp theo của vở kịch Ở giai đoạn Yêu Ly đã quyết tâm trở thànhthích khách tiêu diệt Khánh Kỵ, thì không còn cách nào khác ngoài việcdùng kế trá hàng, muốn lấy lòng tin của kẻ đa nghi ấy, chỉ còn cách là giết

vợ con và tự chặt tay mình Đây là hành động có tính đỉnh điểm của vởkịch, để tiếp sau đó là hàng loạt hành động tiếp theo cho đến khi mở nút

là cái chết đầy bi tráng của người tráng sĩ Cuộc đời của Yêu Ly là mộtxung đột đầy bi kịch giữa hạnh phúc và quan niệm sống Kết liễu cuộc đờichính là cách duy nhất chấm dứt bi kịch ấy

Trang 25

Kịch thơ, với tư cách là một thể loại kịch, cũng khai thác một cách sâusắc những xung đột lịch sử - xã hội Tính chất kịch tính thường xuất hiện quanhững va chạm, đụng độ trực tiếp sự giữa các thế lực xã hội được hành độngkịch miêu tả trong các tác phẩm Những mâu thuẫn mang tính chất kịch tínhtrong nội tâm nhân vật cũng là xung đột tiêu biểu không thể thiếu trong kịchthơ Cuộc sống là sự vận động của các phạm trù thẩm mĩ như cái đẹp, cái xấu,cái bi, cái hài, cái cao cả cái thấp hèn…, xung đột trong kịch thơ cũng nằmtrong cao trào của sự vận động ấy Công chúng luôn mong tìm thấy ở vở kịchmột sự đồng cảm hay một sự phản bác đối với nhà văn về những vấn đề quantrọng trong cuộc sống Nghệ thuật kịch, vì vậy luôn là diễn đàn tư tưởng củacuộc sống, là mối giao cảm sâu sắc giữa các tác giả và khán giả Nhưng khinói đến tính chân thực không có nghĩa là chúng ta quên đi tính ước lệ củanhững xung đột trong kịch nói chung, kịch thơ nói riêng

Có thể khẳng định tính chất kịch tính không thể thiếu trong kịch thơ,bởi có kịch tính mới là kịch, nhưng ở trong kịch thơ, đặc biệt là kịch thơ củaThơ mới, tính chất kịch tính cũng mang sắc thái riêng Một phần lí do, có lẽbởi màu sắc “trữ tình” trong lời thoại thơ đã phần nào “hóa giải” tính chất gaygắt của xung đột, hành động kịch Một phần lí do có khi do sự lựa chọn chủ

đề, cảm hứng của các tác giả Phần lớn là các tác giả lãng mạn chủ nghĩa, cáckịch gia cũng thường lựa chọn những đề tài, chủ đề có thể giúp họ bộc lộtiếng nói nội tâm một cách rõ nét nhất Họ đặc biệt quan tâm xoáy sâu chủ đềsức mạnh nội cảm, thể hiện rõ khuynh hướng, tính cách và ý chí tự do của conngười Có nhiều tác phẩm tưởng chừng rất nhẹ nhàng vì xung đột chủ yếu làxung đột nội tâm, tình cảm chứ không phải loại xung đột quyền lợi giữanhững lực lượng xã hội đối kháng Nhưng ngay cả trong những tác phẩm kịch

đi sâu khai thác những xung đột xã hội gay gắt, các tác giả cũng vẫn rất chú ýtới tính thơ, tính trữ tình trong các lời thoại, các hành động kịch

Tóm lại, trong một tác phẩm kịch thơ, sự kết hợp giữa yếu tố thơ vàkịch không phải là một phép cộng cơ học và đơn giản Trả lời phỏng vấn trên

Trang 26

Việt Báo, nhà văn Nguyễn Công Khanh đã phát biểu: “Tôi cho rằng, nó (kịchthơ – tác giả luận văn) khó viết nhất trong các bộ môn văn học Hai phần

“kịch” và “thơ” phải hài hoà khăng khít và gần như cân xứng Quá nặng nềkịch tính sẽ giảm chất thơ Quá nghiêng về thơ, kịch sẽ dàn trải, lỏng lẻo và

có thể làm lệch ý của kịch Bằng thơ và chỉ bằng thơ thôi để miêu tả tính cáchnhân vật, hoàn cảnh sự việc, trường hợp, tình tiết, giai đoạn với tất cả nhữngdiễn biến của nó theo chiều hướng khác nhau, nhưng nhất thiết không chệchtuyến đi của kịch Thơ trong kịch có thể nâng kịch cao hơn, có mùi vị riêng,đặc sắc hơn nhưng cũng có thể phá hỏng kịch, kể cả thơ hay…Vì yêu cầukhắt khe như vậy, mà không phải ai cũng viết được kịch thơ và dành thời giantâm huyết cho nó Kịch thơ là thứ “hàng hoá” xa xỉ Mà nhu cầu người xembây giờ hăm hở với nhiều thứ khác ”[48]

1.2 Về vị trí của kịch thơ trong phong trào Thơ mới

1.2.1 Nhu cầu đa dạng hóa tiếng nói nội tâm và sự xuất hiện của kịch thơ trong Thơ mới

Kịch thơ trong phong trào Thơ mới là cụm từ dùng để chỉ những tácphẩm kịch ra đời trong giai đoạn từ 1932 - 1945 và chịu ảnh hưởng sâu sắccủa thế giới quan của các nhà Thơ mới Họ có nhu cầu đa dạng hóa tiếng nóinội tâm của con người cá nhân bằng thể loại dài hơi hơn, có thể giúp họ bày

tỏ cảm xúc một cách tự nhiên, theo dòng suy nghĩ mà các thể loại văn họckhác không diễn đạt hết Theo Phan Huy Dũng thì kết cấu của thơ mới 1932 -

1945 tuân thủ ba nguyên tắc cơ bản Kịch thơ cũng được ông xem thuộc kiểukết cấu thứ ba: “Nhấn mạnh sự tồn tại độc lập của khách thể” - đặc biệt nhấnmạnh loại thơ trữ tình mang hình thức kịch (ông gọi chúng là “thơ kịch” hay

“thơ có hình thức kịch”) Để lí giải cho việc tại sao có sự xuất hiện của thểloại văn học này, nhà nghiên cứu cho rằng: “Phải chăng có thể kể tới lí dothuần túy “kĩ thuật” như tác giả muốn tránh sự đơn điệu của “động tác” trữtình, muốn đưa vào tác phẩm thơ dài nhiều chỗ ngừng nghỉ hơn để độc giả cóthể dễ dàng theo dõi mạch lạc của cảm xúc và để tổ chức nhịp điệu tác phẩm

Trang 27

đa dạng và cuốn hút? Các lý do này hẳn là tồn tại thực, nhưng theo chúng tôi

“tính quan niệm” của hình thức thơ trên chủ yếu phải được giải thích bằngnhu cầu nhận thức của cái tôi cá nhân Cái tôi đó muốn được thấy thế tồn tạiđộc lập của mình giữa cuộc đời giữa thiên nhiên, vũ trụ khi nhà thơ tự biếnmình thành nhân vật thì anh ta được giải thoát khỏi tư cách kẻ phát ngôn chochân lí vĩnh cửu”[9, 138 - 139]

Theo khảo sát của chúng tôi, trong Thơ mới, số lượng các tác giả, tácphẩm kịch thơ khá phong phú Có thể kể đến các vở kịch thơ của các tác giảnhư Yến Lan, Thế Lữ, Lưu Quang Thuận, Vũ Hoàng Chương, Phan KhắcKhoan, Thao Thao…, Quả như nhà nghiên cứu Phan Huy Dũng đã chỉ rõ, cáctác phẩm kịch thơ đã cho thấy nhu cầu đa dạng hóa tiếng nói nội tâm, bộc lộ

tư tưởng, tình cảm và quan điểm sống của các nhà Thơ mới Chẳng hạn trong

tác phẩm Dương Quý Phi nhà thơ mượn lời các nhân vật An Lộc Sơn, Đường

Minh Hoàng để bày tỏ quan niệm về tình yêu, cái đẹp… Mượn lời nhữngnhân vật lịch sử, các nhà viết kịch gửi gắm trực tiếp cảm xúc của người dân

mất nước và lòng căm thù sâu sắc đối với kẻ thù xâm lược như trong Bùi Thị Xuân, Đặng Dung của Thanh Huyền, Hận Nam Quan của Hoàng Cầm… Tác

giả cũng “mượn lời” nhân vật trong kịch thơ để nói lên những tiếng nói nộitâm sâu sắc và những giá trị nhân sinh trong cuộc sống hiện tại, cũng nhưtrong lịch sử Có thể khẳng định, kịch thơ là thể loại đã làm đa dạng, phongphú thêm tiếng nói nội tâm của con người trong thời đại Thơ mới

Trang 28

này đã có cách nhìn mới, lối sống mới, tâm hồn mới, tinh thần tôn trọngquyền sống cá nhân của con người - họ là chủ nhân của nền thi ca mới bắt đầu

từ thập niên 30 của thế kỉ XX Trước hoàn cảnh đó, văn học Việt Nam đứngtrước nhu cầu cấp thiết phải có sự thay đổi để phù hợp với nhu cầu thẩm mĩcủa công chúng và để tồn tại Những văn nghệ sỹ cũng “đứng trước những đòihỏi tìm được lối thoát cho hồn thơ mình,… những điều thúc bách ấy cộnghưởng với nhau, đưa đến sự phát triển đột biến của thơ mà thành tựu là thànhtựu chung của tất cả”[10, 7] Sự phát triển đó là thành quả của cả một quátrình tích lũy và bồi đắp bởi các điều kiện cần và đủ, trong đó có vai trò củachữ quốc ngữ - một loại văn tự tiếng Việt có ý nghĩa rất lớn, sự phát triển củabáo chí, nhà xuất bản và in ấn Ngoài ra còn nhờ vào sự đóng góp của cáchình thức tuyên truyền rộng rãi các hình thức văn hóa - văn học, các hình thứcsinh hoạt văn hóa, văn nghệ mới như diễn kịch, chiếu phim… Bước đầu là sựxuất hiện của văn xuôi với những thành công nhất định và tiếp đó là sự ra đờicủa kịch nói Thơ ca có sự chuẩn bị cách tân từ Tản Đà, rồi cuộc chiến giữahai phái thơ cũ và thơ mới đã gây tiếng vang lớn với thắng lợi vẻ vang thuộc

về thơ mới Sự phát triển vượt bậc của các thể loại: thơ, tiểu thuyết, truyệnngắn, ký sự, phóng sự, kịch…tạo nên một giai đoạn văn học phong phú đadạng với nhiều thành tựu Chính sự đa dạng đó đã tạo nên hiện tượng giaothoa thể loại và sự xuất hiện những thể loại mới Kịch thơ chính là hiện tượng

“hỗn dung” thể loại đó Có người cho rằng kịch thơ Việt Nam giai đoạn nàychịu ảnh hưởng tập trung, nổi bật của hai dòng văn học Pháp và Trung Quốc.Nhưng một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng kịch thơ có nguồn gốc từ loạihình kịch hát truyền thống của người Việt Theo chúng tôi, kịch thơ Việt Namgiai đoạn này, không phải là phép cộng của hai thể loại thơ và kịch, cũngkhông phải có nguồn gốc đơn thuần từ kịch thơ Phương Tây hay ảnh hưởngcủa kịch hát Trung Quốc, hay nguồn gốc từ kịch hát truyền thống Việt Nam,

mà là một thể loại ra đời phù hợp với quy luật phát triển của văn học và chịu

sự ảnh hưởng của cả hai thể loại kịch phương Tây và phương Đông Có thể

Trang 29

nói những tác phẩm kịch thơ ra đời chịu ảnh hưởng nhiều hơn của kịch thơ

Châu Âu, như kịch thơ Huy Thông: Anh Nga(1934) và Tiếng địch sông Ô

(1935) là những tác phẩm kịch thơ đầu tiên có hình thức đặt nền móng chothể loại này Sau những tác phẩm thơ kịch của Huy Thông là sự ra đời củahàng loạt các tác giả với những tác phẩm kịch thơ không chỉ để đọc nữa mà

có thể lưu diễn trên sân khấu như kịch của Phan Khắc Khoan, Thao Thao,Lưu Quang Thuận, Hoàng Cầm,… Có thể khẳng định đến 1945 thì kịch thơ

đã có số lượng lên đến hàng chục tác phẩm tạo thành một “nét” thể loại riêngtrong phong trào Thơ mới

Những vở kịch thơ ra đời trong thời kì này đều chịu những tác độngmạnh mẽ của hoàn cảnh lịch sử giai đoạn này, sự kiểm duyệt của nhà nướcbảo hộ, nên những đề tài lịch nhạy cảm đều bị xem là những tác phẩm chốnglại nhà nước thực dân, nên có thể bị cắt xén nếu muốn đưa lên sân khấu Vìthế mà kịch thơ chỉ có một số đã được vở công diễn cho công chúng Hà thànhxem, còn lại vẫn chỉ là những kịch bản nằm im trong bản thảo

Tóm lại, ra đời cùng với Thơ mới với trào lưu văn học lãng mạn nênkịch thơ cũng chịu ảnh hưởng bởi hoàn cảnh lịch sử xã hội từ những năm đầuthế kỉ XX đầy biến động có nhiều ảnh hưởng tích cực của nhiều luồng tưtưởng tiến bộ của văn hóa, văn học phương Tây, song bên cạnh đó kịch thơvẫn tiếp thu những nét đẹp đặc sắc của sân khấu truyền thống Việt Nam

1.2.1.2 Sự xuất hiện của thể loại kịch thơ trong Thơ mới

Sự xuất hiện của kịch thơ rất phù hợp với quy luật phát triển thể loạicủa văn học Việt Nam Kịch thơ ra đời cùng với phong trào Thơ mới, như làmột bộ phận của Thơ mới Lúc đầu nó được xem là thơ với hình thức kịch,nhưng dần dần trở thành một thể loại văn học tồn tại độc lập, có ý nghĩa trongviệc góp phần phát triển đa dạng thể loại văn học Việt Nam

Từ thế kỉ XX trở về trước, kịch thơ đã phổ biến ở nhiều nước trên thếgiới đặc biệt là các nước phương Tây: Anh, Pháp, Đức, Na Uy… Đến đầu thế

kỉ XX kịch thơ mới du nhập vào nước ta, chủ yếu là qua con đường giao lưu

Trang 30

văn hóa mà trước hết là thông qua các tác phẩm của các tác giả kịch thơ nổitiếng ở Châu Âu thế kỉ XIX như: Victo Hugo và một số nhà viết kịch củaTrào lưu lãng mạn khác…, tiếp sau là công trình nghiên cứu kịch thơ ra đời ở

Châu Âu ở thế kỉ XVIII, thế kỉ XIX như tác phẩm Kịch thơ Pháp (Edmond Rostand), Emile( Paul Frires )… Đây là những tư liệu tiền đề làm cơ sở cho

kịch thơ học tập và phát triển thành thể loại ở Việt Nam

Sân khấu Việt Nam lúc bấy giờ chỉ toàn là kịch hát – chủ yếu là dựavào các làn điệu dân ca có nguồn gốc từ thơ ca dân gian, đến kịch thơ (cũngthể hiện bằng ngôn ngữ thi ca) của các nước du nhập vào thì chúng ta lại tiếpthu, nên càng thuận lợi vì có chọn lọc và cộng hưởng với sân khấu dân gian,nhờ đó chúng ta có những tác phẩm kịch thơ tồn tại một cách độc lập và pháttriển đến giai đoạn sau cách mạng, trở thành một thể loại thực sự có ý nghĩađối với nền văn học nước ta

Có thể kể đến tác giả kịch thơ Việt Nam đầu tiên như Huy Thông vàThao Thao với những vở kịch thơ mang dấu ấn như là gạch nối giữa Thơ mới

và thể loại kịch thơ Đó là Anh Nga, Tiếng địch sông Ô, Bên bờ suối dưới ánh trăng, nhìn chung những tác phẩm này mang đậm chất thơ hơn là kịch.

Dường như các nhà thơ muốn hiện thực hình thức kịch để bày tỏ cảm xúc củamình một cách dễ dàng tuôn chảy hơn, vì vậy mà có nhà nghiên cứu gọi đó là

“thơ kịch” Nhưng đó chỉ là bước mở đầu cho việc hình thành thể loại khámới mẻ này Những năm tiếp theo kịch thơ trở thành một một thể loại thực sự

có diện mạo mới, với nhiều tác phẩm thực sự có giá trị và đã có mặt trên sânkhấu kịch, có những vở kịch thơ đã được dàn dựng nhiều lần và được khángiả Hà Thành và các tỉnh lỵ, trường học ủng hộ nhiệt liệt, “nhiều kịch bản thơđược các nghệ sĩ thi sĩ đọc, diễn xướng trên các thính phòng và thể hiện dướicác hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ thuật tại các câu lạc bộ đáp ứng nhu cầucủa ừng nhóm người, từng gia đình yêu thích kịch thơ”[67, 7] Các tác phẩm

như Bóng giai nhân (Yến Lan - Nguyễn Bính), Dương Quý Phi (Thế Lữ - Vi Huyền Đắc), Huyền Trân Công Chúa (Huy Thông ), Hận Nam Quan, Kiều

Trang 31

Loan (Hoàng Cầm), Lam Sơn họp mặt (Nguyễn Xuân Trân), Trương Chi, Vân Muội (Vũ Hoàng Chương), Trần Can (Phan Khắc Khoan), Quán Biên Thùy (Thao Thao), Lê Lai đổi áo, Người Hoa Lư , Yêu Ly , Hoàng Hậu Ba Tư

(Lưu Quang Thuận)… Thời kì này người ta xem diễn kịch thơ là mốt thờithượng - thú chơi của các nghệ sĩ Nó trở thành hình thức giải trí cao sang,của những người “sành điệu”, nhưng dần dần người bình dân cũng quan tâmđến kịch thơ Không chỉ là một thể loại vì nhờ có số lượng tác phẩm nhiều,

mà bản thân các tác phẩm ấy cũng có chất lượng nghệ thuật thực sự xứng tầm

là một thể loại văn học độc lập Kịch thơ quan tâm đến nhiều vấn đề trong xãhội với nhiều cảm xúc và nguồn cảm hứng khác nhau Các nhà thơ viết nhiều

về các mối tình đẹp giang dở như những cảm xúc nồng nàn như trong Thơmới, với những khát vọng riêng tư của con người về hạnh phúc và tình yêu.Ngoài ra các tác giả còn quan tâm vấn đề dân tộc với tâm trạng hoài cổ, niềm

tự hào dân tộc và gửi gắm lòng yêu nước vào các vở kịch thơ mang nặng cảmhứng yêu nước sâu sắc Ở đây, kịch thơ vẫn tuân thủ quy luật tam duy nhấttrong nghệ thuật và thi ca của Arrixtot Nhưng nó đã mang ra những nét đặctrưng độc đáo bởi nó là những tác phẩm giàu “chất thơ”, “men thơ” của Thơmới, với tính chất trữ tình lãng mạn nồng nhiệt và cảm xúc, chân thực trongtừng tác phẩm Người đọc, người xem có thể cảm nhận thấy hai yếu tố thơ vàkịch, bổ sung cho nhau một nhuần nhị tạo nên vẻ đẹp, sự hấp dẫn của kịch thơgiai đoạn này

1.2.1.3 Những tác giả - tác phẩm kịch thơ tiêu biểu trong Thơ mới

Tác giả Thơ mới có vai trò khởi xướng cho thể loại kịch thơ là nhà thơ

Huy Thông, với nhiều tác phẩm đáng chú ý như Anh Nga (1934), Tiếng địch sông Ô, Tần Hồng Châu, Huyền Trân Công Chúa, Kinh Kha Tác giả thứ hai

phải kể đến là Thao Thao với các tác phẩm thực sự có những bước chuyển

biến mới về thể loại như tác phẩm Quán Biên Thùy và Người mù Đạo Trúc.

Một số tác giả kịch thơ tiêu biểu nữa, đó là Phan Khắc Khoan Ông có nhữngsáng tác mang đậm chất kịch thực sự và giọng thơ đầy bi hùng lãng mạn diễn

Trang 32

tả những mâu thuẫn bi kịch giữa tình yêu và quyền lực Nhà thơ Vũ Hoàng

Chương với hai vở kịch Trương Chi và Vân Muội cũng đã làm phong phú

thêm cá tính của một cái tôi luôn khao khát yêu đương nhưng chạy trốn thựctại, tìm về cõi hư vô mong tìm hạnh phúc… Tác giả có nhiều vở kịch thơ nhất

và thể hiện được tấm lòng tha thiết với lí tưởng khát vọng lớn lao mang tinhthần yêu nước và tự hào về dân tộc là Lưu Quang Thuận, với các tác phẩm

Người Hoa Lư, Yêu Ly… Thế Lữ và Vi Huyền Đắc, tuy có ít tác phẩm hơn nhưng với Dương Quý Phi, hai tác giả cũng đã có một tác phẩm độc đáo,

mang âm hưởng lịch sử thời thịnh Đường và cũng rất hấp dẫn hơn bởi mối

tình tay ba đầy bi kịch Dương Quý Phi thực sự đã công diễn và được nhiều người khẳng định là vở kịch thơ đạt giá trị nghệ thuật cao Tác phẩm Bóng giai nhân từ trước đến nay vẫn được xem là của cả Nguyễn Bính và Yến Lan.

Đây là tác phẩm được nhiều nhà Thơ mới đánh giá cao và đã được công diễnnhiều lần sau ngày ra đời Giá trị thực sự của tác phẩm là ngợi ca cái đẹp vàkhẳng định cái đẹp có sức mạnh vô địch Ngoài ra chúng tôi không thể khôngnhắc đến Hoàng Cầm – thi sĩ Kinh Bắc vừa qua đời cách đây không lâu với

tác phẩm kịch thơ Kiều Loan được dàn dựng lại và giới nghiên cứu kịch hiện

đại đánh giá cao bằng giải thưởng kịch năm 2008 Ngoài ra, ông còn có tác

phẩm Hận Nam Quan cũng là một tác phẩm được đánh giá cao và xem là vở

kịch thấm đượm cảm xúc và đầy chất thơ Các tác phẩm của ông thực sự thểhiện được tinh thần sáng tạo nghệ thuật và lí tưởng của một con người mangnặng tinh thần dân tộc Nhắc đến kịch thơ thời kì này không thể quên tác giả

Thanh Huyền với bộ ba vở kịch thơ Bùi Thị Xuân, Đặng Dung, Nguyễn Thị Kim, đều là những vở kịch lịch sử thể hiện ý chí của những con người trước

hiện thực đau thương, ca ngợi những người anh hùng bằng chất kịch bi tráng

1.2.2 Kịch thơ trong Thơ mới - loại hình kịch lãng mạn

Chủ nghĩa lãng mạn là một trào lưu văn hóa lớn nhất ở Âu - Mĩ cuốithế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ mười XIX, ảnh hưởng rộng rãi đối sự phát

triển của văn học thế giới Từ điển thuật ngữ văn học nhận định: “Các nhà chủ

Trang 33

nghĩa lãng mạn hướng về một thế giới khác thường mà họ tìm thấy trongtruyền thuyết và các sáng tác dân gian, trong các thời đại lịch sử đã qua,những bức tranh kì diệu của thiên nhiên, trong đời sống, sinh hoạt, tập quáncủa các dân tộc và đất nước xa xôi Họ đem đến những ước vọng cao cả vànhững biểu hiện cao nhất của đời sống tinh thần như nghệ thuật, tôn giáo, triếthọc, đối lập với thực tiễn vật chất tầm thường”[17, 86 - 87] Có nghĩa là cácnhà văn lãng mạn có quan niệm riêng về mô hình thế giới trong sáng tạo nghệthuật Họ xem trọng cái tôi cá nhân cô đơn đầy xung đột, thể hiện những khátvọng tự do tách biệt với xã hội, đề cao vai trò của tình cảm, trực giác và vôthức và cũng thể hiện cá tính sáng tạo, trí tưởng tượng phóng khoáng, phủnhận tính quy phạm trong mĩ học và những quy định có tính chất duy lí trongnghệ thuật Các nhà văn phản ứng với thực tại và tìm lối thoát cho mình bằnghai cách: tiêu cực bi quan chán nản với thực tại hoặc luôn tìm về quá khứ vớihoài vọng và tích cực, lạc quan tin vào cuộc sống tương lai với khả năng sángtạo của con người Đại diện tiêu biểu cho loại hình văn học này là: VictoHugo, Chateaubriand, Vigny, Lamartine, Musset

Xét từ góc độ đặc điểm loại hình kịch thơ trong phong trào Thơ mới chủyếu thuộc là loại hình kịch lãng mạn Thế nào là loại hình kịch lãng mạn? Đây

là những vở kịch mang cảm hứng phủ định xã hội đương thời, hay nói cáchkhác là bày tỏ sự bất mãn với hiện thực xã hội, muốn thoát li khỏi cuộc sốngthực tại bằng nhiều hướng - hướng về quá khứ trở về với dĩ vãng: những câuchuyện cổ xưa, những truyền thuyết, nhân vật lịch sử Muốn thoát li, kịch lãngmạn tìm đến những câu chuyện tình yêu thi vị đẹp đẽ nhưng kết cục đau đớnhay tìm đến với những cái đẹp mơ hồ không có thực Nếu kịch cổ điển chỉhướng tới ý thức nghĩa vụ, bóp nghẹt tình cảm riêng tư thì loại kịch lãng mạnlại hướng tới con người toàn diện đặc biệt đi sâu và khát vọng cá nhân, nỗi đaucủa linh hồn và thể xác của con người… Điều này thể hiện rõ trong kịch thơcủa Thơ mới: các tác phẩm đều đề cập đến lí tưởng và khát khao yêu đươngcháy bỏng của các nhân vật kịch và của chính cái tôi thi nhân

Trang 34

Loại hình kịch thơ lãng mạn dựng lên tứ thơ trong thế đối lập, gay gắtgiữa hiện thực và lí tưởng, giữa quá khứ và hiện tại, giữa cá nhân và xã hội,

giữa cái ồn ào của xã hội hiện đại và tự nhiên thanh sạch… Ở Yêu Ly (Lưu Quang Thuận) và Bóng giai nhân (Nguyễn Bính - Yến Lan), Kiều Loan (Hoàng Cầm) hay Quần Tiên hội (Hàn Mặc Tử), Vân Muội (Vũ Hoàng

Chương)… đều cho chúng ta thấy được điều đó Kịch thơ sử dụng những môtíp thường gặp trong văn học lãng mạn, như sự cô đơn, lạc loài, mô típ tan vỡtàn phai, thất bại… Kịch thơ 1932 - 1945 cũng không quên đề cao cái cô độc,kiêu hãnh của cái tôi cá nhân như những cảm xúc đối lập, đối nghịch Có thểthấy rõ điều đó trong kịch của Hàn Mặc Tử và Vũ Hoàng Chương, Thao Thao

và Phan Khắc Khoan Những nhân vật kịch thường rơi vào những cảm xúcđầy mâu thuẫn trong lòng Về ngôn từ của kịch thơ lãng mạn cũng không tuântheo bất kì một khuôn mẫu, gò bó nào Tất cả các thể thơ đều được sử dụngtrong kịch thơ, một vở kịch cũng có thể sử dụng nhiều thể thơ Kịch thơ trongThơ mới sử dụng triệt để hình thức câu thơ điệu nói, vì câu thơ điệu nói chophép nhà viết kịch biểu hiện một cách dứt khoát tư tưởng của con người cánhân Vì thế có thể thấy tất cả các vở kịch thơ đều lựa chọn câu thơ điệu nóigiúp nhân vật thể hiện cá tính riêng, thông qua nhân vật nhà thơ bộc lộ tưtưởng cá nhân của mình Thành phần của lời thơ trữ tình trong kịch thơ cũngrất đa dạng, sử dụng nhiều các hư từ, các cách lập luận, các câu khẩu hiệu,tiếng hô, lời chào Lời thoại giữa các nhân vật có thể là một bài thơ vắt dòngmang tính chất đối đáp, biểu hiện hành động nhân vật Tuy nhiên trong kịchthơ giai đoạn này vẫn vang vọng âm hưởng cổ kính vì cách dùng từ ngữ và hìnhảnh Điều này nhằm tạo nên không gian huyền bí, cổ xưa cho tác phẩm đặc biệtnếu như đề tài là những câu chuyện ở thời quá khứ

Có thể nhận thấy kịch thơ trong phong trào Thơ mới mang những đặctrưng cơ bản của thi pháp lãng mạn, từ cảm hứng nghệ thuật cho đến ý thức

về cái tôi Các tác giả kịch thơ cũng là các nhà Thơ mới lãng mạn, họ muốnthoát khỏi thực tại bằng nhiều cách nhưng chủ yếu hướng đến thời quá khứ,

Trang 35

tưởng vọng quá khứ, ca ngợi những người anh hùng chiến bại, tìm đến cáiđẹp ảo mộng, tìm đến tình yêu như một thứ thiêng liêng nhất mà tất cả conngười từ sang hèn đều hướng tới, như An Lộc Sơn, Đường Minh Hoàng chođến chàng ngư phủ Trương Chi… Họ chạy trốn thực tại bằng những mối tìnhtha thiết ấy.

Có thể khẳng định rằng kịch thơ trong phong trào Thơ mới là loại hìnhkịch lãng mạn Tuy nhiên, dù ra đời trong một thời kì văn học chịu ảnh hưởngmạnh mẽ của văn hóa, văn học Pháp đầu thế kỉ XX, nhưng kịch thơ trong Thơmới không phải là bản sao của kịch lãng mạn Pháp mà chúng có những đặcthù riêng, độc đáo đậm nét truyền thống của văn học Việt Nam

Tiểu kết

Kịch thơ là một thể loại văn học độc đáo Với thể loại văn học này, cáitôi cá nhân Thơ mới có bước đột phá mới trong cách thể hiện - nhà thơ dễdàng bộc lộ nội tâm phong phú của mình một cách sâu sắc bằng những lờithoại đầy xúc cảm Nói theo nhà nghiên cứu Phan Huy Dũng thì: “Nhà thơ tựbiến thành mình thành nhân vật thì anh ta được giải thoát khỏi tư cách là kẻ phátngôn cho những chân lý vĩnh cửu Lúc này anh ta chỉ có trách nhiệm nói lên tiếngnói thật và những rung động trực tiếp, tức thời của mình trước khách thể nào đó

mà thôi.”[9, 139] Trong phong trào Thơ mới, kịch thơ thực sự đã trở thànhmột thể loại văn học độc đáo với sự kết hợp lí giữa các yếu tố tự sự và trữtình, giữa kịch và thơ Kịch thơ với tư cách một thể loại văn học, đã làmphong phú thêm nền văn học Việt Nam hiện đại

Trang 36

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA KỊCH THƠ TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI TRÊN PHƯƠNG DIỆN

ĐỀ TÀI, NHÂN VẬT, XUNG ĐỘT, NGÔN NGỮ

2.1 Các đề tài nổi bật trong kịch thơ của Thơ mới

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì đề tài: “Là một khái niệm chỉ loại

hiện tượng đời sống miêu tả phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học Đề tài

là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm”[17, 110] Lí luận văn học (Trần Đình Sử chủ biên) cũng khẳng định: “Đề tài của tác phẩm là một

phương diện nội dung của tác phẩm, là đối tượng của nhận thức, kết quả của

tư duy của nhà văn Đó là sự khái quát phạm vi xã hội lịch sử của đời sốngđược phản ánh trong tác phẩm Đề tài (là cái được nói tới) là sự thống nhất về

ý nghĩa của các yếu tố của tác phẩm Cũng có thể hiểu đề tài như một quan hệ

ý nghĩa, một loại trọng tâm chi phối ý nghĩa của ngôn từ”[48, 192 - 193] Từ

đó, chúng ta thấy được vai trò thực sự của đề tài trong đời sống văn học.Nhưng một tác phẩm văn học không chỉ có một đề tài mà có thể có nhiều đềtài - “hệ thống đề tài”, bổ sung cho nhau làm nên những giá trị thực sự của tácphẩm Trong một tác phẩm văn học, các đề tài không tồn tại tách rời nhau màchúng có thể lồng vào nhau Nhìn chung, kịch thơ của Thơ mới có hai đề tàichủ yếu: đề tài lịch sử - xã hội và đề tài tình yêu đôi lứa

2.1.1 Đề tài lịch sử - xã hội

Có thể khẳng định, đề tài về lịch sử xã hội là một đề tài nổi bật trongcác tác phẩm kịch thơ của các tác giả Thơ mới Hoài Việt đã nhận định:

“Trước Cách mạng, các tác giả viết kịch thơ thường lấy đề tài từ trong lịch sử

dân tộc như Người Hoa Lư của Lưu Quang Thuận, Lý Chiêu Hoàng của Phan Khắc Khoan, Hận Nam Quan của Hoàng Cầm, Lam Sơn họp mặt của Nguyễn Xuân Trâm, từ trong dã sử hoặc cổ tích truyền thuyết như: Quán Thăng Long

Trang 37

của Lưu Quang Thuận, Trương Chi của Vũ Hoàng Chương hoặc từ trong lịch

sử, dã sử của Trung Quốc như Người mù đạo trúc của Thao Thao, Dương Quý Phi của Thế Lữ, Kinh Kha của Huy Thông …”[67, 6] Đây không phải là

điều chỉ có ở kịch thơ Việt Nam, mà ngay trong các tác phẩm kịch thơ nổi

tiếng thế giới cũng lấy đề tài từ lịch sử và truyền thuyết, ví dụ như Hamlet của

Shakespeare cũng đã lấy từ một truyền thuyết lịch sử Đan Mạch Kể cả nhữngsáng tác kịch thơ ra đời sau Cách mạng tháng Tám cũng lấy đề tài lịch sử xãhội làm đề tài trung tâm Những tác phẩm của kịch thơ của các tác giả nhưNguyễn Đình Thi, Hoàng Công Khanh, Trúc Đường, Trần Lê Văn cũng là đềtài lịch sử cách mạng và nhân vật lịch sử nổi tiếng như Nguyễn Huệ, NguyễnTrãi, An Dương Vương…

Dùng các đề tài lịch sử, các nhà thơ nhằm mục đích thể hiện tư tưởng,thái độ xã hội của mình trước hiện thực đời sống lúc bấy giờ Đây là cách bộc

lộ tư tưởng một cách dễ dàng và kín đáo nhất Các vấn đề xã hội được đưa ranhằm thể hiện khát vọng của cái tôi cá nhân, tình yêu quê hương, đất nước,quan điểm sống và cống hiến, ngợi ca những người anh hùng và qua đó rút rabài học cho cuộc sống hoặc trong đấu tranh cách mạng…

Với đề tài lịch sử - xã hội, kịch thơ trong phong trào Thơ mới có nhiềutác phẩm giá trị Ngoài nhưng tác phẩm Hoài Việt đã nhắc đến còn phải kể

đến các tác phẩm: Quán Biên Thùy của Thao Thao, Trần Can của Phan Khắc Khoan, Yêu Ly của Lưu Quang Thuận, Tần Hồng Châu, Huyền Trân Công Chúa của Huy Thông, Bùi Thị Xuân, Đặng Dung, Nguyễn Thị Kim của Thanh

Huyền… Những tác phẩm kịch thơ lấy các yếu tố: tích chuyện dã sử, nhân vậtlịch sử, sự kiện lịch sử đưa vào tác phẩm tạo nên hình tượng kịch hấp dẫn,mang màu sắc riêng của thể loại văn học này

Ở phương diện lịch sử, có thể nhận ra rằng các tác giả kịch thơ trongphong trào Thơ mới đã sử dụng nhiều sự kiện trong lịch sử để nhằm tạo nênsức hấp dẫn, chân thực của của tác phẩm Đây là nét cảm hứng chung của cácnhà Thơ mới - hoài cổ, chạy trốn thực tại và tìm cái đẹp, cái lí tưởng từ quá

Trang 38

khứ Đó là vẻ đẹp của Dương Quý Phi, những câu chuyện lãng mạn về tìnhyêu, như mối tình tay ba gây nên sóng gió lịch sử của Đường Minh Hoàng,

An Lộc Sơn, sự hi sinh vì nước của nàng công chúa thời Trần hay Lý ChiêuHoàng - vị nữ hoàng duy nhất của nền quân chủ chuyên chế ở nước ta, bảnlĩnh của nữ tướng Bùi Thị Xuân Những anh hùng lịch sử của dân tộc nhưNguyễn Trãi, Đinh Bộ Lĩnh,… Những nhân vật lịch sử của Trung Hoa với

những câu chuyện ngoài sử sách tạo nên nét huyền bí cho tác phẩm như Yêu

Ly, Kinh Kha…

Những sự kiện lịch sử được đưa vào kịch thơ với vai trò đặc biệt quantrọng là tạo nên không khí cổ xưa và sức lôi cuốn, chân thực, làm sống lạitrong lòng người đọc người xem một thời đại của quá khứ Cuộc chiến loạngây ra nhiều tang thương cho lịch sử Trung Quốc thời Đường - loạn An LộcSơn, sự mục ruỗng bên trong lòng chế độ phong kiến Trung Hoa Các cuộcchiến loạn thời cổ đại nhằm tiêu diệt lẫn nhau giữa các tập đoàn phong kiếnthời Xuân Thu Chiến Quốc… đều được đưa vào kịch thơ một cách khéo léo

Những sự thực lịch sử của Việt Nam cũng được tái hiện lại trong các vởkịch thơ một cách sống động nhất: đó là không khí của thời đại Lí Trần được táihiện thông qua hai câu chuyện về hai người phụ nữ quý tộc Lí Chiêu Hoàng vàHuyền Trân Công Chúa Qua hai tác phẩm chúng ta có thể thấy được công cuộcchấn hưng triều đại, mở rộng bờ cõi xây dựng đất nước ở một thời kì lịch sử Hìnhảnh của những người anh hùng trong lịch sử dân tộc, linh hồn của các cuộc khởinghĩa, có lí tưởng yêu nước, chống giặc, trả thù nước, nợ nhà như: Đinh Bộ Lĩnh,Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân, Đặng Dung … Tất cả đều được xâydựng trong tác phẩm để tạo nên không khí sử thi trong kịch thơ Mặt khác, vớinhững sự kiện, nhân vật, địa danh lịch sử đã tạo nên cho các tác phẩm có giá trị cổ

vũ tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc

Kịch thơ cũng đã làm sống lại những nhân vật lịch sử như: ĐườngMinh Hoàng, vị vua sống ở thời Thịnh Đường phải đối đầu với hai cuộc nổiloạn của Sử Tư Minh và An Lộc Sơn Khi trở thành nhân vật trong kịch thơ

Trang 39

Dương Quý Phi (Thế Lữ - Vi Huyền Đắc) thì Đường Minh Hoàng thực sự

như được sống lại không chỉ như là ông vua đầy uy quyền mà còn là một kẻ sitình hết lòng yêu thương người vợ của mình - người đẹp Dương Quý Phi và

có lúc sẵn sàng từ bỏ ngai vàng, mạng sống của mình vì nàng Hành động vàlời thoại của nhân vật bộc lộ rất rõ tình yêu và nỗi tuyệt vọng trước cái chếtcủa người ái phi:

Quý Phi! Quý Phi! Quý Phi!

Trời ơi! Sao em nỡ… can chi

Mà em phải, mà em đành hủy hoại Tấm thân nhường này! Trời hỡi!

Chỉ vì ta mà mà ánh sáng ngọc chìm Bình ngọc tan, gương thề vỡ

Ta đem em tới đây tới đường bức tử…

Dương Ngọc Hoàn ! Dương Ngọc Hoàn! Ôi cay đắng! (Đường Minh Hoàng ngất đi…)

Nhân vật Dương Quý Phi được nhà thơ ca ngợi không chỉ ở vẻ đẹpngoại hình mà còn được xây dựng như là biểu trưng cho vẻ đẹp trần thế - rấtngười Tác giả ca tụng tình yêu đôi lứa với quy luật tự nhiên, tất yếu của tìnhcảm con người, không kể hèn sang hay địa vị An Lộc Sơn một nhân vật lịch

sử - tên “giặc cỏ” đã gây bao sóng gió cho triều đại nhà Đường, khi các tácgiả đưa vào kịch thơ đã đem đến cho chúng ta những bất ngờ, bởi tính cáchcon người và đặc biệt là tình yêu thiết tha mà nhân vật này dành cho DươngNgọc Hoàn Lịch sử khi đi vào văn chương qua nhãn quan lãng mạn chủnghĩa của nhà văn đã biến An Lộc Sơn, từ một tên phiến loạn ham mê quyềnlực trong lịch sử Trung Hoa trở thành một kẻ si tình

Ngoài ra, các nhân vật như Yêu Ly của Lưu Quang Thuận hay KinhKha của Thao Thao đều là những tráng sĩ thời Chiến Quốc trong lịch sửTrung Hoa Những nhân vật này cũng được lịch sử Trung Quốc nhắc đến nhưnhững con người anh hùng của một thời đại cổ xưa, những “thích khách” nổi

Trang 40

tiếng làm nên những huyền thoại và trở thành những biểu tượng về lòng quảcảm trong văn chương, được truyền tụng cho đến tận ngày nay Hai nhà viếtkịch thơ đã lựa chọn các nhân vật đưa vào tác phẩm mình bằng cách lấynhững sự kiện trong dã sử và xây dựng nó theo mục đích nghệ thuật riêng.

Yêu Ly của Lưu Quang Thuận đã dựng lại chân dung của một nhân vật trọng

nghĩa và có lí tưởng, có tài năng và tình cảm nhưng phải hi sinh hạnh phúcgia đình để tiêu diệt kẻ thù Nhưng nhà văn không chỉ đưa đến cho người đọchình ảnh một sát thủ lạnh lùng mà còn đưa đến cho người đọc hình ảnh mộtcon người cha, người chồng hết mực yêu vợ thương con và chịu nhiều ám ảnh

vì hình ảnh cái chết đầy oan nghiệt của họ Khai thác mảng đề tài lịch sử này,tác giả đã cho chúng ta thấy cuộc sống đầy biến động của lịch sử Trung Quốcthời kì Xuân Thu Chiến Quốc, những cuộc ganh đua sát phạt lẫn nhau của cáctập đoàn phong kiến lúc bấy giờ nhằm tước đoạt quyền lực và lãnh thổ Đồngthời, chắc hẳn đằng sau câu chuyện đó, tác giả cũng muốn phản ánh một thờiđại đầy biến động của lịch sử nước ta lúc bấy giờ

Những người anh hùng trong lịch sử dân tộc cũng được đưa vào các tácphẩm kịch thơ với dụng ý nghệ thuật khác nhau Những nhân vật như Nguyễn

Trãi trong tác phẩm Hận Nam Quan của Hoàng Cầm, hay Trần Can của Phan Khắc Khoan, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Thị Kim, Đặng Dung của Thanh Huyền

đều là những nhân vật lịch sử Các tác giả không chỉ khai thác ở phẩm chấtcủa con người anh hùng mà còn khắc họa con người cá nhân với cá tính vàtính cách của một con người độc lập, lãng mạn, kiên trung và yêu cái đẹp.Không chỉ có thế thông qua đề tài về người anh hùng trong lịch sử, tác giả tái

hiện lại từng thời điểm lịch sử của dân tộc ta Với Hận Nam Quan độc giả có

thể thấy tinh thần dân tộc trong cảnh loạn li, tang tóc của đất nước ta thời kìgiặc Minh đô hộ, song cũng cho người đọc thấy được bên cạnh con người anhhùng chí lớn là hình ảnh con người với cảm xúc đời thường như yêu cái đẹp,quý cuộc sống, trân trọng tình cảm gia đình, tình cảm riêng tư Đặc biệttrong bộ ba kịch thơ của Thanh Huyền, ba nhân vật lịch sử thời kì cuối Trần -

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristote, Lưu Hiệp (1999), Nghệ thuật thơ ca và Văn tâm điêu long, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca và Văn tâm điêu long
Tác giả: Aristote, Lưu Hiệp
Nhà XB: NxbVăn học
Năm: 1999
2. Lại Nguyên Ân (1999), Thơ mới 1932-1945 tác giả và tác phẩm, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới 1932-1945 tác giả và tác phẩm
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Hộinhà văn
Năm: 1999
3. Nguyễn Phan Cảnh (2004), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
4. Roland Barthes (2008), “Cái chết của tác giả”, Phan Luân dịch, Nghiên cứu văn học (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái chết của tác giả”, Phan Luân dịch, "Nghiên cứuvăn học
Tác giả: Roland Barthes
Năm: 2008
5. Hoàng Cầm (2008), “Ai là tác giả của kịch thơ Bóng giai nhân” http/vannghesongcuulong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ai là tác giả của kịch thơ "Bóng giai nhân
Tác giả: Hoàng Cầm
Năm: 2008
6. Huy Cận, Hà Minh Đức (1997), Nhìn lại cuộc cách mạng trong thi ca (60 năm phong trào Thơ mới), Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại cuộc cách mạng trong thi ca (60năm phong trào Thơ mới
Tác giả: Huy Cận, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1997
7. Ralph.Cohen (2007), “Hướng mở cho nghiên cứu thể loại”, Trần Hải Yến dịch, Nghiên cứu Văn học (8), 73-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng mở cho nghiên cứu thể loại”, Trần Hải Yếndịch, "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Ralph.Cohen
Năm: 2007
8. Phạm Thị Chiên (2005), Xung đột trong kịch Lưu Quang Vũ, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung đột trong kịch Lưu Quang Vũ
Tác giả: Phạm Thị Chiên
Năm: 2005
9. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình (Nhìn từ góc độ loại hình), Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (Nhìn từ góc độ loại hình
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
10. Phan Huy Dũng, Lê Huy Bắc (2008), Thơ mới trong trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới trong trường phổ thông
Tác giả: Phan Huy Dũng, Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
11.Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn học trong nhà trườg phổ thông một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học trong nhà trườg phổ thông mộtgóc nhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
12. Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân, Lương Duy Trung, Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Văn Chính, Phùng Văn Tửu (1997), Văn học Phương Tây, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn họcPhương Tây
Tác giả: Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân, Lương Duy Trung, Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Văn Chính, Phùng Văn Tửu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
13. Phan Cự Đệ (2002), Hàn Mặc Tử tác phẩm phê bình và tưởng niệm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử tác phẩm phê bình và tưởng niệm
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NxbVăn học
Năm: 2002
14. Phan Cự Đệ (2006), Tuyển tập Phan Cự Đệ, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội 15. Phan Cự Đệ (2006), Tuyển tập Phan Cự Đệ, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Phan Cự Đệ, "tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội15. Phan Cự Đệ (2006), "Tuyển tập Phan Cự Đệ
Tác giả: Phan Cự Đệ (2006), Tuyển tập Phan Cự Đệ, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội 15. Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
16. Phan Cự Đệ (2006), Tuyển tập Phan Cự Đệ, tập 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Phan Cự Đệ
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
17. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật vănhọc
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
18. Lê Bá Hán, Lê Quang Hưng, Chu Văn Sơn (2005), Tinh hoa thơ mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa thơ mới
Tác giả: Lê Bá Hán, Lê Quang Hưng, Chu Văn Sơn
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2005
19. Hoài Hương (2005), “Hồi âm kịch thơ Hoàng Cầm”, Báo tuổi trẻ, http://vietbao.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi âm kịch thơ Hoàng Cầm
Tác giả: Hoài Hương
Năm: 2005
20. Nguyễn Thị Hằng (2005), Hiện tượng cộng sinh giữa thể loại văn xuôi và thơ thời kỳ 1900-1945, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân khoa học, Trường Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng cộng sinh giữa thể loại văn xuôi vàthơ thời kỳ 1900-1945
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2005
21. Hoàng Ngọc Hiến (2003), Nhập môn văn học và phân tích thể loại, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn văn học và phân tích thể loại
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: NxbĐà Nẵng
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w