Lý do chọn đề tài Trong Việt ngữ học ẩn dụ được xem xét từ hai góc độ: ẩn dụ là đối tượng nghiên cứu của từ vựng học tức là ẩn dụ là một trong những phương thức chuyển nghĩa cơ bản của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
- -
VƯƠNG VĂN HUY
ĐẶC ĐIỂM CỦA ẨN DỤ TRONG TẬP THƠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội – 05/2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
- -
VƯƠNG VĂN HUY
ĐẶC ĐIỂM CỦA ẨN DỤ TRONG TẬP THƠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 60 22 01 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU ĐẠT
Hà Nội – 05/2013
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
3.1 Mục đích 7
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 7
5.1 Ý nghĩa lý luận 7
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 8
6 Bố cục của luận văn 8
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
1.1 Vài nét về thân thế và sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Trãi 9
1.2 Một số đặc điểm của ngôn ngữ thơ 10
1.2.1 Đặc điểm của ngôn ngữ thơ ca Việt Nam 11
1.2.2 Đặc điểm của ngôn ngữ thơ ca Việt Nam trung đại 15
1.3 Một vài vấn đề lý thuyết về phép ẩn dụ 21
1.3.1 Khái niệm về ẩn dụ 21
1.3.2 Các xu hướng nghiên cứu về ẩn dụ 24
Chương 2 : 38
ẨN DỤ TỪ VỰNG TRONG "QUỐC ÂM THI TẬP" 38
2.1 Tình hình sử dụng ẩn dụ từ vựng trong “Quốc âm thi tập” 38
2.2 Miêu tả và phân tích 40
2.2.1 Ẩn dụ hình thức 40
2.2.2 Ẩn dụ cách thức 50
2.2.3 Ẩn dụ dựa vào quan hệ “ cụ thể - trừu tượng ” 54
Tiểu kết 61
Chương 3 : 63
ẨN DỤ TU TỪ TRONG "QUỐC ÂM THI TẬP" 63
3.1 Tình hình sử dụng ẩn dụ từ vựng trong “Quốc âm thi tập” 63
3.2 Miêu tả và phân tích 64
3.2.1 Nhóm ẩn dụ nói về thiên nhiên 65
3.2.2 Nhóm ẩn dụ nói về thế sự 75
3.2.3 Nhóm ẩn dụ nói về người quân tử 81
Tiểu kết 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 Phụ lục Error! Bookmark not defined
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong Việt ngữ học ẩn dụ được xem xét từ hai góc độ: ẩn dụ là đối tượng nghiên cứu của từ vựng học (tức là ẩn dụ là một trong những phương thức chuyển nghĩa cơ bản của đơn vị từ vựng dựa vào mối tương đồng giữa đối tượng và sự vật) và ẩn dụ là đối tượng nghiên cứu của phong cách học (tức là ẩn dụ là một biện pháp tu từ nhằm tạo nên những biểu tượng trong nhận thức của con người) Ẩn dụ không chỉ có giá trị gợi hình, là phương tiện xây dựng hình tượng mà còn chứa sức mạnh biểu cảm Bởi vậy ẩn dụ được sử dụng rộng rãi trong nhiều phong cách ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ thơ ca
Ẩn dụ thể hiện rõ phong cách của tác giả, phong cách thời đại và phong cách dân tộc Mỗi nhà thơ có cách nhìn nhận và phản ánh thế giới theo cách riêng của mình Nghiên cứu ẩn dụ trong tác phẩm văn học chúng
ta có thể tìm hiểu thế giới nghệ thuật của nhà thơ
Nguyễn Trãi là đại thi hào dân tộc Từ trước đến nay khi nghiên cứu văn thơ Nguyễn Trãi, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào mảng văn
“trị quốc”, mà chưa có ai đề cập tới phương diện ẩn dụ trong thơ ông Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Đặc điểm của ẩn
dụ trong tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi để nghiên cứu Đó chính
là lý do cho sự ra đời của đề tài
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các ẩn dụ xuất hiện trong tập
thơ chữ Nôm “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi, gồm 254 bài ( NxB Khoa
học xã hội, năm 1969 )
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 53.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là tìm hiểu cách sử dụng phương thức ẩn dụ
trong tập thơ “Quốc âm thi tập” Qua đó, chúng tôi muốn đi tìm giá trị
phong cách nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trãi
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Miêu tả và phân loại các ẩn dụ trong tập thơ “Quốc âm thi tập” Đồng
thời phân tích ý nghĩa của các ẩn dụ để thấy được giá trị và phong cách nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trãi
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây :
4.1 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả các loại ẩn dụ xuất hiện
trong “Quốc âm thi tập” và thống kê về mặt số lượng để thấy được mức độ
phổ biến của từng loại ẩn dụ Trên cơ sở tập hợp ngữ liệu về các loại ẩn dụ
đó, đề tài tiến hành phân loại chúng thành các tiểu loại theo các chủ đề và tìm tần số xuất hiện của chúng
4.2 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa, phân tích tu từ
Các phương pháp này được sử dụng khi phân tích ý nghĩa biểu tượng
Từ đó có thể rút ra được những nhận xét về đặc điểm của phương thức ẩn dụ
trong “Quốc âm thi tập” trong thơ Nguyễn Trãi
Đây là công trình đầu tiên khảo sát một cách hệ thống các hiện tượng
ẩn dụ trong tập thơ “Quốc âm thi tập” theo quan điểm lí thuyết của từ vựng
Trang 6học và phong cách học Các kết quả nghiên cứu của luận văn giúp chúng ta
thấy được phương thức hình thành ẩn dụ trong “Quốc âm thi tập” Đồng
thời, các kết quả nghiên cứu cũng giúp thấy thêm được cái hay cái đẹp và sự uyên bác trong cách dùng từ đặt câu của Nguyễn Trãi Điều này rất có ý nghĩa đối với việc tìm hiểu phong cách thi ca của Nguyễn Trãi cũng như có
ý nghĩa đối với việc khắc họa đầy đủ và hoàn chỉnh chân dung con người Nguyễn Trãi, một thi nhân, một nho sĩ, một ẩn sĩ
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu thu được của đề tài sẽ có những tác dụng nhất định đối với sinh viên và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực văn học, ngôn ngữ học, triết học, tâm lí học,… Đồng thời những đóng góp này phần nào sẽ giúp cho các độc giả Việt Nam có thêm hiểu biết và cách nhìn về ẩn dụ với
sự hành chức của nó trong văn thơ nói chung và trong " Quốc âm thi tập " nói riêng
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lí thuyết
Chương 2 : Ẩn dụ từ vựng trong “Quốc âm thi tập”
Chương 3 : Ẩn dụ tu từ trong “Quốc âm thi tập”
Trang 7Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Vài nét về thân thế và sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380 tại Thăng Long, mất ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất ( tức ngày 19 tháng 9 năm 1442 ), thọ 63 tuổi
Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, Nguyễn Trãi là một quân
sư tài năng đã giúp Lê Lợi hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước
Năm 1428, cuộc kháng chiến thắng lợi Lê Lợi lên ngôi vua, phong cho Nguyễn Trãi làm Quan phục hầu
Năm 1442, Nguyễn Trãi và toàn gia bị sát hại trong vụ án Lệ chi viên Hai mươi năm sau, vào năm 1464 vua Lê Thánh Tông đã ban chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, là nhà quân sự thiên tài, là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị
Các tác phẩm văn bằng chữ Hán gồm:
" Quân trung từ mệnh tập”( là những thư từ gửi cho các tướng
giặc và những giấy tờ giao thiệp với triều đình nhà Minh, nhằm thực hiện kế " đánh vào lòng " )
" Bình Ngô đại cáo" ( tuyên bố trước thiên hạ về chính nghĩa
quốc gia, dân tộc, về quá trình chiến đấu gian nan để đi đến chiến thắng vĩ đại cuối cùng giành lại giang sơn )
"Lam Sơn thực lục" ( là cuốn sử về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn )
"Dư địa chí” ( viết về địa lý lịch sử nước ta )
Trang 8"Chí Linh sơn phú" ( nói về cuộc chiến đấu chống giặc Minh
gian khổ và hào hùng )
Về thơ, có hai tập : "Ức trai thi tập" được viết bằng chữ Hán và
“Quốc âm thi tập” được viết bằng bằng chữ Nôm " Quốc âm thi tập" là tập
thơ Nguyễn Trãi sáng tác từ lúc còn trẻ đến khi về già; và được viết nhiều trong khoảng thời gian ông về nghỉ ở Côn Sơn Nội dung trong tập thơ này
là tâm tình đối với quê hương, gia đình, với đất nước, với dân tộc…
1.2 Một số đặc điểm của ngôn ngữ thơ
Văn học là sản phẩm trí tuệ của con người Thơ ca là hiện tượng độc đáo của văn học Thơ ca độc đáo ở chính cơ chế vận hành bộ máy ngôn ngữ của nó Mọi hiện tượng thơ ca đều chứa đựng trong nó các yếu tố cảm xúc, thẩm mỹ cũng như mơ ước, khát vọng của con người muốn hướng tới chân – thiện – mỹ Thơ ca là vẻ đẹp của cuộc sống được biểu hiện một cách tập trung nhất, khái quát nhất
Nếu như văn xuôi có thể dùng một cách tùy ý và vô hạn các đơn vị ngôn ngữ để thể hiện, biểu đạt nội dung cần truyền tải thì thơ ca lại khác Thơ ca chỉ cần một số lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện vô vàn các sự kiện của cuộc sống Bên cạnh đó, thơ ca còn có thể lột tả được một cách tài tình những điều thầm kín trong sâu thẳm tâm hồn của con người
Thơ ca dù tồn tại dưới dạng nào cũng vẫn là văn bản Đó có thể là văn bản bằng lời hay văn bản viết Theo cách nói của I.R.Galperin thì nó là một
“ tác phẩm của quá trình sáng tạo lời mang tính hoàn chỉnh ” [12, tr19]
Vì là văn bản nên thơ ca cũng có những đặc trưng quan trọng như sau :
Trang 9Thư nhất, nó là một thể thống nhất hoàn chỉnh, tức là một thông báo hoàn chỉnh Nhờ điều này mà nó có khả năng hướng tới một chủ đề, một tên gọi chung Muốn đảm bảo được tính thống nhất hoàn chỉnh thì văn bản thơ phải có tính liên kết chặt chẽ - đây chính là đặc trưng thứ hai
Theo tác giả Hữu Đạt, có thể quan niệm : “Thơ là một thể loại của văn học được trình bày bằng hình thức ngắn gọn, súc tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất, dưới dạng các hình tượng nghệ thuật” [12, tr25]
1.2.1 Đặc điểm của ngôn ngữ thơ ca Việt Nam
Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ hàm súc, giàu hình tượng, biểu cảm và giàu sức tưởng tượng Các yếu tố đó hòa quện vào nhau tạo nên hình tượng thơ lung linh, đa nghĩa Đó là thứ ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm góp phần tạo nên tính họa, tính nhạc trong thơ Nó biến hóa qua nhiều sắc thái ảo thực bất ngờ, thú vị
Tác giả Hữu Đạt đã viết “ Khác với văn xuôi, thơ ca chỉ dùng một lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống bao gồm các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng như những điều thầm kín trong tâm linh con người ” [12, tr6]
Khi nói về đặc điểm của ngôn ngữ thơ người ta thường nói tới 3 đặc điểm sau :
1) Sự chính xác trong ngôn từ : Mỗi từ ngữ trong câu thơ phải diễn tả được đúng điều mà nhà thơ nhìn thấy, cảm thấy và những điều sẽ thấy
Xét ví dụ sau :
Trang 10Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ sau ngã giá vàng ngoài bốn trăm
( Truyện Kiều – Nguyễn Du )
Tác giả Truyện Kiều đã sử dụng từ cò kè rất hiệu quả, bởi nó lột tả
đúng bản chất con buôn ( buôn người ) của Mã giám sinh, và qua đó cũng vạch trần được bộ mặt thật của Mã giám sinh Tuy nhiên, nói tính chính xác của từ ngữ trong thơ ca có khi mang tính tuyệt đối, có khi chỉ là tương đối
2) Tính biểu cảm : Là sự bộc lộ cảm xúc ( trực tiếp hoặc gián tiếp ) của nhà thơ Đó là các cung bậc: ái, ố, hỉ, nộ của lòng người
Xét ví dụ sau :
“ Khúc đâu đầm ấm dương hòa,
Ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh
Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên ?
Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông !
Lọt tai nghe suốt năm cung,
Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao ”
( Truyện Kiều – Nguyễn Du ) Qua khổ thơ này người nghe có thể thấy được trong tiếng đàn của Thúy Kiều cái ấm áp, êm ái của buổi đoàn viên, không còn sự ảo não thê lương như thuở đầu gặp Kim Trọng
Trang 11Bên cạnh những đặc điểm chung nhất này của ngôn ngữ thơ ca, thơ ca Việt Nam còn có những đặc điểm nổi bật sau :
1) Tính hình tượng
Theo [11, tr129], tính hình tượng “ là cái tồn tại phụ thuộc vào văn cảnh, nó tồn tại ở bề mặt văn bản, trên những mối quan hệ cụ thể ” Trong thi ca, những kết hợp bất ngờ bao giờ cũng làm tiền đề cho việc tạo ra tính hình tượng
Xét ví dụ sau :
Ô hay tôi lại nhớ thu rồi …
Mùa thu rớm máu rơi từng chút
Trong lá bàng thu đỏ ngập trời
Đường về thu trước xa lắm lắm,
Mà kẻ đi về chỉ một tôi !
( Chế Lan Viên )
Ta có thể thấy câu “ Mùa thu rớm máu rơi từng chút ” có tính hình
tượng bởi sự kết hợp bất ngờ giữa các đơn vị ngôn ngữ tạo thành là giữa chủ
ngữ và vị ngữ Cụ thể là, động từ làm vị ngữ rớm máu vốn chỉ đi với chủ thể
là sinh vật làm chủ ngữ nhưng đã được nhà thơ cho kết hợp bất ngờ với một
đối tượng trừu tượng vô sinh mùa thu
2) Tính tương xứng
Đây là một trong những đặc điểm vô cùng quan trọng của ngôn ngữ thơ ca Việt Nam Đây là yếu tố đảm bảo cho thơ có một vẻ đẹp đặc biệt, vẻ đẹp của sự hài hòa Người ta có thể tiếp cận tính tương xứng trong thơ về
Trang 12mặt ngôn ngữ từ nhiều góc độ khác nhau Ta có thể phân loại tính tương xứng qua các góc độ nghiên cứu trên thành các loại :
- Tính tương xứng về âm thanh trong ngôn ngữ thơ
- Tính tương xứng về ý nghĩa trong ngôn ngữ thơ
- Tính tương xứng trực tiếp và tính tương xứng gián tiếp trong ngôn ngữ thơ
3) Tính nhạc trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam
Tiếng Việt có một đặc điểm là giàu có về nguyên âm, phụ âm và thanh điệu Độ dài của các âm tiết trong tiếng Việt thường ngắn và bao giờ cũng tách rời nhau Đặc điểm này đã tạo ra cho tiếng Việt ưu thế về tính nhạc hơn hẳn các thứ tiếng có số lượng nguyên âm, phụ âm ít và không có thanh điệu
Trong nền thi ca Việt Nam có không ít bài thơ đã được phổ nhạc Chính tính giàu khả năng biểu hiện của các đơn vị ngôn ngữ trong tiếng Việt cũng như giá trị gợi hình của chúng là một cơ sở vật chất quan trọng giúp cho các nghệ sĩ tìm tòi, phát triển và sáng tạo ra những hình tượng âm nhạc phong phú Có thể kể ra ở đây một loạt các bài thơ đã được phổ nhạc thành bài hát : Mùa xuân nhỏ nhỏ ( thơ Thanh Hải, nhạc Trần Hoàn ), Viếng lăng Bác ( thơ Viễn Phương, nhạc Hoàng Hiệp ), Tiếng đàn bầu ( thơ Lữ Giang, nhạc Nguyễn Đình Phúc ), Đường chúng ta đi ( thơ Xuân Sách, nhạc Huy
Du ) …
4) Đặc điểm về phong cách của nhà thơ
Khi nới tới đặc trưng của ngôn ngữ thơ, người ta không thể không nói tới đặc điểm phong cách của nhà thơ Đặc điểm về phong cách của nhà thơ
sẽ trực tiếp chi phối việc sử dụng ngôn ngữ trong thơ Sự khác nhau về cách
Trang 13thức miêu tả đối tượng sẽ làm cho các nhà thơ tìm đến các bút pháp khác nhau để xây dựng tác phẩm của mình Từ đó sẽ nảy sinh ra những đặc trưng riêng của từng tác giả và của các tác giả ở từng thời kỳ nhất định
Trong phong trào thơ Mới chúng ta có thể thấy được rất nhiều phong
cách thơ độc đáo : phong cách thơ Lưu Trọng Lư ( mơ màng như Lưu Trọng
Lư ), phong cách thơ Chế Lan Viên ( kỳ dị như Chế Lan Viên ), phong cách
thơ Nguyễn Bính ( quê mùa như Nguyễn Bính ) … [28, tr29]
5) Chơi chữ, một đặc điểm độc đáo của ngôn ngữ thơ ca Việt Nam Tiếng Việt là thứ tiếng giàu âm thanh và ý nghĩa Đây là mảnh đất màu mỡ giúp cho các nhà nghệ sĩ phát huy tài năng sáng tạo của mình trong việc tạo ra những thủ pháp chơi chữ đạt được những hiệu quả bất ngờ và thú
vị
Theo Hữu Đạt trong [11] có thể chia các kiểu chơi chữ thành các dạng sau :
- Chơi chữ dựa vào hiện tượng đồng âm
- Chơi chữ dựa vào hiện tượng đồng nghĩa
- Chơi chữ bằng cách nói lái
- Chơi chữ dựa trên sự đồng dạng về chữ viết – chiết tự
Chơi chữ là một hiện tượng rất lí thú trong thơ ca Việt Nam Thủ pháp chơi chữ thường gây ra những hiệu quả bất ngờ về sự công phá, tính châm biếm sâu cay đối với những thói hư tật xấu của xã hội, đồng thời nó cũng là phương tiện để các nghệ sĩ phê phán những thói bất công, bênh vực cho quyền sống và hạnh phúc của con người
1.2.2 Đặc điểm của ngôn ngữ thơ ca Việt Nam trung đại
Trang 14Văn học Việt Nam thời trung đại nói chung và thi ca Việt Nam trung đại nói riêng phát triển theo suốt chiều dài lịch sử của xã hội phong kiến Đây là một thời kỳ văn học có tầm quan trọng đặc biệt góp phần làm nên diện mạo văn chương, tư tưởng, mỹ học của dân tộc Thi ca Việt Nam trung đại có những đặc điểm chính sau :
1.2.2.1 Tính ước lệ, tượng trưng
Trong thi ca trung đại, phương thức ước lệ tượng trưng được nhà thơ
sử dụng triệt để, nhuần nhuyễn và phổ biến Các nhà thơ bao giờ cũng cảm thụ và diễn đạt thế giới bằng hệ thống nghệ thuật ước lệ Ước lệ đã trở thành một đặc trưng thi pháp của thi ca nói riêng và văn học nói chung
Đặc trưng thi pháp này hình thành từ bối cảnh lịch sử xã hội phong kiến và cảm quan thẩm mỹ của tầng lớp nghệ sĩ Hán học Với các nhà thơ thời này văn chương phải “ Văn dĩ tải đạo ”, “ Thi dĩ ngôn chí ”; sáng tác thơ văn là hình thức trước thư lập ngôn, nên văn chương ước lệ mới đẹp, mới sang trọng Trong tác phẩm, nhà thơ càng sử dụng nhiều nghệ thuật ước lệ chừng nào thì càng huyền ảo, càng đẹp; và qua đó thực hiện được chức năng giáo dục đạo lý của nó; mới góp phần hình thành mẫu người phong kiến lý tưởng Chúng ta có thể thấy bút pháp ước lệ tương trưng được Nguyễn Du
sử dụng rất nhuần nhuyễn trong Truyện Kiều :
“ Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da ”
( Truyện Kiều, Nguyễn Du )
1.2.2.2 Tính giáo huấn, bác học, cao quý, trang nhã
Trang 15Văn học trung đại Việt Nam trong giai đoạn đầu được viết bằng duy nhất một thứ chữ - chữ Hán Đây là ngôn ngữ của tầng lớp trí thức, của tầng lớp có học vấn cao Các tác giả thường là những thiền sư, nho sĩ, quan lại, quý tộc Mục đích của văn học, chủ yếu là đề cao thần quyền, cường quyền, mang tính giáo hóa, giáo huấn con người với khuôn phép định sẵn Về nội dung, các tác phẩm thơ ca thời kì chứa đựng những tri thức sách vở, những điển cố điển tích, những tư tưởng của các bậc thánh hiền như Khổng tử, Lão
tử, Trang tử … Tất cả đều thể hiện tính uyên bác về tri thức, tính giáo huấn
Ví dụ :
( Thiên trường vãn vọng, Trần Nhân Tông – bản dịch của Ngô Tất Tố )
1.2.2.3 Gắn bó với thiên nhiên
Trang 16Trong thi ca trung đại, thể loại thơ tức cảnh cũng như tranh sơn thủy chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống văn nghệ thời phong kiến
Thiên nhiên không tách khỏi con người như một khách thể trong văn chương Con người cảm thụ thiên nhiên như là một chủ thể Con người đã gán cho thiên nhiên những phẩm chất, thuộc tính của chính mình Thiên nhiên chưa được khám phá với những giá trị tự thân, chưa thực sự là đối tượng hiện thực của thơ văn Người ta tìm đến với thiên nhiên và xem thiên nhiên như là một đối tượng để giáo huấn đạo đức hay ngụ tình một cách không tự giác
Người lên ngựa, kẻ chia bào, Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san
( Truyện Kiều, Nguyễn Du )
Điều này khác với văn chương hiện đại Văn chương hiện đại tôn trọng sự sống riêng của tạo vật thiên nhiên Thiên nhiên được miêu tả như là một khách thể
Thi ca trung đại đã miêu tả thiên nhiên theo một bút pháp đặc biệt : không tả hình xác của tạo vật mà gợi tả linh hồn của thiên nhiên Thiên nhiên trở thành ý niệm tượng trưng, dấu hiệu tượng trưng, chứa đựng những cảm giác, cái không thấy của con người Thiên nhiên là nơi gởi gắm những
tư tưởng, tình cảm hay triết lý của con người
Trang 17Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết,
( Cáo tật thị chúng, Mãn Giác thiền sư, bản dịch của Ngô Tất Tố )
Thiên nhiên có linh hồn nên cũng sang hèn, quân tử tiểu nhân như con người Các nhà thơ xưa không chấp nhận cái thấp hèn, những sự vật tầm thường nên thiên nhiên trong thơ họ luôn là những tạo vật cao sang Các nhà thơ bầu bạn hay tri âm tri kỷ với thiên nhiên tao nhã, sang trọng như : “ Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong ” (Hồ Chí Minh) Họ tự ví mình như cốt cách phong độ của “Mai, lan, cúc, trúc” hay “Tùng, cúc, trúc, mai” : “ Quét trúc bước qua lòng suối, Thưởng mai về đạp bóng trăng ” ( Nguyễn Trãi )
Thi ca trung đại đối lập thiên nhiên tao nhã với thiên nhiên phàm tục, tầm thường cũng là để đối lập họ với những kẻ tiểu nhân, phàm phu đắc thế :
Phượng những tiếc cao diều hãy lượn, Hoa thường hay héo cỏ thường tươi
( Nguyễn Trãi )
1.2.2.4 Tính nhân văn
Quan hệ giữa con người và vũ trụ : Thời trung đại, con người và
thiên nhiên tạo vật được nhìn nhận là một khối thống nhất Con người là một tiểu vũ trụ luôn tìm về hội nhập cùng đại vũ trụ Con người vì thế luôn quan
hệ với vũ trụ Chính quan niệm này đã chi phối quan niệm nghệ thuật về con người trong văn chương: con người vũ trụ Con người vũ trụ thể hiện qua một thi đề phổ biến của thơ trữ tình: con người giao cảm, đối diện đàm tâm với tạo vật vũ trụ, có kích thước vũ trụ
Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc,
Trang 18Nợ tang bồng vay trả trả vay
Chí làm trai nam bắc đông tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
( Chí nam nhi, Nguyễn Công Trứ )
Con người đạo đức : Xét về mặt đạo đức, nhân loại phân hóa thành
hai cực đạo đức và phi đạo đức Các nhân vật trong văn thơ cũng phân hóa thành hai tuyến: thiện và ác, chính và tà, trung và nịnh, quân tử và tiểu nhân Chủ đề đạo đức, khuynh hướng giáo huấn có tính phổ biến đối với các tác phẩm thời kỳ này
Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
( Truyện Kiều, Nguyễn Du )
Con người phi cá nhân : trong nền văn học thời trung đại, con người
cá nhân chưa được quan niệm rạch ròi và xây dựng thành một hình tượng nghệ thuật Giá trị cá nhân không được xem xét từ bản thân phẩm chất cá nhân mà ở vai trò của cá nhân trong mối quan hệ giai tầng.Do đó, trong văn chương, từ ứng xử đến tâm tư, từ tình yêu đôi lứa đến tình yêu nước tất cả đều theo một chuẩn mực chung của đẳng cấp.Con người cá nhân chưa được giải phóng về nhiều phương diện Con người phản ánh trong thi ca thời kỳ
này sống đồng trục, đồng dạng về tư tưởng tình cảm, “ từ đời này sang đời
khác, đại khái chỉ có bấy nhiêu tập tục, bấy nhiêu ý nghĩ, bấy nhiêu tin tưởng, cho đến những nỗi yêu, ghét, vui, buồn, cơ hồ cũng nằm yên trong những khuôn khổ nhất định ” [28, tr15] Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều
này qua hình ảnh của người phụ nữ Người phụ nữ thời kỳ này bị ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến, nên mọi hành động đều phải theo khuôn khổ được
Trang 19định sẵn Ngay cả việc người phụ nữ muốn thể hiện tấm lòng hiếu thảo của mình cũng phải theo chuẩn mực :
Dâng thư đã thẹn nàng Oanh, Lại thua ả Tạ bán mình được sao ?
( Truyện Kiều, Nguyễn Du )
1.3 Một vài vấn đề lý thuyết về phép ẩn dụ
1.3.1 Khái niệm về ẩn dụ
Hiện tượng ẩn dụ ( metaphor ) từ lâu đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu, thường được coi là cách thức chuyển đổi tên gọi sự vật dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có tính tương đồng hay giống nhau Có thể xem so sánh ngầm là quy trình cơ bản để hiểu về ẩn dụ Trong các công trình nghiên cứu thuộc về ngôn ngữ học truyền thống, ẩn dụ thường chỉ chiếm vị trí khiêm tốn trong phần từ vựng học và tu từ học với quan điểm coi nó là một phương thức phát triển nghĩa mới của từ ( ẩn dụ từ vựng ) hoặc là một biện pháp tu từ (ẩn dụ tu từ) Đã có nhiều nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước quan tâm đến vấn đề này Chẳng hạn:
A.A.Reformatxki cho rằng : “ Ẩn dụ theo nghĩa chiết tự là sự chuyển
đổi, là trường hợp nghĩa điển hình nhất Sự chuyển nghĩa theo ẩn dụ dựa trên sự giống nhau của các sự vật về màu sắc, hình thức, đặc tính vận động” [44, tr81]
Theo Ju.X.Xtepanov: “ Bản thân từ Metaphor từ tiếng Hy Lạp cũng
có nghĩa là sự chuyển nghĩa, và khi một từ vẫn còn liên hệ với biểu vật cũ
nhưng lại có sự liên hệ mới với cái biểu vật mới thì hiện tượng ngôn ngữ đó
là ẩn dụ” [40, tr51-52]
Trang 20Trong Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, O.X.Akhmanova định nghĩa
ẩn dụ như sau: “ Đó là phép chuyển nghĩa (троп) dùng các từ và ngữ ở ý
nghĩa bóng trên cơ sở sự tương tự, sự giống nhau… ” [43, tr231]
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều học giả nghiên cứu về ẩn dụ theo quan niệm truyền thống, như : Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thái Hòa, Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Hữu Đạt, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Tồn … Các
tác giả này bàn đến ẩn dụ như là “ hiện tượng chuyển đổi tên gọi dựa vào sự
giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh với nhau ” [19, tr85]
Từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước trong cuốn Từ và vốn từ tiếng Việt
hiện đại khi bàn về vấn đề ẩn dụ Nguyễn Văn Tu đã viết : “ Ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp Muốn hiểu được mối quan hệ đó chúng ta phải so sánh ngầm Khác với hoán dụ, phép ẩn dụ, ta theo tưởng tượng của ta mà gọi một sự vật, chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà từ biểu thị trước thôi Chính nhờ những dấu hiệu chung gián tiếp ấy mà ta thấy mối quan hệ giữa các sự vật khác nhau ” [31, tr159]
Năm 1981, trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh : “ Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y
(để biểu thị y), nếu như x và y giống nhau” và “các sự vật được gọi tên, tức
x và y, không có liên hệ khách quan, chúng thuộc những phạm trù hoàn toàn khác nhau Sự chuyển tên gọi diễn ra tùy thuộc vào nhận thức có tính chất chủ quan của con người về sự giống nhau giữa chúng ” [4, tr155]
Sau đó trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt Định Trọng Lạc cũng tiếp cận hiện tượng ẩn dụ theo hướng trên “ ẩn dụ là sự định
danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hiện
Trang 21tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động tính chất) B có tên gọi được dùng chuyển sang cho A ”
[26, tr52]
Tiếp theo, trong cuốn Phong cách học tiếng Việt Đinh Trọng Lạc viết
chung với Nguyễn Thái Hòa, hiện tượng ẩn dụ được lí giải lại theo hướng
ngắn gọn hơn : “ Ẩn dụ là so sánh ngầm, trong đó vế so sánh được giảm
lược đi, chỉ còn vế được so sánh dựa trên cơ sở của phép chuyển nghĩa khi hai đối tượng có một nét nghĩa tương đồng ” [25, tr194]
Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt xuất bản năm
1998 lại lý giải về hiện tượng ẩn dụ ngắn gọn hơn nữa : “ Ẩn dụ là sự chuyển
đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau ” [18, tr162]
Tuy nhiên, tiếp cận hiện tượng ẩn dụ theo quan điểm của phong cách
học một cách đầy đủ thì phải tới cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại của Hữu Đạt Ông cho rằng : “ Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra
Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ẩn dụ phải dùng năng lực liên tưởng để qui chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật, hiện tượng tồn tại ngoài văn bản Như vậy thực chất của phép ẩn dụ chính là việc dùng tên gọi này để biểu thị sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy
và ngôn ngữ dân tộc ” [12, tr302]
Theo Nguyễn Đức Tồn thì : “ Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi hoặc
chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiệng tượng này sang sự vật, hiện tượng khác loại dựa trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hóa chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng ” [37, tr1-9]
Lê Đình Tư trong Nhập môn ngôn ngữ học lại định nghĩa : “ Ẩn dụ
cũng là những phương thức biến đổi ý nghĩa của từ bằng cách lấy tên gọi sự
Trang 22vật, hiện tượng này để chỉ sự vật, hiện tượng khác trên cơ sở của sự giống nhau về một khía cạnh nào đấy giữa hai sự vật hay hiện tượng ấy ” Tuy
nhiên mối quan hệ giữa hai sự vật, hiện tượng này “ không phải là mối quan
hệ hiển nhiên, có thể thấy một cách trực tiếp; do đó muốn hiểu được mối quan hệ này, ta phải có sự đối chiếu, so sánh ngầm trong óc để tìm ra mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng ấy ” [32, tr90]
Qua các định nghĩa trên, có thể thấy ẩn dụ về cơ bản là “ phương thức
dùng tên gọi của sự vật hiện tượng này để gọi tên sự vật hiện tượng khác dựa trên sự tương đồng giữa chúng về chức năng, hình thức … hay nói cách khác là dựa trên sự giống nhau giữa chúng về một khía cạnh nào đó ”
1.3.2 Các xu hướng nghiên cứu về ẩn dụ
Trong ngôn ngữ học có 3 khuynh hướng nghiên cứu ẩn dụ như sau:
- Nghiên cứu ẩn dụ theo phương pháp từ vựng học
- Nghiên cứu ẩn dụ theo phong cách học
- Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng tri nhận luận
1.3.2.1 Nghiên cứu ẩn dụ theo phương pháp từ vựng học ( tức ẩn
dụ từ vựng)
Ẩn dụ là phương thức biến đổi ý nghĩa của từ bằng cách lấy tên gọi của sự vật hiện tượng này để gọi tên sự vật hiện tượng khác Do đó khi nói đến ẩn dụ với tư cách là phương thức biến đổi ý nghĩa của từ ( ẩn dụ từ vựng ), người ta thường chỉ nghĩ đến những ẩn dụ có tính bền vững tương đối,
nghĩa là được xã hội chấp nhận và sử dụng rộng rãi Chẳng hạn như chân
trời, chân mây, đầu sóng, đầu núi, cánh đồng, cánh thư …
Các nhà ngôn ngữ học như Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đào Thản, Nguyễn Đình Tư … nghiên cứu ẩn dụ theo phương
Trang 23pháp từ vựng học quan niệm ẩn dụ cũng là một phương thức chuyển nghĩa của từ
Ẩn dụ từ vựng làm cho ý nghĩa của từ được mở rộng để biểu thị được nhiều sự vật hiện tượng hơn, tức là làm cho từ trở thành từ nhiều nghĩa Theo [32, tr90] để tạo ra ẩn dụ loại này người ta dựa trên một số mối quan
hệ giữa các sự vật hay hiện tượng Có 3 loại quan hệ chủ yếu là :
- Quan hệ giữa nghĩa cụ thể và nghĩa trừu tượng, nghĩa là lấy vốn từ trước đây chỉ dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động hay đặc trưng, tính chất cụ thể để chỉ một khái niệm trừu tượng Chẳng hạn như :
nho chín và nghĩ chín trong tiếng Việt, soft ( mềm mại ) và soft winter ( mùa
đông ôn hòa, dễ chịu ) trong tiếng Anh
- Quan hệ giữa người và vật, nghĩa là lấy tên gọi của bộ phận cơ thể, hành vi, tính chất hay đồ dùng của người để biểu thị các bộ phận, tính chất
hay hành động của vật Ví dụ : mặt trong mặt bàn, mặt chiếu, lưỡi trong lưỡi
dao, lưỡi rìu trong tiếng Việt
- Quan hệ giữa vật và người, tức là lấy tên gọi của vật, hoặc bộ phận, hành vi, tính chất của vật để chỉ người hay bộ phận, hành vi, tính chất của
người Chẳng hạn như những từ cò mồi (chỉ người làm trung gian để kiếm
lời), cò hương (chỉ người cao hay gầy), lá phổi, quả tim hay fish (chỉ người
bị mồi chài) trong tiếng Anh
Một trong những nhà nghiên cứu tiêu biểu cho khuynh hướng nghiên cứu ẩn dụ theo phương pháp từ vựng học là Đỗ Hữu Châu Khi xem xét các hiện tượng ẩn dụ, ông đã đưa ra ý kiến là có thể quy các ẩn dụ về những phạm trù nhất định như sau :
Trang 241) Các ẩn dụ hình thức, là những ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về hình
thức giữa các sự vật Ví dụ như : đầu làng, lòng sông, ruột bút, ngọn
sóng…
2) Các ẩn dụ cách thức, là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách
thức thực hiện giữa hai hoạt động, hiện tượng Chẳng hạn như : cắt hộ
khẩu, nắm tư tưởng, hỏi xoáy vấn đề…
3) Các ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về chức năng giữa các sự vật Ví
dụ như bến xe, bến tàu với bến sông, bến đò…
4) Các ẩn dụ kết quả, là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về tác
động của các sự vật đối với người Như : ấn tượng nặng nề, nói nhạt,
cười mát…
Tuy nhiên, cũng theo Đỗ Hữu Châu thì sự phân loại các ẩn dụ theo cơ chế nét nghĩa đồng nhất này không phải bao giờ cũng tách bạch Có những trường hợp ẩn dụ không phải chỉ là một mà thường là một số nét nghĩa cùng
tác động Chẳng hạn như ẩn dụ chân trong chân mây, chân trời, chân bàn thì
chân mây và chân trời có nét nghĩa vị trí, còn chân bàn thì lại có nét nghĩa
hình dạng so với chân
Cũng nghiên cứu ẩn dụ theo hướng từ vựng học, nhưng Nguyễn Thiện Giáp và một số học giả [19, tr85- 87] lại đưa ra những tiêu chí sau khi phân loại ẩn dụ :
1) Sự giống nhau về hình thức: bướm (côn trùng) - bướm (để mắc áo), mũi (người) - mũi (thuyền, dao, kim…), răng (người) - răng (bừa, lược)…
2) Sự giống nhau về màu sắc: màu lơ, màu da trời (blời), màu da cam… 3) Sự giống nhau về chức năng: đèn đĩa - đèn hoa kỳ - đèn điện…
Trang 254) Sự giống nhau về thuộc tính, tính chất nào đó: (cây) khô - (tình cảm) khô - (lời nói) khô…
5) Sự giống nhau về một đặc điểm, một vẻ bề ngoài nào đó: đàn ông đẹp được gọi là Phan An, Tống Ngọc, đàn bà đẹp được gọi là Tây Thi; đàn ông xấu xí - Chí Phèo, đàn bà xấu xí- Thị Nở…
6) Ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng: hạt nhân (của quả) - hạt nhân (của vấn đề), nắm (tay) - nắm (ngoại ngữ, tình hình…)
7) Chuyển tên con vật thành tên con người: con chó con của mẹ; ấy là con rắn độc…
8) Chuyển tính chất của sinh vật sang sự vật hoặc hiện tượng khác (còn gọi là nhân cách hóa): thời gian đi, con tàu chạy, gió gào thét…
9) Tương đồng trạng thái: “Ngôi sao ấy lặn hóa bình minh” (Tố Hữu)
Ngôi sao lặn và Bác Hồ qua đời có trạng thái như nhau (không còn),
sao lặn biểu thị Bác Hồ từ trần
Dựa vào hai trường hợp thay tên gọi theo phép ẩn dụ Nguyễn Đức Tồn lại phân ra hai loại ẩn dụ: ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ; trong đó tác giả định
nghĩa ẩn dụ từ vựng như sau : “ Ẩn dụ chết hay còn gọi là ẩn dụ từ vựng là
loại ẩn dụ định danh, tính chất bóng bẩy hay hình tượng của ẩn dụ không còn nữa và nghĩa chuyển được tạo ra theo phép ẩn dụ này đã được cố định hóa trong hệ thống ngôn ngữ, được đưa vào nghĩa của từ trong từ điển và
được toàn dân sử dụng Thí dụ: Tay người: Tay làm hàm nhai Do được chuyển nghĩa theo ẩn dụ, ta có tay đòn, tay ghế… ” [38, tr1-9]
Như vậy có thể thấy các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng từ vựng học đều có chung quan điểm ẩn dụ từ vựng là một phương thức chuyển nghĩa của từ, làm cho từ trở thành từ nhiều nghĩa
Trang 26Chúng ta xét ví dụ sau để thấy rõ điều này : đầu sông, đầu núi
Nói đầu sông, đầu núi không phải vì những sự vật này có hình dáng
giống như sự vật chính ( đầu của động vật ) mà là vì tương quan vị trí của chúng so với toàn bộ chỉnh thể
Từ gốc :
đầu
có nét nghĩa :
phần trước nhất ( của thân thể động vật )
Do đó, khi chỉ những vị trí ở phần trước nhất của sông, núi người ta
cũng có thể dùng từ đầu : đầu sông, đầu núi
đầu sông đầu
đầu núi 1.3.2.2 Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng phong cách (tức ẩn dụ tu từ)
Ẩn dụ tu từ
Như trên đã nêu, tác giả Hữu Đạt quan niệm “ ẩn dụ là kiểu so sánh
không nói thẳng ra Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ẩn dụ phải dùng năng lực liên tưởng để quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật, hiện tượng tồn tại ngoài văn bản Như vậy, thực chất của phép ẩn dụ chính là việc dùng tên gọi này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy và ngôn ngữ dân tộc ” [12, tr302]
Trang 27Theo ông cơ chế ẩn dụ này gắn bó chặt chẽ với truyền thống văn hóa mang tính khu vực, vùng miền Do đó nói tới ẩn dụ không thể không nói tới mối quan hệ giữa đặc trưng văn hóa và ngôn ngữ Chẳng hạn như Việt Nam
là một nước có đặc trưng của nền văn hóa nông nghiệp, nổi bật là nền văn hóa lúa nước, đặc điểm địa lý Việt Nam là có nhiều sông ngòi kênh rạch Lại thêm một bờ biển dài nên người Việt Nam có môi sinh gắn liền với sông nước và thực vật Đây là một lí do có tính cội nguồn cho việc ra đời nhiều kiểu ẩn dụ có liên quan đến cây cối, thực vật, tới sông ngòi, biển cả, tới các
loại côn trùng, động vật miền nhiệt đới Ví dụ các trường hợp ẩn dụ mận,
đào, vườn hồng, sông, con cá, ong bướm sau đây :
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa …
( Ca dao Việt Nam )
Con sông kia bên lở bên bồi Một con cá lội ( biết ) mấy người buôn câu
( Ca dao Việt Nam )
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai
( Truyện Kiều, Nguyễn Du ) Nguyễn Đức Tồn [37, tr1-9] cho rằng : “ Ẩn dụ lâm thời hay ẩn dụ tu từ
được sử dụng như một biện pháp tu từ nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm và giá trị thẩm mỹ cho sự diễn đạt Các ý nghĩa được tạo ra cho phép ẩn dụ tu
từ không được cố định hóa trong hệ thống ngôn ngữ thành ý nghĩa của từ
Trang 28trong từ điển ” Thí dụ cùng chỉ cặp con trai và con gái đang yêu nhau, ca
dao đã dùng hình ảnh ẩn dụ thuyền – bến như sau :
Thuyền ơi có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
(Ca dao) Như vậy, qua những cách hiểu và định nghĩa nêu trên, có thể thấy rằng, trong Việt ngữ học, ẩn dụ được xem xét theo hai góc độ Thứ nhất, ẩn
dụ là một trong những phương thức chuyển nghĩa cơ bản của đơn vị từ vựng dựa vào mối tương đồng giữa sự vật- đối tượng Theo góc độ này, ẩn dụ là đối tượng nghiên cứu của từ vựng học Thứ hai, ẩn dụ là một biện pháp tu từ nhằm tạo nên những biểu tượng trong nhận thức của con người Ở góc độ này, ẩn dụ là đối tượng nghiên cứu của phong cách học, được coi là biện pháp tu từ (ẩn dụ tu từ) Với tư cách là biện pháp tu từ, ẩn dụ tu từ được khảo sát trong những ngữ cảnh cụ thể, gắn liền với văn bản Nếu tách khỏi văn cảnh thì giá trị ngữ nghĩa của nó sẽ không còn tồn tại
Vì vậy, đối với các tác phẩm văn chương, các phương tiện ẩn dụ giúp cho các nhà văn, nhà thơ lựa chọn để đạt hiệu quả cao trong việc phác họa nên bức tranh nghệ thuật ngôn từ, đồng thời tạo nên tính hình tượng cao trong cách thức diễn đạt
Ẩn dụ tu từ thể hiện phong cách sáng tạo nghệ thuật của tác giả, phong cách thời đại và phong cách dân tộc Chúng ta thấy được vai trò của thủ pháp ẩn dụ tu từ là rất quan trọng trong việc xây dựng hình tượng tác phẩm Giá trị của ẩn dụ không chỉ ở một hình tượng và biểu cảm mà còn ở chỗ phát hiện bề sâu, bề xa của sự vật theo cách nhìn của tác giả Bởi vì ẩn
dụ thể hiện những hàm ý mà người đọc phải suy ra mới hiểu được
Trang 29Phân biệt ẩn dụ tu từ với ẩn dụ từ vựng
Ẩn dụ từ vựng là ẩn dụ mà nghĩa của từ được ẩn dụ đã được cố định hóa trong hệ thống ngôn ngữ, được toàn dân chấp nhận và sử dụng
Trong khi đó thì ẩn dụ tu từ lại mang tính sáng tạo riêng của cá nhân,
mà ở đây chủ yếu là các nhà văn nghệ sĩ Nó được dùng với nghĩa ngữ cảnh
cụ thể, với cách chuyển đổi tên gọi lâm thời Ẩn dụ dạng này được sử dụng như một biện pháp tu từ nhằm tăng sức gợi cảm, gợi hình và tăng giá trị thẩm mỹ cho sự diễn đạt
Để so sánh ta xét ví dụ sau :
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió …
( Quê hương, Tế Hanh )
và
Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân
( Truyện Kiều, Nguyễn Du )
Ở hai câu thơ trên, từ cánh trong cánh buồm nét nghĩa hình dạng liên
tưởng đến cánh ( trong cánh chim ) với các hoạt động ( như chim vỗ cánh ) được giữ lại Nét nghĩa này đã được cố định hóa trong nghĩa của từ trên Chúng ta có thể gặp một loạt dạng ẩn dụ này : cánh buồm, cánh tủ, cảnh cửa
… Do đó mọi người đều hiểu và đều sử dụng trong mọi ngữ cảnh khi cần
Ở hai câu thơ dưới, là hai câu thơ nói lên tâm trạng của nàng Kiều Thúy Kiều xót thương cho thân phận của mình : vẫn còn đang chịu cảnh lưu
lạc nơi đất khách, tựa như cánh bèo trôi dạt trên sông Do đó, cánh bèo ở
Trang 30đây dùng để chỉ Thúy Kiều, và chỉ trong văn cảnh này mới cho phép ta hiểu như thế Nếu tách khỏi văn cảnh thì nghĩa đó không còn nữa
Phân biệt ẩn dụ tu từ với so sánh tu từ
Theo Đinh Trong Lạc, “ so sánh tu từ là cách đối chiếu hai đối tượng
khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có cùng một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới về đối tượng ” [26, tr154] Xét về bản chất, ẩn dụ là sự chuyển
đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau Do đó, ở đây cần phân biệt rõ giữa ẩn dụ tu từ và so sánh tu
từ
Sự giống nhau giữa hai hiện tượng này chính là cách liên tưởng để rút
ra được nét tương đồng giữa hai đối tượng khác loại Nét tương đồng này là
cơ sở để hình thành nên ẩn dụ tu từ cũng như so sánh tu từ Nhưng giữa hai hiện tượng này cũng có những điểm khác nhau rõ rệt
So sánh tu từ có cấu tạo gồm 2 vế là đối tượng được so sánh và đối tượng được dùng để so sánh Còn ẩn dụ lại là so sánh ngầm, tức chỉ có 1 vế,
là đối tượng được so sánh Nếu so sánh là cụ thể hóa nhận thức đối với đối tượng thì ở ẩn dụ, phương pháp chuyển nghĩa thông qua những sự vật cụ thể lại khái quát hóa, trừu tượng hóa một vấn đề nào đó, đồng thời đưa ra một thể thống nhất mới của hình tượng nghệ thuật, tạo nên những nét nghĩa mới
Xét ví dụ sau :
Thân em như giếng giữa đàng,
Người khôn rửa mặt, kẻ phàm rửa chân
Và
Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Trang 31Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
( Ca dao ) Trong câu ca dao thứ nhất, hình tượng người con gái được so sánh trực tiếp với hình ảnh giếng nước Kiểu so sánh trên là kiểu so sánh quen thuộc trong ca dao tục ngữ : A như B Sự so sánh này đã giúp cho câu ca dao thêm sinh động, tăng sức biểu cảm, mang đến cho người đọc những rung cảm thẩm mỹ
Ở câu ca dao tiếp theo, việc sử dụng phương thức ẩn dụ tu từ đã phát
huy hiệu quả cao Hình tượng bầu, bí trong câu ca dao này không còn là
những loại quả cụ thể nữa mà là hình ảnh tượng trưng biểu thị con người với
con người trong mối quan hệ xã hội Lấy hình ảnh bầu bí để chỉ con người,
dùng hình ảnh 2 loại cây cùng có thể sống chung trên một giàn đỡ để nói về mối quan hệ giữa con người với con người đã làm cho câu thơ giàu sức biểu cảm
Phân biệt ẩn dụ tu từ với hoán dụ
“ Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc
điểm hay một nét tiêu biểu nào đó của một đối tượng để gọi tên chính đối tượng đó ” [25 ,203]
Còn theo Đỗ Hữu Châu thì “ hoán dụ là phương thức lấy tên gọi A
của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế ” [4, tr155]
Ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ đều có những tính chất giống nhau : đều
là sự rút gọn lời nói, đều là những phương thức chuyển nghĩa làm giàu thêm vốn từ, mang vào ngôn ngữ những yếu tố lạ, tạo bất ngờ, gây cảm xúc
Tuy nhiên, ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ lại có những điểm khác nhau
cơ bản sau : ẩn dụ được xây dựng trên sự liên tưởng tương đồng còn hoán dụ
Trang 32lại dùng những quan hệ tất yếu để kết hợp những yếu tố có cùng với nhau một mẫu số chung, thành một hệ thống lôgic
Xét các ví dụ sau :
Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?
( Ca dao )
và :
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào có không ?
( Truyện Kiều, Nguyễn Du )
Trong câu ca dao trên, hình ảnh người con gái được ẩn dụ trong hình
ảnh của mận, đào Người con gái độ tuổi cập kê – tuổi xuân, cũng như
những loài hoa của mùa xuân : hoa đào hoa mận tràn đầy sức sống, phô vẻ đẹp rực rỡ nhất của mình dưới nắng xuân Như vậy, ẩn dụ được xây dựng trên trường liên tưởng
Còn trong câu thơ dưới, hoán dụ đã được nhà thơ xây dựng trong mối quan hệ gần gũi khách quan giữa bộ phận và toàn thể, lấy tên gọi của bộ phận để chỉ toàn thể Ở đây, hình tượng người con gái đẹp được khắc họa
qua hoán dụ : má đào, mắt xanh
1.3.2.3 Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng tri nhận ( ẩn dụ tri nhận )
Sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận
Ngôn ngữ học – theo A.A.Kibrik, có truyền thống tự trị lâu đời Tính
tự trị này có cơ sở trong tư tưởng cho rằng hệ thống ngôn ngữ có thể được miêu tả và thuyết giải trong phạm vi chính bản thân mình mà không cần phải
Trang 33quan tâm đến những hiện tượng khách quan như là tâm lí, tư duy, bộ não, giải phẫu và sinh lí học con người, xã hội, tộc người … và theo ông thì bất
cứ luận thuyết nào giải thích các hiện tượng ngôn ngữ mà dựa vào những hiện tượng ngoài ngôn ngữ đều sẽ bị các môn đồ của ngôn ngữ học cấu trúc đánh giá không phải là ngôn ngữ học
Chính vì vậy mà khi ngôn ngữ học tri nhận ra đời đã được một số học giả cho rằng sự hình thành ngôn ngữ học tri nhậnv là sự khắc phục ngôn ngữ học cấu trúc, hoặc là sự phản ứng đối với các trào lưu khác trong ngôn ngữ học; đặc biệt là lí thuyết tạo sinh-cải biến
Lí thuyết tạo sinh-cải biến do N.Chomsky khởi xướng trong tác phẩm
“Syntactic Structures” vào năm 1957 Còn ngôn ngữ học tri nhận ra đời từ việc thành lập Trung tâm đầu tiên về việc nghiên cứu tri nhận tại trường đại học Harvard vào năm 1960 do các giáo sư Miller và Brunner đề xướng
Ngôn ngữ học tri nhận và lí thuyết tạo sinh-cải biến là hai học thuyết tồn tại song song với nhau, tuy ngôn ngữ học tri nhận ra đời muộn hơn một chút Đại biểu của cả 2 trào lưu ngôn ngữ học này đều lấy mục đích cuối cùng là nhận thức bản chất của ngôn ngữ con người, song hướng đi của họ nhằm tìm bản chất của ngôn ngữ là khác nhau Nếu lí thuyết tạo sinh-cải biến chủ trương đi vào chiều sâu của cấu trúc ngôn ngữ trên cơ sở những dữ kiện ngôn ngữ quan sát trực tiếp được và hình thức hóa chúng đến độ lí tưởng gần giống như những công thức toán học, thì các nhà ngôn ngữ học tri nhận đi theo hướng hoàn toàn khác
Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ thường nhật của con người ở dạng tự nhiên nhất với những dữ kiện ngôn ngữ có thể quan sát trực tiếp được và cả những dữ kiện không thể quan sát trực tiếp được như trí tuệ, tri thức, ý niệm, ý thức …
Trang 34Hiện nay, ngôn ngữ học tri nhận đã trở thành một khuynh hướng ngôn ngữ phát triển rất mạnh mẽ, đã trở thành một phương tiện giúp các nhà ngôn ngữ học giải quyết được nhiều vấn đề thuộc ngôn ngữ mà trước đây ngôn ngữ học truyền thống chưa giải quyết được triệt để
Ẩn dụ tri nhận
Ẩn dụ thường được cho là một biện pháp tu từ trong văn học, dựa vào
sự giống nhau giữa nghĩa đen và nghĩa bóng của ngôn ngữ Tuy nhiên, các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ẩn dụ còn là một công cụ tri nhận hữu hiệu để con người ý niệm hóa các khái niệm trừu tượng Ẩn dụ do vậy không chỉ là một phương thức diễn đạt ý nghĩ bằng ngôn ngữ mà còn là một phương thức để tư duy về sự vật
Với cách hiểu ẩn dụ là phương thức của tư duy, ngôn ngữ học tri nhận cho rằng, ẩn dụ là một cơ chế tri nhận nhờ đó những tri giác liên tục, tương
tự đã trải qua quá trình phạm trù hóa được đánh giá lại trong bối cảnh ý niệm mới Bản chất của ẩn dụ tri nhận là ở sự ngữ nghĩa hóa và cảm nhận những hiện tượng loại này trong thuật ngữ các hiện tượng loại khác Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm – cognitive/conceptual metaphor) – đó là một trong những hình thức ý niệm hoá, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới Và về nguồn gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người nắm bắt và tạo ra sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau [6, tr293 – 294 ]
Cơ chế tri nhận của ẩn dụ bao gồm hai miền NGUỒN và ĐÍCH, đã hình thành và tồn tại trong ý thức của con người, trong đó những tri thức ở miền Nguồn ánh xạ lên miền Đích, và những đặc trưng của miền Nguồn được gán ghép cho miền Đích Cả hai miền Nguồn và Đích đều là những ý
Trang 35niệm, được cấu trúc hóa theo mô hình trường- chức năng: trung tâm- ngoại
vi, trong đó hạt nhân là khái niệm nằm ở trung tâm, mang tính phổ quát toàn nhân loại, và ngoại vi là những yếu tố ngôn ngữ, văn hóa dân tộc, nằm trong một “khung” hay “nền” văn hóa nhất định mang tính đặc thù Như vậy, ẩn
dụ tri nhận hướng tới khả năng tác động vào lĩnh vực trí tuệ của con người
Trong Metaphors we live by [45], Lakoff và Johnson (1980) đã phân
thành 4 loại ẩn dụ tri nhận là : ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ kênh liên lạc và ẩn dụ định hướng
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ quan tâm khảo
sát các ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ mà không đi vào ẩn dụ tri nhận
Trang 36Chương 2 :
ẨN DỤ TỪ VỰNG TRONG "QUỐC ÂM THI TẬP"
2.1 Tình hình sử dụng ẩn dụ từ vựng trong “Quốc âm thi tập”
Ẩn dụ từ vựng là ẩn dụ mà nghĩa của từ được ẩn dụ đã được cố định hóa trong hệ thống ngôn ngữ, được toàn dân chấp nhận và sử dụng Các nhà nghiên cứu theo phương pháp từ vựng học quan niệm ẩn dụ từ vựng cũng là một phương thức chuyển nghĩa của từ Ẩn dụ từ vựng làm cho ý nghĩa của
từ được mở rộng để biểu thị được nhiều sự vật hiện tượng hơn, tức là làm cho từ trở thành từ nhiều nghĩa
Qua khảo sát các hiện tượng ẩn dụ từ vựng trong tập thơ “Quốc âm
thi tập” chúng tôi nhận thấy các trường hợp ẩn dụ này có thể xếp vào 3
nhóm ẩn dụ là ẩn dụ hình thức và ẩn dụ cách thức (theo tiêu chí phân loại
của Đỗ Hữu Châu) và ẩn dụ dựa trên mối quan hệ giữa nghĩa cụ thể và nghĩa
trừu tượng, hay ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng ( theo tiêu chí phân loại của
Lê Đình Tư )
Ẩn dụ hình thức là những ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về hình thức
giữa các sự vật Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, trong tập thơ “Quốc
âm thi tập” chỉ có 18 ẩn dụ loại thuộc loại này Đây là những ẩn dụ rất quen
thuộc Chẳng han : đầu bãi, đầu non, ruột bể, lòng bể, lòng trúc, lòng trời, chân rừng … Ví dụ như :
Ẩn dụ cách thức là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách thức
thực hiện giữa hai hoạt động, hiện tượng Chẳng hạn như : cắt hộ khẩu, nắm
Trang 37tư tưởng, hỏi xoáy vấn đề… Trong “Quốc âm thi tập” có tất cả 16 ẩn dụ
thuộc dạng này Ví dụ :
Bếp thắng chè khô cởi thuở âu ( bài thứ 154 )
Ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng là ẩn dụ lấy vốn từ trước đây chỉ dùng
để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động hay đặc trưng, tính chất cụ
thể để chỉ một khái niệm trừu tượng Ví dụ như : nho chín và nghĩ chín trong tiếng Việt, soft ( mềm mại ) và soft winter ( mùa đông ôn hòa, dễ chịu ) trong tiếng Anh Kết quả khảo sát cho thấy, trong tập thơ “Quốc âm thi tập”
các ẩn dụ từ vựng thuộc loại này có 24 trường hợp Ví dụ :
Trang 382.2 Miêu tả và phân tích
Các ẩn dụ từ vựng xuất hiện trong thơ tuy không nhiều nhưng cũng có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng hình tượng thơ cũng như thể hiện cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩa của tác giả Đồng thời với việc phân tích
các ẩn dụ từ vựng xuất hiện trong “Quốc âm thi tập” thơ luận văn sẽ chỉ ra
đặc điểm của phương thức ẩn dụ này
2.2.1 Ẩn dụ hình thức
Trong tập thơ “Quốc âm thi tập” số lượng ẩn dụ hình thức không
nhiều, chỉ có 18 ẩn dụ, trong đó có 1 ẩn dụ xuất hiện 3 lần Tất cả các ẩn dụ hình thức này đều là những ẩn dụ quen thuộc, đã được xã hội chấp nhận và
sử dụng rộng rãi Các ẩn dụ này đã quá quen thuộc và có nghĩa cố định nên
ở phần này chúng tôi chỉ nhận xét những ẩn dụ có giá trị trong việc xây dựng
Dễ hay ruột bể sâu cạn;
và : Thu cao thỏ ướm thăm lòng bể;
Vực lạnh châu mừng thoát miệng rồng ( Bài thứ 212 )
Trang 39Hai câu thơ của bài thứ 6, Nguyễn Trãi đã dùng ruột bể ở câu trên để
đối với lòng người ở câu dưới Ruột với lòng là bộ phân cơ thể người nhưng
lại biểu trưng hay quy chiếu cho trạng thái tâm lý tình cảm khác nhau trong thế giới nội tâm của con người Chẳng hạn:
Lòng: là một thực thể tâm lý - ý thức, cho nên người Việt nói yếu bụng, đau bụng để chỉ một tình trạng sinh lý của cơ thể người, nhưng lại
dùng đau lòng để diễn đạt một trạng thái tâm lý, tình cảm: phải lòng nhau,
bằng lòng, siêu lòng, vừa lòng, lòng vả cũng như lòng sung
Ruột lại thường được dùng với nét nghĩa chỉ bộ phận trong cơ thể
thuộc hệ tiêu hóa hoặc với nét nghĩa chỉ sự đau đớn về tinh thần trong các tổ
hợp đứt ruột đứt gan, cắt ruột cắt gan … hơn là với nét nghĩa chỉ tình cảm, suy nghĩ sâu kín của con người ( như trong các tục ngữ thẳng ruột ngựa,
ruột để ngoài da ) Cho nên nếu đổi vị trí cho nhau hoặc chỉ dùng một trong
hai từ này thì nghĩa của câu thơ dễ bị thay đổi :
Dễ hay ruột bể sâu cạn;
Khôn biết ruột người vắn dài
Trang 40Ở trường hợp 1, khi đổi chỗ cho nhau rõ ràng ý thơ đã bị thay đổi
hoàn toàn Tuy lòng bể trong Dễ hay lòng bể sâu cạn không có sự thay đổi
về nghĩa, nhưng nó lại làm cho câu dưới mang nghĩa khác Nếu như lòng
người là dùng để chỉ những suy nghĩ, tình cảm sâu kín của con người thì ruột người lại khác Ruột người ở đây hoàn toàn mang nghĩa đen, dùng để
chỉ một bộ phận thuộc hệ tiêu hóa nằm bên trong khoang bụng của con
người Khôn biết lòng người vắn dài được hiểu là “ không biết được suy
nghĩ, tình cảm của con người ta như thế nào, tốt hay xấu ” Còn Khôn biết
ruột người vắn dài lại được hiểu theo hướng “ không biết là ruột con người
ta dài ngắn ra sao, đo được bao nhiêu gang, bao nhiêu tấc ”
Ở trường hợp thứ 2 và trường hợp thứ 3, việc sử dụng một từ 2 lần làm cho câu thơ bị lặp, từ đó mà mức độ biểu cảm giảm đi nhiều và không
làm nổi bật lên được ý của nhà thơ Tác giả sử dụng hình ảnh ruột bể để đối với lòng người trong hai câu thơ “ Dễ hay ruột bể sâu cạn, Khôn biết lòng
người vắn dài ” là để nhấn mạnh tương quan so sánh giữa một bên là cái cụ
thể : độ sâu thăm thẳm, sâu hun hút tựa như không đáy của biển với một bên
là cái trừu tượng : tâm tư, tình cảm của con người Ruột bể dù thâm sâu đến đâu đi nữa thì con người ta vẫn có thể nhận biết, có thể đo đếm được; chứ
lòng người thì “ ai đo cho cùng ”
Qua việc phân tích hai câu thơ trên có thể nhận thấy hai câu thơ này
có cùng ý nghĩa với câu ca dao :
Sông sâu còn có kẻ dò,
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng
Bài thơ thứ 6 và bài thơ thứ 212 cùng xuất hiện 1 hình ảnh thơ, nhưng
đã được nhà thơ định danh bằng 2 tên gọi khác nhau Ruột bể hay lòng bể
cùng để chỉ khoảng nước bên dưới mặt biển, nhưng ở mỗi bài thơ nó lại có