Những lý do phải lựa chọn thị trường mục tiêu Xuất phát từ thị trường tổng thể: Thị trường tổng thể có quy mô lớn và phức tạp trong khi năng lực của doanh nghiệp không đủ để đáp ứng
Trang 1Nội dung Mục tiêu
trường mục tiêu
Thời lượng học
8 tiết
việc lựa chọn thị mục tiêu đối với hoạt động marketing và ba bước cơ bản của marketing mục tiêu
và các cơ sở của việc phân đoạn thị trường
chọn thị trường mục tiêu bao gồm: Đánh giá các đoạn thị trường, các phương án lựa chọn thị trường mục tiêu, các chiến lược marketing đáp ứng thị trường mục tiêu
trường, các hoạt động trọng tâm của chiến lược định vị, các bước tiến hành định vị thị trường
BÀI 5: LỰA CHỌN THỊ TRƯỜNG MỤC TIÊU VÀ
ĐỊNH VỊ THỊ TRƯỜNG
Trang 2TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI
Công ty PT lựa chọn thị trường mục tiêu
Công ty PT là doanh nghiệp kinh doanh thiết bị âm
thanh từ năm 1996 Cùng với sự phát triển của công
nghệ điện tử, các thiết bị âm thanh ngày càng phong
phú đa dạng, có rất nhiều doanh nghiệp cung ứng thiết
bị âm thanh trên thị trường Năm 2004, qua kiểm tra
kết quả kinh doanh, ông chủ của công ty PT nhận thấy
thị trường thiết bị âm thanh tăng trưởng mạnh mẽ cả
về nhu cầu cũng như nguồn cung ứng, song lợi nhuận
kinh doanh trong ngành không tăng Chính vì vậy, ông
chủ của PT quyết định tổ chức họp các thành viên
công ty và toàn bộ nhân viên kinh doanh để đánh giá
lại tình hình thị trường Các thành viên tham gia họp
đã thảo luận sôi nổi và cùng đi đến kết luận: Thị
trường thiết bị âm thanh có thể chia làm hai phần, thị
trường thiết bị âm thanh dùng trong gia đình và thiết
bị âm thanh chuyên nghiệp (thiết bị âm thanh dùng
trong các nhà hát, rạp chiếu phim, phòng thu, hội
trường, phòng Karaoke tập thể…) Thị trường thiết bị âm thanh dùng trong gia đình rất lớn song lại có quá nhiều người kinh doanh, do đó cạnh tranh gay gắt và lợi nhuận thấp Thị trường thiết bị âm thanh chuyên nghiệp, có quy mô nhỏ song có tốc độ tăng trưởng khá cao Hơn nữa, tại thời điểm đó hầu như chưa có doanh nghiệp nào chuyên kinh doanh loại thiết bị
âm thanh này mà chủ yếu các doanh nghiệp nhập khẩu hàng phục vụ cho từng công trình cụ thể theo yêu cầu của khách hàng Với kinh nghiệm kinh doanh và khả năng kỹ thuật của mình, các thành viên của PT quyết định tập trung vào kinh doanh thiết bị âm thanh chuyên nghiệp Nhờ việc đi tiên phong trên thị trường thiết bị âm thanh chuyên nghiệp mà PT đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường này và xây dựng được một vị thế vững chắc trên thị trường
Trang 35.1 Khái quát chung về lựa chọn thị trường mục tiêu
5.1.1.1 Những lý do phải lựa chọn thị trường mục tiêu
Xuất phát từ thị trường tổng thể: Thị trường
tổng thể có quy mô lớn và phức tạp trong khi năng lực của doanh nghiệp không đủ để đáp ứng được nhu cầu và ước muốn của toàn bộ thị trường
Xuất phát từ hoạt động cạnh tranh: Trên thị
trường, bên cạnh doanh nghiệp còn có nhiều đối thủ cạnh tranh cùng cung cấp mặt hàng đó với mức độ và phạm vi cạnh tranh ngày càng gay gắt, tinh vi
Xuất phát từ năng lực của doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp chỉ có năng lực
nhất định, có một vài thế mạnh trong việc thỏa mãn nhu cầu của thị trường và cạnh tranh Chính vì vậy, để kinh doanh có hiệu quả, duy trì và phát triển được thị phần thì doanh nghiệp phải chia nhỏ thị trường tổng thể thành những đoạn thị trường và lựa chọn những đoạn thị trường mà ở đó doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được nhu cầu và ước muốn của khách hàng tốt hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh khác (được gọi là đoạn thị trường mục tiêu) Để thành công trên thị trường mục tiêu, doanh nghiệp phải có một chiến lược để tạo ra một vị trí mong đợi trên thị trường (định vị thị trường)
5.1.1.2 Sự hình thành Marketing mục tiêu
Người ta tìm hiểu thực chất của Marketing mục tiêu thông qua xem xét lộ trình lịch sử phát triển tư duy và ứng dụng của Marketing trong việc đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng
Lộ trình phát triển của các chiến lược Marketing thông qua 3 giai đoạn:
o Giai đoạn 1: Marketing đại trà
Nội dung: Người cung ứng tiến hành sản
xuất đại trà, phân phối đại trà, quảng cáo đại trà chỉ 1 loại sản phẩm hướng tới thoả mãn tất cả các nhu cầu của mọi khách hàng trên thị trường Ở giai đoạn này, tất cả các doanh nghiệp đều cố gắng đưa ra những loại sản phẩm đồng nhất và không quan
tâm đến đặt nhãn hiệu cho sản phẩm
Lợi thế: Lợi dụng quy mô sản xuất lớn,
chi phí sản xuất sản phẩm giảm do đó sản phẩm có thể bán với giá thấp nhất tạo khả năng khai thác tối đa thị trường
Đánh giá: Chiến lược Marketing đại trà chỉ đem lại hiệu quả kinh doanh
khi thị trường có nhu cầu ở trình độ thấp, nhu cầu thiết yếu bình thường, nhu cầu tồn tại
o Giai đoạn 2: Marketing đa dạng hoá sản phẩm
Trang 4 Nội dung: Giai đoạn này, nhà cung ứng tiến hành sản xuất những mặt hàng có
cùng chủng loại nhưng với kiểu dáng, kích thước hoặc một vài đặc điểm nào
đó khác nhau nhằm tạo ra sự đa dạng cho sản phẩm để hấp dẫn khách hàng
Đánh giá: Chiến lược này mang lại hiệu quả hơn hẳn chiến lược Marketing
đại trà tuy nó chưa quan tâm đến sự khác biệt của nhu cầu Ở giai đoạn này
ý tưởng của việc phân đoạn thị trường bắt đầu hình thành
o Giai đoạn 3: Marketing mục tiêu hay
Marketing trọng điểm Người bán cần phân chia thị trường thành các đoạn thị trường và lựa chọn một hoặc một vài đoạn thị trường mà doanh nghiệp có khả năng phục vụ tốt nhất, nghiên cứu và soạn thảo các chương trình Marketing phù hợp với đoạn thị trường đã lựa chọn
Tóm lại: Thực chất của Marketing mục tiêu chính là việc tập trung nỗ lực Marketing
đúng thị trường, xây dựng cho doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp một hình ảnh riêng rõ nét gây ấn tượng nhất quán trên thị trường đã chọn với nguồn lực hạn chế của doanh nghiệp nhằm khai thác thị trường một cách có hiệu quả nhất và có khả năng cạnh tranh
Sơ đồ 5.1: Những bước cơ bản của tiến trình STP
Bước 1: Phân đoạn thị trường: Chia thị trường tổng thể thành các nhóm khách
hàng theo những cơ sở đã lựa chọn Điều quan trọng là phải xác định được các cơ
sở để phân đoạn thị trường sao cho các đoạn thị trường phải hàm chứa được những đặc điểm của người mua gắn với những đòi hỏi riêng về sản phẩm và các hoạt động Marketing khác
Bước 2: Lựa chọn thị trường mục tiêu: Doanh nghiệp lựa chọn một hoặc một vài đoạn
thị trường khác nhau được đánh giá là hấp dẫn để tiến hành hoạt động kinh doanh
Bước 3: Định vị thị trường: Những hoạt động Marketing nhằm tìm kiếm tạo dựng
và tuyên truyền những lợi ích đặc biệt mà doanh nghiệp cung ứng cho thị trường mục tiêu và phải chắc chắn rằng khách hàng mục tiêu sẽ có được một hình ảnh rõ
Phân đoạn thị trường
Xác định căn cứ
phân đoạn và tiến hành phân đoạn thị trường
Xác định đặc điểm
của từng đoạn thị trường
Chọn thị trường mục tiêu
Đánh giá mức độ hấp dẫn của từng đoạn thị trường
Chọn một hoặc một vài đoạn thị trường làm thị trường mục tiêu
Định vị thị trường
Xác định vị thế trong đoạn thị trường mục tiêu
Xây dựng chiến lược Marketing hỗn hợp cho thị trường mục tiêu
Trang 5ràng trong tâm trí và họ thấy sản phẩm của doanh nghiệp đáng được chọn mua và
sử dụng hơn là đối thủ cạnh tranh
Phân đoạn thị trường là quá trình phân chia thị
trường tổng thể thành các nhóm trên cơ sở những
đặc điểm khác biệt về nhu cầu, ước muốn và các
đặc tính hay hành vi
Theo quan điểm marketing, thị trường bao gồm tất
cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu
hay mong muốn cụ thể sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu
và mong muốn đó
Thực chất phân đoạn thị trường là việc chia thị trường tổng thể thành các nhóm khách hàng có cùng những đặc tính chung (nhu cầu, ước muốn, thói quen mua hàng, sức mua, phản ứng giống nhau trước cùng một kích thích Marketing) Lợi ích của phân đoạn thị trường:
Giúp người làm Marketing hiểu thấu đáo hơn nhu cầu và ước muốn của
khách hàng
Phân đoạn thị trường giúp người làm Marketing tìm đúng được thị trường mục tiêu (dễ dàng hơn trong việc trả lời câu hỏi: Ai? Cái gì? Làm thế nào? Ở đâu? Khi nào?)
Giúp người làm Marketing thực hiện định vị thị trường có hiệu quả hơn
Nhờ có phân đoạn thị trường, người làm Marketing có thể lựa chọn những vị thế của doanh nghiệp phù hợp với mong đợi của khách hàng mục tiêu Nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng chiếm lĩnh vị trí cụ thể trong tâm trí khách hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh
Nâng cao độ chính xác trong việc lựa chọn các công cụ Marketing
Phân đoạn thị trường giúp người làm Marketing hiểu thấu đáo thị trường, định vị thị trường tốt hơn, do đó có thể xác lập những những chính sách Marketing hỗn hợp đúng đắn và có hiệu quả hơn
Sử dụng có hiệu quả hơn nguồn lực Marketing
Khi hiểu rõ thị trường, xác lập các hoạt động Marketing phù hợp thì đương nhiên hiệu quả kinh tế của hoạt động Marketing sẽ tốt hơn
Phân đoạn thị trường giúp doanh nghiệp xác định được những đoạn thị trường có hiệu quả, những đoạn thị trường mục tiêu có quy mô phù hợp và đồng nhất hơn thị trường tổng thể Nhờ đó mà hoạt động Marketing của doanh nghiệp xác định được những mục tiêu kinh doanh cụ thể, rõ ràng và có hiệu quả hơn Tuy nhiên, không phải phân chia thị trường ngày càng nhỏ càng có lợi mà phân đoạn thị trường phải giúp doanh nghiệp xác định được những đoạn thị trường có hiệu quả
Trang 6Một đoạn thị trường có hiệu quả là một nhóm khách hàng mà doanh nghiệp có khả
năng đáp ứng được nhu cầu và ước muốn của họ đồng thời có số lượng đủ lớn để tạo
ra dòng tiền thu lớn hơn dòng tiền chi cho những nỗ lực kinh doanh của doanh nghiệp
Đoạn thị trường hiệu quả phải đạt được các yêu cầu sau:
Đo lường được: Phân đoạn thị trường phải đảm bảo đo lường được quy mô, sức
mua và đặc điểm của khách hàng ở mỗi giai đoạn thị trường
Đây là yêu cầu tối cần thiết để dự báo khối lượng tiêu thụ, doanh thu và lợi nhuận Yêu cầu “đo lường được” gắn liền với cơ sở để phân đoạn thị trường Trên thực tế
có nhiều cơ sở rất dễ đo lường như lứa tuổi, giới tính, thu nhập… nhưng lại có những cơ sở rất khó đo lường như tâm lý, những người thuận tay trái…
Có quy mô đủ lớn: Việc phân đoạn thị trường phải hình thành những đoạn thị
trường có quy mô đủ lớn để có thể hứa hẹn một số lượng khách hàng đảm bảo khả năng sinh lời Điều đó có nghĩa khi thực hiện chương trình Marketing cho đoạn thị trường đó sẽ có dòng tiền thu lớn hơn dòng tiền chi
Có thể phân biệt được: Mục đích của phân đoạn thị trường là phải xác định được
đoạn thị trường mục tiêu Nếu các đoạn thị trường không có sự khác biệt có thể nhận thấy được thì khó có thể xác định được các chương trình Marketing riêng cho
Yêu cầu “có thể phân biệt được” chỉ rõ một đoạn thị trường được hình thành phải
là đoạn thị trường có đặc điểm riêng biệt, với đoạn thị trường khác và phải có những đòi hỏi Marketing riêng
Có tính khả thi: Sau khi phân đoạn, có thể có vô số các đoạn thị trường khác nhau
được hình thành với các cơ hội kinh doanh khác nhau Với mỗi doanh nghiệp cụ thể những đoạn thị trường có giá trị phải là những đoạn thị trường mà doanh nghiệp có khả năng tiếp cận Nguồn lực của doanh nghiệp phải phù hợp để doanh nghiệp có thể xây dựng những chính sách Marketing phù hợp để khai thác hiệu quả
đoạn thị trường đó
Ví dụ: Nhà sản xuất gỗ ép tìm thấy thị trường các nhà sản xuất đồ nội thất với quy
mô nhu cầu rất cao nhưng đòi hỏi phải ký kết hợp đồng dài hạn với số lượng lớn nhưng doanh nghiệp lại không chủ động được nguồn nguyên liệu cho mình thì không thể khai thác được đoạn thị trường đó
Để xác định được những nhóm khách hàng có cùng nhu cầu, ước muốn và các đặc điểm hành vi người ta thường sử dụng bốn cơ sở chính để phân đoạn thị trường bao gồm: Địa lý, nhân khẩu, tâm lý và hành vi
Các cơ sở này là nguồn gốc tạo nên nhu cầu, ước muốn đặc điểm hành vi và những đòi hỏi riêng về các chương trình Marketing Mỗi cơ sở bao gồm nhiều tiêu thức, mỗi tiêu thức lại hàm chứa một ý nghĩa riêng trong việc phản ánh những đặc điểm của đoạn thị trường
Trang 7Cơ sở và tiêu thức Các đoạn thị trường điển hình
Nhiệt đới gió mùa, ôn đới, hàn đới
Độc thân trẻ, Gia đình chưa có con, Con dưới độ tuổi đi học, Con đi học xa, hai vợ chồng già, goá hay độc thân
Dưới 500.000 đ; 500.000-1.000.000 Công nhân viên, giáo viên, nông dân
Mù chữ, cấp 1, cấp 2, cấp 3, đại học, trên đại học Phật giáo, thiên chúa giáo, Hồi giáo
Sử dụng rồi, chưa sử dụng, ít sử dụng Cao, thấp hay dao động
Chưa biết, biết, quan tâm, ưa chuộng, ý định mua, đi mua Bàng quan, thù ghét, thích…
Bảng 5.1 Các cơ sở và tiêu thức để phân đoạn thị trường người tiêu dùng
5.2.3.1 Phân đoạn thị trường theo cơ sở địa lý
Căn cứ vào yếu tố địa lý thị trường tổng thể được phân
chia theo địa dư, vùng khí hậu… các đoạn thị trường
đặc trưng khi phân chia thị trường theo tiêu thức thuộc
cơ sở này: Quốc gia, vùng, miền, tỉnh, thành…
Ứng dụng: Việc phân chia thị trường theo khu
vực địa lý được áp dụng phổ biến vì:
hành vi tiêu dùng luôn gắn với yếu tố địa lý, nơi cư trú tạo nên những nét đặc thù về sức mua, đặc điểm hành vi
Ví dụ: thị trường miền Bắc khác miền Trung và miền Nam có thói quen ăn sáng, khẩu vị ăn khác nhau
Trang 8o Ranh giới giữa các đoạn thị trường phân chia theo tiêu thức này thường khá rõ ràng do đặc điểm của điều kiện tự nhiên, văn hoá của các vùng dân cư thường gắn bó chặt chẽ với nhau
những đặc điểm của khách hàng vừa có ý nghĩa với quản lý hoạt động Marketing theo khu vực
5.2.3.2 Phân đoạn theo nhân khẩu học (dân số – xã hội)
Căn cứ: Giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, quy mô gia đình, tình trạng hôn nhân, thu nhập, giai tầng xã hội, tín ngưỡng, dân tộc, sắc tộc…
Các yếu tố nhân khẩu học được sử dụng phổ biến để phân đoạn thị trường vì:
nhân khẩu học
Tuổi tác nhu cầu Chu kỳ sống gia đình nhu cầu
thường có sẵn vì chúng còn được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau
phân đoạn thị trường Tuy nhiên, tùy từng loại hàng hoá mà người ta sử dụng các tiêu thức cụ thể khác nhau
Ví dụ: Tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống giai đình: đồ chơi, thực phẩm, quần áo, đồ gia dụng…
hợp nhiều yếu tố vì các yếu tố có mối liên hệ qua lại lẫn nhau và một yếu tố thường không phản ánh được đặc điểm của khác hàng
Ví dụ: Tuổi tác và giới tính phân đoạn thị trường thời trang
5.2.3.3 Phân đoạn theo tâm lý học
Do các yếu tố tâm lý đóng vai trò quan trọng
trong hành vi lựa chọn và mua sắm cho hàng hoá
của người tiêu dùng Các yếu tố tâm lý học dùng
để phân đoạn thị trường: Vị trí xã hội, lối sống,
động cơ, nhân cách…
Trước kia, người làm Marketing cho rằng các
yếu tố tâm lý chỉ được sử dụng để hỗ trợ yếu tố
địa lý và nhân khẩu học trong phân đoạn thị
trường Tuy nhiên quan niệm Marketing hiện đại
cho rằng tiêu dùng của con người không đơn
giản là sự tồn tại mà còn là cách tự thể hiện mình Do đó, cơ sở tâm lý học càng được sử dụng rộng rãi trong phân đoạn thị trường, đặc biệt trong kinh doanh các sản phẩm: Hàng may mặc, mỹ phẩm, thể thao, dịch vụ giải trí…
Trang 9 Yếu tố tâm lý được sử dụng làm cơ sở phân đoạn thị trường đối với những sản phẩm mà khách hàng quan tâm đến những đặc tính của sản phẩm gắn với những thuộc tính tâm lý: lòng tự hào về quyền sở hữu, cá tính, lối sống hơn những khía cạnh khác
5.2.3.4 Phân đoạn theo hành vi
Theo phương pháp này người ta chia thị trường
thành các nhóm đồng nhất về các đặc tính: lý do mua hàng, lợi ích tìm kiếm, sự trung thành, số lượng và tỷ lệ sử dụng, cường độ tiêu thụ, tình trạng sử dụng
Các chuyên gia Marketing đánh giá: Phân
đoạn thị trường theo hành vi là khởi điểm tốt nhất để hình thành các đoạn thị trường, tìm kiếm các giải pháp tăng doanh số
o Lý do mua hàng: Người mua được phân biệt theo những lý do mua khác
nhau: Mua cho nhu cầu cá nhân, mua cho nhu cầu gia đình, mua cho nhu cầu công việc, mua cho nhu cầu giao tiếp Việc phân đoạn thị trường theo lý do mua một mặt giúp doanh nghiệp đáp ứng đúng lý do mua của khách hàng, một mặt giúp doanh nghiệp đưa ra kiểu sử dụng mới cho sản phẩm hiện có nhằm tăng mức tiêu thụ
Ví dụ: Quảng cáo nhai kẹo cao su là cách luyện tập cho khuôn mặt
o Lợi ích tìm kiếm: Để phân đoạn được theo phương pháp này người ta tìm
cách đo lường hệ thống giá trị và khả năng khách hàng có thể nhận biết về các giá trị đó từ các nhãn hiệu khác nhau trong cùng một loại sản phẩm
o Phân đoạn thị trường theo lợi ích tìm kiếm là cách tiếp cận thị trường tốt
nhất để xác định rõ nhu cầu, ước muốn của nhóm người mua cụ thể đối với từng nhãn hiệu hàng hoá
o Số lượng và tỷ lệ tiêu dùng: Với tiêu thức này thị trường tổng thể được phân
chia thành các nhóm khách hàng dùng nhiều, dùng thường xuyên, dùng ít, dùng vừa phải Ví dụ: bia hơi…
o Tiêu thức số lượng và tỷ lệ tiêu dùng giúp người làm Marketing có khái niệm
đúng đắn về “quy mô thị trường có hiệu quả” Cầu thị trường phụ thuộc số lượng khách hàng và sức mua của nhóm khách hàng
Ví dụ: Số lượng khách hàng đi xe khách thường xuyên hay không thường xuyên
o Mức độ trung thành của nhãn hiệu Trên cơ sở này người ta phân ra các
đoạn thị trường nhóm khách hàng như khách hàng trung thành, khách hàng hay dao động, khách hàng hoàn toàn không trung thành
Việc phân đoạn thị trường theo phương pháp này giúp nhận biết mức độ chấp nhận của khách hàng về nhãn hiệu cạnh tranh trong nhiều trường hợp nó được sử dụng để lựa chọn các chiến lược Marketing
Tuy nhiên, mức độ trung thành với nhãn hiệu của khách hàng có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau và trong nhiều trường hợp nó có khái niệm rất mơ hồ, do đó nó không được sử dụng phổ biến để phân đoạn
Trang 10Ngoài các tiêu thức trên đây còn một số tiêu thức như mức độ sẵn sàng mua, thái độ của khách hàng cũng được sử dụng để phân đoạn Tuy nhiên, việc sử dụng các tiêu thức này khó khăn và đòi hỏi chi phí lớn nên ít được sử dụng Phương pháp này được
sử dụng trong lĩnh vực thương mại, quảng cáo để phân loại khách hàng nhằm tăng hiệu quả trong từng tình huống giao dịch trực tiếp hay quảng cáo Phương pháp này được sử dụng tương đối phổ biến trong Marketing chính trị xã hội
Khái niệm: Thị trường mục tiêu là một hoặc
một vài đoạn thị trường mà doanh nghiệp lựa chọn và quyết định tập trung nỗ lực Marketing vào đó nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của mình
Những quyết định về thị trường mục tiêu: lựa
chọn loại khách hàng nào (đoạn thị trường nào)
và có bao nhiêu loại khách hàng được lựa chọn
Mục đích: Nhận dạng sức hấp dẫn của chúng trong việc thực hiện mục tiêu của
doanh nghiệp
Các tiêu chuẩn đánh giá sức hấp dẫn
những nỗ lực Marketing không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai Chính vì vậy quy mô và sự tăng trưởng là yếu tố đầu tiên người ta xem xét
để lựa chọn thị trường mục tiêu
trường có quy mô và mức độ tăng trưởng phù hợp với tiềm năng của doanh nghiệp Quy mô và mức độ tăng trưởng là thuật ngữ mang tính tương đối Doanh nghiệp lớn thường hướng tới đoạn thị trường có quy mô lớn, doanh nghiệp nhỏ thường hướng đến đoạn thị trường có quy mô nhỏ
Đoạn thị trường có quy mô lớn mức tăng trưởng cao – cơ hội kinh doanh lớn, cạnh tranh lớn Đoạn thị trường có quy mô nhỏ – không hứa hẹn cơ hội kinh doanh thu nhiều lợi nhuận, đối thủ cạnh tranh ít quan tâm
Các chỉ tiêu dùng để phân tích quy mô và sự tăng trưởng của thị trường, doanh số bán, sự thay đổi doanh số bán, mức lãi và tỷ lệ thay đổi mức lãi, các nhân tố có thể làm biến đổi về cầu
Một đoạn thị trường có quy mô lớn và tăng trưởng cao nhưng nếu mức độ cạnh tranh quá gay gắt hoặc quyền thương lượng từ phía khách hàng và các lực
Trang 11lượng khác quá lớn thì cũng không thể là đoạn thị trường hấp dẫn Mức độ hấp dẫn của đoạn thị trường còn được đánh giá theo cơ cấu thị trường Người ta đánh giá mức độ hấp dẫn về cơ cấu thị trường thông qua mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter:
dẫn nếu có quá nhiều đối thủ cạnh tranh Cạnh tranh trên đoạn thị trường sẽ
càng sôi động nếu rơi vào các tình huống sau:
đang suy thoái (tốc độ tăng trưởng giảm sút)
cáo, khuyến mại, chi phí cho hoạt động Marketing Điều này dẫn đến thị trường của toàn ngành và của từng doanh nghiệp giảm
thủ cạnh tranh và rào cản gia nhập thị trường thấp
Rào cản: Khả năng chống trả của các doanh nghiệp hiện có trong ngành, mức độ trung thành của khách hàng với nhãn hiệu hiện có, tính khác biệt sản phẩm, đòi hỏi chi phí đầu
tư cơ bản, sự hấp dẫn về lợi nhuận mà đoạn thị trường hứa hẹn
Khi đánh giá sự hấp dẫn của đoạn thị trường người ta nhìn nhận về đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:
nhuận thấp nhưng ổn định
năng thu lợi nhuận cao và ổn định
ẩn chứa rủi ro cao và khả năng thu lợi nhuận thấp
Cạnh tranh giữa các hãng trong ngành
Đe dọa từ sự gia nhập của đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Sức ép từ phía khách hàng
Đe dọa của hàng hóa thay thế Sức ép từ phía
nhà cung cấp