Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong Luật Thương mại, không có quy định cụ thể về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại; vấn đề này được điều chỉnh chung trong Bộ luật Dân sự.
BLDS năm 2015 đã thiết lập khung pháp lý cho giao dịch dân sự và hợp đồng thương mại, nhấn mạnh sự cần thiết của việc tham gia hoàn toàn tự nguyện Mặc dù quy định đã khá đầy đủ, nhưng vẫn tồn tại những bất cập liên quan đến giả tạo, hành vi lừa dối của bên thứ ba, và thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Do đó, nghiên cứu về “Hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện và hậu quả pháp lý” là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự và sự vi phạm ý chí này là vấn đề pháp lý quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều học giả Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về vấn đề này ở nhiều cấp độ.
Nguyễn Thị Mơ (2007) trong cuốn "Cẩm nang hợp đồng thương mại" đã trình bày các vấn đề cơ bản về pháp luật hợp đồng, bao gồm khái niệm, nguyên tắc, những lỗi phổ biến khi ký kết hợp đồng và hiệu lực của hợp đồng Sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015 ra đời, nhiều tác giả đã cho ra mắt các cuốn sách bình luận về bộ luật này, trong đó có công trình nổi bật của TS Ngô Hoàng Oanh.
(2016), Bình Luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb Lao động, Hà Nội;
TS Nguyễn Minh Tuấn (Chủ biên), (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sư của nước CHXHCN Việt Nam năm 2015, Nxb Tư Pháp, Hà
Nội; Nguyễn Văn Cừ - PGS.TS Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước CHXHCN Việt Nam, Nxb Công an
Các cuốn bình luận này phân tích các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, bao gồm các trường hợp vi phạm ý chí chủ thể và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu Những kiến thức này là nền tảng quan trọng để tác giả nghiên cứu và phát triển đề tài của mình.
Ngoài ra, cuốn “Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015”, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, xuất bản năm
Năm 2016, tác giả Đỗ Văn Đại đã tiến hành phân tích một cách toàn diện các điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, đặc biệt nhấn mạnh những thay đổi liên quan đến ý chí của các chủ thể trong giao dịch dân sự.
* Các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Cường tại Khoa Luật Trường Đại học tập trung vào chủ đề "Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu" Nghiên cứu này phân tích các khía cạnh pháp lý liên quan đến giao dịch dân sự không có hiệu lực và những hệ quả pháp lý phát sinh từ chúng, nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức xử lý và giải quyết các vấn đề liên quan trong thực tiễn pháp luật.
Quốc gia Hà Nội, năm 2004
Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật
Việt Nam có nhiều nghiên cứu quan trọng về pháp luật hợp đồng thương mại, trong đó có luận án Tiến sĩ Luật học tại Đại học Luật TP Hồ Chí Minh và luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Len (2016) về pháp luật hợp đồng thương mại vô hiệu tại trường Đại học Luật Hà Nội Những tài liệu này đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về khung pháp lý và các vấn đề liên quan đến hợp đồng thương mại ở Việt Nam.
Trần Thị Bích Ngọc (2018) đã nghiên cứu về pháp luật liên quan đến hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng tại Tòa án kinh tế và Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý và thực tiễn xét xử, giúp nâng cao nhận thức về vấn đề hợp đồng vô hiệu trong thương mại.
Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội
Vongphan Ienpanya (2019) đã thực hiện nghiên cứu về việc xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu theo pháp luật Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh trong luận văn thạc sĩ Luật học tại trường Đại học Luật Hà Nội Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến hợp đồng thương mại, đồng thời so sánh các điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật.
Nguyễn Thị Nhàn (2008) đã nghiên cứu về "Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự" trong luận văn thạc sĩ Luật học, trong khi Bùi Thị Thu Huyền (2010) phân tích vấn đề "Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí của chủ thể" Những công trình này góp phần làm rõ vai trò của ý chí trong các giao dịch dân sự và ảnh hưởng của nó đến tính hợp pháp của hợp đồng.
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh (2015) và Cao Thị Thùy Dương (2014) tại Trường Đại học Luật Hà Nội đều tập trung vào việc xử lý hợp đồng vô hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam Đặng Thị Huệ (2009) cũng đã nghiên cứu về pháp luật liên quan đến hợp đồng thương mại vô hiệu trong khóa luận tốt nghiệp của mình tại cùng trường Những nghiên cứu này góp phần làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xử lý hợp đồng vô hiệu ở Việt Nam.
Phạm Thùy Linh (2009), “Hợp đồng thương mại vô hiệu – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Luật Hà Nội
Nông Quốc Bình, “Có nên xây dựng một chương riêng về hợp đồng trong Luật Thương mại hay không”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Số 03/2005, tr 40 -
Nguyễn Thế Quyền, “Giao kết hợp đồng thương mại”, Tạp chí Nghề luật, số
Phạm Nguyễn Linh, “Xử lý hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại”, Tạp chí Luật học, số 11/2008, tr 11 - 18
Ngô Huy Cương: “Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt
Trong năm 2008, nhiều bài viết đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến hợp đồng, như Tạp chí Nghiên cứu lập pháp với các bài của Đỗ Văn Đại về nhầm lẫn trong chế định hợp đồng và Lê Thị Bích Thọ về lừa dối trong giao kết hợp đồng Những nghiên cứu này phản ánh những bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất hướng sửa đổi nhằm cải thiện tính minh bạch và công bằng trong các giao dịch hợp đồng.
Các công trình khoa học đã nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan đến đề tài của tác giả, nhưng chủ yếu chỉ tập trung vào một số khía cạnh hoặc trường hợp cụ thể về sự vi phạm ý chí của chủ thể trong hợp đồng thương mại Đặc biệt, từ khi Bộ luật Dân sự (BLDS) năm được ban hành, những nghiên cứu này càng trở nên cần thiết để hiểu rõ hơn về vấn đề này.
Kể từ khi có hiệu lực vào năm 2015, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về vi phạm ý chí của chủ thể trong hợp đồng thương mại Vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện các quy định về vi phạm ý chí chủ thể trong giao dịch dân sự là rất quan trọng cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và hoàn thiện pháp luật.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu luận văn được xây dựng dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, đóng vai trò là kim chỉ nam cho các phương pháp nghiên cứu cụ thể mà tác giả áp dụng trong quá trình thực hiện luận văn.
Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích và bình luận, tổng hợp, thống kê và lịch sử Bên cạnh đó, các phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết, đặt giả thuyết nghiên cứu, thu thập số liệu và so sánh cũng được tác giả vận dụng để tiến hành nghiên cứu các nội dung trong luận văn.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Nghiên cứu này đã góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về hợp đồng thương mại, đặc biệt là trong bối cảnh vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện Từ góc độ thực tiễn, luận văn nêu rõ những khó khăn và vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp liên quan cũng như các hậu quả pháp lý Tác giả cũng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này tại các Tòa án nhân dân.
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần cam đoan, mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 đề cập đến các vấn đề lý luận và khung pháp luật liên quan đến hợp đồng thương mại, tập trung vào việc vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện Bài viết phân tích các hậu quả pháp lý phát sinh từ việc vi phạm này, nhằm làm rõ những quy định và nguyên tắc pháp lý áp dụng trong lĩnh vực thương mại.
Chương 2 Thực trạng pháp luật về hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện và hậu quả pháp lý
Chương 3 phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng thương mại, đặc biệt là những vi phạm liên quan đến điều kiện hoàn toàn tự nguyện Bài viết cũng đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, từ đó giảm thiểu hậu quả pháp lý phát sinh từ những vi phạm này Việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các bên trong hợp đồng là cần thiết để bảo đảm tính công bằng và minh bạch trong giao dịch thương mại.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VI PHẠM ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC HOÀN TOÀN TỰ NGUYỆN VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ
Khái quát hợp đồng thương mại và các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng thương mại
Dựa trên định nghĩa chung về hợp đồng được ghi nhận trong BLDS năm
Hợp đồng thương mại, theo nghiên cứu năm 2015, là thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh và bên liên quan nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại Định nghĩa này dựa trên khái niệm chung về hợp đồng, nhưng bổ sung yếu tố "hoạt động thương mại" để phân biệt với các hợp đồng ở lĩnh vực khác Tuy nhiên, định nghĩa này chưa nhấn mạnh rõ ràng các hoạt động trong lĩnh vực thương mại cũng như mục đích của hợp đồng thương mại.
1 “Hợp đồng thương mại là gì? Đặc điểm của hợp đồng thương mại”? https://luatduonggia.vn/dac-diem-cua-hop- dong-thuong-mai/, ngày truy cập:
Dựa trên các trích dẫn, phân tích các định nghĩa trong luật và các công trình nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một định nghĩa về hợp đồng thương mại.
Hợp đồng thương mại là thỏa thuận giữa các bên, trong đó ít nhất một bên là thương nhân, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi khác.
Các điểm đặc thù của hợp đồng thương mại bao gồm:
Thứ nhất, về đối tượng của hợp đồng thương mại: Đối tượng của hợp đồng thương mại là hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi
Hợp đồng thương mại chủ yếu được thiết lập giữa các thương nhân, trong khi các hợp đồng nói chung có thể có chủ thể đa dạng, bao gồm cả cá nhân và pháp nhân, thương nhân và không phải thương nhân.
Hợp đồng thương mại có nhiều hình thức đa dạng như hợp đồng bằng lời nói, văn bản và hành vi Tuy nhiên, do tính chất phức tạp và quan trọng của một số loại hợp đồng, Luật Thương mại năm 2015 yêu cầu một số hợp đồng như hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, và hợp đồng dịch vụ khuyến mại phải được lập bằng văn bản theo quy định.
Mục đích của hợp đồng thương mại là rất đặc thù, tập trung vào việc tìm kiếm lợi nhuận và kinh doanh có lãi.
Hợp đồng thương mại luôn mang tính chất có đền bù, khác với các loại hợp đồng trong lĩnh vực khác Điều này phản ánh mục đích kinh doanh và thu lợi nhuận từ các giao dịch thương mại.
1.1.2 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại
Cũng giống như các hợp đồng khác, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại được tuân thủ theo quy định tại Điều 117 BLDS 2015, gồm:
Chủ thể tham gia hợp đồng thương mại cần có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự tương ứng với hợp đồng được thiết lập.
Tham gia hợp đồng thương mại phải hoàn toàn tự nguyện, theo quy định của Bộ luật dân sự Có một số trường hợp mà hợp đồng không thể được coi là tự nguyện, bao gồm: hợp đồng giả tạo, hợp đồng do nhầm lẫn, hợp đồng bị lừa dối, hợp đồng dưới áp lực hoặc đe dọa, và hợp đồng do người xác lập không nhận thức được hành vi của mình.
Thứ ba, mục đích và nội dung của hợp đồng thương mại không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Thứ tư, hình thức hợp đồng thương mại phù hợp với quy định của luật.
Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện
1.2.1 Khái niệm điều kiện hoàn toàn tự nguyện và hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện
Tác giả xây dựng khái niệm hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện chủ thể hoàn toàn tự nguyện như sau:
Hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện chủ thể hoàn toàn tự nguyện xảy ra khi các bên ký kết không thể hiện đúng ý chí thực sự của mình Điều này có thể do sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và bên trong, khiến cho ý chí của họ không được bày tỏ đúng như mong muốn.
Hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện chủ thể hoàn toàn tự nguyện bao gồm các loại như hợp đồng giả tạo, hợp đồng được xác lập do nhầm lẫn, lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép, hoặc khi người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.
Việc xác định hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện chủ thể hoàn toàn tự nguyện là rất quan trọng để đánh giá hiệu lực của hợp đồng Các hợp đồng này có thể bị tuyên vô hiệu theo quy định của pháp luật.
1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện
Hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện có các đặc điểm sau đây:
Hợp đồng thương mại vi phạm ý chí là những hợp đồng không phản ánh sự tự nguyện của các bên tham gia Sự không tự nguyện này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, hoặc cưỡng ép Ngoài ra, còn có trường hợp các bên lập hợp đồng giả tạo, tức là họ biết rõ và cố tình thể hiện giao dịch không đúng với ý chí thật của mình vì lý do nào đó Thêm vào đó, nếu một bên ký kết hợp đồng trong trạng thái không nhận thức hoặc không làm chủ được hành vi của mình, thì cũng được coi là không có sự tự nguyện trong việc xác lập hợp đồng thương mại.
Thứ hai, hợp đồng thương mại vi phạm ý chí có thể là sự vi phạm ý chí từ phía một bên chủ thể hoặc cả hai bên chủ thể
Hợp đồng thương mại vi phạm ý chí có thể được coi là có hiệu lực hoặc vô hiệu Ngoài ra, hợp đồng vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện có thể dẫn đến việc vô hiệu tuyệt đối hoặc vô hiệu tương đối.
Thứ năm, hợp đồng thương mại vi phạm ý chí của thể có thể xuất phát từ ý chí bên trong hoặc do sự thể hiện ý chí ra bên ngoài
1.2.3 Phân loại hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện
Hợp đồng thương mại có thể được phân loại thành các nhóm khác nhau dựa trên các căn cứ vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện của các bên tham gia.
* Căn cứ vào lý do vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện của chủ thể
Hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện của chủ thể được phân thành nhiều loại dựa trên lý do vi phạm, bao gồm: (i) Hợp đồng thương mại giả tạo; (ii) Hợp đồng thương mại xác lập do nhầm lẫn; (iii) Hợp đồng thương mại xác lập do lừa dối; (iv) Hợp đồng thương mại xác lập do bị đe dọa, cưỡng ép; và (v) Hợp đồng thương mại do người không nhận thức, làm chủ được hành vi dân sự của mình xác lập.
* Căn cứ vào hậu quả pháp lý của hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện
Hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện có thể được phân thành hai nhóm chính: (i) Hợp đồng vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện không bị vô hiệu; và (ii) Hợp đồng vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện bị vô hiệu Phân loại này dựa trên hậu quả pháp lý của các hợp đồng thương mại trong trường hợp vi phạm điều kiện.
1.2.4 Khung pháp luật về hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện và hậu quả pháp lý
Các vấn đề pháp lý cơ bản hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện và hậu quả pháp lý bao gồm:
Quy định về điều kiện "chủ thể tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện" khẳng định rằng sự tự nguyện của các bên trong giao dịch, đặc biệt là trong hợp đồng thương mại, là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực của hợp đồng.
Các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận các trường hợp giao dịch thương mại vi phạm điều kiện có hiệu lực do thiếu sự tự nguyện Những trường hợp này dẫn đến việc các chủ thể tham gia hợp đồng không thể hiện ý chí tự nguyện trong giao dịch của mình.
Hợp đồng thương mại giả tạo là hợp đồng không có thực, được lập ra nhằm che giấu một hợp đồng thương mại khác Nếu hợp đồng này được thiết lập để trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba, thì nó sẽ bị coi là vô hiệu.
Hợp đồng thương mại có thể bị xác lập do nhầm lẫn khi các bên không nhận định đúng ý chí thực sự của mình Sự nhầm lẫn này có thể xảy ra từ một phía hoặc giữa các bên tham gia hợp đồng, dẫn đến sai lệch trong nội dung và thỏa thuận của hợp đồng thương mại.
Hợp đồng thương mại có thể bị xác lập do lừa dối, đây là hành vi cố ý cung cấp thông tin sai lệch nhằm khiến đối tác hiểu sai nội dung giao dịch Lừa dối trong hợp đồng thương mại xảy ra khi một bên hoặc người thứ ba cố tình làm cho bên kia có hiểu biết sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng, dẫn đến việc xác lập hợp đồng không chính xác.
Hợp đồng thương mại có thể bị xác lập do đe dọa hoặc cưỡng ép, trong đó một bên hoặc người thứ ba có hành vi cố ý buộc bên kia phải thực hiện hợp đồng để tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, hoặc tài sản của bản thân và người thân.
Hợp đồng thương mại được ký kết bởi người không nhận thức và không làm chủ được hành vi dân sự của mình, thường xảy ra khi một cá nhân thực hiện giao dịch trong tình trạng say rượu hoặc sử dụng chất kích thích khác, dẫn đến việc họ không thể kiểm soát hành vi của mình.
Ý nghĩa pháp lý của quy định về hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện
Quy định về hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng cho các bên tham gia hợp đồng, các cơ quan giải quyết tranh chấp và các cơ quan quản lý.
Pháp luật về hợp đồng thương mại quy định rằng việc giao kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện, tạo điều kiện cho các bên thể hiện ý chí của mình mà không xâm phạm đến quyền tự do của đối tác.
Pháp luật về hợp đồng thương mại quy định các điều kiện hiệu lực hoàn toàn tự nguyện, tạo nền tảng pháp lý cho các bên trong việc thiết lập, thực hiện và chấm dứt hợp đồng thương mại.
Quyền lợi của Nhà nước, xã hội và các chủ thể khác được bảo vệ thông qua các quy định về điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện Điều này có nghĩa là các quy định về hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện tự nguyện sẽ ngăn chặn việc xâm phạm quyền lợi của các chủ thể trong xã hội.
Pháp luật về hợp đồng thương mại quy định rằng các hợp đồng vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện sẽ tạo ra hậu quả pháp lý quan trọng Điều này cung cấp cơ sở cho Tòa án và các cơ quan Nhà nước giải quyết tranh chấp liên quan đến các hợp đồng thương mại mà các bên tham gia không thực sự tự nguyện.
Trong Chương 1 của Luận văn, tác giả phân tích khái niệm hợp đồng thương mại và điều kiện có hiệu lực của nó, nhấn mạnh sự khác biệt giữa hợp đồng thương mại và hợp đồng thông thường về chủ thể, đối tượng và mục đích Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại tương tự như giao dịch dân sự, bao gồm điều kiện về chủ thể, sự tự nguyện, mục đích, nội dung và hình thức Tác giả cũng xây dựng khái niệm về hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện tự nguyện, xác định rằng những hợp đồng này có thể bị vô hiệu Hơn nữa, các hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện tự nguyện được phân loại thành các nhóm cụ thể dựa trên tiêu chí nhất định.
Pháp luật về hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra khung pháp lý cho cơ quan Nhà nước giải quyết tranh chấp Nó cũng định hướng cho các chủ thể tham gia giao dịch và bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, cộng đồng, cũng như các chủ thể khác trong xã hội.
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
Thực trạng pháp luật về hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện
2.1.1 Hợp đồng thương mại giả tạo
Giả tạo là khái niệm chỉ những thứ không có thật, tồn tại một cách hư cấu Tại Việt Nam, giao dịch dân sự giả tạo đã được ghi nhận từ sớm và cũng áp dụng cho hợp đồng thương mại giả tạo Hợp đồng thương mại giả tạo được điều chỉnh theo Điều 124 của Bộ luật dân sự năm 2015 Theo quy định hiện hành, hợp đồng thương mại giả tạo bao gồm hai trường hợp cụ thể.
Hợp đồng thương mại giả tạo thường được thiết lập để che giấu một hợp đồng khác Trong tình huống này, các bên tham gia sẽ ký kết hai hợp đồng song song.
Hợp đồng thương mại đích thực là loại hợp đồng mà các bên tham gia mong muốn thiết lập, thể hiện đúng ý chí và thỏa thuận của họ trong giao dịch thương mại.
(ii) Hợp đồng thương mại giả tạo là giao dịch không có thật, được lập ra với mục đích che giấu hợp đồng thương mại đích thực
Hợp đồng thương mại có thể được lập ra một cách giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba, trong đó chỉ cần một hợp đồng giả tạo mà không cần tồn tại song song với hợp đồng đích thực Mục đích của việc lập hợp đồng giả tạo này là để né tránh việc thực hiện nghĩa vụ, chẳng hạn như nghĩa vụ trả nợ hoặc thi hành án dân sự Ví dụ, bên có nghĩa vụ có thể định đoạt tài sản cho người khác để không còn tài sản phục vụ cho việc trả nợ hoặc thi hành án.
2.1.2 Hợp đồng thương mại xác lập do nhầm lẫn
Nhầm lẫn xảy ra khi có sự không chính xác trong việc thể hiện ý muốn của các bên, tức là có sự không trùng khớp giữa ý chí được bộc lộ và mong muốn thật sự của người thể hiện.
Theo Điều 126 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng thương mại được xác lập do nhầm lẫn sẽ được áp dụng theo nguyên tắc pháp luật Để xác định sự nhầm lẫn của chủ thể trong hợp đồng, cần xem xét kỹ lưỡng các yếu tố liên quan.
Một là, ở khía cạnh khách quan: ở khía cạnh này cần phải đánh giá sự nhầm lẫn có mang tính chất hợp lý hay phi lý
Trong bối cảnh pháp lý, cần xem xét mối quan hệ giữa sự nhầm lẫn của các bên và khả năng nhận thức cũng như năng lực chuyên môn của họ Để giảm thiểu tình trạng hợp đồng thương mại bị tuyên bố vô hiệu do nhầm lẫn, Điều 126 BLDS năm 2015 đã bổ sung quy định cho phép hợp đồng không bị vô hiệu nếu mục đích của các bên vẫn đạt được hoặc có thể khắc phục nhầm lẫn ngay lập tức Sự bổ sung này là hợp lý và cần thiết, giúp duy trì tính hợp pháp của hợp đồng khi các bên vẫn có thể đạt được mục tiêu đã đề ra Hơn nữa, từ góc độ phát triển kinh tế, việc hạn chế tuyên bố hợp đồng thương mại vô hiệu sẽ thúc đẩy sự phát triển và giao lưu kinh tế giữa các thương nhân.
Khi nghiên cứu hợp đồng thương mại được hình thành từ sự nhầm lẫn, cần lưu ý rằng giữa quy định của pháp luật và thực tiễn vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết.
(i) BLDS năm 2015 chưa ghi nhận về chủ thể nhầm lẫn
(ii) BLDS năm 2015 còn quy định chung chung về phạm vi các yếu tố bị nhầm lẫn
(iii) BLDS năm 2015 cũng chưa quy định về nguyên nhân dẫn đến sự nhầm lẫn
2.1.3 Hợp đồng thương mại xác lập do bị lừa dối
Lừa dối là một thuật ngữ phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, thường được hiểu là hành động sử dụng lời nói dối và gian lận để khiến người khác nhầm tưởng, từ đó tin tưởng và nghe theo.
2 Hoàng Thế Liên và Nguyễn Đức Giao (2001), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam, tập 1, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp, Hà Nội, tr.283
Theo BLDS năm 2015, "Lừa dối trong giao dịch dân sự" là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba, dẫn đến việc bên kia hiểu sai về chủ thể, tính chất đối tượng hoặc nội dung giao dịch Các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng thương mại được xác lập do lừa dối bao gồm những yếu tố ảnh hưởng đến tính hợp pháp và hiệu lực của hợp đồng.
- Lừa dối trong hợp đồng thương mại được thực hiện thông qua các hành vi của con người
- Yếu tố lỗi trong nhầm lẫn được xác định là lỗi vô ý thì yếu tố lỗi trong lừa dối được xác định là cố ý
Hành vi lừa dối trong hợp đồng thương mại xảy ra khi một bên hoặc người thứ ba cố ý làm cho bên kia hiểu sai về các vấn đề liên quan Chủ thể thực hiện hành vi lừa dối có thể là chính bên trong hợp đồng, khi họ cung cấp thông tin sai lệch để lừa dối đối tác, hoặc là bên thứ ba không liên quan đến hợp đồng thương mại.
- Phạm vi lừa dối trong hợp đồng thương mại tương đối rộng bao gồm lừa dối về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung
Để xác định một hành vi có phải là lừa dối hay không, cần xem xét các yếu tố sau đây:
(i) Phải có sự cố ý đưa thông tin sai lệch hoặc bỏ qua sự thật của một bên; (ii) Người bị lừa dối không biết đến sự lừa dối đó;
(iii) Người bị lừa dối đã tin vào thông tin sai lệch do bên lừa dối đưa ra để ký kết hợp đồng thương mại
2.1.4 Hợp đồng thương mại xác lập do bị đe dọa, cưỡng ép Đe dọa được hiểu là việc một người dùng hành vi hay lời nói tác động vào ý chí của người khác làm cho người đó miễn cưỡng tuân theo sự sắp đặt hay ý muốn của mình Hợp đồng thương mại xác lập do bị đe dọa, cưỡng ép cần xác định các vấn đề pháp lý sau đây:
Chủ thể thực hiện hành vi đe dọa và cưỡng ép luôn bị xác định có lỗi cố ý, tương tự như lỗi của chủ thể thực hiện hành vi lừa dối.
Chủ thể thực hiện hành vi đe dọa và cưỡng ép có thể là chính bên tham gia giao dịch hoặc một người thứ ba, tương tự như quy định trong Bộ luật Dân sự Pháp.
Ba là, các yếu tố bị đe dọa, cưỡng ép: tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của người bị đe dọa
Hậu quả pháp lý của hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện
2.2.1 Hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện có hiệu lực pháp luật
Theo quy định pháp luật, trong một số trường hợp, hợp đồng thương mại có thể có hiệu lực pháp lý mặc dù các bên tham gia không hoàn toàn tự nguyện khi giao kết.
Thứ nhất, đối với hợp đồng thương mại xác lập do nhầm lẫn
Khi các bên ký kết hợp đồng thương mại có sự nhầm lẫn, hợp đồng vẫn có hiệu lực trong một số trường hợp nhất định.
Một là, Theo quy định BLDS năm 2015, hợp đồng thương mại được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong hai trường hợp sau đây:
(i) Mục đích xác lập hợp đồng thương mại của các bên đã đạt được
Các bên trong hợp đồng thương mại có khả năng nhanh chóng sửa chữa những nhầm lẫn, đảm bảo rằng mục tiêu của việc thiết lập hợp đồng vẫn được thực hiện hiệu quả.
Hợp đồng thương mại có thể được xác lập với sự nhầm lẫn mà không bị vô hiệu nếu các bên liên quan chấp nhận hợp đồng đó mà không yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu.
Ba là, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng thương mại xác lập do nhầm lẫn không còn theo Điều 132 BLDS năm 2015
Hợp đồng thương mại có thể bị vô hiệu nếu được xác lập do lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép, cũng như trong trường hợp người tham gia không nhận thức hoặc không làm chủ được hành vi của mình tại thời điểm ký kết hợp đồng.
Hợp đồng thương mại có thể bị coi là vô hiệu nếu được thiết lập do lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, hoặc khi người tham gia không nhận thức và không làm chủ được hành vi của mình tại thời điểm giao dịch Điều này xảy ra trong hai trường hợp cụ thể.
(i) Chủ thể trong hợp đồng thương mại không yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng thương mại vô hiệu
(ii) Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng thương mại vô hiệu đã hết
2.2.2 Hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện bị vô hiệu
2.2.2.1 Điều kiện vô hiệu của hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện bị vô hiệu
Thứ nhất, đối với trường hợp hợp đồng thương mại vô hiệu do giả tạo
Hợp đồng thương mại vô hiệu do giả tạo thuộc loại hợp đồng vô hiệu tuyệt đối, và do đó, nó tự động được xác định là vô hiệu mà không cần phải có tuyên bố từ Tòa án.
Đối với hợp đồng thương mại bị xác lập do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, hoặc do người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, để các hợp đồng này trở nên vô hiệu, cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện nhất định.
* Điều kiện 1: Có yêu cầu của người bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập
Theo Điều 132 BLDS năm 2015, những yêu cầu của người bị nhầm lẫn, lừa dối, hoặc đe dọa, cũng như những người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, phải được đưa ra trong thời hiệu luật định.
2.2.2.2 Hậu quả pháp lý của hợp đồng thương mại vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện
Hợp đồng thương mại vô hiệu không tạo ra, thay đổi, hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên từ thời điểm giao dịch được thiết lập Khi hợp đồng này bị coi là vô hiệu, các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
(iii) Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó
(iv) Bên có lỗi trong hợp đồng thương mại gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên còn lại
Vào thứ năm, việc xử lý hậu quả từ hợp đồng thương mại vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân được quy định bởi Bộ luật này và các luật khác có liên quan.
2.2.2.3 Thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng thương mại vô hiệu do vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng thương mại vô hiệu quy định
Bộ luật quy định thời hiệu 2 năm đối với các hợp đồng thương mại vô hiệu do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, hoặc do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Thời hiệu này bắt đầu tính từ các thời điểm cụ thể đã được quy định.
Hợp đồng thương mại được xác lập do nhầm lẫn hoặc lừa dối có thời hiệu 2 năm Thời gian này được tính từ ngày người bị nhầm lẫn hoặc lừa dối nhận thức được hoặc phải nhận thức được rằng hợp đồng đã được ký kết dựa trên những sai lầm hoặc sự gian dối.
Hợp đồng thương mại được xác lập dưới sự đe dọa hoặc cưỡng ép có thời hiệu 2 năm, bắt đầu từ ngày hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép chấm dứt.
Hợp đồng thương mại do người không nhận thức và không làm chủ được hành vi của mình sẽ có thời hiệu 2 năm, được tính từ ngày hợp đồng được xác lập.
Đánh giá quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện có hiệu lực hoàn toàn tự nguyện và hậu quả pháp lý
2.3.1 Những thành tựu đạt được
BLDS năm 2015 đã khẳng định rằng điều kiện "Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện" là yếu tố cần thiết để hợp đồng thương mại có hiệu lực Yếu tố tự nguyện này là bắt buộc đối với mọi chủ thể tham gia ký kết hợp đồng, đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực của hợp đồng thương mại Ngược lại, nếu hợp đồng thiếu yếu tố tự nguyện, Tòa án có thể tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu.
Hai là, cả BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 đều ghi nhận điều kiện về tính tự nguyện của chủ thể
Theo Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự, bao gồm cả hợp đồng thương mại, sẽ bị coi là vô hiệu nếu không đáp ứng một trong các điều kiện tại Điều 117 Tuy nhiên, điều luật này cũng bổ sung ngoại lệ “trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”, cho phép các quy định khác trong Bộ luật có thể áp dụng trong những tình huống cụ thể.
BLDS năm 2015 quy định rõ ràng và đầy đủ về các trường hợp vi phạm điều kiện có hiệu lực trong giao dịch dân sự và hợp đồng thương mại, nhấn mạnh sự tự nguyện của các chủ thể trong hợp đồng.
Theo Bộ luật, nếu giao dịch dân sự bị xác lập do nhầm lẫn khiến một hoặc nhiều bên không đạt được mục đích hợp đồng, bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Tuy nhiên, nếu mục đích hợp đồng đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục nhầm lẫn, hợp đồng vẫn có hiệu lực Để thúc đẩy giao dịch và phát triển kinh tế, các quy định pháp luật cần linh hoạt, tránh sự cứng nhắc.
Sáu là, BLDS năm 2005 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa thì BLDS năm 2015 bổ sung thêm trường hợp “cưỡng ép”
Điều 127 BLDS năm 2015 đã mở rộng định nghĩa về hành vi đe dọa và cưỡng ép, không chỉ nhắm đến người xác lập hợp đồng mà còn bao gồm "người thân thích" của họ Trong khi đó, Điều 132 BLDS năm 2005 chỉ ghi nhận đe dọa đối với người xác lập giao dịch và một số thành viên trong gia đình như cha, mẹ, vợ, chồng, con Sự điều chỉnh này trong BLDS năm 2015 giúp bao quát đầy đủ hơn các đối tượng có thể bị ảnh hưởng bởi hành vi đe dọa, cưỡng ép, theo quy định về "người thân thích" trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Theo Điều 132 BLDS năm 2015, thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng thương mại vô hiệu là 2 năm, tương tự như quy định trong BLDS năm 2005 Tuy nhiên, BLDS năm 2005 quy định thời hiệu này bắt đầu từ ngày giao dịch được xác lập cho tất cả các yêu cầu tuyên bố vô hiệu, bao gồm cả trường hợp vi phạm yếu tố tự nguyện Ngược lại, BLDS năm 2015 xác định thời điểm bắt đầu tính 2 năm khác nhau cho từng trường hợp yêu cầu tuyên bố vô hiệu liên quan đến sự tự nguyện của các bên.
Điều 8 trong Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba ngay tình trong trường hợp hợp đồng thương mại bị vô hiệu Luật đã có những điểm tiến bộ nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho bên thứ ba, tạo ra sự công bằng trong giao dịch thương mại.
- Khoản 1 Điều 138 BLDS năm 2005 quy định đối tượng là “động sản không phải đăng ký quyền sở hữu” thì khoản 1 Điều 133 BLDS năm 2015 thay đổi thành
"Tài sản không phải đăng ký" đề cập đến tất cả các loại tài sản, bao gồm cả động sản và bất động sản Thuật ngữ này bao hàm đầy đủ các hình thức tài sản, phản ánh tính đa dạng và phong phú trong việc sở hữu và quản lý tài sản.
Theo Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu một giao dịch dân sự bị vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, và sau đó tài sản đó được chuyển giao qua một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình, thì giao dịch này sẽ không bị coi là vô hiệu, miễn là người thứ ba dựa vào việc đăng ký để xác lập và thực hiện giao dịch.
Điều 133 BLDS năm 2015 đã bổ sung quy định quan trọng về bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu tài sản, nhằm khắc phục thiếu sót trong BLDS năm 2005 Theo quy định này, chủ sở hữu không thể đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu Tuy nhiên, họ vẫn có quyền khởi kiện và yêu cầu bồi thường thiệt hại cũng như hoàn trả các chi phí hợp lý từ bên có lỗi dẫn đến giao dịch với người thứ ba.
Mặc dù pháp luật về hợp đồng thương mại đã đạt được nhiều thành tựu trong việc đảm bảo tính tự nguyện và hiệu lực của hợp đồng, nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần được khắc phục.
Một là, Luật Thương mại năm 2005 ghi nhận về việc cấm hành vi lừa dối trong các hoạt đông thương mại
Một số quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch không hợp lý có thể dẫn đến nguy cơ vô hiệu cho các giao dịch và hợp đồng thương mại, gây ảnh hưởng đến tính ổn định của hợp đồng.
Nhiều quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) về hợp đồng vô hiệu còn thiếu cụ thể và rõ ràng, dẫn đến sự hiểu biết khác nhau và không thống nhất trong thực tiễn Hơn nữa, BLDS chưa bao quát hết các trường hợp phát sinh, chẳng hạn như chưa quy định về trường hợp nhầm lẫn khi hai bên chủ thể không có lỗi hoặc sự nhầm lẫn liên quan đến chủ thể của hợp đồng thương mại.
Quy định về các trường hợp hợp đồng thương mại vi phạm điều kiện hoàn toàn tự nguyện hiện vẫn còn một số điểm chưa phù hợp.
Hợp đồng thương mại có thể bị xác lập do nhầm lẫn, tuy nhiên, điều luật hiện hành chưa quy định rõ nguyên nhân gây ra sự nhầm lẫn, phạm vi của nó cũng như cách hiểu để đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng Điều này dẫn đến việc áp dụng vào thực tiễn gặp nhiều khó khăn và thiếu sự rõ ràng.