1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Để góp phần dạy tốt Ngữ văn THCS (Cuốn 1)

50 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Để Góp Phần Dạy Tốt Ngữ Văn THCS (Cuốn 1)
Tác giả Hồ Giang Long, Lê Thị Hồng Vân
Trường học Sở Giáo Dục và Đào Tạo Quảng Bình
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Tài Liệu Bồi Dưỡng Thường Xuyên
Năm xuất bản 2016-2017
Thành phố Quảng Bình
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 661,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần dạy tốt Ngữ văn THCS (Cuốn 1) là tài liệu dùng để triển khai nội dung bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục địa phương (nội dung bồi dưỡng 2) được qui định tại Qui chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên (ban hành kèm theo Thông tư số 26/2012/TTBGDĐT ngày 10 tháng 7 năm 2012) của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 2

2

Để góp phần dạy tốt Ngữ văn THCS (Cuốn 1) là tài liệu dùng để triển khai nội

dung bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục địa phương (nội dung bồi dưỡng 2) được qui định tại Qui chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên (ban hành kèm theo Thông tư số 26 /2012/TT- BGDĐT ngày 10 tháng 7 năm 2012) của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đây là tài liệu tập hợp một số bài viết có liên quan đến việc dạy học chương trình Ngữ văn THCS (dự kiến bộ tài liệu này sẽ có nhiều cuốn và được biên soạn theo từng năm học)

Có thể nói, với người thầy dạy văn thời nay thì việc "tầm chương trích cú" gần như không còn mấy ý nghĩa nữa Bởi vì chúng ta đang dạy học trong một điều kiện mà chỉ cần vài động tác "nhấp chuột" là kiến thức "đông tây kim cổ" đều có thể tìm thấy Chính vì thế, khả năng chọn lọc, tiếp nhận và xử lí thông tin của người thầy mới là quan trọng Nếu

họ không tỉnh táo, không bản lĩnh và không có kinh nghiệm thì rất dễ lạc vào "mê hồn trận" kiến thức do internet đưa lại

Chính vì lẽ trên, khi biên soạn tài liệu này chúng tôi muốn hướng đến việc giúp giáo viên rèn luyện kĩ năng tiếp nhận, xử lí kiến thức hơn là cung cấp chúng một cách đơn thuần Các bài viết được giới thiệu trong tài liệu này ngoài việc cung cấp thông tin còn có vai trò như những "ngữ liệu" để giáo viên cùng nhau nghiên cứu, thảo luận

Nhằm đạt đến mục đích đang hướng tới, sau mỗi bài viết chúng tôi có đưa ra hệ thống câu hỏi Các câu hỏi này một mặt giúp giáo viên nắm được nội dung cốt lõi của bài viết và mặt khác để từng cá nhân bày tỏ quan điểm riêng, tạo sự "phản biện" trong tiếp nhận Có như thế chúng ta mới có cái nhìn sâu sắc, dân chủ, khách quan và toàn diện hơn đối với vấn đề tác giả bài viết đưa ra

Các bài viết này được chúng tôi lựa chọn dựa trên 03 tiêu chí cơ bản: tính mới (đưa

ra được quan điểm, cách nhìn mới, ), tính thiết thực (có thể vận dụng để giảng dạy) và tính gần gũi (kiến thức không quá xa lạ, hàn lâm) Tiêu chí lựa chọn là như vậy nhưng thực hiện chúng đến đâu lại là chuyện khác Một thông tin có thể mới, phù hợp, dễ hiểu với người này nhưng lại không mới, không phù hợp, không dễ hiểu với người khác Đó là điều chắc chắn sẽ xảy ra Do vậy, chúng tôi rất mong sự thông cảm, chia sẻ của các thầy

cô khi sử dụng tài liệu./.

Trang 3

3

BÀI 1

Đúng là bỗng dưng, không phải là một cơn bão trời mà một cơn bão đời đã

đổ bộ vào bản dịch thơ "Nam quốc sơn hà" trong sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập I, quần đi quần lại đến phát sợ Tôi là tác giả của bài học "Nam quốc sơn hà" này và cũng là chủ biên phần Văn của sách giáo khoa Ngữ văn 7, năm nay ở tuổi 87, trong khi gặp bão, đã rơi vào trạng thái hai mặt Một mặt thì nghĩ “sự đời” thời nay là thế, im lặng thôi Có gì cần chống đỡ thì đã có các bậc thức giả, đặc biệt có ông Tổng chủ biên Nguyễn Khắc Phi mà thanh danh học thuật như thế là đủ lắm rồi Nhưng mặt khác lại cứ muốn nói vì dù sao cũng phải có trách nhiệm trước ngành, trước các thầy cô đang dạy và các cháu học sinh đang học bài học này

I Trước hết, xin nói về tâm thế của tôi vừa có nét riêng khi viết bài học Nam quốc sơn hà này trong sách giáo khoa Ngữ văn 7 vừa có nét chung với không ít

sách giáo khoa khác mà tôi đã tham gia trong nhiều năm là thế nào

1 Là phải cố gắng tạo được tâm thế, tư thế và cách viết của một người biết nhiều không phải để viết nhiều mà để viết ít

1 Sông núi nước Nam vua Nam ở

Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ

Bản dịch trên đã được đưa vào SGK Ngữ văn lớp 7 (tập 1) từ lâu Tuy nhiên thời gian gần đây dư luận xôn xao, bàn tán, cho rằng bản dịch này không hay bằng bản dịch sau đây - một bản dịch được cho là đã ăn sâu vào tâm thức của nhiều thế hệ:

Sông núi nước Nam, vua Nam ở, Rành rành định phận tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời

Để giáo viên có thêm thông tin về việc lựa chọn bản dịch đưa vào sách giáo khoa, chúng tôi xin giới thiệu bài viết này

Trang 4

4 Là viết bài học về Nam quốc sơn hà thì ngoài bản Dịch thơ còn có lời

Phiên âm nguyên tác, Dịch nghĩa nguyên tác, lời Giải nghĩa từng chữ một, lời Chú thích, hệ thống câu hỏi Đọc - Hiểu văn bản, lời Ghi nhớ, phần Luyện tập Về Dịch thơ, ngoài bản dịch của Lê Thước - Nam Trân còn có bản dịch của Ngô Linh

Ngọc Đặc biệt có thêm văn bản Nam quốc sơn hà được treo ở Bảo tàng Lịch sử

Việt Nam gồm nguyên tác chữ Hán, phiên âm, dịch thơ do sáng kiến của Tổng chủ biên Nguyễn Khắc Phi Tất cả các bộ phận đó sẽ là một chỉnh thể bài học gồm nhiều yêu cầu và sự tương hỗ giữa các bộ phận để đưa đến hiệu quả tổng thể và

cuối cùng cho học sinh về bài học Nam quốc sơn hà Trong đó bản dịch thơ của Lê

Thước và Nam Trân dù có được coi trọng hơn nhưng vẫn không phải là đối tượng chính của bài học Đối tượng chính của bài học vẫn là nguyên văn bản chữ Hán đã được phiên âm

5 Là cùng với việc viết sách cho học sinh còn viết sách cho giáo viên Mà

ở đây lại phải có sự phân định mức độ kiến thức nông sâu và sự phối hợp giữa hai sách trên cơ sở nhận thức hoàn chỉnh về tác phẩm mà khả năng cho phép

Những gì được trình bày như trên, nếu đã được mọi người biết cho thì có lẽ cũng chẳng có cơn bão đời ở cấp số cao như đã có, phải không thưa quí vị!

II Sau đây, xin nói về những xử lý cụ thể trong khi viết bài học Nam quốc sơn hà cho sách giáo khoa Ngữ văn 7 là thế nào?

1 Vấn đề tác giả là ai? Hiện nay, nhiều sách báo vẫn nói là Lý Thường Kiệt Nếu tôi không lầm thì người đầu tiên nói Lý Thường Kiệt là cụ Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu in lần đầu năm 1943 Nhưng sau này PGS Bùi Duy Tân và nhà Hán Nôm học Nguyễn Thị Oanh qua việc khảo sát hơn ba chục thần tích thần phả đều không thấy đâu nói là của Lý Thường Kiệt Thêm nữa là bài thơ

có thể đã ra đời trước khi có chuyện Lý Thường Kiệt đọc trên sông Như Nguyệt Vậy thì sách giáo khoa phải xử lý như thế nào? Nếu theo đề nghị quyết liệt của PGS Bùi Duy Tân thì phải ghi tác giả là khuyết danh Nhưng liệu có thể như thế

Trang 5

5

không? Một khi số đông đã quen nói là Lý Thường Kiệt Đặc biệt văn bản quốc gia được treo ở Bảo tàng Lịch sử vẫn ghi tác gia là Lý Thường Kiệt mà từ đó đã có chuyện một báo cáo viên thời sự nói ở nhiều nơi rằng: Sau Hiệp định Paris, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ là Kitxingơ đến Hà Nội vào xem Bảo tàng Lịch sử,

được phiên dịch, giới thiệu đầu tiên là văn bản Nam quốc sơn hà thì nghe xong đã

nói: Tất cả nội dung Hiệp định Paris, các ông đã ghi sẵn ở đây rồi chứ còn gì nữa Thêm nữa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp biết chuyện cũng có lời khuyên: Đành là

về văn bản học có như thế, nhưng vẫn phải tìm hiểu thêm Còn làm sách giáo khoa thì chớ coi thường điều đã đi vào tâm thức số đông người dân Trước tình hình đó, chúng tôi đã ghi theo kiểu nước đôi: “Chưa rõ tác giả là ai… Sau này có nhiều sách ghi là Lý Thường Kiệt” và kể lại câu chuyện Lý Thường Kiệt đọc bài thơ Thần này trên sông Như Nguyệt Thiết nghĩ không thể có cách xử lý khác

2 Vấn đề nguyên tác chữ Hán: bấy giờ, cách đây 15 năm, dù chưa biết được

như tiến sĩ Phạm Văn Tuấn ở viện Hán Nôm là có hơn 30 dị bản Nam quốc sơn hà

nhưng chúng tôi cũng đã biết tới nhiều dị bản Do đó đã phải đặt vấn đề chọn bản nào? Cuối cùng thì lấy bản mà hai dịch giả Lê Thước - Nam Trân dùng để dịch

thơ đã in trong Văn thơ Lý Trần, tập I, năm 1977 Cùng một hệ thống như thế là

hợp lý Tất nhiên ở đây, với câu thơ thứ hai "Tiệt nhiên định phận tại thiên thư", so

với bản khác như bản của Đại Việt sử ký toàn thư, có chỗ khác nhau Một bên là

phân định, một bên là định phận mà vừa qua có ý kiến coi định phận là một sự gây cấn, một sự hao hụt về giá trị nội dung Tuyên ngôn Nhưng theo tôi, nếu hiểu phân định là chia ra một cách rành rành, thì vẫn có nghĩa nhưng trọng lượng ngữ nghĩa không bằng định phận Bởi định phận thì chữ phận không nhất thiết là số phận với ngữ nghĩa thông thường là thiên về sự hẩm hiu, bất hạnh Chữ “Phận” trong Hán tự vốn có hai âm là phân (chia) và phận vừa có nghĩa là phận vừa có nghĩa là phần Phận vẫn có trọng lượng ngữ nghĩa riêng và trung tính Tùy theo sự kết hợp giữa phận với từ tố nào mà có nghĩa tiêu cực hay tích cực Kết với tiền tố là số thành số phận hay với tiền tố thân thành thân phận hay kết với hậu tố là đàn bà thành phận đàn bà thì đúng là thiên về hướng tiêu cực Câu thơ Kiều: Đau đớn thay phận đàn

bà là thế Nhưng kết với hậu tố khác mà thành phận làm con, phận làm trai (nam nhi), phận người dân với nước… kể cả phận sự thì có gì là tiêu cực Còn ngược lại

là khác Ví như Phận làm con là một cách nói có trọng lượng sâu nặng không gì

bằng về đạo làm con hiếu thảo với cha mẹ Ở Tuyên ngôn Nam quốc sơn hà mà

Trang 6

hiệu thời nhà Triệu (208 - 111 TCN) mở đầu là Triệu Đà mà trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi vẫn coi là thuộc nước mình nên viết: “Như nước Đại Việt ta… từ

Triệu Đinh Lý Trần, bao đời gây nền độc lập” Trong Học sử ta (1942), Hồ Chí Minh cũng coi nhà Triệu là thuộc nước nhà Nhưng sau này lại khác Các sử gia,

các sách đều coi Triệu Đà là xâm lược Trong văn bản Bình Ngô đại cáo được

giảng dạy bao nhiêu năm nay chỉ còn là “… từ Đinh Lý Trần…” Tại Hà Nội từng

có tên đường Lữ Gia vốn là một tể tướng của nhà Triệu mà Tản Đà từng có bài thơ Lã Gia mở đầu bằng mấy câu: “Ngồi buồn xem lại sử ta/ Quan đời vua Triệu ông Lữ Gia/ Ngôi cao quyền trọng đầu râu bạc/ Hai vai gánh vác một sơn hà” và kết thúc là mấy câu cảm thán cho Lữ Gia: “Chín chục chết theo cơ nghiệp Triệu/ Chưa chắc loạn thần hay trung trinh/ Vằng vặc nghìn thu không kẻ hiểu” Nhưng sau năm 1954, tên phố Lữ Gia bị xóa sổ Tuy vậy, vào năm 1980 trong dịp kỷ niệm

và đón danh hiệu Danh nhân văn hóa của Nguyễn Trãi được Unesco kỷ niệm trên toàn thế giới thì nhà báo Quang Đạm giỏi sử học trên diễn đàn đã đặt lại vấn đề theo hướng coi Triệu Đà là của nước ta như Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh Lê Thước

- Nam Trân dịch Nam quốc thành Nam Việt là chung nhận thức đó Tuy thế chuyện đâu vẫn hoàn đấy trong đại bộ phận sách báo hiện thời Chúng tôi biết vậy nhưng với nhà trường, tính ổn định về nội dung giảng dạy vẫn là điều không thể coi thường nên đã không theo hai dịch giả Dĩ nhiên giáo viên có thể mở rộng mà nói với học sinh chuyện nhà Triệu có vấn đề rắc rối như thế Còn việc chúng tôi thay đổi chút ít lời dịch của hai cụ ở câu thứ nhất mà có vị cho là vi phạm thao tác khoa học thì xin thưa: Không vi phạm chút nào mà rất đúng luật Bởi lẽ nếu giữ nguyên lời dịch thì chẳng cần ghi gì khác Chỉ ghi Bản dịch của Lê Thước và Nam Trân Nhưng đây có thay đổi chút ít thì phải ghi “Theo bản dịch của…” Còn thay đổi nhiều nữa thì lại còn phải ghi “Dựa theo bản dịch của…” Chúng tôi nhiều năm

Trang 7

có mấy vị thì cho bản dịch”cũ” có chỗ hỏng về nghĩa lý và sai về niêm luật Bản dịch “mới” chính xác hơn hay hơn hẳn Đúng là chuyện “văn chương tự cổ vô bằng cứ” Sự cộng hưởng trong tiếp nhận nghệ thuật vốn mang dấu ấn, trình độ cá nhân, tâm thế cá nhân mà thành thiên hình vạn trạng Nói thế, không phải là hòa cả làng,

là bất chấp đúng sai cao thấp trong tiếp nhận nghệ thuật, phải không quí vị!

5 Sau đây, tôi xin nói rõ sự so sánh của mình về hai bản dịch để từ đó chọn bản của Lê Thước và Nam Trân Tôi coi đây như mình là học trò đang làm một bài

Tập làm văn với đề tài: “Hãy so sánh bản dịch Nam quốc sơn hà trong sách giáo

khoa cũ với bản dịch của Lê Thước và Nam Trân trong sách giáo khoa mới.”

Trước hết, ở hai bản dịch, câu đầu (mà chúng tôi đã có chút thay đổi của hai dịch giả) là hoàn toàn giống nhau và đều có thể bị thắc mắc: “Sông núi nước Nam vua Nam ở” Nguyên tác là “Nam đế”có nghĩa là Hoàng đế của nước Nam mà sao lại dịch là “vua Nam”? Thế là mất lập trường, là làm hao hụt quá đáng chất lượng

tư tưởng tự tôn dân tộc của Tuyên ngôn rồi còn gì nữa Đúng là có vấn đề như thế Nhưng ở đây lại còn chuyện này: Về Hán tự thì có hai chữ “đế” và “vương” mà mức độ ngữ nghĩa cao thấp như đã nói Nhưng với tiếng Việt thì “đế” và “vương” đều dịch là vua cả Cho nên chúng tôi vẫn theo lời dịch “cũ” nhưng để khỏi hao hụt chất lượng của vấn đề thì ở chú thích (1) của sách giáo khoa, đã viết: “Vua Nam: Nguyên văn là “Nam đế” tức là vua nước Nam Trong chữ Hán còn có chữ

“vương” cũng có nghĩa là vua Nhưng “đế” thì cao hơn hẳn “vương” Ở đây dùng chữ “đế” là để tỏ thái độ ngang hàng với nước Trung Hoa vì ở Trung Hoa gọi vua

là “đế” thì ở nước ta cũng vậy” Lại có thể có người nghĩ sao không cứ dịch “Sông

Trang 8

8

núi nước Nam Nam đế ở” Kể ra có thể dịch như thế nhưng vẫn phải giải nghĩa chữ

đế Chi bằng cứ nói vua Nam cho học sinh dễ hiểu và có thêm chú thích như trên

mà cuối cùng vẫn đưa đến cho học sinh kết quả nhận thức đầy đủ Lại còn có ý kiến cho dịch các chữ “cư” (mà cả hai đều dịch là “ở”), “thiên thư”, “lỗ” đều chưa ổn Thì ở sách giáo viên, Bài 5, mục Đọc - Hiểu văn bản, phần II, điểm 2, tôi đã viết: “Chung quanh văn bản bài thơ, ngoài chuyện dị bản, gần đây có người hiểu khác một số từ như: Cư, thiên thư, lỗ Cư được hiểu là ngự trị Thiên thư được hiểu là kinh của Đạo giáo Lỗ được hiểu là tù binh Đó là những tìm tòi đáng trân trọng, nhưng vẫn phải tìm hiểu thêm Ví dụ: Muốn khẳng định cư là ngự trị thì không chỉ

dựa vào Đại từ điển Trung Hoa hoặc suy luận rằng đã là “Nam đế” thì cư phải hiểu

là ngự trị Phải tiếp tục tìm hiểu một số vấn đề nữa mới có thể kết luận được nó nghĩa là ngự trị hay là ở như lâu nay vẫn dịch Phải tìm hiểu xem thời có bài thơ

Nam quốc sơn hà, thời Lý Trần, trong tri thức Hán học Việt Nam liệu cư có thêm

một nghĩa nữa là ngự trị hay không dù rằng ở Trung Hoa, cư còn có nghĩa là ngự trị Ngoài ra, phải tìm hiểu thêm ở Trung Hoa, cư có nghĩa là ngự trị từ lúc nào? Trước hay sau khi ở Việt Nam có bài thơ Nam quốc sơn hà? Còn nói rằng vì đã là Nam đế thì cư phải hiểu là ngự trị mới hợp Nhưng cũng không nhất thiết phải là thế Vua thời Lý Trần còn rất gần với dân lắm Tất nhiên để rộng đường tham khảo, chúng tôi đã in thêm bản dịch của Ngô Linh Ngọc mà câu đầu được dịch là: “Đất nước Đại Nam Nam đế ngự”

Với hai bản dịch, ở câu ba và câu bốn ít nhiều có chỗ khác nhau nhưng về cơ bản không hơn thua gì đáng kể và đều có thể thay đổi chút ít với mỗi bên Vấn đề phân biệt hơn thua chính là ở câu hai vốn là câu hồn cốt nhất của Tuyên ngôn Bản

“cũ” dịch là “Rành rành định phận tại sách trời” Bản “mới” dịch “Vằng vặc sách trời chia xứ sở” Thì đây mới thực sự phân định cao thấp của hai bản dịch Mặc dù một số người đã cho hai chữ “vằng vặc” là sai hoặc chấp nhận nhưng chưa làm rõ giá trị của hai từ này Xin thưa rằng: Trong dịch thuật nói chung, dịch thơ, nhất là thơ Đường luật nói riêng, ít ra đã có hai lối dịch thể hiện hai trình độ dịch Một lối

là dịch theo kiểu từ sang từ, chỉ ngừng ở nghĩa lộ thiên Một lối là dịch với yêu cầu tóm bắt cho được thần thái thơ, hồn thơ, không ngừng ở ngữ nghĩa lộ thiên mà còn thuộc trầm tích văn hóa của nguyên tác Với quan niệm này thì rõ ràng bản dịch “cũ” cơ bản thuộc lối dịch trên Bản dịch “mới” thuộc lối dịch sau Lối dịch trên không phải là không có giá trị nào đó một khi đã được diễn đạt bằng một ngôn

Trang 9

9

từ giản dị, êm tai, dễ được độc giả phổ thông đón nhận, thuộc lòng Nhưng với độc giả chuyên sâu về văn học thì hẳn là phải có lối dịch sau Đó là sự thật, xin quí vị đừng cho tôi là nhất trọng nhất khinh một cách chủ quan Ở đây lại còn có vấn đề liên kết hữu cơ của ý tứ giữa các câu trong một chỉnh thể thơ là thế nào? Theo bản dịch “cũ”: “Sông núi nước Nam vua Nam ở/ Rành rành định phận tại sách trời” Như thế thì sách trời định phận là muôn đời trên sông núi nước Nam vẫn có vua Nam ở sao? Trong khi sự tồn tại của vua với sông núi nước Nam chỉ là hiện tượng lịch sử cụ thể chứ đâu phải là vĩnh hằng Chẳng phải vì thế mà ở sách giáo khoa, phần Luyện tập, tôi đã nêu câu hỏi: “Nếu có bạn thắc mắc sao không nói là Nam nhân cư (người Nam ở”) mà lại là Nam đế cư (vua Nam ở) thì em sẽ giải thích thế nào?” Hỏi như thế là nhằm dẫn học sinh đến chỗ nhận biết ý niệm “Nam đế cư” là

ý niệm mang tính lịch sử cụ thể mà chưa phải là điều cốt tử nhất, vĩnh viễn nhất, thiêng liêng nhất của Tuyên ngôn Điều cốt tử nhất vĩnh viễn nhất, thiêng liêng nhất

là vấn đề cương vực, lãnh thổ nói như Nguyễn Trãi về sau là “bờ cõi Bắc Nam đã định” Cho nên, dịch “Vằng vặc sách trời chia xử sở” trong đó nói chia xứ sở mới

là chính xác, mới là đích đáng với bản chất tư tưởng tối ưu của Tuyên ngôn Lại còn chuyện sách trời (thiên thư) thì với câu dịch “rành rành định phận tại sách trời” của bản “cũ” cũng chỉ cho người đọc biết “thiên thư” là “sách trời” và “sách trời”

là quí giá lắm, thiêng liêng lắm nhưng nội dung “sách trời” là gì thì không biết Trong khi “sách trời” (thiên thư ) có cả một nội dung triết học và văn hóa tâm linh

vô cùng phong phú và huyền diệu thuộc thuyết Thiên mệnh của Nho giáo để từ đó

mà có sự định phận cũng là thiên định (trời định), một cách chắc nịch, không bao giờ khác được Thêm nữa là thuyết chiêm tinh, thuyết tai dị, gắn chặt, chi phối sinh mạng, số phận của con người, kể cả cương vực lãnh thổ các quốc gia với các vì sao trên trời đã trở thành những biểu tượng từ tính khách thể mà được chủ thể hóa, siêu hình hóa, tạo ra hiện tượng lấy số tử vi trong dịch học tồn tại đến bao đời nay Trong cuộc sống của người Việt Nam ta xưa đã thế mà nay vẫn còn, chẳng phải còn có chuyện tế sao Thái Bạch, sao Vân Hán, sao Kế Đô đó ư Gặp điều vui thì bảo được cát tinh (sao tốt) chiếu Gặp bất hạnh thì bảo bị hung tinh chiếu Có tài văn chương thì nói được khuê tinh chiếu Nhà vua chết thì nói là băng hà (một ngôi sao tắt) Đọc Truyện Kiều, Từ Hải chết, có nhà Kiều học chẳng đã viết: “Từ Hải là một ngôi sao băng đã đi qua và vụt tắt giữa bầu trời Việt Nam cuối thế ký XVIII đầu thế kỷ XIX” Biểu tượng sao trong thuyết thiên mệnh của sách trời thuộc Nho

Trang 10

10

giáo huyền diệu, bí ẩn là như thế Cho nên vị Giải nguyên uyên thâm Hán học Lê Thước và thi sĩ Nam Trân từng thành công với dịch phẩm Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dịch câu thơ thứ hai của Nam quốc sơn hà: “Vằng vặc sách trời chia xứ sở”, với tôi là một sáng tạo không dễ có trong dịch thuật Đặc biệt là với cặp từ láy “vằng vặc” để nói về độ sáng rất sáng của ánh trăng cũng là của tinh tú, của các vì sao trong sách trời đã chiếu rõ rành rành về xứ sở cương vực của nước Nam ta Lũ giặc kia hãy liệu hồn, chớ có dại mà xâm phạm Xâm phạm thì sẽ bị giáng cho tơi bời tan nát đấy Tôi đã làm bài xong Xin chư vị thức giả chấm bài cho

GS NGND Nguyễn Đình Chú

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU, THẢO LUẬN

1 Hãy cho biết, theo bài viết thì bản dịch hiện đang được đưa vào sách giáo khoa có ưu việt gì so với bản dịch đang được dư luận đánh giá là hay và đã quen thuộc với nhiều thế hệ? Đồng chí có đồng tình với cách phân tích, lí giải của tác giả bài viết không?

2 Xung quanh vấn đề trên, có một số ý kiến khác như sau:

- Mỗi cách dịch đều có cái hay riêng, việc cho một bản dịch nào đó có quyền

ưu tiên, quyền duy nhất đúng là không nên và không cần thiết

- Bản dịch truyền thống đã ăn sâu vào tâm thức nhiều thế hệ Vì vậy các nhà soạn sách không nên chọn bản dịch mới, nhất là khi không chứng minh được tính cần thiết phải chọn bản dịch mới

Quan điểm của đồng chí thì thế nào?

Trang 11

11

BÀI 2

NÓI THÊM VỀ TRUYỆN CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG

Với loại “thiên cổ kỳ bút” như truyện Chuyện người con gái Nam Xương

trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, dù đã được phân tích đánh giá nhiều

nhưng thiết nghĩ vẫn có điều cần nói thêm Bởi ở đây ngoài lớp giá trị lộ thiên, chỉ

khéo khơi khơi một tí đã thấy, còn có lớp giá trị nằm sâu phía trong mà muốn khai

thác thì bên cạnh cái mà mọi người quen nói là cảm thụ văn chương còn phải có

thêm sự hỗ trợ của năng lực tư duy triết học và tư duy trừu tượng khoa học, trừ

trường hợp với ai đó đã mở rộng nội hàm khái niệm năng lực cảm thụ văn chương

để bao gồm cả hai điều vừa được nêu lên đó Năng lực tư duy triết học sẽ cho phép

đi sâu thêm, phát hiện thêm những vấn đề phức tạp nhất, sâu sắc nhất, kể cả sự bí

hiểm trong cuộc sống con người mà cách cảm thụ văn chương thường gặp, đặc biệt

là phương pháp xã hội học giản đơn, dung tục ít nhiều đều bất lực, bất cập Năng

lực tư duy trừu tượng khoa học cho phép nhìn nhận sự vật, ở đây là tác phẩm văn

chương, không chỉ ở cấp độ bộ phận, chi tiết mà quan trọng hơn là ở mối quan hệ

nội tại, trừu tượng giữa các chi tiết trong một cơ chế nghệ thuật có tính nhất thể,

nhận ra vị trí của từng bộ phận từng chi tiết, đâu là chi tiết chủ công, đâu là chi tiết

phu trợ Chi tiết chủ công là chi tiết có khả năng sản sinh trữ lượng tư tưởng thẩm

mỹ lớn nhất cho tác phẩm, không có nó thì giá trị của tác phẩm sẽ khác đi thấp đi

rõ rệt Trong khi với các chi tiết phụ trợ, có thay đi cũng chẳng ảnh hưởng gì đáng

kể Những điều vừa nêu trên là có thể ứng dụng vào việc khám phá bất cứ tác phẩm

văn chương nào, nhất là với những tác phẩm kiệt xuất Ơ đây thử ứng dụng để nói

thêm về Chuyện người con gái Nam Xương

Trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương, hình tượng trung tâm là Vũ

Nương đã được xây dựng với tính cách một phụ nữ đẹp người đặc biệt là đẹp nết

nhưng lại phải chịu một nỗi oan khiên tày trời Nàng là hiện thân khổ đau của

người phụ nữ trong xã hội xưa Nói thế hoàn toàn không sai nhưng chưa đủ để phân

biệt giá trị của truyện Chuyện người con gái Nam Xương với các tác phẩm khác

cùng nói về phẩm chất tốt đẹp và nỗi khổ của người phụ nữ ở thời đó Muốn thấy

cái độc đáo và cũng là cao siêu cuả truyện Chuyện người con gái Nam Xương, phải

Trang 12

12

nói thêm điều này Đó là cái mong manh vô cùng mong manh, mong manh tới độ với tư duy thông thường, trên thế gian này, chẳng ai có thể nghĩ tới Nhưng đó là sự thật Sự thật quá ư khắc nghiệt đối với hạnh phúc của đàn bà, chẳng riêng gì ở Việt Nam thời phong kiến, mà còn là với nữ giới muôn nơi muôn thuở Cứ đọc kỹ

truyện Chuyện người con gái Nam Xương thì thấy rõ Có đúng là sự tan nát hạnh

phúc của Vũ Nương đã bắt đầu từ cái bóng của chính Vũ Nương không? Chồng đi chiến trận, “Ngày thường ở một mình, nàng hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản” Cái bóng là gì vậy? Nếu không phải là một biểu tượng của sự đồng nhất mình với chồng Kim Kiều yêu nhau Nguyễn Du đã có một cách nói đến mức sơn cùng thuỷ tận về chữ đồng trong tình yêu: “Trăm năm tạc một chữ đồng đến

xương” Nguyễn Dữ trước Nguyễn Du trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương lấy cái bóng của Vũ Nương để nói là cha Đản tức là chồng mình kể cũng là

một cách nói sơn cùng thuỷ tận về chữ đồng trong đạo vợ chồng Vậy mà có ai ngờ rằng đời Vũ Nương tan nát bắt đầu từ đấy Từ cái bóng kia Tan nát đến mức thánh thần, trời phật cũng chỉ có thể an ủi bù đắp chút ít chứ không cứu lại được Rồi nữa, tham gia vào việc phá nát hạnh phúc của Vũ Nương là ai? Trời ơi! lại không ai khác mà chính là đứa con nàng đứt ruột đẻ ra Nó ngây thơ, trong trắng Nó hoàn toàn vô tội Nhưng thực tế khách quan, nó là tác nhân trực tiếp gây ra sự đổ nát hạnh phúc cuộc đời của mẹ nó Có đáng sợ, có khủng khiếp không cho cái gọi là sự

ma quái trong cuộc sống con người ở cõi đời Trong Truyện Kiều, nàng Kiều bị tan nát hạnh phúc, chịu hết nạn nọ đến nạn kia là bởi có thằng bán tơ vu oan, có viên quan quen nghề ăn hối lộ, có Mã Giám sinh, Sở Khanh, Tú bà chuyên nghề kiếm ăn

ở miền nguyệt hoa, có Hoạn bà, Hoạn Thư ỷ thế danh gia độc ác, có Hồ Tôn Hiến nổi tiếng lật lọng tóm lại là có nguyên nhân xã hội cụ thể, có những kẻ gian ác sờ

sờ trước mắt mọi người, để người ta nếu chưa đủ sức chống lại thì tìm cách né tránh, lánh xa nó Đằng này, Vũ Nương làm sao mà né tránh được những tác nhân phá hoại đời mình một khi nó nằm ngay trong cái bóng của mình, nằm ngay trong cảnh mình đùa vui con, nằm ngay trong khi mình đang bày tỏ sự gắn bó keo sơn với chồng nơi xa cách, nằm ngay trong một câu nói hồn nhiên vô tư của đứa con ngây thơ trong trắng của mình Tôi muốn nói thế này được chăng: ở phương diện

thể hiện nguyên nhân đau khổ của người phụ nữ, truyện Chuyện người con gái Nam Xương có ý nghĩa triết học sâu sắc hơn, cao hơn Truyện Kiều, bởi nó đã chạm

vào sự ma quái có thực trong sự sống vốn là nghiệt ngã của con người muôn nơi

Trang 13

13

muôn thuở Không ít người đã cho rằng sự tan nát hạnh phúc của Vũ Nương là do chế độ nam nữ bất bình đẳng Nói thế nghe qua tưởng có lý Nhưng nghĩ kỹ thì thấy về cơ bản không hẳn là thế Bởi như chính tác phẩm đã để lộ, nguyên nhân quan trọng và trực tiếp làm tan nát đời Vũ Nương cùng với chuyện cái bóng của Vũ Nương, lời nói hồn nhiên vô tư của đứa con, là cái “tính đa nghi”, “hay ghen” của anh chồng Trương Sinh Mà cái tính hay ghen là gì vậy? Là một hiện tượng tâm lý

có liên quan đến sinh lý, đến giới tính thuộc phạm vi tính người mà tạo hoá đã phát riêng cho nhân loại Nó rất ít liên quan tới vấn đề hình thái xã hội, chế độ chính trị,

kể cả dân tộc và thời đại lịch sử Nó chỉ trừ riêng cho những người mất trí hoặc giả với đó ai nhưng là rất hiếm có trạng thái tâm lý không bình thường hoặc có triết lý sống quá siêu việt Trước phiên toà công lý trong Truyện Kiều, Hoạn Thư chẳng đã nói đúng cái qui luật muôn đời này sao: “Ghen tuông thì cũng người ta thường tình” “Người ta” đây hẳn là có cả nam lẫn nữ Cứ giả thiết ở một xã hội nào đó, quyền nam nữ bình đẳng đã đươc thực hiện trăm phần trăm thì đã có thể tin rằng con người không còn cái máu ghen “thường tình” này nữa sao? Phải nói rõ điều đó

để hiểu được vấn đề triết học nhân sinh vô cùng sâu sắc mà Nguyễn Dữ đã nêu lên trong tác phẩm, dù tự giác hay tự phát, có ý thức hay vô tình Phải hiểu rõ điều đó cũng là để hiểu đúng nguồn gốc tội lỗi của Trương Sinh trong việc đẩy vợ vào chỗ chết Đúng là không ai không oán giận Trương Sinh nhưng từ đó mà qui về chế độ nam nữ bất bình đẳng thì về cơ bản là chưa đúng ý tác phẩm.Nếu thế, cũng khó cắt nghĩa đúng hiện tượng Trương Sinh đã “động lòng thương tìm vớt thây nàng” ngay

cả khi còn “giận là nàng thất tiết”, cũng khó cắt nghĩa đúng sự “tỉnh ngộ thấu nỗi oan của vợ” về sau, khi lại chính từ cái bóng của chàng và cũng qua câu nói của đứa con ngây thơ, trong trắng mà hiểu ra mình đã lầm to để gây tội ác với vợ Xin nói lại cái tội tày trời của Trương Sinh, xét nguyên nhân không gì khác là cái tội của một anh chồng có “tính đa nghi”, “hay ghen”, muốn tránh cũng không tránh được, mà tạo hoá đã trớ trêu ban cho anh ta cũng như bao chàng trai cô gái khác trên thế gian này từ cổ chí kim, từ đông sang tây, cùng một lúc ban cho họ hạnh phúc tình yêu, tình vợ chồng Để từ đó, văn chương có chuyện mà nói, mà sáng tạo,

mà có Đexđêmôna của nước Anh bị bóp cổ chết, Vũ Nương của Việt nam phải tự vẫn nhưng lại nổi tiếng với muôn đời Đó đây lại còn có ý kiến cho rằng Vũ Nương tan nát hạnh phúc là vì chiến tranh Xin nói ngay: ý kiến này là hoàn toàn

sai, là vô hình trung đã coi truyện Chuyện người con gái Nam Xương cũng như

Trang 14

14

Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, trong khi hai tác phẩm có hai nội dung hai chủ đề khác nhau mặc dù đều phản ánh nỗi khổ của phụ nữ Cần thấy rằng chi tiết Trương Sinh đi chiến trận, chẳng có vai trò quyết định gì trong nội dung câu chuyện đánh ghen đến mức đẩy vợ đến cái chết này Giả sử anh ta không ra trận mà

đi học xa về, đi buôn xa về, gặp con, con không nhận lại cứ nói cha là một người đàn ông “đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cùng đi, mẹ Đản ngồi cùng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả” (đúng là một người ngoại tình với mẹ chứ còn ai nữa) thì chuyện gì đã xảy ra trong tác phẩm, chắc chắn lại xẩy ra thôi Ở trên đã có nói, với chi tiết phụ, nếu có thay đi cũng chẳng ảnh hưởng gì đáng kể đến nội dung tác phẩm là như thế

Rõ ràng câu chuỵện Chuyện người con gái Nam Xương đã cho người đọc

thấy thế nào là cái mong manh vô cùng mong manh của hạnh phúc đàn bà muôn nơi muôn thuở Cho nên những chàng trai cô gái đang yêu nhau, những cặp vợ chồng dù đã chỉ non thề biển, đã kết tóc xe tơ với nhau trên cõi thế gian là vẫn cứ phải coi chừng, phải cảnh giác Coi chừng, cảnh giác về nhiều thứ nhưng xin đừng quên coi chừng cảnh giác với cái máu ghen Hãy nhớ rằng, chỉ nhỡ ra một chút thôi

ví như ở đây là nghe con mà không hỏi lại vợ xem sao, thì đã đủ tan nát cả cuộc đời, đã đủ để hạnh phúc trong chốc lát trở thành mây khói, muốn cứu vãn cũng chẳng cứu vãn được nữa đâu Nguyễn Dữ từ sự cảm nhận, phát hiện được cái qui luật khắc nghiệt ma quái đó trong cuộc sống của người phụ nữ mà sáng tạo nên một cốt truyện bao gồm một hệ thống chi tiết trong đó có chi tiết chủ công ăm ắp trữ lượng tư tưởng nghệ thuật thông qua một bút pháp vừa thực vừa ảo, vừa hiện thực vừa lãng mạn Và cuối cùng để lại cho văn học dân tộc một thiên tình sử bi thảm làm nhức nhói trái tim người đọc bao đời nay, cho lịch sử văn học Việt nam một áng “thiên cổ kỳ bút”, cho riêng thể loại truyện ngắn Việt nam một truyện ngắn vừa

là đột khởi vừa là đỉnh cao vợi vợi trong muôn đời

Nguyễn Đình Chú

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU, THẢO LUẬN

1 Tác giả đã dựa trên những cơ sở nào để đưa ra các kết luận sau:

- Không ít người đã cho rằng sự tan nát hạnh phúc của Vũ Nương là do chế

độ nam nữ bất bình đẳng Qui về chế độ nam nữ bất bình đẳng thì về cơ bản là chưa đúng ý tác phẩm

Trang 15

15

- Nếu cho rằngVũ Nương tan nát hạnh phúc là vì chiến tranh là hoàn toàn

sai, là vô hình trung đã coi truyện Chuyện người con gái Nam Xương cũng như Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, trong khi hai tác phẩm có hai nội dung hai

chủ đề khác nhau mặc dù đều phản ánh nỗi khổ của phụ nữ

2 Theo tác giả bài viết thì do đâu mà "Vũ Nương tan nát hạnh phúc"? Đồng chí có đồng tình với quan điểm đó không?

3 Tác giả bài viết cho rằng:

Tôi muốn nói thế này được chăng: ở phương diện thể hiện nguyên nhân đau khổ của người phụ nữ, truyện Chuyện người con gái Nam Xương có ý nghĩa triết học sâu sắc hơn, cao hơn Truyện Kiều, bởi nó đã chạm vào sự ma quái có thực trong sự sống vốn là nghiệt ngã của con người muôn nơi muôn thuở

Đồng chí có suy nghĩ gì về ý kiến trên?

Trang 16

16

BÀI 3

CÁCH NHÌN MỚI VỀ NHÂN VẬT TRƯƠNG SINH TRONG CHUYỆN NGƯỜI

CON GÁI NAM XƯƠNG CỦA NGUYỄN DỮ

Chuyện người con gái Nam Xương trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn

Dữ là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong giai đoạn văn học thế kỉ XVI – XVII Tác phẩm từ lâu đã được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông Các nhân vật trong truyện đều được đem ra phân tích một cách chi tiết, sâu sắc Tuy nhiên, xưa nay, hầu hết chúng ta đều có cách nhìn nhận về nhân vật Trương Sinh trong truyện vẫn còn nhiều vấn đề cần xem xét một cách thấu đáo

Trước tiên, có thể nói, trong truyện cổ tích, nhân vật Trương Sinh là một loại nhân vật chức năng Nhà văn xây dựng nhân vật này nhằm phát triển nội dung câu chuyện, nhằm thể hiện những điều mà nhà văn muốn nói Những hành động, lời nói của nhân vật chức năng chỉ nhằm làm nổi bật phẩm chất, đức hạnh của nhân vật trung tâm của truyện

Trong Chuyện người con gái Nam Xương, Nguyễn Dữ đã phát triển nhân

vật chức năng này thành một nhân vật chính có vai trò quyết định đến sự phát triển của truyện Tuy nhiên, những đặc điểm cơ bản của nhân vật chức năng vẫn hiện hữu một cách đầy đủ trong nhân vật Trương Sinh Do vậy, khi tìm hiểu về nhân vật này, chúng ta cần xem xét một cách toàn diện trên tất cả các bình diện

Xưa nay, hầu hết các thầy cô giáo khi giảng cho học sinh đều cho Trương Sinh là một kẻ ngu si, thô bạo Chàng là con nhà hào phú nhưng lại không được học hành đầy đủ Chính chi tiết đó làm cho mọi người “Kết tội” chàng Trương là

vô học Thực ra, theo tôi, đó không phải là mục đích mà Nguyễn Dữ muốn đề cập đến Chi tiết không có học chỉ là điều kiện để sau này chàng Trương mặc dù là con nhà hào phú nhưng vẫn phải đi lính Về thực chất có thể thấy chàng Trương hoàn toàn không phải là một kẻ vô học, thô bạo, ngu si Chàng là một người biết yêu và trân trọng cái đẹp Chính vẻ đẹp người, đẹp nết của Vũ Thị Thiết đã cuốn hút chàng Việc Trương Sinh đem trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ đã chứng tỏ điều đó Rõ ràng chàng là người biết nâng niu và trân trọng cái đẹp Một người không có đầu óc, thiếu văn hoá sẽ không thể biết điều đó

Trang 17

vẻ đẹp của Vũ Nương mà thôi

Trong cuộc sống, vợ chồng họ rất hạnh phúc Lấy nhau đã lâu mà không có lúc nào có chuyện thất hoà quả là việc không dễ Đó không chỉ do cố gắng của một mình Vũ Nương được Bởi hạnh phúc gia đình phải do tất cả các thành viên cùng vun trồng xây đắp mới trở nên tốt đẹp được Một người, dù có cố gắng đến mức nào cũng không thể cứu vãn được nếu những người còn lại không ủng hộ Chúng ta

có thể thấy điều đó ở phần sau của câu chuyện Dù Vũ Nương có cố níu kéo nhưng hạnh phúc gia đình không thể cứu vãn được khi Trương Sinh cố ý đạp đổ nó Như vậy có thể thấy rằng Trương Sinh cũng hết lòng chăm chút nâng niu tổ ấm của mình Nguyễn Dữ nhấn mạnh tính hay ghen của Trương Sinh để làm nổi bật sự giữ gìn khuôn phép của Vũ Nương, nhưng không có nghĩa ông phủ nhận những cố gắng của Trương Sinh trong việc vun đắp hạnh phúc gia đình

Như đã nói ở trên, vì không được học hành đầy đủ mà Trương Sinh phải đi lính Chi tiết này mở ra một hướng phát triển mới cho câu chuyện Chàng từ biệt

mẹ già, vợ trẻ đang bụng mang dạ chửa để đi ra chiến trường Khi tổ quốc lâm nguy, chàng cũng sẵn sàng từ bỏ cuộc sống vinh hoa để ra chiến trường chiến đấu giết giặc mang theo nỗi nhớ thương mẹ già vợ trẻ

Khi trở về, mẹ già vừa mất, đứa con nhất định không nhận mình làm cha khiến chàng đau đớn Hãy đặt mình vào hoàn cảnh của Trương Sinh, chúng ta sẽ lý giải được vì sao chàng lại hành động như vậy Hơn nữa, lời bé Đản rất có lý khiến chúng ta không thể không tin có “điều gì đó” mờ ám diễn ra

- Đêm nào cha Đản cũng đến, mẹ đản đi cũng đi, mẹ đản ngồi cũng ngồi và chẳng bao giờ bế Đản cả

Chỉ có gian phu dâm phụ thì mới lén lút đi lại trong đêm Nếu đường đường chính chính thì làm gì phải đợi đến đêm mới đến Còn việc không bế Đản là đương nhiên, làm sao có thể bế bồng, ôm ấp đứa con của “tình địch được”!?

Trang 18

Công bằng mà nói, cái chết của Vũ Nương có một phần lỗi của nàng Tại sao lại chỉ cho con cái bóng của mình và bảo đó là cha? Có người nói, việc làm đó thể hiện mong muốn gắn bó như hình với bóng của nàng với chồng!? Nhưng một đứa trẻ lên ba liệu có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa đó? Thực tế đã chứng minh, hành động đó chỉ đem đến một kết thúc bi thảm đối với nàng

Khi Vũ Nương quyên sinh, Trương Sinh đã đi tìm xác nàng để chôn cất

Đó là một hành động đáng trân trọng Nó thể hiện tình cảm của chàng đối với người vợ bất hạnh

Vợ đi rồi, một mình chàng lầm lũi nuôi con Khi nhận ra nỗi oan của vợ thì mọi sự đã quá muộn Mái ấm gia đình của chàng đã mãi mãi không còn nữa Chính chàng cũng là một nạn nhân bất hạnh của xã hội phong kiến Bi kịch gia đình ấy đâu phải chỉ mình Vũ Nương gánh chịu Nỗi cô đơn, ân hận có lẽ sẽ theo chàng đến hết cuộc đời

Được Phan Lang báo tin, Trương Sinh đã lập đàn tràng giải oan cho Vũ Nương tại bến Hoàng Giang Đây là cố gắng cuối cùng của chàng để níu kéo hạnh phúc đã mất Chàng muốn chuộc lỗi với Vũ Nương, muốn xây dựng lại gia đình vốn rất ấm êm, hạnh phúc

Nhưng những gì đã mất thì khó có thể cứu vãn được Hạnh phúc đã tan vỡ không thể hàn gắn

Kết thúc câu chuyện là một khoảng trống khiến chúng ta phải suy ngẫm nhiều điều Tất cả các nhân vật đều phải gánh chịu bi kịch của sự đổ vỡ Không chỉ

Vũ Nương mà cả Trương Sinh, bé Đản đều là nạn nhân Nó cho chúng ta một chân lý: hạnh phúc gia đình không phải chỉ do một người gây dựng và vun đắp mà nó là

sự cố gắng của tất cả thành viên trong gia đình ấy Trong Chuyện người con gái

Trang 19

Quốc Khánh

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU, THẢO LUẬN

1 Đồng chí có ý kiến gì về các nhận định sau đây của tác giả bài viết?

- Xưa nay, hầu hết các thầy cô giáo khi giảng cho học sinh đều cho Trương Sinh là một kẻ ngu si, thô bạo

- Công bằng mà nói, cái chết của Vũ Nương có một phần lỗi của nàng Tại sao lại chỉ cho con cái bóng của mình và bảo đó là cha? Có người nói, việc làm đó thể hiện mong muốn gắn bó như hình với bóng của nàng với chồng!? Nhưng một đứa trẻ lên ba liệu có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa đó? Thực tế đã chứng minh, hành động đó chỉ đem đến một kết thúc bi thảm đối với nàng

2 Theo quan điểm của tác giả bài viết thì Trương Sinh gần như không có lỗi

gì trong cái chết của Vũ Nương cả Đồng chí có đồng ý với quan điểm đó không?

Vì sao?

Trang 20

20

BÀI 4

GIÁ TRỊ THẨM MĨ TRONG TRÍCH ĐOẠN CHỊ EM THÚY KIỀU

Truyện Kiều là một trong số ít những áng văn chương luôn luôn có mặt

trong sách quốc văn nhà trường ở mọi cấp học Ở từng giai đoạn, do mục tiêu thay đổi mà các nhà soạn sách thường chọn các đoạn khác nhau Tuy nhiên, trong các bộ

sách giáo khoa môn văn trung học cơ sở (cấp 2), trích đoạn được đặt tên là Chị em Thúy Kiều hay Tài sắc chị em Thúy Kiều, hầu như luôn được chọn

Có điều, nếu tính từ 1945, đoạn thơ này đã được giảng dạy trong nhiều thập

kỉ, nhưng những giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, được định hướng đọc- hiểu tương đối cố định Chung chung chỉ là: Thúy Vân, vẻ đẹp về nhan sắc Thúy

Kiều trọn vẹn cả sắc lẫn tài Cô em có dáng phúc hậu, quý phái, trung thực, mây thua, tuyết nhường, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp Cô chị nhan sắc hoa ghen, liễu hờn, tài năng hơn đứt nên dự báo một số phận bạc mệnh Nghệ thuật miêu tả nhân

vật ước lệ tượng trưng, lấy thiên nhiên để tả người, thủ pháp “đòn bẩy”, Hoặc cụ

thể một chút, thì đây là Thúy Vân: Khuôn mặt tròn trịa, đầy đặn như mặt trăng, lông mày sắc nét đậm như con ngài, miệng cười tươi tắn như hoa, giọng nói trong trẻo thoát ra từ hàm răng ngà ngọc, mái tóc đen óng nhẹ hơn mây, làm da trắng mịn màng hơn tuyết

Vẫn biết ý nghĩa văn chương là vô hạn và có muôn vàn cách hiểu Nhưng

đọc những diễn giải trên cứ thấy ngờ ngợ Khuôn trăng đầy đặn có phải là khuôn mặt tròn trịa; ngọc thốt phải chăng là răng ngà ngọc, rồi mây thua nước tóc là tóc đen nhẹ? Nàng Kiều trong thơ của cụ Nguyễn Du tuy được tả ước lệ nhưng đẹp

nhường vậy, mà sao khi bước vào cổng trường lại chỉ thấy ước lệ tượng trưng hơn? Rồi bao câu hỏi cứ đặt ra Văn chương phải là hình tượng Với những kiến thức sau đọc-hiểu như vậy, có đủ để HS hình dung ra nét đẹp của hai nàng Kiều?

Nói Văn học là nhân học (Goroky), là khoa học làm người Vậy vẻ đẹp của hai

nàng, trong áng văn chương tài hoa ấy, có thể cho con người hiện tại bài học gì để

tự làm đẹp cho mình cho cuộc sống? Mặt khác, hình thức nghệ thuật phải chăng chỉ

có chuyện ước lệ, tượng trưng? Bốn câu cuối (Từ Phong lưu nhất mực ) là dành

cho Kiều hay cả hai chị em?

Trang 21

Với bức chân dung gia đình nàng Kiều, mở đầu thiên truyện, cụ Nguyễn Du

đã đưa ra một kiểu “gia đình văn hóa” rất đáng học tập Cuộc sống hạnh phúc của nhà viên ngoại họ Vương (tất nhiên là lúc còn yên hàn) là đáng mơ ước đối với

nhiều người Kinh tế vào bậc trung, đủ ăn đủ tiêu Có chút địa vị (viên ngoại), không cao lắm, những cũng vào hàng có tên có tuổi trong xã hội Thuộc dòng nho gia tức là một gia đình trí thức truyền thống Trời cho, về đường con cái lại có nếp

có tẻ Theo quan niệm phương đông, nhất nam viết hữu, là nhà có phúc lớn Đặc

biệt bố mẹ rất biết “nuôi con khỏe, dạy con ngoan” Cậu con trai út, thuộc hàng con cưng, quý tử, nhưng không la cà lêu lổng mà chuyên tâm học hành, đèn sách để

“nối dõi tông đường” Hai cô con gái đầu lòng thì sắc vào hàng tố nữ mười phân vẹn mười, lại có tư cách trong sáng thanh cao Mai cốt cách, tuyết tinh thần Cô chị

cả còn có tài năng vượt trội Sắc đẹp thì chắc nhờ gien của bố mẹ, lòng ưu ái của

bà mụ mà có Nhưng con cái biết say mê học tập, lấy việc rèn luyện làm đầu, coi

trọng phẩm giá, đoan trang, giữ gìn lời ăn tiếng nói, thì công sức của bố mẹ bỏ ra

để nuôi dạy phải cao như núi Thái Sơn, tình thương con phải dạt dào, mênh mông

tự nước biển Đông

Nghĩ hiện nay, có cha mẹ để con cái rơi vào cảnh thất học, phải bới đất nhặt

cỏ Có nhà thì phó mặc cho con phá phách chơi bời, thậm chí thành tội phạm Mới thấy những đứa con trong gia đình họ Vương có trách nhiệm với gia đình biết chừng nào, cũng như bố mẹ họ có trách nhiệm với con cái biết chừng nào

Nói ông bà Vương có trách nhiệm có thể bị bắt bẻ: Bố mẹ đâu mà để cô con gái mới lớn đứng ra gánh vác cái nạn lớn của cha và em, đến nỗi sa vào hang hùm nọc rắn, tủi nhục không cùng?

Xin thưa dài dòng đôi chút Có ba quãng đời, Thúy Kiều được cảm nhận hạnh phúc Mười sáu năm đầu còn nhỏ sống với bố mẹ Rồi một năm ở với chàng Thúc, người cứu nàng thoát lầu xanh mụ Tú Lần ba là những ngày được làm phu

nhân sánh cùng anh hùng Từ Hải Nhưng bên Thúc Sinh thì nơm nớp cảnh “dấm

chua” cay nghiệt Sống với Từ công thì búa rìu của triều đình lơ lửng trên đầu

Trang 22

kẻ ác Nhà thông gia giầu có, vàng ngoài bốn trăm lạng mà nói cái có ngay Chàng

rể tương lai là sinh viên trường đại học hạng nhất quốc gia, (giám sinh – sinh viên

trường Quốc tử giám) Có vài cử chỉ sỗ sàng, nhưng ăn nói tỏ ra văn hóa (rằng mua ngọc / xin dạy) Gia đình nhà trai ăn hỏi, sính nghi rất đúng lễ, cẩn thận định ngày nạp thái vu quy

Trên hết, là cả nhà bị đẩy đến cái chân tường Chỉ còn hai sự lựa chọn và người chị cả nhận rõ Hoặc là tự nguyện bán mình để rồi còn hy vọng có ngày trở

về, hoặc là để cho cha và em phải chết trong tù ngục Với suy nghĩ Làm con trước phải đền ơn sinh thành, Thúy Kiều đã chọn cách thứ nhất Vả lại chuyện gả bán

ngày xưa cũng không có gì lớn lắm (Ngày nay, quan niệm gả bán đã bị lên án quyết liệt, mà rất nhiều cô gái Việt phải dấn thân làm dâu xứ người cũng vì hoàn cảnh của gia đình của bố mẹ đấy thôi)

Mọi việc có vẻ tạm ổn, nhưng với Vương ông thì không vậy Khi được tạm

tha, về nhà, người cha đau đớn máu sa ruột sầu, đã gieo đầu tường vôi, rắp liều tự

tử Tại sao vậy? Vì con ông, một đứa thì còn bị giam, một đứa bị gả bán Nạn này chỉ gỡ bằng tiền Nhưng gia tài vợ chồng ông tích cóp, đồ tế nhuyễn của riêng tây đã bị bọn sai nha cướp sạch Cái sự liều của ông chỉ có những người bố hết lòng

thương con, rất trách nhiệm đối với gia đình, rồi bỗng nhận ra sự bất lực, chẳng thể che chở cho con cái, không còn là rường cột cho gia đình được nữa

Rõ ràng, dù có chuyện hoa trôi nước chảy, thanh lâu hai lượt thanh y hai lần, mười lăm năm lưu lạc của Thúy Kiều cũng không thể nghi ngờ những cách

ứng xử tuyệt đẹp của những con người trong gia đình họ Vương Trong khi chúng

ta đang gồng mình để xây dựng tiêu chí một “gia đình văn hóa” nhằm chống đỡ những vết rạn trong quan hệ gia đình hiện nay, có thể coi gia đình Thúy Kiều là một kiểu mẫu đáng học tập được chăng?

2- Vẻ đẹp của Thúy Vân – vẻ đẹp của một người con gái

Trong hai cô gái, Thúy Kiều là hiện thân của một tuyệt thế giai nhân còn

Thúy Vân chính là khuôn mẫu về vẻ đẹp của một người con gái Một vẻ đẹp rất dễ

gần, luôn thấy hiện hữu ở bao người phụ nữ quanh ta

Trang 23

23

Nàng có gương mặt hiền dịu, sáng sủa, tốt tươi, hài hòa Khuôn trăng đầy đặn Khuôn chỉ khuôn mặt, trăng gợi sắc thái hiền dịu, sáng sủa Còn đầy đặn: đầy là nói mặt có da có thịt, chưa nói gì đến chuyện đẹp xấu Có khi đầy lại là thừa,

là béo Đầy đặn mới diễn tả được chất lượng của cái sự đầy Đó là sự tốt tươi, hài

hòa, cân đối, hoàn chỉnh, hoàn thiện, không gầy, không béo, không thiếu, không

thừa Nói chung là gương mặt đẹp, khéo Giải thích đầy đặn là Nét mặt tròn trĩnh phúc hậu Và khuôn trăng đầy đặn là khuôn mặt đầy đặn tròn trịa như mặt trăng

E chưa ổn Mặt con gái mà tròn trịa, tròn trĩnh chưa hẳn đã đẹp Mặt khác, trăng rằm mới tròn trịa, tròn trĩnh Còn khi chỉ nói đến trăng, trước tiên là nghĩ đến sự mát mẻ, dịu hiền Còn đầy đặn càng không thể coi là tròn được Có lẽ đầy đặn không bổ nghĩa cho trăng mà cho khuôn Như vậy, trăng là gợi sắc thái, không

tả hình; còn đầy đặn, cũng không nhằm tả hình (tròn) mà tả khối, tả chất lượng của

cấu trúc Tất cả gợi một gương mặt tươi tốt được nuôi dưỡng đầy đủ vừa có cấu trúc cân đối, hài hòa

Lông mày của nàng sắc và đậm nét, dài, cong, tươi tắn (như ria con ngài, nét ngài nở nang) Theo cách nói ngày xưa, người con gái đẹp, thuộc hàng mắt phượng mày ngài Nguyễn Du không tả mắt, (để dành tả Kiều), nhưng với đôi mày ngài

cũng đủ gợi một gương mặt sắc sảo Khi khen người một cô gái có nét vui tươi,

sáng sủa, người ta hay nói: mặt mày tươi tắn là vậy Giải thích nét ngài nở nang là đậm như con ngài, dễ hiểu nhầm là mập béo như thân con ngài Con ngài

luôn chuẩn bị đẻ trứng, rồi chết, nên thường mập Mà lông mày mập thì chưa chắc

đã đẹp

Nụ cười thường trực khiến cho đôi môi luôn tươi thắm như một đóa hoa

Giọng nói, lời nói trong sáng, ngân như tiếng ngọc Hoa cười ngọc thốt đoan trang là nụ cười đoan trang, lời nói cũng rất đoan trang Hoa cười đoan trang là

gợi một nụ cười tươi tắn, trong sáng, chính trực, không chút lả lơi, cợt nhã

Còn ngọc thốt đoan trang, nếu tách riêng ngọc thốt và giải thích: ngọc là hàm răng ngà ngọc, e không xuôi Ngọc đi với thốt khó liên tưởng đến hàm răng Ngọc thốt vừa tả âm sắc của giọng nói, vừa ánh lên phẩm chất của lời: sáng trong, cao quý nghiêm chỉnh, cẩn trọng, (nói lời hay ý đẹp thường được ví von là nhả ngọc phun châu) Có thể nói ở người con gái và nói chung giới nữ, nụ cười và giọng nói

có nét rất độc đáo Vừa là vẻ đẹp của thanh sắc vừa là vẻ đẹp của tâm hồn Có rất

nhiều câu nói hay về năng lượng đặc biệt của nụ cười Một nụ cười có thể làm bừng

Trang 24

24

sáng một ngày đen tối nhất / là khoảng cách ngắn nhất giữa hai tâm hồn / chiếc chìa khóa duy nhất mở được trái tim của người khác / Cô ấy cười vì cô ấy đang tràn ngập hy vọng, niềm tin và sự mạnh mẽ Đối với các chàng trai: Mỗi nụ cười: một nụ hoa hàm tiếu / Em cười hoài thành cả một vườn hoa / nụ hồng tươi hé

mở / cúc đại đoá đang khoe / mai năm cánh vừa xoè /phượng hồng còn bẽn lẽn (Nguyên Đỗ - Nụ cười sen thắm) Xuân Diệu say đắm Nụ cười Xuân Cây vàng rung nắng, lá xôn xao / Mùa xuân chín ửng trên đôi má / Thiếu nữ làm duyên đứng mỉm cười Có chàng coi nụ cười quý hơn vàng bạc Hôm qua nhặt được nụ cười / Đem về dấu kín cho đời thêm xinh (Nguyễn Ngọc Nông) Có chàng sẵn sàng đi tìm hộ nụ cười / Chín sông cũng lội, đèo mười cũng qua /Ngại gì thăm thẳm đường xa / Chỉ mong nhặt được nụ hoa đem về (Trinhcamle) Nhà thơ Phạm Công Trứ nói về giây phút bị sốc: Em đi để lại chuỗi cười / Trong tôi vỡ một khoảng trời pha lê Dễ hiểu, vì sao chỉ có nụ cười là được Nguyễn Du tả lặp lại ở cả hai chị em (Thúy Vân: Hoa cười Thúy Kiều: Một hai nghiêng nước nghiêng thành)

Nàng có mái tóc mây, và còn hơn thế Dày dặn, mượt mà, óng mượt, bồng bềnh thướt tha, biến hóa hơn cả mây trời Có làn da tinh khiết, mịn màng trắng trẻo hơn tuyết Mây thua nước tóc, giảng là mái tóc đen nhẹ hơn mây, là khó hiểu

Chưa thấy ai khen chê trọng lượng của tóc nhẹ nặng bao giờ Còn về màu, không phải cứ mây là đen Mây đen lại thường gợi chuyện xấu So tóc với mây là nói cái

độ dài, sắc óng mượt, trạng thái biến hóa bồng bềnh, dáng vẻ thướt tha của tóc, chứ không nói chuyện màu Muốn nhấn mạnh màu đen của tóc người ta so với các

khác, Như với gỗ mun chẳng hạn Còn chuyện thua và nhường chẳng qua là thủ

của nàng trong sạch như hoa mai, (mai vừa là chỉ sự mảnh mai thanh tú của thân

thể, biểu hiện của sự trong sạch của bản tính), tinh thần sáng trong như tuyết Lần hai, mở đầu đầu đoạn tả riêng: Vân xem trang trọng khác vời Và lần ba, lần bốn trong kết thúc đoạn tả riêng: Hoa cười .đoan trang / ngọc thốt đoan trang Học giả Đào Duy Anh giải thích: trang trọng là “đoan chính, cẩn thận”, “nghiêm trang

và trọng hậu”, đoan tranglà “đứng đắn nghiêm trang” Tất cả đều là chuyện tính

Trang 25

25

cách, phẩm chất đạo đức của Thúy Vân (Nói trang trọng có nét quý phái, chưa chắc đã đúng Khi nói giới thiệu trang trọng không ai hiểu là giới thiệu một cách

quý phái, mà chỉ coi là cẩn thận, chu đáo, nghiêm túc)

Như vậy, sự khác vời của Thúy Vân là ở chỗ nàng sở hữu hai vẻ đẹp Vẻ đẹp của thanh sắc, chủ yếu hiện trên gương mặt: khuôn mặt hiền dịu, hoàn thiện; nét

mày đậm nét, sắc nét, tốt tươi, đầy sức sống; nụ cười tươi như hoa; tóc mây óng

mượt, mềm mại, da trắng mịn màng Vẻ đẹp của tinh thần, cốt cách Toát ra từ điệu

cười, giọng nói, lời thưa, đoan chính, cẩn trọng, sáng trong Cho thấy, với Thúy

Vân, Nguyễn Du không phải chủ yếu gợi tả nhan sắc Trong quan niệm của của

ông, vẻ đẹp hoàn mĩ của một người con gái phải là sự kết hợp giữa vẻ đẹp của thanh sắc và vẻ đẹp của đạo đức tư cách con người

Có lẽ mọi cô gái, dù đã có thanh sắc trời cho hay không, ai cũng cố gắng làm đẹp Phần lớn cậy nhờ vào “vôi ve” Có người chịu đau thay đổi “kết cấu” Có người không tiếc tiền đầu tư vào phụ kiện Còn có người đành sử dụng cách không được tích cực như tạo xì-căng-đan, thậm chí “vô tình lộ hàng”, Tuy nhiên, đôi lúc

dù khá vất vả nhưng hiệu quả không như mong muốn thậm chí là phản tác dụng

Đủ thấy, thế nào là vẻ đẹp của một người con gái, một người con gái bình thường,

là câu hỏi không dễ tìm thấy lời giải

Những ai quan tâm đến điều này, có lẽ thử đọc lại Truyện Kiều, tham khảo

nhân vật Thúy Vân Nàng chỉ cần vẻ đẹp trên gương mặt (mà chủ yếu là nét mày,

nụ cười trên môi, mái tóc và giọng nói, lời nói, ), và vẻ đẹp của cốt cách, của tinh

thần, là đủ cho những người cùng giới phải thua, phải nhường Cỏ vẻ những tiêu

chí tối thiểu ấy chẳng có gì là xa vời đối với mọi cô gái trên thế gian này

3- Vẻ đẹp của Thúy Kiều - một tuyệt thế giai nhân

Trong bức chân dung gia đình cụ viên ngoại họ Vương, Thúy Kiều là nhân vật chính Có thể nói nàng đã trở thành biểu tượng về sự tuyệt đỉnh của phái đẹp

Theo mô tả của Truyện Kiều, sự khác biệt giữa một người con gái đẹp nói

chung với một tuyệt thế giai nhân là ở cấp độ vượt trội trong mọi tiêu

chí: sắc: thuộc số một; tài: ăn đứt người khác; nữ tính (hồng quần): thuộc hàng nhất mực, v.v

Trước hết là sự vượt trội về thanh sắc Nguyễn Du đã tả Vân như một “đòn bẩy”, một “phông nền” để đặc tả Kiều Và từ “bức nền” Thúy Vân, hình ảnh nàng Kiều, một tuyệt thế giai nhân, đã hiện lên thật lung linh, lộng lẫy như một nữ thần

Ngày đăng: 29/06/2021, 10:50

w