1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CĐ sử dụng máy chiếu và BĐTD trong dạy học ngữ văn THCS

13 210 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 405 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và hưởng ứng các cuộc vận động Xây dựng học sinh thân thiện, học sinh tích cực; Hai không với bốn nội dung;…một trong các biện pháp mà các trường họ

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn chuyên đề:

Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị 58-CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2001 về việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo

Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và hưởng ứng các cuộc

vận động Xây dựng học sinh thân thiện, học sinh tích cực; Hai không với bốn nội dung;…một trong các biện pháp mà các trường học đã và đang

tích cực chú ý sử dụng là máy chiếu (giáo án/ bài giảng điện tử) và bản

đồ tư duy Thực tế cho thấy dạy học bằng hình thức này đã đưa lại nhiều lợi ích thiết thực trong việc thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của quá trình dạy - học nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là sử dụng máy chiếu và bản đồ tư duy như thế nào? Chúng đóng vai trò chủ yếu, độc tôn hay chỉ là một trong những phương tiện hỗ trợ quá trình dạy – học? Thiết kế và sử dụng phối kết hợp trong dạy - học như thế nào cho hợp lý, cho hiệu quả? Dạy như thế nào để khơi gợi ở học sinh sự hứng thú, tính tích tích cực và tư duy đích thực chứ không phải đơn thuần đó là sự tò mò trước những dòng chữ và hình vẽ nhiều màu sắc, những hiệu ứng và hình ảnh vui mắt, những âm thanh lạ tai, …(!?)

Đặc biệt là trong dạy học môn Ngữ văn – với những đặc thù riêng – thì việc áp dụng bài giảng điện tử và bản đồ tư duy như thế nào cho hợp

lý, cho hiệu quả lại càng cần được quan tâm nhiều hơn! Như chúng ta đã biết dạy Văn không chỉ dạy tư duy lô gic mà còn dạy lối tư duy hình tượng và khơi gợi sự đồng cảm mãnh liệt của người đọc, người học trước một cảnh đời, một mảng hiện thực đời sống, … được nghệ sĩ khám phá

và thể hiện trong tác phẩm qua cảm xúc và thế giới hình tượng nghệ thuật

Biết rằng việc sử dụng giáo án điện tử và bản đồ tư duy không còn

là mới lạ trong quá trình dạy – học, nhưng đây là thao tác, thủ thuật có tính chất nền tảng, cơ sở quyết định đến nguyên tắc, phương pháp dạy học và hiệu quả giáo dục của bộ môn Là giáo viên trực tiếp đứng lớp đã được trải nghiệm, chúng tôi phần nào hiểu được đó là những khó khăn, trở ngại, những băn khoăn đối với những ai luôn muốn đào sâu tìm tòi, suy nghĩ, khám phá về quá trình dạy học

Trang 2

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn

chuyên đề: Sử dụng máy chiếu và bản đồ tư duy trong dạy học bộ môn Ngữ văn, bậc THCS để cùng đồng nghiệp trao đổi nhằm rút ra những

kinh nghiệm quý báu cho quá trình dạy học

II Mục tiêu, nhiệm vụ của chuyên đề:

Với khuôn khổ thời gian của chuyên đề , chúng tôi mạo muội phân

tích, so sánh, đối chiếu về vai trò, vị trí, tác dụng và một số hạn chế của hình thức dạy học bằng giáo án điện tử và bản đồ từ duy so với hình thức dạy học truyền thống Trên cơ sở đó mạnh dạn nêu ra một số biện pháp

để phát huy hiệu quả của dạy học bằng máy chiếu và bản đồ tư duy trong

bộ môn Ngữ văn, bậc THCS

III Đối tượng nghiên cứu:

Các giờ dạy học bộ môn Ngữ văn có sử dụng giáo án điện tử và bản đồ tư duy ở các trường THCS trong toàn huyện M’đrắk

IV Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Để nghiên cứu và rút ra kinh nghiệm cho chuyên đề này, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu về hình thức dạy học ở các trường THCS trong huyện M’đrắk: trường THCS Hoàng Văn Thụ, trường THCS Hùng Vương, trường THCS Trần Hưng Đạo, trường THCS Ngô Quyền, trong nhiều năm học trước đến nay

V Phương pháp nghiên cứu:

Với chuyên đề này, chúng tôi sử dụng nhóm năm phương pháp chính như sau:

1 Phương pháp khảo sát và phân loại

2 Phương pháp điều tra

3 Phương pháp phân tích, tổng hợp

4 Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu

5 Phương pháp thực nghiệm (dạy trên lớp)

ÿÿ?

Trang 3

B PHẦN NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận của việc sử dụng bài giảng điện tử và bản đồ tư duy trong dạy học:

Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu Hiện nay ở nước ta cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng quy mô, nâng cao tính tích cực trong dạy học và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Chính vì thế mà nhiều phương tiện dạy học hiện đại được áp dụng đại trà trong sự nghiệp giáo dục Việt Nam ngay ở những năm đầu của thế kỉ XXI – những năm đầu thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, trong

đó có bài giảng điện tử và bản đồ tư duy

Bài giảng điện tử có thể được tạo ra từ một đoạn văn bản, một tệp

âm thanh, hình ảnh, clip,… (có thể kết hợp nhiều đoạn văn bản, âm thanh, hình ảnh, clip) bằng một trong các phần mềm công cụ trợ giúp: Violet, PowerPoint, LectureMaker, … nhằm nâng cao hiệu quả bài dạy

Ở đây chúng ta cần phân biệt các thuật ngữ sau:

- Giáo án (có thể viết tay hoặc viết trên Word) là toàn bộ bản thiết

kế chi tiết cho kế hoạch lên lớp của giáo viên trong một bài dạy, tiết giảng của môn học cho học sinh cụ thể

- Bài giảng là sự thực thi một giáo án (kế hoạch dạy học) nào đó

trước đối tượng học sinh

- Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó

toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra Cũng có thể hiểu bài giảng điện tử là những tệp tin có chức năng chuyển tải nội dung giáo dục đến học sinh,

- Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt

động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học

đó đã được multimedia hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và lô gic được quy định bởi cấu trúc của bài học Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử

Trang 4

Bản đồ tư duy (còn gọi lược đồ tư duy) là một dạng sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí Bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực, bản đồ tư duy chú trọng đến cơ chế nhìn – đọc – suy ngẫm -ghi nhớ - -ghi chép súc tích; dạy cách học; cách tự học nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức Đặc điểm này giúp học sinh và giáo viên có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh Tùy vào khả năng tư duy lô gic và sáng tạo, mỗi người có thể

vẽ một kiểu khác nhau với những màu sắc, hình ảnh, chữ viết và các cụm

từ diễn đạt khác nhau Chính vì thế, tuy cùng một chủ đề nhưng mỗi học sinh có thể có nhiều cách “thể hiện” nó dưới dạng sơ đồ tư duy theo cách riêng của mình Do đó, việc lập sơ đồ tư duy phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người

Trong cơ chế dạy học Văn nói riêng và trong cơ chế dạy học hiện đại nói chung, máy chiếu (bài giảng điện tử) và bản đồ tư duy là những phương tiện dạy học có tầm quan trọng trong việc thể hiện phương pháp dạy học theo hướng đổi mới, hiện đại Loại phương tiện dạy- học này không những giúp người thầy cung cấp cho học sinh một lượng kiến thức lớn đảm bảo tính khoa học, sư phạm trong một thời gian cho phép mà còn khởi động được tâm hồn, phát động tính tích cực, chủ động và độc lập tư duy của học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo của các em

Chính vì thế mà trong nhiều năm gần đây, bài giảng điện tử và bản

đồ tư duy (áp dụng phổ biến trong năm học 2011 – 2012 ở Đắk Lắk) là một tiêu chí đánh giá hoạt động chuyên môn của giáo viên Đặc biệt, trong kì thi giáo viên dạy giỏi Tỉnh Đắk Lắk (năm học 2005 – 2006), việc

sử dụng giáo án điện tử phục vụ cho tiết dạy được Sở Giáo dục lấy làm tiêu chí để khuyến khích, ưu tiên cộng thêm 1,5 điểm

II Thực trạng của việc sử dụng bài giảng điện tử và bản đồ tư duy trong dạy học:

1 Thuận lợi :

Học sinh và giáo viên đa số cần cù, chịu khó, sáng tạo và thích ứng nhanh với các phương tiện dạy học

Đội ngũ giáo viên đã được tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đổi mới PPDH thông qua việc thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử và sơ đồ tư duy

Cơ sở vật chất và các phương tiện dạy – học hiện đại trong nhà trường đã và đang được các cấp lãnh đạo quan tâm và đầu tư mua sắm ngày một đầy đủ hơn

Trang 5

2 Khó khăn:

Tuy nhiên, việc ứng dụng bài giảng điện tử và bản đồ tư duy trong quá trình dạy học, đặc biệt là trong bộ môn Ngữ văn còn tồn tại một số khó khăn, lúng túng, cứng nhắc và hình thức từ việc thiết kế đến khâu tổ chức dạy học trên lớp Nhiều giáo viên quan niệm sai lầm coi bài giảng điện tử là phương tiện thay thế cho toàn bộ hoạt động trên lớp của thầy

Vì thế, trong quá trình thiết kế, giáo viên chỉ chú ý chiếu toàn bộ nội dung bài học lên trên màn chiếu nên một bài giảng có độ dài ít nhất là 20 Slide hoặc 30 Slide để dạy trong thời gian 45 phút (?!) Hơn nữa, để rạo tính sinh động, lôi cuốn cho bài giảng, giáo viên còn chú ý tạo ra nhiều Font chữ, nhiều màu sắc, nhiều hiệu ứng, nhiều hình ảnh, trông rất vui mắt và lạ tai!

Thiết kế là vậy Song việc tổ chức dạy học trên lớp cũng có nhiều điều cần tháo gỡ, khắc phục Với những tiết dạy giáo án điện tử, giáo viên chỉ chú ý lên màn hình để điều khiển dồn dập những dòng chữ câu hỏi và đáp án mà quên đi sự phối kết hợp với bảng đen phấn trắng truyền thống Cách dạy học này chỉ đem lại hiệu quả cho một số rất ít học sinh khá giỏi trong lớp Đối với đa số học sinh trong lớp thì dung lượng thiết

kế và tốc độ bài giảng như trên (nếu chậm thì cháy giáo án) sẽ là một điều vô cùng khó khăn trong việc tiếp thu, lĩnh hội những kiến thức tối thiểu cần đạt của bài học!

Với cách thiết kế và tổ chức tiết dạy bằng giáo án điện tử như trên, thực tế cho thấy rằng, sau khi dự giờ đồng nghiệp A, chúng tôi có tiếp xúc, trò chuyện với một số học sinh thì được biết rằng: học sinh rất thích học những tiết dạy bằng máy chiếu vì có nhiều chữ, nhiều màu sắc, nhiều chuyển động đẹp, sinh động; nhiều âm thanh vui tai Nhưng nội dung bài học thì không ghi kịp và cũng không hiểu được bao nhiêu (?!)

Bên cạnh đó, trong dạy học (do mới áp dụng năm đầu tiên), nhiều giáo viên chỉ mới mạnh dạn sử dụng ở những bài Luyện tập, Tổng kết nhằm giúp học sinh củng cố, hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức một cách ngắn gọn, mạch lạc, lô-gic Phạm vi đã hẹp, nhưng giáo viên lại chưa thực sự chú trọng hướng dẫn cụ thể, kĩ lưỡng cho học sinh làm quen với bản đồ tư duy và cách vẽ nó

Hầu hết bản đồ tư duy trong các tiết dạy ấy đã được giáo viên chuẩn

bị trước ở nhà để củng cố khi lên lớp Cách làm này vô hình chung làm mất đi tính chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh Vì thế các em thường lúng túng khi yêu thầy cô giao cầu vẽ, dù các em đã hiểu bài

Trang 6

Hơn nữa, cách trình bày bản đồ tư duy cũng chưa thực sự chú ý đến đường nét, màu sắc và bố cục Biết rằng nội dung kiến thức bài học là cái cần đạt đến, nhưng hình thức trình bày lôi cuốn, cân đối, lô gic (nhưng không lòe loẹt, màu mè, hoa lá) sẽ góp phần kích thích hứng thú của các

em học sinh trong quá trình học tập

3 Các nguyên nhân, yếu tố tác động:

Nội dung, chương trình còn nặng, hàn lâm mà ít dành thời gian thực hành Trình độ nhận thức của học sinh vốn không cao và không đồng đều

Một số ít giáo viên có tuổi đời cao nên khả năng cập nhập tin học còn hạn chế và một số giáo viên chưa thực sự nhuần nhuyễn với việc ứng dụng công nghệ thông tin

Nhiều giáo viên có thiên hướng lạm dụng và độc tôn công nghệ trong dạy học Đặc biệt, có nhiều trường hợp hiểu lẫn lộn thuật ngữ bài giảng điện tử và giáo án điện tử

III Một số giải pháp và biện pháp cơ bản:

1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:

Với khuôn khổ của chuyên đề này, những biện pháp và giải pháp được nêu ra chỉ nhằm để tham khảo góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng ứng dụng bài giảng điện tử và bản đồ tư duy trong dạy - học môn Ngữ văn THCS , từ khâu thiết kế đế bước tổ chức dạy - học trên lớp thông qua một số nguyên tắc lý thuyết cơ bản và thực nghiệm (dạy trên lớp)

2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:

Như chúng ta đã biết, trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đang có nhiều phương tiện dạy – học hiện đại hỗ trợ Trong đó, đáng chú

ý nhất là Lecture Maker (phần mềm của hãng Daulsoft – Hàn Quốc) và bản đồ tư duy Lecture Maker là phần mềm đang được Bộ giáo dục nước

ta khuyến khích sử dụng để tạo ra những bài giảng điện tử theo chuẩn quốc tế và ứng dụng e-learning trong giảng dạy Trong tương lai không

xa, với những tính năng ưu việt, Lecture Maker sẽ thay thế các phần mềm thiết kế bài giảng: Violet, Power Point, Vì thế, trong chuyên đề này, chúng tôi nói về giải pháp sử dụng Lecture Maker và bản đồ tư duy (Mind Map)

2.1 Tìm hiểu để sử dụng thành thạo các phần mềm công cụ trợ giúp: Lecture Maker và Mind Map để tạo bài giảng điện tử.

Trang 7

Lecture Maker là một công cụ tạo ra các bài giảng điện tử một cách dễ dàng, sinh động và hợp chuẩn Phần mềm này cho phép chúng ta tạo ra bài giảng điện tử từ nhiều nguồn khác nhau như: PowerPoint, hình ảnh, âm thanh, đoạn phim, flash,… Bên cạnh đó, phần mềm cũng cho phép người dùng tạo ra các câu hỏi trắc nghiệm mang tính tương tác cao

Giao diện Slide sau khi đã thiết kế:

Để tìm hiểu và sử dụng tốt phần mềm này, chúng ta có thể tham khảo tại các địa chỉ sau:

- Lecture Maker:

http://ebook.edu.net.vn/resources/iportal/ebook/uploads/library/LectureMak er2EnglishSetup.exe

Và: http://www.daulsoft.com/en

- Bản đồ tư duy:

http://www.mind.map.com (Trang Web chính thức của Tony Buzan)

Hoặc gõ cụm từ khóa: tai lieu tap huan ban do tu duy

2.2 Sử dụng Lecture Maker để thiết kế bài giảng điện tử đảm bảo tính ngắn gọn, súc tích, khoa học, sư phạm và dễ hiểu với các đối tượng học sinh.

Như đã nói ở trên, để tận dụng tối đa những lợi ích của công nghệ thông tin, trong một bài giảng điện tử có thể gồm đoạn văn bản, nhiều tệp

âm thanh, nhiều hình ảnh, nhiều clip, nhiều sơ đồ, biểu bảng, hình vẽ, trò chơi…Tuy nhiên, trong giới hạn của một tiết dạy – học chỉ gói gọn trong

45 phút, khi thiết kế, giáo viên phải biết định lượng thời gian và nội dung cần đạt ở từng khâu, từng phần, từng đơn vị kiến thức sao cho hợp lý

Trang 8

Với giao diện thân thiện của Lecture Maker, giáo viên nên định dạng Font chữ Time Newroman; cở chữ 20, 22, 24; các màu sắc: xanh, đen, đỏ, ; kiểu chữ nghiêng, chữ đậm, chữ gạch chân ở những từ và cụm từ khóa; các đoạn văn bản phải ngắn gọn; tránh tình trạng lạm dụng các tệp âm thanh, hình ảnh, clip, sơ đồ, biểu bảng, hình vẽ, hiệu ứng,

Nội dung bài giảng ở các Slide chỉ nên tập trung sử dụng các đoạn văn bản ngữ liệu, hệ thống câu hỏi, các sơ đồ, biểu bảng và các đoạn âm thanh, clip nhằm hỗ trợ, hướng dẫn học sinh học tập một cách trực quan

và tích cực, chủ động trong nhận thức Chứ nội dung bài giảng điện tử không thể chứa một cách chi tiết nội dung học tập Nếu vậy, vô hình chung bài giảng của giáo viên trên lớp trở thành một giáo án điện tử chưa đúng nghĩa – theo chuẩn e-learning

2.3 Phối kết hợp nhịp nhàng giữa bài giảng điện tử với “bảng đen phấn trắng”.

“Thiết kế” đúng thì “thi công” sẽ dễ và đạt hiệu quả Phải khẳng định rằng: bài giảng điện tử chỉ là một công cụ hỗ trợ, định hướng, minh họa cho quá trình học của trò và quá trình tổ chức, hướng dẫn của thầy trong một tiết lên lớp Vì thế, khi sử dụng bài giảng điện tử và trình chiếu trên lớp, nhất thiết giáo viên phải biết kết hợp với “bảng đen phấn trắng” Nếu quá lạm dụng máy chiếu thì phương pháp dạy học tích cực bị biến tướng thành lối học nhìn – chép! Để cả ba đối tượng học sinh đều tích cực học tập và ghi chép đầy đủ thì giáo viên cần ghi súc tích từng kết luận của bài học lên bảng đen Đặc biệt, trong giờ học Văn – tính hình tượng và thẩm mĩ – chỉ màn hình máy chiếu thì không thể thay thế sự phân tích, bình giảng thêm của giáo viên trước các câu, từ, chi tiết, hình ảnh, để khơi gợi cảm xúc, trí tưởng tượng và sự đồng sáng tạo của học sinh trước hiện thực

2.4 Sử dụng bản đồ từ duy một cách linh hoạt nhằm phát huy tối đa hiệu quả trong các hoạt động học tập của học sinh.

Bản đồ tư duy bắt đầu được áp dụng ở Đắk Lắk từ năm học 2011 – 2012 Đây là một phương tiện dạy học còn mới mẻ nhưng dễ áp dụng được ở mọi điều kiện dạy học khác nhau và có tác dụng lớn trong việc phát huy tối đa phương pháp dạy học tích cực Khi sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học, giáo viên cần:

2.4.1 Bố cục và màu sắc.

Một bản đồ tư duy có một ô trung tâm chứa từ khóa, từ ngữ chủ

đề Tùy vào nội dung chủ đề mà có nhiều nhánh khác nhau Trong mỗi nhánh, có thể chia ra nhiều nhánh nhỏ khác nhau (nhánh cấp 1 và cấp 1’; nhánh cấp 2 và cấp 2’; nhánh cấp 3 và cấp 3’; …) Ở mỗi nhánh (kể cả

Trang 9

chữ viết) cần quy ước màu sắc khác nhau và độ đậm nhạt đường nét của nhánh Tóm lại, một bản đồ tư duy cần được trình bày cân đối, súc tích, khoa học, sáng tạo nhưng tránh màu mè

2.4.2 Các hình thức có thể sử dụng bản đồ tư duy trong dạy - học:

* Sử dụng bản đồ tư duy trong kiểm tra thường xuyên:

Kiểm tra bài cũ là việc làm thường xuyên, quen thuộc của giáo viên trước mỗi bài dạy Hình thức này có thể sử dụng bản đồ tư duy để kiểm tra Để kiểm tra, giáo viên đưa ra một từ khóa chứa nội dung kiến thức cần kiểm tra và yêu cầu học sinh vẽ

Ví dụ: Để kiểm tra kiến thức công dụng của dấu gạch ngang (học

kì 2, lớp 7), giáo viên nêu cụm từ khóa: Dùng cụm chủ - vị để mở rộng câu và yêu cầu học sinh vẽ.

(Lưu ý: Khi học sinh vẽ xong, giáo viên cho cả lớp quan sát, gọi một vài em nhận xét, góp ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm)

Trang 10

Bên cạnh đó, giáo viên cũng có thể sử dụng bản đồ tư duy cho học

sinh kiểm tra 15 phút (Thậm chí có thể sử dụng trong kiểm tra một tiết)

Ví dụ: Để kiểm tra 15 phút cho phần văn, giáo viên có thể ra từ

khóa: Truyện Lục Vân Tiên và yêu cầu học sinh vẽ.

* Sử dụng bản đồ tư duy trong các tiết dạy thông thường và các tiết dạy ôn tập, luyện tập:

- GV có thể hướng dẫn học sinh vẽ bản đồ tư duy về tác giả

Ví dụ, khi dạy bài Truyện Kiều của Nguyễn Du, giáo viên cho học sinh từ khóa NGUYỄN DU và hướng dẫn học sinh vẽ.

Ngày đăng: 28/08/2017, 10:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w