Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và hưởng ứng các cuộc vận động Xây dựng học sinh thân thiện, học sinh tích cực; Hai không với bốn nội dung;…một trong các biện pháp mà các trường họ
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn chuyên đề:
Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị 58-CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2001 về việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo
Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và hưởng ứng các cuộc
vận động Xây dựng học sinh thân thiện, học sinh tích cực; Hai không với bốn nội dung;…một trong các biện pháp mà các trường học đã và đang
tích cực chú ý sử dụng bản đồ tư duy Thực tế cho thấy dạy học bằng hình thức này đã đưa lại nhiều lợi ích thiết thực trong việc thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của quá trình dạy - học nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là sử dụng bản đồ tư duy như thế nào? Chúng đóng vai trò chủ yếu, độc tôn hay chỉ là một trong những phương tiện hỗ trợ quá trình dạy – học? Thiết kế và sử dụng phối kết hợp trong dạy - học như thế nào cho hợp lý, cho hiệu quả? Dạy như thế nào để khơi gợi ở học sinh sự hứng thú, tính tích tích cực và tư duy đích thực?
Đặc biệt là trong dạy học môn Ngữ văn – với những đặc thù riêng – thì việc áp dụng bản đồ tư duy như thế nào cho hợp lý, cho hiệu quả lại càng cần được quan tâm nhiều hơn! Như chúng ta đã biết dạy Văn không chỉ dạy tư duy lô gic mà còn dạy lối tư duy hình tượng và khơi gợi sự đồng cảm mãnh liệt của người đọc, người học trước một cảnh đời, một mảng hiện thực đời sống, … được nghệ sĩ khám phá và thể hiện trong tác phẩm qua cảm xúc và thế giới hình tượng nghệ thuật
Biết rằng việc sử dụng bản đồ tư duy không còn là mới lạ trong quá trình dạy – học, nhưng đây là thao tác, thủ thuật có tính chất nền tảng, cơ sở quyết định đến nguyên tắc, phương pháp dạy học và hiệu quả giáo dục của bộ môn Là giáo viên trực tiếp đứng lớp đã được trải nghiệm, chúng tôi phần nào hiểu được đó là những khó khăn, trở ngại, những băn khoăn đối với những ai luôn muốn đào sâu tìm tòi, suy nghĩ, khám phá về quá trình dạy học
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn
chuyên đề: Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học bộ môn Ngữ văn, bậc
THCS để cùng đồng nghiệp trao đổi nhằm rút ra những kinh nghiệm quý
báu cho quá trình dạy học
Trang 2II Mục tiêu, nhiệm vụ của chuyên đề:
Với khuôn khổ thời gian của chuyên đề, chúng tôi mạo muội phân
tích, so sánh, đối chiếu về vai trò, vị trí, tác dụng và một số hạn chế của hình thức dạy học bằng bản đồ từ duy so với hình thức dạy học truyền thống Trên cơ sở đó mạnh dạn nêu ra một số biện pháp để phát huy hiệu quả của dạy học bằng bản đồ tư duy trong bộ môn Ngữ văn, bậc THCS
III Đối tượng nghiên cứu:
Các giờ dạy học bộ môn Ngữ văn có sử dụng bản đồ tư duy ở các trường THCS trong toàn huyện M’đrắk
IV Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Để nghiên cứu và rút ra kinh nghiệm cho chuyên đề này, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu về hình thức dạy học ở trường THCS Hoàng Văn Thụ trong hai năm học gần đây
V Phương pháp nghiên cứu:
Với chuyên đề này, chúng tôi sử dụng nhóm năm phương pháp chính như sau:
1 Phương pháp khảo sát và phân loại
2 Phương pháp điều tra
3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
4 Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu
5 Phương pháp thực nghiệm (dạy trên lớp)
B PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận của việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học:
Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu Hiện nay ở nước ta cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng quy mô, nâng cao tính tích cực trong dạy học và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Chính vì thế mà nhiều phương tiện dạy học hiện đại được áp dụng đại trà trong sự nghiệp giáo dục Việt Nam ngay ở những năm đầu của thế kỉ XXI – những năm đầu thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, trong
đó có bản đồ tư duy
Như chúng ta đã biết, bản đồ tư duy (còn gọi lược đồ tư duy) là một dạng sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa
lí Bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực, bản đồ tư duy chú trọng đến cơ chế
Trang 3nhìn – đọc – suy ngẫm - ghi nhớ - ghi chép súc tích; dạy cách học; cách
tự học nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức Đặc điểm này giúp học sinh và giáo viên
có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh Tùy vào khả năng tư duy lô gic và sáng tạo, mỗi người có thể vẽ một kiểu khác nhau với những màu sắc, hình ảnh, chữ viết và các cụm từ diễn đạt khác nhau Chính vì thế, tuy cùng một chủ đề nhưng mỗi học sinh có thể có nhiều cách “thể hiện” nó dưới dạng sơ đồ tư duy theo cách riêng của mình Do đó, việc lập sơ đồ
tư duy phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
Trong cơ chế dạy học Văn nói riêng và trong cơ chế dạy học hiện đại nói chung, bản đồ tư duy là phương tiện dạy học có tầm quan trọng trong việc thể hiện phương pháp dạy học theo hướng đổi mới, hiện đại Loại phương tiện dạy- học này không những giúp người thầy cung cấp cho học sinh một lượng kiến thức lớn đảm bảo tính khoa học, sư phạm trong một thời gian cho phép mà còn khởi động được tâm hồn, phát động tính tích cực, chủ động và độc lập tư duy của học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng,
kỹ xảo của các em
II Thực trạng của việc sử dụng bài giảng điện tử và bản đồ tư duy trong dạy học:
1 Thuận lợi :
Học sinh và giáo viên đa số cần cù, chịu khó, sáng tạo và thích ứng nhanh với các phương tiện dạy học
Đội ngũ giáo viên đã được tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đổi mới PPDH thông qua việc thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy
Cơ sở vật chất và các phương tiện dạy – học hiện đại trong nhà trường đã và đang được các cấp lãnh đạo quan tâm và đầu tư mua sắm ngày một đầy đủ hơn
2 Khó khăn:
Tuy nhiên, việc ứng dụng bản đồ tư duy trong quá trình dạy học, đặc biệt là trong bộ môn Ngữ văn còn tồn tại một số khó khăn, lúng túng, cứng nhắc và hình thức từ việc thiết kế đến khâu tổ chức dạy học trên lớp
Bên cạnh đó, trong dạy học (do mới áp dụng), nhiều giáo viên chỉ mới mạnh dạn sử dụng sơ đồ tư duy ở những bài Luyện tập, Tổng kết nhằm giúp học sinh củng cố, hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức một cách ngắn gọn, mạch lạc, lô-gic Phạm vi đã hẹp, nhưng giáo viên lại
Trang 4chưa thực sự chú trọng hướng dẫn cụ thể, kĩ lưỡng cho học sinh làm quen với bản đồ tư duy và cách vẽ nó
Hầu hết bản đồ tư duy trong các tiết dạy ấy đã được giáo viên chuẩn
bị trước ở nhà để củng cố khi lên lớp Cách làm này vô hình chung làm mất đi tính chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh Vì thế các em thường lúng túng khi yêu thầy cô giao cầu vẽ, dù các em đã hiểu bài
Hơn nữa, cách trình bày bản đồ tư duy cũng chưa thực sự chú ý đến đường nét, màu sắc và bố cục Biết rằng nội dung kiến thức bài học là cái cần đạt đến, nhưng hình thức trình bày lôi cuốn, cân đối, lô gic (nhưng không lòe loẹt, màu mè, hoa lá) sẽ góp phần kích thích hứng thú của các
em học sinh trong quá trình học tập
3 Các nguyên nhân, yếu tố tác động:
Nội dung, chương trình còn nặng, hàn lâm mà ít dành thời gian thực hành Trình độ nhận thức của học sinh vốn không cao và không đồng đều
Một số ít giáo viên có tuổi đời cao nên khả năng cập nhập tin học còn hạn chế và một số giáo viên chưa thực sự nhuần nhuyễn với việc ứng dụng công nghệ thông tin
III Một số giải pháp và biện pháp cơ bản:
1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Với khuôn khổ của chuyên đề này, những biện pháp và giải pháp được nêu ra chỉ nhằm để tham khảo góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng việc ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy - học môn Ngữ văn THCS ,
từ khâu thiết kế đế bước tổ chức dạy - học trên lớp thông qua một số nguyên tắc lý thuyết cơ bản và thực nghiệm (dạy trên lớp)
2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
2.1 Tìm hiểu để sử dụng thành thạo phần mềm công cụ trợ giúp:
Mind Map.5
Theo tôi, một trong những phần mềm vẽ sản đồ tư duy thân thiện nhất là Mind Map.5 Để tìm hiểu phần mềm này, chúng ta có thể vào đường link của trang Web chính thức của Tony Buzan:
http://www.mind.map.com () Hoặc gõ cụm từ khóa: tai lieu tap huan ban do tu duy.
2.2 Sử dụng bản đồ từ duy một cách linh hoạt nhằm phát huy tối đa hiệu quả trong các hoạt động học tập của học sinh.
Trang 5Bản đồ tư duy bắt đầu được áp dụng ở Đắk Lắk từ năm học 2011 – 2012 Đây là một phương tiện dạy học còn mới mẻ nhưng dễ áp dụng được ở mọi điều kiện dạy học khác nhau và có tác dụng lớn trong việc phát huy tối đa phương pháp dạy học tích cực Khi sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học, giáo viên cần:
2.2.1 Bố cục và màu sắc.
Một bản đồ tư duy có một ô trung tâm chứa từ khóa, từ ngữ chủ
đề Tùy vào nội dung chủ đề mà có nhiều nhánh khác nhau Trong mỗi nhánh, có thể chia ra nhiều nhánh nhỏ khác nhau (nhánh cấp 1 và cấp 1’; nhánh cấp 2 và cấp 2’; nhánh cấp 3 và cấp 3’; …) Ở mỗi nhánh (kể cả chữ viết) cần quy ước màu sắc khác nhau và độ đậm nhạt đường nét của nhánh Tóm lại, một bản đồ tư duy cần được trình bày cân đối, súc tích, khoa học, sáng tạo nhưng tránh màu mè
2.2.2 Các hình thức có thể sử dụng bản đồ tư duy trong dạy - học:
* Sử dụng bản đồ tư duy trong kiểm tra thường xuyên:
Kiểm tra bài cũ là việc làm thường xuyên, quen thuộc của giáo viên trước mỗi bài dạy Hình thức này có thể sử dụng bản đồ tư duy để kiểm tra Để kiểm tra, giáo viên đưa ra một từ khóa chứa nội dung kiến thức cần kiểm tra và yêu cầu học sinh vẽ
Ví dụ: Để kiểm tra kiến thức công dụng của dấu gạch ngang (học
kì 2, lớp 7), giáo viên nêu cụm từ khóa: Dùng cụm chủ - vị để mở rộng câu và yêu cầu học sinh vẽ.
Trang 6(Lưu ý: Khi học sinh vẽ xong, giáo viên cho cả lớp quan sát, gọi một vài em nhận xét, góp ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm)
Bên cạnh đó, giáo viên cũng có thể sử dụng bản đồ tư duy cho học
sinh kiểm tra 15 phút (Thậm chí có thể sử dụng trong kiểm tra một tiết)
Ví dụ: Để kiểm tra 15 phút cho phần văn, giáo viên có thể ra từ
khóa: Truyện Lục Vân Tiên và yêu cầu học sinh vẽ.
* Sử dụng bản đồ tư duy trong các tiết dạy thông thường và các tiết dạy ôn tập, luyện tập:
- GV có thể hướng dẫn học sinh vẽ bản đồ tư duy về tác giả
Ví dụ, khi dạy bài Truyện Kiều của Nguyễn Du, giáo viên cho học sinh từ khóa NGUYỄN DU và hướng dẫn học sinh vẽ.
Trang 7- GV có thể hướng dẫn học sinh vẽ bản đồ tư duy cho một đơn vị kiến thức bài học
Ví dụ, khi dạy phần Tiếng việt, bài Các thành phần biệt lập, giáo viên có thể chọn từ khóa THÀNH PHẦN PHỤ CHÚ và hướng dẫn học
sinh vẽ
Trang 8Hoặc khi dạy phần Văn, bài Lượm (Tố Hữu), giáo viên có thể sử dụng từ khóa HÌNH ẢNH CHÚ BÉ LƯỢM và hướng dẫn học sinh vẽ
Hoặc dạy phần Tập làm văn, bài Cách làm bài văn lập luận chứng minh, giáo viên có thể nêu từ khóa DÀN BÀI VĂN CHỨNG MINH và hướng dẫn học sinh vẽ.
Hoặc có thể dùng bản đồ tư duy để củng cố bài học Chẳng hạn, khi dạy
Trang 9xong bài thơ Lượm (Tố Hữu), giáo viên sử dụng bản đồ từ duy giúp học
sinh khái quát nội dung bài học
…vv
Như vậy, trong quá trình dạy – học, nếu chuẩn bị kĩ lưỡng thì giáo viên có thể dễ dàng sử dụng bản đồ tư duy để hướng dẫn học sinh tóm tắt kiến thức bài học một cách có hệ thống, lô gic Bản đồ tư duy luôn bắt đầu bằng từ, cụm từ trung tâm, thông qua sự dẫn dắt của giáo viên, các
em học sinh tự khám phá, tìm hiểu các đơn vị kiến thức của bài học (các
ý lớn, nhỏ) một cách liền mạch, có hệ thống và sáng tạo Tùy vào tính chất của bản đồ tư duy mà giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vẽ lên bảng hoặc giấy A4
3 Điều kiện thực hiện các giải pháp, biện pháp:
- Giáo viên phải có trình độ tin học nhất định và có kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
- Học sinh phải được giáo viên hướng dẫn tỉ mỉ về kĩ năng thiết lập một bản đồ từ duy đơn giản
- Nhà trường phải có đầy đủ trang thiết bị dạy học hiện đại: Máy chiếu,
4 Mối quan hệ giữa các biện pháp, giải pháp:
Các giải pháp, biện pháp nói trên của chuyên đề có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu vận dụng trong quá trình dạy – học thì giáo viên cần có sự linh hoạt, sáng tạo miễn sao phù hợp với nội dung dạy học và đối tượng học sinh nhằm nâng cao chất lượng Cần tránh tính hình thức
và cứng nhắc trong quá trình vận dụng
Trang 10C PHẦN KẾT LUẬN
Bản đồ tư duy là một trong nhiều công cụ dạy học mang lại nhiều lợi ích trong việc đổi mới phương pháp và chất lượng dạy học Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học là một công việc lâu dài, khó khăn, đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên
Nhưng, trước mắt, với những ưu điểm điểm nổi bật, bản đồ tư duy trở thành một công cụ gợi mở, kích thích quá trình tìm tòi kiến thức của học sinh.Việc ứng dụng chúng vào trong quá trình dạy học đã thực sự khởi động, phát động ở các em sự hào hứng và chủ động, tích cực, tuy duy sáng tạo không ngừng trong suốt quá trình dạy học
M’đrắk, ngày 20 tháng 02 năm 2013
Người viết:
Trần Đăng Hảo