Qua đó, thấy được những phương diện thể hiện tình yêu, những nét nghệ thuật nổi bật tạo nên dáng vẻ riêng biệt của ca dao xứ Nghệ so với ca dao của các vùng miền trên đất nước.. Với hai
Trang 1KHOA NGỮ VĂN
LÊ THỊ HÀ TRANG
TÌNH YÊU TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 05 / 2015
Trang 2KHOA NGỮ VĂN
TÌNH YÊU TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn:
PGS TS Nguyễn Phong Nam
Người thực hiện:
Trần Thị Mỹ Lan (Khóa 2010 – 2014)
Đà Nẵng, tháng 05 / 2015
Trang 32 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Cấu trúc luận văn 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 5
KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ CA DAO NGHỆ TĨNH 5
1.1 Giới thiệu về vùng đất Nghệ Tĩnh 5
1.1.1 Đặc điểm lịch sử, địa lí, nghề nghiệp và sản vật vùng đất Nghệ Tĩnh 5
1.1.1.1 Đặc điểm về lịch sử, địa lí vùng đất Nghệ Tĩnh 5
1.1.1.2 Nghề nghiệp và sản vật vùng đất Nghệ Tĩnh 6
1.1.2 Con người và văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh 10
1.2 Khái quát ca dao Nghệ Tĩnh 13
1.2.1 Khái niệm về ca dao và ca dao xứ Nghệ 13
1.2.1.1 Khái niệm ca dao 13
1.2.1.2 Ca dao Nghệ Tĩnh 14
1.2.2 Sơ lược về đặc điểm ca dao xứ Nghệ 15
1.2.2.1 Đặc điểm về nội dung 15
1.2.2.2 Đặc điểm về nghệ thuật 18
CHƯƠNG 2 21
CÁC PHƯƠNG DIỆN BIỂU THỊ TÌNH YÊU TRONG CA DAO 21
2.1 Tình yêu quê hương đất nước 21
2.2.1 Tình yêu phong cảnh thiên nhiên 21
2.1.2 Yêu phong cảnh làng quê 22
Trang 42.2.1 Tình yêu nghề nghiệp 28
2.2.2 Tình yêu sản vật 32
2.3 Tình yêu nam nữ 34
2.3.1 Tình yêu mặn nồng, da diết 34
2.3.2 Tình yêu đắng cay, tủi hờn 37
2.4 Tình yêu gia đình 40
2.4.1 Tình yêu vợ chồng 40
2.4.2 Tình yêu cha mẹ 43
CHƯƠNG 3 48
NGHỆ THUẬT BIỂU ĐẠT TÌNH YÊU TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH 48
3.1 Thể thơ và cấu trúc lời 48
3.1.1 Thể thơ 48
3.1.1.1 Thể thơ lục bát 48
3.1.1.2 Thể song thất lục bát và thể hỗn hợp 50
3.2.2 Về cấu trúc lời ca 51
3.2.2.1 Cấu trúc lời đơn 51
3.2.2.2 Cấu trúc lời đôi đối – đáp 54
3.2 Không gian và thời gian nghệ thuật 55
3.2.1 Không gian nghệ thuật 55
3.2.2 Thời gian nghệ thuật 57
3.3 Ngôn ngữ 59
3.3.1 Ngôn ngữ địa phương 59
3.3.2 Ngôn ngữ “trí tuệ, bác học” 61
3.3.3 Biện pháp tu từ 63
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ca dao là sản phẩm của nhân dân lao động, được phổ biến rộng rãi trong từng vùng miền hay trong toàn dân tộc bằng hình thức truyền miệng Văn học dân gian lưu trữ nhiều nét văn hóa của dân tộc, đặc biệt là trong thơ ca dân gian Qua
đó, ta thấy được hình ảnh quê hương, đất nước, thấy bản lĩnh và tính cách của con người của từng vùng, miền nói riêng và của của cả dân tộc Việt Nam nói chung
Nằm trong vốn ca dao chung của cả nước, ca dao xứ Nghệ có những đặc điểm chung nhất định và cũng có những nét văn hóa đặc trưng riêng Đọc ca dao Nghệ Tĩnh, ta thấy hầu hết những bài ca dao được lưu truyền ở đây đều phản ánh sinh hoạt và tính cách của con người, thể hiện tình yêu quê hương, lao động Đặc biệt “thể hiện tính cách tình cảm con người xứ Nghệ rõ rệt và đầy đủ đó là bộ phận nói về tình yêu trai gái, về hôn nhân và gia đình” [5, tr 59]
Tình yêu là biểu tượng cho tình cảm cao quý nhất của con người, là chốn bình yên để mọi phong ba của tâm hồn neo đậu Vấn đề về tình yêu luôn là nguồn cảm hứng dạt dào được mọi người quan tâm, đặc biệt là tình yêu đôi lứa, vợ chồng Nghiên cứu về đề tài: “Tình yêu trong ca dao Nghệ Tĩnh” là đi vào tìm hiểu những bài ca dao thấm đẫm tình yêu thương quê hương, đất nước, con người, thiên nhiên qua những hình ảnh, ngôn từ giản dị, mộc mạc đậm chất Nghệ Tĩnh Qua đó, thấy được những phương diện thể hiện tình yêu, những nét nghệ thuật nổi bật tạo nên dáng vẻ riêng biệt của ca dao xứ Nghệ so với ca dao của các vùng miền trên đất nước
Việc lựa chọn đề tài: “Tình yêu trong ca dao Nghệ Tĩnh” sẽ góp phần phục
vụ tốt hơn cho việc học tập hiện tại và giúp chuẩn bị hành trang cho việc giảng dạy Văn ở trường Phổ thông sau này Đồng thời, Nghệ Tĩnh chính là quê hương của tác giả vì vậy đây cũng là cơ hội để tác giả có thể viết về quê hương của mình như một món quà tri âm
Trang 62 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ca dao là một trong những đề tài quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến việc tìm hiểu văn hóa, văn học dân tộc, bởi vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
Về ca dao Nghệ Tĩnh, cũng đã có nhiều công trình đồ sộ nghiên cứu:
Công trình đồ sộ và có ý nghĩa lớn nhất là hai cuốn Kho tàng ca dao xứ Nghệ
(1996), tập I+II, do Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao (Chủ biên), Võ Văn Trục biên soạn, NXB Nghệ An Với hai cuốn sách này, nhà nghiên cứu đã giới thiệu về
ca dao của người Việt ở xứ Nghệ, bao gồm tóm tắt đặc điểm vùng xứ Nghệ; giới thiệu thiên nhiên, tinh thần yêu nước; vài nét sơ lược về nội dung, nghệ thuật, tình cảm, tính cách, con người Trong nội dung, tác giả đã đề cập đến về thiên nhiên, con người, quê hương và quan trọng tác giả đã viết rằng: “Thể hiện tình cảm của con người xứ Nghệ rõ rệt và đầy đủ là bộ phận nói về tình yêu trai gái, về hôn nhân và gia đình Riêng tình yêu trai gái, ở đây ta thấy mọi mức độ của tình yêu đôi lứa.” [4,
tr 59] Về phần hình thức nghệ thuật, tác giả đã nêu một số nét cơ bản thể hiện trong ca dao Nghệ Tĩnh Điều quan trọng nhất trong công trình này đó là phần sưu tầm ca dao Nghệ Tĩnh, điều này giúp cho việc khảo sát đề tài thuận lợi hơn
Thứ hai, cuốn Văn hóa dân gian xứ Nghệ (2012), tập 1: Ca dao và đồng dao,
do Ninh Viết Giao (Chủ biên) Trong công trình này, tác giả đã phân loại rõ ràng
đề mục của các phần nội dung đề cập trong phần giới thiệu khái quát về ca dao người Việt ở Nghệ Tĩnh Tác giả đã giới thiệu mục tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình trong ca dao Nghệ Tĩnh Đồng thời phần nghệ thuật, tác giả đã đề cập đến: tính bộc trực, thẳng thắn; tính trí tuệ, bác học; tính “trạng”
Công trình thứ ba, cuốn Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh (1995), Nguyễn
Đổng Chi chủ biên, NXB Nghệ An – Vinh Trong công trình này, tác giả đã đưa ra những hiểu biết của mình về văn hóa dân gian của vùng Nghệ Tĩnh: “Quyển sách này là một trong những thể nghiệm bước đầu về việc lượm lặt, tập hợp những cái đã được chọn lựa, hệ thống hóa và cố gắng tìm hiểu, có kết luận về các thể loại văn hóa dân gian khoanh vùng trong tỉnh Nghệ Tĩnh, đồng thời nó góp phẩn giới thiệu các mặt hay, đẹp, cổ kính của xứ Nghệ còn để dấu ấn trong văn hóa dân gian” Hơn
Trang 7nữa, đây là cuốn sách có một cái nhìn tổng quát về nét đặc trưng về con người, vùng đất cũng như thiên nhiên, địa lí và văn hóa dân gian xứ Nghệ
Công trình thứ tư là Luận văn thạc sĩ văn học: Đặc điểm ca dao Nghệ Tĩnh
(2008), trường đại học sư phạm T.P Hồ Chí Minh Về phần nội dung, công trình này có nghiên cứu về tình cảm phong phú mãnh liệt, trong đó có tình yêu nước nồng nàn, thủy chung thắm thiết, yêu thương sâu nặng Còn chủ yếu là nghiên cứu toàn bộ nội dung của ca dao và các đặc điểm nghệ thuật trong ca dao Nghệ Tĩnh Qua đó, cho ta một cái nhìn tổng quát về hệ thống đặc điểm ca dao Nghệ Tĩnh
Công trình thứ năm đó là cuốn Thi pháp ca dao (2006), Nguyễn Xuân Kính,
Nhà xuất bản đại học Quốc gia Hà Nội Công trình này là cả một kho tàng những tri thức về thi pháp của ca dao, tạo điều kiện thuận lợi cho người viết định hướng được hướng đi trong việc tìm hiểu nghệ thuật của ca dao Nghệ Tĩnh Quan trọng đó là việc nắm được thể thơ, thời gian và không gian nghệ thuật trong ca dao
Công trình thứ sáu đó là cuốn Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh (2001),
Nguyễn Nhã Bản, Nhà xuất bản Nghệ An Công trình này viết về bản sắc văn hóa Nghệ Tĩnh, tạo cho người viết có một cái nhìn đúng đắn và sâu sắc hơn trong tính cách, con người cũng như quê hương Nghệ Tĩnh
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số cuốn sách nghiên cứu về ca dao người
Việt, trong đó có cuốn Cấu trúc ca dao người Việt (2009) của Lê Đức Luận, NXB
Đại học Huế Công trình này giúp chúng ta có một cái nhìn khách quan hơn trong việc xem xét cấu trúc ca dao, từ đó tạo điều kiện cho việc phân loại đặc điểm nghệ thuật
Nhìn chung, tìm hiểu về ca dao đã có khá nhiều công trình nhưng chưa có công trình nào cụ thể viết về Tình yêu trong ca dao Nghệ Tĩnh Vì vậy, dựa trên những nét kiến thức quý giá của những người đi trước để lại, tôi xin tiếp thu, kế thừa và đi sâu vào tìm hiểu giá trị của tình yêu trong ca dao Nghệ Tĩnh và những nét nghệ thuật nổi bật trong đề tài này
Trang 83 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tương nghiên cứu của đề tài: “Tình yêu trong ca dao Nghệ Tĩnh”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là Tình yêu trong ca dao Nghệ Tĩnh khảo sát trong cuốn “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” do Ninh Viết Giao chủ biên, NXB Nghệ An, năm 1996 (tập I và tập II), NXB Nghệ An, 1996
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Trên cơ sở tổng hợp nguồn tài liệu thu thập được từ sách, internet, từ bạn bè, thầy cô, chúng tôi thống kê và phân loại tài liệu của ca dao về lí thuyết, nội dung và nghệ thuật
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sau khi thống kê và phân loại tài liệu, chúng tôi đi vào phân tích nội dung và đặc điểm ca dao Nghệ Tĩnh
- Phương pháp so sánh – đối chiếu: Ca dao của các vùng là vốn chung của cả nước, tuy nhiên đặc điểm văn hóa của mỗi vùng là khác nhau Bởi vậy, việc sử dụng phương pháp so sánh – đối chiếu sẽ làm nổi bật nhữn điểm giống và khác nhau của
ca dao Nghệ Tĩnh với các vùng khác
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn
gồm 3 chương sau:
Chương 1: Khái quát về vùng đất, con người và ca dao Nghệ Tĩnh
Chương 2: Các phương diện biểu thị tình yêu trong ca dao Nghệ Tĩnh
Chương 3: Nghệ thuật biểu đạt tình yêu trong ca dao Nghệ Tĩnh
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ CA DAO NGHỆ TĨNH
bỏ các châu cũ và đặt ra các châu quận thì Cửu Đức (tương đương với Nghệ An), Kim Ninh, Giao Cốc, Năm Lăng, Phúc Lợi (tương đương với Hà Tĩnh) thuộc quận Nhật Nam Đến đời nhà Đường các châu quận như tên cũ Năm 622, nhà Đường đổi Nhật Nam thành Nam Đức và vào năm 628 lại đổi thành Đức Châu sau đó lại đổi thành Hoan Châu Đến năm 679 nhà Đường lại tách Hoan Châu thành 2 huyện phía Nam Nghệ An và Bắc Hà Tĩnh
Vào năm 1010, nhà Lý chia nước ta làm 24 lộ thì Diễn Châu và Hoan Châu chia thành 2 lộ Vào năm Thông Thụy thứ 3 (1036), Lý Thái Tổ đổi Hoan Châu thành Châu Nghệ An và danh xưng Nghệ An từ đó
Vào năm 1428 Lê Lợi chia nước ta thành 5 đạo thì Nghệ An và Viễn Châu thuộc đạo Hải Tây Đời Lê Thành Tông (1469) định lại bản đồ, xứ Nghệ được gọi là Nghệ An thừa tuyên Triều Nguyễn, Quang Trung đổi Nghệ An thành trấn Nghĩa
An Đầu Nguyễn, các đơn vị hành chính trên đất Nghệ vẫn giữ nguyên như cũ Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) nhà Nguyễn cắt hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa của Nghệ
Trang 10An thành lập tỉnh mới là Hà Tĩnh Năm Tự Đức thứ 6 (1852) nhà Nguyễn lại bỏ Hà Tĩnh cho Lộ vào Nghệ An
Đến năm 1875, lại đặt tỉnh Hà Tĩnh Ngày 27/12/1975, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VIệt Nam khóa V kỳ họp 2 ban hành Nghị quyết hợp nhất tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thành một tỉnh gợi là Nghệ Tĩnh Đến ngày 12/8/1991, Quốc hội nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII kỳ họp thứ 9 ra quyết định chia Nghệ Tĩnh thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh [18, tr.12]
“Mặc dầu khi là một huyện, một quận, một châu, một thừa tuyên, một trấn… khi là hai châu, hai lọ, hai phủ, hai tỉnh,… song Nghệ Tĩnh vẫn là một dải đất chạy dài từ khe nước Lạnh đến Đèo Ngang với gần 250km bờ biển, với vùng đồng bằng trung du rộng lớn, với miền rừng núi mênh mông chiếm gần 3/5 toàn bộ diện tích, với bao của chìm của nổi… gắn bó với nhau về tất cả các mặt: địa lí, lịch
sử, kinh tế, văn hóa, phong tục, ngôn ngữ, tính cách con người,… Theo Phan Huy Chú, đây là nơi “núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả Nam Châu”” [3, tr 20]
1.1.1.2 Nghề nghiệp và sản vật vùng đất Nghệ Tĩnh
Nghề nghiệp của mỗi vùng quê còn phụ thuộc vào đặc điểm địa hình, khí hậu của nơi đó, nhưng khi nhắc đến nghệ Tĩnh, dường như ta thấy hầu hết ở đây hội tụ đầy đủ các nghề Nếu như vùng đồng bằng chủ yếu trồng lúa, trồng khoai, thì miền biển người ta lại đánh bắt, vùng núi đốn củi Không chỉ có vậy, nghề nghiệp của vùng quê này còn rất đa dạng như đốn làm nương, buôn bán, làm các nghề thủ công, nghề đánh bắt cá
Bức tranh về nghề làm nông được vẽ lên bởi nhiều sắc thái khác nhau Hình ảnh Kẻ Gai “sẵn hóp nhiều măng”, “ lúa khoai màu mỡ”; Kẻ Mí với hình ảnh: cạp cồi ló ngô”, Kẻ Đìn “cỏ áy đồn khô”, đồng “nẻ chân chim” bởi vì hạn hán và Kẻ Sía trồng khoai “đất vàng trộn với bùn đen” phần nào khái quát được những niềm vui
và khó khăn người dân gặp phải:
Quê anh sẵn hóp nhiều măng, Lúa khoai màu mỡ, dù rằng: Kẻ Gai
Trang 11Tìm về Kẻ Mí cho vui, Thương ai buổi ấy “cạp cồi ló ngô”
Một vùng cỏ áy đồng khô,
“Nẻ chân chim”, ngại đường vô Kẻ Đìn
Đất vàng trộn với bùn đen, Nương khoai Kẻ Sía biết nên duyên vợ chồng
Đâu chỉ có vậy, cuộc sống làm nông càng trở nên sinh động hơn khi trở về mảnh đất Thuận Yên với nghề “hàng xáo”, “mua lúa bán gạo”, “đi buôn” , đất Nhân Sơn “vui nghề cày cấy”:
Đất Thuận Yên có nghề hàng xáo, Mua lúa bán gạo cũng là nghề đi buôn
Em ơi đừng nghĩ thiệt hơn, Vui nghề cày cấy thì Nhân Sơn đâu bằng
Nghề đốn củi cũng là một thú vui đối với người Dị Nậu, Đông Hồi Với họ đây là nghề “ăn chơi” bằng cách thi vị hóa nghề của mình:
- Ai về Dị Nậu thì về, Bứt tranh đốn củi là nghề ăn chơi
- Rủ nhau lên núi ĐÔng Hồi, Mỗi ngày một gánh cuộc đời thỏa thuê
Nghề thủ công cũng được thể hiện phong phú qua ca dao Khi nhắc đến “dệt gấm thêu hoa” là biết đến Quỳnh Đôi, Đô Lương, Nhân Lý, Dương Phổ,… những vùng nghề chuyên về tơ lụa, dệt vải:
- Đô Lương dệt gấm thêu hoa, Quỳnh Đôi tơ lụa dễ mà sánh đôi
- Em về Nhân Lý cùng anh, Làm nghề tơ lụa cửi canh trong nhà
- Dương Phổ là đất tơ tằm,
Ai về Dương Phổ, em ngồi em ăn
Trang 12Nói đến nghề thợ mộc ta bước tới Thái Yên, vùng đất có nghề mộc giỏi, với tương truyền hai ông phó mộc nổi tiếng:
Thái Yên thợ mộc có tài, Thứ nhất cửu Ngãi, thứ hai ông Hồng
Với một danh sách các vùng quê giàu có về cá về Rộc Mỹ, đá lên Trung Phường, nồi nơi đất chợ Bộng, vôi ở Vân Tập, mỗi địa danh có một nét đặc biệt riêng, du khách tha hồ lựa chọn điểm đến ưa thích:
- Rộc Mỹ Tú lắm cá, Lèn Trung Phường lắm đá, Đất chợ Bộng lắm nồi, Đất Vân Tập lắm vôi,
Ở đâu cũng giàu có em ơi, Lấy nơi mô thì lấy, răng cứ ngồi vân vi
- Nghi Lộc chẳng thiếu nghề chi, Chim lồng, cá chậu, bổ tỳ, thịt heo
Có những nghề vất vả, nặng nề như nghề “than quánh” ở Nho Lâm, nghề
“đục đá nấu vôi” ở Kẻ Dặm”:
- Nho Lâm than quánh nặng nề, Sức em đương được thì về Nho Lâm
- Kẻ Dặm đục đá nấu vôi, Miệng thì thổi lửa, tay lôi rành rành
Về với nghề biển gian nan và khó khăn hơn nhiều, nhưng người dân ở đây cũng luôn yêu nghề và có tinh thần lao động lớn như vùng đất Văn Thai, hòn Nhạn, hòn Ngư:
- Đâu vui bằng đất Văn Thai, Trên thì đường cái, dưới hai dãy thuyền
- Nom ra hòn Nhạn hòn Ngư, Thênh thang biển cả, dân cư làm nghề
Trang 13Dù là miền ngược hay miền xuôi thì bức tranh về nghề nghiệp trong ca dao
xứ Nghệ cũng phong phú, đa dạng Mỗi nghề đều có một khó khăn riêng, một nét đẹp riêng nhưng qua đó đã lột tả được tình yêu laoo động của người dân nơi này
Sản vật của Nghệ Tĩnh được biết đến qua những câu ca dao mời gọi, những lời giới thiệu chân thành của người dân nơi đây Bát nước chè xanh đậm đà với vị ngon, vị chát cũng giống như tình nghĩa bền lâu, khó quên của con người:
Chè ngon nước chát xin mời, Nước non, non nước nghiã người khó quên
Hạt gạo là hạt ngọc trời cho Hạt gạo xứ Nghệ cũng không khỏi khiến cho bao người quyến luyến, muốn tận mắt thưởng thức cái màu trắng tinh khôi vốn có:
- Đức Thọ gạo trắng nước trong,
Ai về Đức Thọ thong dong con người
- Gạo Đô Lương không ai vo mà trắng, Nước sông Lường không ai lóng (lắng) mà trong
Mía Nam Đàn, khoai chợ Rộ, cam Xã Đoài, bưởi Phúc Trạch,… là những đặc sản thiên nhiên gần gũi, hấp dẫn người ăn bởi vị ngon, vị ngọt đặc trưng tự nhiên:
- Quê ta ngọt mía Nam Đàn, Bùi khoai chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài
- Hãy về Phúc Trạch ơi em, Bưởi ngon có tiếng ai cũng (sèm) thèm muốn ăn
Với con người xứ Nghệ, mỗi lần đi xa, mỗi lần nhớ về quê nhà, nhớ đến mâm cơm quây quần bên gia đình, họ lại nhớ đến món nhút, món tương quen thuộc:
Ra đi anh nhớ Nghệ An, Nhớ Thanh Chương ngon nhút, nhớ Nam Đàn thơm tương
Những sản vật gần gũi và tự nhiên này tưởng như rất đơn giản và dễ có, nhưng đó là kết quả của một quá trình lao động gian khó của người dân nơi đây và mang những nét đặc trưng không thể pha lẫn vào bất cứ vùng miền nào
Trang 141.1.2 Con người và văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh
Trong công trình Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh đã viết: “Mỗi con
người, mỗi tính cách khác nhau, tùy theo đặc điểm, tâm lý ý thức cộng đồng của mỗi vùng, mỗi miền, mỗi địa phương và được phương ngôn ghi nhận” [2, tr.134 ] Nói về tính cách con người xứ Nghệ, người ta thường nghĩ ngay tới những đặc điểm tính cách nổi bật như: kiên cường trong chiến đấu, cần cù trong lao động, tằn tiện trong sinh hoạt, khoáng đạt trong đời sống tinh thần và đặc biệt là rất hiếu học Hơn nữa, “thiên thời địa lợi” có ảnh hưởng không nhỏ đến tính cách con người xứ Nghệ Nghệ Tĩnh là một vùng đất “nắng lắm mưa nhiều”, trời mùa hạ “nắng cháy khô da”, trời mùa đông lạnh “cắt da cắt thịt”, tai ương lũ lụt,… Khí hậu nơi đây rất khắc nghiệt khiến cho người nông dân gặp không ít khó khăn trong cuộc sống cũng như ảnh hưởng rất nhiều đến mùa vụ, miếng cơm manh áo Bởi thế, bên cạnh tính cách rắn rỏi, gân guốc, khô khan ta còn dễ nhận thấy đó là tính tiết kiệm, nóng nẩy nhưng lại “thật thà chất phác” “Ai về Ước Lệ mà coi, Thịt thì bốn miếng, cá mòi cắt tư”,
“Kẻ Ngật chưa chặt đã bẻ” Bùi Dương Lịch trong Nghệ An Kí đã viết: “Người Nghệ An khí chất chất phác, đôn hậu, tính tình chậm chạp, không sắc sảo cho nên làm việc gì cũng giữ gìn cẩn thận, bền vững, ít bị xáo động bởi những lợi hại trước
mắt” [18, tr.16] Hay như Nguyễn Điển khi viết Địa dư Nghệ An và Hà Tĩnh cũng
có kết luận rằng: Nghệ Tĩnh núi thời cao, sông thời su, phong thổ thời trung hậu, khí tượng thời tốt sáng… núi sông thanh tú nên lắm thuần thiêng, nhiều người tốt [18, tr 42]
Niềm kiêu hãnh của vùng quê xứ Nghệ đó là mảnh đất truyền thống hiếu học, vùng “địa linh nhân kiệt” nổi tiếng Đối với những người dân nơi đây, hình ảnh các thầy đồ, nhà nho không còn xa lạ nữa, bởi đó chính là những người thầy đi trước truyền dạy lại sự học cho những con người chăm học, trọng việc học của vùng Hơn nữa, tiếp nối sự học, cũng chính trên mảnh đất truyền thống này biết bao danh nhân nổi tiếng được sinh ra tô điểm cho non sông và làm rạng danh một khung trời xứ Nghệ, từ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu,… cho đến ngày nay có bác Hồ,…
Trang 15Khi giới thiệu về văn hóa dân gian, điều đáng tự hào nhất đó là: “Nghệ Tĩnh
có một kho tàng văn học dân gian rất phong phú và có lẽ phong phú vào bậc nhất,
so với tất cả các địa phương khác trong toàn quốc” [3, tr 25] Ở đây có phong phú các loại hình văn học dân gian: đồng dao, ca dao, vè, giặm Có thể nói rằng “Tuy chưa tiến kịp qua họ xứ Bắc, nhưng dân ca Nghệ Tĩnh lại có cái hay cũng như cái độc đáo của nó Về cả hình thức lẫn nội dung, nó cũng có sức quyến rũ nhất định”[2, tr 280] Và tất nhiên, khi nói đến dân ca xứ Nghệ trước tiên phải nói đến
“giặm” vì nó độc nhất Giặm độc đáo vừa về phương diện ngữ văn vừa về phương diện âm nhạc Đây là thể loại văn học dân tộc giàu sắc thái địa phương nhất Không phải ngẫu nhiên mà đã hàng trăm năm tồn tại nó vẫn chưa vượt ra khỏi biên giới xứ Nghệ Hát giặm là một điệu hát dân gian riêng biệt ở Nghệ Tĩnh, nó lưu hành phần lớn ở các huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Can Lộc, Đức Thọ (thuộc tỉnh Hà Tĩnh)
Còn nữa, khi nói đến hát ví là nói chung Đi sâu vào tìm hiểu chúng ta thấy
có nhiều loại hát ví, mặc dù bà con thường hát một làn điệu Hình như ở Nghệ Tĩnh, nghề gì có thể họp nhóm năm bảy người cùng làm là có hát ví Vùng Nam Đàn, một số xã ở Can Lộc, Đức Thọ, Đô Lương, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành,… những người quay xa kéo sợi hay hát ví phường vải Đã bao đời rồi, theo dòng sông Lam, sông La, sông Phố,… những người hay đi lại trên sông nước thường hát ví đò đưa Những người sống dọc bờ biển, nếu không ra lộng ra khơi, làm “thợ”, làm “bạn”, làm “đàn em”, ở nhà xe chỉ, chắp gai, đan lưới, có hát ví phường chắp gai đan lưới Những người chẻ tre vót nan nong, nia, rổ, rá,… Ở Nghi Lộc, Thạch Hà, nghi Xuân có hát ví phường đan Vùng Nghi Lễ, Vân Sơn, Sa Nam (Nam Đàn),… có ví phường vàng Người trồng cói bện võng ở Phú Hậu (Diễn Châu) hay kiếm cây dứa gai về làm võng ở Hoàng La (Diễn Châu) và một số xã thuộc Kỳ Anh có ví phường bện võng Những người sống bằng đòn gánh trên vai như các bà con sống ở quanh chợ Lường (Đô Lương), chợ Chùa (Cát Ngạn), chợ Thượng, chợ Hạ (Đức Thọ), chợ Chế (Can Lộc), chợ Giang Đình (Nghi Xuân)… có
ví phường buôn Tổng Bích Hào (Thanh Chương), tháng 7, tháng 8, nước ngập lụt,
Trang 16bà con thường chèo nốc (thuyền), tập trung một nơi để hát, nên có ví phường nốc Vùng lắm cau nhiều mía, như La Mạc, Cao Điền, Đức Nhuận (Thanh Chương), và Thư Phủ, Bút Trận (Diễn Châu) có ví phường róc cau, ví phường lau mía Bà con ở vùng bán sơn địa có ví phường củi (ở Nho Lâm, Diễn Châu gọi là ví phường reo),
ví phường măng Ấy là chưa kể vất cứ nơi đâu khi mùa gặt hái về đều có ví phường gặt, khi mùa cày cấy tới đều có ví phường cấy, ví phường nhổ mạ Rồi còn biết bao đêm hát ví huê tình mà bà con gọi là “hát ghẹo” như ở Trung Phường, Vân Tập, Hậu Luật (Diễn Châu), ở một số xã tại Yên Thành và Quỳnh Lưu và nhiều nơi khác vào tháng 7, tháng 8 khi mùa màng rỗi rãi
Quanh năm trên đất Hồng Lam lúc nào cũng có tiếng hát của bà con lao động
và mê hát đã là một bản sắc của bà con xứ Nghệ Tiếng hát ấy là cả tấm lòng của người Nghệ Tĩnh, là sự quyến luyến với quê hương, đồng thời cũng gợi lên sức mạnh của những con người đã bao phen vùng dậy gây giông tố:
- Hát cho đổ quán xiêu đình Cho long lanh nước, cho rung rinh trời
Hát đàn cho rạng đông ra, Mai về quan bỏ nhà pha cũng đành
- Đưa lên câu ví cho hay, Cho Tàu giật chắc, cho Tây rùng mình
Đưa lên ta ví cho tình, Cho duyên đằm thắm, ngãi mình say sưa…
Trong khi hát, bà con vừa sáng tác tại chỗ vừa sử dụng những câu lưu truyền hoặc cải biên một số câu lấy trong truyện Kiều, truyện nôm khuyết danh thích hợp như Phương Hoa, Hoàng Trừu,…
Chính phương tiện tự túc văn nghệ như vậy là ngọn nguồn cung cấp cho kho tàng ca dao xứ Nghệ ngày thêm trau chuốt về nghệ thuật, dồi dào về số lượng và sâu sắc về nội dung
Trang 171.2 Khái quát ca dao Nghệ Tĩnh
1.2.1 Khái niệm về ca dao và ca dao xứ Nghệ
1.2.1.1 Khái niệm ca dao
Ca dao là một thuật ngữ được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Ở Trung Quốc, trong bài Viên hữu đào có câu: “Tâm chi ưu dĩ, ngã dao thả dao” (Lòng có nỗi buồn, ta ca và dao) Sách Mao truyện viết: “ Khúc hợp nhạc viết ca, đồ
ca viết dao” (Khúc hát hợp với điệu nhạc thì gọi là ca, bài hát không có nhạc đi kèm thì gọi là dao), [11, tr 6]
Ca dao: câu hát của dân gian không có điệu, không có khúc nhất định Ca: hát, dao: bài không có chương khúc Theo Dương Quảng Hàm “Ca dao là những bài hát ngắn lưu truyền trong dân gian, thường tỏ tình phong tục của người bình dân
Bởi thế, ca dao cũng gọi là phong dao” Trong Ca dao giảng luận, Thuần Phong
cũng đưa ra một định nghĩa có những nét tương tự: “Ca dao tức là dân ca, truyền miệng trong dân chúng, hát thành nhiều giọng, đặt theo nhiều thể, diễn tả sự vật thể tình, thói tục và tư tưởng của nhân dân” [14, tr 47]
Trong giáo trình Văn học dân gian, Chu Xuân Diên có viết: “Theo cách hiểu
thông thường thì ca dao là lời của các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy, … hoặc ngược lại là những câu thơ có thể bẻ thành những làn điệu dân ca Cách hiểu như vậy, về cơ bản phù hợp với những đặc điểm lịch sử của sáng tác thơ
ca dân gian… Giữa ca dao và dân ca như vậy là không có ranh giới rõ rệt Sự phân biệt giữa ca dao và dân ca chỉ là ở chỗ khi nói đến ca dao, người ta thường nghĩ đến những lời thơ dân gian, còn khi nói đến dân ca người ta nghĩ đến những làn điệu, những thể thức hát nhất định nữa Nói chung thì như vậy, song trong thực tế, phạm
vi những sáng tác thơ ca dân gian được gọi là ca dao lại thường hẹp hơn nội dung của khái niệm này” [11, tr 16]
Trong bài: Lối đối đáp trong ca dao trữ tình, Cao Huy Đỉnh đã viết: “ Ngày
xưa, phần lớn ca dao trữ tình làm ra để hát Rồi từ bài hát lại có những câu tách ra thành ca dao Ca dao sinh ra, còn lại, truyền đi và biến đổi chủ yếu là thông qua sinh
Trang 18hoạt dân ca Chính vì vậy mà trên phần lớn ca dao trữ tình còn in rất rõ khuôn dấu của dân ca [11, tr 16]
Ca dao được hiểu “là một sản phẩm của dân gian làm ra để hát bằng phương thức truyền miệng Nói chung ca dao xét về phần âm nhạc thì không có chương khúc nhất định và thường là ngắn Nhưng xét về lời thì ca dao căn bản là thơ Khác với tục ngữ, ngôn từ của ca dao về quy phạm và tổ chức mà nói thì ca dao căn bản
là thơ” [11, tr 48]
Chung quy lại, chúng tôi hiểu “ca dao là lời của các câu hát dân gian và những sáng tác ngâm vịnh được lưu truyền trong dân gian và gọi chung là lời ca dân gian” [7, tr 26]
1.2.1.2 Ca dao Nghệ Tĩnh
Như vậy, đối chiếu với khái niệm về ca dao “ca dao là lời của các câu hát dân gian và những sáng tác ngâm vịnh được lưu truyền trong dân gian và gọi chung
là lời ca dân gian”, ca dao Nghệ Tĩnh cũng là những lời thơ dân gian được tiếp thu
và sáng tạo từ các thể loại dân ca khác Trong kho tàng thơ ca Nghệ Tĩnh, như đã nói ở trên, nơi đây có rất phong phú và đa dạng như đồng dao, vè, giặm, ví, hát phường vải,… nhưng nổi bật nhất đó là hát giặm, ví và ca dao
Đặc biệt với niềm đam mê ca hát của người dân xứ Nghệ với những điệu hò điệu ví nơi đây chính là nguồn động viên, cũng chính là nguồn nguyên liệu tự cung
tự cấp cho kho tàng ca dao xứ Nghệ ngày thêm trau chuốt về nghệ thuật, dồi dào về
số lượng và sâu sắc về nội dung Nguồn nguyên liệu ấy được rút ra, chắt lọc, tiếp thu và sáng tạo từ những điệu hát giặm, hát ví
Ca dao xứ Nghệ là những lời dân gian được nhân dân Nghệ Tĩnh sáng tạo hoặc tiếp thu từ các thể loại dân ca khác và sáng tạo lại theo hình thức, nội dung, đề tài và mục đích giao tiếp của ca dao sau khi đã tách rời giai điệu âm nhạc và hoàn cảnh diễn xướng của các loại dân ca ban đầu [18, tr.14]
Như vậy, Nghệ Tĩnh có kho ca dao riêng của mình khá phong phú Đó là chưa kể đến những câu ca dao phổ biến trong nước mà người xứ Nghệ cũng quen sử dụng
Trang 191.2.2 Sơ lƣợc về đặc điểm ca dao xứ Nghệ
1.2.2.1 Đặc điểm về nội dung
Mỗi nét đẹp dân gian đều được thể hiện trong những lời ca dao ngọt ngào, sâu lắng Bên cạnh việc làm phong phú thêm vốn gia tài văn học thì ca dao Nghệ Tĩnh còn giới thiệu với bạn đọc về quê hương, về đời sống sinh hoạt, tính cách con người nơi đây, và cả những nét đặc trưng trong văn hóa, “ Bộ phận này chứa đựng thông tin khá cao về nhiều mặt: địa lý, lịch sử, cuộc sống và con người Nghệ Tĩnh”
Điểm qua một vài nét về quê hương Nghệ Tĩnh trước hết đó là hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô…
Xứ Nghệ với phong cảnh thiên nhiên hữu tình, đẹp như tranh vẽ, núi non trùng điệp, nơi đây có ngọn núi Hồng, có dòng sông Lam, nơi mà người con quê hương khi xa quê không khỏi nhớ về:
Non Hồng ai đắp mà cao Sông lam ai bới ai đào mà sâu
Hay như:
Bao giờ Hồng Lĩnh đá mòn Hoành Sơn mây phủ dạ còn nhớ anh
Nghệ Tĩnh được biết đến khi nhắc tới núi Hồng, sông Lam, một vùng thiên nhiên hùng vĩ, một vùng quê nghèo nhưng hiếu học, và có thể nói nơi đây là mảnh đất “địa linh nhân kiệt” Khung cảnh thiên nhiên ấy lại được điểm tô, mỗi lần bạn
bè xa xứ nhắc tới các địa danh nổi tiếng của vùng Đó là chùa Hương Tích ở núi Hồng Lĩnh:
Chùa Tiên cao tít tịt mù, Bao la ngàn Hống, mấy mờ giăng giăng
Trang 20Thắng cảnh nổi tiếng vào loại độc nhất vô nhị được biết đền đó là đền Cờn, một ngôi đền nguy nga tráng lệ, xuất hiện từ rất sớm tại một làng duyên hải ở Quỳnh Lưu:
Đồn rằng đức thánh Nghệ An, Quỳnh Lưu bốn tổng đền Cờn vui hơn
Phủ tía, tàn vàng, Cửa đền chín bậc, khắp Nghệ An đâu tày
Nhưng hơn hết, tất cả các địa danh đã đi vào ca dao tự nhiên và nhẹ nhàng gợi lên cho ta sự gần gũi, yêu mến:
Non Hồng ai đắp mà cao, Sông Lam ai bới, ai đào mà sâu
Hình ảnh núi Hồng, sông Lam còn biểu trưng cho lòng dũng cảm, khí phách con người:
Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây, Sông Lam hết nước, thù này mới nguôi
Ta yêu hơn dòng sông Lam - con sông lịch sử, con sông trữ tình, yêu biết mấy dãy núi Hồng, lèn Hai Vai, dãy núi Thiên Nhẫn, núi Đại Huệ, núi Giăng Màn, đình Hoành Sơn, đường Thái Lão, bãi Cửa Lò, cổ thành Trà Long, Nghệ An…
Lèn Hai Vai cao mấy trượng, Rộc Vang Thượng rộng mấy tầng?
Có o con gái họ Trần, Trai trong thiên hạ lần khân đêm ngày
Yêu biết mấy cam Xã Đoài, bưởi Phúc Trạch, nhãn Đặng Sơn, khoai chợ Rộ những địa danh mà có thể giúp chúng ta biết đến đặc sản, tính chất con người khu vực:
Thanh Chương là đất cày bừa, Nam Đường bông vải hát hò thâu canh
Có thể nói những địa danh ấy đã vẽ lên bức tranh xứ Nghệ với đầy đủ các nét, mọi ngõ ngách và mọi sắc thái được thể hiện
Trang 21Trong ca dao nghệ Tĩnh, địa danh được nhắc đến khá nhiều, đó là tên các làng, xác xã, là tên núi, tên sông, là những nơi gắn bó với bà con nông dân trong công cuộc lao động của mình:
- Ra về cho đến cầu Giằng, Nhớ cha nhớ mẹ không bằng nhớ em
- Từ Cày cho đến Ba Gian, Khách bộ hành quay lại thiếp tưởng chàng đi thi
- Thuyền tình thì ghé bến tình, Thuyền buôn thì cứ Giang Đình mà lên
Trong tình yêu, hôn nhân gia đình, ta thấy được những lời mặn mà, yêu thương:
- Trót cùng chàng dan díu bấy lâu,
Lúa mùa toan gặt lại trôi đầy đồng
Con đau vợ đói nhìn chồng, Khóc thảm, khóc thiết đỏ tròng con ngươi
- Bảy năm đại hạn khô đồng, Lúa không, ngô hết còn mong nỗi gì
Và trải qua những khốn khó, mất mát con người mạnh mẽ, quyết liệt:
Gừng già, càng rụi, càng cay,
Trang 22Anh hùng càng cưc, càng dày nghĩa nhân
Hơn hết, đề tài thể hiện trong ca dao Nghệ Tĩnh rất phong phú với khối lượng khá lớn Đó không chỉ là những chắt góp, tích lũy, sáng tạo của người nơi đây, mà trong đó còn là bản sắc,là những bài ca tình yêu về cuộc sống, lao động của con người xứ Nghệ
1.2.2.2 Đặc điểm về nghệ thuật
Về hình thức, ca dao xứ Nghệ cũng không khác gì mấy so với ca dao phổ biến Nó cũng sử dụng các lối lục bát, lục bát biến thể, vãn tư, trường đoản cú và rất
ít song thất lục bát… Có khác chăng là nó có sử dụng phần nào lối ví, giặm, ít thấy
ở ca dao phổ biến và ca dao nhiều nơi khác [2, tr 254]
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu chúng tôi thấy rằng, cũng như ca dao phổ biến, ca dao Nghệ Tĩnh cũng chủ yếu được viết bằng thể lục bát Bởi lẽ, nhịp thơ lục bát uyển chuyển, linh họat vô cùng Thơ lục bát có sở trường trong việc diễn đạt các cảm xúc vốn rất phong phú, thể hiện các nội dung hết sức đa dạng của hiện thực Thơ lục bát không có sự hạn chế về độ dài ngắn, nó có khả năng diễn đạt tình cảm đa dạng, phong phú của con người
Còn về lục bát biến thể, cách hiểu của Mai Ngọc Chừ làm cơ sở xác định lục bát thể hiện trong khảo sát: “Lục bát biến thể ở đây được quan niệm là những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khít khịt trên sáu dưới tám mà còn có sự co giãn nhất định về số lựơng âm tiết (tiếng)” Thể thơ này chủ yếu được biểu hiện trong bộ phận ca dao vể tình yêu nam nữ Hơn nữa, với những sáng tạo đặc sắc độc đáo trong hình thức thể hiện các dạng biến thể, tác giả dân gian xứ Nghệ đã mở rộng thêm giới hạn của thể lục bát, đem lại cho thể thơ này nét tự do, phóng túng đậm đà phong cách Nghệ Mặt khác, đó cũng là phương tiện để những tâm tư tình cảm, những nguyện vọng ước ao… của người dân xứ Nghệ được thể hiện một cách
Trang 23Đó đà chí quyết, đây cũng khăng khăng đợi chờ
Bằng cách tăng đều hai âm tiết ở hai dòng thơ, nỗi buồn của đôi lứa bị chia được mở rộng hơn:
Bốn phương trời chuyển động, tám ngọn nguồn rung rinh
Ngoài thể thơ lục bát, lục bát biến thể thì ca dao Nghệ Tĩnh còn dùng thể thơ hỗn hợp, là sự liên kết, phối hợp nhiều thể thơ trong một tác phẩm Đó có thể là
sự kết hợp giữa thể lục bát và thể song thất, giữa lục bát và những dòng thơ dài, ngắn tự do
Tưởng yêu nhau cho đầu râu tóc bạc,
Cho anh trồng ké bụi bầu một bên
Trầu tốt thiên nhiên, Trầu ra nhánh ác, Tiện lóng trúc hoa
Giữa thì bít ngà, Đôi đầu chạm chữ
Chữ “thầy” chữ “mẹ”, Anh đặt lên trên, Chữ “anh” chữ “em”, Anh thích vào giữa
Mỗi người mỗi chữ
Coi (xem) chữ ai hơn, Đũa ngà sánh với mâm sơn thiệt gì?
Trang 24Đặc biệt về ngôn từ, ngôn ngữ trong ca dao Nghệ Tĩnh vừa bộc trực, thẳng thắn vừa có“trí tuệ, bác học” và cả tính “trạng” tô điểm cho lời ca dao trở nên sinh động, phong phú, vừa gần gũi với ca dao phổ biến vừa tạo nên được nét tiêng biệt, tính địa phương
Một điểm đáng lưu ý nữa cũng giống như ca dao phổ biến, ca dao Nghệ Tĩnh cũng sử dụng biểu tượng, sử dụng nhiều các đại từ, cách xưng hô,…
Để nỗi lòng, tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc bạch và đạt giá trị thẩm mỹ, biểu cảm cao thì những biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,…
là không thể thiếu trong ca dao Nghệ Tĩnh
* Tiểu kết: Với địa hình chủ yếu là đồi núi, khí hậu khắc nghiệt, Nghệ Tĩnh
đã sinh ra những con người có tính cách cục cằn, khô khan, nhưng lại gân guốc, quyết liệt trước cuộc sống khó khăn Dù nghèo về vật chất, nhưng đổi lại họ lại là những con người hiếu học, trọng lễ nghĩa và trọng tình cảm Chiến đấu với thiên nhiên, trưởng thành hơn qua những cuộc kháng chiến, cùng với những đặc điểm riêng về tính cách, con người nơi đây đã tạo nên một kho tàng văn học dân gian đồ
sộ, phong phú trong đó có ca dao Lịch sử, tính cách, cuộc sống lao động, sản xuất, cuộc sống tình yêu, hôn nhân, gia đình của người dân nơi đây đã làm phong phú hơn trong đề tài thể hiện, cũng với các hình thức nghệ thuật độc đáo đã tạo nên một
dấu ấn đặc biệt trong ca dao Nghệ Tĩnh
Trang 25CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG DIỆN BIỂU THỊ TÌNH YÊU TRONG CA DAO
2.1 Tình yêu quê hương đất nước
2.2.1 Tình yêu phong cảnh thiên nhiên
Thuyền ngược hay là thuyền xuôi, Thuyền ai về Nghệ cho tôi về cùng
Quê hương hai chữ nặng lòng, quê hương là nơi chôn rau cắt rốn, là nơi đã sinh ra ta, là nơi ta lớn lên và trưởng thành cũng những người mình yêu thương, gắn
bó Cảnh đẹp thiên nhiên nơi đây đã từng được ghi lại: “Non nước châu Hoan đẹp tuyệt vời”, và trong xa dao xứ Nghệ, hình ảnh quê hương đẹp như “bức họa đồ”, phong cảnh hữu tình để còn vang vọng mãi như một lời gợi nhớ, mời chào:
- Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh họa đồ,
Non Hồng ai đắp mà cao, Sông Lam ai bới ai đào mà sâu
Bên cạnh núi Hồng, sông Lam, hình ảnh núi Rum, sông Vịnh, lèn Hai Vai cũng điểm tô cho bức tranh thiên nhiên sống động, gợi hình với độ cao, độ sâu của núi của sông, địa hình quanh co, có hình ngôi sao Vẽ nên những đặc điểm ấy, thiên nhiên nơi đây như được mở rộng hơn, hùng vĩ hơn:
- Núi Rum ai đắp mà cao, Sông Vịnh ai đào chín khúc quanh co
- Lèn Hai Vai cao mấy trượng,
Trang 26Rộc Vang Thượng rộng mấy tầng ?
Có o con gái họ Trần
Trai trong thiên hạ lần khân đêm ngày
- Tam Thai, Rú Bạc ai xây,
Kim Nghê Ai đắp, Hố Mai ai đào?
- Lam Cầu có núi Thất Tinh, Một hàng bảy ngọn như hình ngôi sao
Hơn nữa, điều đáng chú ý là núi sông hùng vĩ Nghệ Tĩnh còn gắn với lịch sử, gắn với cái đẹp chiến công nên bên cạnh cái đẹp của thiên nhiên đó còn là lòng tự hào, trân trọng:
Trèo lên trên đỉnh Kim Nhan, Quân reo Bồ ải, sông tràn Khả Lưu
Ai lên chốn đó Vụ Quang, Nhớ khi Tây tá, cụ Phan dựng cờ
- Buồm ra lạch Vạn buồm xuôi,
Mà coi quân giặc đầu rơi thành còn
- Còn trời còn nước còn non,
Còn quân giặc cướp thì còn đầu rơi
- Bình Tây ai dựng công đầu,
Hồng Lam danh tiếng mai sau còn truyền
Trước những cảnh vật thiên nhiên hùng vĩ, đẹp đẽ đó, con người bỗng có khát
khao chiếm lĩnh, ôm trọn khung cảnh ấy cho riêng mình:
Cảnh trời ai bán tôi mua, Mua non mua nước, mua chùa mua hương
Mua hoa mới nỏ giữa vườn, Mua trăng mới mọc trên sườn non cao
2.1.2 Yêu phong cảnh làng quê
Gắn với tình yêu quê hương đất nước là tình yêu phong cảnh làng quê Mỗi làng quê đều mang cho mình một nét đẹp tiềm ẩn, một nét đẹp riêng biệt khó hòa
Trang 27lẫn vào các làng quê khác “Làng ta” nơi có cha có mẹ có anh em, có những người nông dân bận rộn, có cánh đồng, nương rẫy, có những đầm hồ, núi sông quen thuộc,
có cả làng quê của xứ Nghệ thân thương, mặn mà, mộc mạc
Về “làng ta” trước mắt sẽ là những cánh đồng mênh mông với những người nông dân đang miệt mài cày cấy, đến cả sông nước cũng tuôn về hòa nhịp làm việc
của người dân
Làng ta đồng ruộng mênh mông,
Có người cày cấy, có sông nước về
“Làng ta” đẹp đẽ, trong lành biết bao khi cảnh vật trước sông sau núi hài
hòa, có hồ sen thơm tắm mát Hơn nữa, cảnh mua bán ở chợ quê lại tăng thêm phần
nhộn nhịp, sinh động của cuộc sống chốn thanh bình:
Làng ta sau núi trước sông,
Hồ Sen tắm mát, chợ rồng bán mua
Bức họa làng quê ấy trở nên hữu tình và nên thơ hơn khi được chấm phá thêm hình ảnh lũy tre xanh, con chim sáo đậu và anh nông dân đang cày :
Làng ta có lũy tre xanh,
Có con sáo đậu, có anh đi cày
Trước cảnh đẹp gần gũi, quen thuộc và tươi đẹp của „„làng ta‟‟, con người thôn quê nơi đây cảm thấy may mắn và hạnh phúc và tự hào khi được sinh ra trên
mảnh đất thơ mộng:
Làng ta phong cảnh hữu tình, Khen trời khéo đẻ ra mình ra ta
Trưa nồng nằm gốc cây đa, Chiều về nằm mát ngã ba sông Bùng
Bức tranh phong cảnh làng quê Nghệ Tĩnh thật đẹp, thật gợi hình, được tô vẽ bởi những màu sắc cuộc sống, sinh hoạt của người dân nơi đây Hơn nữa, khung cảnh được thể hiện ở đây Hơn nữa, khung cảnh được thể hiện ở đây chính là những hoạt động thường ngày, gần gũi với cuộc sống của người nông dân Bức tranh ấy có tĩnh, có động, có những sắc thái riêng tạo nên một tổng thể hài hòa
Trang 28Về đến làng Thạch, du khách sẽ được thưởng thức một bức tranh làng quê hữu tình với lời mời nhẹ nhàng, thắm thiết:
Em về làng Thạch mà coi, Nhìn xem phong cảnh nơi đây hữu tình
Đâu chỉ có vậy, bãi Sậy cũng hứa hẹn đem đến vẻ thân thiện, tươi vui qua cánh đồng lúa reo vui, bãy ngô biết cười chào đón:
Ai về bãi Sậy mà coi, Lúa reo trước mắt, ngô cười sau lưng
Làng quê Nghệ Tĩnh trở nên tươi vui hơn, trù phú hơn khi ao, hồ, đầm, phá, núi sông,… xuất hiện gắn với hình ảnh ao chùa, vượn hót, cá dờn, hồ Sen tạo không khí sinh động, tự nhiên :
- Mừng đây phong cảnh Trự Trì,
Ao chùa Cự Lạc, vui thì thậm vui
- Mừng đây phong cảnh Quả Yên, Núi Lai vượn hót, hồ Sen cá dờn
- Hồng Lĩnh nước biếc nghìn thu,
Hồ Sen có giải liên tu tía vàng
- Mừng đây phong cảnh Quả Yên, Búi Lai vượn hót, hồ Sen cá dờn
Phong cảnh thiên nhiên đẹp là thế, đẹp cả trong lẫn ngoài, một vẻ đẹp khiến con người không thể kìm lòng đến nỗi phải „„ngẫm‟‟ mới thấu :
Ngẫm xem phong cảnh Ngọc Đoài,
Gò kia bãi nọ trong ngoài đẹp thay
Ai yêu mùi hương thanh tao nhẹ nhàng, yêu màu hoa sắc trắng sắc hồng thơ mộng trước khung cảnh tĩnh lặng của chùa chiền thì trở về với „„cảnh Kim Liên‟‟ làng sen quê Bác:
- Chiều chiều ra đứng cồn Sen, Bạch liên trắng bạch, hồng liên đỏ hồng
- Nhất vui là cảnh Kim Liên,
Trang 29Vui chùa nhờ tượng, tốt sen nhờ chùa
- Chiều chiều ra đứng Cồn Tiên, Trông về cái cảnh Kim Liên vui vầy
- Kim Liên là đất quê nhà, Cảnh đà nên cảnh, đôi đà nên đôi
Không chỉ mang không khí thiêng liêng khi gắn với hình ảnh ngôi chùa, cuộc sống thường ngày của vùng đất „„quê nhà‟‟Kim Liên mang nhiều niềm „„vui vầy‟‟, với cảnh sắc „„cảnh đà nên cảnh‟‟, „„đôi đà nên đôi‟‟
Khung cảnh Nghệ Tĩnh thơ mộng, nên thơ là thế được phác họa rõ nét qua đặc điểm của làng quê nơi đây, vừa gần gũi yêu thương vừa gợi niềm thương nhớ
Và „„tức cảnh sinh tình‟‟, làng quê gắn với hình ảnh con thuyền, bến nước, cây đa,… cũng là nơi bắt đầu cho các mối nhân duyên, là nơi chứng nhân cho tình yêu giữa con người với nhau, giữa tình yêu của các cặp đôi trai gái:
- Cây đa bến cũ năm xưa, Chữ tình ta cũng đón đưa cho trọn đời
- Sông Giăng vừa trong vừa mát, Đường chọ Rạng lắm cát dễ đi
Hỡi ai là bạn tương tri, Nhớ ai nhớ cả đường đi lối về
2.1.3 Yêu con người thôn quê
Sinh ra trong một vùng quê nổi tiếng với những câu hò, điệu ví, lại được nghe những lời ru à ơi thấm đẫm tình thương yêu, dưỡng dục Bởi vậy, những người con xứ Nghệ được lớn lên trong sự yêu thương, đùm bọc và mang đậm bản sắc văn hóa nơi đây nói chung và mang những đặc điểm về tính cách và lối sống nơi đây nói riêng
Mảnh đất xứ Nghệ đã, chốn “địa linh nhân kiệt” đã sinh ra những người con
có bản lĩnh, cần kiệm, chất phác, gân guốc và đặc biệt hơn đó là những nhân tài với tinh thần hiếu học Vốn dĩ thiên nhiên hữu tình của Nghệ Tĩnh lại không ưu ái cho cuộc sống cho người nông dân lao động, bởi vậy trải qua những cuộc chiến gian
Trang 30khổ, khắc nghiệt với thiên nhiên, con người nơi đây trở nên bản lĩnh và vững vàng hơn trong cuộc sống Hơn nữa, trải qua những cuộc chiến trường kì trong lịch sử đã hun đúc nên những người con cứng cỏi, gang thép, luôn đứng đầu trong các cuộc đấu tranh Đặc biệt Nghệ An được biết đến là vùng “đất xấu dân nghèo” nhưng
“nhân dân nhẫn nại, cần cù, tiết kiệm Tác giả Nghệ An kí, Bùi Dương Lịch nhận
định rõ hơn: “Xứ này (Nghệ An) tuy đất xấu dân nghèo, nhưng dân đều vui vẻ công việc sẵn sàng vì nước, có lòng tôn quân thân thượng và biết lễ nghĩa liêm sỉ, phong tục thuần hậu chưa từng bị gián đoạn bao giờ” [4 tr 28]
Con người Nghệ Tĩnh mang trong mình tinh thần quả quyết, nghị lực bền bỉ, gan dạ và có ý thức trong công việc, trong những khó khăn, thử thách của thiên nhiên, cuộc sống:
- Trèo truông những ước truông cao,
Đã đi đò dọc ước ao sông dài
- Cả gan vác cuốc lên rừng, Đào cho trốc núi cũng đừng hãi ai
Sông sâu sào ngắn chơi vơi,
Cả gan anh chống những nơi thác ghềnh
Sinh ra trên mảnh đất gian nan, nghèo khó các chàng trai Nghệ Tĩnh tự mình
ý thức được sựu khó khăn về kinh tế, tiền bạc nhưng điều đáng khen ở đây là họ dám thừa nhận, và còn bản lĩnh so tài với thiên hạ:
Không bằng cũng đứng ngang vai, Thua tiền thua bạc, chữ anh tài không thua
Sức hấp dẫn và quyến rũ của con người nơi đây không chỉ là bản lĩnh, lòng quyết tâm mà đó còn là tâm thế luôn sẵn sáng chiến đấu:
Ra tay phất ngọn cờ đào, Bốn bên pháo trận ào ào quân đi
Trách sao được bản tính nóng nảy pha chút thô bạo của người dân Nghệ Tĩnh, bởi trước khi học được cách chiến đấu, chịu được cuộc sống khắc khổ họ đã thiên nhiên khắc nghiệt thử thách, tôi luyện Hơn nữa, với tinh thần yêu nước nồng
Trang 31nàn và ý thức bảo vệ quê hương trỗi dậy, khi có chiến tranh, có kẻ thù xâm lược, họ trở nên gân guốc, gan dạ:
- Cảnh sông Lam trên bến dưới đò,
Thuyền bè qua lại tiếng hát hò rền vang
Thằng tây đưa lính về làng,
Ta rệt một trận chạy sang cầu Trù
- Chặt tay năm ngón mà chừa, Chớ trêu quân Nghệ Tĩnh mà hắn mói dưa đi giừ
Hơn hết, đã được sinh ra trong trời đất, bất luận người con trai nào cũng muốn được khẳng định sức trai, chí làm trai của mình:
- Làm trai nợ nước là to,
Vợ con đói rách ấm no quản gì
Làm trai đứng ở trên đời, Làm cho xứng đáng giống nòi nhà ta
- Nước triều khi xuống khi lên, Làm trai cho chí ở bền là hơn
- Tóc xanh dù gội sớm trưa, Sức trai dù trải nắng mua quản gì
Giáo sư Đinh Gia Khánh nhận xét: „„Người Nghệ Tĩnh quen chịu đựng gian khổ, làm việc rất cần cù và sinh hoạt rất tiết kiệm Những nét độc đáo trong tính cách Nghệ Tĩnh là gan góc, mưu trí Có nhà nghiên cứu nhận xét rằng dân Nghệ Tĩnh nói chung quen chịu đựng gian khổ, nhưng không quen chịu nhục và trong cái gan góc đó có cái bướng bỉnh, trong cái trung thực có cái thô bạo, trong cái mưu trí
có cái liều lĩnh‟‟ [1, tr.198]
Đặc biệt nơi đây có truyền thống hiếu học, với „„địa linh nhân kiệt‟‟, chính mảnh đất này đã sinh ra biết bao con người ưu tú, làm rạng danh cho mảnh đất xứ Nghệ với những danh nhân nổi tiếng: từ Nguyễn Du, Nguyễn Thiếp, Phan Bội Châu,… cho đến Bác Hồ ngày nay vẫn còn vang vọng, để rồi đó là những tấm gương sáng để người con nơi đây học tập „„Đúng như nhận xét rất tinh tế của nhà
Trang 32văn Đặng Thai Mai rằng: „„Khi mà chế độ khoa cử còn thịnh, cơ hồ mỗi làng đều nhận thấy trong núi của mình có một cái bảng, một quản bút, một cái án thư…‟‟ [1, tr 147]
- Anh về chăm chỉ học hành, Bảng treo trường Nghệ đề danh cho mình
Khi nào treo bảng xứng danh, Rồi em ra đáy cổng thành nghe tên
- Kinh kỳ dệt gấm thêu hoa, Quỳnh Đôi tơ lụa thủ khoa ba đời
2.2 Tình yêu lao động, sản xuất
2.2.1 Tình yêu nghề nghiệp
Tình yêu quê hương đất nước được thể hiện rõ qua tình yêu thiên nhiên, yêu làng quê, yêu con người, nhưng hơn hết những tình cảm ấy lại được xuất phát từ trái tim của con người, và qua lao động con người lại xích lại gần nhau hơn Chính từ lao động, con người mới có thể rèn luyện bản thân, tạo ra nguồn nguyên, nhiên liệu phục vụ cho cuộc sống của bản thân, gia đình và tạo nên sự gần gũi hơn, hiểu về nhau hơn Và cũng chính từ cuộc sống lao động gian khổ, vất vả ấy, con người mới biết quý trọng những thứ tự mình làm ra, và biết quý trọng, nâng niu Bởi vậy, từ xa xưa đến nay, ca dao có câu:
Có khó mới có miếng ăn,
Có nhọc có nhằn mới có phong lưu
Mỗi con người được sinh ra, mỗi vùng quê phải đứng lên đều lo cho “miếng cơm manh áo” của bản thân, của gia đình, và hơn nữa, họ cũng cần có “của ăn của để” để có thể chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên và sự khó khăn mà vùng gặp phải Tin tưởng vào khả năng lao động của mình, con người Nghệ Tĩnh đã phải đổ ra biết bao giọt mồ hôi và máu để đấu tranh, dành giật và vươn lên để kiếm cái ăn, cái mặc Phải nói rằng, sự chịu thương, chịu khó của người dân nơi đây đã
vẽ nên một bức tranh nghề nghiệp sinh động, mang đủ màu sắc, sắc thái Từ miền ngược đến miền xuôi, từ đồng bằng đến biển cả, chỉ cần có công việc, chỉ cần có
Trang 33được nguồn thu nhập và phù hợp với tính chất của vùng, người dân đều làm hết, bất luận công việc ấy có nặng nhọc, khó khăn đến nhường nào Đặc biệt, ở một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thời trước, nhân dân sống cuộc sống tự cung tự cấp bởi vậy, từ làm nông cho đến thủ công, nghề làm biển, người dân đều làm và đam mê với công việc của mình
Tìm đến với nghề làm nông, người dân phải chịu bao cực khổ, bận rộn, đi sớm, đi chiều, cả ngày quần quật bên ruộng lúa, nương dâu, đi hết ruộng đậu lại về ruộng dưa mà không một phút nghỉ ngơi:
Thân em khó nhọc trăm bề, Sớm đi cấy lúa, chiều về hái dâu,
Có gương không kịp rẽ đầu
Có cau không kịp têm trầu mà ăn Thân em khó nhọc trăm phần Hết đi ruộng đậu lại lần ruộng dưa Vội về quên cả trời mưa ướt đầu
Dẫu biết nghề làm ruộng là khó khăn, vất vả, người dân phải gặp biết bao trắc trở trong vụ mùa, có khi tai ương lũ lụt ngập lúa ngập đồng, có mùa hạn hán đồng khô nứt đất Vậy nhưng, con người nơi đây cũng lấy khó làm vui, tạo nên một niềm tin yêu vào tài năng khéo léo của mình và kéo theo tinh thần lao động cũng phấn chấn hơn Một phần, vì làm ăn nhưng mặt khác, nghề nông cũng có những mùa thảnh thơi:
- Làm ruộng đi sớm về trưa, Dẫu sao cũng phải cày bừa làm ăn
- Mặc ai thuyền ngược bè xuôi, Tôi về làm ruộng thảnh thơi con người
Dù vậy, chỉ làm ruộng không thôi thì khó đủ điều kiện vật chất để trang trải cuộc sống Cũng chính là lí do đó, các nghề khác được phát huy, đặc biệt nghề thủ công được thể hiện rất phong phú và đa dạng trong ca dao:
Anh về chăm việc thú quê,
Trang 34Phận em con gái cứ nghề vải bông
Đối với người dân, họ quan niệm rằng: „„nhân sinh bách nghệ, nghề nào cũng cao quý‟‟ Công việc gặp nhiều khó khăn nhưng thái độ của người để vượt qua điều đó chính lại là sự tôn trọng nghề và bản tính hài hước, cách nghĩ thông thoáng:
Búa sắc cũng chẳng qua rìu, Thợ cưa ta cũng phong lưu linh đình
Ra cưa bắt thép, đóng đinh, Cưa mà thấp chấu dám khinh thợ nào
Xin đừng bắc bậc mà chê, Cái nghề đục đá cũng nghề vinh quang
Nghề thủ công đa dạng với nghề dệt gấm, thợ mộc, nghề gạch vôi,… Nhắc đến gấm hoa tơ lụa, ta nhớ đến vùng quê Đô Lương, Quỳnh Đôi, Dương Phổ, ; nghề thợ mộc được biết đến Thái Yên …; Phượng Kỷ, Tràng Sơn lại nổi tiếng với
- Ai qua Phượng Kỷ, Tràng Sơn
Gạch vôi nghề cũ đâu chốn này
- Mời về Trù ú mà coi, Tiếng nghề nồi đất mấy lời đồn xa
Ngoài ra còn có các nghề khác như: „„Đất Hồ Liệu dệt vải, đất Bố Đức đúc nồi, đất chợ Bộng vắt bình vôi, đất Mỹ Chiêm bày tôi, đan nong nia mủng rá‟‟ Nghề thợ rèn ở Trung Lương, thợ mộc ở Xa Lang, thợ làm nốc ở Trung Kiên,… cũng rạng rỡ trong ca dao
Trang 35Như vậy, ca dao về nghề thủ công khá phong phú Không ngại vất vả, chỉ cần cuộc sống ấm no thì những người nông dân ấy sẽ làm tròn trách nhiệm và hoàn thành tốt công việc của mình:
„„Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh‟‟
Trong ca dao về nghề nghiệp cũng nói về nghề làm biển của người dân xứ Nghệ „„Bể thì nghề, quê thì rộng‟‟, làm nghề gì cũng cần sức lực, cũng khó khăn, nhưng đối với nghề biển, cuộc sống của con người nơi đây thật không dễ dàng Lênh đênh sông nước, cuộc sống ngoài trời, khi trời yên bể lặng, khi cá tôm đầy thuyền thì không sao, nhưng khi giông tố nổi lên thì khốn khó đến chừng nào
„„không đi vợ đói con xanh, đi thì vất vả thân anh thế này‟‟:
- Lạy trời một chút gió đông, Cho thuyền vào lạch, cho nhông (chồng) tôi về
- Lạy trời trăm lạy trời ơi, Trong cho trong lộng ngoài khơi được mùa
Biết bao khó khăn phía trước chưa thể lường được nhưng thiên nhiên không thể đánh gục nổi lòng yêu nghề của những con người miền biển Một mặt nghề biển
là kế sinh nhai của họ, mặt khác, chính tình yêu biển, sự gắn bó với biển cũng như tình yêu đôi lứa đã chắp cánh thêm niềm tin và lòng nhiệt huyết:
“Lắng nghe nàng nói cũng màu
Một chạp rùng kéo cá rầu lành canh
Trang 36Lắng nghe nàng nói cũng xinh Một chạp gõ lại giao đanh cá mòi,
Ai ơi đứng lại mà coi, Thợ chèo, bạn ngoáy ngoài khơi cũng tình
Đâu chỉ là nghề thủ công, nghề biển, người dân Nghệ Tĩnh còn có đi buôn, đi bán để kiếm thêm thu nhập, trang trải cho gia đình:
Này này là gái Đô Lương, Gái buôn nải tấm, gái Lường vải con
Gái này là gái hả non, Gái Lường chợ Điếm, gái buôn chợ Dừa
Dù cuộc sống khó khăn, vì kế sinh nhai của mỗi con người trên vùng quê nghèo, họ đã chăm chỉ, cật lực làm việc, chính những điều đó chính đã tạo nên sự phong phú trong nghề nghiệp, và chính những công việc đó đã đi vào từng câu ca dao, in dấu và được lưu truyền cho đến tận ngày nay Bức tranh về nghề nghiệp được cho ta thấy tinh thần lao động cật lực, chịu thương, chị khó của người dân nghèo, qua đó rút ra bài học quý giá cho những phẩm chất đáng quý của con người Nghệ Tĩnh
2.2.2 Tình yêu sản vật
Chính những sự chịu thương chịu khó, cùng với sức mạnh chinh phục thiên nhiên, chinh phục mọi khó khăn trong cuộc sống đã vun đắp nên những thành quả trong nghề nghiệp và những kết quả đó được thể hiện trên hình ảnh những sản vật phong phú của vùng Những sản vật đó không quá xa lạ với tất cả mọi người, mà đó
là những thứ “cây nhà, lá vườn”, là những sản vật do chính sức lao động, công lao vun trồng của người nông dân làm ra
Khi nói về món ăn, ta lại nhớ hai câu ca dao gần gũi, quen thuộc làng quê nông thôn Việt Nam:
Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương