1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín hiệu thẩm mĩ biểu thị tình yêu lứa đôi trong ca dao người việt

86 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 790,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tín hiệu thẩm mĩ là một trong những dấu hiệu nhận diện hữu hiệu nhất về ngôn ngữ nghệ thuật và qua hệ thống tín hiệu thẩm mĩ trong thơ văn mà chúng ta có thể thấy nội dung tư tưởng của t

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN -

NGUYỄN ANH THANH

TÍN HIỆU THẨM MĨ BIỂU THỊ TÌNH YÊU LỨA ĐÔI

TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN -

TÍN HIỆU THẨM MĨ BIỂU THỊ TÌNH YÊU LỨA ĐÔI

TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS Lê Đức Luận

Người thực hiện

NGUYỄN ANH THANH

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đức Luận Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của khóa luận này

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Anh Thanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến thầy giáo TS Lê Đức Luận - người đã nhiệt tình, chu đáo hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã chỉ bảo giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè

và người thân đã ủng hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Mặc dù có nhiều cố gắng, song do trình độ còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp chân thành của thầy cô, bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Anh Thanh

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Bố cục của khóa luận 7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8

1.1 Tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương 8

1.1.1 Khái niệm tín hiệu và tín hiệu thẩm mĩ 8

1.1.1.1 Tín hiệu 8

1.1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ 8

1.1.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ 9

1.1.1.4 Từ tín hiệu ngôn ngữ đến tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương 10

1.1.2 Đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ 11

1.1.2.1 Tính hai mặt của tín hiệu thẩm mĩ 11

1.1.2.2 Tính có lí do, tính giải thích được của các tín hiệu thẩm mĩ 11

1.1.2.3 Tính hình tuyến của các tín hiệu thẩm mĩ 12

1.1.2.4 Tính biểu cảm 12

1.1.2.5 Tính hệ thống 13

1.1.2.6 Tính cấp độ 13

1.1.2.7 Tính hàm súc 13

1.1.2.8 Tính cá thể 14

1.1.3 Ngôn ngữ văn chương dưới góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ 14

1.2 Từ và ngữ trong Tiếng Việt 15

Trang 6

1.3 Vài nét về ca dao tình yêu lứa đôi của người Việt 18

1.3.1 Các cung bậc và trạng thái tình yêu 18

1.3.2 Ngôn ngữ hiển ngôn và ngôn ngữ hàm ngôn trong ca dao tình yêu lứa đôi 22

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BIỂU ĐẠT TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO TÌNH YÊU LỨA ĐÔI CỦA NGƯỜI VIỆT 26

2.1 Tần số xuất hiện của tín hiệu thẩm mĩ có cấu tạo là từ 26

2.1.1 Các tín hiệu thẩm mĩ là từ đơn 26

2.1.1.1 Tín hiệu thẩm mĩ là đối tượng và chủ thể trữ tình 26

2.1.1.2 Tín hiệu thẩm mĩ là các trạng thái của tình yêu 34

2.1.2 Các tín hiệu thẩm mĩ là từ ghép 35

2.1.2.1 Tín hiệu thẩm mĩ là đối tượng và chủ thể trữ tình 36

2.1.2.2 Tín hiệu thẩm mĩ là các trạng thái của tình yêu 43

2.2 Tần số xuất hiện của các tín hiệu thẩm mĩ có cấu tạo là ngữ 44

2.2.1 Tín hiệu thẩm mĩ trong ngữ danh từ 44

2.2.1.1 Tín hiệu thẩm mĩ là đối tượng và chủ thể trữ tình 45

2.2.1.2 Tín hiệu thẩm mĩ là các trạng thái của tình yêu 48

2.2.2 Tín hiệu thẩm mĩ trong ngữ động từ và ngữ tính từ 48

2.2.2.1 Tín hiệu thẩm mĩ là đối tượng và chủ thể trữ tình 49

2.2.2.2 Tín hiệu thẩm mĩ là các trạng thái của tình yêu 53

2.2.3 Tín hiệu thẩm mĩ trong cụm chủ - vị 53

2.2.3.1 Tín hiệu thẩm mĩ là đối tượng và chủ thể trữ tình 54

2.2.3.2 Tín hiệu là trạng thái tình yêu 57

2.3 Các kiểu kết hợp tín hiệu thẩm mĩ 58

2.3.1 Kết hợp trong cấu trúc so sánh 58

Trang 7

Chương 3 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG

CA DAO TÌNH YÊU LỨA ĐÔI CỦA NGƯỜI VIỆT 64

3.1 Biểu đạt một tình cảm tích cực 64

3.1.1 Tỏ tình, cảm mến 64

3.1.2 Sự nhớ nhung, chờ đợi, ngóng trông 67

3.1.3 Thương yêu 68

3.1.4 Vui sướng, hạnh phúc, thề nguyền 69

3.2 Biểu đạt tình cảm tiêu cực 70

3.2.1 Giận hờn 70

3.2.2 Trách móc 71

3.2.3 Tiếc nuối 72

3.2.4 Buồn đau 73

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ - một hệ thống tín hiệu mà cộng đồng xã hội tạo nên để thực hiện hai chức năng cơ bản: công cụ của nhận thức, tư duy và phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Ngoài ra ngôn ngữ còn được dùng làm chất liệu cho nghệ thuật văn chương, lúc đó tín hiệu ngôn ngữ tạo nên tín hiệu thẩm mĩ Một tín hiệu ngôn ngữ thông thường khi đi vào thế giới thơ ca thì đã được chuyển hóa thành một tín hiệu nghệ thuật, tín hiệu thẩm mĩ – ngôn ngữ hay còn gọi là tín hiệu văn chương

màu sắc thì văn học lấy ngôn từ làm chất liệu để tạo nên ý nghĩa thẩm mĩ của

nó Ngôn ngữ ca dao là một loại ngôn ngữ giao tiếp và cũng là ngôn ngữ văn học đã được cảm xúc thăng hoa thông qua rất nhiều biện pháp nghệ thuật Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ ca dao là phải bám sát vào các yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật giúp biểu hiện nó Tín hiệu thẩm mĩ là một trong những dấu hiệu nhận diện hữu hiệu nhất về ngôn ngữ nghệ thuật và qua hệ thống tín hiệu thẩm mĩ trong thơ văn mà chúng ta có thể thấy nội dung tư tưởng của tác phẩm Chính vì vậy, để hiểu và đánh giá đúng đắn và có cơ sở khoa học một tác phẩm văn học rất cần sự khảo sát, đánh giá hệ thống các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm

Ca dao chính là tiếng hát từ trái tim của người Việt Nam, tiếng hát ấy hát nhiều về tình yêu Vì lẽ đó mà những bài ca về tình yêu nam nữ có số lượng phong phú nhất và vào loại hay nhất trong kho tàng ca dao người Việt Những câu ca dao tuy ngắn gọn nhưng ẩn chứa trong đó rất nhiều cung bậc tình cảm Ở đó chúng ta bắt gặp một trái tim đang thổn thức, yêu thương mãnh liệt, một trái tim chất chứa trách móc, giận hờn của những đôi nam nữ

Trang 9

yêu nhau Trong tình yêu đôi lứa, ca dao đã nói hộ những nỗi niềm, lòng tâm

sự và cảm xúc của họ Bộ phận ca dao này chính là những khát vọng nhân văn, nhân bản và cũng thể hiện sự cảm thông chia sẻ với những đôi lứa yêu nhau bị chia lìa, ngăn trở

Chúng tôi chọn hướng tìm hiểu ca dao tình yêu lứa đôi từ góc độ ngôn ngữ để từ đó có thể khai thác kĩ nhiều ý đồ nghệ thuật trong từng chữ, từng câu của người sáng tác Chữ thơ, câu thơ chính là những sản phẩm “mã hóa” của những tín hiệu thẩm mĩ mang thông điệp tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của người sáng tác

Với tinh thần học hỏi, trau dồi kiến thức, qua sự góp ý của giáo viên

hướng dẫn đã trở thành động lực mạnh mẽ để chúng tôi đến với đề tài: Tín

hiệu thẩm mĩ biểu thị tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định, khảo sát, thống kê cấu tạo của các tín hiệu thẩm mĩ ở phương diện từ và ngữ, chỉ ra các kiểu kết hợp giữa các tín hiệu thẩm mĩ biểu thị tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt

Chỉ ra giá trị biểu đạt của các tín hiệu thẩm mĩ đó trong ca dao tình yêu lứa đôi của người Việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Tín hiệu thẩm mĩ biểu thị tình yêu

lứa đôi trong ca dao người Việt”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi chủ yếu khảo sát những câu ca dao trong cuốn Tổng tập văn

học dân gian người Việt (2002), Nxb Khoa học xã hội, Ca dao tình yêu lứa

đôi - Tập 16, Quyển thượng

Trang 10

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Những năm gần đây, vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ trong văn học có nhiều chuyển biến mới mẻ Nó đang được các nghiên cứu dưới góc nhìn của ngôn ngữ hiện đại, trong đó vấn đề lí thuyết về tín hiệu thẩm mĩ chiếm ưu thế hơn cả

Theo tác giả Trương Thị Nhàn – tác giả của bài viết “Tín hiệu thẩm mĩ

và vấn đề nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương” thì :

Thuật ngữ tín hiệu thẩm mĩ (hay tín hiệu ngôn ngữ) ra đời gắn với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mĩ học và nghệ thuật những năm giữa thế kỉ

XX, được đưa vào sử dụng ở nước ta từ những năm 70 của thế kỉ trước qua các bản dịch công trình Iu A.Philipiep, M B Khrapchenko, các công trình, bài viết của Hoàng Trinh, Hoàng Tuệ, Đỗ Hữu Châu, Trần Đình Sử….Có thể

đó là công trình đầu tiên ở nước ta đề cập một cách khá đầy đủ và có hệ thống

về khái niệm, những đặc trưng của tín hiệu thẩm mĩ cùng cách tiếp cận ngôn ngữ

Khi đề cập đến vấn đề tín hiệu, tác giả Hoàng Tuệ trong bài viết “ Tín

hiệu và biểu trưng” có nhắc đến đóng góp của F D Saussure với quan niệm

ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu do con người và xã hội loài người làm ra Tín hiệu bao gồm “cái biểu đạt” là mặt vật chất và “cái được biểu đạt” là mặt trừu tượng Nhà nghiên cứu nhận định rằng “Trong quan niệm của Saussure, đặc

điểm cơ bản của tín hiệu là tính chất “võ đoán”, nghĩa là không thể lí giải tại

sao mặt này biểu đạt của mặt kia, và ngược lại mặt kia lại được biểu đạt bằng mặt này” [23, tr.1128] Những ý kiến của ông trong bài viết này tuy có chạm đến vấn đề tín hiệu ngôn ngữ nhưng chủ yếu là để nói về mối quan hệ của ngôn ngữ với tư duy, và đời sống xã hội là không tách rời nhau, chứ chưa bình luận gì cả và cũng chưa nêu lên được nhiều vấn đề lí luận về tín hiệu thẩm mĩ

Trang 11

Trong bài viết “Từ tín hiệu ngôn ngữ đến tín hiệu thẩm mĩ trong văn

chương”, GS Bùi Minh Toán đề cập đến “tính hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ

đó là cái biểu hiện và cái được biểu hiện” Tác giả cho rằng để tạo nên tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương, tín hiệu ngôn ngữ cần có quá trình chuyển hóa nhờ sự sáng tạo của nghệ sĩ và sự lĩnh hội, cảm thụ của độc giả Các tín hiệu thẩm mĩ được phân biệt ở hai cấp độ: vi mô (tín hiệu đơn) và vĩ mô (tín hiệu phức) Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra những tính chất chung của tín hiệu thẩm mĩ bao gồm: tính hình tuyến, tính có lí do lí giải được, tính hàm súc, tính cá thể, tính biểu cảm và tính hệ thống Các tính chất đó hoà quyện với nhau để tạo ra tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương mang những giá trị đặc sắc

Theo GS Đỗ Hữu Châu ngôn ngữ văn học có thể được xem là một hệ thống tín hiệu bao gồm các tín hiệu thông thường và các tín hiệu thẩm mĩ Các tín hiệu thông thường chỉ thực hiện chức năng tái tạo hiện thực (thực hiện chức năng giao tiếp lí trí là chủ yếu Có thể gọi đó là các chữ rỗng, các chữ bao bì) Các tín hiệu thẩm mĩ luôn chứa đựng những tư tưởng, những ý nghĩ nào đó của tác giả thông qua quá trình khái quát hoá, biểu trưng hoá nghệ thuật Vì vậy tín hiệu thẩm mĩ là cơ sở giải mã hình tượng, lý giải tính hàm súc, biểu trưng, giàu sức gợi của ngôn ngữ nghệ thuật

Trong luận án “Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ của các tín hiệu thẩm mĩ

không gian trong ca dao”, Trương Thị Nhàn đã chỉ ra cách tìm ra tín hiệu

thẩm mĩ ngôn ngữ dựa trên các trúc quan hệ hình tuyến và liên tưởng của ngôn ngữ Tác giả cũng đã đưa ra những đặc trưng sau của tín hiệu thẩm mĩ: tính đẳng cấu, tính cấp độ, tính tác động, tính biểu hiện, tính biểu cảm, tính biểu trưng, tính truyền thống và cách tân, tính hệ thống Đây là đặc trưng các tín hiệu thẩm mĩ của tất cả các ngành nghệ thuật nói chung và cũng là những nét đặc trưng cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ trong nghệ thuật ngôn từ nói riêng

Trang 12

Ca dao là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam được thử thách qua không gian, thời gian và lòng người, được gọt dũa bởi hàng vạn nhà thơ dân gian vô danh, ca dao đã đi sâu vào đời sống tinh thần và tâm hồn mọi người dân đất Việt Ca dao đã trở thành mảnh đất màu mỡ thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ chú

ý đến những bài viết, những công trình liên quan đến đề tài đã chọn

Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam lại đi sâu

vào nghiên cứu các biểu tượng và tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Tác giả cho rằng: “Người dân lao động Việt Nam đem hình ảnh con cò và con bống vào

ca dao, dân ca là đưa một nhận thức đặc biệt về khía cạnh của cuộc đời vào văn nghệ, lấy cuộc đời của những con vật trên đây để tượng trưng vài nét đời

sống của mình, đồng thời cũng dùng những hình ảnh ấy để khêu gợi hồn thơ”

[18, tr 99]

trong cuốn “Thi pháp ca dao” đã nghiên cứu tương đối kĩ đặc điểm của văn

bản ca dao về phương diện kết cấu, không gian và thời gian nghệ thuật, một

số biểu tượng, thể thơ Về phương diện ngôn ngữ ca dao, tác giả có đề cập đến cách sử dụng và tổ chức ngôn ngữ với các phương thức biểu hiện, tạo hình, chuyển nghĩa như ẩn dụ, cách dùng tên riêng chỉ địa điểm

Cuốn “Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt ” của Lê Đức Luận đi sâu

vào nghiên cứu cấu trúc ca dao trữ tình một cách công phu, tỉ mỉ bao quát và

cụ thể từ hình thức đến nội dung, từ đặc trưng văn bản đến các phương thức tạo nên văn bản, từ ngôn ngữ đến văn hóa, từ hệ thống văn bản đến các đơn vị ngôn ngữ làm ngôn liệu tạo nên văn bản Cuốn sách này khảo sát một cách hoàn chỉnh về vấn đề cấu trúc ca dao người Việt

Về tình yêu trong ca dao thì tác giả Chu Xuân Diên với bài viết: “Ca

dao, dân ca về tình yêu nam nữ ”, tác giả ghi lại một cách sâu sắc tình yêu

Trang 13

nam nữ gắn liền với tình yêu lao động và kết hợp với đấu tranh xã hội Qua đó

ta thấy được ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc của đôi lứa và quan điểm của tác giả về vẻ đẹp lí tưởng của con người

Tác giả Bùi Mạnh Nhị trong “Văn học dân gian những công trình

nghiên cứu”, tác giả giới thiệu những bài nghiên cứu đặc sắc, độc đáo về văn

học dân gian trong đó có bài nghiên cứu về ca dao “Tình yêu của người dân Nam Bộ trong ca dao” Trong bài tác gỉả nói người dân Nam Bộ khi yêu thì tình cảm của họ được bộc lộ một cách trực tiếp, nói thẳng, không bóng gió xa xôi, cốt nói cho hết được cái thương nhớ đang cháy bỏng trong lòng mình

Tóm lại, đã có nhiều công trình, bài biết của các tác giả chủ yếu khai thác, nhìn nhận, đánh giá ca dao tình yêu lứa đôi dưới nhiều góc độ khác nhau

ở khía cạnh nội dung Tuy nhiên, chưa chú trọng đến mặt ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt là từ góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ Vì thế việc nghiên cứu đề tài

“Tín hiệu thẩm mĩ biểu thị tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt” một cách

có hệ thống sẽ chỉ ra được những nét độc đáo, đắc sắc của các tín hiệu thẩm

mĩ trong ca dao tình yêu lứa đôi

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: Để quá trình tiến hành làm đề tài logic, khoa học, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp đọc tài liệu và ghi chép: những vấn đề có liên quan đến

đề tài Đây là thao tác cần thiết để xác định những tài liệu cần tham khảo, ghi chép tóm tắt các công trình nghiên cứu để làm lịch sử nghiên cứu vấn đề Xem xét các vấn đề đã được giải quyết như thế nào, vấn đề nào chưa được giải quyết thỏa đáng để tiếp tục khảo cứu thêm

- Tiếp đó là phương pháp khảo sát - thống kê, vì đề tài là “ Tín hiệu thẩm mĩ biểu thị tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt” nên phải tiến hành khảo sát trong các lời ca dao để có được những dẫn chứng thiết thực

Trang 14

- Sau đó, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích- tổng hợp để tìm ra những tín hiệu thẩm mĩ Cuối cùng là tổng hợp lại những luận điểm đã phân tích, đưa ra những đánh giá nhận xét của bản thân về đề tài này

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chúng tôi triển khai qua ba chương sau:

Chương 1: Một số vấn đề liên quan đến đề tài

Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ biểu đạt tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao tình yêu lứa đôi của người Việt

Chương 3: Giá trị biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao tình yêu lứa đôi của người Việt

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương

1.1.1 Khái niệm tín hiệu và tín hiệu thẩm mĩ

1.1.1.1 Tín hiệu

P.Guiraud định nghĩa theo nghĩa rộng: “ Một tín hiệu… là một kích thích

mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác.”

Theo nghĩa hẹp, A.Schaff định nghĩa: “một sự vật vật chất hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở thành tín hiệu nếu như trong quá trình giao tiếp, nó được các nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm (những cảm xúc, những cảm thụ nghệ thuật, một ý chí)

Dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, thì khái niệm tín hiệu vẫn là khái niệm quan hệ, không phải là một khái niệm tự thân Có nghĩa là một sự vật (hay thuộc tính) muốn trở thành tín hiệu phải nằm trong quan hệ với những sự vật khác Và bản chất của tín hiệu bao gồm hai mặt hình thức và nội dung, hai mặt đó gắn bó mật thiết, biện chứng với nhau

1.1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ

Khái niệm tín hiệu là một khái niệm khoa học quen thuộc với các nhà ngôn ngữ học Đầu thế kỉ XX, F.Sausure đưa ra khái niệm tín hiệu ngôn ngữ (linguistic sign) Đó là một đối tượng có hai mặt về hình thức và ý nghĩa Mỗi tín hiệu là cái tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt trong ngôn ngữ là hình thức ngữ âm, còn cái được biểu đạt là khái niệm hay đối tượng được biểu thị [6, tr.413]

Trang 16

Đối với tác phẩm văn học, hình thức vật chất của tín hiệu thẩm mĩ chính là ngôn ngữ Cấu trúc đặc biệt của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ cho phép chứa đựng trong mỗi ngôn từ của tác phẩm văn học một phạm vi nào đó của đời sống hiện thực được phản ánh (làm thành ý nghĩa biểu vật, biểu niệm của từ) Với ngôn ngữ, có thể tiếp nhận từ văn học những hiện thực trực tiếp

“thông qua ý nghĩa của ngôn ngữ” Chính vì thế “ngôn ngữ không chỉ là phương tiện mà còn là chất liệu của văn học”

1.1.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ

Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ xuất hiện cùng với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mĩ học và nghệ thuật từ những năm giữa thế kỉ XX và được tiếp nhận vào Việt Nam từ những năm 70 qua những bản dịch các công trình khoa học xuất hiện trong các bài viết của Đỗ Hữu Châu (Lý thuyết hệ thống trong ngôn ngữ học dưới ánh sáng của phương pháp luận khoa học của Mác), Nguyễn Lai (Từ một số luận điểm của Mác suy nghĩ về bản chất tín hiệu của ngôn ngữ), Hoàng Trinh (Từ kí hiệu học đến thi pháp học), Trương Thị Nhàn (Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ không gian trong ca dao)

Trong công trình của mình, các nhà nghiên cứu tuy chưa đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, thống nhất về tín hiệu thẩm mĩ, song họ đều thừa nhận tín hiệu thẩm mĩ là yếu tố thuộc hệ thống phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Đó là những phương tiện nghệ thuật được tập trung theo một hệ thống tác động thẩm mĩ, được chúng ta tiếp nhận như là những tín hiệu đặc biệt, có khả năng kích thích mạnh mẽ thế giới tinh thần của chúng ta [13, tr.17]

Khi vào thế giới nghệ thuật, các tín hiệu thông thường sẽ chuyển hoá thành tín hiệu thẩm mĩ mang những nét đặc thù của nghệ thuật Có thể hiểu một cách chung nhất, tín hiệu thẩm mĩ là yếu tố thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Nói đến phương tiện nghệ thuật là nói đến hai mặt thể chất và tinh thần Mặt thể chất chính là những hình thức vật chất được

Trang 17

sử dụng trong mỗi ngành nghệ thuật (như: đường nét, màu sắc trong hội họa, hình khối trong kiến trúc, âm thanh, tiết tấu trong âm nhạc, ngôn ngữ trong văn học) Mặt tinh thần bao gồm nhiều loại nội dung ý nghĩ, nhiều tầng khái quát hoá, trừu tượng hoá có tính thẩm mĩ Philipiep cũng khẳng định rằng từ một hình thức vật chất cụ thể thì mặt tinh thần, mặt nội dung ý nghĩa có thể

đồ sộ hơn rất nhiều so với ý nghĩa của bản thân thực tế, cuộc sống [13, tr.18]

Trên cơ sở phân tích ý nghĩa thực sự của phương tiện nghệ thuật, tác giả Đỗ Hữu Châu đã giải thích cụ thể hơn về tín hiệu thẩm mĩ ngôn ngữ như sau: “Tín hiệu thẩm mĩ là phương tiện sơ cấp của văn học Ngôn ngữ thực sự của văn học là ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ, cú pháp tín hiệu thẩm mĩ Để trả lời cho câu hỏi: Thế nào là một tín hiệu thẩm mĩ ?”, Đỗ Hữu Châu chủ trương căn cứ vào sự tương ứng của tín hiệu thẩm mĩ với các vật quy chiếu thuộc thế giới hiện thực: Tín hiệu thẩm mĩ phải tương ứng với một vật quy chiếu nào đấy trong thế giới hiện thực Chẳng hạn như một con thuyền, một dòng sông, hay một nỗi buồn nào đó [3, tr.576]

Khi xem xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ tự nhiên với ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ, Đỗ Hữu Châu thừa nhận: “Nói một cách tổng quát, các đơn vị ngôn ngữ thông thường là cái biểu hiện của tín hiệu thẩm mĩ và ngữ pháp thông thường là cái biểu hiện của ngữ pháp – tín hiệu thẩm mĩ” [3, tr.780]

1.1.1.4 Từ tín hiệu ngôn ngữ đến tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương

Để tạo nên tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương, tín hiệu ngôn ngữ cần

có quá trình chuyển hóa nhờ sự sáng tạo của nghệ sĩ và sự lĩnh hội, cảm thụ của độc giả Từ tín hiệu ngôn ngữ thành tín hiệu thẩm mĩ đã có sự thay đổi về chất Có thể chia sẻ ý kiến của tác giả Đỗ Hữu Châu: “Trong tác phẩm văn

học, cái hợp thể cái biểu hiện và cái được biểu hiện của ngôn ngữ thông

thường trở thành cái biểu hiện cho một cái được biểu hiện mới” [3, tr.15] Với quan niệm như thế, quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ (THNN) và tín hiệu

Trang 18

thẩm mĩ (THTM) cùng quan hệ hai mặt trong từng loại tín hiệu, có thể biểu hiện trong sơ đồ sau:

THTM trong văn chương

Cái biểu đạt (tổng thể hai mặt của THNN) Cái được biểu đạt

Cái biểu đạt

Âm thanh

1.1.2 Đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ

1.1.2.1 Tính hai mặt của tín hiệu thẩm mĩ

Tín hiệu thẩm mĩ cũng được cấu tạo như một tín hiệu ngôn ngữ là có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Nhưng tín hiệu thẩm mĩ là một phức thể có cấu tạo kép

1.1.2.2 Tính có lí do, tính giải thích được của các tín hiệu thẩm mĩ

Tín hiệu thẩm mĩ là sự tổ chức lại của tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên thành một hệ thống biểu đạt mới do mối quan hệ hai mặt biểu đạt và cái được biểu đạt có thể cắt nghĩa và giải thích được Khi lựa chọn một cái biểu đạt nào đó, người nghệ sĩ đã căn cứ vào mối quan hệ nhất định, dựa trên một cơ sở nhất định và theo một phương thức nhất định Chính vì thế, có nhiều tín hiệu thẩm

mĩ sáng tạo riêng, mang tính cá nhân của tác giả, lần đầu tiên xuất hiện trong văn chương nghệ thuật và có thể rất độc đáo, nhưng độc giả vẫn có thể giải

mã được nó trên cơ sở có tính thuyết phục Thường các tín hiệu thẩm mĩ được xây dựng theo phương thức ẩn dụ hay hoán dụ: giữa ý nghĩa của tín hiệ ngôn ngữ và ý nghĩa thẩm mĩ luôn có mối quan hệ nhất định Có những trường hợp tín hiệu thẩm mĩ vừa được xây dựng theo quan hệ tương đồng, vừa được xây

Trang 19

dựng theo quan hệ tương cận, tức là vừa theo phương thức ẩn dụ, vừa theo phương thưc hoán dụ Lúc đó sự lí giải mối quan hệ giữa hai mặt của tín hiệu thẩm mĩ lại có tính lí do cao hơn, có cơ sở rõ rệt hơn

1.1.2.3 Tính hình tuyến của các tín hiệu thẩm mĩ

Khi làm chất liệu để tạo nên các tín hiệu thẩm mĩ, tính hình tuyến là đặc điểm cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ Do tính hình tuyến mà trước một hiện thực có các sự kiện diễn ra đồng thời, phương tiện ngôn ngữ phải diễn tả theo thứ tự trước sau Nó thể hiện ở sự kết hợp lần lượt các tín hiệu theo thời gian một chiều, chứ không thể đồng thời hiện ra như các sự vật tồn tại trong không gian, hay như tín hiệu thuộc các ngành nghệ thuật hội họa, kiến trúc, điêu

khắc…

1.1.2.4 Tính biểu cảm

Để đạt đến một giá trị thẩm mĩ nhất định, tín hiệu thẩm mĩ không chỉ dừng lại ở nội dung tái tạo hiện thực, mà nó còn là những thông tin về những cảm xúc, về thái độ, về sự đánh giá, về tư tưởng thẩm mĩ của người đọc M.B.Khrapchenco đã chỉ ra rằng “có một hệ số cảm xúc nhất định, một cơ cấu cảm xúc thuộc cấu trúc tín hiệu thẩm mĩ” Theo tác giả, “cảm xúc vừa là cái để truyền đạt trong tín hiệu thẩm mĩ vừa là cái xác định gián tiếp các đối tượng và hiện thực làm cơ sở cho việc hiểu một tín hiệu thẩm mĩ”.[14, tr.17] Trong tín hiệu thẩm mĩ, cảm xúc vốn là cái chủ quan của chủ thể sáng tạo, đã được khách quan hóa thành một phần quan trọng trong cơ cấu nghỉa của tín hiệu thảm mĩ Khi nói đến cảm xúc, cũng chính là nói đến những đặc điểm lịch sử, xã hội, tâm lý, văn học, cá nhân…chi phối cảm xúc cũng như sự nhận thức – tiếp nhận cảm xúc từ hai phía chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận Cùng một nội dung hiện thực nhưng nếu với ý nghĩa biểu cảm khác nhau thì

sẽ tạo nên cái mới, cái sinh động, cụ thể và riêng biệt cho tín hiệu thẩm mĩ trong mỗi lần xuất hiện

Trang 20

1.1.2.5 Tính hệ thống

Tín hiệu thẩm mĩ thuộc về một hệ thống nhất định, bởi vậy nó chịu sự chi phối của những yếu tố khác trong cùng hệ thống thông qua những quan hệ nhất định

Tính hệ thống của tín hiệu thẩm mĩ được xem xét từ hai khía cạnh với những quy luật thuộc cấu trúc tác phẩm: khía cạnh nội tại (cấu trúc) giữa tín hiệu với tín hiệu cùng xuất hiện và khía cạnh ngoại tại (chức năng) với những quy luật về sự hoạt động thực hiện các chức năng giao tiếp của sáng tạo nghệ thuật, với hiện thực cuộc sống, với chủ thể sáng tạo, với chủ thể tiếp nhận…

1.1.2.6 Tính cấp độ

Các nhà nghiên cứu có những quan niệm về tín hiệu thẩm mĩ trong những cấp độ đơn vị khác nhau Tác giả Đỗ Hữu Châu đề xuất phân biệt tín hiệu thẩm mĩ ở hai cấp độ cơ bản: Ở cấp cơ sở: tín hiệu thẩm mĩ ứng với một chi tiết, một sự vật, hiện tượng thuộc thế giới khách quan, ví dụ: mặt trời, con thuyền, nỗi nhớ…đó là những tín hiệu Ở cấp độ xây dựng (tín hiệu phức): tín hiệu thẩm mĩ ứng với nhiều sự vật, hiện tượng được xây dựng từ những tín hiệu đơn nhưng ý nghĩa không phải là kết quả của phép cộng đơn giản những tín hiệu thẩm mĩ đơn Loại tín hiệu phức được tạo ra để biểu hiện những ý nghĩa thẩm mĩ mới trong tác phẩm văn chương Thẩm mĩ đơn hay tín hiệu thẩm mĩ cơ sở có chức năng tham gia cấu tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ ở cấp độ cao hơn trong tác phẩm

1.1.2.7 Tính hàm súc

Một cái biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ có thể hàm chứa nhiều ý nghĩa thẩm mĩ và được cảm thụ, lí giải theo nhiều chiều hướng đa dạng, phong phú tạo nên tính hàm súc Tính hàm súc của tín hiệu thẩm mĩ còn nhân lên nhiều khi ta nhớ đến lượng độc giả vô cùng lớn, không có giới hạn (không gian văn

Trang 21

hóa) hoặc thời gian văn hóa khác nhau “Mỗi tín hiệu thẩm mĩ như một viên

ngọc quý: ngọc càng mài càng sáng” [22, tr.6]

1.1.2.8 Tính cá thể

Tín hiệu thẩm mĩ mang tính cá thể nghĩa là tín hiệu thẩm mĩ do cá nhân sáng tạo ra, mang nét nghĩa riêng của người sáng tạo, thể hiện cái mới, không lặp lại Điều đó đáp ứng nhu cầu sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật: công chúng luôn đòi hỏi nghệ thuật phải sáng tạo, phải có cái mới, hơn nữa chính điều đó tạo nên sức hấp dẫn và giá trị của nghệ thuật

1.1.3 Ngôn ngữ văn chương dưới góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ

Ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ được các nhà văn, nhà thơ tiếp biến từ ngôn ngữ tự nhiên Nghiên cứu ngôn ngữ văn chương chính là việc

“giải mã” tác phẩm văn học, là quá trình ngược so với nhà văn, nhà thơ Theo các tác giả Hoàng Kim Ngọc – Hoàng Trọng Phiến cho rằng: Ngôn ngữ văn chương là thứ ngôn ngữ đặc thù được xây dựng chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên, cũng tức là trên cơ sở của ngôn ngữ tự nhiên [15,tr.57]

Nghiên cứu tính thẩm mĩ của văn chương thực chất là giải mã tác phẩm văn học xuất phát từ hình thức biểu hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật để tìm hiểu các tầng nghĩa của tác phẩm: nghĩa mĩ học, triết học, đạo lí nhân sinh, văn hóa – xã hội, Tính thẩm mĩ của ngôn ngữ văn chương phải được nghiên cứu theo cách nhìn nhận của tín hiệu thẩm mĩ [15, tr 36] Giá trị nghệ thuật của tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương phải được khảo sát từ các bình diện của ngôn ngữ văn học, gắn với phân tích thi pháp học [15,tr 63] Tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu bậc hai có chức năng biểu trưng Ngôn ngữ văn chương cũng là ngôn ngữ bậc hai cũng có chức năng biểu trưng Vì vậy, ngôn ngữ văn chương và tín hiệu thẩm mĩ có mối quan hệ mật thiết Từ tình cảm, tư tưởng, tài năng của nhà văn, nhà thơ đến tác phẩm của họ là cả một khoảng cách Tác phẩm văn học có nhiều khoảng nằm ngoài ý thức, tầm kiểm

Trang 22

soát của họ Từ tác phẩm đến độc giả, khoảng cách đo lại càng xa hơn Một tác phẩm văn chương có giá trị là một tác phẩm có nhiều “khoảng trống” Tuy nhiên, chúng ta vẫn có những phương pháp để tiếp cận, giải mã, lấp đầy những khoảng trống trong tác phẩm văn chương Tiếp cận ngôn ngữ văn chương dưới góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ là một cách tiếp cận rất khoa học

1.2 Từ và ngữ trong Tiếng Việt

1.2.1 Từ

Từ là đơn vị của ngôn ngữ, có vai trò hết sức quan trọng đối với ngôn ngữ Trong suốt quá trình lịch sử của ngôn ngữ học, khái niệm từ đã được các nhà ngôn ngữ nghiên cứu nhiều Họ đều thống nhất cho rằng: từ là đơn vị trung tâm, cơ bản của ngôn ngữ Bởi vì nó là cơ sở trực tiếp tạo nên chuỗi lời nói Từ trước nay có hơn 300 định nghĩa về từ nói chung Ta có thể đưa ra một số định nghĩa về từ của một số tác giả tiêu biểu như sau:

hợp âm nhất định Có khả năng đảm nhận một chức năng ngữ pháp nhất định [10, tr.36] V.G.Admoni: Từ là đơn vị ngữ pháp do hình vị cấu tạo nên dùng

để biểu thị đối tượng, quá trình, tính chất và những mối quan hệ trong hiện thực, có tính đặc thù rõ rệt và có khả năng kiến lập nhiều mối quan hệ đa dạng với nhau [10, tr.38] V.M.Solneev: Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai mặt: âm

và nghĩa Có khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong lời nói [10, tr.13]

Có thể nói các nhà ngôn ngữ đã đưa ra nhiều nhận định khác nhau về từ nhưng điểm thống nhất của các nhà nghiên cứu đó là: hình thức ngữ âm và ý nghĩa, có tính sẵn có, cố định và bắt buộc, là đơn vị thưc tại, hiển nhiên của ngôn ngữ, đơn vị trực tiếp tạo câu, nhỏ nhất trong câu

Khi nghiên cứu về từ tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ đã chỉ ra rằng: bên cạnh đặc điểm chung của từ thì từ tiếng Việt còn có đặc điểm riêng Trước

Trang 23

tiên về khối lượng phong phú, đa dạng (khoảng hàng vạn từ), diễn tả mọi sắc thái, nội dung của những người dùng chung thứ tiếng Việt Giống như ngôn ngữ khác thì từ tiếng Việt dùng gọi tên: đặc điểm, tính chất, trạng thái, về thực tế khách quan

Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa về từ tiếng Việt:

Hồ Lê: Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa [10, tr.104] Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa và chức năng ngữ pháp [11, tr.38] Theo Hoàng Phê cùng nhóm tác giả cuốn “ Từ điển tiếng Việt” : “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định để đặt câu” [20, tr.1326] Đỗ Hữu Châu: Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong Tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu [2, tr.16] Đỗ Thị Kim Liên: Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu [11, tr.18]

Như vậy, có thể có nhiều cách định nghĩa khác nhau về từ tiếng Việt, xuất phát từ những góc độ, những quan điểm khác nhau Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều đưa ra được những đặc điểm cơ bản của từ Trong bài viết của mình, chúng tôi sử dụng quan niệm của Đỗ Thị Kim Liên làm cơ sở để khảo sát

1.2.2 Ngữ

Khi nói, viết, chúng ta thường sử dụng đơn vị thông báo ở cấp độ câu

Để tạo nên câu cần có từ Các từ thường sắp xếp theo những quan hệ nào đó

để tạo nên đơn vị lớn hơn từ, đó là ngữ

Trang 24

Ngữ được gọi bằng một số tên gọi khác nhau, xuất phát từ những quan niệm và mục đích nghiên cứu không giống nhau: đoản ngữ (Nguyễn Tài Cẩn), cụm từ (Lê Xuân Thại), ngữ đoạn (Lưu Vân Lăng), từ tố (Nguyễn Kim Thản)

tự do với nhau theo những kiểu quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định [11, tr.75]

tiếng với tiếng chúng ta sẽ được những loại đơn vị ngữ pháp cao hơn, gọi chung là tổ hợp”[1, tr.49] Trong Ngữ pháp tiếng Việt, GS Đỗ Thị Kim Liên cũng đã nêu khái niệm “Cụm từ là cấu trúc gồm hai từ trở lên, chúng kết hợp

tự do với nhau theo những quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định”[11, tr.75] Như vậy, tổ hợp từ có thể hiểu là những từ có cấu tạo từ hai tiếng hay hai hình vị trở lên và bắt buộc trong những tiếng đó phải có một thành tố trực

tiếp “Trong tổ hợp tự do, thành tố trực tiếp bao giờ cũng phải là một đơn vị

độc lập: có thể là một tiếng độc lập (từ đơn) một từ ghép hay là một tổ hợp tự

do khác”[1, tr.51], ví dụ chiếc thuyền tình, “thuyền” là từ đơn kết hợp được

với từ “chiếc” (phụ trước) và từ “tình” (phụ sau), hay cánh hoa tươi, “hoa”

là từ đơn kết hợp được với từ “cánh” (phụ trước) và từ “tươi” (phụ sau), …

để làm nên một tổ hợp tự do “Trong từ ghép (tổ hợp cố định), trái lại, thành

tố trực tiếp một phần khá lớn chính lại là những tiếng thuộc loại không độc lập”,[1, tr.51], những tiếng đó nếu tách riêng ra thì sẽ không làm nên ý nghĩa

trọn vẹn của từ, ví dụ đất đai, áo xống, hoa hồng, áo rộng…

Như vậy, ngữ là đơn vị ngữ pháp ở bậc trung gian giữa từ và câu Loại ngữ do danh từ làm chính tố gọi là ngữ danh từ, loại ngữ do động từ, tính từ làm chính tố gọi là ngữ động từ, ngữ tính từ Trong bài khóa luận của mình, chúng tôi sử dụng quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn làm cơ sở để khảo sát

Trang 25

1.3 Vài nét về ca dao tình yêu lứa đôi của người Việt

1.3.1 Các cung bậc và trạng thái tình yêu

Trong ca dao Việt Nam, những bài về tình yêu nam nữ là những bài nhiều hơn cả, những nỗi nhớ nhung khi xa cách, những lúc phải tâm sự với thiên nhiên, những lo lắng trong khi muốn bảo vệ mối tình chung thủy, những đau thương khi xảy ra những cản trở làm cho ước nguyện không thành, rồi đến khi có chồng rồi lại xảy ra biết bao buồn tủi chỉ vì những kỉ cương phong kiến,…Tất cả những tình cảm vui buồn ấy, nhân dân Việt Nam đã thổ lộ trong

ca dao, làm cho ca dao có tính trữ tình sâu sắc

Các cung bậc trạng thái đó thể hiện như thế nào trong ca dao trữ tình

Ca dao trữ tình là thiên tình ca muôn điệu Thiên tình ca ấy trước hết phải nói đến tình yêu đôi lứa với muôn ngàn cung bậc tâm trạng Chủ thể trữ tình là chàng trai cô gái dưới các vai anh – em, chàng – nàng, thiếp – chàng, mình –

ta, trúc – mai, mận – đào,…Tình yêu bắt đầu từ những buổi gặp gỡ trong sinh hoạt, trong lao động, bằng những tình cảm đáng yêu Và những lời tỏ tình chân thành cất lên:

Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà

Áo anh chưa sứt chỉ đường tà Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng Khâu rồi anh sẽ trả công Mai mốt lấy chồng anh sẽ giúp cho Giúp cho một thúng xôi vò, Một con lợn béo, một vò rượu tăm Giúp cho đôi chiếu em nằm,

Trang 26

Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo

Giúp cho quan tám tiền cheo, Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau

Thời gian và không gian rất rõ, công việc cũng rất cụ thể tưởng như người đọc không có gì để băn khoăn thắc mắc Thế nhưng ta chỉ cần để ý một chút thôi thì sẽ nhận ra ngay “Tát nước” là công việc quen thuộc, gợi không khí lao động tươi vui, náo nức Không phải “tát nước ngoài đồng” mà “tát nước đầu đình”, nơi vừa là điểm hẹn hò tình duyên của bao lứa đôi, vừa là nơi hội tụ đông vui của nam thanh nữ tú Ngay từ phút đầu tiên chàng trai đã gây được sự chú ý của cô gái Sự bỡ ngỡ trong lời giới thiệu vốn rất ngắn gọn của chàng trai đã gây được sự chú ý của cô gái Sự bỡ ngỡ trong lời giới thiệu vốn rất ngắn gọn của chàng trai làm cho người đọc tò mò Phải chăng “chiếc áo bỏ quên ấy’ là cố tình và chàng trai đã khéo lựa ra cái cố tình ấy? Nhẹ nhàng, chàng trai đã tạo ra sợi dây vô hình níu giữ bước chân của cô gái bằng một câu hỏi bâng quơ : “Em được thì cho anh xin/ Hay là em để làm tin trong nhà”

Đến đây người đọc có thể hình dung ra được một nụ cười ẩn ý, một ánh mắt tình tứ mà chàng trai dành cho cô gái mà mình thầm để ý bấy lâu nay Câu hỏi đến bất ngờ làm cho cô gái bị động Chẳng thể lặng thinh tiếp được nữa, thế rồi cô gái tự bước chân vào “lưới tơ hồng” do chàng trai bày ra, bị bắt buộc vào trong câu chuyện và trở thành người trong cuộc Tình yêu của chàng trai đã đưa đường cho anh tiếp cận với trái tim mềm yếu của cô gái, nhịp thơ nhanh dần theo nhịp sóng lòng của chàng trai Anh đã tuyệt đối thành công trên con đường chinh phục cô gái tạo đà để con đường tình yêu trôi trên dòng sông cuộc đời

Nhớ thương, tương tư là tâm trạng thường thấy của những người đang yêu Tâm trạng đó đã đi sâu vào ca dao thật ngọt ngào và sâu sắc

Trang 27

Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt Đèn thương nhớ ai

… Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi chưa yên mọi bề

Nghệ thuật nhân hóa đi theo từng cung bậc tăng tiến Bắt đầu là một chiếc khăn vô tri, vô giác, hoàn toàn tĩnh lặng trong không gian, tĩnh mịch của đêm khuya, chiếc đèn khi mờ khi tỏ và kết thúc bằng chính đôi mắt đọng đỏ hoe, nhòe lệ “Khăn – đèn” là hình tượng nghệ thuật độc đáo tựa như đã được

cô gái thổi hồn cho vật Khăn – đèn cũng giống như đang mang tâm trạng, tình cảm của người con gái giàu tình cảm Đó là nỗi buồn, nhớ thương của cô gái khi phải xa cách người yêu về không gian và thời gian

Tình yêu lứa đôi của người lao động, người nhân dân gắn liền với công việc, với sinh hoạt gia đình, làng xóm Bởi thế nó không mang màu sắc ủy mị, trái lại nó rất khỏe khoắn, bền chặt, trong sáng dù trong cuộc sống, trong tình cảm gặp không ít trắc trở, khổ đau Tình yêu đã thể hiện một sức mạnh tuyệt vời khi đạp bằng mọi rào cản, những người đang yêu chấp nhận tất cả khi họ được ở gần bên nhau:

Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo

Tứ cửu, tam thập lục đèo cũng qua

“ Tứ cửu, tam thập lục đèo…” là những chướng ngại vật thử thách tình yêu của hai người Ý niệm về sự khó khăn gian khổ đã không tồn tại, họ chỉ biết

Trang 28

bằng cách vượt qua vì không còn con đường nào bằng phẳng cả Tình yêu nâng họ lên một tầm cao mới, tầng cao vời vợi của những trái tim hòa quyện, vượt bao mưu cầu vật chất tầm thường: “ Yêu nhau chẳng lo chiếu giường/ Dẫu rằng cành lá che sương cũng tinh” Với họ có nhau là tất cả niềm vui hòa hợp sẽ bù đắp cho những thiếu thốn vật chất, che chở sưởi ấm cõi lòng những người đang yêu Khi ở bên nhau họ nói những lời hẹn ước thủy chung Và chính những lời hẹn thề ấy đã góp phần giữ cho tình yêu mãi mãi bền chặt, lâu dài:

Đố ai quét sạch lá rừng

Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

Rung cây, rung cội, rung cành Rung sao cho chuyền lòng anh với nàng

Việc làm thay đổi tình cảm của anh đối với em khó tựa hồ việc “quét sạch lá rừng”

Người con gái đã bộc bạch: “ Hồng hà nước đỏ như son/ Chết được thì chớ sống còn lấy anh” Tình em dành cho anh duy nhất như nước sông Hồng

Hà chưa bao giờ đổi màu Dẫu phải xa anh mãi mãi em vẫn mãn nguyện vì

em được sống trong tấm tình trọn vẹn dành cho anh Từ những lời tỏ tình ngọt ngào đến những lần tương tư, nhớ thương lệ nhòa Đó là những phút giây hạnh phúc đến trào nước mắt của những người đang yêu và được yêu Tuổi thanh niên là tuổi thiết tha yêu và khao khát yêu thương Tình yêu đẹp là kết tinh của hai tâm hồn đẹp khi sống trong mạch nguồn ngọt ngào của truyền thống của dân tộc nó càng trở nên đẹp đẽ hơn, đáng quý và đáng trân trọng hơn Chính sự mượt mà trong trẻo, chất trữ tình của ca dao đã làm nên thơ cho chuyện tình của đôi trai gái để rồi mãi mãi về sau người ta vẫn không quên những mối tình rất “thơ” ấy Tất cả những vui buồn của tình yêu được nhân dân Việt Nam thổ lộ rất kín đáo, bóng gió, lúc trực tiếp, sôi nổi, chắt nén

Trang 29

trong những câu chữ vừa giống lời nói thường vừa như lời hát trau chuốt Để rồi những cung bậc tình yêu cứ thánh thót ngân vang trong lòng người đọc, trở thành bản tình ca vô tận lôi cuốn bao thế hệ người nghe Mọi vật trên thế giới này đều có quy luật, tồn tại và phát triển, con người phải biết yêu hết mình, đấu tranh đến cùng để bảo vệ tình yêu, có thể tình yêu mới trường tồn, bất diệt và luôn là ngọn lửa đỏ hồng, rực sáng trong trái tim bao thế hệ sau này Đặt những bài ca dao về tình yêu lứa đôi trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ với những luật lệ, lễ giáo phong kiến hà khắc, lạc hậu người ta thấy được tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến sâu sắc Tiếng nói đấu tranh cho con người được quyền sống, quyền tự do yêu, quyền tự do hôn nhân và cùng thể hiện khát khao hạnh phúc của bao lứa đôi thời bấy giờ nên nó có giá trị rất lớn

1.3.2 Ngôn ngữ hiển ngôn và ngôn ngữ hàm ngôn trong ca dao tình yêu lứa đôi

Ca dao là loại hình văn nghệ truyền miệng, là một hình thức văn học dân gian đã có từ rất lâu Với những đặc điểm ngôn ngữ thơ ta thấy ngôn từ của ca dao thật đẽ thuộc, dễ nhớ Những tâm tình, những trạng thía tâm lí của trai gái khi đang yêu, những chặng đường khúc khuỷu, gập ghềnh của một cuộc tình duyên trắc trở Phần lớn ca dao sử dụng ngôn ngữ theo hướng nói năng tự nhiên, một thứ khẩu ngữ được “văn chương hóa”, một thứ nói thẳng nhiều khi rất mộc mạc Nó dễ hiểu và được hiểu theo nghĩa hiển ngôn Có rất nhiều kiểu tỏ tình trong ca dao, có kiểu vòng vo, tế nhị như kiểu tỏ tình trong bài ca dao “tát nước đầu đình” nhưng cũng có kiểu tỏ tình trực tiếp, chân thành chất phác như:

Gặp em anh nắm cổ tay Nhờ vá cái áo nhờ may cái quần

Có kiểu tỏ tình táo bạo:

Đường xa thì thật là xa

Trang 30

Mượn mình làm mối cho ta một người

Một người vừa đẹp vừa xinh Một người mười chín đôi mươi như mình

Thổ lộ tình yêu đã khó, nói sao cho hay, cho khéo lại càng khó hơn Lém lỉnh, táo bạo nhưng không kém phần thông minh, một chàng trai đã nhanh nhẹ lên tiếng:

Hỡi cô cắt cỏ một mình

Cho anh cắt với chung tình lầm đôi

Cô còn cắt nữa hay thôi Cho anh cắt với làm đôi với chồng

Sách “ Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt” của Lê Đức Luận cũng đã từng nói tới “cách nói trực diện thẳng thừng” và chứng minh bằng câu ca dao:

Anh đã có vợ hay chưa

Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào

Mẹ già anh ở nơi nào?

Để em tìm vào hầu hạ thay anh.[12, tr 224]

Cô gái đã bộc lộ tình yêu của mình một cách bộc trực, không chút quanh co, giấu diếm Cô ta muốn làm vợ anh, thay anh hầu hạ mẹ già Đây là cách nói chân tình, bộc trực mà chỉ khi yêu nhau, quá đỗi thân thiết người ta mới dám nói ra nỗi lòng của mình [12, tr.174] Bên cạnh nghĩa tự nhiên và hướng nghĩa hiển ngôn đó, ca dao cũng có nhiều câu đi theo hướng mỹ hóa ngôn từ, hướng tới sự bóng gió hàm ẩn Điều đó cũng hoàn toàn tự nhiên với những hoan cảnh giao tiếp cụ thể, ở đó cách nói trực tiếp sẽ không đáp ứng được yêu cầu của nhiều mặt “Đây là cách nói dùng hình ảnh so sánh ngầm giữa hai đối tượng Cách nói này tạo nên giai điệu tươi mát, nhẹ nhàng, uyển chuyển, tế nhị Đây là cách nói kín đáo đủ cho hai tâm hồn đồng điệu nhận ra tín hiệu của nhau”[12, tr.179] “Phương thức biểu hiện tuy xây dựng hình

Trang 31

tượng bằng nhiều cách Trên cơ sở tương đồng (trong trường hợp dùng ẩn dụ), liên tưởng logic (trong trường hợp dùng hoán dụ) mượn cái xảy ra trong quá khứ để diễn đạt cái xảy ra trong thực tại (trong trường hợp dùng điển tích) Nhưng chúng đều giao nhau ở một điểm: lấy cái nọ để nói cái kia, mượn cái cụ thể để biểu đạt cái khái quát làm cho một văn bản ca dao không chỉ giàu ý nghĩa mà còn khiến cho nội dung trữ tình ở đây mang tính cụ thể, hình ảnh (do nghĩa đen gợi ra) vùa mang tính trừu tượng khái quát (do nghĩa biểu hiện chứa đựng)” [15,tr.68] Không lạ gì khi giao lưu tình cảm trai gái, người

ta thường thích ẩn mình trong những biểu tượng để bày tỏ tâm tư tình cảm của mình Thành công của tác giả dân gian là ở chỗ dùng những sự vật đơn giản nhưng lại nói được những vấn đề lớn lao của con người Và nó cũng góp phần tạo nên sức mạnh hấp dẫn lôi cuốn trong ca dao Có nhiều biểu tượng, hình ảnh quen thuộc đi liền với nhau tạo như hoa – bướm, sương – núi:

Vì ai cho bướm lìa cành

Cho tằm nguôi kén, cho ta nguôi mình

Bên cạnh những lời tỏ tình trực tiếp còn có những lời tỏ tình gián tiếp thông qua hình ảnh, biểu tượng là các tín hiệu thẩm mĩ Nhân vật trữ tình đã

ẩn mình trong các hình ảnh để thể hiện tình yêu như:

Bây giờ mận mới hỏi đào

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa

Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Mận – đào là các tín hiệu thẩm mĩ thay thế cho cặp đại từ nhân xưng như: anh – em, chàng – nàng, thiếp – chàng trong ca dao tình yêu Qua đó tác giả dân gian đã từng bước diễn tả đầy đủ những cung bậc của tình yêu từ những lời tỏ tình cho đến những lời hẹn ước chung thủy, những nỗi nhớ, niềm thương, ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn, tiếng nói yêu thương cũng được

Trang 32

cất lên mãnh liệt và thể hiện khát khao hạnh phúc lứa đôi Và để thể hiện những cung bậc đó, tác giả dân gian đã sử dụng thành công ngôn ngữ hiển ngôn hướng nghĩa trực tiếp và ngôn ngữ hàm ngôn hướng nghĩa bóng gió, gián tiếp Không thể phủ nhận vai trò biểu đạt trực tiếp, cụ thể của ngôn ngữ hiển ngôn, và đặc biệt hiệu quả biểu đạt của ngôn ngữ hàm ẩn, gián tiếp đem lại

Tiểu kết:

Trong chương một, chúng tôi đã xác lập được toàn bộ những vấn đề lý thuyết mang tính chất cơ sở và khái quát nhất có liên quan trực tiếp tới đề tài, đặc biệt là cho sự triển khai vững chắc ở trong các chương sau (tiếp cận định lượng và tiếp cận văn hóa) Những vấn đề phức tạp và chưa thống nhất về từ

và ngữ trong giới nghiên cứu ngôn ngữ đã được trình bày và chúng tôi theo quan điểm từ và ngữ có những điểm khác nhau Nghiên cứu tác phẩm văn học đứng trên phương diện tín hiệu thẩm mĩ là một phương pháp ưu việt và khoa học nhất Khi đó, chúng ta sẽ bóc tách từng lớp ngôn ngữ của tác phẩm, có cái nhìn tổng quan về tác phẩm, và lí giải trên cơ sở khoa học từ hình thức đến nội dung.Từ những cơ sở lý thuyết ở chương này, chúng tôi áp dụng vào phân tích đặc điểm ngôn ngữ và giá trị biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao tình yêu lứa đôi của người Việt

Trang 33

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BIỂU ĐẠT TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO TÌNH YÊU LỨA ĐÔI CỦA NGƯỜI VIỆT

2.1 Tần số xuất hiện của tín hiệu thẩm mĩ có cấu tạo là từ

2.1.1 Các tín hiệu thẩm mĩ là từ đơn

Chúng tôi tiến hành khảo sát, các tín hiệu thẩm mĩ là từ đơn với 87 tín

hiệu xuất hiện 1672 lần trong cuốn Tổng tập văn học dân gian người Việt

(2002), Nxb Khoa học xã hội, Ca dao tình yêu lứa đôi - Tập 16, Quyển thượng

2.1.1.1 Tín hiệu thẩm mĩ là đối tượng và chủ thể trữ tình

a Tín hiệu thẩm mĩ là các hình ảnh, hiện tượng tự nhiên

STT Tín hiệu thẩm mĩ Số lần xuất hiện Tỷ lệ (%)

Trang 34

hiệu làm nên sự phong phú và đa dạng để thể hiện tình yêu lứa đôi trong ca

Ngó lên trăng chúc sao nghiêng

Vui chung với bạn buồn riêng với mình

Trang 35

b Tín hiệu thẩm mĩ thuộc nhóm thế giới thực vật

STT Tín hiệu thẩm mĩ Số lần xuất hiện Tỷ lệ(%)

Trang 36

Qua khảo sát, chúng tôi xác định được 24 tín hiệu được xây dựng từ thế giới thực vật, xuất hiện 404 lần chiếm 24,1% trong hệ thống từ đơn như:

“hoa”, “quả”, “lá”, “cây”, “trầu”, “cau”, “trúc”, “mai”…

- Trúc xa mai trúc chẳng đứng yên

Tiếc người bạn ngọc ở miền sơn lâm

- Cây đùng đình, lá cũng đùng đình

Gá duyên không được, một mình nằm khoeo

- Bây giờ trầu lại gặp cau

Cũng mong ta ở với nhau một nhà

Đây là các tín hiệu rất đỗi quen thuộc trong cuộc sống đời thường, các tín hiệu thuộc nhóm thế giới thực vật đã đem lại cho người tiếp nhận những ấn tượng sâu sắc, cảm nhận thú vị về bản chất thẩm mĩ được thể hiện trong ca dao tình yêu lứa đôi

c Tín hiệu thẩm mĩ thuộc nhóm thế giới động vật

Qua khảo sát, chúng tôi xác định được 11 tín hiệu được xây dựng từ thế

giới động vật, xuất hiện khoảng 218 lần chiếm 13% trong hệ thống từ đơn

Trang 37

Trong số các tín hiệu thuộc nhóm động vật xuất hiện trong ca dao thì loài chim được tác giả dân gian nhắc đến nhiều nhất, với số lần xuất hiện là

52 lần với nhiều loại chim khác nhau như “nhạn”, “quyên”, “điểu”…hay

“loan –phụng (phượng)” là 42 lần Còn nhiều loại động vật khác cũng xuất hiện như “cá”, “tằm”, “sáo”, “bướm”… Tín hiệu “cá” để chỉ loài vật sống dưới nước, lặn lội giữa dòng, không làm chủ cuộc đời mình Trong ca dao tình yêu lứa đôi tác giả dân gian mượn hình ảnh “cá” là tín hiệu thẩm mĩ để biểu trưng cho thân phận con người và cụ thể là người phụ nữ trong tình yêu

vì hoàn cảnh trói buộc mà phải chịu tiếng tăm:

Bây giờ sự đã nhạt nhùng

Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

Cá lên mặt nước cá khô

Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

Tín hiệu “loan - phượng” xuất hiện khá nhiều lần khi nói về tình yêu đôi lứa Loan là con chim phượng mái, thuộc âm nên chỉ chung cho con gái Phượng (phụng) là con chim phượng trống, thuộc dương nên đại diện cho con trai Cặp tín hiệu sóng đôi “loan – phượng” là biểu trưng cho sự hài hòa cân xứng đẹp đôi của trai và gái:

Đưa lên ta ví dăm ba

Cho loan biết phượng, cho ta biết mình

Có thể nói rằng, các tín hiệu thuộc nhóm động vật mang giá trị thẩm mĩ

rõ rệt

d Tín hiệu thẩm mĩ thuộc nhóm đồ dùng sinh hoạt

Trang 38

Qua khảo sát, chúng tôi xác định được 22 tín hiệu được xây dựng từ các

đồ dùng sinh hoạt, xuất hiện khoảng 326 lần chiếm 19,6% trong hệ thống từ đơn Đồ dùng sinh hoạt là những vật dụng gắn liền với con người, chính vì vậy nó thường mang theo những cái riêng của mỗi cá nhân Khi được sử dụng thành yếu tố nghệ thuật qua chất liệu ngôn ngữ thì những vật dụng đó trong ca dao trở nên có hồn, mang nhiều sắc thái ý nghĩa Tín hiệu chỉ đồ dùng cá nhân

Trang 39

như tín hiệu “áo” xuất hiện 43 lần (2,6%), tín hiệu “khăn” xuất hiện 36 lần (2,3%), “nón” xuất hiện 15 lần (0,9%),…rất nhiều trong ca dao:

- Kim găm vào áo tránh khuy

Giàu sang cũng đợi, đói khó lâm nguy cũng chờ

- Nhớ khi khăn mở trầu trao

Miệng thì cười nụ biết bao nhiêu tình - -

Nón này là nón u mê

Nón này là nón đi về che chung

e Tín hiệu thẩm mĩ thuộc nhóm công cụ sản xuất

Qua khảo sát, chúng tôi xác định được 5 tín hiệu được xây dựng từ các công cụ sản xuất, xuất hiện khoảng 99 lần chiếm 6,1% trong hệ thống từ đơn

Để có cái nhìn khái quát chúng tôi thống kê ở bảng sau:

STT Tín hiệu thẩm mĩ Số lần xuất hiện Tỷ lệ (%)

14 lần luôn đi đôi với các công cụ sản xuất để chỉ sự tồn tại một chỗ “Bến -

Trang 40

thuyền” gắn bó với nhau theo mối quan hệ cần thiết mà sự tồn tại của cái này

là lẽ tồn tại của cái kia: thuyền cần có bến, bến sinh ra để cho thuyền Nhưng

có lúc thuyền và bến phải xa nhau, thuyền chuyển dời còn bến tĩnh tại một chỗ Từ đó những tín hiệu “thuyền”, “bến” đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ để biểu thị tình yêu của đôi trai gái và bất cứ trong hoàn cảnh nào người con gái vẫn giữ tấm lòng thủy chung:

Thuyền ơi có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

g Tín hiệu thẩm mĩ thuộc các nhóm khác

Ngoài ra còn có các tín hiệu thẩm mĩ là từ đơn thuộc nhóm ăn uống như: vôi (7 lần), nem (8 lần), rượu (10 lần), hay muối (10 lần) và gừng (8 lần) thường được sánh với nhau để biểu thị tình cảm của con người, sự gần gũi gắn bó bên nhau của đôi lứa trong tình yêu:

- Hai ta như rượu với nem

Đang ngây ngất ai dèm chớ xa

- Muối để ba năm muối hãy còn mặn

Gừng ngâm chín tháng, gừng hãy còn cay

Các tín hiệu thẩm mĩ để chỉ công trình kiến thiết như: đình (12 lần),

mõ (8 lần), miếu (15 lần), chùa (9 lần) Căp đôi “miếu – đình” cũng thường xuất hiện trong ca dao “Miếu, đình” là di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian, bên cạnh đình bao giờ cũng có miếu, vì vậy khi xuất hiện trong ca dao tình yêu lứa đôi nó trở thành tín hiệu thẩm mĩ thể hiện sự gần gũi bên nhau của đôi trai gái không bao giờ cách xa:

Ai làm miếu nọ xa đình

Hạc xa hương án, đôi lứa mình đừng xa

Lìa cây, lìa cội, ai nỡ lìa hoa

Lìa người bội bạc, chớ đôi ta đừng lìa

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt (In lần thứ 3), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt" (In lần thứ 3)
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
7. Nguyễn Xuân Kính (chủ biên), (2002), Tổng tập văn học dân gian người Việt, Ca dao tình yêu lứa đôi - Tập 16, Quyển thượng, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian người Việt", Ca dao tình yêu lứa đôi - Tập 16, Quyển thượng
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
13. Trương Thị Nhàn, (1995), Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ của các tín hiệu thẩm mĩ không gian trong ca dao, Luận án phó tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ của các tín hiệu thẩm mĩ không gian trong ca dao
Tác giả: Trương Thị Nhàn
Năm: 1995
14. Trương Thị Nhàn, (2012), “Một số vấn đề về phân tích văn chương từ góc nhìn ngôn ngữ - tín hiệu thâm mĩ”, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 4/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề về phân tích văn chương từ góc nhìn ngôn ngữ - tín hiệu thâm mĩ”
Tác giả: Trương Thị Nhàn
Năm: 2012
16. Nguyễn Hằng Phương (2003), “Hai phương thức nghệ thuật trong ca dao cổ truyền người Việt”, Tạp chí văn học, số 6, tr.63- 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hai phương thức nghệ thuật trong ca dao cổ truyền người Việt”
Tác giả: Nguyễn Hằng Phương
Năm: 2003
22. Bùi Minh Toán với bài viết “ Từ tín hiệu ngôn ngữ đến tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương”. Tạp chí ngôn ngữ và đời sống, số 3 ( 209)-2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ tín hiệu ngôn ngữ đến tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương
2. Đỗ Hữu Châu, (2007), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
3. Đỗ Hữu Châu (2005), Tuyển tập, Nxb Giáo dục Hà Nội Khác
4. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
5. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, Nxb Giaó dục Hà Nội Khác
6. Nguyễn Thiện Giáp(2010), 777 Khái niệm ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
8. Nguyễn Xuân Kính, (2006), Thi pháp ca dao, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
9. Đặng Thị Lanh (2001), Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội Khác
10. Hồ Lê (1976), Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học và xã hộ Hà Nội Khác
11. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội… Khác
12. Lê Đức Luận ,(2009), Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt, Nxb Đại học Huế Khác
15. Hoàng Kim Ngọc – Hoàng Trọng Phiến (chủ biên), Ngôn ngữ văn chương, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
17. Bùi Mạnh Nhị, (2004), Văn học dân gian – Những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo dục Hà Nội Khác
18. Vũ Ngọc Phan, (2000), Tục ngữ ca dao dân ca, Nxb Hội nhà văn Khác
19. Nguyễn Hữu Quỳnh, 2001, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Từ điển bách khoa Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w