1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ca dao nghệ tĩnh qua khảo sát địa danh sản vật nghề nghiệp

79 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 797,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đi vào nghiên cứu đề tài “Đặc điểm ca dao Nghệ Tĩnh qua khảo sát địa danh, sản vật, nghề nghiệp” không chỉ giúp chúng ta thấy được những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của bộ phận

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN -

LÊ THỊ PHƯỢNG

ĐẶC ĐIỂM CA DAO NGHỆ TĨNH QUA KHẢO SÁT

ĐỊA DANH, SẢN VẬT, NGHỀ NGHIỆP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN -

ĐẶC ĐIỂM CA DAO NGHỆ TĨNH QUA KHẢO SÁT

ĐỊA DANH, SẢN VẬT, NGHỀ NGHIỆP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS Lê Đức Luận

Người thực hiện

LÊ THỊ PHƯỢNG

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực về nội dung khoa học trong khóa luận

này

Đà nẵng, ngày 15 tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Phượng

Trang 4

Để hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo hướng dẫn chỉ bảo tận tình của T.S Lê Đức Luận, sự động viên giúp đỡ của quý thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn và các bạn sinh viên cùng khóa

Nhân dịp hoàn thành luận văn tôi xin chân thành cảm ơn!

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế điều kiện, thời gian và trình độ của người nghiên cứu nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo và các bạn

để luận văn được hoàn thiện hơn

Đà Nẵng, ngày 15 tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Phượng

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Bố cục đề tài 6

NỘI DUNG 8

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG 8

1.1 Khái niệm ca dao và ca dao Nghệ Tĩnh 8

1.1.1 Khái niệm ca dao 8

1.1.2 Một vài nét về ca dao Nghệ Tĩnh 8

1.2 Khái quát chung về Nghệ Tĩnh 10

1.2.1 Vị trí địa lý, đặc điểm dân cư 10

1.2.1.1 Vị trí địa lý 10

1.2.1.2 Về dân cư 12

1.2.2 Lịch sử xã hội 13

1.2.3 Con người Nghệ Tĩnh 14

1.2.4 Văn học dân gian 17

1.3 Khái niệm về địa danh, sản vật, nghề nghệp 18

1.3.1 Khái niệm địa danh 18

1.3.2 Khái niệm sản vật 20

1.3.3 Khái niệm nghề nghiệp 21

Chương 2 KHẢO SÁT ĐỊA DANH, SẢN VẬT VÀ NGHỀ NGHIỆP TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH 24

2.1 Địa danh 24

Trang 6

2.1.1.1 Địa danh tự nhiên là tên núi đồi, rừng rú 26

2.1.1.2 Địa danh tự nhiên là tên sông suối, đồng bãi và một số địa danh khác 29

2.1.2 Địa danh kinh tế - xã hội 31

2.1.2.1 Địa danh gắn với đơn vị hành chính và truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm 31

2.1.2.3 Địa danh gắn với món ăn thức uống 34

2.2 Sản vật 35

2.2.1 Sản vật tự nhiên 35

2.2.2 Sản vật nhân tạo 37

2.2.2.1 Sản vật của trồng trọt, chăn nuôi 37

2.2.2.2 Sản vật của các làng nghề 39

2.3 Nghề nghiệp 40

2.3.1 Nghề nông, nghề đi biển 40

2.3.2 Nghề buôn bán 41

2.3.3 Nghề Thủ công nghiệp 42

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CA DAO NGHỆ TĨNH QUA BỘ PHẬN CA DAO NÓI VỀ ĐỊA DANH, SẢN VẬT, NGHỀ NGHIỆP 45

3.1 Nội dung thể hiện 45

3.1.1 Đặc điểm của vùng đất Nghệ Tĩnh 45

3.1.1 1 Vùng đất giàu có, trù phú 45

3.1.1.2 Vùng đất hùng vĩ, tươi đẹp 46

3.1.2 Đặc điểm về phẩm chất con người Nghệ Tĩnh 48

3.1.2.1 Cần cù, chịu khó 48

3.1.2.2 Thông minh, hiếu học 50

3.1.2.3 Yêu nước nồng nàn và thủy chung son sắc 52

3.2 Đặc điểm về hình thức biểu đạt 54

Trang 7

3.2.1.1 Thể lục bát 54

3.2.1.2 Thể hỗn hợp 58

3.2.1.3 Thể song thất lục bát 59

3.2.1.4 Thể vãn 61

3.2.2 Ngôn từ 62

3.2.3 Biểu tượng nghệ thuật 64

3.2.4 Góp phần khu biệt với ca dao vùng miền khác 65

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhà nghiên cứu Nguyễn Nhã Bản viết: “ Cảnh đất trời, non nước không dễ

gì có cho muôn nơi “Non xanh nước biếc như tranh họa đồ” là thế Có ngoa ngắt quá chăng: cứ phải tắm mình trên sông Lam, say sưa với núi Hồng và bao cảnh đẹp khác nơi đây thì mới hiểu hết, lý giải hết những điều quanh ta và nơi ta” Đây quá

là một sự cảm nhận tinh tế mà nhẹ nhàng, hít thở thật sâu và tận hưởng những mơn man khoan khoái trên da thịt mình, một cảm giác chân thực nhưng đầy ý nghĩa của một tâm hồn yêu và khao khát cái đẹp của cuộc sống chân thực

Sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây đã sinh ra những con người cần cù, chịu khó, tuy bộc trực nhưng thẫm đẫm nghĩa tình Đất nghèo nhưng lòng người luôn đong đầy cảm xúc, điều này được thể hiện qua vốn tri thức dân gian đa dạng, phong phú trong sự độc đáo riêng biệt của vùng Ở đó trong mỗi câu ca dao tục ngữ, mỗi câu hò điệu ví đều réo rắt những thanh âm trong trẻo lạ thường bên cạnh tiếng lòng nặng trĩu những ưu tư của con người trước cuộc sống Ca dao Nghệ Tĩnh giúp

ta hiểu hơn về cách cảm cách nghĩ của con người nơi đây

Ca dao được xem như cuốn “biên niên sử” ghi lại hết mỗi tên làng, tên đất

cũng như muôn mặt đời sống sinh hoạt của con người một cách trọn vẹn nhất Nếu địa danh là dấu ấn sâu đậm về quê hương, tâm tình con người vùng đất thì nghề nghiệp và sản vật chính là công sức được đền đáp xứng đáng Tất cả những điều đó được gửi gắm vào trong ca dao như lòng tự hào về quê hương bản xứ và cũng là để con cháu đời sau không khỏi lãng quên về cội nguồn của mình

Đi vào nghiên cứu đề tài “Đặc điểm ca dao Nghệ Tĩnh qua khảo sát địa

danh, sản vật, nghề nghiệp” không chỉ giúp chúng ta thấy được những đặc điểm về

nội dung và nghệ thuật của bộ phận ca dao này trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam nói chung và ca dao Nghệ Tĩnh nói riêng mà quan trọng hơn là những giá trị lịch sử và văn hóa chất chứa trong đó tạo nên bản sắc độc đáo riêng biệt của vùng này Đồng thời việc nghiên cứu cònlà sự ghi nhận những đóng góp to lớn, đầy sáng tạo của trí tuệ nhân dân trong vai trò của những người vun đắp cho vốn gia tài

Trang 9

văn học dân gian Nghệ Tĩnh càng đa dạng và đặc sắc hơn Đây cũng là lý do để

chúng tôi lựa chọn đề tài này

Với tâm thế của một người con được sinh ra trên mảnh đất Nghệ Tĩnh, tác

giả Nguyễn Nhã Bản trong cuốn “Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh”, đã có

những chia sẻ khá chân thành về vùng này Trong tác phẩm tác giả không chỉ đề cập đến lịch sử hình thành vùng đất mà còn dẫn dụ một cách độc đáo về địa thế của tỉnh

Nghệ An Tác giả khẳng định: “Nghệ Tĩnh là một vùng văn hóa và con người nơi

đây là một chứ không thể tách Nghệ An ra khỏi Hà Tĩnh và ngược lại Nghệ Tĩnh nằm trong “khúc ruột miền Trung” [3, tr 122] Trong cuốn sách này tác giả cũng

thể hiện sự tâm huyết của mình trong việc sưu tầm các bài ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh, tất cả chúng được tập hợp khá đầy đủ giúp người đọc thấy được diện mạo chung của một nền văn học dân gian trù phú

Sách “An Tĩnh cổ lục (Levieux An - Tinh)/ Hippolite le Breto” của nhóm dich

giả Nguyễn Anh Khoa, Nguyễn Văn Phú, H.Đ Chương Châu, Phan Trọng Báu đã

có những ghi chép xác đáng về vùng đất Nghệ An Đó là thời kỳ tiền sử của vùng đất An Tĩnh cũng như các vấn đề về địa chất, lịch sử, văn học dân gian, và những danh lam thắng cảnh có tính chất truyền kỳ cũng như lịch sử của xứ An Tĩnh xưa như: xứ Diễn Châu, xứ Vinh, xứ Hà Tĩnh, xứ Kì Anh, xứ Đức Thọ, lưu vực sông Ngàn Phố, Ngàn sâu

Trong cuốn: “Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 15, ca dao” của

Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2002) cũng đã dành nhiều trang

Trang 10

để nói về văn học dân gian Nghệ Tĩnh trong sự tương quan với nền văn học dân gian cả nước Những nhận xét, đánh giá cùng những tác phẩm đi kèm đã phần nào giúp người đọc hiểu rõ hơn về những nét độc đáo, đặc sắc của vùng so với các vùng khác trong cả nước

Nguyễn Văn Âu trong “Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam” đã khẳng

định địa danh là một yếu tố quan trọng gắn với cuộc sống sinh hoạt của con người, đây cũng là đối tượng nghiên cứu quan trọng của nhiều nghành khoa học Thông qua việc tìm hiểu về địa danh sẽ giúp chúng ta hiểu kỹ hơn về một địa phương nào

đó về tự nhiên cũng như lịch sử, kinh tế - xã hội Trong công trình này tác giả đã có những khái lược về các địa danh điển hình trong cả nước nhưng đã phần nào cho thấy được sự đa dạng, phức tạp của địa danh Việt Nam

“Âm vang địa danh Hà Nội trong ca dao” được xem là một công trình rất

mới nghiên cứu về địa danh trong thời gian gần đây Trong bài viết này của T.s Lê

Đức Luận có nói: “Nghiên cứu địa danh trong ca dao, tục ngữ Hà Tây – Hà Nội

chính là đi tìm những yếu tố ngôn ngữ cổ, ngôn ngữ thuần Việt được lưu giữ trong địa danh và từ đó thấy được đặc điểm địa hình tự nhiên, đặc điểm văn hóa xã hội của một vùng đất có truyền thống văn hóa” [25, tr1] Quả vậy địa danh không đơn

thuần chỉ là tên gọi mà đó còn là lịch sử, văn hóa của một vùng đất Bài viết này tuy chỉ nghiên cứu địa danh trong ca dao Hà Nội nhưng đây là một tài liệu quan trọng trong việc định hướng cách tiếp cận địa danh trong ca dao một cách đầy đủ và xác thực nhất

Tác giả Vũ Ngọc Phan với cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam”, đã đề

cập đến các vấn đề liên quan đến tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam Trong đó tác

giả tác giả đã đặt ra câu hỏi: “Ca dao lịch sử thực chất nó như thế nào?”[32,tr 12]

và đi tìm hiểu và làm rõ các vấn đề liên quan đến ca dao như: khái niệm, nội dung

và hình thức nghệ thuật của ca dao Ở đây ca dao được phân thành các chủ đề khác nhau để giúp người đọc thấy được toàn cảnh đất nước, con người, xã hội được phản ảnh trong đó cũng như sự ảnh hưởng qua lại giữa tục ngữ, ca dao với văn học thành văn, hay những hạn chế về mặt tưởng của người nông dân được biểu hiện trong đó

Trang 11

Nhóm tác giả Mã Giang Lân, Vũ Tú Nam, Vũ Ngọc Phan, Vũ Thị Thu Thủy

trong cuốn“Ca dao Việt Nam” đã có công sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn cuốn

các bài viết, nhận xét, đánh giá, phê bình về ca dao Việt Nam của các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ Để người đọc có cách tiếp cận đúng đắn về các tác phẩm này Ngoài ra thì còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khác nữa nghiên cứu về ca dao

người Việt và ca dao Nghệ Tĩnh nói riêng như: Tác phẩm “Bình giảng ca dao” của

tác giả Hoàng Tiến Tựu; Khóa luận tốt nghiệp nghành Sư phạm Ngữ văn của Trần

Thị Cẩm về đề tài “Địa danh, sản vật, nghề nghiệp trong ca dao Quảng Nam Đà

Nẵng” hay đề tài “Ẩm thực dân gian trong ca dao, dân ca Nghệ Tĩnh” của Võ Thị

Hoài, Nguyễn Minh Tâm,“Địa danh Việt Nam trong tục ngữ, ca dao, Khóa luận tốt

nghiệp”

Trên bình diện ngôn ngữ học, có thể nhắc đến “Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ

đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông” của Hoàng Thị Châu, “Địa danh Hương Sơn dưới góc độ ngôn ngữ” của Bùi Đức Nam hay luận văn của Nguyễn Hữu Duy:

“Bước đầu khảo sát đặc điểm địa danh huyện Yên Thành” Những công trình này

tuy chỉ đề cập đến địa danh của một khu vực, một vùng đất cụ thể nhưng đó là những tài liệu rất quan trọng phục vụ cho đề tài này

Trên bình diện văn học, GS.TS Nguyễn Xuân Kính với "Thi pháp ca dao",

đã đề cập đến vấn đề địa danh trong ca dao trên các phương diện: phân loại địa danh (theo chức năng định danh và theo nguồn gốc), các chủ đề phổ biến trong bộ phận

ca dao có dịa danh, xu hướng thuần Việt và xu hướng dân gian hoá địa danh, sự chuyển đổi địa danh Có thể nói, những vấn đề trọng yếu của việc nghiên cứu địa

danh trong văn học đã được tác giả Thi pháp ca dao đề cập tới

Đặc biệt là công trình đồ sộ Văn hóa dân gian xứ Nghệ của PGS Ninh Viết Giao (chủ biên) mà chú trọng hai tập: “Văn hóa ẩm thực (tập 5)”,“Nghề, làng nghề

thủ công truyền thống Nghệ An (tập 6)” và khóa luận tốt nghiệp “Địa danh trong

ca dao xứ Nghệ” của Trần Thị Phương, là những tài liệu rất quý giá định hướng cho

tôi thực hiện để tài này Trong cuốn “Văn hóa ẩm thực (tập 5)” PGS Ninh Viết Giao đã nói về vị trí và vai trò quan trong của ăn trong đời sống con người: “Về vấn

Trang 12

đề ẩm thực, cố nhân nói “Dân dĩ thực vi thiên” Dân ta có câu “Có ăn mới sống”,

“Có thực mới vực được đạo”; trong quân sự “Thục túc binh cường”; trong “tứ khoái” cái ăn đứng đầu …”Có ăn mới sống”, “Có ăn mới tồn tại”, “Cái ăn đứng đầu”…Phải ăn để sống là tất yếu, nhưng ăn cái gì, ăn như thế nào, khi nào thì ăn,

ăn với ai…lại là những điểm cơ bản để đánh giá nhân cách một con người, thậm chí là cả một làng, một vùng” [20, tr 12] để làm cơ sở cho việc “Kháo sát, nghiên cứu, biên soạn cuốn sách này” với mục đích “giới thiệu một số món ăn thức uống thường xuyên, phổ biến của nhân dân xứ Nghệ trước đây, qua đó tìm hiểu nội dung các bữa ăn của họ, sở thích của họ đối với các món ăn thức uống…để thấy rõ hơn đời sống của họ” [20, tr 13]

Khi viết về “Nghề, làng nghề thủ công truyền thống ở Nghệ An (tập 6)” tác

giả Ninh Viết Giao đã có những nhận định và tìm hiểu khá kĩ càng về các làng nghề

truyền thống ở Nghệ An, ông viết: “Nhìn những vùng miền xuôi tỉnh Nghệ An,

chúng ta thấy có hiện tượng như sau: Trên cơ sở nông nghiệp là chính, cứ một làng học lại có vài ba làng nghề, một làng buôn, một làng thích ca hát, một làng hay gấy

sự mà người Nghệ gọi là “ốc xạo” và một làng chuyên canh một cây gì đó Làng nghề nếu là nghề dệt thường đi đi đôi với làng học” [19, tr 19] Điều đặc biệt là sau

khi giới thiệu về làng nghề, nguyên liệu và cách chế biến, dụng cụ, sử dụng…tác giả còn đưa ra hiệu quả sử dụng của sản phẩm đó đồng thời có những kiến nghị nhắm duy trì, phát triển các làng nghề trong nền kinh tế thị trường hiện nay

Nhìn chung các công trình nghiên cứu này có đề cập đến ca dao như một loại

hình văn học dân gian độc đáo nhưng xét trên phương diện “địa danh, sản vật, nghề

nghiệp trong ca dao Nghệ Tĩnh” thì có thể nói rằng chưa có một tác phẩm nào

nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về vấn đề này Phần lớn các công trình nghiên cứu mới chỉ đi tìm hiểu trên bề nổi hay một khía cạnh của vấn đề Chúng tôi hoàn thành

đề tài này nhằm giúp người đọc có một cái nhìn đầy đủ hơn về các giá trị lịch sử và văn hóa của loại hình văn học dân gian này qua các phương diện: địa danh, sản vật, nghề nghiệp

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Địa danh, sản vật, nghề nghiệp

trong ca dao Nghệ Tĩnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là Ca dao Nghệ Tĩnh

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

4.3 Phương pháp khảo sát, phân loại

Tiến hành tìm kiếm, tập hợp các bài ca dao nói về địa danh, sản vật, nghề nghiệp và sắp xếp, phân loại chúng theo những tiêu chí nhất định

4.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Sau khi tập hợp các bài ca dao thì tiến hành so sánh, đối chiếu để biết được xuất xứ của bài ca dao cũng như so sánh với ca dao nói về địa danh, sản vật, nghề nghiệp trong cả nước để thấy được điểm chung và sự đặc sắc của mỗi vùng miền

Ngoài ra để phục vụ cho quá trình nghiên cứu thì chúng tôi còn sử dụng các phương pháp bổ trợ khác: Phương pháp nghiên cứu thi pháp học, phương pháp diễn dịch và quy nạp

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dụng luận văn gồm

ba chương:

Trang 14

Chương 1: Khái quát chung

Chương 2: Khảo sát địa danh, sản vật, nghề nghiệp trong ca dao Nghệ Tĩnh Chương 3: Đặc điểm ca dao Nghệ Tĩnh qua bộ phận ca dao nói về địa danh, sản vật, nghề nghiệp

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG

1.1 Khái niệm ca dao và ca dao Nghệ Tĩnh

1.1.1 Khái niệm ca dao

Hoàng Tiến Lựu định nghĩa: “Ca dao là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất

của thơ ca dân gian, là loại thơ dân gian truyền thống, có phong cách riêng được hình thành và phát triển trên cơ sở của thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân ca trữ tình ngắn và tương đối ngắn của Việt Nam.’’ (dẫn theo khóa luận tốt

nghiệp “Tình yêu đôi lứa trong ca dao – dân ca Nghệ Tĩnh”)

Theo Nguyễn Xuân Kính trong Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập

15, ca dao) thì: “Ca dao là thơ dân gian có nội dung trữ tình và trào phúng có hàng loạt lời xin lời Người ta có thể hát ngâm, đọc (và cả xem bằng mắt sau khi ca dao được ghi chép lại)” [40, tr 23]

Trong cuốn Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt, T.S Lê Đức Luận đã khẳng

định ca dao là một thuật ngữ Hán – Việt Thông qua sự tìm hiểu về khái niệm này qua các thời kì cùng sự phân biệt ca dao với các loại hình khác như: dân ca, tục ngữ,

thơ tác giả đưa ra khái niệm: “Ca dao là lời của các câu hát dân gian và những

sáng tác ngâm vịnh được lưu truyền trong dân gian và được gọi chung là lời ca dân gian” [26, tr 26]

Trang 16

đời sống lao động sản xuất, đời sống sinh hoạt, tâm tư tình cảm, cách làm, cách nghĩ của người Nghệ Tĩnh

Vậy ta có thể hiểu ca dao xứ Nghệ là những lời dân gian được nhân dân Nghệ Tĩnh sáng tạo hoặc tiếp thu từ các thể loại dân ca khác và sáng tạo lại theo hình thức, nội dung, đề tài và mục đích giao tiếp của nhân dân sau khi đã tách rời giai điệu âm nhạc và hoàn cảnh diễn xướng của các loại dân ca ban đầu Trong ý

nghĩa này, ca dao xứ Nghệ không bao hàm đồng dao, vè Ngoài những bài ca dao do nhân dân xứ Nghệ sáng tác, những lời ca dao hay dân ca sưu tầm ở xứ Nghệ, có nhiều bài, trong quá trình giao lưu giữa các miền, do người địa phương khác sáng tác ra Nhưng những bài ca dao này đều nằm trên đất Nghệ Tĩnh và được người dân

cái nếp nghĩ của người Nghệ Tĩnh, tiếp cho nó ít nhiều “chất” Nghệ thô mộc mà

thanh tao hiếm thấy

Mang hơi thở chung của ca dao, ca dao Nghệ Tĩnh không chỉ mang đầy đủ những đặc điểm chung của ca dao cả nước mà ở đây ta còn cảm nhận được vương vấn một hơi thở riêng, một phong cách rất riêng Ta bắt gặp trong ca dao vùng miền này sự đa dạng ở đề tài, nội dung phản ảnh, từ đề tài tình yêu nam nữ, đề tài tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi cảnh vật và truyền thống địa phương đến đề tài đấu tranh giai cấp, chống giặc ngoại xâm Ca dao Nghệ Tĩnh nói về cảnh trí, con người, cuộc sống nơi đây bằng một chất giọng Nghệ đằm nặng nhưng cũng thân thương, chân chất rất dễ nhận ra Nếu Tiếng Việt của chúng ta có sáu thanh điệu chính thì khu vực này chỉ có năm thanh điệu, bởi vì phương ngữ vùng này không phân biệt được thanh ngã và thanh nặng Chính điều này lại đem đến cho nơi đây một sự khu biệt thú vị Tiếng Nghệ cũng như tính cách người Nghệ có lúc thâm trầm, dè dăt, nhưng có khi cũng mãnh liệt dứt khoát, lúc thánh thót, trong sáng, lúc

Trang 17

trầm hùng, âm vang tạo nên một nét đẹp mang tên bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh

Len lỏi vào các ngóc ngách của tâm hồn, có tiếng cười xen lẫn cũng có tiếng khóc, có đau khổ, sướng vui, có chia li, gặp gỡ, có đắn đo suy nghĩ, có cá nhân, có gia đình, xã hội, lịch sử, có thiên nhiên cảnh vật, có vấn đề đặt ra trong khoảnh khắc

mà cũng có vấn đề đặt ra cho cả thời đại Ca dao của đất Hồng Lam chính là tấm lòng của con người nơi đây, đầy ưu ái đối với thời cuộc, đối với giang sơn mà gần gũi thân quen với cuộc sống cơ cực, lầm than của người bình dân

Trong ca dao xứ Nghệ, hình ảnh của địa danh, các sản vật, nghề nghiệp trên các vùng quê xuất hiện dày đặc Đây là một cách phô diễn lòng yêu quê hương, đất nước chân thực mà đầy sự kiêu hãnh Mỗi tên gọi, mỗi địa danh, mỗi đặc sản đều mang những nét đặc trưng riêng của từng miền quê cụ thể hợp với nhau tạo nên một

xứ Nghệ Tĩnh trù phú, giàu có bất chấp sự khắc nghiệt của thời tiết, đất dù cằn đá sỏi nhưng với sự cần cù, chịu khó của con người nơi đây thì rừng vàng, biển bạc và

đất vẫn phì nhiêu Theo thống kê của Trần Thị Phương khóa luận tốt nghiệp: “Địa

danh trong ca dao Nghệ Tĩnh”, tiến hành kháo sát trong 2 tập “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” (Ninh Viết Giao chủ biên, NXb Nghệ An ấn hành năm 1996 trong phần A,

Về ca dao người Việt ở xứ Nghệ ), trong tổng số 4157 lời ca dao, có 507 lời sử

dụng tên riêng chỉ địa điểm, chiếm 12,2% Trong số 507 lời, số lần địa danh xuất

hiện là 839 Còn theo thống kê của GS Nguyễn Xuân Kính trong Thi pháp ca dao,

trong tổng số 12487 lời ca dao người Việt, số lời sử dụng tên riêng chỉ địa điểm chỉ chiếm 8,4% Tỉ lệ này đã cho thấy, địa danh trong ca dao xứ Nghệ là một hiện tượng độc đáo, đáng để quan tâm

1.2 Khái quát chung về Nghệ Tĩnh

1.2.1 Vị trí địa lý, đặc điểm dân cư

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Khi chưa tách thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thì Nghệ Tĩnh có diện tích

là 22.149 km2 Phía đông giáp biển đông với đường bờ biển dài 229 km, phía tây là dãy Trường sơn đồ sộ, giáp nước bạn Lào với đường biên giới dài 250 km, phía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, còn phía tây giáp với tỉnh Quảng Bình Địa hình của vùng phát triển chiều dài nhưng hẹp bề ngang, có tới ¾ là đồi núi chạy theo hướng tây

Trang 18

bắc – đông nam, thấp dần về phía đông Núi trải dài và dày đặc ở phía Tây, bốn mùa mây phủ, được nhân dân quen gọi là dãy Trường Sơn, núi đâm thẳng ra biển gọi là Đèo Ngang (hay Hoành Sơn) Những tên núi, tên sông ở đây đều gắn liền với những truyền thuyết mang đậm dấu ấn tự hào dân tộc Dãy núi Hồng Lĩnh đứng sừng sững với 99 ngọn núi, gắn liền với truyền thuyết 100 con Phượng Hoàng hạ cánh nơi đây tạo cho xứ Nghệ mang vẻ đẹp linh thiêng, huyền thoại Dãy Đại Huệ, Thiên Nhẫn uốn mình như một con rồng trẫm mình giữa rừng núi hoang vu Giáp với Quảng Bình có Đèo Ngang là nơi ngăn cách giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình

Mặc dù phần lớn diện tích là đồi núi nhưng vùng cũng có những đồng bằng rộng lớn tạo điều kiện cho nhân dân canh tác, sản xuất như đồng bằng duyên hải Diễn Châu, đồng bằng châu thổ sông Lam, được bồi đắp bởi phù sa sông nên đất đai màu mỡ, thích hợp cho trồng trọt nên dân cư tập trung đông đúc Ngoài ra còn có đồng bằng Kỳ Anh và một số đồng bằng nhỏ hẹp khác

Đất Nghệ Tĩnh có rất nhiều con sông nhưng đẹp và lớn nhất vẫn là sông Lam Ngày xưa gọi là Thanh Long ( sông Cả, sông Rum) Sông Lam của vùng là một trong những con sông đẹp nhất nước ta, màu nước xanh ngọc lững lờ ở vùng

hạ nguồn nhưng ở thượng nguồn đây được coi là con sông hung dữ nhất vì nó thường xuyên thay đổi dòng chảy, luồn lách giữa lòng núi hiểm trở với 130 thác ghềnh lớn, nó tiếp nhận hầu hết nước của các dòng sông như: sông Hiếu, sông Con, sông Ngàn Sâu, sông Ngàn Phố Đây cũng là dòng sông, ngọn núi thi ca của con người Nghệ Tĩnh

Đây là một vùng khí hậu khá khắc nghiệt Đất đai cằn cỗi, gió Lào triền miên, mưa nắng thất thường Thời tiết khô nóng, đồng ruộng khô hạn, nứt nẻ, cây

cỏ khát khô Đặc biệt gió Lào được xem là một điểm nhấn trong thời tiết của vùng, gió mang theo cái hanh khô của vùng lục địa xa xôi trút về đây, làm cho nắng hè càng thêm oi ả nóng bức Ngoài ra vùng đất thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão nhiệt đới gây thiệt hại không ít của cải tài sản, đặc biệt là tổn thất về người

Chính sự khắc nghiệt của thiên nhiên đã hằn sâu hơn nét khắc khổ của con người vùng đất này, góp phần hình thành tính cách và bản sắc người Xứ Nghệ

Trang 19

1.2.1.2 Về dân cư

Xưa kia Nghệ Tĩnh thuộc đất Việt Thường Theo Giáo Sư Bùi Văn Nguyên, các thư tịch ghi lại họ Việt Thường (Việt Thường thị) có thế là một kiểu bộ tộc Việt Thường Đây là một bộ tộc người đã biết mặc một loại xiêm để chắn bùn lầy, phần lớn ở đồng bằng, qua các công việc như nghề cá và có khản năng làm ruộng lúa nước Hiện nay tên Việt Thường còn sót lại ở một số huyện của Nghệ Tĩnh như: Nghi Xuân, Can Lộc, và một phần Đức Thọ Nghệ Tĩnh như nhiều người đã xác định là vùng biên viễn, vùng đất hứa, nơi ẩn náu của loạn thần tặc tử hay bọn du thủ

du thực Theo Gs.Ts Phạm Đức Dương nhận xét “ Xứ Nghệ một vùng biên ải của

nhà nước Đại Việt xưa Những con người ở đây phải chăng cũng là hệ quả của sự dồn toa từ ngoài bắc vào càng ngày càng xa dần kinh đô, xa dần trung tâm văn hóa, tới vùng văn hóa kém phát triển, trình độ dân trí không cao Nhưng phải đảm nhiệm một trọng trách đối với đất nước: Bảo vệ biên cương, mở mang bờ cõi Người dân nhất là người lãnh đạo phải có một tinh thần trách nhiệm cao cả, phải vượt chính mình, phải học tập” (dẫn theo khóa luận “Tình yêu đối lứa trong ca dao – dân ca Nghệ Tĩnh”)

Theo GS.TS Nguyễn Nhã Bản đã từng viết: “Nghệ Tĩnh mảnh đất có từ ngày

nhà nước chúng ta mang tên Văn Lang Lịch sử Tổ Quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta có bao nhiêu thang trầm thì dường như mảnh đất Nghệ cũng xẩy ra bẩy nhiêu biến cố”[3] Vùng này được xem là một cái nôi của văn hóa người Việt nói

chung và người miền Trung nói riêng

Những dấu tích lịch sử còn hiện hữu trên khắp vùng đất này, đó là tòa thành

cổ trên núi Trúc Sơn trong dãy Hồng Lĩnh Dấu tích của ao trời, tháp cờ, đồi bắn cung của kinh đô Ngàn Hồng, nước Xích Qủy do Kinh Dương Vương trì vì (khoảng thế kỷ III TCN) Vùng Quỳnh Viên gắn liền với truyền thuyết Chử Đồng Tử và Tiên Dung… Tất cả đó đã chứng minh đây là một vùng đất có lịch sử lâu đời được hình thành từ xa xưa với bề dày lịch sử và văn hóa đáng quý

Hiện nay chiếm phần lớn dân cư Nghệ Tĩnh là dân tộc Kinh (Việt), người Thái là dân tộc chiếm đa số ở miền núi, ngoài ra có người H’Mông, Đan Lai, Ly

Trang 20

Hà, Cuối, Thổ, TàyPoong (Nghệ An), Mã Liềng, Cọi (Hà Tĩnh)… Người Kinh Nghệ Tĩnh ngày nay nói tiếng Việt - một nhánh của ngôn ngữ Việt Mường Trong ngôn ngữ họ còn bảo lưu được khá nhiều từ cổ, đặc biệt là thanh điệu (mà người các

nơi khác cho là “nặng”, là “trọ trẹ”) Trong văn hóa dân gian của họ không phải đã

mất hết vết cổ kính độc đáo, ví dụ điệu hát dặm chỉ lưu hành trong phạm vi Nghệ Tĩnh, có chứa chất một cái gì chất phác của con người thời cổ hay của con người ở chốn núi rừng mà cuộc sống còn giản đơn và cách biệt

1.2.2 Lịch sử xã hội

Theo tài liệu địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh do nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi chủ biên đã ghi chép: mảnh đất này vốn là bộ phận không tách rời của tổ quốc kể từ ngày Vua Hùng dựng nước Những tài liệu khai quật được ở lòng đất cùng với tài liệu truyền miệng dân gian đều nhất trí chứng minh Nghệ Tĩnh là vùng đất xa trung tâm nhưng vẫn mang đầy đủ những đặc trưng của nền văn minh sông Hồng, sông Mã, sông Lam

Đây là một vùng đất cổ, một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ thuộc khu vực phía Nam nhà nước Văn Lang và Âu Lạc xưa Và xa hơn, vùng Nghệ Tĩnh thuộc đất Việt Thường thời cổ Mười tám đời Vua Hùng dựng nước còn để lại

dấu tích trên mảnh đất này Theo Phan Huy Chủ khẳng định: “Nghệ An xưa thuộc

nước Việt Thường, thời Tần thuộc Tượng Quân, thời Hán gọi là quận Nhật Nam, Thời Ngô gọi là quận Cửu Đức, thời Lương đổi từ quận ra châu Ban đầu gọi là Hoan Châu, sau gọi là huyện Diễn Châu Qua đời nhà Đinh cũng giữ tên cũ là Diễn Châu Đến nhà Lý đổi lại thành trại Niên hiệu Thiên Thành thứ ba (1030) Tthời Lý Thái Tông đổi tên Hoan Châu thành Nghệ An và tách Diễn Châu ra thành một châu riêng Đời Trần vẫn giữ tên cũ là Nghệ An nhưng đặt là phủ Đời trần Duệ Tông đổi làm Lộ Chia Nghệ An thành bốn Lộ: Nhật Nam, Nam, Bắc, Trung Đến khi có Tây Đô ( đời Trần Thuận Tông) đổi Nghệ An làm trấn Lâm An, Diễn Châu thành trấn Vọng Giang Đến nhà Hồ đổi Diễn Châu ra phủ Linh Nguyên rồi cùng với Thanh Hóa, Cửu Chân, và Ái Châu làm kinh kỳ tứ phụ Thời Minh thuộc lại trở về tên cũ là phủ Diễn Châu và phủ Nghệ An Buổi đầu nhà Lê vẫn gọi như thế Đến

Trang 21

niên hiệu Quang Thuận (1460-1469) mới đặt làm Nghệ An thừa tuyên thuộc có 9 phủ, 25 huyện và 3 châu” [8]

Vào năm 1428 Lê Lợi chia nước ta thành 5 đạo thì Nghệ An và Viễn Châu thuộc đạo Hải Tây Đời Lê Thành Tông (1469) định lại bản đồ, xứ Nghệ được gọi là Nghệ An thừa tuyên Triều Nguyễn, Quang Trung đổi Nghệ An thành trấn Nghĩa

An Đầu Nguyễn các đơn vị hành chính trên đất Nghệ vẫn giữ nguyên như cũ Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) nhà Nguyễn cắt hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa của Nghệ

An thành lập tỉnh mới là Hà Tĩnh Năm Tự Đức thứ 6 (1852) nhà Nguyễn lại bỏ Hà Tĩnh cho Lộ vào Nghệ An

Đến năm 1875, lại đặt tỉnh Hà Tĩnh Ngày 27/12/1975, Quốc Hội nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa V kỳ họp 2 ban hành Nghị quyết hợp nhất tỉnh

Nghệ An và Hà Tĩnh thành một tỉnh gọi là Nghệ Tĩnh Đến ngày 12/8/1991, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII kỳ họp thứ 9 ra nghị quyết chia Nghệ Tĩnh thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

Việc tách tỉnh sẽ tạo điều kiện cho công việc quản lý hành chính được thuận lợi hơn Nhìn chung những đặc điểm về điều kiện địa lý tự nhiên, xã hội của cả hai tỉnh đều có những đặc điểm tương đồng thống nhất Như vậy, xét theo chiều dài lịch sử “Nghệ Tĩnh” trải qua nhiều biến cố, nhiều cách gọi, lúc phân lúc hợp nhưng vẫn gắn kết làm một: là Hoan Diễn (ngày xưa) và là xứ Nghệ (ngày nay) Các nhà nghiên cứu dùng từ “Nghệ Tĩnh” để chỉ chung 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh như một đơn vị truyền thống, thống nhất về mặt văn hoá dân gian

1.2.3 Con người Nghệ Tĩnh

Nghệ Tĩnh là một vùng đất có những đặc điểm riêng về thiên nhiên, lịch sử, tiếng nói, con người, về sinh hoạt văn hóa rất dễ dàng phân biệt với những vùng văn hóa khác trên đất nước Những điều kiện địa lí, lịch sử, những thăng trầm đau thương và anh dũng đã hun đúc cho người xứ Nghệ những tính cách riêng biệt Bùi

Dương Lịch trong sách Nghệ An kí đã viết: “Người Nghệ An khí chất chất phác đôn

hậu, tính tình số đông thường chậm chạp không sắc sảo cho nên làm việc gì cũng giữ gìn cẩn thận, bền vững, ít bị xao động bởi những lợi hại trước mắt” [29, tr 211]

Trang 22

Có thể nói thiên nhiên và xã hội đã phần nào qui định nếp sống cũng như

cảm nghĩ và cũng không phải ngẫu nhiên mà có ý kiến cho rằng: “Không có miền

nào lại có bản ngã rõ rệt bằng miền nào Có thể nói có một tinh thần Nghệ Tĩnh… Tinh thần đó làm lộ một cách rõ rệt lòng phụng thờ, sự cố gắng cùng những tính nhẫn nại, kiên quyết của một dân tộc nông nghiệp chật vật tranh giành lấy một chỗ sống dưới mặt trời ”(dẫn theo luận án “Đặc điểm ca dao Nghệ Tĩnh”)

Người Nghệ Tĩnh quen nhìn thẳng vào sự hiểm nghèo, quen sống trong sự hồi hợp lúc nào cũng cần tự vệ Trong sách Văn thơ Phan Bội Châu có nói rằng con người xứ Nghệ can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan

và tằn tiện đến “cá gỗ”

Nói đến tính cách con người Nghệ Tĩnh Nổi bật nhất đó là đức tính cần cù, chịu khó Con người Nghệ Tĩnh là vậy Họ chắt chiu, làm lùng để nuôi sống bản thân và tạo lập tương lai Những con người từ hai bàn tay trắng, bắt đất đai làm việc không ngừng nghỉ tạo ra hạt gạo, củ khoai Mồ hôi rơi xuống bao nhiêu ruộng đồng bội thu bấy nhiêu Chính đức tính cần cù đã khiến nhưng đồng ruộng khô cằn thành nhưng nương dâu, nương khoai xanh tốt, nhưng ngôi nhà ngói đỏ, những ống khói ngút trời

Sách đại nam nhất thống chí đã viết rằng: “Đất xấu, dân nghèo, tập tục cần

kiệm, nhà nông chăm chỉ ruộng nương” Gs.Ts Phạm Đức Dương đã nói rằng: “ Người ta bảo Xứ Nghệ nghèo vì đất cằn cỗi, thiên nhiên khắc nghiệt nên người Nghệ Tĩnh cũng khắc khổ đến cục cằn Ngươi ta còn bảo “ chưa đi chưa biết Nghệ An; Đi rồi mới biết nó gàn làm sao” (dẫn theo luận văn “Tình yêu lứa đôi trong ca dao – dân ca Nghệ Tĩnh”)

Đây còn là đất có nhiều người con nổi tiếng gan góc, mưu trí, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh thiên nhiên cũng như trong đấu tranh xã hội Nghệ Tĩnh đã từng sản sinh nhiều bậc anh hùng nghĩa sĩ có tên tuổi hay vô danh góp phần làm nên lịch sử của Tổ quốc, mở ra những trang sử vẻ vang của xứ Nghệ Là nơi đầu sóng

ngọn gió, Nghệ Tĩnh là “phên dậu của nước nhà”, đã nhiều phen là bức thành ngăn

Trang 23

chặn, hoặc là mũi tiên phong làm tan rã nhiều đội quân xâm lược của các quốc gia, các tộc người

Ngày nay vẫn được con cháu ngàn đời sau giữ gìn và phát huy ngày càng mạnh mẽ Truyền thống tốt đẹp đó gắn liền với các tên làng, tên đất, những mảnh đất lành đã sinh ra những con người kiệt xuất

Theo Bùi Dương Lịch trong Nghệ An Kí đã nhận xét như sau: “ Người dân

Xứ Nghệ tự chủ, vững chắc, phong tục trọng hậu, người thì thuận hòa chăm học”

[29, tr 211] Trong Đại Nam Nhất Thống Chí đã viết: “ Học trò Nghệ An chuộng

khí tiết, nhiều người hào mại dốc chí chăm học, văn chương dùng lý lẽ cứng cát, không cần lời đẹp” Phan Huy Chú nhận xét: “ Con người ở đây rất cần kiệm và hiếu học, sản vật thì quý báu và hiểm lạ Thần núi và thần biển đều linh dị, khí thiêng non sông đều kết thành nhiều bậc danh hiền” [9]

Người dân ở đây cổ gắng học hành để vượt qua cuộc sống nghèo khó và đỗ đạt phục vụ đất nước, phục vụ quê hương Khi nói về vẫn đề này cụ Nguyễn Khắc Viện đã nói hai phần ba trí thức cao cấp hiện hoạt động khoa học tại Hà Nội là người gốc Nghệ Tĩnh Điều đó có tác dụng tốt làm tăng chất tri thức cho thủ đô Hà

Nội.Không hổ danh là mảnh đất “địa linh nhân kiệt” chính tại mảnh đất này đã sản

sinh ra biết bao con người tài giỏi, có tấm lòng nhân nghĩa lấy sức mình phụng sự tổ quốc nhân dân Trước hết phải kể đến vị vua Mai Thúc Loan, dù tuổi thơ sống trong cảnh nghèo khó, túng quẫn, kham khổ cùng cực dưới ách đô hộ tàn bạo của bọn xâm lược nhà Đường Với tấm lòng son sắt như ngọc, ông đã viết lên những trang

sử thật vẻ vang cho dân tộc, là niềm tự hào khôn nguôi của con người xứ Nghệ Đất này không thiếu những con người ưu tú, những cái tên như cha con Đặng Dung, Đặng Tất (Can Lộc – Hà Tĩnh), Nguyễn Xí (Qùy Hợp), La Sơn Phụ Tử Nguyễn Thiếp… Lịch sử ghi danh họ như những mẫu mực của thời đai, người đời mãi kính trọng họ với những gì là tốt đẹp, cao quý nhất

Có thể vì nghèo như vậy mà con người nơi đây thấu hiểu hơn nỗi khổ của kiếp người để rồi cảm thông cho số phận hẩm hưu như thân phận nàng Kiều Nguyễn Du danh nhân văn hóa thế giới thế kỷ XVIII, luôn cố gắng học hỏi, phát

Trang 24

huy những nét văn hóa quê hương làm rạng danh cho dân tộc Trong hàng ngũ những anh tài đó ta cũng không quên nhắc tới những tên tuổi như: Nguyễn Xuân

Ôn, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Phạm Hồng Thái, Hồ Tùng Mậu, …Trong những ngôi sao sáng nhất nổi lên tên tuổi của vị lãnh tụ thiên tài Nguyễn Ái Quốc, vị cha già của cả dân tộc, người cộng sản kiệt xuất, danh nhân văn hóa thế giới Hồ Chí Minh là kết tinh, tinh hoa dân tộc, là con người mang đậm dấu ấn bản sắc của con người xứ Nghệ

Người Nghệ Tĩnh rất giàu lý tưởng, lý tưởng về cái đẹp của đạo đức, của lẽ nhân sinh Họ là những con người sống chân thành, bộc trực nhưng thẫm đẫm nghĩa tình

1.2.4 Văn học dân gian

Thơ ca dân gian là những lời hát có vần, có nhịp điệu được sáng tạo bởi quần chúng lao động gồm: hò, ví giặm, hát ru, hát sắc bùa, hát thờ cúng dân gian, chèo,

ca trù, xẩm, đồng dao và ca dao Đây là những thể loại có số lượng lời thơ rất lớn, vừa dùng để hát nhưng cũng có thể dùng để ngâm hoặc đọc

Hình thức hát dặm tương đối đơn giản, không phức tạp, không câu nệ vào luật lệ như các thể thơ Đường GS Nguyễn Đổng Chi đã nhận xét rất hay rằng

“trong một bài hát dặm trừ một số câu đầu và câu cuối ra thì chủ yếu gồm nhiều

đoạn giống nhau nối lại bằng vần, tựa hồ như những vòng khâu trong một sợi dây xích” [13, tr 23] Nội dung của hát dặm chủ yếu mang tính chất chống phong kiến,

dí dỏm, khôi hài có cả trữ tình, giao duyên

Hát ví Nghệ Tĩnh là thể loại xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công Trong hát ví có nhiều hình thức như: hát ví phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa Trong đó hát phường vải là đặc sắc hơn cả Hát phường vải đã đi vào lề lối một số

xã ở Thạch Hà, Kỳ Anh thuộc Hà Tĩnh và một số xã ở Thanh Chương, Anh Sơn ở Nghệ An cũng hay hát Nội dung của hát phường vải biểu lộ tình cảm của hai bên trai gái, đó là những ước mơ giận hờn hoặc đó là những lời oán trách, hận thù Ngoài các thể vừa nêu trên, dân ca Nghệ Tĩnh còn có các điệu hát khác như hát ru, hát xẩm, hát đồng giao, hát sắc bùa, lẩy kiều, hát ca trù, hát hò …

Trang 25

Tri thức dân gian Nghệ Tĩnh được thể hiện qua kho tàng tục ngữ phong phú, thể hiện tính cách, tâm lý, suy nghĩ, cách làm của con người xứ Nghệ

Về truyện kể dân gian Xứ Nghệ tồn tại một kho tàng truyện kể dân gian khá đặc sắc về thần thoại, truyện cổ tích, truyền thuyết, truyện tiếu lâm, các giai thoại

Qua truyện kể, dân gian thể hiện được nhân sinh quan và thế giới quan của

con người nơi đây Theo Nguyễn Đổng Chi trong tác phẩm địa chỉ văn hóa dân

gian Nghệ Tĩnh có trích như sau “Cái chất Nghệ Tĩnh này phân biệt ở chỗ ít xa rời thế giới khách quan và nhân sinh quan nhân dân, mặt khác nó có những nét phóng khoáng, trái lạc và nhiệt tình nhất định” [11, tr 251]

Cùng với một khối lượng khá đồ sộ của ngôn từ địa phương đã góp phần

hình thành chất“ giọng Nghệ ”khá đặc trưng “Giọng Nghệ Tĩnh đã cấp cho ngôn

ngữ toàn dân một bộ áo ngoài rất khu biệt và dễ nhận biết thổ âm của người Nghệ

An đục và nặng (trọc) nhưng đều bắt chước tiếng khác được” [3, tr 13] Chính bản

thân người Xứ Nghệ cũng đã từng thổ lộ “Gịong Nghệ bầy tui như một người gánh

nặng đi đường xa, trời nắng, nước ráo cổ đến chổ nghỉ người mệt cái chân không buồn bước nữa đặt xuống ịch một cái” Từ đó chúng ta hiểu rõ được một phần con

người Xứ Nghệ rõ ràng mạch lạc lưỡng phân đến cùng cực, có ý chí nghị lực phi

thường trong cuộc sống

1.3 Khái niệm về địa danh, sản vật, nghề nghệp

1.3.1 Khái niệm địa danh

Xung quanh khái niệm về địa danh cũng có nhiều ý kiến khác nhau:

Trong Từ điển tiếng Việt của của Tác giả Hoàng Phê: “Địa danh là tên đất, tên địa phương” [33, tr 304] Theo GS Đào Duy Anh: “Địa danh là tên gọi các miền

đất” [1, tr268] Tác giả Nguyễn Văn Âu: “Địa danh là tên đất gồm: sông, núi, làng mạc…hay tên các địa phương, các dân tộc” [2, tr 18].Theo Lê Trung Hoa: “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các công trình xấy dựng, các đơn vị hành chính và các vùng lãnh thổ” [21,tr

21] Theo Nguyễn Kiên Trường: “Địa danh là tên riêng chỉ các dối tượng địa lí tự

nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [43, tr 16]

Trang 26

Hầu hết những cách định nghĩa trên đều nêu được tính chất cơ bản của địa danh là tên đất, là tên riêng nhưng chưa bao quát hết được các khía cạnh của đối tượng Định nghĩa của Nguyễn Văn Âu còn chung chung, chưa đề cập tới những đối tượng do con người kiến tạo nên như: đền chùa, cầu cống Định nghĩa của Lê

Trung Hoa thì nhấn mạnh “địa danh là những từ ngữ cố định ” song có rất nhiều

địa danh bị biến đổi do nguyên nhân bên trong và bên ngoài ngôn ngữ Định nghĩa

của Nguyễn Kiên Trường đòi hỏi các đối tượng địa lí của địa danh phải "có vị trí

xác định trên bề mặt trái đất" Mà trong tương lai còn có thể được xác định trên cả

Mặt Trăng và Sao Hoả với đà phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật hiện nay Việc phân loại địa danh cũng là một vấn đề phức tạp, khó khăn Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau mà từ trước đến nay các nhà nghiên cứu đã đưa ra những

cách phân loại khác nhau Tác giả Trần Thanh Tâm trong "Thử bàn về địa danh Việt

Nam" đã chia địa danh thành 6 loại: Loại đặt theo địa hình và đặc điểm; Loại đặt

theo tên người, tôn giáo, lịch sử; Loại đặt theo không gian và thời gian; Loại đặt theo hình thái, chất đất, khí hậu; Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế; Loại đặt theo sinh hoạt xã hội [ 35, tr 66 -71]

Tác giả Nguyễn Kiên Trường trong“ Đặc điểm địa danh thành phố Hải

Phòng” lại đưa ra 3 tiêu chí để phân loại địa danh Dựa vào thuộc tính đối tượng,

ông chia ra: Địa danh chỉ đối tượng tự nhiên (gồm 2 nhóm): Nhóm đất liền và nhóm vùng biển giáp ranh

Địa danh chỉ đối tượng địa lí nhân văn (gồm 2 nhóm): Địa danh cư trú hành chính và các địa danh gắn với hoạt động của con người, do con người tạo nên: ấp,

bộ, châu, di chỉ, di tích, khu tập thể, trại, trang, trấn, xã, xóm, vạn, xứ đạo Địa danh đường phố và địa danh chỉ công trình xây dựng: Địa danh đường phố: đường, ngã, ngõ Địa danh chỉ công trình xây dựng: bể bơi, bến, cảng, chợ, chùa, nhà thờ [43, tr 15]

Theo nguồn gốc ngữ nguyên, tác giả chia địa danh Hải Phòng ra các loại: Địa danh có nguồn gốc Hán – Việt; Địa danh có nguồn gốc Thuần Việt; Địa danh có

Trang 27

nguồn gốc từ tiếng Pháp; Địa danh có nguồn gốc khác như: Tày-Thái, Việt-Mường, Chàm, Môn - Khơme, Mã lai;Địa danh chưa xác định nguồn gốc [43, tr 18-19] Dựa vào chức năng giao tiếp, ông chia ra: Tên gọi chính thức: do nhà nước đặt và có trong các văn bản hành chính; Tên gọi dân gian: tên quen thuộc trong dân gian; Tên cổ, tên cũ; Tên khác [43,tr 21]

Nhìn chung mỗi cách phân loại đều có tính ưu việt của nó Mỗi tác giả đưa ra cách phân chia tiểu loại khác nhau dựa trên kết quả thực tiễn và phạm vi đề tài nghiên cứu

1.3.2 Khái niệm sản vật

Sản phẩm luôn có những đặc tính, tính chất, đặc điểm đặc biệt, đặc trưng mà những sản phẩm khác cũng như những sản phẩm cùng loại khác không có được Những đặc điểm đó của các sản phẩm đặc sản bản địa được hình thành trong những điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, kinh tế, xã hội cũng như là từ những tập quán sản xuất, khai thác nhất định nào đó Vì vậy mà không phải ở bất cứ nơi nào cũng có được, thậm chí cùng một loại sản phẩm đặc sản nhưng ở những nơi khác nhau lại có những đặc tính ưu việt khác nhau

Đặc sản là tên gọi chỉ chung về những sản vật, sản phẩm, hàng hóa mang tính đặc đặc thù hoặc có nhiều điểm đặc biệt, riêng có mà xuất xứ từ những vùng, miền, địa phương và tạo nên những nét đặc trưng của một vùng, miền hay một địa phương nào đó Có rất nhiều loại sản phẩm khác nhau bao gồm sản phẩm trong Nông nghiệp: có sản phẩm của trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản; có sản phẩm của Lâm nghiệp; có sản phẩm của ngành tiểu thủ công nghiệp,

Theo Cục sử hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và công nghệ nước ta sản phẩm đặc sản bản địa được định nghĩa chung là sản phẩm đặc sản là sản phẩm có nguồn gốc

từ một khu vực, địa phương, vùng địa lý cụ thể, có những tính chất đặc thù về hình thái và chất lượng không giống các sản phẩm cùng loại khác và các đặc tính này chủ yếu có được do các điều kiện tự nhiên, con người vùng sản xuất, chế biến sản phẩm tạo ra Như vậy ta thấy: Sản phẩm đặc sản bản địa nói chung hay sản phẩm đặc sản bản địa ở nông thôn nói riêng là những sản của nông nghiệp, lâm nghiệp,

Trang 28

ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, được sản xuất hay khai thác ở một vùng nông thôn nào đó theo một quy trình, tập quán khai thác sản xuất nhất định, có những đặc tính, đặc điểm đặc trưng mà nơi khác không có được

Có nhiều cách phân loại sản phẩm đặc sản khác nhau nhưng có thể phân loại các sản phẩm đặc sản bản như sau:

Căn cứ theo nguồn gốc hình thành sản phẩm đặc sản bản địa sẽ có các sản phẩm đặc sản từ ngành nông nghiệp đây những sản phẩm đặc sản được sản xuất ra

từ Nông nghiệp có thể là sản phẩm từ trồng trọt hay từ chăn nuôi Các sản phẩm đặc sản từ ngành lâm nghiệp là những sản phẩm được khai thác từ rừng Các sản phẩm đặc sản từ ngành ngư nghiệp là những sản phẩm được nuôi trồng, khai thác từ ngành nuôi trồng khai thác thủy hải sản Các sản phẩm đặc sản từ ngành tiểu thủ công nghiệp là những sản phẩm đặc sản được sản xuất từ các ngành nghề thủ công nghiệp có liên quan đến sản xuất Nông – Lâm – Ngư nghiệp của địa phương

Căn cứ vào giá trị sử dụng của sản phẩm có gồm: Sản phẩm đặc sản phục

vụ cho cuộc sống sinh hoạt thường ngày Sản phẩm đặc sản làm dược liệu, sản phẩm đặc sản cung cấp các sản phẩm chiết xuất, các sản phẩm đặc sản phục vụ các nhu cầu khác Căn cứ vào phương thức hình thành sản phẩm có sản phẩm đặc sản khai thác từ tự nhiên Sản phẩm đặc sản do con người sản xuất

Căn cứ vào tính chất của sản phẩm có sản phẩm thô là sản phẩm đặc sản được sử dụng khi còn ở trạng thái sơ khai khi khai thác hay sau khi sản xuất Sản phẩm đặc sản đã qua chế biến là những sản phẩm đã được sơ chế, biến đổi trước khi

sử dụng

Các sản phẩm của quá trình sản xuất, của thiên nhiên ban tặng cũng được nhân dân ta đưa vào ca dao như muốn quảng bá về vùng đất mình, một sự tự hào không lớn lao về sự trù phú của quê Và trong ca dao đây là một đề tài phổ biên, trong du lich đây lại là điểm nhấn có sức thu hút lớn đối với du khách

1.3.3 Khái niệm nghề nghiệp

Nghề nghiệp là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đào tạo, con người có được tri thức những kĩ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất

Trang 29

hay tinh thần nào đó đáp ứng nhu cầu xã hội Nghề nghiệp trong xã hội không phải

là một cái gì cố định, cứng nhắc Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong

Theo tác giả Nguyễn Như Ý trong từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ

học định nghĩa từ nghề nghiệp là: "các từ, ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ của các

nhóm người thuộc cùng một nghề hoặc cùng một lĩnh vực hoạt động nào đó" (dẫn

theo luận văn “Giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh An Giang”)

Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”cho rằng:"Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng để phục

vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc ( nghề thuốc, ngành văn thư )”

[8]

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp viết: " Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị

những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội Những từ này thường được những người trong ngành nghề đó biết và

sử dụng Những người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể biết nhiều từ ngữ nghề nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng Do đó, từ ngữ nghề nghiệp cũng là một lớp từ vựng được dùng hạn chế về mặt xã hội" [17]

Ở nước ta có khá nhiều các làng nghề làm thủ công có truyền thống lâu năm thường là qua nhiều thế hệ, các làng nghề truyền thống chính là một đặc trưng phổ biến ở các vùng quê được ca dao ghi chép khá rõ ràng Về nghề và làng nghề thủ

công truyền thống ở Nghệ An được hình thành “trên cơ sở nông nghiệp là chính, cứ

một làng học lại có vài ba làng nghề, một làng buôn, một làn thích ca hát, một làng thích gây sự mà người Nghệ gọi là “ốc xạo” một làng chuyên canh một cây trồng gì

đó Làng nghề nếu là nghề dệt thường đi đôi với làng học”[9,tr 19]

Tiểu kết: Qua sự khái quát chung về vùng đất Nghệ Tĩnh cũng như nắm

được những khái niệm cơ bản về địa danh, sản vật, nghề nghiệp trong ca dao đã cho chúng ta thấy được một cái nhìn chung nhất về vùng văn hóa độc đáo này và có

Trang 30

những cơ sở lí luận cơ bản định hướng cho cả quá trình nghin cứu làm sáng rõ cho

đề tài Vùng đất Nghệ Tĩnh từ vị trí địa lý, lịch sử hình thành của nó đã có những tác động rất lớn đến đến tính cách con người nơi đây và những giá trị văn hóa quý báu mà vùng đất này mang lại Từ đó chúng ta có thể kiến giải được một số hiện tượng tâm lý, mức độ cảm nhận cảm thụ cuộc sống của con người Nghệ Tĩnh đối với cuộc sống được phản ánh rất rõ trong ca dao

Trang 31

Chương 2 KHẢO SÁT ĐỊA DANH, SẢN VẬT VÀ NGHỀ NGHIỆP TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH

2.1 Địa danh

Trong ca dao xứ Nghệ, chúng ta bắt gặp đầy đủ các loại địa danh khác nhau

Đó là những tên núi, tên sông, tên làng, tên xã… những địa danh ấy được đưa vào

ca dao làm cho ta thêm hiểu, thêm yêu, và gắn bó với quê hương đất nước Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động mà sự xuất hiện của các loại địa danh này không

đồng đều Điều này thể hiện rất rõ trong bảng thống kê trong Địa danh trong ca dao

Rú Đồng Hòn Động Cồn Khe Truông Cửa Rộc Bãi Đèo Hang

Rú Xước Đồng Nứa Hòn The Động Gám Cồn Chỉnh Khe Hương Truông Si Cửa Tiền Rộc Đình Bãi Sậy Đèo Mụ Giạ Hang Trả

Hồ Sen

Trang 32

Eo Hói Hốc Vũng Vực

Gò Bàu

Đồn Dương

Eo Lói Hói Công Hốc Động Chùa Vũng Xanh Vực Cung

Gò Ba Bàu Sim

Chùa Đền Đình

13

6

1

Chùa Cực Lạc Đền Thánh Cả Đình Thuỷ Kiều

Chợ Cầu

Đò Bến Giếng

Bể Cống

Đò Cái Bến Hạc Giếng Giang Đình

Bể Kỳ La Cống Say

Xã Làng Huyện

Kẻ Xóm Tỉnh

Kẻ Trằm Xóm Đình Nghệ An

Trang 33

Xứ Tổng Nậu Phố Phường Vạn

Xứ Đoài Tổng Thanh Nậu Mỹ Phố Vinh Phường Bến Thuỷ Vạn Đỗ Gia

2.1.1 Địa danh tự nhiên

2.1.1.1 Địa danh tự nhiên là tên núi đồi, rừng rú

Nhiều tên núi xuất hiện trong ca dao xứ Nghệ với mật độ dày đặc, thể hiện được đặc điểm tự nhiên của vùng:

- Mẹ ơi con muốn ăn sim,

Con lên Đại Huệ con tìm con ăn

- Chín mươi chín ngọn núi Hồng,

Chín mươi chín con chim đậu, còn một con vùng ra khơi

- Tháng năm cho nhẫn tháng mười,

Đại Can đội mũ thì trời động mưa

- Trèo lên hòn núi Ba Giang,

Nghe bao hồi trống trạm, thiếp thương chàng bấy nhiêu

Tên rú cũng được nói đến nhiều trong ca dao, như một địa danh gắn bó thân thiết với sinh hoạt của con người nơi đây:

- Bao giờ rú Bể mang tơi,

Rú Bờng đội mũ thì trời mới mưa

- Đời ông cho chí đời cha,

Mây kéo rú Xước mưa ba, bốn ngày

- Nghe tin rú Mọ lắm chè,

Sơn Lâm nhiều gỗ, ta kết bè buôn chung

Trang 34

- Rú Vạc ai đắp mà cao,

Bộng hang Nhà Mụ ai đào mà sâu

Cảnh vật rừng núi thường gắn với một vùng quê như một đặc điểm riêng gần gũi, thân yêu:

Kim Liên phong cảnh hữu đài Gió trong Tràng Cát, chớp ngoài Chung Sơn

Hay:

Lam Cầu có núi Thất Tinh, Một hàng bảy ngọn như hình ngôi sao

Núi sông hùng vĩ ở Nghệ Tĩnh chỗ nào cũng gắn bó Thắng cảnh lồng trong

kỳ tích, kỳ tích tô thêm ý nghĩa của thắng cảnh, làm cho thắng cảnh có sức sống, có linh hồn Cái đẹp của thiên nhiên hoà trong cái đẹp của những chiến công gợi niềm

tự hào, trân trọng đối với những địa danh có dấu ấn lịch sử:

Trèo lên trên đỉnh Kim Nhan, Quân reo Bờ ải, sóng tràn Khả Lưu

Cũng có khi, những tên làng, tên núi, những địa danh ấy đi vào ca dao trở thành hình tượng của sự nhớ nhung, mong chờ của những người yêu nhau:

Bao giờ Hồng Lĩnh đá mòn , Hoành Sơn mây phủ, dạ còn nhớ anh

Dãy núi Hồng chon von 99 ngọn, yêu lèn Hai Vai, dãy núi Thiên Nhẫn, núi Đại Huệ, núi Giăng Màn, núi Hồng Lĩnh, dãy Hoành Sơn, lèn Kim Nhan, núi Ba Giang, Bộng hang, Rú Vạc, rú Gám, núi Mục, động Mồng Gà, Tam Thai, rú Bạc, núi Thất Tinh, Rú Đọi…Có thể nói những địa danh ấy đã vẽ lên cho xứ Nghệ trong

ca dao một cảnh sắc sơn thủy hữu tình hơn

Trong ca dao Nghệ Tĩnh, sông Lam và núi Hồng là hai địa danh tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình:

Non Hồng ai đắp mà cao Sông Lam ai bới, ai đào mà sâu

Trang 35

Núi Hồng, Sông Lam còn biểu trưng cho lòng dũng cảm, khí phách con người Nghệ Tĩnh:

Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây Sông Lam hết nước, thù này mới nguôi

Cách sử dụng từ ngữ của dân vùng này cũng khác, khi họ dùng “lèn” là chỉ núi đá vôi như lèn Hai Vai ở Diễn Châu và dùng từ động, rú thay cho “núi”:

- Lèn Hai Vai cao mấy trượng

Rộc Vang Thượng rộng mấy tầng?

- Nhất cao là động mộng Gà

Thứ nhì rú Gám, thứ ba động Thờ Nước sông Bùng vừa trong vừa mát Các o thuyền chài tiếng hát đong đưa

Cũng như nhiều nơi khác, có những địa danh ở Nghệ Tỉnh tồn tại hai ba tên gọi khác nhau: Hồng Lĩnh, Ngàn Hống, Ngàn Hồng …

Bao giờ Ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước họ này hết quan

Trong ca dao Nghệ Tĩnh những tên núi được gọi tên bằng chính thứ tiếng

thân quen của người Việt như “ Đọi, Cơn Bạng, Chùa, Xước”:

- Rú Đọi ai đắp mà cao,

Cái sông Đò Đệm ai đào mà sâu

- Anh không nhớ khi lên dốc Cơn Bạng,

Anh không nhớ khi xuống hốc Động Chùa, Say vì duyên vì ngãi, chứ thuốc bùa không say

Trong khi đó, địa danh có nguồn gốc Hán Việt lại ít phổ biến hơn:

- Trước Lam Thuỷ, sau Hồng Sơn

Nhà nào đọc sách gảy đờn nhà anh

- Sông Bồ Đề nước đỏ như son

Em có chồng rồi dối bạn, tội bằng hòn Thái Sơn

- Hùng Sơn, Hồng Lĩnh tốt tươi

Trang 36

Thành Thiên vui vẻ sinh người tài hoa

Thay vì dùng “Hồng Lĩnh”, tác giả dân gian dùng “Ngàn Hống, núi “Mạo

Sơn” được tác giả dân gian gọi bằng“rú Mụa”gần gũi, thân thiết:

Cầu Mỏ ác lên gác mà ngồi Cầu bắc rú Mụa thì ngồi thong dong

Thay vì tên chữ “Di Lặc Sơn” hay “Di Lĩnh”, tác giả dân gian dùng “Hai

Vai”:

Bao giờ rặc nước sông Bùng Hai Vai trúc đá, bể Đông cát bồi Thì anh thưa mẹ xuống chơi Hai ta kết nghĩa làm đôi vợ chồng

“Rú Lần” là tên gọi dân gian của “Lận Sơn”, một ngọn núi của Hồng Lĩnh:

Mang tơi đội nón mà đi

Rú Lần đội mũ, trời thì sắp mưa

“Rú Bờng”, tức Bằng Sơn ở xã Thạch Bằng huyện Thạch Hà; “rú Bể”, tức

Nam Giới Sơn ở xã Thạch Đỉnh, Thạch Tượng, Thạch Hà; “rú Bin”, tức Đoạn Đầu

Sơn, một hòn núi bé ở xã Hồng Lộc, Can Lộc:

Rú Bờng, rú Bể, rú Bin

Ba rú hợp lại, rú mô ghin (gần) em về

Vậy có thể nói rừng núi đã đi vào đời sống văn hóa người Nghệ khá sâu sắc Những địa danh này không chỉ thể hiện được địa hình, địa thế của vùng đất này mà đây còn là chốn linh thiêng mà gần gũi đối với cuộc sống lao động của người dân Rừng cho con người các sản vật để cuộc sống con người no đủ hơn nên rừng núi đã

có điều kiện đi sâu vào tâm thức người Nghệ hơn

2.1.1.2 Địa danh tự nhiên là tên sông suối, đồng bãi và một số địa danh khác

Địa danh Nghệ Tĩnh là một khu vực văn hoá từ khe Nước Lạnh đến đèo

Ngang Nên sông nước cũng là một yếu tố quan trọng được con người nơi đây lưu

giữ Nhất là sông Lam, con sông gắn bó mật thiết với cuộc sống của con người nơi

Trang 37

đây Sông chảy dài từ vùng biên giới, xuyên suốt lãnh thổ, tuy nói phân chia nhưng lại là dòng sông nối liền hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nay:

- Chàng đừng có nhị tâm,

Đồi sơn còn vững, sông Lam còn dài

- Sông Lam thì nhớ Rú Đuồi

Đá Bia mây dựng nhớ đất bồi bờ sông

Sông Lam cũng đi vào ca dao như hình tượng của sự nhớ nhung, mong chờ :

Hồng sơn cao ngất mấy trùng, Lam Giang mấy trượng thì lòng mấy nhiêu

Dòng sông này cũng là một trong những địa danh chủ chốt tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình:

Non Hồng ai đắp mà cao Sông Lam ai bới ai đào mà sâu

Trong cách gọi tên thì thay vì dùng “Lam Giang”, tác giả dân gian dùng

“sông Rum”, như một tên gọi thân thuộc đề gọi con sông này:

Bao giờ Ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước em đây hết tình

Ngoài sông Lam là con sông lớn nhất thì trong vùng con có nhiều dòng sông

khác, nhìn chung các con sông này có lưu vực hẹp nhưng khá hung dữ:

Bước chân tới mạn sông Bùng, Muốn sang gặp bạn, hãi hùng sông sâu

Trong ca dao của vùng cũng có nhiều tên đồng được nhắc đến:

- Chừ về đồng Nứa, cồn Trăm,

Cả đời vất vả, quanh năm đói nghèo

- Nước thuỷ triều mau xuống mau lên,

Đất Đồng Lưu bạc địa, thiếp mau quên nghĩa chàng

- Đồng chùa lắm ốc lắm giam

Lắm cá mu mú ai ham thì về Đồng chùa lắm hẻn lắm trê,

Trang 38

Ai muốn ăn giấm thì về mà ăn

Như vậy ta thấy rằng về địa danh tự nhiên, thì vùng Nghệ Tĩnh khá đa dạng không chí có núi, có rừng mà ở đây còn có nhiều đồng bằng tươi tốt, những dòng sông đỏ nặng phù sa và một vùng biển rộng cung cấp cho con người nguồn hải sản

vô tận

2.1.2 Địa danh kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Địa danh gắn với đơn vị hành chính và truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm

Thông qua những bài ca dao nói về địa danh, diện mạo hành chính của xứ Nghệ hiện lên đầy đủ với những tên làng, tên xã, làng nghề…Đặc biệt tên các xã xuất hiện khá nhiều:

- Tôi người họ Hồ Quỳnh Đôi

Thuộc chi đệ nhất, con nòi nhà Nho

- Con trai Xuân Liệu, con gái Xuân Hồ

Khéo ăn bánh đúc khéo hồ vải thưa

- Nho Lâm than quánh nặng nề

Tiếng nói đi trước “mà lề” theo sau

Làng quê, nơi gắn bó mật thiết với người bình dân cũng thường xuyên được nhắc đến:

- Thú chi bằng bằng thú chiều chiều,

Ra đứng đầu ngõ, ngắm diều làng Nghi

- Làng Dù với lại làng Gành

Nhờ trò bắt vịt mà thành nhiều đôi

Khảo sát ở kho tàng ca dao xứ Nghệ, trong số 2770 lời ca được ghi lại trong

“Kho tàng ca dao xứ Nghệ” tập 1 và 1387 lời ca ở “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” tập

2, tên làng, xã, tỉnh xuất hiện khá phong phú, tên làng xuất hiện 436 lần, tỉnh 128 lần

Ca dao xứ Nghệ nói nhiều đến nơi chôn rau cắt rốn của chủ tịch Hồ Chí Minh:

Trang 39

Nhất vui là cảnh Kim Liên Vui chùa nhớ tượng, tốt sen nhớ chùa

Hay:

Chiều chiều ra đứng Cồn Tiên, Trông về cái cảnh Kim Liên vui vầy

Cái đẹp của thiên nhiên hoà trong cái đẹp của những chiến công trong lịch

sử, nên bên cạnh lòng phơi phới lâng lâng là niềm tự hào, trân trọng đối với những địa danh có dấu ấn lịch sử:

Trèo lên trên đỉnh Kim Nhan, Quân reo Bờ ải, sóng tràn Khả Lưu 2.1.2.2 Địa danh gắn với con người và truyền thống học hành

Nghệ Tĩnh từ lâu vốn nổi tiếng là đất của học hành, khoa bảng nên không lạ khi ca dao của vùng có nhiều địa danh nổi tiếng về học hành, đỗ đạt:

Kinh kỳ dệt gấm thêu hoa Quỳnh Đôi tơ lụa thủ khoa ba đời

Địa danh Trung Phường thuộc xã Diễn Minh (Diễn Châu) là nơi có nhiều

người học giỏi Hoặc như vùng đất Quỳnh Đôi “thủ khoa ba đời” cũng được nhắc đến.Theo "Quốc triều hương khoa lục" thì "thủ khoa ba đời" là: Dương Doãn Hài,

Dương Cát Phủ, Dương Quế Phổ cùng trong một họ thi đậu đầu bảng Và theo

"Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hướng biên" thì từ khi có làng Quỳnh Đôi (đời Trần) cho

đến năm 1918, nếu kể từ hiệu sinh, tú tài trở lên thì có hơn 700 người thi đỗ

Lòng tự hào của người Nghệ gắn với trí tuệ hơn người, chăm ngoan, khéo léo:

- Trung Phường là đất quan văn

Lấy chồng về đó cứ nằm mà ăn

- Đi ra thiên hạ mà coi

Không đâu bằng đất Quỳnh Đôi nữa mà Trai mệt mài bút nghiên thi cử Gái chăm nghề tơ lụa vá may

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:05

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w