1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thân phận con người trong ca dao nghệ tĩnh

85 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 864,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nơi đây đã sinh ra biết bao anh hùng dân tộc, những văn hào, thi hào tài giỏi, có tấm lòng nhân nghĩa lấy sức mình phụng sự cho Tổ quốc như: Nguyễn Du, Hồ Chí Minh… Không những vậy, Nghệ

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN -

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN -

THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS Lê Đức Luận

Người thực hiện

NGUYỄN THỊ HIỀN

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình do chính tôi nghiên cứu, không sao chép ở bất cứ một công trình nào Tôi xin chịu trách nhiệm về tính khoa học cũng như về nội dung trích dẫn và các tài liệu của khóa luận

Đà Nẵng, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Hiền

Trang 4

Trong thời gian vừa qua nhờ sự quan tâm, giúp

đỡ tận tình của quý thầy cô, gia đình và bạn bè mà tôi

đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Bằng tấm lòng tri ân của mình tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, đặc biệt là thầy giáo, Tiến sĩ Lê Đức Luận - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đã tận tình giúp đỡ, cung cấp những tư liệu quý báu để chúng tôi

có cơ sở nghiên cứu, hoàn thành đề tài

Đà Nẵng, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Hiền

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nghệ Tĩnh là mảnh đất địa linh nhân kiệt Nơi đây đã sinh ra biết bao anh hùng dân tộc, những văn hào, thi hào tài giỏi, có tấm lòng nhân nghĩa lấy sức mình phụng sự cho Tổ quốc như: Nguyễn Du, Hồ Chí Minh… Không những vậy, Nghệ Tĩnh còn có một nền văn hóa dân gian tương đối đầy đủ về thể loại và phong phú về hình thức biểu hiện, trong đó phải kể đến thể loại ca dao

Từ lâu, ca dao Nghệ Tĩnh đã trở thành một kho tàng văn hóa dân gian phong phú, đa dạng Nó phản ánh mọi mặt sinh hoạt và tính cách của con người Nghệ Tĩnh: Đó là tinh thần bền bỉ, cần cù lao động trên mảnh đất nghèo, khắc nghiệt; là ý chí quật cường, dũng cảm đấu tranh chống lại bọn tham ô quan lại, thực dân và đế quốc Người dân Nghệ Tĩnh bằng ý chí, nghị lực của mình, bằng ý thức và tinh thần yêu nước, đã làm tất cả để tồn tại và khẳng định được bản thân mình như ngày hôm nay

Là người con của quê hương Nghệ Tĩnh, tôi rất tự hào về mảnh đất anh

hùng và đầy truyền thống hiếu học này Tìm hiểu và nghiên cứu đề tài Thân

phận con người trong ca dao Nghệ Tĩnh nhằm mục đích trước hết là thấy

được đời sống sinh hoạt, con người Nghệ Tĩnh được thể hiện qua ca dao Mặt khác, đề tài cũng chỉ ra những sắc thái riêng của ca dao Nghệ Tĩnh so với các vùng khác, cái làm nên nét độc đáo của văn học dân gian xứ Nghệ Chính điều này, đã giúp cho người nghiên cứu tăng thêm lòng tự hào về nơi chốn rau cắt rốn của mình

Trang 6

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nghệ Tĩnh là vùng đất có lịch sử và văn hóa lâu đời, đặc biệt là có một kho tàng ca dao vô cùng phong phú Việc sưu tầm, nghiên cứu về Nghệ Tĩnh đặc biệt là ca dao Nghệ Tĩnh lâu nay đã được nhiều cá nhân, tổ chức, giới phê bình quan tâm và cũng thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận

Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan (2000), tác giả đã

trình bày rất nhiều vấn đề của tục ngữ ca dao, dân ca Việt Nam trong đó ông

có trình bày một vài khía cạnh liên quan đến ca dao Nghệ Tĩnh

Lê Đức Luận với Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt (2009), nghiên

cứu về cấu trúc ngôn ngữ trong ca dao, trong đó có một phần nói về ca dao Nghệ Tĩnh

Nguyễn Nhã Bản Cuộc sống của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao,

(2003), Nxb Vinh, Nghệ An

Nguyễn Nhã Bản Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục

ngữ trong ca dao, (2005), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội

Cuốn Thi pháp ca dao Việt Nam (2006) của tác giả Nguyễn Xuân Kính,

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở để chúng tôi tìm hiểu những hình thức nghệ thuật của ca dao Nghệ tĩnh

Trên đây là những công trình chủ yếu nghiên cứu về ca dao cả nước, trong đó có một phần nhỏ nói đến ca dao Nghệ Tĩnh

Nghiên cứu về Nghệ Tĩnh đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên

cứu GS Nguyễn Nhã Bản với nhiều tác phẩm viết về Nghệ Tĩnh như: Bản

sắc người Nghệ Tĩnh (2001), Nxb Nghệ An Trong tác phẩm này tác giả chủ

yếu trình bày tính cách, con người xứ Nghệ dưới góc nhìn ngôn ngữ Ngoài ra

còn có các công trình khác như: Địa danh trong thơ ca Nghệ Tĩnh, (2000); Ca

dao địa danh Nghệ Tĩnh, một bảo tàng văn hóa vùng được in trong hội quốc

tế lần thứ 5 về các ngôn ngữ liên Á, Vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh; nhát cắt

Trang 7

thời gian trong tâm thức người Nghệ Tĩnh, (1995)

Công trình nghiên cứu Vị trí và đặc điểm của vùng văn hóa danh nhân

Nghệ Tĩnh, (1983) của Hoàng Tiến Lựu

Ban nghiên cứu lịch sử Nghệ Tĩnh (1980), Danh nhân Nghệ - Tĩnh, tập

1, tập 2 Nxb Nghệ -Tĩnh, Vinh

Nguyễn Đổng Chi với tác phẩm Cuốn địa chí văn hóa dân gian Nghệ

Tĩnh, (2003) được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh Đây là một công trình

nghiên cứu khá đầy đủ về quá trình hình thành vùng đất xứ Nghệ, các loại

hình văn hóa dân gian Ngoài ra còn có công trình nghiên cứu về Vè Nghệ

Tĩnh (1964) của các tác giả Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Võ Văn Trực,

Nguyễn Tất Thứ

Nghiên cứu về văn hóa Nghệ Tĩnh còn có các tác giả khác như: Ninh

Viết Giao với Hát phường vải, Nghệ An; Văn học dân gian Nghệ Tĩnh (1982); Lê Hàm với Dân ca Nghệ Tĩnh (1970); Nguyễn Xuân Khoát với công trình nghiên cứu Hò (1956)

Nghiên cứu về ca dao Nghệ Tĩnh, xét về quy mô lớn nhất có thể kể đến Nguyễn Đổng Chi với nhiều tác phẩm biên soạn có giá trị, công phu

Ca dao Nghệ Tĩnh do Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giao biên soạn

(1984) là một công trình nghiên cứu công phu về kho tàng ca dao Nghệ Tĩnh Qua phần giới thiệu, tác giả đã chứng minh rằng Nghệ Tĩnh có một kho tàng văn hóa dân gian phong phú Nó phản ánh mọi mặt về đời sống sinh hoạt và tính cách của con người Nghệ Tĩnh

Đến năm 1996, Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao đã cộng tác với Võ Văn Trực, Sầm Nga Di, Lô Khánh Xuyền và một số tác giả khác nữa cho xuất

bản cuốn Kho tàng ca dao xứ Nghệ gồm có hai tập do nhà xuất bản Nghệ An

ấn hành Cuốn này chủ yếu dựa trên công trình Ca dao Nghệ Tĩnh được xuất

bản năm 1984 và bổ sung thêm phần ca dao của người Thái ở Nghệ An và

Trang 8

đồng dao

Trên đây là những bài viết, những công trình nghiên cứu về Nghệ Tĩnh, tuy nhiên nó chỉ dừng lại ở một số bài viết chung chung về ca dao Nghệ Tĩnh,

chứ chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể đề tài Thân phận con

người trong ca dao Nghệ Tĩnh Bằng hiểu biết của mình cùng với sự tiếp thu

tài liệu từ các nhà nghiên cứu, đây là những tư liệu quý giúp chúng tôi hoàn thành đề tài Hi vọng sẽ giúp bạn đọc có một cái nhìn khái quát và toàn diện hơn về vấn đề này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi tìm hiểu ở đây là Thân phận con

người trong ca dao Nghệ Tĩnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi tập trung vào khảo sát, nghiên cứu thân phận

con người bình dân trong cuốn Kho tàng ca dao xứ Nghệ của Nguyễn Đổng

Chi và Ninh Viết Giao (chủ biên), Nxb Nghệ An, 1996

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:

4.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Chúng tôi thống kê và phân loại các bài ca dao thể hiện nội dung mà đề tài chúng tôi cần nghiên cứu

4.2 Phương pháp phân tích

Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích các bài ca dao xứ Nghệ để làm nổi bật lên thân phận của những con người trong xã hội xưa Đồng thời, thấy được vẻ đẹp của vùng đất núi Hồng, sông Lam cũng như tình yêu quê hương, đất nước, ý chí kiên cường, bất khuất của người dân Nghệ Tĩnh

Trang 9

4.3 Phương pháp so sánh

Sử dụng phương pháp so sánh nhằm làm nổi bật được những phẩm chất tốt đẹp của con người xứ Nghệ so với các vùng khác

4.4 Phương pháp khái quát, tổng hợp

Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để khái quát và tổng hợp tất cả những nội dung mà chúng tôi đã trình bày

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận

gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung

Chương 2: Đặc điểm thân phận con người trong ca dao Nghệ Tĩnh Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện thân phận con người trong ca dao Nghệ Tĩnh

Trang 10

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG 1.1 Đặc điểm về vị trí địa lí, dân cư và lịch sử vùng đất

1.1.1 Đặc điểm vị trí địa lí

Nghệ Tĩnh là một phần máu thịt của Việt Nam Nơi đây, là một vùng đất do điều kiện hoàn cảnh đặc biệt mà có những sắc thái riêng, chính những sắc thái này đã tạo nên những nét đặc sắc, độc đáo cho xứ Nghệ Nghệ Tĩnh gồm 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Xứ Nghệ thuộc vùng Bắc Trung Bộ, trải dài

từ 17 độ 54’ đến 19 độ 3’ vĩ Bắc và từ 106 độ 2’ kinh Đông Ở đây, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và phía Đông giáp biển Đông Đây là vùng

có diện tích lớn nhất Việt Nam với tổng diện tích tự nhiên là 22.542 km2

Nghệ Tĩnh có núi rừng trùng điệp, chiếm hai phần ba diện tích Núi trải dài dày đặc ở phía tây, bốn mùa mây phủ từ xưa đã được nhân dân quen gọi là dãy Giăng Màn hay Trường Sơn Núi còn sừng sững đâm thẳng ra biển, được gọi là Đèo Ngang hay Hoành Sơn

Nghệ Tĩnh có khí hậu khá đặc biệt Hàng năm phải chịu đựng một thứ gió mà các nhà khí hậu học cho là có quan hệ với gió Lào Tây Nam Bănggan, tức gió Nam Lào Nó mang cái nóng ran của bụi khô thu góp từ lục địa xa xôi trút về đây, làm thêm phần kéo dài và tăng cao nhiệt độ những ngày hè Từng tấc đất ở đây đều thấm máu và mồ hôi của cha ông Cuộc chống chọi giữa con người với thiên nhiên diễn ra thường xuyên Điều này ảnh hưởng rất lớn đến

tính cách, lối sống của người dân xứ Nghệ

Xứ Nghệ là nơi có nhiều sông ngòi, với tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh là 10.228 km, mật độ trung bình là 0,7 km/km2 Sông lớn nhất là sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyện Mường Pẹc tỉnh Xiêng - Khoảng (Lào), có chiều dài là 532 km, diện tích lưu vực 27.200 km2 Tổng lượng

Trang 11

nước hàng năm khoảng 28.109 m3 trong đó 14,4.109 là nước mặt đủ để đáp ứng cho hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân nơi đây

Nghệ Tĩnh là vùng đất có bờ biển dài 219 km Bãi biển Cửa Lò là một trong những bãi tắm đẹp và hấp dẫn, đây là điều kiện thuận lợi phục vụ cho việc phát triển ngành du lịch và một số ngành nghề khác Núi Hồng, sông Lam là hai biểu tượng độc đáo thể hiện tâm hồn, lòng dũng cảm và tình yêu của con người xứ Nghệ Sông Lam là con sông đẹp nhất ở nước ta, màu nước xanh ngọc lững lờ, thường xuyên thay đổi dòng chảy, dù ai đi đâu cũng nhớ tới những câu ca dao:

Nước sông Lam dào dạt Đây cảnh đẹp quê mình

Ai đi ngược đó đây Vẫn nhớ về Nghệ Tĩnh

1.1.2 Đặc điểm dân cư

Nghệ Tĩnh với số dân là 4.342.000 người (2004) Hiện nay chiếm đại

đa số dân cư Nghệ Tĩnh là dân tộc Kinh, người Thái là dân tộc chiếm đa số

trên miền núi Trong Địa chí văn hóa dân gian Nguyễn Đổng Chi đã viết:

“Con người nơi đây chất chứa một cái gì chất phát của con người thời cổ hay con người ở chốn núi rừng mà cuộc sống còn giản đơn và cách biệt” [9, tr.22]

Cả một thời kì dằng dặc trong khi nhân loại chưa biết cách ngự tốt được thiên nhiên, trong khi khoa học kĩ thuật chưa phát triển mạnh… thì con người nơi đây đã gan góc, mưu trí, bền bỉ phấn đấu để thích nghi với thiên nhiên khắc nghiệt cũng như chắt chiu, cần kiệm quyết tâm bám đất để sinh tồn Đúng như Phan Huy Chú đã nhận xét: “Con người ở đây rất cần kiệm và hiếu học, sản vật thì quý báu và hiếm lạ, thần núi và thần biển đều linh dị, khí thiêng non sông kết thành những bậc danh hiền Đất này là vùng đất thông với xứ Nam Lào, lại là vùng giới hạn của Nam Bắc, do đó xứng đáng là một thành trì kiên

Trang 12

cố, là then chốt của nước nhà qua các triều đại” [5, tr.136]

Con người xứ Nghệ là một phần dòng dõi của của những người nổi dậy chống triều đình ở Đàng Ngoài, trong cái gan góc có bướng bỉnh, trong mưu trí có sự liều lĩnh Cũng như các địa phương khác, ý thức cộng đồng gia tộc, cộng đồng làng xã còn rõ đậm nhưng ý thức dân tộc từ lâu đã được bồi đắp và nâng cao Những con người nơi đây, sẵn sàng quên mình vì nghĩa, trung trực, thủy chung… có thể nói, thiên nhiên và xã hội đã phần nào quyết định nếp sống, nếp nghĩ thể hiện được cá tính và tính cách đặc biệt của con người Nghệ Tĩnh nổi bật đó là dũng cảm và nghị lực

Nghệ Tĩnh là mảnh đất phải chịu bao khó khăn với thiên nhiên khắc nghiệt, gắn bó với bao cuộc chiến công vang dội của dân tộc Nơi đây, đã sản sinh ra biết bao anh hùng, danh nhân văn hóa nổi tiếng như: Nguyễn Du, Hồ Chí Minh… Xứ Nghệ được sử sách ghi lại là vùng “địa linh nhân kiệt” “Sông Lam núi Hồng đã ăn sâu vào tâm thức của mọi người và trở thành biểu tượng rực rỡ về mảnh đất, con người xứ Nghệ Ngã ba Đồng Lộc như một chứng tích lịch sử gắn với tên tuổi của mười cô gái Bãi phôi phối ở xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, dãy núi Hồng Lĩnh là nơi mà các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những dụng cụ bằng đá được ghè đẽo với những nồi đất, với hoa văn hai mặt”…[5, tr.168]

1.1.3 Lịch sử vùng đất

Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ (bao gồm cả Nghệ An

và Hà Tĩnh) từ thời nhà Hậu Lê Theo Đại Việt sử kí toàn thư, Nghệ Tĩnh

thuộc bộ Cửu Đức, thời nhà Hán là huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân, thời nhà Ngô tách ra huyện Cửu Chân đặt tên là quận Cửu Đức, thời nhà Đinh nhà Tiền Lê gọi là Hoan Châu Đến thời nhà Lý năm 1030 bắt đầu gọi là châu Nghệ An, thời nhà hậu Lê từ 1490 gọi là xứ Nghệ An, thời Tây Sơn gọi là Nghĩa An trấn Đến thời nhà Nguyễn vua Gia Long đặt làm Nghệ An trấn

Trang 13

Năm 1831 vua Minh Mạng chia Nghệ An trấn thành 2 tỉnh là nghệ An (phía Bắc sông Lam) và Hà Tĩnh (phía Nam sông Lam) Từ năm 1976 đến 1991 sát nhập Nghệ An và Hà Tĩnh thành Nghệ Tĩnh Năm 1991 Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay Đơn vị hành chính gồm: Thành phố Vinh, thị xã Hà Tĩnh và 25 huyện Hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh cùng chung một vùng văn hóa gọi là văn hóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng

- sông Lam, có cùng phương ngữ tiếng Nghệ, cùng kho tàng văn hóa dân gian, cùng ca câu hò ví dặm, cùng uống chung dòng nước sông Lam

Theo lời GS Trần Quốc Vượng, một nhà nghiên cứu học nổi tiếng đã nói: “Nói thật cho đúng thì Nghệ Tĩnh mới tách ra về mặt hành chính quá gần đây thôi Chúng tôi đã làm chung và nhìn chung về khảo cổ học Nghệ Tĩnh Thời Đá cũ, sơ kì có Thẩm Òm ở Qùy Châu, hậu kì có đồi rừng, đồi Rạng ở Thanh Chương Thời Đá mới, sơ kì có nhiều hang động Hòa Bình – Bắc Sơn

ở các huyện Quế Phong, Con Cuông, Tương Dương, Tân kì, Qùy Châu, có nhiều cồn sò điệp ở ven biển Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu, hậu kì có nhiều di tích văn hóa cồn – bàu – dạng Bàu Tró - ở dọc ven biển Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Can Lộc, Nghi Xuân, Diễn Châu Rất đáng chú ý là xưởng chế tàu rìu đá ở Rú Dầu, xã Đức Đồng, Đức Lạc, huyện Đức Thọ đánh dấu sự phân công lao động và nhiều trao đổi sản phẩm từ đó tỏa đi nhiều nơi ngay từ thời nguyên thủy”… [5, tr.125]

Nghệ Tĩnh đã có rất nhiều lần thay đổi tên khác nhau, điều đó chứng tỏ vùng đất này đã trải qua rất nhiều thăng trầm của dân tộc Lịch sử đã đi qua thời kì đồ đá, đồ đồng và đồ sắt, và cũng tại vùng đất này trong trí nhớ của dân gian còn đậm nét những thần thoại, huyền thoại về ông Đùng, ông Khổng Lồ,… cùng nhiều truyền thuyết về thời đại Hùng Vương, đặc biệt là truyền thuyết Kinh Dương Vương lấy nàng Thần Long lập đô ở ấp Thúc Lĩnh (Ngàn Hống) và sinh con trưởng là Long Vương (Lạc Long Quân)

Trang 14

Nghệ Tĩnh là “phên dậu của nước nhà”, là đất “trọng trấn”, “nam trấn”,

“viễn trấn”, của nhiều đời Các anh hùng dân tộc, các lãnh tụ nghĩa quân mỗi khi vùng lên dấy nghĩa chống ngoại xâm, chống giai cấp bóc lột hay khi thất bại phải rút lui để chờ cơ hội phục hưng thường dùng Nghệ Tĩnh làm căn cứ địa Đây là nơi còn ghi bao chứng tích lịch sử, do địa thế núi sông có phần hiểm trở khi thắng có thể đánh ra, khi yếu có thể giữ vững Người Nghệ Tĩnh vốn có tính cách quật cường, dũng cảm bất khuất, khi chịu đựng gian khổ thì gan góc lầm lì, khi đi theo việc nghĩa thì thủy chung son sắt Tất cả đã làm nên những đặc trưng riêng biệt cho con người xứ Nghệ

Xứ Nghệ là vùng đất cuối cùng của lãnh thổ Đại Việt xưa Trải qua nhiều thời kì, vùng “viễn trấn” có một truyền thống chống lại giai cấp thống trị rất tích cực Hơn nữa, nó lại ở khá xa trung tâm phong kiến tập quyền nên bọn thống trị khó với tay tới bóp nghẹt cuộc sống của nhân dân Cắp giáo non sông, chọi mình với những kẻ thù cướp nước hung hãn, nhân dân Nghệ Tĩnh

rất mực can đảm hiên ngang

Theo GS TS Nguyễn Nhã Bản đã từng viết: “Nghệ Tĩnh là mảnh đất

có từ ngày nhà nước chúng ta mang tên Văn Lang Lịch sử tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta có bao nhiêu thăng trầm thì dường như đất Nghệ cũng xảy ra bấy nhiêu biến cố” [5, tr.115] Nghệ Tĩnh là một vùng đất có nền văn hoá lâu đời Nó gắn liền với cái nôi văn hoá của người Việt Nam nói chung

Xứ Nghệ cũng là cái nôi văn hoá của Miền Trung

1.2 Đặc điểm về con người Nghệ Tĩnh

Nếu như các bà mẹ dùng những lời ru ngọt ngào, sâu lắng để thổi vào tâm hồn những đứa con của mình Ca dao Nghệ Tĩnh lại dùng âm điệu ngọt ngào, thiết tha của câu lục bát quen thuộc để hát nuôi phần hồn cho những đứa con yêu Qua những âm điệu đó cha mẹ gửi gắm ước mơ trong những bài học đầu đời sâu sắc:

Trang 15

Ru con con ngủ à ơi Trông cho con lớn nên người khôn ngoan

Làm trai gánh vác giang san

Mẹ cha trông xuống, thế gian trông vào

Ru con con ngủ đi nào

Cù lao dưỡng dục biết bao cho cùng Làm trai quyết chí anh hùng

Ra tay đánh dẹp, vẫy vùng nước non

Qua những lời ru trên ta thấy được cái khí chất gân guốc, mạnh mẽ, hòa trong âm điệu tâm tình, thiết tha quen thuộc Người xứ Nghệ không chỉ truyền cho con trẻ lòng biết ơn công cha, nghĩa mẹ mà còn dưỡng dục con về chí khí làm người Người dân Lam Hồng cần cù lao động trên mảnh đất vô cùng khắc nghiệt, kiên cường, bất khuất khi đấu tranh với bọn quan lại, đế quốc Ở họ hội tụ rất nhiều đức tính quý báu: Chân thành, thẳng thắn, tình nghĩa; thông minh, sáng tạo, hiếu học; cần cù, chịu khó… Tất cả đã làm nên một xứ Nghệ rất riêng, rất đặc sắc

1.2.1 Chân thành, thẳng thắn, tình nghĩa

Nghệ Tĩnh là vùng đất sản sinh ra nhiều con người nổi tiếng gan góc, mưu trí, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh với thiên nhiên cũng như trong đấu tranh với giai cấp bóc lột Con người xứ Nghệ giàu lí tưởng về cuộc sống,

về cái đẹp, vươn lên thực tại Họ là những con người sống chân thành, thẳng thắn và tình nghĩa Người Nghệ Tĩnh nổi tiếng gân guốc, bộc trực nhưng cũng tinh tế không thua kém bất cứ vùng nào:

Trèo đèo hai mái chân vân Người về Hà Tĩnh, dạ ái ân Quảng Bình

Đứng trên đỉnh đèo, nhìn sang hai mái, bước một bước chân thôi là người đã về “Hà Tĩnh” thân thương Giữa không gian đặc biệt đó, nỗi lưu

Trang 16

luyến lên đến đỉnh điểm, đặt bước chân về “Hà Tĩnh” mà “dạ ái ân Quảng

Bình” Vẻ đẹp của bài ca dao trên như một lời giải thích vì sao mảnh đất này lại có thể sản sinh ra những trang “Kiều” thêu hoa dệt gấm như vậy

Con người Nghệ Tĩnh có tính chân thực, là khí tiết bền bỉ của những tâm hồn tha thiết với quê hương, với dòng họ, với nghề nghiệp GS Đặng Thai Mai đã từng nhận xét về con người Nghệ Tĩnh: “Con người ở đây đối với tự nhiên, đối với cái đẹp của lí tưởng, tuy không bộc lộ một cách ồn ào hời hợt, nhưng lại có phần suy nghĩ điềm tĩnh, sâu sắc và bền bỉ cảm động

thiết tha” [24] Con người Nghệ Tĩnh là vậy sống chân thành, cởi mở với mọi

người Họ sống hiền lành, chất phát nhưng không bao giờ chịu khuất phục hay im lặng trước cái ác, cái xấu Khảng khái, thủy chung, trung trực là những

nét dễ bắt gặp ở người dân xứ Nghệ

Sống trong môi trường với thiên nhiên thời tiết khắc nghiệt, con người nơi đây luôn phải đối mặt với bao khó khăn, thử thách, hoạn nạn nhưng họ không hề bi quan, mà luôn tỏ ra vui tươi, dí dỏm Một kí giả Cu Ba đã tỏ ra kinh ngạc trước vẻ đẹp kiên cường, dịu hiền và ngây thơ của những nữ pháo

thủ, ông viết: “Chẳng hề sợ khi chiếc máy bay phản lực Mĩ nhào xuống bắn

vào tổ chức của cô Thế mà cô cảm thấy “sợ” khi chúng tôi đề nghị cô kể lại

chuyện chiến đấu ấy” [9, tr.31] Phần đông con người nơi đây ăn nói hơi vụng

về nhưng cũng không kém bạo dạn Họ múa hơi ít nhưng ca hát thì phong phú, trào phúng ý nhị thâm trầm, cùng nhau đoàn kết, sống ân cần, tình nghĩa, thủy chung sắt son:

Xung quanh những họ cùng hàng Coi nhau như ngọc như vàng mới nên Phòng khi vận túng hồi đen

Kẻ giàu giúp của kẻ nghèo giúp công

Trang 17

Người Nghệ Tĩnh coi trọng tình nghĩa, trước hết là tình nghĩa đối với

bà con nội ngoại Họ thường nhắc nhở nhau: “Giàu mà ngốc nghếch ngu si,

đói mà biết cậu biết dì là hơn” Đối với bạn bè quen biết, dù anh có làm nên

quan sang chức cả cũng không được quên và không được trịch thượng: “Dù

làm chức trọng, quyền cao, cũng phải hạ võng mà chào bạn quen” Tình nghĩa

không chỉ đối xử tốt với bà con, bạn bè mà còn phải ăn ở tốt với người ngoài, đây là quan hệ tốt giữa con người với con người:

Nhịn miệng đãi khách đường xa

Ấy là của gởi chồng ta đi đường

1.2.2 Thông minh, sáng tạo, hiếu học

Nghệ Tĩnh là mảnh đất đã gắn bó với bao thăng trầm và chiến công vang dội của lịch sử dân tộc Con người nơi đây đã dũng cảm, kiên cường, đầy bản lĩnh để chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, với những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ quê hương, đất nước Góp phần quan trọng làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc là các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa tài năng, giàu lòng yêu nước Điều vô cùng vinh dự của Nghệ Tĩnh đó là nơi sinh ra vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh Người đã đem lại cuộc sống độc lập, tự do cho Tổ quốc Trong mọi hoàn cảnh con người Nghệ Tĩnh vẫn luôn tỏ ra lạc quan, đứng ở hàng ngũ tiên phong của thời đại

Truyền thống thông minh, sáng tạo, hiếu học đã trở thành một truyền thống đáng quý, được duy trì, nuôi dưỡng và phát triển qua nhiều thế hệ khác nhau Con người xứ Nghệ với ý chí, nghị lực phi thường đã vượt lên trên mọi hoàn cảnh khắc nghiệt, khó khăn:

Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa

Ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, cả nhà đỗ

Trang 18

Ngày nay, truyền thống hiếu học vẫn được con người nơi đây gìn giữ

và phát huy mạnh mẽ:

Anh về chăm chỉ học hành Bảng treo trường Nghệ để danh cho mình Khi nào treo bảng xứng danh

Rồi em ra đáy cổng thành nghe tên

Mảnh đất xứ Nghệ đã sản sinh và đóng góp cho đất nước nhiều anh hùng hào kiệt, kích thích tinh thần hiếu học cho mọi người Chính nhờ sự học hành siêng năng, chăm chỉ, có nghị lực phấn đấu trong học tập nên thành tích đạt được rất đáng tự hào Nếu từ thời Lí cho đến cuối Lê học trò đất Hồng Lam chỉ chiếm 1/6 trong tổng số các ông Nghè toàn quốc, thì trong suốt 39 khoa khoa thi Hội, thi Đình thời Nguyễn học trò đất Hồng Lam lại chiếm 1/5

tổng số Đại Nam nhất thống đã nhận định: “Học trò Nghệ An chuộng khí

tiết, nhiều người hào phóng không trói buộc, dốc chí chăm học, văn chương thì dùng lời lẽ cứng cáp không cần đẹp lời” [9, tr.31]

Truyền thống quê hương được xây dựng và bồi đắp qua hàng ngàn năm lịch sử, đó là kết tinh của hàng nghìn, hàng vạn con người trong quần chúng bình dân Biết bao thế hệ người con Nghệ Tĩnh đã noi gương những cha anh

đi trước phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương Xứ Nghệ bao đời nay nổi tiếng với tinh thần hiếu học, được vinh danh vào sử sách:

Khi nào Rú Gám hết cây

Hồ Sen hết nước, họ này hết quan

Con người Nghệ Tĩnh đã luôn cố gắng chịu khó học hành để vượt lên cuộc sống nghèo khó, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Họ luôn ý thức được vai trò của mình trong cuộc đời này Cho nên, những người con đất Hồng Lam đã miệt mài với đèn sách, phấn đấu hết mình cho sự phát triển của nước nhà, xem đó như là một bổn phận:

Trang 19

Con ơi mẹ dạy câu này Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm Làm người đói sạch rách thơm Công danh là nợ nước non phải đền

Câu chuyện về Cá gỗ đó là một trong những nét sáng tạo độc đáo của

người dân xứ Nghệ, thể hiện sự thông minh, khéo léo nhưng không kém phần hài hước, dí dỏm của con người nơi đây Mảnh đất cằn cỗi, khắc nghiệt này

đã sinh ra biết bao người con ưu tú cho quê hương, đất nước Hồ Chí Minh - Người cha già của dân tộc mang trong mình những dấu ấn bản sắc của con người xứ Nghệ thể hiện những truyền thống tốt đẹp của con người nơi đây đó

là thông minh, sáng tạo, ham học hỏi…

1.2.3 Cần cù, chịu khó

Điều kiện thiên nhiên không mấy ưu đãi, điều này ảnh hưởng rất lớn đến tính cách con người xứ Nghệ, nổi bật đó là đức tính cần cù, chịu khó Một biểu hiện độc đáo của ý chí trong con người xứ Nghệ là sự căm ghét, là tư tưởng vượt thoát cái nghèo, cái khổ Đây là một bài ca dao diễn tả thái độ ấy của người dân trong xã hội cũ:

Gánh cực mà đổ lên non Còng lưng mà chạy, cực còn chạy theo

Người Nghệ Tĩnh coi sự gian khó, đắng cay, tủi nhục như một loại vật thể trước mắt Căm ghét vì nó cứ bám riết, đeo đẳng Vì thế nên họ “gánh cực

mà đổ lên non” thế nhưng “còng lưng mà chạy, cực còn chạy theo” Sự căm tức của nhân dân với cái nghèo, cái đói, cái bất công đã đến tột cùng Nghị lực, chí hướng, khát vọng đấu tranh thoát nghèo của người dân vì thế càng trở nên quyết liệt Người xứ Nghệ bao đời nay liên tục kế thừa theo tinh thần thời đại Ngày nay, cuộc sống vẫn còn nhiều gian khó nhưng ngày càng xuất hiện

Trang 20

nhiều điển hình phát huy hiệu quả ý chí vượt thoát cái nghèo, “có gan làm giàu” và làm giàu chính đáng của người dân mảnh đất địa linh nhân kiệt này

Sách Đại nam nhất thống chí đã viết rằng: “Đất xấu, dân nghèo, tập tục

cần kiệm, nhà nông chăm chỉ ruộng nương” Người dân Nghệ Tĩnh không ngừng cải tạo đất đai để làm ra hạt gạo, củ khoai Chính đức tính cần cù ấy, đã khiến cho những đồng ruộng khô cằn thành những nương khoai xanh tốt, màu

mỡ

Chắc hẳn trong mỗi chúng ta ai là người con xứ Nghệ đều không thể

không biết câu chuyện “cá gỗ” nhấn mạnh sự chịu khó của con người nơi đây

Đồng thời, câu chuyện như một lời trách khéo nhẹ nhàng, nói nhỏ về sự tính toán, keo kiệt của người dân Nghệ Tĩnh Nhân dân trong nước thường nhắc đến câu chuyện dân gian “con cá gỗ”, đó không phải là một sự mỉa mai mà là một sự kính trọng, một sự ca ngợi và ngưỡng mộ Họ thán phục sự chịu khó học tập của nhân dân xứ Nghệ Có người cho rằng “con cá gỗ” còn nói đến sự tính toán keo kiệt của “ông đồ xứ Nghệ” Song nói như vậy là không thoả đáng, ông đồ Nghệ nghèo, nghèo quá mức nhưng không thể vì cái nghèo mà mất đi sĩ diện của mình Đó chính là cái ngông, cái ngạo nghễ mà chỉ “ông đồ

xứ Nghệ” mới có được

Núi Hồng, sông Lam là hai hình ảnh gần gũi và thân thuộc nhất khi nói

về xứ Nghệ Con người nơi đây rất yêu quý và tự hào về quê hương sông núi:

Núi Hồng ai đắp mà cao Sông Lam ai bới ai đào mà sâu?

Chỉ trong hai dòng thơ mà xuất hiện ba động từ mạnh liên tiếp “đắp bới - đào” Những chữ ấy, phản ánh hoạt động lao động sản xuất vất vả khó khăn, thể hiện tinh thần quả cảm đấu tranh với thiên nhiên của con người xứ Nghệ Ngợi ca và tự hào về sông núi cũng có nghĩa là người Nghệ Tĩnh đang

-tự hào về những phẩm chất mà linh khí đất này đã hun đúc nên cho mình

Trang 21

Tầm vóc, sự sâu sắc của ý chí và tâm hồn người xứ Nghệ có lẽ phải dùng chiều kích của núi sông đất này mới sánh được:

Hồng Sơn cao ngất mấy trùng Lam Giang mấy trượng thì lòng bấy nhiêu

Chân dung tinh thần của con người vùng văn hóa Hồng Lam đã thể hiện những nét đẹp đậm đà trong bản sắc văn hóa dân tộc: Đó là bản lĩnh cứng cỏi, bền bỉ gân guốc, điềm tĩnh sâu sắc, giàu khát vọng và nhiều lúc thiết tha tinh tế… Tất cả những đặc điểm trên đã làm nên những dấu ấn riêng, đặc trưng cho con người vùng núi Hồng sông Lam

1.3 Vài nét về ca dao Nghệ Tĩnh

1.3.1 Khái niệm ca dao

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, các thế hệ cha ông để lại cho chúng ta những di sản tinh thần vô cùng quý giá, trong đó có ca dao xứ Nghệ

Nó đã phản ánh đời sống tâm hồn phong phú của con người nơi đây, vừa mang những nét chung của văn hóa Việt Nam, vừa thể hiện những bản sắc của vùng văn hóa Nghệ Tĩnh Bàn về khái niệm ca dao các nhà nghiên cứu có rất nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau

Trong cuốn Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt TS Lê Đức Luận đưa

ra khái niệm: “Ca dao là lời của các câu hát dân gian và những sáng tác ngâm

vịnh được lưu truyền trong dân gian và được gọi chung là lời ca dân gian”

[23, tr.26]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Ca dao còn gọi là phong dao, được

dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì “ca” là bài hát

có khúc điệu, “dao” là bài hát không có khúc điệu Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian, có hoặc không có

khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca” [16,

tr.31-32]

Trang 22

Nhà nghiên cứu văn học dân gian Nguyễn Xuân Kính thì phát biểu ngắn gọn “Ca dao là thơ dân gian, có nội dung trữ tình và trào phúng bao gồm lời hàng loạt Người ta có thể ngâm đọc, hát ( và có thể xem bằng mắt sau khi

ghi chép lại)” [20, tr.23]

Như vậy, bàn về ca dao có thể có nhiều cách hiểu, nhiều cách định nghĩa khác nhau Nói đến ca dao người ta nghĩ đến những lời thơ dân gian, khái niệm ca dao đã được quy định dùng để chỉ bộ phận cốt lõi nhất, tiêu biểu nhất: đó là những câu hát đã trở thành cổ truyền của nhân dân

1.3.2 Đặc điểm ca dao Nghệ Tĩnh

Trong kho tàng đồ sộ các di sản văn hóa đất Hồng Lam ấy, ca dao Nghệ Tĩnh chiếm một vị trí quan trọng Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, ca dao Nghệ Tĩnh đã tồn tại và gắn bó với người dân xứ Nghệ như máu thịt, trở thành nét đẹp của đời sống tinh thần đậm đà bản sắc một vùng quê

Ca dao Nghệ Tĩnh là những bài ca dao do người dân Nghệ Tĩnh sáng tác và những người dân từ nơi khác tới đây sáng tác về vùng đất Nghệ Tĩnh

Ca dao xứ Nghệ phản ánh mọi mặt đời sống của con người từ lao động sản xuất đến tinh thần đấu tranh giai cấp, quan hệ hôn nhân - gia đình, tình yêu…Nghệ Tĩnh có nhiều bài ca dao của nhiều vùng do nhiều đời hội tụ lại

Nó có thể là do những luồng di cư của các dòng họ qua lớp sóng phế hưng của các vương triều, hoặc do những ông đồ Nghệ ra đi dạy học mang ca dao Nghệ Tĩnh đi theo, lúc về họ cũng mang những bài ca dao của địa phương khác cùng về Dần dần, những bài ca dao như thế đã được thời gian sàng lọc, gọt giũa, dùi mài cho phù hợp với cảm thức của người xứ Nghệ:

Vợ anh anh lấy đã lâu

Đố ai lắm ruộng nhiều trâu vô giành

Đố ai lấy được vợ anh Thì anh cho một cẳng

Trang 23

Chân đi lủng lẳng như cẳng đánh cù

Đã thù thì anh thù cho nốt Nhà thì anh đốt khói bay lên trời

Hình thức nội dung của ca dao xứ Nghệ chủ yếu là thơ, văn vần Những câu ca dao này phản ánh trực tiếp đến đời sống tâm hồn của con người Nghệ Tĩnh Ca dao trở thành một thuật ngữ để chỉ thể thơ dân gian Căn cứ vào nội dung thì ca dao chia thành hai phần: “Tiếng hát tình cảm của nhân dân lao động và tiếng hát đấu tranh” Nó là một phần vốn chung ca dao của đất nước Nội dung của những sáng tác ca dao này phản ánh cuộc sống tâm tư, tình cảm, những sự việc diễn ra ở mảnh đất này khó lẫn vào ca dao của vùng khác, đặc biệt là từ địa phương trong những sáng tác này:

-Trăng lên em tưởng là trưa Vác đòn đi củi mà chưa thấy chồng

- Tiếc công anh xe nhợ dây uốn cần,

Xe chưa kịp nhợ, có lần ra khơi

Ngọn nguồn của những bài ca dao lưu truyền ở xứ Nghệ mang nhiều hơi thở và phong cách của con người nơi đây Ca dao có thể là thơ tự sự, nhưng đại bộ phận là thơ trữ tình Thường được dùng trong ca dao là thể thơ lục bát, song thất lục bát Cũng như các miền ca dao khác, ca dao xứ Nghệ mang trong mình tình cảm của mảnh đất quê hương mình đó là tình cảm chan chứa của những người dân quê mộc mạc Cảnh đẹp quê hương được nhắc đến khắp nơi, mọi lúc như niềm tự hào và ngưỡng mộ:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

Nhìn chung, ca dao Nghệ Tĩnh mượt mà, uyển chuyển như ca dao phổ biến Tuy nhiên, yếu tố địa phương vẫn chưa thoát khỏi, nhiều bài, nhiều câu còn tới ngày nay:

Trang 24

Anh thương em vô giá quá chừng Trèo truông quên mệt, ngậm gừng quên cay

Ca dao Nghệ Tĩnh khi lưu hành vào trong nội bộ tỉnh cũng sinh ra một vài dị bản khác nhau Mặc dù nguồn gốc của từng bài ca dao có khác nhau, song tất cả ca dao đang lưu truyền ở Nghệ Tĩnh đều phản ánh các mặt sinh hoạt, tính cách của những con người đã bao năm sinh sống, chiến đấu, xây dựng trên mảnh đất Hồng Lam:

Thuyền không đậu bến Giang Đình

Ta không ta quyết lấy mình mà thôi

Khi lưu hành ở các vùng khác ta thấy có sự thay đổi:

Thấy anh thơ thẩn một mình em thương

Kho tàng ca dao Nghệ Tĩnh còn lại hiện nay hầu hết bị xóa nhòe thời điểm sáng tác Nét trào phúng trong ca dao xứ Nghệ cũng là một trong những nét tiêu biểu của thể loại này Thông thường, đó là sự châm biếm những thói

hư, tật xấu trong nhân dân với nụ cười hài hước, nhẹ nhàng, nhưng cũng không kém phần gay gắt, cứng rắn:

- Có tiền thì mụ chèo non Không tiền thì mụ quanh co dưới rào

- Mắt thì như cái nồi ba Mồm bằng cái rổ, nói ngoa nhất làng

Ca dao xứ Nghệ đã len lỏi vào bao ngõ ngách tâm hồn làm trăn trở bao trái tim con người nơi đây Nó diễn tả được bao cảm xúc, thái độ của con người đó là xao xuyến, thương thân tủi phận, ngoài ra còn có phần tin tưởng, đấu tranh vững mạnh với bản sắc riêng của con người xứ Nghệ Đó là đạo lý của nhân dân, là nếp nghĩ cách cảm, là phong tục tập quán, là triết lí về nhân sinh, là giáo huấn về cuộc số của người dân Nghệ Tĩnh Chúng nằm trong những câu lục bát ý nhị, mượt mà bao giờ cũng dễ nhớ dễ thuộc với các hình

Trang 25

ảnh rất quen thuộc như cây đa, bến nước, sân đình của người dân xứ Nghệ

Tiểu kết:

Với những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, với bao thăng trầm của lịch

sử dân tộc đã góp phần làm nên đời sống và tính cách con người xứ Nghệ Không chỉ có một truyền thống dân tộc chống ngoại xâm anh dũng kiên cường, đây còn là nơi có đời sống văn hóa vô cùng phong phú, đa dạng trong

đó nổi bật là kho tàng ca dao Nghệ Tĩnh Nó được thể hiện một cách điềm tĩnh, trầm lặng, khắc vào lòng người những cảm xúc mãnh liệt về tình yêu quê hương, tình yêu con người Trải qua bao thế hệ người dân nơi đây vẫn giữ được những phẩm chất quý báu về sự cần cù, chịu khó; kiên trung bất khuất; thông minh, hiếu học… Tạo nên những dấu ấn riêng biệt mang đậm bản sắc

người xứ Nghệ

Trang 26

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG CA DAO

NGHỆ TĨNH 2.1 Những biểu hiện của thân phận con người trong ca dao Nghệ Tĩnh

2.1.1 Thân phận người lao động

Bao đời nay, Nghệ Tĩnh được biết đến là một vùng đất hiếu học và kiên cường bất khuất Người dân Việt Nam chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp, quanh năm “Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, “Một nắng hai sương” Con người xứ Nghệ cũng vậy, với thiên nhiên thời tiết khắc nghiệt, họ luôn phải đối mặt với tình trạng hạn hán, mất mùa Đây là cảnh lao động nhà nông hết sức nặng nhọc:

Trăng mờ vì đám mây che

Em đây vất vả vì nghề canh nông

Hay đó là công việc đi hái củi vất vả:

Trèo truông cho đổ mồ hôi Mượn khăn điều chú xã lau đôi má hồng

Khí hậu vùng Nghệ Tĩnh rất đặc biệt, khắc nghiệt với sinh vật, trước hết là con người và cây lương thực Cuộc vật lộn giữa thiên nhiên và con người nơi đây diễn ra khá liên tục, được phản ánh rõ nét qua những bài ca dao:

Mưa to gió nổi đùng đùng, Gánh lúa mà lội qua thung về nhà

Về nhà vừa tạnh mưa sa, Lúa thì rụng hết, vợ ra khóc chồng

Hay đó là cảnh than khóc của người dân trước nạn lũ lụt:

Gió mưa chi lắm hỡi trời, Lúa mùa toan gặt lại trôi đầy đồng

Trang 27

Cơn đau vợ đói nhìn chồng, Khóc thảm, khóc thiết đỏ tròng con ngươi

Thiên nhiên Nghệ Tĩnh rất ít ưu đãi với con người nơi đây Họ luôn phải chống chọi với sự bất thường của thời tiết, để làm ra được hạt gạo, cây trồng rất khó khăn và trải qua nhiều thử thách:

Thanh nhàn là tết giêng hai Lên rú đào mài cuốc má cầm hơi

Ai xui tôi đến chốn này, Trồng hoa, hoa héo, trồng cây, cây tàn

Từ nạn này đến nạn khác, tình trạng oái ăm thường gặp là nhiều khi lo chống hạn hán chưa xong thì bão lụt đã ập tới Yếu tố khí hậu cộng với đất đai thiếu màu mỡ làm cho nghề trồng trọt khó phát triển, năng suất thu hoạch thấp Ở đây, nắng thì:

Bảy năm đại hạn khô đồng, Lúa không, ngô hết còn mong nỗi gì

Còn mưa thì cũng không kém phần:

Trời làm một trộ mưa dông, Trời làm hai trộ mưa dông, Nước chảy băng đồng, băng hói, băng bãi, băng sông,

Ơi là các bạn đàn ông Chạy mau lên đê mà hộ kẻo nước xông vào nhà

Cũng như người nông dân Việt Nam, trong cuộc vật lộn gian khổ, bền

bỉ giữa con người với thiên nhiên, người nông dân xứ Nghệ đã tự xác định

rằng: “Muốn no thì phải chăm làm; một hột thóc vàng, chín giọt mồ hôi” nên

họ rất cần cù lao động Quần quật suốt ngày, đầu tắt mặt tối, nhưng nhiều khi thiên nhiên chẳng chịu người, “thấy làm mà chẳng thấy ăn; thấy một đám cỏ

Trang 28

khổ thân cả ngày” Phải đọc những câu ấy với giọng Nghệ, mới thấy được sự

khốn khó của con người nơi đây

Không những phải chịu cảnh sống chung với thiên nhiên khắc nghiệt,

mà Nghệ Tĩnh còn là nơi đầu ngọn gió ở phương nam Tổ quốc xưa kia, chịu nhiều mối đe dọa xâm lược của kẻ thù Khi thực dân Pháp xâm lước nước ta, nhân dân phải chịu bao khổ cực, với sưu cao, thuế nặng, cướp bóc liên miên, khổ cực nhất là những người nông dân “chân lấm tay bùn” Bọn Tây không những gây ra cảnh chiến tranh chết chóc mà chúng còn cướp bóc, ức hiếp nhân dân tàn bạo, dã man Cảnh tượng này cũng được phán ánh rất rõ nét qua

Trồng khoai thì giữ lấy khoai, Đừng cho giặc Nhật vô loài cướp đi

Ca dao Nghệ Tĩnh cho thấy bên cạnh nỗi xót thương là lòng căm thù giai cấp sâu sắc của nhân dân đất Hồng Lam đối với bọn bóc lột:

Ông trời ông ở không minh,

Ở cao ông nỏ thấu tình dân đen

Một ngày hai bữa cơm đèn, Khi xuống bể cả, khi lên rừng già

Đến khi thất thểu về nhà,

Mẹ đà thoi thóp, con đà đứt hơi Bước chân vô cửa nhà người, Xin hột gạo hẩm hắn đòi bán nương

Trang 29

Ông trời chết nứt chết trương, Ông ghét tôi khổ, ông thương nhà giàu

Không chỉ đau trước nỗi đau mất nước mà nhân dân Nghệ Tĩnh còn phải chịu sự đàn áp và bóc lột của giai cấp thống trị trong nước “trời bòn đất rút không bằng chúa hút vu vơ” Có thể nói, ca dao Nghệ Tĩnh đã cho ta thấy cái nhìn khám phá sắc sảo của con người lao động đối với bọn nhà giàu, cũng

là lời dạy giúp ta nhận thức:

Nhất cao là ngọn Hoành Sơn, Nhất thâm là bọn bất nhân nhà giàu

Những kẻ giàu đã vậy, còn cái chính quyền đại biểu cho ý thức giai cấp

và bảo vệ quyền lợi cho bọn chúng cũng một ruộc, toàn một lũ độc ác vô lương tâm Ca dao Nghệ Tĩnh đã phơi bày ra tất cả, cho ta thấy rằng đấng

“Thiên tử” đều:

Từ sinh ra người có một sự lạ, Xui người về vu họa cho dân

Muốn yên sao chẳng lấy nhân, Muốn dân no ấm sao chẳng giục dân cày bừa

Đây là cảnh bần hàn, khổ cực của người dân sau khi nộp thuế:

Nạp sưu, nạp thuế xong rồi,

Vơ đồ vơ nồi ba mánh (miếng) khoai khô

Người dân xứ Nghệ đã ý thức được những thủ đoạn bóc lột, xảo trá của bọn nhà giàu Nghèo khổ đối với họ đâu phải là số phận, mồ mả, thổ địa… mà căn bản do bị địa chủ bóc đến tận xương tủy Đây là thái độ đối đãi tàn tệ của bọn địa chủ với giọng rắn rỏi của người đi ở Khi mình làm cho họ thì họ tỏ ra rất tốt, nói những lời ngon ngọt, tuy nhiên khi không làm nữa họ lại quay lưng chửi bới cay độc:

Trang 30

Trời mưa cho ướt lá khoai, Thân tôi đi ở đã hai năm rồi

Bây giờ quần áo tả tơi, Mắt su (sâu) lỗ đáo, người thời giơ xuơng

Ai ra nhắn với ông Tường,

Vì ông tôi phải nhiều đường đắng cay

Xưa kia tôi bắt trâu cày

Mỗi ngày một mẫu thầy thầy con con,

Thân tôi giờ đã kiệt mòn, Thì ông cũng hết con con thầy thầy

Tổ cha mồm lưỡi nhà bay, xỏ xiên xỏ lá có ngày chết tươi

Ca dao xứ Nghệ đã ghi lại một cách trung thực, đầy đủ về sự khó khăn, gian khổ của những thân phận người lao động Với thiên nhiên thời tiết quá khắc nghiệt, chiến tranh liên miên, đặc biệt là sự bóc lột dã man, tàn bạo của bọn địa chủ, bọn phong kiến… Tuy nhiên người dân lao động xứ Nghệ với bao phẩm chất tốt đẹp: Truyền thống đấu tranh kiên cường, dũng cảm chế ngự thiên nhiên, chống các giai cấp bốc lột thống trị, đặc biệt là liên tục chống ngoại xâm, đánh thắng bất kì kẻ thù nào Tinh thần đó đem lại sự vẻ vang cho Nghệ Tĩnh nói riêng và góp một phần công sức tô điểm cho giang sơn Việt Nam nói chung

2.1.2 Thân phận người phụ nữ, con gái

Trong một xã hội, quyền làm người, quyền làm chủ vận mệnh của mình không được đảm bảo thì bao ngang trái đến với nhân dân là chuyện đương nhiên Rõ ràng nhất là đối với thân phận người phụ nữ, cái buồn được nói đến nhiều nhất là hạnh phúc lứa đôi Thời phong kiến, với bao phong tục, lối sống lạc hậu đã đẩy số phận những người phụ nữ, con gái rơi vào vực thẳm, không

Trang 31

lối thoát Họ không những phải làm lụng vất vả, mà còn bị làm nhục, chửi bới, không những bị đày đọa về thể xác mà còn bị hành hạ về tinh thần:

Thân em khó nhọc trăm bề, Sớm đi cấy lúa chiều về hái dâu

Có gương không kịp rẽ đầu,

Có cau không kịp têm trầu mà ăn

Thân em khó nhọc trăm phần, Hết đi ruộng đậu lại lần ruộng dưa

Vội đi quên cả cơm trưa, Vội về quên cả trời mưa ướt đầu

Tình yêu là bản chất thiêng liêng và tự nhiên của con người Cho nên,

dù ở thời đại nào, tình yêu bao giờ cũng là đề tài bất tận cho những áng văn chương Những cung bậc sắc thái của tình yêu, những lời than thở, nhớ nhung, trách móc, cả những nỗi niềm tủi nhục, số phận đắng cay….Ca dao Nghệ Tĩnh thường đề cập tới vấn đề đa thê, là cảnh làm mọn Ta cũng thường bắt gặp những mối tình éo le, ép buộc, dở dang… với mọi nỗi giận hờn, xót thương nhưng ấm tình đời Đối với cánh đàn ông “ôm lấy cam thì tiếc quýt,

ôm lấy bưởi thì tiếc bòng, lạ chi cái thói đàn ông, muốn ôm tùa vô cả” Ngược lại đối với người phụ nữ đi làm mọn thì phải chịu bao nhiêu nỗi nhục nhã ê chề:

…Canh năm chợp mắt lơ mơ Chồng vừa vào rờ trời đã rạng đông Năm canh nỏ bén hơi chồng

Vì con mụ cả khổ không hỡi trời Cảnh chồng chung khổ lắm chị em ơi

Đây là tâm trạng của cô gái khi niềm riêng xôn xao khát vọng lứa đôi của chàng trai yêu dấu Dù cô ta biết tình yêu đó là cái lẽ tất yếu của trai gái

Trang 32

đến tuổi trưởng thành Song cô ta sợ tất cả, sợ cha mẹ, sợ cả chòm mây bạc như cái định mệnh, như bao thế lực hắc ám đang lởn vởn trên đầu, chỉ cần một làn gió nhẹ có thể làm tan vỡ:

Đá có rêu bởi vì nước đứng, Núi bạc đầu là tại sương sa

Thấy anh em muốn nói ra,

Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời

Thấy anh em muốn trao lời,

Sợ chòm mây bạc giữa trời mây tan

Dưới chế độ phong kiến hà khắc, yêu nhau nhưng được gặp gỡ, gần gũi nhau để hẹn hò, trao đổi tâm tình là rất khó khăn Có thể là do cha mẹ cấm đoán, do luật môn đăng hộ đối, do lễ giáo, do có kẻ dèm pha… họ không được làm bạn trăm năm với nhau “Cái duyên kia nó trúc trắc, cái phận kia nó trục trặc” thì những lời thở than mới đau đớn, ảo nảo làm sao:

Năm xưa em đứng cội cây sung,

Em đứng cội cây dừa, Nước mắt em chảy xuống như mưa, Ướt một cái quần, cái áo, Cái quần anh vắt chưa ráo, Cái áo anh vắt chưa khô, Giờ thầy mẹ em đem bán gả nơi mô,

Nỏ bõ công anh băng Hán vượt Hồ tìm em!

Với quan niệm “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, nhiều người phụ nữ phải chịu bao ngang trái của cuộc đời, đó là cảnh làm lẽ mọn, cảnh lấy phải chồng già Điều này được thể hiện rõ nét qua những bài ca dao đậm chất châm biếm, phê phán:

Trang 33

Vô duyên lấy phải chồng già, Kêu “chồng” cũng lỡ, kêu “cha” bạn cười

Một niềm kêu “cố” mà thôi, Tắt đèn cố bảo: “Nhai tôi miếng trầu”

Em trao cho cố miếng trầu,

Em vừa ngoảnh lại thấy hàm râu cố chìa

Em lui ra cố lại chìa và, Cực lòng em lắm biết sao cho đành

Làm dâu nhà người bị mẹ chồng khinh miệt hành hạ, sai bảo như con hầu, con ở là số phận chung của những cô gái làm dâu nhà giàu Những lời tự

sự dưới đây cũng là lời giãi bày tâm sự, đồng thời khuyên can với chúng bạn, chị em chớ sa vào tình cảnh như vậy mà khổ thân:

Thân em như trái đào non, Không may số kiếp lấy con nhà giàu

Hắn coi như thể con hầu, Nửa đêm còn phải băm bèo thái rau

Gần sáng mới được chồng yêu, Hắn vật hắn lộn như diều bắt ga(gà)

Sớm ngày quảy gánh đi ra, Vừa đói vừa mệt như ma hớp hồn

Hay đó là nỗi đau khổ, nhục nhã của người đàn bà chịu phận lẽ mọn:

Vô duyên phải kiếp làm hầu Đánh đập mắng chửi ôm đầu làm thinh

Nói ra lỗi cả về mình Nào ai có biết sự tình cho chăng?

Cuộc đời của người phụ nữ, phần lớn phải chịu những rủi ro, tan vỡ, là những hồi hộp lo âu, là những đau khổ và nước mắt, là sự khinh bỉ và vùi

Trang 34

dập….Với quan niệm của đạo lí phong kiến “Nam tôn nữ ti, nữ nhân nan hóa”

(người đàn bà khó dạy); “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một con trai nói là có, mười con gái nói là không); “Phụ nữ bất đắc nhập chính thất, bất đắc nhập từ đường” (Đàn bà không được vào nhà chính, không được vào nhà thờ)… Đây được xem là luân lí của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám đối với người phụ nữ Chính quan niệm này đã ăn sâu vào đầu óc của quá nhiều người cho nên chị em phụ nữ đã tự ý thức được thân phận của bản thân mình:

Thân em như thể cây bèo, Khi ra giữa rộc (ruộng sâu), khi trèo cồn cao

Vì ai em phải lao đao, Cho tóc em rụng, má đào em phai

Xã hội không còn là chổ dựa cho thân phận, quyền sống, cho hạnh phúc của họ, họ quay về với gia đình, người chồng là tất cả Ca dao xứ Nghệ đã thể hiện được tình cảm của người phụ nữ khi xa chồng, vắng chồng, đó là nỗi buồn cô đơn, sự cắt rứt:

Đêm nằm lấy áo làm chăn, Sáng ra lấy áo, làm khăn đội đầu

Đi tìm chẳng thấy chàng đâu, Như chim mất tổ, như dâu mất tằm

Vắng chàng rụng quýt rơi cam,

Xa nhau tấm vải nhuộm chàm không xanh

Đó còn là tâm sự khổ tâm khó giãi bày trong một xã hội mà người phụ

nữ không được phép cất tiếng nói Mỗi bài ca là một lời nhắc nhở đối với những người làm cha mẹ vì tham giàu mà gả bán con cho nhà giàu và cũng là bài học cho những cô gái đang có ý định bước chân vào làm dâu nơi quyền quý:

Trang 35

Thân em mười sáu tuổi đầu, Cha mẹ ép gả làm dâu nhà người

Nói ra sợ chị em cười, Năm, ba chuyện thảm, chín mười chuyện cay

Em về đã mấy năm nay, Buồn riêng thì có, vui vầy thì không

Ngày thì vất vả ngoài đồng, Tối về thì lại nằm không một mình

Cả đêm thức suốt năm canh, Rau heo cháo chó loanh quanh đủ trò

Hay đó là tình cảnh dở khóc, dở cười của các bà mẹ chỉ vì ham vinh hoa phú quý đã đẩy con gái mình rơi vào những tình huống oái ăm, chịu nhiều bất hạnh trong hôn nhân:

Mẹ em tham thúng nếp đầy, Tham quan tiền quý mà đày em vô

Mẹ em tham thúng bánh chưng, Tham quan tiền quý để lưng em phải đòn

Một khía cạnh nữa của hôn nhân mà ca dao Nghệ Tĩnh đề cập đến khá nhiều đó là cảnh đa thê, làm mọn, cảnh vợ trẻ chồng già Ngày xưa họ quan niệm nhà nào đông con lắm cháu mới là nhà có phúc, bởi thế mới có câu “Cá sông thì đông chợ, lắm vợ thì nhiều con” Nhưng đối với người phụ nữ lấy chồng chẳng khác nào làm con hầu, con ở gánh trên vai bao nỗi nhục nhã ê chề, với sự đối xử tàn bạo, độc ác của mụ gia:

Ai về nhắn mẹ cùng cha, Lấy chồng nhà nó khổ ba, bảy đường

Đêm nằm lưng nỏ bén giường,

Mụ gia đã xộc vô buồng kéo ra

Trang 36

Cứt bò khô, biết mô chẳng uổng,

Em đi lấy vào vứt xuống ruộng khoai

Trên đây là những bài ca dao than thân của người phụ nữ, với bao chế

độ phong kiến hà khắc người phụ nữ luôn bị đày đọa cả về thể xác, lẫn tinh thần

Ngày nay, xã hội đã tiến bộ hơn rất nhiều, người phụ nữ đã được giải phóng về mọi mặt, nam nữ bình quyền, nhiều người nắm những vị trí xã hội quan trọng không kém gì nam giới Nhưng đâu đó ở những vùng nông thôn, miền núi, vùng cao người phụ nữ vẫn chưa được coi trọng Cho nên, vấn đề bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ cần đang được quan tâm hơn

2.1.3 Thân phận người đàn ông, con trai

Thân phận của những người phụ nữ được nhắc tới rất nhiều trong ca dao Bất cứ người nào sinh ra cũng có thân phận Đó là thân phận của người làm con, của người bố, người chồng, thân phận của nam nhi… Tuy thân phận của người đàn ông, con trai ít được nói tới và chiếm một số lượng nhỏ trong

ca dao xứ Nghệ, nhưng không vì thế mà nó kém phần hấp dẫn Qua những bài

ca dao, nó đã phản ánh được những tình cảm, tính cách… của những con người nơi đây

Trang 37

“Làm trai”- hai tiếng ấy vốn có một âm hưởng diệu kì đối với người Nghệ Tĩnh, nhất là khi họ đang ở tuổi hoa niên Ca dao Nghệ Tĩnh cũng có nhiều bài khuyên về chí làm trai:

- Làm trai nợ nước là to,

Vợ con đói rách ấm no quản gì

- Làm trai đứng ở trên đời, Sao cho xứng đáng giống nòi nhà ta

- Nước triều khi xuống khi lên, Làm trai chí ở cho bền là hơn

Xứ Nghệ xưa nay không hiếm những chàng trai hàn sĩ, song nhờ có chí bền bỉ, kiên cường rèn luyện mà thành đạt công danh Có lẽ, bởi trên mỗi bước đường họ đi luôn khắc ghi lời ru mang tính chất triết lí của mẹ:

Làm trai có chí thì nên, Chớ lo muộn vợ chớ phiền muộn con

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, Trời kia còn đó con còn ở đây

Con ơi nhớ lấy câu này,

Có công mài sắt, có ngày nên kim

Người nam nhi phải là người gánh vác giang sơn, xem bốn biển là nhà,

họ được tự do thỏa chí tang bồng:

Làm trai ba mươi sáu nơi quen, Khi tắt trăng có đó, khi lỡ đèn có đây

Không những người con gái mà ngay cả người đàn ông, con trai vẫn gặp nhiều rắc rối trong chuyện tình cảm, tình yêu trai gái Chính những phong tục cổ hủ, lạc hậu có thứ trở thành luật tục ăn sâu bén rễ trong nhân dân rất bền chặt có sức mạnh hơn cả những đạo luật Trong truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam có nhiều phong tục cần cho đạo lí, kỉ cương xã hội nhưng

Trang 38

cũng có những phong tục cần lên án và phải bị xóa bỏ Tục lệ thách cưới đã từng là một hủ tục tồn tại trong xã hội phong kiến nước ta:

Công anh đắp đất trồng chanh, Thầy mẹ gả bán cho anh thật thà

Anh gồng xôi quảy lợn đến nhà, Thầy mẹ lại kể con cà con kê

Anh ngứa gan gánh lợn ra về,

Họ hàng liếm mép như dê lặt bèo

Mẹ em tiếc rẻ chạy theo, Anh cho một đạp lăn vèo xuống ao

Hôn nhân vốn là việc hệ trọng của đời người, là niềm vui của đôi lứa Chính vì tục thách cưới này mà nhiều tình yêu chưa kịp kết trái đã vội tàn bởi vì:

Thấy em mắt liễu má đào, Muốn mua mà sợ giá cao ngập ngừng

Đó còn là nỗi cơ cực của người con trai khi đi ở rể phải làm lụng vất vả nơi xứ người xa xôi, trở về phải lấy vợ thừa, vợ xấu:

Anh đi làm rể ba mùa, Trở về lại lấy vợ thừa người ta, Khi đem về nhà, vợ già hơn mẹ

Trông lên mặt mẹ, mẹ trẻ vợ già

Sinh chút con ra mặc anh nhai mớm, Không nhai thì gớm, không mớm thì thương Việc làng việc đương, không thể nhường cho vợ

Ra đường ra chợ, bạn hỏi đó là ai?

- Anh ơi : ờ ờ này…

Người nớ là bà con tui đó!

Trang 39

Trước những tục thách cưới đó, rất nhiều chàng trai rơi vào cảnh bần hàn, cơ cực, chịu nhiều đắng cay Tuy nhiên, người xứ Nghệ với bản tính cần

cù, chịu khó, kiên cường nhiều người đã cố gắng vay tiền để cưới vợ sau đó thì một đời phải kéo cày trả nợ:

- Cha mẹ đòi răng nấy anh cũng đi, Sau rồi đồng công trự (đồng) nợ chớ vân vi đến chàng

- Lễ vấn danh anh coi đó mà đi, Kẻo sau rồi đồng công trừ nợ, tội thì nhọc ta

Ở vùng nông thôn ngày xưa, theo phong tục cũ của người Nghệ Tĩnh, người con trai trước khi đưa vợ về phải trải qua một thời kì thử thách, bằng cách đưa sức lao động của mình làm việc không công cho gia đình nhà vợ, gọi là “làm rể” Trong thời kì làm rể, người con trai phải làm những công việc nặng nhọc:

Công anh tát nước đầu bờ,

Em đi trên ruộng em chờ đợi ai?

Mình anh gánh lúa sụn vai, Mình anh trồng đỗ, trồng khoai, trồng cà,

Một tay quét dọn cửa nhà, Việc làm cùi cụi sao mà tội thân

Như vậy, thân phận người đàn ông, con trai được phản ánh khá cụ thể qua những bài ca dao xứ Nghệ Nam nhi trước hết mang gánh nặng trả nợ, thù nhà, với ý chí nghị lực phi thường họ đã vượt lên tất cả làm rạng danh mảnh đất Hồng Lam Lúc nợ nước, thù nhà phải trả, họ đều xử thế đúng với phương châm làm trai Trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là trong tình yêu nam nữ, những người đàn ông, con trai cũng chịu bao cảnh trái ngang Với phong tục còn cổ hủ, lạc hậu, tình yêu của họ chịu sự ngăn cấm của gia đình Đặc biệt, tục ở rể đã gây ra bao cảnh dở khóc, dở cười cho những chàng trai muốn tìm

Trang 40

được vợ Như thuở nào, ca dao Nghệ Tĩnh vẫn ngân nga trong đáy sâu thẳm cõi lòng chúng ta bao ước vọng hạnh phúc, bao buổi hẹn hò, bao nỗi đau xót quần quại, bao lời oán trách cái chế độ “lấy thịt đè người” bất công, tội lỗi

2.2 Đặc điểm thân phận con người trong ca dao Nghệ Tĩnh

2.2.1 Đặc điểm vị trí con người trong xã hội

Như chúng ta đã biết, người dân Nghệ Tĩnh với khí chất gân guốc, kiên cường bất khuất, tình nghĩa thủy chung….Họ là những con người có bản lĩnh vững vàng trong cuộc sống, thường xuyên vật lộn với thiên nhiên khô cằn, cay nghiệt, đã liên tục đấu tranh chống giai cấp bóc lột Chính cuộc chiến đấu không biết mệt mỏi đó đã hun đúc, tôi luyện cho con người đất Hồng Lam trở nên cứng cỏi, gang thép, bền bỉ trong các cuộc đấu tranh Xã hội có nhiều thay đổi, vị trí của con người cũng có nhiều thứ bậc khác nhau, có người giàu sang, có người hèn mọn… Tất cả những đặc điểm đó được phản ánh khá rõ nét qua ca dao Nghệ Tĩnh

Người nông dân Nghệ Tĩnh trước Cách mạng tháng Tám phải chịu nhiều nỗi cực khổ, đó là thiên nhiên thời tiết khắc nghiệt, chiến tranh liên miên với nạn bóc lột, sưu thuế của bọn phong kiến, bọn giặc Tây Họ là những người lao động chân chất, thật thà, cần cù lao động Phát xít Nhật vào xâm lược nước ta, chúng dùng rất nhiều thủ đoạn đê tiện, độc ác, chúng bắt dân ta nhổ ngô, khoai, đậu… để trồng các loại cây chiến lược là đay và thầu dầu cho bọn chúng:

Chém cha giặc Nhật côn đồ, Bắt người cướp của tha hồ thẳng tay

Dân ta trăm đắng ngàn cay, Thóc ăn chẳng có trồng đay trồng dầu

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Nhã Bản (2001), Bản sắc văn hóa người Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa người Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2001
2. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên) (1999), Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1999
3. Hoàng Trọng Canh (2005), Tìm hiểu về phương ngữ Nghệ Tĩnh, Luận văn Tiến sĩ, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về phương ngữ Nghệ Tĩnh
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2005
4. Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao (1963), Hát giặm Nghệ Tĩnh (tập 1, 2), Nxb Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát giặm Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1963
5. Nguyễn Đổng Chi (2003), Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
6. Sầm Nga Di (1982), Tục ngữ, ca dao, dân ca dân tộc Thái Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ - Tĩnh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ, ca dao, dân ca dân tộc Thái Nghệ Tĩnh
Tác giả: Sầm Nga Di
Nhà XB: Nxb Nghệ - Tĩnh
Năm: 1982
7. Ninh Viết Giao (1982), Về văn học dân gian Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn học dân gian Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ Tĩnh
Năm: 1982
8. Ninh Viết Giao (1993), Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1993
9. Ninh Viết Giao (1996), Kho tàng ca dao xứ Nghệ, Nxb Hội văn nghệ dân gian Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Hội văn nghệ dân gian Nghệ An
Năm: 1996
10. Ninh Viết Giao (1999), Kho tàng vè xứ Nghệ, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng vè xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1999
11. Ninh viết Giao (2002), Hát phường vải - dân ca Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát phường vải - dân ca Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ninh viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2002
12. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1998
13. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
14. Lê Thị Ngọc Hiệp (2011), Tình yêu đôi lứa trong ca dao dân ca Nghệ Tĩnh, Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình yêu đôi lứa trong ca dao dân ca Nghệ Tĩnh
Tác giả: Lê Thị Ngọc Hiệp
Năm: 2011
15. Minh Hiệu (1984), Nghệ thuật ca dao, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật ca dao
Tác giả: Minh Hiệu
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 1984
16. Chu Trọng Huyến (2004), Tìm hiểu tính cách người Nghệ, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tính cách người Nghệ
Tác giả: Chu Trọng Huyến
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2004
17. Nguyễn Xuân Kính (2006), Thi pháp ca dao, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
18. Lê Đức Luận (2004), Giáo trình Văn học dân gian, Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học dân gian
Tác giả: Lê Đức Luận
Năm: 2004
19. Lê Đức Luận (2005), Giáo trình Thi pháp học dân gian, Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thi pháp học dân gian
Tác giả: Lê Đức Luận
Năm: 2005
20. Lê Đức Luận (2009), Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt, Nxb Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w