1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình yêu quê hương đất nước trong ca dao xứ quảng

86 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 842,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đề tài “Tình yêu quê hương đất nước trong ca dao xứ Quảng” tức là tìm hiểu riêng về nền văn hóa hai vùng đất Đà Nẵng – Quảng Nam trong suốt tiến trình hình thành và phát triển văn hó

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN

***

NGUYỄN THỊ THU NGUYỆT

TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC

TRONG CA DAO XỨ QUẢNG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Đà Nẵng, 05/2014

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN

***

TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC

TRONG CA DAO XỨ QUẢNG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đức Luận và chưa từng công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Đà Nẵng, ngày 15 tháng 05 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Nguyệt

Trang 4

cô, những người thân trong gia đình và bạn bè thì tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Bằng tấm lòng tri ân sâu sắc tôi xin gửi lời cám ơn đến các Thầy Cô trong khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, đặc biệt là thầy giáo, TS Lê Đức Luận – người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khóa luận

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Phòng Thư viện trường Đại học

Sư phạm Đà Nẵng đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp cho tôi những tư liệu cần thiết và quý giá để chúng tôi có cơ sở nghiên cứu đề tài

Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Đà Nẵng, ngày 15 tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Nguyệt

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu 6

4.2 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Bố cục khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG MỘT: XỨ QUẢNG- ĐẶC ĐIỂM VÙNG ĐẤT VÀ VĂN HÓA DÂN GIAN 7

1.1 Xứ Quảng – đặc điểm vùng đất và con người 7

1.1.1 Lịch sử hình thành vùng đất 7

1.1.2 Đặc điểm về địa lí, dân cư 11

1.1.3 Nét đẹp con người xứ Quảng 14

1.1.4 Danh nhân văn hóa, lịch sử 18

1.2 Xứ Quảng – đặc điểm văn hóa dân gian 20

1.2.1 Những di chỉ, địa danh mang dấu ấn văn hóa – lịch sử 20

1.2.2 Đặc sản quê hương 23

1.2.3 Phong tục, lễ hội và tín ngưỡng 25

1.2.4 Đặc điểm văn học dân gian xứ Quảng 27

Tiểu kết: 30

CHƯƠNG HAI: CẢNH SẮC VÀ HƯƠNG VỊ XỨ QUẢNG 31

2.1 Niềm tự hào danh lam thắng cảnh và vẻ đẹp trù phú của địa phương 31

2.2.1 Niềm tự hào danh lam thắng cảnh địa phương 31

Trang 6

2.2.1 Đặc sản quê hương 41

2.2.2 Những món ăn đậm đà hương vị quê nhà 48

Tiểu kết: 51

CHƯƠNG BA: XỨ QUẢNG - CHAN CHỨA NGHĨA TÌNH VÀ GIÀU TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ VĂN HÓA 53

3.1 Xứ Quảng – vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa 53

3.1.1 Vùng đất của những chiến công lịch sử 53

3.1.2 Vùng đất giàu nét đẹp văn hóa 58

3.1.3.Vùng đất của những làng nghề truyền thống 61

3.2 Xứ Quảng – vùng đất mang niềm yêu thương và chan chứa nghĩa tình 64 3.2.1 Khúc ca về tình yêu quê hương, làng xóm 64

3.2.2 Tình cảm gia đình đằm thắm 66

3.2.3 Tình yêu lứa đôi mặn nồng 70

Tiểu kết: 76

KẾT LUẬN 77

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn học dân gian là cái nôi văn hóa, văn học của mỗi quốc gia Đối với người Việt Nam thì văn học dân gian thực sự là một tài sản tinh thần vô cùng quý giá với nền văn minh quốc gia và sự phát triển văn hóa truyền thống Những giá trị tinh hoa ấy từ xưa đến này vẫn được nhân dân duy trì, bảo tồn, phát triển và trân trọng

Ca dao là một trong những bộ phận quan trọng trong hệ thống văn học dân gian của dân tộc Với những biến cố trên suốt chiều dài lịch sử, ca dao vẫn luôn giữ trong mình những bản sắc văn hóa khu vực và dân tộc Ca dao luôn là những khúc hát muôn đời in sâu trong tâm thức của mỗi con người

Đó là những khúc hát về tình yêu quê hương đất nước Đó là tình cảm gia đình gắn bó sâu nặng giữa mọi thành viên trong gia đình Đó còn là tình yêu lứa đôi với muôn hình vạn trạng Hay đó còn là những lời gửi gắm của cha ông với con cháu để mong về sau mọi điều đều yên bình và thịnh vượng Những câu ca dao ấy cứ theo dần chúng ta qua từng năm tháng, làm cho chúng ta thêm yêu cuộc sống, yêu đời, lạc quan hơn trong mọi việc và nhất là làm cho chúng ta thêm yêu đất nước, con người, tự hào vì mình là người con đất Việt, vùng đất giàu truyền thống văn hóa

Tìm hiểu văn học dân gian nói chung và tìm hiểu ca dao nói riêng cũng chính là tìm hiểu về nguồn cội, lịch sử hình thành và phát triển của nền văn hóa, văn học dân gian từ xưa cho đến nay Ta có thể tìm thấy những câu ca dao ấy qua tổng thể nền văn hóa dân tộc hay qua những nền văn hóa vùng và văn hóa địa phương khác nhau

Xứ Quảng được biết đến với vùng đất thiêng của người Việt, bao gồm hai tiểu vùng Quảng Nam – Đà Nẵng Trong suốt chiều dài lịch sử và phát triển của đất nước thì xứ Quảng cũng đã trải qua rất nhiều thăng trầm và biến

Trang 8

cố hào hùng của lịch sử dân tộc Là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng trong an ninh quốc gia và cũng là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa lớn nhất của dải đất miền Trung nói riêng, của cả nước nói chung Vùng đất này đã sản sinh ra rất nhiều những anh tài, danh nhân kiên trung ái quốc trong quá trình hình thành và bảo vệ Tổ Quốc Qua dấu ấn thời gian, vùng đất này đã để lại nhiều dấu ấn văn hóa mang đậm bản chất văn hóa vùng miền Những dấu ấn ấy được thể hiện rất nhiều trong văn học dân gian Việt Nam nói chung và văn hóa dân gian Đà Nẵng – Quảng Nam nói riêng

Tình yêu quê hương đất nước là mảng đề tài được nhân dân ta nói đến khá nhiều trong mỗi lời ăn tiếng nói, trong câu thơ, tiếng hát hằng ngày Bởi qua những câu ca hát, câu thơ, câu ca dao ấy, nhân dân đã phần nào đó thể hiện lòng tự hào dân tộc lớn lao và còn thể hiện được tình yêu sâu đậm với quê hương đất nước bao đời Với đề tài “Tình yêu quê hương đất nước trong

ca dao xứ Quảng” tức là tìm hiểu riêng về nền văn hóa hai vùng đất Đà Nẵng – Quảng Nam trong suốt tiến trình hình thành và phát triển văn hóa dân gian của hai vùng đất này Thông qua đề tài này có thể phần nào thể hiện rõ hơn những đặc điểm về địa lí, lịch sử, dân cư, ngôn ngữ và những đặc sắc văn hóa của con người xứ Quảng được thể hiện như thế nào trong từng câu ca dao nơi này

Chúng tôi chọn đề tài “Tình yêu quê hương đất nước trong ca dao xứ Quảng” trước hết là bởi tình yêu sâu sắc với mảnh đất đã gắn bó với tôi trong một thời gian dài vừa qua Chúng tôi cũng mong muốn qua sự đóng góp nhỏ

bé cuả bản thân mình để phần nào mang đến cho người đọc những hiểu biết

về văn hóa dân gian người xứ Quảng trong những câu ca dao về tình yêu đất nước của con người nơi đây Với tất cả những lí do trên, chúng tôi chọn dề tài

“Tình yêu quê hương đất nước trong ca dao xứ Quảng” để làm đề tài

nghiên cứu cho mình

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Từ trước đến nay, việc sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian nói chung và tìm hiểu ca dao nói riêng luôn được sự quan tâm rất nhiều của các nhà nghiên cứu văn hóa, văn học Để hoàn thành đề tài này một cách thuận lợi, chúng tôi đã dựa vào một số công trình nghiên cứu như sau:

Đầu tiên là cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội H,1978, của tác giả Vũ Ngọc Phan Công trình này bao gồm hệ thống khảo cứu đồ sộ về tục ngữ, ca dao, dân ca của nhiều miền khác nhau trên đất nước Việt Nam

Thứ hai có thể kể đến cuốn “Kho tàng ca dao người Việt”, Nxb Văn hóa thông tin, do nhóm tác giả Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên),

1995 Đây cũng là một trong những công trình khảo cứu có giá trị về hệ thống những câu ca dao của người Việt từ xưa cho đến nay Hệ thống ấy được sắp xếp rất có trình tự và dễ dàng tìm kiếm thông qua bảng kí tự hệ thống chữ cái Bên cạnh đó là những tác phẩm lí giải, phân tích, bình giảng ca dao một cách rõ nét cho người đọc tham khảo và dễ hiểu như cuốn “Bình giảng ca dao”của Hoàng Tiến Tựu, Nxb giáo dục, 1991 hay cuốn “Ca dao Việt Nam và những lời bình” của tác giả Vũ Thị Hương, Nxb Văn hóa Thông tin, 2007 Hai tác phẩm này đều diễn đạt khá rõ những ý nghĩa, thông điệp nội dung câu

ca dao muốn đề cập Thông qua sự trình bày cụ thể của từng đề tài ca dao được trình bày trong nội dung văn bản, người đọc sẽ dễ dàng nắm bắt được những đặc điểm, biểu tượng, biểu trưng mà cốt lõi câu ca dao thể hiện

Ngoài những tác phẩm nói trên thì trong suốt quá trình học tập của bản thân tại trường Đại học Sư Phạm, thì chúng tôi còn có thể tiếp xúc với văn hóa dân gian qua những môn học như: Văn học dân gian, Thi pháp văn học dân gian, Ngôn ngữ và văn hóa, qua những giáo trình môn học tương tự của TS.Lê Đức Luận Ngoài những giáo trình kể trên thì chúng tôi còn có thể tiếp

Trang 10

nhận một lượng thông tin đầy đủ hơn về cấu trúc ca dao qua cuốn “Cấu trúc

ca dao trữ tình người Việt”, TS.Lê Đức Luận, Nxb Đại học Huế,2011 Và một

số công trình nghiên cứu của thầy Luận trên một số tạp chí như tạp chí Nguồn

sáng dân gian với đề tài “Địa danh, sản vật và nghề nghiệp trong ca dao, tục

ngữ Đà Nẵng”, 1991 Từ những công trình nghiên cứu khá chi tiết và dụng

công của TS.Lê Đức Luận thì bạn đọc hay cụ thể hơn là những sinh viên Cử nhân Ngữ Văn như chúng tôi sẽ có cơ hội học tập và hiểu biết rõ nét hơn về những đặc điểm cụ thể trong cấu trúc ca dao Nhất là có thể qua đó giúp ích cho công trình nghiên cứu đang thực hiện này

Trên đây là những công trình nghiên cứu về văn học dân gian trong toàn

bộ hệ thống văn hóa dân gian Việt Nam Còn để nghiên cứu, đào sâu và phục

vụ đề tài Tình yêu quê hương đất nước trong ca dao xứ Quảng thì chúng tôi

cũng dựa vào một số công trình nghiên cứu sau đây:

Cuốn “Tổng hợp văn hóa văn nghệ dân gian Ca dao, dân ca đất Quảng”,

do Hội văn nghệ dân gian Việt Nam đứng đầu với những tác giả biên soạn như Hoàng Hương Việt, Bùi Văn Tiếng chủ biên, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2010 Đây có thể được xem là cuốn sách tổng hợp khái quát và đầy đủ nhất về ca dao, dân ca Quảng Nam – Đà Nẵng từ trước đến nay Công trình đã tổng quan rất cụ thể từng câu ca dao thông qua nhiều mảng đề tài khác nhau như: Đất nước, Lịch sử, Quan hệ xã hội, gia đình, tình yêu lứa đôi Chính vì thế chúng tôi quyết định dựa vào giáo trình chính này cùng những khám phá, tìm hiểu thực tế của mình để làm rõ vấn đề mà đề tài nghiên cứu mà chúng tôi đang tiến hành

Cuốn “Lịch sử xứ Quảng- tiếp cận và khám phá”, của Hội Khoa học lịch

sử Đà Nẵng, 2012, do một số tác giả có tên tuổi biên soạn như Bùi Xuân, Bùi Văn Tiếng, Phan Văn Cảnh,…Cuốn sách là một tập hợp nhỏ những bài nghiên cứu lịch sử gần đây về nhiều đề tài khác nhau của lịch sử, văn hóa, con

Trang 11

người xứ Quảng trong quá trình hình thành và phát triển của vùng đất “địa linh nhân kiệt” này

Cuốn “Văn học dân gian Quảng Nam”, Sở văn hóa thông tin Quảng Nam, 2001, do nhà nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian Nguyễn Văn Bổn biên soạn Cuốn sách sưu tập các tác phẩm văn học dân gian miền Biển, đồng thời là những nghiên cứu về lịch sử, con người và những giá trị văn hóa, văn học dân gian từ xưa đến nay của vùng đất xứ Quảng

Bên cạnh đó là những cuốn sách mang thông tin về vùng đất Đà Nẵng – Quảng Nam trong suốt chiều dài xây dựng và phát triển theo dòng lịch sử đất nước Để từ đó mới tạo nên được những nền tảng văn hóa dân gian trên vùng đất này Qua cuốn sách “Người Quảng Nam” do tác giả Lê Minh Quốc chủ biên, Nxb Trẻ (2012) ta phần nào cảm nhận được bóng dáng người Quảng qua nhiều thời kì lịch sử và thấy được nét đẹp văn hóa từ bao đời của con người trên mảnh đất gần 600 năm tạo dựng này

Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu những nét đặc trưng vùng miền của mảnh đất này qua cuốn “Lễ hội và văn hóa dân gian xứ Quảng”, nhà nghiên cứu Lê Minh Anh, Nxb Quân đội nhân dân, 2010 Cuốn sách mang lại những kiến thức lễ hội cũng như văn hóa dân gian truyền thống Quảng Nam-Đà Nẵng trong đời sống nhân dân

Từ trước đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu về đề tài “Tình yêu quê hương đất nước trong ca dao Quảng Nam” nhưng đến nay vẫn chưa

có công trình nghiên cứu nào đề cập và bao quát rộng hơn những giá trị văn hóa về vùng đất xứ Quảng rộng lớn như “Tình yêu quê hương đất nước trong

ca dao xứ Quảng” một cách cụ thể, chi tiết Chính vì vậy, thông qua những tìm kiếm, tham khảo, chắt lọc các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước về vấn đề này Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tình yêu quê hương đất nước trong ca dao xứ Quảng” để có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về

Trang 12

những giá trị văn hóa dân gian của con người Việt tại vùng đất xứ Quảng một cách hoàn thiện hơn

3 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này một cách hoàn thiện và cụ thể nhất thì chúng tôi tiến hành sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp liên ngành

- Phương pháp cấu trúc, hệ thống

- Phương pháp phân tích, so sánh

- Phương pháp khái quát, tổng hợp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính trong đề tài này là “Tình yêu quê hương đất nước trong ca dao xứ Quảng”

4.2.Phạm vi nghiên cứu

Để làm rõ đề tài nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát và phân tích chủ yếu dựa vào cuốn “Tổng hợp văn hóa văn nghệ dân gian Ca dao, dân ca đất Quảng”, Hoàng Hương Việt, Bùi Hương Tiếng chủ biên, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2010

5 Bố cục khóa luận

Luận văn của chúng tôi ngoài phần mở đầu và phần nội dung gồm có ba chương:

Chương một : Xứ Quảng – đặc điểm vùng đất và văn hóa dân gian

Chương hai : Cảnh sắc và hương vị xứ Quảng

Chương ba : Xứ Quảng – Vùng đất chan chứa nghĩa tình và giàu truyền thống lịch sử, văn hóa

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT: XỨ QUẢNG- ĐẶC ĐIỂM VÙNG ĐẤT VÀ VĂN HÓA

Tư, Nghĩa và đặt An phủ sứ điều hành công việc hành chánh Người Việt lại tiếp tục có mặt tại vùng đất mới Kéo dài suốt quá trình xây dựng đất nước thì người Việt đã dùng tất cả sức lực, máu xương của mình để giữ đất và tránh sự quấy nhiễu của Chiêm Thành Mãi đến cuối thế kỉ XIV, khi Đức Lê Thánh Tông đứng từ trên đỉnh Hải Vân phóng tầm nhìn ra cả một vùng biển và miền đất phương Nam đã khơi gợi ý niệm về một tiền đồ rộng mở của Đại Việt Vị thế tầm nhìn ấy, trước tiên đọng lại trong một cái địa danh “xứ Quảng”[5;19] Chính vì thế mà năm 1470, đích thân Lê Thánh Tông đã cầm quân đi chinh phạt những cuộc loạn lạc, giặc giã ở vùng biên giới Việt – Chiêm Thành Vây

Trang 14

thành Trà Bàn bắt được Trà Toàn Năm 1471, nhà vua đã lấy đất ấy đặt làm đất Quảng Nam thừa tuyên chia thành ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (tức Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay) Ta có thể hiểu, Quảng là rộng, Nam là chỉ vùng đất phương Nam Nhà vua lấy Mũi Nạy làm mốc giữa hai nước Việt – Chiêm Thành

Quảng Nam là đạo thứ 13, bao gồm một vùng lãnh thổ rộng lớn, kéo dài

từ Hải Vân đến núi Thạch Bi (giáp giới Phú Yên với Khánh Hòa ngày nay) được chia thành ba phủ và chín huyện (tiền thân của Nam, Ngải, Bình, Phú)

Ba phủ, chín huyện đó là: Thăng Hoa phủ, gồm 3 huyện: Lệ Giang, Hy Giang

và Hà Đông (tương ứng với tỉnh Quảng Nam ngày nay) Tư Nghĩa phủ, gồm 3 huyện Nghĩa Sơn, Bình Sơn và Mộ Sơn (tương ứng với tỉnh Quảng Ngãi ngày nay) Hòa Nhơn phủ, gồm 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn (tương ứng với tỉnh Bình Định ngày nay) Địa phận Quảng Nam lúc bấy giờ chỉ đến đèo Cù Mông, còn phần đất từ đèo Cù Mông đến núi Thạch Bi, do địa hình hiểm trở, người Việt vẫn chưa quản lí Suốt chiều dài lịch sử, Quảng Nam còn nhiều lần thay đổi tên gọi: Năm 1490 (Hồng Đức) – Quảng Nam xứ, năm

1520 (Hậu Lê) – trấn Quảng Nam…

Năm 1570, Chúa Nguyễn vào trấn thủ Đạo Quảng Nam, truyền nối con cháu (Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Chu…) và với ý đồ mở rộng bờ cõi đất nước nên đã lấn dần vào Nam, xâm chiếm trọn vẹn đất Chiêm Thành, lập thành Phủ Diên Khánh (Khánh Hòa), Phủ Bình Thuận, Huyện Yên Phúc và Huyện Hòa Đa (Bình Thuận) Năm 1603 (thời Nguyễn Hoàng) đổi tên Quảng Nam thành dinh Quảng Nam.Năm 1744, Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, sau khi chiếm được Hà Tiên Rạch Giá, chia nước ra làm 12 dinh: Chính Dinh (Thừa Thiên), Cựu Dinh (Ái Tử), Quảng Bình Dinh, Vũ Xá Dinh,

Bố Chính Dinh, Quảng Nam Dinh (Quảng Ngãi và Quy Nhơn phủ), Phú Yên Dinh, Bình Khang Dinh, Bình Thuận Dinh (đất Chiêm Thành), Trấn Biên

Trang 15

Dinh, Phiên Trấn Dinh, Long Hồ Dinh (đất Chân Lạp) Đồng thời, lấy Hội An làm cửa biển duy nhất buôn bán với nước ngoài, người ngoại quốc thường gọi

là Quảng Nam Quốc

Năm 1820, Vua Gia Long, sau khi thống nhất đất nước, chia nước ra làm

23 trấn: Bắc Thành có 11 trấn, Gia Định thành có 5 trấn, Miền Trung có 7 trấn, trong đó có Quãng Ngãi Trấn, Bình Định Trấn, Phú Yên Trấn và 4 Doanh, thuộc đất Kinh kỳ: Trực Lệ Doanh (Thừa Thiên); Quảng Trị Doanh; Quảng Bình Doanh và Quảng Nam Doanh Như thế Đạo Quảng Nam hay Quảng Nam dinh bắt đầu từ đây chính thức làm 3 Trấn: Quảng Ngãi Trấn; Bình Định Trấn và Phú Yên Trấn Ngoài ra còn 1 Doanh là Quảng Nam Doanh Năm 1831, Vua Minh Mạng đổi Trấn và Doanh thành Tỉnh và đặt chức Tổng Đốc, Tuần Phủ, Bố Chánh Sứ, An Sát Sứ và Lãnh Binh Sứ trong coi việc cai trị Và từ đó địa danh tỉnh Quảng nam bắt đầu có trên lịch sử Việt Nam Về phương diện hành chính, dưới triều Minh Mạng, Quảng Nam được chia làm 8 Phủ, Huyện Bốn Phủ thuộc miền duyên hải, từ Bắc vào Nam là Điện Bàn (gồm cả Thị xã Hội An), Duy Xuyên, Thăng Bình và Tam Kỳ Bốn Huyện thuộc miền cao, tạm gọi là Sơn cước gồm: Hòa Vang (gồm cả Thị xã

Đà Nẵng), Đại Lộc, Quế Sơn và Tiên Phước.Năm 1884, căn cứ vào một điều khoản của bản Hiệp ước Patenôtre ký ngày 6-6-1884, Toàn quyền Đông Dương Richaud đã ép vua Đồng Khánh phải nhượng chủ quyền ba tỉnh lớn nhất là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng cho Pháp Và Đạo dụ ấy đã được Toàn quyền Đông Dương chuẩn y bằng Nghị định ngày 02-10-1888 Ngày 24-05-

1889, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định Thành lập thành phố Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam Ngày 19-09-1905, Toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định tách thành phố Đà Nẵng khỏi tỉnh Quảng Nam

Thời kỳ sau 1945, Quảng Nam lại thêm nhiều lần điều chỉnh địa giới và tên gọi Năm 1952, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sát nhập

Trang 16

Quảng Nam và Đà Nẵng thành một đơn vị hành chính là tỉnh Quảng Nam –

Đà Nẵng Sau Hiệp định Geneve (1954), miền Nam – Việt Nam bị đặt dưới

sự cai trị của chính quyền Sài Gòn Năm 1962, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm (Đệ I Cộng Hòa) chia tỉnh Quảng Nam ra thành hai tỉnh: Quảng Nam và Quảng Tín Các phủ, huyện đều gọi là Quận, các làng gọi chung là xã Quảng Nam có 9 huyện: Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đức Dục, Hiếu Đức, Hiếu Nhơn, Thường Đức, Quế Sơn, Hòa Vang và một Thị xã

Đà Nẵng Quảng Tín gồm sáu quận: Tiên Phước, Thăng Bình, Hiệp Đức, Hậu Đức, Lý Tín và Tam Kỳ Trong quá trình kháng chiến, Uỷ ban Kháng chiến Quảng Nam – Đà Nẵng (Khu ủy V) đã ra nghị quyết chia tỉnh Quảng Nam thành hai đơn vị hành chính: tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà (sau gọi là Đặc khu) Sau khi miền Nam được giải phóng, Ủy ban Nhân dân Cách mạng Khu Trung bộ đã ra quyết định số 119/QĐ ngày 04-10-1975, hợp nhất tỉnh Quảng Nam và Đặc khu Quảng Đà thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng Theo quyết định Chính phủ ngày 19-6-1993, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng gồm một Thành phố (Đà Nẵng), hai Thị xã (Hội An, Tam Kì) và 14 huyện (Hòa Vang, Hiên, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Giằng, Quế Sơn, Thăng Bình, Phước Sơn, Hiệp Đức, Tiên Phước, Núi Thành, Trà My, Hoàng Sa).Tại kì họp thứ X của Quốc hội khóa IX (tháng 10-1996), tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được tách ra làm hai đơn vị hành chính: tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương Năm 1997, Quảng Nam và Đà Nẵng tiến hành từng bước xây dựng và phát triển cho đến ngày nay

Như vậy, tên gọi của xứ Quảng được thay đổi theo từng bối cảnh xã hội

và lịch sử khác nhau Thời kì các triều đại phong kiến Việt Nam như Trần,

Lê, Hồ, Nguyễn thì xứ Quảng vẫn còn giữ nguyên, chỉ mang nhiều tên gọi khác nhau như: Hóa Châu; Chiêm Động; Quảng Nam; Quảng Nam xứ; Trấn Quảng Nam; Dinh Quảng Nam, Quảng Nam Doanh Đến thời Minh Mạng thì

Trang 17

các trấn và doanh đều được đổi thành tỉnh, cho nên tỉnh Quảng Nam ra đời Đến thời Pháp thuộc, xứ Quảng được tách ra làm Quảng Nam – Đà Nẵng Khi

ủy ban kháng chiến quản lí thì tách xứ Quảng thành tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà Cho đến ngày hòa bình, Chính phủ mới ban quyết định thành lập Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam riêng Tuy trải qua nhiều biến cố với những cách gọi khác nhau về vùng đất xứ Quảng nhưng dù có tách tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng ra riêng biệt đi chăng nữa thì hai mảnh đất này vẫn có chung một cội nguồn văn hóa của vùng đất xứ Quảng rộng lớn Cho nên người xứ Quảng vẫn luôn tâm niệm: “Tách tỉnh chứ không chia tình” để khẳng định nguồn gốc văn hóa dân gian chung của những người con sinh sống trên mảnh đất xứ Quảng giàu truyền thống văn hóa

1.1.2.Đặc điểm về địa lí, dân cư

Xứ Quảng là vùng đất rộng nằm trên vùng duyên hải miền Trung, kéo dài từ đèo Hải Vân chạy đến núi Phong thuộc tỉnh Quảng Ngãi, bao gồm hai tiểu vùng là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng Quảng Nam nằm trong tọa độ địa lí 107 độ 12’16” đến 108 độ 44’04”độ kinh Đông và từ 14 độ 57’10” đến 15 độ 33’25” độ vĩ Bắc Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum, phía Tây giáp nước Lào và phía đông là biển Đông Thành phố Đà Nẵng gồm vùng đất liền

và vùng quần đảo trên biển Đông Vùng đất liền nằm ở 15 độ 55’ đến 16 độ 14’ vĩ độ Bắc, 107 độ 18’ đến 108 độ 20’ kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây và Nam giáp Quảng Nam và phía Đông giáp biển Đông Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa năm ở 15 độ 45’ đến 17 độ 15’ vĩ độ Bắc,

111 độ đến 113 độ kinh độ Đông, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Nam

Tổng diện tích đất tự nhiên của Quảng Nam là 1.043.836,96 ha, trong đó đất chưa qua sử dụng là 2.932,98 ha Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp

Trang 18

huyện, gồm 2 thành phố và 16 huyện, với 224 xã/ phường/ thị trấn Nhìn chung, vị trí địa lí của tỉnh khá thuận lợi không những cho phát triển kinh tế,

xã hội mà còn cho việc giao lưu văn hóa, nghệ thuật với các địa phương trong nước và quốc tế Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.283,42 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 251,51 km2

, các huyện ngoại thành chiếm1.041,91 km2 Thành phố Đà Nẵng có 6 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ; có hai huyện: Hòa Vang, Hoàng Sa và bao gồm 45 phường và 11 xã Ngoại trừ quận Cẩm Lệ, năm quận còn lại của thành phố đều giáp biển Đây là một trong những lợi thế hàng đầu của thành phố

Xứ Quảng bao gồm Quảng Nam – Đà Nẵng là một vùng đất có địa hình

đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông Vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài

ra biển, một số đồi thấp xem kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng 7000 – 1500, độ dốc lớn (>400m), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái

Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, chủ yếu bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc và tỉnh Quảng Nam Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng

Xứ Quảng là vùng đất nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động Khí hậu nơi đây là nơi chuyển tiếp, đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và kéo dài Nhiệt độ trung bình từ 25 – 30 độ C; độ ẩm không khí trung bình là 83,4 %; lượng mưa trung bình năm là 2.504,57 mm/năm, cao nhất vào tháng 10,11; thấp nhất vào

Trang 19

tháng 1,2,3,4; số giờ nắng trong năm là 2.156, 2 giờ, nhiều nhất vào tháng 5,6

và ít nhất vào tháng 11,12

Tuy có chung những điểm giống nhau về địa hình và khí hậu nhưng hệ thống sông ngòi tự nhiên và các bãi biển của Quảng Nam – Đà Nẵng lại có sự khác biệt và đa dạng riêng Quảng Nam có hệ thống sông ngòi tự nhiên dài khoảng 900km, phân bố khá đều trong toàn tỉnh với hai hệ thống sông chính là: sông Thu bồn và sông Tam Kỳ Ngoài ra tỉnh còn có nhiều hồ lớn, như: Phú Ninh, Khe Tân, Việt An, Thạch Bàn, Phú Lộc,… Đường bờ biển dài 125

km, ven biển có nhiều bãi tắm nổi tiếng như: Hà My (Điện Bàn), Cửa Đại (Hội An), Bình Minh (Thăng Hoa), Tam Thanh (Tam Kỳ), Bãi Rạng (Núi Thành)… Đà Nẵng có hai sông chính là sông Hàn và sông Cu Đê, với tổng diện tích lưu vực hai con sông là hơn 5.500 km2 Ngoài ra trên địa bàn thành phố còn có các sông khác: sông Yên, Chu Bái, Vĩnh Điện, Túy Loan, Phú Lộc… Bên cạnh đó Đà Nẵng còn có tiềm năng về nguồn nước ngầm tệp đá vôi Hòa Hải – Hòa Qúy và khu Khánh Hòa Vùng biển Đà Nẵng có khá nhiều bãi tắm đẹp và nổi tiếng như: Non Nước (Q.Ngũ Hành Sơn), Bắc Mỹ An (Q.Ngũ Hành Sơn), Mỹ Khê (Q.Sơn Trà) Phạm Văn Đồng, Xuân Thiều (Liên Chiểu), Thanh Bình (Hải Châu), các bãi tắm thuộc bán đảo Sơn Trà… Nhìn chung, điều kiện tự nhiên về địa lí của xứ Quảng (thời tiết, khí hậu, địa hình

và tài nguyên biển) có rất nhiều thuận lợi, tiềm năng cho phát sự nghiệp văn hóa đa dạng, độc đáo và phát triển các ngành du lịch, dịch vụ, thúc đẩy kinh tế vùng mạnh mẽ

Xứ Quảng là vùng đất được đánh giá có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng và tài nguyên đất Bên cạnh các tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng thì hai tiểu vùng Quảng Nam và Đà Nẵng còn có nguồn tài nguyên về rừng tự nhiên, các khu bảo tồn thiên nhiên khá lớn và có giá trị

Trang 20

nghỉ dưỡng cao như: Bà Nà, Sơn Trà, Nam Hải Vân, Nam Gianh…và các tài nguyên đất có giá trị kinh tế

Suốt chiều dài lịch sử hình thành và xây dựng vùng đất xứ Quảng thì cư dân ở vùng đất này cũng khá đa dạng về nguồn gốc và chủng tộc Từ thời xa xưa khi còn là đất Chiêm Thành thì nơi này thì cư dân người Chăm là chủ yếu, nhưng qua quá trình đấu tranh và thu phục của người Việt thì dần dần người Chăm đã được thu phục và trở thành công dân nước Việt một cách chính thống Cho tới ngày nay thì trên mảnh đất xứ Quảng có rất nhiều dân tộc và người nước ngoài sinh sống, trong đó người Kinh là chủ yếu, đến người Hoa và có 4 dân tộc người thiểu số cư trú lâu đời là người Cơ Tu, người Co, người Gié Triêng, người Xê Đăng và một số tộc người mới di cư đến Nhìn chung, khối cộng đồng dân cư trên mảnh đất xứ Quảng phát triển theo dòng thời gian của lịch sử, cho nên trong quá trình đó họ đã cùng nhau đoàn kết, giao lưu, tồn tại và chung tay phát triển, đấu tranh chống phong kiến, giặc ngoại xâm và xây dựng mảnh đất quê hương

1.1.3.Nét đẹp con người xứ Quảng

Xứ Quảng từ xa xưa cho tới ngày nay luôn là một mảnh đất có nhiều giá trị văn hóa tiềm ẩn mà các nhà nghiên cứu luôn muốn khám phá và tìm tòi

“Cái không gian xứ Quảng ấy không phải là miền đất hoang sơ mà đã là một không gian của những nền văn hóa rất đặc sắc và phong phú, một lãnh thổ đã từng tồn tại và phát triển một quốc gia của cư dân bản địa gắn với dân tộc Chăm mà sau này giao hòa với người Việt để tạo nên một không gian văn hóa đặc thù và đặc sắc xứ Quảng trong lòng Đại Việt” [5;19] Với giá trị truyền thống lịch sử trong quá trình hình thành văn hóa lâu đời và nhiều giá trị như vậy thì con người xứ Quảng đã tạo cho mình những dấu ấn riêng trong tính cách chung của người Việt Nam

Trang 21

Nhận xét về người Quảng sách Đại Nam nhất thống chí – Tỉnh Quảng Nam do Quốc sử quán triều Nguyễn thời vua Tự Đức, cách đây hơn hai trăm năm biên soạn, chép: “Học trò chăm học hành, nông phu chăm đồng ruộng; siêng năng sản xuất mà ít đem cho; vui làm việc nghĩa và sốt sắng việc công Quân tử giữ phận mà hổ thẹn việc bôn cạnh, tiểu nhân khí khái mà hay kiện tụng Dân ven núi sinh nhai về nghề hái củi đốn cây, tính tình chất phác; dân ven biển sinh nhai về nghề tôm cá, tính tình nóng nảy Tục ưa xa xỉ, ít kiềm thúc, hát xướng không tiếc của, ăn mặc tất lược là; thêu dệt tinh khéo, sa trừu không kém gì Quảng Đông Đến Tết nguyên đán, cúng tổ tiên, lạy cha mẹ; ngày hôm sau bầu bạn đi chúc nhau, gọi “mừng tuổi”, đầu xuân sắm cỗ bàn

để tế thổ thần; tiết trung nguyên sắm đồ mã để cúng tổ tiên; tết đoan dương cúng tổ tiên và hái các thứ lá để làm thuốc; ngày 10-3 cúng cơm mới; tháng chạp thì tảo mộ; lễ dựng nêu và trừ tịch đều có cúng rượu, chè hoa quả; tế thần tất bày trò xướng hát; lễ mừng tất đốt pháo Ngoài đồng có đền Tư Nông; trong nhà thờ Quan Thánh Mỗi làng có kẻ sĩ hành nghi mà việc tế lễ nghiêm trang; mỗi ấp có điếm canh mà giữ việc tuần phòng cẩn mật Còn như các lễ xuân thu, tùy theo từng làng giàu hay nghèo; quan, hôn, tang, tế tùy vào sự nhà (giàu) có hay túng (thiếu); việc đi lại thăm mừng, trầu rượu hay rượu cũng tùy mức” [23;11]

Trên đây là nhận xét về con người xứ Quảng từ xưa nhưng trải qua quá trình lao động, mưu sinh thì sẽ hình hành thêm hoặc loại bỏ bớt đi những tính cách không phù hợp Cho đến ngày nay thì những đức tính như “sốt sắng việc công; học trò chăm chỉ, siêng năng đèn sách; nhà nông chăm ruộng đồng; người quân tử chỉ lo phận sự của mình, chứ không thích cầu cạnh kẻ trên…”vẫn còn được lưu giữ Đây dường như không phải là bản tính an phận

mà là do người Quảng luôn chính trực, không muốn luồn cúi trước kẻ khác, luôn dựa vào thực lực của mình để vươn lên phấn đấu và lao động [24;11]

Trang 22

Ngoài ra người Quảng còn là những người thực tế, thật bụng đối đãi với khách khứa và chu toàn thờ phụng tổ tiên

Bản chất người Quảng xưa nay vốn thuần hậu, đơn sơ, giản dị, thật thà Người ta vẫn thường nhận xét người Quảng bằng những từ ngữ như “ăn cục nói hòn”, “nghĩ sao nói vậy”, không giỏi mồm mép, không “mồm mép đỡ chân tay”; họ ghét những kẻ “ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa” Họ luôn nói thẳng, trực tính, không vòng vo, có thể khi vào cuộc trò chuyện ta thường thấy họ phản biện hay lật ngược câu chuyện theo một khía cạnh khác, chứ không gật gù cho qua chuyện Điều đó đã phần nào nói lên bản chất thật thà, thuần hậu của người xứ Quảng, qua đó còn giúp ta có thể có thêm nhiều thông tin lý thú hơn.[24;11]

Với bản tính thuần hậu, chất phác trong máu thịt thì người dân đất Quảng cũng mang trong mình những truyền thống vẻ vang của người Việt từ xưa tới nay

Trước hết là truyền thống chăm chỉ, cần cù lao động và tiết kiệm: Đây là một trong những đặc tính vốn có của người Việt từ xưa đến nay và với người dân xứ Quảng nó cũng được phát huy một cách sâu sắc và đậm đà hơn.Trong quá trình khai khẩn đất hoang, cằn cỗi và ít có điều kiện trồng trọt, chăn nuôi thì đức tính chịu khó cần cù của người dân xứ Quảng đã giúp con người cải tạo thiên nhiên và sáng tạo nên những công cụ để sản xuất và nuôi sống Chính vì thế mà đã trồng trọt và chăn nuôi được rất nhiều sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp; hình thành nên nhiều làng nghề với nhiều sản vật đa dang và phong phú

Truyền thống hiếu học: Nếu Đại Nam nhất thống chí ghi nhận người Quảng ham học hỏi, cần cù bền bỉ; Quốc sử quán triều Nguyễn đánh giá: “học trò chăm học hành”… “núi sông thanh tú nên nhiều người có tư chất thông minh”, thì lịch sử cũng chứng minh rằng nét nổi bật nhất của con người xứ

Trang 23

Quảng là ý thức tự học Ta có thể thấy điều này qua suốt chiều dài lịch sử thông qua nhiều tấm gương và danh nhân văn hóa – những người con xứ Quảng đã làm lẫy lừng khắp bốn phương như: Trần Cao Vân, Phan Châu Trinh, Trần Qúy Cáp, Huỳnh Thúc Kháng…cho đến những danh sĩ của thế hệ tiếp nối như Phan Khôi, Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn, Hoàng Tụy…và cho đến ngày nay cũng đang có rất nhiều người con đất Quảng vẫn luôn giữ trong mình tinh thần hiếu học, tự học để vươn lên trong cuộc sống, làm tự hào quê hương và làm rạng danh đất nước

Truyền thống yêu nước, bất khuất, đoàn kết, chống giặc ngoại xâm: Đây

là một truyền thống ngàn đời nay của dân tộc ta và bởi vậy nó cũng đã được khơi dậy trong tiềm thức và thôi thúc hành động của mỗi người con xứ Quảng Nói đến xứ Quảng, hẳn không ai không ngưỡng mộ mảnh đất “địa linh nhân kiệt” với nhiều danh nhân kiệt xuất gắn liền với sử sách xây dựng, đấu tranh và bảo vệ đất nước như: Đặng Tất, Đặng Dung, Phạm Nhữ Tăng, Nguyễn Văn Thoại, Hoàng Diệu, Ông Ích Khiêm, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Qúy Cáp, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,

Lê Đình Dương,…và hàng ngàn chí sĩ yêu nước nữa được sinh ra và quyết đấu cho mảnh đất này, cho đất nước này

Người dân xứ Quảng hiền lành, chất phác, thật thà, thẳng thắn là vậy nhưng đứng trước những thách thức khó khăn của cuộc sống và tự nhiên, thì

đã tự mình vươn lên vượt khó để tạo nên sự sống và ổn định lâu dài Không những thế, từ những bản chất tốt đẹp thấm đượm chất Quảng ấy, đã dần dần vun đắp, hình thành và phát huy những truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam: cần cù, chịu khó, giản dị, lạc quan yêu đời, luôn tin tưởng về những điều tốt đẹp; luôn tự mình khám phá, học hỏi và sáng tạo không ngừng

và luôn giữ vững trong mình một tình yêu quê hương đất nước mạnh mẽ và

Trang 24

bền vững Thông qua nét đẹp của con người xứ Quảng ta lại phần nào yêu thêm nét đẹp của con người Việt Nam qua từng năm tháng

1.1.4.Danh nhân văn hóa, lịch sử

Với bề dày lịch sử gần 600 năm hình thành và phát triển, xứ Quảng được xem là vùng đất được hình thành khá sớm và được biết đến là vùng “đất văn hóa”, “đất khoa bảng” và còn là vùng đất “địa linh nhân kiệt” của cả nước Mảnh đất này đã sinh ra biết bao nhiêu tài danh, hào kiệt cho đất nước, góp phần làm rạng danh mảnh đất quê hương cũng như đóng góp to lớn vào quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước

Xứ Quảng từ xưa đến nay đã rất tự hào là một vùng đất Học đáng tự hào của những “Thầy Quảng” bên cạnh những Thăng Long, Kinh Bắc, Xứ Đông hay Xứ Đoài ở Bắc Bộ, của những Thanh Nghệ, Phú Xuân – Huế của Trung

Bộ hay miền Gia Định, Đồng Nai ở miền Nam Bộ Đất Quảng xưa gắn liền với bao vĩ nhân tên tuổi của lịch sử, từ những đấng quân vương thời khởi nghiệp như vua Lê Thánh Tông đến thời nhà Nguyễn từ Minh Mạng đến Duy Tân, cùng các bậc công thần của nhiều thời như Mạc Công Thần, Trần Quang Diệu, Nguyễn Công Thoại,…và nhiều nhà cách mạng thời cận đại cho tới hiện đại Tất cả đã tạo nên những trang sử hào hùng và oanh liệt sử sách của mỗi người con xứ Quảng.[6;19]

Ngay từ thời chúa Nguyễn, mảnh đất này đã hình thành nên một trung tâm văn học thứ hai của đất nước ngoài trung tâm văn học cổ kính của cựu đô

Hà Nội Xứ Quảng đã sản sinh ra rất nhiều danh nhân khoa bảng, từ Tân Khoa, Tiến Sĩ cho tới Phó Bảng Bởi vì những tài năng văn chương nở rộ ấy

mà đã tạo nên nhiều kì tích, như kì tích 5 người đông hương cùng đậu Tiến Sĩ trong một kì thi Tiến Sĩ, đã được Vua Thành Thái và triều Nguyễn ban danh hiệu “Ngũ Phụng Tề Phi” để khen tặng Năm vị Tiến Sĩ đồng hương trúng tuyển là Phạm Liệu, Phan Khoa, Phạm Tuấn, Ngô Lý và Dương Hiền Tiến

Trang 25

Ngoài ra khoa Tân Sửu (1901), xứ Quảng lại có 4 vị đỗ đồng khoa Phó Bảng

là các ông Nguyễn Đình Hiền, Nguyễn Mậu Hoán, Võ Sỹ và Phan Châu Trinh Bốn vị này được mệnh danh là “Tứ Kiệt” Những danh hiệu “Ngũ phụng Tề phi” hay “Tứ Kiệt” đã nói lên tài học và sự vinh hiển đỗ đạt của những người con xứ Quảng nói chung và người danh sĩ nước Việt nói riêng Bên cạnh những danh nhân tài ba, có chí hướng hiếu học thì trên mảnh đất này còn rất nhiều danh nhân có công trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Nguyễn Văn Thoại tức Thoại Ngọc Hầu là một người con xứ Quảng

ưu tú, một công thần suốt đời tận tụy vì cơ đồ của nhà Nguyễn hơn 50 năm cuộc đời Ông đã có rất nhiều đóng góp trên các mặt quân sự, ngoại giao, kinh

tế và được các triều chúa Nguyễn tin dùng, được nhân dân tin tưởng và kính trọng Ông Ích Khiêm, danh tướng tài ba và tiết tháo, một người con ưu tú của

xứ Quảng Ông Ích Khiêm đương thời phụng sự chúa Nguyễn đã lập được rất nhiều công lao trong việc trấn giữ thành quách và chiến đấu chống quân xâm lược tràn vào nước ta Ông Ích Khiêm là một võ quan yêu nước, tiết tháo, thanh liêm, hết lòng phò vua, giúp nước Chính vì vậy mà ông được vua Tự Đức và nhân dân tin dùng và vô cùng kính trọng, nể phục Ngoài những vị danh tướng tài ba như Nguyễn Văn Thoại, Ông Ích Khiêm thì những danh sĩ yêu nước thương dân của xứ Quảng còn rất nhiều Họ thi đỗ làm quan bằng tài năng của mình, khi gặp thời loạn, đất nước bị ngoại xâm thì họ sẵn sàng đứng lên chống giặc, bảo vệ tổ quốc và tham gia rất nhiều phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Điển hình như Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu, Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Thành, Phan Chu Trinh, Trần Qúy Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Đình Dương, Phan Thành Tài… Tất cả đã cùng nhau tạo nên một làn sóng những người con xứ Quảng yêu nước, sẵn sàng đứng lên đấu tranh vì đất nước, vì nhân dân và vì Tổ Quốc

Trang 26

Như vậy, những danh nhân kể trên, họ đều là những người con xứ Quảng giàu truyền thống quê hương, đất nước Trong chiều dài lịch sử, họ có thể thành công cũng có thể thất bại, nhưng suy cho cùng họ đều đã tận tâm dốc sức hết mình cho quê hương, cho đất nước Họ là những gương mặt tiểu biểu, điển hình cho những thế hệ người Việt yêu nước, sống và sẵn sàng hi sinh cho đất nước Những người con xứ Quảng ấy đã góp phần làm rạng danh và điểm

tô cho mảnh đất “địa linh nhân kiệt” nơi đây

1.2.Xứ Quảng – đặc điểm văn hóa dân gian

1.2.1.Những di chỉ, địa danh mang dấu ấn văn hóa – lịch sử

Trên mảnh đất này đã tìm thấy khá nhiều dấu tích và di tích văn hóa thời kim khí ở thiên niên kỉ thứ nhất trước Công Nguyên, đó là văn hóa hậu Sa Huỳnh, sau được các bộ tộc Chăm Pa kế thừa và phát huy một cách độc đáo với những kinh đô, thành quách uy nghi và tráng lệ mà ngày nay vẫn còn dấu tích Chính vì vậy, nếu ngược dòng lịch sử thì xứ Quảng là một mảnh đất ấn chứa nhiều giá trị về văn hóa và lịch sử của nhân loại

Nói về dấu tích người Chăm trong quá trình tồn tại với đất Chiêm Thành thì ta sẽ nghĩ ngay đến hệ thống những công trình kiến trúc kinh đô, thành quách tráng lệ xa xưa mà người Chăm tạo dựng Ngày nay những dấu vết, di chỉ đó còn tồn tại ở một số huyện trên đất Quảng, như: Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Khương Mỹ, Bàng An, Chiên Đàn,….Trong đó có khu di tích thánh địa Mỹ Sơn được xem là có giá trị nhất Đây từng là nơi tổ chức cúng tế của vương triều Chăm Pa, cũng như là lăng mộ của các vị vua Chăm Pa hay hoàng thân, quốc thích Thánh địa Mỹ Sơn được coi là một trong những trung tâm đền đài chính của Ấn Độ giáo ở khu vực Đông Nam Á và là di sản duy nhất của thể loại này tại Việt Nam Năm 1999, thánh địa Mỹ Sơn đã được UNESCO chọn là một trong các di sản thế giới và hiện nay, nơi đây đã được

Trang 27

thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng

Phố cổ Hội An: Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á được bảo tồn nguyên vẹn và chu đáo Hội An cũng là vùng đất ghi nhiều dấu ấn của sự pha trộn, giao thoa văn hóa Bên cạnh những giá trị văn hóa qua các công trình kiến trúc thì Hội An còn lưu giữ một nền văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú Với những giá trị nổi bật thì năm 1999, UNESCO đã công nhân đô thị cổ Hội An là một di sản văn hóa thế giới

Núi Ngũ Hành Sơn: Ngũ Hành Sơn hay núi Non Nước là một thắng cảnh nổi tiếng và trong kí ức của nhiều người thì đây con là vùng “địa linh” của xứ Quảng xưa nay Quần thể Ngũ Hành Sơn nằm trên địa phận xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 8km, về phía đông nam, ngay trên tuyến đường Đà Nẵng – Hội An Ngũ Hành Sơn gồm năm ngọn núi chính: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thổ Sơn, Thủy Sơn và Hỏa Sơn Mỗi ngọn núi có một vẻ đẹp riêng về hình dáng, chất liệu đá, về hang động, chùa chiền bên trong Ngũ Hành Sơn còn mang trong mình nhiều dấu ấn văn hóa lịch sử in đậm trong các hang động và các công trình chùa, tháp ở các thế kỉ trước như: mộ mẹ tướng quân Trần Quang Diệu, đền thờ công chúa Ngọc Lan (em gái vua Minh Mạng), bút tích sắc phong quốc tự còn lưu giữ tại chùa Tam Thai của triều Nguyễn và còn khá nhiều di tích lịch sử đấu tranh của nhân dân Việt như: địa đạo núi đá Chồng, hang Bà Tho, núi Kim Sơn, hang Âm Phủ…

Thành Điện Hải: Năm 1813, vua Gia Long cho xây dựng ở tả ngạn sông Hàn một thành bằng đất ở gần bờ biển, gọi là Bảo Điện Hải, xây bằng gạch là

Trang 28

lùi sâu hơn vào đất liền trên đất làng Thạch Thang, xứ Trèm Trẹm như thấy hiện nay và gọi là Đài Điện Hải, năm 1834 gọi là Thành Điện Hải Năm 1840, Tham tri Bộ công Nguyễn Công Trứ vào xem xét hệ thống phòng thủ ở Đà Nẵng, sau đó có đề nghị tăng cường phòng thủ các thành Điện Hải, An Hải Năm 1847 (Thiệu Trị thứ 7), thành Điện Hải được mở rộng có chu vi 556m, thành cao hơn 5m, chung quanh là hào sâu 3m Thành có 2 cửa, một cửa mở

về phía Nam (cửa chính), một của mở về phía Đông Trong thành có hành cung, có kỳ đài, các cơ sở chứa lương thực, đạn dược, thuốc súng và được trang bị 30 ụ đại bác cỡ lớn Thành xây bằng gạch theo đề án thiết kế kiểu Vauban, hình vuông Hiện nay, di tích thành Điện Hải tọa lạc tại phường Thạch Thang, quận Hải Châu, Đà Nẵng Tường thành phía Đông, Tây và các góc tương đối còn nguyên vẹn Cửa thành phía Nam đã mất và phía Bắc đã hư hại Thành Điện Hải là một trong những dấu ấn ghi nhớ truyền thống đấu tranh chống Pháp của nhân dân Đà Nẵng và nhân dân cả nước, quyết tâm giữ vững nền độc lập dân tộc, bảo vệ lãnh thổ Đây cũng là đồn lũy quan trọng góp phần đánh bại cuộc tấn công của thực dân Pháp vào Đà Nẵng những năm

1858 – 1860 Một tượng đài uy nghi của Tướng quân Nguyễn Tri Phương đã được dựng tại đây, để ghi nhớ một giai đoạn lịch sử hào hùng của thành phố Thành Điện Hải đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia năm 1988

Bên cạnh những di tích lịch sử, văn hóa lớn được kể trên thì xứ Quảng còn rất nhiều những di tích, lịch sử văn hóa có giá trị trong suốt chiều dài lịch

sử hình thành và phát triển vùng đất này Ta có thể tham quan và gặp gỡ một

số di tích lịch sử và văn hóa tại thành phố Đà Nẵng như: Đình Hải Châu, Đình Đại Nam, Đình Đồ Bản, Đình Túy Loan, thăm qua một số bảo tàng như: Bảo tàng Chăm, bảo tàng Quân khu 5, bảo tàng Đà Nẵng, bảo tàng Hồ Chí Minh; Một số chùa: chùa Linh Ứng, chùa Tam Thai….Một số các di tích lịch sử và

Trang 29

văn hóa tại tỉnh Quảng Nam như: địa đạo Kì An, khu di tích Nước Oa, Khu di tích Phước Trà, rừng dừa bảy mẫu, giếng Nhà Nhì (còn được gọi là Ao 7 dũng

Sĩ Điện Ngọc), tượng đài chiến thắng Núi Thành, Nước là – Nam Trà My căn

cứ kháng chiến của Liên khu V…

1.2.2.Đặc sản quê hương

Nếu nói đến văn hóa xứ Quảng mà không nói đến đặc sản quê hương vùng miền nơi đây thì quả là một thiếu sót rất lớn Với những cố gắng trong quá trình cải tạo và làm chủ thiên nhiên, con người Việt Nam nói chung và con người xứ Quảng nói riêng đã gửi gắm hương vị quê hương của mình vào những sản vật, đặc sản mang hương vị quê nhà, rất giản dị, rất nhẹ nhàng mà không kém phần thanh cao

Nói đến xứ Quảng là người ta sẽ nghĩ ngay đến mì Quảng, một món ăn được xem là đặc sản của người Quảng, của xứ Quảng lưu truyền khắp muôn phương Mì Quảng càng ăn càng đậm đà, qua tô mì quảng ta thấy nức lòng một hương vị Quảng “đậm đà” như người Quảng nơi đây vậy

Bánh tráng cũng là một loại đặc sản của người Quảng Bánh tráng tuy không phải là sản phẩm lạ với người Việt Nam, vì thực ra trên dãy đất miền Trung, từ Huế vào Phú Yên, hầu như nơi nào cũng có những làng nghề bánh tráng, được xem là sản vật địa phương Nhưng với người dân xứ Quảng bánh tráng không chỉ là một loại bánh tráng thuần túy, ăn như bình thường, mà qua bánh tráng người ta đã sáng chế thêm được khá nhiều món ăn mới.Từ bánh tráng ta có thể thưởng thức thêm những món ăn rất dân dã và thơm ngon như: Bánh tráng cuốn cá nục, bánh tráng cuốn thịt heo, bánh tráng đập….Bánh tráng không chỉ có trong những món ăn hằng ngày mà trong nhiều nghi lễ tế cúng, người Quảng thường đặt trong mâm cỗ như những món ăn khác, với ý nghĩa tâm linh đặc biệt liên quan đến đời sống con người đất Quảng

Trang 30

Với vị trí địa lí là vùng đất giáp với biển nên người dân xứ Quảng cũng được hưởng nguồn cá tươi thơm ngon từ biển cả Cá chuồn là một trong những món ăn khá phổ biến của người Quảng độ hè về Cá chuồn là loài cá có dáng thon dài, lưng xanh, bụng trắng, cánh dài tận đuôi,có thể bay thấp Cá chuồn được chế biến thành nhiều món ngon: cá chuồn áp nén chiên giòn, cá chuồn nấu canh với rau ranh, rau muống, nấu cháo gạo, kho, luộc…và có lẽ ngon nhất là món cá chuồn nướng, món ăn dân dã, đơn giản, rẻ tiền nhưng hương vị khó quên

Ngoài giáp biển thì xứ Quảng còn có thuận lợi là có nhiều sông hồ bao quanh, cho nên nguồn tôm cá ở đây cũng khá dồi dào Nếu được một lần ghé thăm một số vùng quê ngoại thành của thành phố Đà Nẵng như Hòa Vang, Hòa Khương, Hòa Thọ thì ắt hẳn sẽ nghe câu tục ngữ “Cá mòi sông Yên, cá liên Phú Túc”, hai loại cá nhỏ bé trên sông Yên và thôn Phú Túc, đặc sản trung du của vùng trung du huyện Hòa Vang Hai loại cá này chế biến khá dễ dàng và có thể chế biến được nhiều món ăn như: Kho rim, chiên dòn, nước chín chấm muối sống ớt xanh, làm chả cá,… Sở dĩ những loại cá ngày khá quen thuộc và trở thành đặc sản của vùng đất này là do lịch sử gắn bó của cư dân nơi đây Trong quá trình sinh sống họ đã phải vật lộn với tự nhiên và việc tìm ra một loài cá để nuôi sống cũng là một quá trình lịch sử lâu dài, “Cá mòi sông Yên, cá liên Phú Túc” gắn liền với đất đai, sông núi một vùng, là sự đúc kết kinh nghiệm thăng trầm qua bao đời của nhân dân nơi đây mới có được Trái loòng boong là một sản vật quý của xứ Quảng Lòong boong là loại trái kết thành chùm ở thân cây và cành, có chùm đơn và chùm kết, trông hình dáng như chùm nho Trái to bằng ngón tay cái hoặc nhỉnh hơn, hình bầu dục, màu vàng nhạt, vỏ mỏng, ruột có năm múi trắng trong, trong mỗi múi đều có hạt Trái lòong boong không chỉ là một loại trái cây bình thường mà trong sử sách, loại trái này được lưu truyền là đã giúp vua Gia Long thoát cơn bĩ cực,

Trang 31

sau khi bị vây bắt trong rừng Sau khi cảm nhận được vị ngon của loại trái quý này, nhà vua đã không ngớt lời khen và đưa nó vào loại sản vật quý, trái cây ngon của nước Việt

Ngoài những đặc sản về món ăn đậm hương vị xứ Quảng thì thức uống cũng là một đặc sản của người Quảng Người dân xứ Quảng cũng như người dân miền Trung từ Nghệ Tĩnh tới Bình Định, Phú Yên…họ thích uống chè xanh, để nguyên lá nấu chín Họ khoái uống chè xanh từ các ấm đất rót thẳng xuống tô lớn, sủi bọt trắng li li bốp bốp vỡ ra cứ như người ta uống bia vậy Ở Quảng Nam, chè xanh Tiên Phước nổi tiếng là ngon, vị thanh và cổ họng ngọt sau khi uống

Do vị trí địa hình và khí hậu, vùng đất Quảng đã hình thành nên một thảm thực vật đa dạng và phong phú, trong đó có khá nhiều loại thuốc quý có giá trị lớn cần được duy trì, bảo tồn và khai thác Và đặc biệt là trên núi Ngọc Linh có nguồn sâm rất quý giá của Việt Nam, có giá trị rất lớn trong y học, kinh tế và khoa học

Với tài hoa và sự khéo léo của mình, người dân xứ Quảng đã tạo cho mình những dấu ấn khó phai qua những món ăn, thức uống và sản vật có giá trị địa phương của mình Đến với xứ Quảng là đến với những gì bình dị và thuần hậu, chất phác Làm sao ta có thể quên được tô mì Quảng đậm đà, no nê; những sản phẩm từ bánh tráng dòn tan, dai dẳng nhưng không kém phần ngon miệng và còn rất nhiều thứ khác mà ta muốn dừng chân lại mảnh đất này để khám phá

1.2.3.Phong tục, lễ hội và tín ngưỡng

Cũng như cộng đồng người Việt ở nhiều vùng miền trên khắp đất nước thì từ lâu người Việt ở xứ Quảng còn giữ khá đầy đủ các hình thức nghi lễ liên quan đến cuộc sống của một con người, trong đó có những mốc sự kiện chính và quan trong nhất là: sinh đẻ, cưới xin và tang ma Bên cạnh những tập

Trang 32

tục chung đó thì người dân xứ Quảng cũng có một số những hình thức tín ngưỡng, linh thiêng riêng biệt như sau:

Lễ hội cầu ngư: Trong dòng tiếp biến văn hóa thì người Việt đã tiếp thu

từ người Chăm các hình thức thờ cúng, các nghi lễ,…như việc thời cúng cá Ông/ Voi từ người Chăm chuyển sang trở thành thần Nam Hải cự tộc trong cư dân người Việt Lễ hội cầu ngư được tổ chức ở tất cả các vùng ngư dân, làng chài ven biển nhằm tôn vinh Cá Ông, tương truyền là vị thần Ngư Hải đã từng cứu ngư dân gặp nạn trên biển, đồng thời cũng cầu thần Ngư Hải giúp cho ngư dân được vụ mùa đánh bắt cá bội thu Lễ hội thường được tổ chức vào tháng Giêng âm lịch, ngày vụ mùa ra khơi đánh cá của ngư dân Trong suốt lễ hội ngoài phần lễ ra thì còn diễn ra rất nhiều hình thức hội, trong đó có hát bả trạo, một hình thức văn hóa dân gian đóng vai trò tích cực sinh động, tạo bầu không khí hưng phấn, vui thú, làm hấp dẫn phần lễ hội Bên cạnh Lễ hội cầu ngư thì còn có lễ tang cá Ông, nhằm thể hiện sự biết ơn, tưởng nhớ tới cá Ông, vị thần Ngư Hải đã có công rất lớn với ngư dân trên biển

Lễ hội đình làng: Trong suốt quá trình di cư và tạo dựng cuộc sống của mình thì khi chọn được mảnh đất an cư lạc nghiệp, các bậc tiền nhân, tùy theo địa phương, có nơi chọn ngày lập làng, có nơi lấy ngày đầu tiên của tiền nhân đến đất mới, có nơi lấy ngày bắt đầu cho vụ mùa nông nghiệp hay ngư nghiệp, có nơi lấy ngày đặt danh xưng của làng mình mà tổ chức lễ hội, gọi là

Lễ hội đình làng hay lễ hội cầu yên / cầu an Lễ hội đình làng thường được tổ chức ở một số làng như: Tân Thái, Túy Loan, Hòa Mĩ,…

Lễ mục đồng làng Phong Lệ: Làng Phong Lệ, thuộc huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Lễ mục đồng làng Phong Lệ được tổ chức là nhằm tế Thần Nông, cùng tưởng niệm tiền nhân và cũng là ngày lễ của giới mục đồng

Lễ được người dân trong làng tổ chức để cầu cho mưa thuận gió hòa, trông vụ mùa được tốt tươi, cho nhân dân được mùa lúa, hoa màu một cách thuận lợi

Trang 33

Bên cạnh phần lễ ra thì phần hội cũng khá nhộn nhịp với nhiều màn diễn, trò chơi dân gian được tổ chức như: hát hò đôi, đấu võ, đấu vật,…

Lễ tế nghĩa trủng Hòa Vang: Là lễ hội tế các vị tướng cùng các nghĩa sĩ

đã hy sinh trong cuộc chiến đấu với quân xâm lược Pháp, kết hợp cùng với lễ

tế Thành hoàng và các bậc Tiền hiền làng Khuê Trung Xứ Quảng còn có các tục thờ các vị thần nữ có công với nhân dân, với đất nước Như Lễ hội Bà Phố Thị được tổ chức nhằm tôn vinh người phụ nữ đã chiến đấu dũng cảm vì nước quên thân Và một số lễ hội tiêu biểu mang tính tâm linh như: Lễ hội Bà Thu Bồn; Lễ hội bà chúa tằm tang xứ Quảng…

Ngoài những lễ hội kể trên thì người dân xứ Quảng còn tổ chức khá nhiều lễ hội văn hóa có giá trị khác như: Lễ hội Phật đản, Lễ hội Quan Thế

Âm tại Ngũ Hành Sơn, Lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu của người Hoa ở Hội

An, Lễ giỗ Tổ nghề đức đồng làng Phước Kiều, Lễ hội Thí võ làng Gián Đông, Lễ hội Long Chu làng Thanh Khê,…

Tất cả các lễ hội, tín ngưỡng được tổ chức đều tạo nên dấu ấn linh thiêng của người dân xứ Quảng trong suốt quá trình sinh sống và sinh hoạt trên mảnh này Nó còn góp phần quan trọng trong việc làm phong phú nền văn hóa Việt Nam linh thiêng và giàu truyền thống

1.2.4.Đặc điểm văn học dân gian xứ Quảng

Văn học dân gian của người Việt nói chung và của người dân xứ Quảng rất đa dạng và phong phú với nhiều thể loại khác nhau Nằm trong dòng chảy văn học dân gian Việt Nam, thì xứ Quảng cũng là nơi sáng tạo ra nhiều tác phẩm văn hóa, văn học dân gian có giá trị Tất cả những sáng tác ấy đều mang

âm hưởng quê hương, gắn liền với vùng đất mà họ từng gắn bó suốt nhiều thế

kỉ

Truyện kể dân gian xứ Quảng cũng khá đa dạng về nội dung, nó thường được kể lại từ một số các nghệ nhân dân gian lâu đời hoặc được kể thông qua

Trang 34

những di vật từ xưa di truyền lại cho con cháu Truyện kể dân gian phản ánh nhiều khía cạnh của con người xứ Quảng như: Lịch sử các vùng đất, di tích – thắng cảnh, về những nhân vật lịch sử hay là về những câu chuyện về lời ăn tiếng nói hằng ngày của những con người dân dã, bình dị nơi đây

Để giải thích cho các hiện tượng tự nhiên, người Quảng lưu truyền nhiều chuyện kể dân gian liên quan đến nhiều ngọn núi, con sông, bãi đá,… Như truyền thuyết về Ngũ Hành Sơn với mô típ mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, thì ở đây là rồng đẻ ra trứng, trứng nở ra thành một nàng tiên và vỏ trứng nở

ra chia thành năm mảnh thành năm ngọn núi lớn: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Thần thoại sự tích núi Thạch Bồ lại kể về một vị thần cao lớn lạ thường, nhổ tre vặn thừng đan sọt, lấy cây tre làm đòn gánh, gánh đất đắp sông Thần thoại

Lò Thung cũng kể câu chuyện về ông khổng lồ gánh đất đắp sông, đánh nhau với rái cá, chẳng may té ngã, hai tảng đá lớn ở hai đầu gánh văng ra xa, làm thành hai quả núi, thành hang, thành bờ đá ven sông Đáng chú ý nhất trong chủ đề khai phá giang sơn là truyền thuyết đấy Gò Nổi với lưu dân xứ Quảng tên là Lê Văn Đạo

Các di tích văn hóa – lịch sử, danh lam thắng cảnh có một số chuyện về

“Hành Sơn – Sài Thủy” (tức Ngũ Hành Sơn và Chợ Củi), những câu chuyện

về “Bà Nà núi chúa”, về “Chùa Cầu” ở Hội An, chuyện về “Miếu Huyền Trân công chúa” hay chuyện “miếu Thánh Nương” tại bãi Trẹ - Sơn Trà, chuyện

“Miếu công Chài”,…hay danh thắng Sơn Trà, vùng sinh thái khá lý tưởng, từng được mang tên Tiên Sa với nhiều huyền thoại kì thú như: Bãi biển Tiên

Sa với huyền thoại Tiên nữ tắm; bãi đá với 3 ngôi miếu cổ; bãi Bụt; bãi Xếp; Bãi Trẹ với hòn Ông Mụ…Tất cả đều mang dấu ấn huyền thoại, linh thiêng

và mang dấu ấn văn hóa dân gian

Ngoài ra còn rất nhiều truyện kể liên quan đến đời sống con người xứ Quảng từ xưa tới nay như: Chuyện “bách nhẫn thành kim”, Chuyện Tết xứ

Trang 35

Quảng, câu chuyện về rượu Hồng Đào đất Quảng, chuyện mười hai bến nước của người xứ Quảng, chuyện đường Cây Thông, Câu chuyện hạt gạo là hạt ngọc trời ban cho,…

Các nhân vật lịch sử, những con người được sử sách lưu truyền, trở thành những giai thoại mà khắp dân gian còn lưu truyền: Giai thoại về quan Tham nghị Lê Cảnh; Thái phó Quận công Trần Quang Diệu; Thành tích và giai thoại về Thoại Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại; Giai thoại Bà Phi Yến, về tổng đốc Hoàng Diệu, về Tiểu phủ sứ Ông Ích Khiêm, Chí sĩ Phan Châu Trinh, Nhà giáo Lê Văn Mùi, Võ sĩ Hồ Cư,….Bên cạnh những anh hùng, chí

sĩ yêu nước kiệt xuất xứ Quảng được ghi danh sử sách thì những chuyện kể về những con người bình dị, tài hoa đã làm nên lịch sử như: Bà Phố Thị, Bà Chúa Tằm Tang xứ Quảng, Bà Chợ Được, chuyện về Bà Thân lập làng, chuyện Lí Đình Ngư, chuyện về thầy Lánh,…hay những chuyện cười, giai thoại nhằm phê phán các thói hư tật xấu, ca ngợi tài trí, đức độ, dũng cảm của người bình dân xưa như: “Chàng trai trong Giỏ đựng chày”, một số truyện cười về “ông mai, bà mối” như truyện cười về chàng Thủ Thiệm túc trí, đa mưu

Xét trong tổng quan văn học dân gian xứ Quảng thì truyện kể dân gian cũng chỉ là một phần trong Văn học dân gian Người Quảng có đóng góp rất nhiều trong văn học dân gian với một khối lượng lớn ca dao, dân ca, hò vè, câu đố, tục ngữ…

Ca dao, dân ca xứ Quảng thuộc dạng phong phú nhất nước với một khối lượng đồ sộ và không thua kém bất kì vùng văn hóa nào Ca dao, dân ca xứ Quảng cũng có những nội dung tới nhiều mảng đề tài như: quê hương, đất nước, tình yêu lứa đôi, món ăn quê hương,…Mỗi đề tài đều mang lại những hứng thú nhất định, qua tài năng sáng tạo của cha ông, ca dao, dân ca xứ

Trang 36

Quảng trở thành những bản ghi lại về quá trình sinh hoạt của con người từ xưa tới nay

Câu đố, hò vè xứ Quảng cũng rất phong phú về đề tài cũng như nội dung Nhưng nhiều nhất thì là các câu đố liên quan đến vấn đề chính trị Nhân dân dùng câu đố, câu vè để vạch mặt kẻ xấu, tôn vinh người có công và sử dụng nó như một công cụ cách mạng để đấu tranh, thông qua những ý nhị tinh

tế bên trong nội dung Những câu đố, hò vè ấy luôn thể hiện được chất nhân văn và giàu ý nghĩa

Tục ngữ cũng là một thể loại gần gũi với người dân xứ Quảng Trải qua những biến thiên của tự nhiên, người Quảng chống chọi với khá nhiều khó khăn mà thiên nhiên mang lại, cho nên trong quá trình khai khẩn, nuôi trồng

và tạo dựng sự sống họ cũng đã phần nào đúc kết kinh nghiệm của mình Từ

đó tục ngữ ra đời và gần gũi hơn với người dân trên mảnh đất này

Tiểu kết:

Từ những tổng quan về vùng đất, con người và văn hóa dân gian xứ Quảng cho thấy vùng đất này có lịch sử hình thành khá lâu đời Tuy có những đặc điểm về địa lí, kinh tế, văn hóa, xã hội riêng biệt nhưng vẫn nằm trong dòng chảy văn hóa với cả nước Trong đó, văn học dân gian đóng một phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa truyền thống của vùng đất nơi đây, nó góp phần phản ánh các mặt tự nhiên và xã hội theo dòng lịch sử một cách cụ thể, gần gũi và dễ hiểu nhất Qua đó nhấn mạnh và khẳng định công sức miệt mài của người dân lao động vùng đất xứ Quảng linh thiêng này, họ đã sống, lao động và chiến đấu trên mảnh đất quê hương tươi đẹp Truyền thống văn hóa của xứ Quảng đã in sâu vào tâm hồn và khí phách của mỗi người con xứ Quảng Tự hào với những thành quả và truyền thống

đó, người dân xứ Quảng đã và đang quyết tâm xây dựng nên cuộc sống ấm

no, tự do và hạnh phúc

Trang 37

CHƯƠNG HAI CẢNH SẮC VÀ HƯƠNG VỊ XỨ QUẢNG

2.1 Niềm tự hào danh lam thắng cảnh và vẻ đẹp trù phú của địa phương 2.2.1 Niềm tự hào danh lam thắng cảnh địa phương

Nếu ai có cơ hội một lần đứng trên đèo Hải Vân nhìn xuống thì ắt hẳn sẽ

có cảm giác rất diệu kì Bởi khi phóng tầm mắt xuống phía dưới sẽ thấy ngay một vùng biển xanh trập trùng, tựa mình bên cạnh là những ngọn núi trải dài bên bờ cát trắng Xa xa sẽ thấy ngay thành phố Đà Nẵng vươn lên mạnh mẽ với những tòa nhà đang được xây mới Phóng tầm mắt xa hơn nữa ta sẽ nhìn thấy những đám mây phiêu lãng trên ngọn núi Ngũ Hành Sơn một cách hư ảo, diệu kì Cái cảm giác như vừa lạc đến chốn bồng tiên với non nước hữu tình của bước chân đầu tiên khi vừa đến vùng đất xứ Quảng Vị trí ấy trên bản đồ được ca dao cụ thể hóa như sau:

Bắc Thừa Thiên giáp Hải Vân Nam thì Quảng Ngãi, giáp gần Núi Phong

Tây thì giáp bến sông Bung Rừng cao, rừng thấp, mấy tầng trời xanh Đông thì biển rộng thênh thênh Đất đai trăm dặm rành rành như ghi

Xứ Quảng như được bao quanh bởi núi, rừng, biển xanh và mây trắng, tạo một sự cuốn hút đến kì lạ của vùng đất linh thiêng gần sáu trăm năm tạo dựng trên dải đất miền Trung eo hẹp

Nói đến xứ Quảng thì người ta hay khái quát bằng câu “Hành Sơn, Sài Thủy” (tức Ngũ Hành Sơn và Chợ Củi) Như trong câu ca dao xưa có nhắc đến:

Quảng Nam có núi Ngũ Hành

Trang 38

Có sông Chợ Củi, có thành Đồng Dương

Chợ Củi là tên một con Sông nằm trong dinh trấn Quảng Nam thời Chúa Nguyễn và sau đổi tên thành sông Thu Bồn và đến năm Tự Đức thứ ba (1850) đổi thành Sài Thị được liệt vào hàng sông lớn nhất và quan trọng nhất của đất Quảng Nam ngày xưa Sông chợ Củi xưa kia là nơi giao lưu buôn bán nhiều mặt hàng cần thiết cho xứ Đàng Trong, người ta đến đây chủ yếu mua củi và lấy nước là chủ yếu Ngoài ra, sông Chợ Củi còn là nơi đóng đại thủy quân của chúa Nguyễn khi đánh bại các đạo quân Hà Lan vào giữa thế kỉ XIX Tên Chợ Củi ngày nay ít được nhắc tới nhưng trong những câu ca dao của người

xứ Quảng xưa thì Chợ Củi vẫn được nói đến như một địa danh có tên tuổi trong lịch sử:

Sông xanh một dải Thu Bồn Sông từ chợ Củi đến nguồn Nam Ô

Hay:

Non sông ai dựng ai làm Dòng Sài Giang lượn khúc Cù Lao Chàm xanh um

Sông Chợ Củi, sông Sài Thị đều là đoạn cuối của sông Thu Bồn, con sông xanh mượt, chảy bao quanh vùng đất Quảng như vòng tay mẹ ôm chặt đứa con thơ vào lòng Dòng sông ấy đã bồi đắp nên sự sống trên vùng đất này một cách mạnh mẽ và thuần khiết Bởi vai trò to lớn của sông Thu Bồn mà trong những câu ca dao, dân ca của người dân đất Quảng đã nhắc tới con sông này rất nhiều lần:

- Quảng Nam có lụa Phú Bông

Có khoai Trà Đỏa, có sông Thu Bồn

- Sông Thu Bồn ngàn dâu xanh ngát

Nước Thu Bồn trong mát ngàn thu

Trang 39

Hình ảnh sông Thu Bồn không chỉ là hình ảnh của con sông bình thường

mà nó còn hiện lên như hình ảnh một cô gái xứ Quảng nhẹ nhàng, tươi mát và xinh đẹp đến vô cùng Như chàng trai trong câu ca dao đã bày tỏ với cô gái:

Sáng trăng mà lội Thu Bồn Lung linh bóng nước in hình của em

Sông Thu Bồn còn được hiện lên qua lời bày tỏ của cô gái trước miệng lưỡi người đời với người yêu mình:

Bao giờ cạn nước Thu Bồn Ngập chùa Non Nước, lời đồn em mới tin

Bên cạnh những con sông tên tuổi gắn liền với vùng đất xứ Quảng thì những ngọn núi trên vùng đất này cũng là những danh lam thắng cảnh địa phương đáng tự hào

Khi nhắc đến những ngọn núi tạo nguồn cảm hứng thi ca cho nhiều bậc danh sĩ thì Ngũ Hành Sơn chính là một trong những ngọn núi làm được điều

đó Như vua Lê Thánh Tông khi đến ngọn núi này đã để lại bút tích:

“Nhất thiên niên tiền nhất hải đạo

Nhất thiên niên hậu nhất danh sơn”

Dịch:

“Một ngàn năm trước là đường bể

Một ngàn năm sau là ngọn núi nổi danh”

Nói đến Ngũ Hành Sơn ta sẽ nghĩ ngay đến những giai thoại, sự tích kì lạ hình thành nên năm ngọn núi ngũ hành nơi đây là: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy

Sơn, Hỏa Sơn và Thổ Sơn “Theo truyện kể của nhà văn hóa Nguyễn Đổng

Chi thì đây là năm ngón tay của Đức Phật đè lên mình Tề thiên đại thánh tương tự như trong truyện Tây Du Kí của nhà văn Trung Quốc Thừa Ân Còn theo suy nghĩ dân gian, nguời Quảng lại cho rằng, ngày xưa thần Kim Quy rẽ sóng biển vào đây đẻ một quả trứng rồng Về sau, có năm mảnh trứng rồng

Trang 40

nứt ra, lớn mãi thành năm ngọn núi như ngày nay Xưa núi Ngũ Hành Sơn còn có nhiều tên gọi như Ngũ Chỉ Sơn (ý chỉ như năm ngón tay khổng lồ từ dưới đất xuyên lên); núi Cẩm Thạch hoặc hòn Non Nước”[75;11] Trong ca

dao, Ngũ Hành Sơn hay Non Nước được khắc vào tâm khảm nhân dân một cách gần gũi và trìu mến với những cảnh đẹp lưu truyền muôn đời:

-Ai về Non nước thì về

Trước sông, sau biển, núi kề một bên

-Ai về Non Nước Ngũ Hành

Nhìn xem phong cảnh như tranh họa đồ

Khám phá năm ngọn núi ta sẽ lần lượt khám phá được về sự tích hình thành những ngọn núi và những đặc điểm về hình dáng từng ngọn núi như thế nào Như đến với Mộc Sơn ta sẽ bắt gặp tượng Phật Quan Thế Âm, đến với Mộc Sơn sẽ được khám phá động Quan Âm, chùa Quan Âm với những nhũ thạch trên vách đá tạo muôn hình vạn trạng kì quái; Thổ Sơn lại là ngọn núi còn ẩn dấu nhiều dấu tích của kiến trúc Chăm Pa thuở xưa như những câu chuyện cổ tích; Hỏa Sơn lại có hai ngọn núi âm dương đối diện nhau, trông giống như ngọn búi lông dựng lên giữa trời xanh; và cuối cùng là Thủy Sơn, ngọn núi được xem là có nhiều kì quan thắng cảnh nhất Đến với Thủy Sơn ta

sẽ bắt gặp chùa Non Nước hay còn được gọi là Tam Thai Tự với ba đỉnh núi: Thượng Thai, Trung Thai và Hạ Thai Đi qua chùa Tam Thai ta sẽ đi qua động Hoa Nghiêm để đến với động Huyền Không kì vĩ như cảnh tiên nói chốn trần thế Đi suốt ba đỉnh núi ta còn có thể tham quan một số chùa trên núi Thổ Sơn như: chùa Linh Ứng, Vọng Hải Đài, động Tàng Chơn, Ngũ Cốc, Giếng Tiên, động Âm Phủ Với mỗi kì quan thắng cảnh ấy, nhân dân ta cũng

đã ghi lại trong ca dao để ghi nhớ:

Cảnh Non nước, nước non có tự bao giờ

Mà đây Non nước đứng chờ đợi ai

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w