TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN ************ BÙI THÚY QUỲNH TÍN HIỆU THẨM MĨ THỂ HIỆN THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************
BÙI THÚY QUỲNH
TÍN HIỆU THẨM MĨ THỂ HIỆN THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI – 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************
BÙI THÚY QUỲNH
TÍN HIỆU THẨM MĨ THỂ HIỆN THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
ThS, GVC LÊ KIM NHUNG
HÀ NỘI – 2013
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài Thời gian là yếu tố gắn liền với sự sống của con người trong mọi thời đại, mọi không gian.Thời gian cùng với không gian góp phần làm nên ngữ cảnh mà con người sinh sống Thời gian là yếu tố không thể thiếu trong đời sống của mỗi con người vì thế như một lẽ tự nhiên nó bước vào thế giới của các loại hình nghệ thuật trong đó có văn học Thời gian trong tác phẩm văn học là thời gian nghệ thuật thể hiện quan niệm, dụng ý của tác giả Vì vậy, việc nghiên cứu thời gian nghệ thuật trong các tác phẩm văn chương là một việc làm vô cùng cần thiết đặc biệt là từ góc nhìn phong cách học bởi đây là dịp để người làm khoa học có điều kiên củng cố kiến thức về tác giả, tác phẩm văn chương, lí luận văn học, lí luận phong cách học
Nền âm nhạc Việt Nam thế kỉ XX mãi ghi nhận công lao của một nhạc sĩ thiên tài, người đã làm nên sức sống bền lâu cho những nhạc phẩm của mình bởi tính nhân văn cao đẹp, sâu sắc: Trịnh Công Sơn Nhạc của Trịnh Công Sơn không đơn thuần là nhạc, bài hát không chỉ là bài hát Mỗi bài là một truyện ngắn, một bài thơ, một chương khúc của truyện dài chưa có kết thúc
Nó vẫn mở ra như một vết thương, vết thương người, vết thương thời đại, vết thương thiết thân cần được cưu mang và lưu truyền Đó cũng là điểm đặc sắc trong những nhạc phẩm của ông Ca từ là những âm trầm để góp phần tạo nên những âm bổng du dương trong hơn 500 ca khúc ông để lại cho hậu thế Ca từ chính là nơi để Trịnh Công Sơn bộc lộ hết những trăn trở, suy tư cũng như thể hiện cá tính và phong cách của riêng mình
Đối với Trịnh Công Sơn sự sống và thời gian đang bước giật lùi như hình ảnh cuốn chiếu Vì thế mà ông quả quyết phải sống sao cho trọn, cho hết mình Không khất hẹn, đợi chờ, ủy khuất mà “hãy tận hưởng ngày hôm nay”
như thi sĩ Horace đã từng nói Phải chăng vì thế thời gian trong các ca khúc của ông cũng muôn màu muôn vẻ như cách ông nhìn nhận về nó vậy
Trang 4Việc tìm hiểu giá trị ca từ của Trịnh Công Sơn đang là một vấn đề khá mới thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhất là soi chiếu dưới góc độ ngôn ngữ Là một người yêu và say mê nhạc Trịnh và xuất phát từ mong muốn khám phá, tìm tòi những vấn đề mới mẻ, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn
đề tài nghiên cứu: “Tín hiệu thẩm mĩ thể hiện thời gian nghệ thuật trong ca
từ của Trịnh Công Sơn” Với đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ góp một tiếng
nói mới mẻ, góp phần khẳng định thêm tài năng nghệ thuật của Trịnh Công Sơn _ một “phù thủy ca từ của thế kỉ XX”
2 Lịch sử vấn đề 2.1.Trịnh Công Sơn trong cách nhìn nhận của các nhà phê bình, nghiên cứu văn học và âm nhạc
Trịnh Công Sơn đã từng xuất hiện trong cảm nhận của Trịnh Cung và
Nguyễn Quốc Thái với cuốn “Cuộc đời, Âm nhạc, Thơ, Hội Họa và Suy Tưởng” của Nhà xuất bản Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh năm 2001 Sau đó cuốn sách gây được nhiều ấn tượng hơn trong lòng bạn đọc là “Trịnh Công Sơn- một người thơ ca một cõi đi về” do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy
Kha, Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên soạn
Ấn phẩm đặc biệt viết về Trịnh Công Sơn xuất bản tháng 10 và 11 tại
California, Mĩ với chủ đề “Trịnh Công Sơn/ Tình yêu, Quê hương, Thân phận” cũng tổng hợp nhiều bài viết về cuộc đời riêng và cuộc đời âm nhạc của ông như các bài viết của Cổ Ngư: “Đôi dòng về Trịnh Công Sơn”, Nam Dao: “Ngỡ ngàng nước đục bụi trong”, Trương Thìn: “Ngẫm nghĩ về Sơn”, Trúc Chi: “Về một tâm hồn nghệ sĩ”,…
Cũng trong năm 2001, năm mà cố nhạc sĩ từ giã cõi đời nhiều nhà nghiên cứu đã tìm về cuộc đời riêng đầy bi kịch của ông để nhìn lại những thăng trầm và những cuộc vượt thoát mà Trịnh Công Sơn đã cố gắng vượt
qua Bài viết “Bi kịch Trịnh Công Sơn” của Trịnh Cung là một ví dụ Là một
Trang 5người bạn, một người chứng kiến tất cả những đau khổ của Trịnh Công Sơn, ông đã lên tiếng bênh vực cho sự nhạy cảm và chân thực của người nghệ sĩ tài
hoa này Ngoài ra còn rất nhiều các bài viết như: “Trịnh Công Sơn/ Đời và Nhạc” – Đặng Tiến, Tô Thùy Yên – “Mỗi ca khúc như một lời trăng trối”, Nguyễn Văn Thọ - “Nhớ Trịnh Công Sơn”,…
Tiếng vang của Trịnh Công Sơn và những nhạc phẩm của ông được cả
những khán, thính giả quốc tế đón nhận Đó là bài viết “Chút lòng với Trịnh Công Sơn” của tác giả John Schafer,…
Từ việc điểm qua những công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Trịnh Công Sơn, có thể thấy Trịnh Công Sơn đã nhận được tình cảm lớn như thế nào từ phía công chúng Nhưng gây bất ngờ hơn cả là sự quan tâm đối với ca từ trong các ca khúc của Trịnh Công Sơn
2.2 Ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn Nghiên cứu về ngôn ngữ trong sáng tác Trịnh Công Sơn được tập hợp
đầy đủ hơn cả trong cuốn: “Trịnh Công Sơn – một người thơ ca một cõi đi về” do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên soạn; được bổ sung và xuất bản lại năm 2004 với tựa đề “Một cõi Trịnh Công Sơn”
Trong cuốn sách này có nhiều bài viết có giá trị về Trịnh Công Sơn Lê
Hữu trong bài viết “Gió trời xin ngủ bình yên” đã nhận xét về cái mới và các kết hợp độc đáo trong ngôn ngữ nhạc Trịnh và kết luận: “Ngôn ngữ Trịnh Công Sơn quả là đã làm giàu đẹp thêm cho kho tàng tiếng Việt, hoặc ít ra có thể nói không sợ lầm, ông là người viết lời đẹp nhất cho các ca khúc”
Giáo sư Cao Huy Thuần trong bài viết “Buồn bã với những môi hôn” có
phân tích các cặp đối nghịch – nét riêng biệt độc đáo trong tư duy ngôn ngữ nhạc Trịnh: có- không, một- hai, sống- chết, vui- buồn, lệ rơi- không buồn,…
Trong cuốn sách này nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng nhận xét về ca từ của
nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Trong lĩnh vực ca khúc, lời ca có một vị trí rất quan
Trang 6trọng và về mặt ca từ Trịnh Công Sơn thực sự là một nhà thơ Lời ca anh không quá dễ dãi tùy tiện, mà luôn luôn ẩn sâu một triết lí về cuộc đời và điều đáng nói là anh đã tìm được những giai điệu phù hợp, dung dị, không cầu kì, kiểu cách để thể hiện nội dung đó…”
Tác giả Trần Hữu Thục trong bài “Một cái nhìn về ca từ Trịnh Công Sơn” đã phân tích về giái trị những từ ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần
“Cách cấu tạo ngôn ngữ Trịnh Công Sơn tài hoa, táo bạo và lạ Trong quá trình tạo vần cho phù hợp với âm và với nét nhạc, anh bật ra những từ, những
ý, những hình ảnh và ngôn ngữ hết sức bất ngờ, mới lạ đôi khi khiến ta sửng sốt y như chúng từ trên trời rơi xuống”
Trong bài viết “Góc nhỏ cho những người mới tiếp cận nhạc Trịnh Công Sơn” tác giả Trịnh Tuấn đã trình bày bài viết với bốn chương, trong đó
chương I đã bàn về ca từ Trịnh Công Sơn và đưa ra kết luận:
Thứ nhất, ca từ Trịnh Công Sơn là những “ngôn từ rất thơ, rất đời và đầy chất triết lí Cái nền tảng cho sự đam mê có lẽ xuất thân từ đây và định hình trong tâm thức một hoài vọng tìm hiểu chân lí bí hiểm, nằm sâu dưới đáy mồ nhân thế bao nhiêu năm chợt bừng thức bởi một thứ ánh sáng diệu
kì nơi lòng mình”
Thứ hai, khi nói về “Tính thông tin trong ngôn ngữ Trịnh Công Sơn” tác
giả đã khẳng định: “Ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn tính thông tin vươn xa hơn những dự cảm và mơ ước Những câu chữ thể hiện cốt cách một trái tim lớn một nhân sinh quan đã được hình thành bởi pha lê và cát bụi nên sự óng ả trong nó không dễ nhận biết”
Còn Trần Hữu Thục lại đưa mình “Đi vào thế giới ca từ của Trịnh Công Sơn”: “ca từ của Trịnh Công Sơn là một hôn phối giữa nhiều nỗi nhiều niềm nhiều sự khác nhau: nỗi tuyệt vọng nhân sinh, sự phẫn nỗ chiến tranh nỗi khát khao hòa bình, nỗi băn khoăn siêu hình, niềm vui tình yêu, đoàn tụ, nỗi buồn
Trang 7thăm thẳm của thân phận con người Có lẽ vì thế mà dù thỉnh thoảng Trịnh Công Sơn “đao to búa lớn” la to những là hãy thế này, thế kia cũng chỉ là
“bốc đồng” Ông rên rỉ, than thở và chỉ muốn ru: ru tình, ru đời, ru đêm, ru em, Rốt cuộc, ông chẳng bao giờ có thể là chiến sĩ mà chỉ là một nghệ sĩ.”
Tác giả Phạm Bân thì lại nghiên cứu “Tiếng Việt trong dòng nhạc Trịnh Công Sơn” và kết luận: “Âm điệu trong nhạc Trịnh Công Sơn đa số là chậm, không có gì đặc sắc nhưng độc đáo ở chỗ là ông đã dùng chữ Việt đơn giản
mà tạo nên những lời nhạc hết sức tự nhiên, mang theo những ý làm chấn động lòng người! Đa số mọi người đều tự tìm thấy mình đâu đó trong các bài nhạc của Trịnh Công Sơn! Không như điệu “lai tây” của Phạm Duy, nhạc của Trịnh Công Sơn dùng chữ thuần túy Việt Nam nhưng xét về phần triết lí, lãng mạn, siêu thực và kiêu kì thì có phần trội hẳn”
Cuốn “Trịnh Công Sơn vết chân dã tràng” của tác giả Ban Mai, NXB
Lao động, 2008, dày 472 trang là cuốn chuyên luận nghiên cứu về ca từ Trịnh Công Sơn từ góc nhìn văn học Trong cuốn sách này, tác giả chủ yếu nhắc đến tầm ảnh hưởng của nhạc Trịnh ở miền Nam, đặt ca khúc nhạc Trịnh trong
sự đối chiếu, so sánh với các tác phẩm thơ trung đại, hiện đại để làm nổi bật tính suy tưởng, triết lí trong ca từ của Trịnh Công Sơn
Trên báo An ninh thế giới in tháng 5/2009 bài viết “Trịnh Công Sơn: Ca
từ và ám ảnh” khẳng định: “Cái thế giới thi ca mang đậm tính siêu hình của Trịnh Công Sơn mở ra trước mắt chúng ta một hồn người, và qua đó cả một thời đại đầy biến động…Bằng những ca từ ấy, nhạc sĩ- thi sĩ tài hoa họ Trịnh
đã cho ta thêm một cách để nghe sâu hơn tiếng vọng nhân sinh, để tự mở rộng biên độ của suy tưởng và cảm xúc, và từ đó để gắn bó mật thiết hơn với cuộc đời mà mỗi người đang sống – như chính ông từng kêu gọi: “Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người/ Còn cuộc đời ta cứ vui” (Để gió cuốn đi)
Một điều mà chúng ta có thể khẳng định chắc chắn: Đó sẽ là di sản không bao giờ bị mất giá của Trịnh Công Sơn
Trang 8Tạp chí “Hợp lưu” (2001) tại Hoa Kỳ dành 72 trang viết đầu về Trịnh Công Sơn Trong đó có bài “Chiêm ngắm đóa hoa vô thường” của Hà Vũ Trọng, khẳng định nhạc của Trịnh Công Sơn là thơ, ông viết: “Chúng ta yêu nhạc Trịnh Công Sơn bởi trong nhạc của anh có thơ Vậy chúng ta có cả hai…Nói cách khác, thơ và nhạc là đôi cánh để bay chở tình yêu trong những
ca khúc của Trịnh Công Sơn, không thể tách lìa được”
Kì công hơn cả là bài viết của nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc (Hoa Kỳ),
“Trịnh Công Sơn, ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật” Ông đã khảo sát
kỹ thời gian, không gian nghệ thuật và cách sử dụng ngôn ngữ kì ảo trong các
ca khúc của Trịnh Công Sơn Theo ông trong nhạc Trịnh Công Sơn, ngôn ngữ thường được kết hợp với các biện pháp tu từ, và ông tìm ra nhiều loại thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật Ông chia không gian nghệ thuật trong tác phẩm của Trịnh Công Sơn thành không gian tự nhiên như: trời đất, núi, biển,…không gian rừng, không gian phố Còn thời gian căn cứ vào các THTM để xếp thành thời gian phai tàn, thời gian thực tại, hay thời gian hướng
vọng thiên thu,… Cuối cùng ông kết luận: “Trịnh Công Sơn là một thi sĩ Anh sống trong thời đaị của mình, và anh có những giấc mơ (…) Có lẽ, nếu muốn, chúng ta cũng thấy được tầm cỡ của thời đại mình qua những giấc mơ
và thế giới mà Trịnh Công Sơn đã sống, đã yêu và đã cùng xót xa với chúng”
Trong bài viết “Hiện tượng Trịnh Công Sơn” của John C.Schafer (Hải
Phi và VY Huyền dịch) đăng lại trên trang web http://suutap.com tác giả viết:
“Trịnh Công Sơn đã sáng tạo ra những bài hát của ông bằng cách đi thẳng vào con tim thay bằng đi vòng qua trí óc Để đạt được tầm ảnh hưởng này ông dùng phương pháp giống như nhiều thi sĩ hiện đại, đó là lí do vì sao ông thường được gọi là một thi sĩ chứ không phải chỉ là một người viết nhạc
Những phương pháp này bao gồm: 1.Sự thiếu mạch lạc có chủ đích 2 Giới hạn có thể chấp nhận được 3 ca từ, hình ảnh và phép ẩn dụ mới lạ 4 Cách
Trang 9đặt các chữ cạnh nhau một cách phá lệ luật 5 Cách dùng vần – cả vần thuận
và nghịch” Theo đó, tác giả đã phân tích ca từ một số bài hát để chứng minh
cho nhận định này
“Trịnh Công Sơn một nhạc sĩ thiên tài”, NXB Trẻ, 2004, Bửu Ý, dày
207 trang viết lại từng chặng đời của Trịnh Công Sơn và phân tích một số chủ
đề và nghệ thuật ngôn ngữ trong ca từ bao gồm: 1.Ngôn ngữ nhịp bốn, 2.Kết hợp từ ngữ, 3.Biện pháp tu từ, 4.Ngôn ngữ cưỡng bức, 5.Ngôn ngữ siêu hình, 6.Ngôn ngữ hiện sinh, 7.Những họa tiết trong tấm tranh đời Bên cạnh còn có thủ bút của Trịnh Công sơn Ngoài ra, còn có một số bài viết của người nước ngoài về Trịnh Công Sơn
Bài chuyên luận: “Lời, từ trong nhạc Trịnh Công Sơn” in trong cuốn Ngữ học trẻ 2007, tác giả Huỳnh Công Tín khẳng định: “Trịnh Công Sơn đã để lại cho đời một gia tài âm nhạc đồ sộ,vô giá” “Lời từ trong nhạc Trịnh Công Sơn cũng chính là tâm nguyện của anh về cuộc sống Anh không viết lời và bị thúc bởi nhạc Lời, từ trong nhạc anh không có những sáo rộng, vô hồn, to tiếng, đại ngôn Anh viết nên nó bằng chính nỗi niềm thật trang sáng, không vụ lợi, không vị nhân; dẫu nỗi niềm ấy đôi lúc nghe như có phần tuyệt vọng”
Tác giả Bích Hạnh viết về cuốn sách “Biểu tượng ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn”, NXB Khoa học xã hội, dày 312 trang Trong cuốn sách
này, tác giả đã tiếp cận ca từ của Trịnh Công Sơn từ góc nhìn của ngôn ngữ học, nghiên cứu hệ thống các biểu tượng trong ca từ của nhạc sĩ đó là: 1.Hệ thống các biểu tượng có tính chất trực quan gồm: Hệ thống các biểu tượng sản sinh từ mẫu gốc “Bầu trời”; Hệ thống các biểu tượng sản sinh từ mẫu gốc
“Nươc”; Hệ thống các biểu tượng sản sinh từ mẫu gốc “Con người” 2 Hệ thống các biểu tượng không có chất liệu trực quan và phi trực quan Cuối cùng tác giả khẳng định: Hệ thống biểu tượng trong ca từ của Trịnh Công Sơn
rất phong phú “Trên cơ sở kế thừa và sáng tạo các lớp nghĩa mới, nhạc sĩ đã
Trang 10đưa các vật vô tri, vô giác cũng trở nên sinh thể sống động, có linh hồn, có tâm trạng, có cảm xúc, nó chuyên chở những dòng tâm trạng của bản thân ông Không những thế, nó còn đại diện cho những trăn trở, khát khao của biết bao nhiêu thế hệ người Việt Nam sống cùng thời với ông, từng mất mát trong tình yêu, trong chiến tranh và có những hoài nghi về cuộc đời”
Đặc biệt về vấn đề thời gian nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn đã được nhà nghiên cứu Bùi Vĩnh Phúc khảo sát trong cuốn “Trịnh Công Sơn – ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật” (Nhà xuất bản Trẻ) Tuy nhiên thời gian nghệ thuật chỉ được ông xem xét trong một phạm vi hẹp chứ chưa mở rộng ra thành một đề tài riêng Như vậy, có thể coi chưa có một công trình nào nghiên cứu riêng về thời gian nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn
Như vậy, điểm lại các công trình nghiên cứu khác nhau về Trịnh Công Sơn
và ngôn ngữ trong những sáng tác của ông chúng tôi đều nhận thấy như sau:
- Các công trình nghiên cứu đều cố gắng dựng lại trung thực cuộc đời âm nhạc của Trịnh Công Sơn
- Hầu như các nhà nghiên cứu đều khẳng định Trịnh Công Sơn là một hiện tượng văn hóa lớn của thế kỉ XX
- Nghiên cứu, đánh giá Trịnh Công Sơn nhìn chung thường trong trạng thái hỗn hợp giữa nhạc và lời Nhưng dù vậy, căn cứ trực tiếp hơn vẫn thiên
về phần lời, phần ca từ
Nhận xét về ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn, hầu hết đều khẳng định ông
là một thi sĩ, ca từ của ông đích thị là thơ Một kiểu thơ lãng mạn, siêu thực
mà trữ tình, có giá trị lớn về nội dung trong lòng văn hóa Việt Nam Ngôn ngữ Trịnh Công Sơn đã tạo thành một trường phái ngôn ngữ mang phong cách Trịnh
Ngôn ngữ nhạc Trịnh, cuộc đời của nhạc sĩ đã được nghiên cứu ở rất nhiều phương diện Tuy nhiên nỗi ám ảnh thời gian trong các nhạc phẩm của
Trang 11ông thì vẫn chưa có một chuyên luận thực sự nào bàn đến Vì thế, đề tài này mong mở rộng thêm và đào sâu hơn nữa một góc nhìn khác về ca từ của ông dưới góc nhìn Ngôn ngữ học
3 Mục đích nghiên cứu 3.1 Củng cố những cơ sở lý thuyết ngôn ngữ như: tín hiệu ngôn ngữ, phong cách chức năng ngôn ngữ, ngữ cảnh,
3.2 Tập dượt nghiên cứu khoa học thông qua các thao tác chọn đề tài, chọn phương pháp nghiên cứu, vận dụng phương pháp nghiên cứu để xử lý đề tài
3.3 Nâng cao năng lực cảm thụ văn học từ góc nhìn khoa học nói chung, góc nhìn phong cách học nói riêng
3.4 Khẳng định tài năng của Trịnh Công Sơn từ góc độ ngôn ngữ
3.5 Làm tăng thêm giá trị ca từ của Trịnh Công Sơn
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4.1 Tập hợp những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài 4.2 Khảo sát, thống kê, miêu tả những cách dùng ngôn ngữ biểu hiện thời gian trong ca từ Trịnh Công Sơn
4.3 Sử dụng những phương pháp nghiên cứu đã lựa chọn để phân tích, nhằm xác định hiệu quả nghệ thuật của những cách dùng ngôn ngữ đề tái hiện thời gian trong ca từ Trịnh Công Sơn
5 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 5.1 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi thống kê những THTM thể hiện thời gian nghệ thuật trong ca
từ của Trịnh Công Sơn chủ yếu qua các tác phẩm trữ tình qua tuyển tập
“Trịnh Công Sơn – Những bài ca không năm tháng”, NXB Âm nhạc 2008
5.2 Đối tượng nghiên cứu THTM thể hiện thời gian nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn
Trang 126 Phương pháp nghiên cứu 6.1 Phương pháp thống kê Phương pháp này dùng để nhận diện và tập hợp các tín hiệu ngôn ngữ biểu thị thời gian nghệ thuật trong thơ
6.2 Phương pháp miêu tả Đây là phương pháp dùng để miêu tả những trường hợp, những ngữ liệu điển hình
6.3 Phương pháp phân tích ngữ cảnh Phương pháp này dùng để xác định giá trị nghệ thuật đích thực của tín hiệu ngôn ngữ có chức năng biểu thị thời gian trong thơ
6.4 Phương pháp phân tích phong cách học Đây là phương pháp đặc thù của phong cách học Trong khóa luận chúng tôi sử dụng phương pháp này để xác định hiệu quả của các THTM thể hiện thời gian nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn
6.5 Một số phương pháp khác Sau khi thống kê, phân tích các trường hợp sử dụng ngôn ngữ thể hiện thời gian nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn chúng tôi sử dụng phương pháp tổng hợp để rút ra nhận xét và những kết luận cần thiết
7 Cấu trúc khóa luận Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, khóa luận gồm ba phần chính:
1 Chương 1 Cơ sở lí luận
2 Chương 2 Kết quả thống kê, khảo sát
3 Chương 3 Hiệu quả của những THTM thể hiện thời gian nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tín hiệu ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm
Dựa vào ý kiến của F.Sausure, các nhà Việt ngữ học đã đưa ra những cách hiểu khác nhau về tín hiệu, tác giả Bùi Minh Toán trong “Cơ sở ngôn ngữ học đại cương” (1993) đã định nghĩa tín hiệu như sau:
Một sự vật chỉ trở thành tín hiệu khi nó được cấu thành bởi hai mặt cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ mang tính vật chất còn cái được biểu đạt là cái con người gán cho nó, ngoài bản thân nó
Trong cuốn “Ngôn ngữ với văn chương” tác giả đã định nghĩa tín hiệu
ngôn ngữ cụ thể hơn: Tín hiệu ngôn ngữ nói riêng và tín hiệu nói chung đều
là những dạng vật chất tác động vào giác quan con người để con người nhận thức và lĩnh hội đươc một nội dung ý nghĩa cần thiết về hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, hành động hay cảm xúc
1.1.2 Bản chất
Các nhà ngôn ngữ học hiện đại sau này, về cơ bản thống nhất tư tưởng của F.Saussure khi xác định những đặc trưng phản ánh bản chất của tín hiệu ngôn ngữ Những đặc trưng đó là:
1.1.2.1 Tính hai mặt
Giống như các tín hiệu nói chung, mỗi tín hiệu ngôn ngữ cũng được tạo thành bởi hai mặt (cái biểu đạt và cái được biểu đạt) Đặc điểm của từng mặt của tín hiệu ngôn ngữ phản ánh những đặc thù của loại tín hiệu này
+ Cái biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ có thể là âm thanh (khi nói), hoặc
có thể là chữ viết (khi viết) Con người có thể nhận ra cái biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ bằng thính giác hay thị giác
Trang 14Theo F.Saussure, cái biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ “diển ra trong thời gian và có những đặc điểm vốn có của thời gian: a) Nó có một bề rộng và b)
Bề rộng đó chỉ có thể được đo trên một chiều mà thôi”
+ Cái được biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ chính là ý nghĩa của tín hiệu
Trước hết, đó là ý nghĩa do các thành viên trong cộng đồng ngôn ngữ quy ước
Như vậy, nói đến tính võ đoán của tín hiệu ngôn ngữ, chính là ta nói đến tính không có lí do trong mối quan hệ giữa hai mặt của tín hiệu
1.1.2.3 Tính bất biến và tính khả biến
Bất biến theo F.Saussure nghĩa là khó biến đổi Theo tác giả tính bất biến của tín hiệu ngôn ngữ biểu hiện ở chỗ tín hiệu khi được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận và nạp vào hệ thống thì cái biểu đạt và cái được biểu đạt của nó sẽ ổn định và tương đối bền vững
Tác giả giải thích điều đó như sau: Ngôn ngữ phải có tính bất biến để việc giao tiếp và tư duy của con người được thuận lợi Giao tiếp trong xã hội
sẽ gặp trở ngại và rất khó thực hiện nếu các tín hiệu ngôn ngữ luôn thay đổi
Bên cạnh tính bất biến, tín hiệu ngôn ngữ có tính khả biến Nghĩa là tín hiệu ngôn ngữ có khả năng biến đổi để phát triển
F.Saussure giải thích đặc tính này như sau: Để đáp ứng nhu cầu giao tiếp
và tư duy của con người trong những giai đoạn phát triển mới, cộng đồng đã
Trang 15quy ước cải tiến một số ít tín hiệu lỗi thời bổ sung dần dần những tín hiệu mới Nhờ có tính khả biến mà theo thời gian ngôn ngữ ngày càng phong phú, ngày càng lớn mạnh
1.1.2.4 Tính hình tuyến
Theo F.Saussure, tính hình tuyến của ngôn ngữ là một đặc trưng không kém phần quan trọng so với tính võ đoán Ông cho rằng đặc trưng này thể hiện ở cái biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ Trong Đại cương ngôn ngữ học,
ông viết: “Vốn là vật nghe được, cái biểu đạt diễn ra trong thời gian và có đặc điểm vốn có của thời gian” Ông khẳng định: “cái biểu đạt nghe được chỉ
sử dụng tuyến thời gian mà thôi, những yếu tố của nó hiện ra lần lượt cái này tiếp cái kia, làm thành một chuỗi Đặc điểm này lộ rõ ngay khi người ta biểu hiện các yếu tố bằng chữ viết và đem tuyến không gian của những tín hiệu văn tự thay thế cho sự kế tiếp trong thời gian”
1.2 Tín hiệu thẩm mĩ
1.2.1 Việc lựa chọn thuật ngữ làm tên gọi
“Tín hiệu thẩm mĩ” là thuật ngữ được nhiều nhà Lí luận văn học, Thi pháp học, Ngôn ngữ học sử dụng để chỉ các phương tiện được dùng trong nghệ thuật tạo hình nói chung Để chỉ loại phương tiện này các nhà khoa học
đã lựa chọn các thuật ngữ khác nhau Ở Việt Nam, Lại Nguyên Ân lựa chọn
thuật ngữ “kí hiệu thẩm mĩ” Trong khóa luận này chúng tôi chọn thuật ngữ
“tín hiệu thẩm mĩ” (THTM) để chỉ tín hiệu ngôn ngữ được dùng trong các tác
phẩm văn chương
1.2.2 Khái niệm
Từ việc trích dẫn những cách lí giải khác nhau của một số nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước xung quanh việc giải thích khái niệm này, Phạm Thị Kim Anh đã đưa ra định nghĩa về THTM như sau:
“THTM là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện biểu đạt của ngành nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực, của tâm trạng,
Trang 16những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ văn chương…) được lựa chọn và sử dụng trong sáng tạo nghệ thuật vì mục đích thẩm mĩ”
(sl.tr 322) Trong khóa luận, chúng tôi dựa vào khái niệm trên làm cơ sở để xem xét hiệu quả của những tín hiệu thẩm mĩ thể hiện thời gian nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn
1.2.3 Phân loại THTM
Đỗ Hữu Châu (2000) đã phân chia: “Tín hiệu thẩm mĩ” thành hai loại sau:
- THTM đơn (THTM cấp cơ sở) Theo tác giả, đó là loại THTM ứng với một chi tiết, một sự vật, một hiện tượng thuộc thế giới khách quan
Ví dụ: con thuyền, ngôi nhà, dòng sông, cánh đồng, nỗi nhớ,…
Theo Đỗ Hữu Châu, CBĐ của tín hiệu loại này tương ứng với đơn vị từ trong hệ thống ngôn ngữ của dân tộc “THTM đơn” có chức năng tạo THTM
ở cấp độ cao hơn
- THTM phức
Đỗ Hữu Châu cho rằng: đây là loại THTM ứng với nhiều sự vật, nhiều hiện tượng Chúng được xây dựng từ những THTM đơn nhưng ý nghĩa không phải là kết quả của phép cộng giản đơn những THTM đơn CBĐ của THTM loại này tương đương với những đơn vị: câu, đoạn văn bản, văn bản
Trang 17một thể thống nhất phức tạp hơn” (Dẫn theo Mai Ngọc Chừ (…), “Cơ sở
ngôn ngữ học và tiếng Việt”, Nxb Đh và GD chuyên nghiệp, Hà Nội 1992)
Các THTM có tính hệ thống Theo các tác giả Sách giáo khoa Tiếng Việt
10: “Các yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm phải gắn bó qua lại với nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ chung, phải phù hợp với nhau, giải thích cho nhau
và hỗ trợ cho nhau để đạt tới một hiệu quả diễn đạt chung” (Đỗ Hữu Châu,
Đặng Đức Siêu, Diệp Quang Ban, “Tiếng Việt 10”, Nxb Giáo dục, 1990, tr.18)
b) Tính thông tin miêu tả Chức năng quan trọng của ngôn ngữ nghệ thuật là chức năng phản ánh hiện thực vì vậy thông tin miêu tả là một đặc trưng đặc thù của THTM
Sự biểu hiện hiện thực của THTM, theo Đỗ Hữu Châu đều dựa trên khả năng miêu tả, thay thế, “dẫn nhập” các sự kiện của đời sống xã hội vào tác phẩm văn chương
Ví dụ:
Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Hai câu thơ đã miêu tả đặc điểm, màu sắc của “cỏ non” và “cành lê”
Qua đó người đọc có thể nhận ra vẻ đẹp của mùa xuân
c) Tính hình tượng ( tính tạo hình, biểu cảm) Ngôn ngữ nghệ thuật là công cụ để tác giả và độc giả tư duy hình tượng
Vì vậy, nó mang tính hình tượng là tất yếu
Đỗ Hữu Châu cho rằng: đặc trưng này của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện
ở khả năng tái hiện hiện thực, làm xuất hiện ở người đọc những biểu tượng thị giác, tính giác, xúc giác,…; những biểu tượng vận động về người, về vật, về việc, về cảnh đời nhân vật được nói tới trong tác phẩm như trong thực tế
Trang 18Hiện thực trong tác phẩm có thể là việc, vật, cảnh vật, con người với đặc điểm, hình dáng, hoặc trạng thái tâm lí Vì vậy, nói tới tính hình tượng là nói tới khả năng tạo hình – biểu cảm của ngôn ngữ trong tác phẩm
(nghĩa đen) Ẩn dụ “chảy máu” đặt cuối câu thơ thứ nhất góp phần tái hiện
sinh động hình ảnh quê hương đau thương Sự kết hợp tài tình giữa hoán dụ
“dây thép gai” và ẩn dụ “đâm nát” đã khắc họa sâu sắc bản chất dã man của
kẻ thù và thảm họa mà chúng gây ra Đằm sâu trong hai câu thơ là tiếng lòng của Nguyễn Đình Thi với quê hương và thái độ căm phẫn của ông đối với kẻ thù Hai câu thơ trên của nhà thơ rất giàu tính tạo hình – biểu cảm
d) Tính tác động Ngôn ngữ nghệ thuật có chức năng giao tiếp, nó là phương tiện để tác giả giao tiếp với độc giả Vì thế, ngôn ngữ nghệ thuật có khả năng tác động rất lớn Nó giúp người đọc tư duy bằng hình tượng Thông qua các tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật, bạn đọc không chỉ nhận ra hiện thực được phản ánh mà còn hiểu được tấm lòng của tác giả, xác định được tài năng của mỗi nghệ sĩ
Nhờ tác động của mỗi tín hiệu ngôn ngữ, người đọc tưởng tượng để đồng sáng tạo với tác giả ngôn từ
e) Tính biểu trưng Theo Phạm Thị Kim Anh (2005), đây là đặc tính của THTM xét theo mối quan hệ CBĐ và CĐBĐ của chúng Tác giả cho rằng: “đó là mối quan hệ
có lý do liên quan đến khả năng biểu trưng hóa của THTM – loại tín hiệu vừa
có khả năng biểu hiện, nói lên một cái gì; vừa có tính chất hàm nghĩa – tức là thêm nghĩa trên một nghĩa đã có sẵn
Trang 19Pierce cho rằng: “biểu trưng có quan hệ với đối tượng của nó chỉ qua một nghĩa có tính chất ước lệ mà người ta “gán” cho nó trong một hoàn cảnh nào đó…Nghĩa đó là do con người trong một cộng đồng đặt ra mà thôi”
(Dẫn theo Hoàng Trinh (1998), “Tuyển tập Văn học”, Nxb Hội nhà văn, tr.186)
Ví dụ:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân
(Viếng lăng Bác – Viễn Phương)
Ở những câu thơ trên Viễn Phương dùng “mặt trời” ở câu thơ thứ hai làm ẩn dụ tượng trưng để chí Bác Hồ và dùng “mùa xuân” làm hoán dụ tu từ
để tượng trưng cho tuổi đời cao đẹp của Bác
Khi bàn đến tính biểu trưng của THTM, Đỗ Hữu Châu, Pierce đều cho rằng cần xem xét đặc trưng này trong mối quan hệ giữa hai mặt của tín hiệu thẩm mĩ Theo các tác giả, biểu trưng của THTM một mặt vừa có tính hình tượng (biểu hiện rõ ở CBĐ của tín hiệu), mặt khác lại có tính hàm súc, thông qua ý nghĩa mang tính ước lệ, được cộng đồng dùng ngôn ngữ chấp nhận
Trang 20Ví dụ 2:
Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Cò về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao bằng
(Ca dao)
“Con cò” trong ca dao là một THTM có tính biểu trưng Một mặt, nó gợi
hình ảnh về một con vật có trong hiện thực khách quan Mặt khác, với người
Việt Nam, “con cò” tượng trưng cho người lao động nghèo nhưng tình nghĩa
(ví dụ 1), hoặc tượng trưng cho người phụ nữ giàu đức vị tha (ví dụ 2)
g) Tính truyền thống và tính cách tân
- THTM mang tính truyền thống Điều đó được biểu hiện trước hết ở nguồn gốc của chúng Các tín hiệu ngôn ngữ trong các tác phẩm văn chương được các nghệ sĩ ngôn từ lựa chọn trong hệ thống ngôn ngữ dân tộc Ngay cả những THTM được tạo ra theo sáng tạo cá nhân của tác giả thì sự sáng tạo đó đều phải dựa vào các tín hiệu ngôn ngữ thuộc hệ thống tín hiệu thứ nhất
Ví dụ 1:
Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
(Ca dao)
Ví dụ 2:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mầy thằng gian bút chẳng tà
(Than đạo – Nguyễn Đình Chiểu)
Ở hai ví dụ trên “thuyền” là ẩn dụ tượng trưng Đây là THTM thể hiện
cách vận dụng sáng tạo của tác giả, nhưng tín hiệu đó được tạo ra theo phép chuyển nghĩa dựa vào sự liên tưởng tương đồng với một nét nghĩa của tín
hiệu “thuyền”trong hệ thống
Trang 21Ở bài ca dao, cơ sở để tác giả dùng ẩn dụ tu từ để chỉ người đi xa đó là nét nghĩa giống nhau ở đặc điểm của hai đối tượng (cả hai đều di chuyển)
Trong “Than đạo”, Nguyễn Đình Chiểu dùng “thuyền” để tượng trưng
cho văn chương Cơ sở để nhà thơ tạo ra ẩn dụ tượng trưng này chính là sự
tương đồng về chức năng chuyên chở của “thuyền” và “văn chương”
Chính việc sử dụng CBĐ của tín hiệu “thuyền” trong hệ thống ngôn ngữ
dân tộc và việc sáng tạo nghĩa mới THTM có thể giải thích bằng cách thức nhất định giúp độc giả cảm nhận những tín hiệu trong tác phẩm rất gần gũi, rất dễ hiểu
Nói đến tính truyền thống của THTM, chúng ta cần phải nói đến chức năng và hiệu quả của nó trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống con người
Bằng ngôn ngữ nghệ thuật, tác giả phải giúp người đọc nhận thấy con người, cảnh vật,…được phản ánh trong tác phẩm đúng là con người, là cảnh vật của dân tộc mình
- Tính cách tân của THTM thể hiện ở sự đổi mới, sáng tạo của tác giả cho nghệ thuật thông qua những phương tiện ngôn ngữ để xây dựng hình tượng tác phẩm Tính cách tân của THTM được các nhà Phong cách học gọi
là tính cá thể hóa
Trong thơ Việt Nam, sự cách tân của THTM biểu hiện khá đa dạng Có khi tác giả văn chương mượn CBĐ của hệ thống và tạo ra CĐBĐ mới thông qua các phép chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ
Ví dụ:
Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay
( Tố Hữu)
“Ngọt bùi” và “đắng cay” đều là những hình ảnh ẩn dụ giàu sức biểu
cảm biểu trưng cho những gian khổ khó khăn trong cuộc kháng chiến trường
kì gian khổ và chiến thắng vang dội của quân dân ta trong cuộc kháng chiến
Trang 22chống thực dân Pháp xâm lược Tác giả không cần phải thể hiện trực tiếp mà chỉ qua những hình ảnh gần gũi để nhắc lại quá khứ gian nan nhưng tràn đầy
ân tình giữa cán bộ miền xuôi với nhân dân Việt Bắc
Có khi các nghệ sĩ tạo ra sự kết hợp độc đáo từ những tín hiệu ngôn ngữ quen thuộc trong hệ thống
Ví dụ:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
(Đây mùa thu tới – Xuân Diệu)
Sự cách tân THTM có khi biểu hiện ở các biện pháp tu từ ngữ âm, văn
(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)
Ở ví dụ 1, câu thơ ngắt nhịp 3/3; còn trong ví dụ 2 câu lục lại được ngắt thành hai dòng thơ
Chính tính cách tân của THTM góp phần làm cho loại tín hiệu ngôn ngữ này có sức hấp dẫn đặc biệt với độc giả Từ việc nhận ra những cái mới mẻ trong THTM, người đọc khao khát, say mê đọc tác phẩm để chiếm lĩnh được nó
Trang 231.3 Thời gian nghệ thuật Các tác giả “Từ điển thuật ngữ Văn học” đã định nghĩa: thời gian nghệ
thuật là “hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Cũng như không gian nghệ thuật, sự miêu tả trần thuật trong văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật Sự phối hợp của hai yếu tố này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hình tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật”
Trong cuốn “Dẫn luận thi pháp học”, Trần Đình Sử đã khẳng định: “Thời gian nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật” Đó là “thời gian mà ta có thể chiêm nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều thời gian là hiện tại, quá khứ hay tương lai Thời gian nghệ thuật là hình tượng nghệ thuật, sản phẩm sáng tạo của tác giả
Trang 24bằng các phương tiện nghệ thuật nhằm làm cho người thưởng thức cảm nhận được hoặc hồi hộp đợi chờ, hoặc thanh thản vô tư, hoặc đắm chìm vào quá khứ Thiếu sự thụ cảm, tưởng tượng của người đọc thì thời gian nghệ thuật sẽ không xuất hiện”
Như vậy, một số nhà lí luận đã xem xét thời gian nghệ thuật trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức tác phẩm Thời gian nghệ thuật theo họ vừa là hình thức nghệ thuật, vừa là nội dung nghệ thuật Nó vừa là phương tiện để người nghệ sĩ xây dựng hình tượng, lại vừa là cơ sở để người đọc giải
mã tác phẩm
1.4 Ca từ Trịnh Công Sơn
1.4.1 Khái niệm “ca từ”
Trong giáo trình Ca từ trong âm nhạc Việt Nam, giáo sư Dương Viết Á
cho rằng: “Trong loại hình nghệ thuật âm nhạc, ngoài phần âm thanh đóng vai trò chính, còn phải dùng đến ngôn ngữ, nói đúng hơn, đó là phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc (lời ca trong ca khúc, hợp xướng, kịch bản trong nhạc cảnh, nhạc kịch, tên gọi, tiêu đề của những bài hát, bản nhạc hoặc từng chương nhạc…).Tất cả phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, ta gọi chung một khái niệm: “ca từ”
Theo Từ Điển Tiếng Việt của Văn Tân: “Ca từ là lời ca bài hát Bài từ khúc có thể hát được”
1.4.2 Một số đặc điểm trong ca từ của Trịnh Công Sơn
Mọi người thường hỏi tại sao âm nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lại có sức sống, sức lan toả vượt thời gian và không gian như vậy? Bởi nhạc Trịnh không chỉ đẹp ở phần nhạc mà còn đẹp, còn lạ, còn tuyệt vời trong những ca
từ của ông
Nhận định về ca từ của Trịnh Công Sơn, Văn Cao viết: “Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người ca thơ (chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ”
Trang 25Bùi Vĩnh Phúc nhận định: ‘Người ta thường cho rằng những lời ca từ của ông là thơ Thì đúng như vậy Chúng là những lời thơ thả bay cho gió cuốn Chúng là những hình ảnh bất chợt hiện ra lạnh lùng, kì bí và đầy hư ảo trong những giấc mơ của ta Chúng bay rải rác và rồi đột ngột xếp lại thành những bức tranh lạ lùng mang đầy tính huyền ảo Đó là lời thơ của một người thường thấy mình mộng du ngay trong đời sống,và thấy đời sống trở về với giấc mộng của mình Đó là những câu thơ nhặt được trong đời, hay trong mơ
Có khi Trịnh Công Sơn xếp đặt nó theo một thứ vần điệu nào đó dễ nhận ra, qua những hình thức của thi ca mà chúng ta đã quen biết, có những khi, chúng giống như những câu thơ tự do, những câu thơ dài ngắn không đều , những mảnh giấy mà trẻ con xé nghịch thả bay cùng trời đất Có lẽ đa số những câu hát của ông nằm trong dạng thức đó Những câu thơ tự do, như những mảnh giấy mỏng nhiều màu sắc thả bay trong trời”
1.4.2.1 Lời ca từ mang đậm tính nhân văn và chất triết lý nhân bản
Ngoài phần nhạc nhẹ nhàng như gió thoảng mây bay có sức len lỏi vào từng ngóc ngách tâm hồn con người, thì phần lời lại nêu bật được hình ảnh, thân phận con người trong cõi sống nhọc nhằn, gian nan
“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt Rọi suốt trăm năm một cõi đi về”
(Một cõi đi về) Trịnh Công Sơn không kêu gọi con người hãy sống gấp, sống vội vàng, vun vén cho mình mọi điều mọi thứ mà hãy sống giàu lòng nhân ái, độ lượng,
vị tha
Trang 26“Sống trong đời sống Cần có một tấm lòng
Để làm gì em biết không
Để gió cuốn đi”
(Để gió cuốn đi)
Trịnh Công Sơn còn cho rằng cuộc sống này là cõi tạm bợ, là “quán trọ”
Có lúc nhạc sĩ cảm thấy buồn và bất lực, có lúc nhạc sĩ thấy bình tâm hơn trong kiếp con người Trong nhiều ca khúc Trịnh Công Sơn đã bàn về triết lý
nhân sinh này: “Ở trọ”, “Biết đâu nguồn côi” “Cát bụi”,…
1.4.2.2.Ca từ của Trịnh Công Sơn là những lời hay, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ
Từ ngữ của nghệ sĩ độc đáo, chính xác đến độ không thể thay thế được
chữ nào khác Trong bài “Ở trọ”, chữ “đậu” và chữ “trọ” được nhắc lại toát lên ý tưởng triết lý căn bản toàn bài “Trọ” và “đậu” cũng là nhờ, tạm bợ, nhưng “trọ” là qua đường, dửng dưng, “đậu” hàm ý nhờ vả, biết ơn dùng làm
cho lời ý không nghèo nàn, lặp lại khiên cưỡng, mà có tác dụng trợ nghĩa cho nhau
“Mây kia ở đậu từng không Mưa nắng ở trọ bên trong mắt người Trăm năm ở đậu ngàn năm
Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn”
1.4.2.3 Ca từ của Trịnh Công Sơn giàu hình ảnh, đầy tính hình tượng
Có rất nhiều hình ảnh được tạo nên từ sự so sánh tuyệt vời của Trịnh Công Sơn Điều này nói lên tài năng thiên phú của ông Cái thiên phú nhìn ra được sự tương đồng, tương ứng giữa các sự vật để mọi diễn ngôn trở nên linh hoạt, phong phú hơn người Ông viết:
Trang 27“Đời sao im vắng Như đồng lúa gặt xong Như rừng núi bỏ hoang Người về soi bóng mình Giữa tường trắng lặng câm”
(Ru ta ngậm ngùi)
Quá đủ để nói về sự “im vắng” của một khoảnh khắc cuộc đời nào đó trong Trịnh Công Sơn Nhạc sĩ so sánh “như đồng lúa gặt xong” Sự tương
phản rõ rệt giữa hai thời điểm trước và sau gặt ở một cánh đồng lúa chín càng
làm tăng sự im ắng sau khi gặt Nhạc sĩ ví “như rừng núi bỏ hoang”, rừng núi
đã hoang vắng lại càng hoang vắng hơn Và hình ảnh con người nổi lên trong thế đứng cô đơn là điều tất yếu không tránh khỏi
1.4.2.4 Ca từ Trịnh Công Sơn hầu hết sử dụng tiếng Việt thông thường, đôi lúc ảnh hưởng từ ca dao dân ca
Trịnh Công Sơn viết:” Tôi vui chơi giữa đời ối a biết đâu nguồn cội”
Cuộc đời này đâu là điểm mốc để tìm ra nguồn cội
“Con tim yêu thương vô tình chợt gọi Lại thấy trong ta hiện bóng con người”
Từ “con người” của tiếng Việt thật là thú vị Sự sống của mỗi chúng ta
đôi khi bị đan xen, giằng co dữ dội giữa con và người Và con tim trong khoảnh khắc vô tình đã đánh thức giùm cho những ai lỡ vô tình quên mất bản chất người vốn có
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã từng nói: “Ở đâu có sự chân thành và tính giản dị thì ở đó có âm nhạc đích thực Phải thừa nhận rằng âm nhạc của Trịnh Công Sơn có chỗ biến tấu phức tạp nhưng cực kì chân thành và giản dị,
dễ đến với mọi người Và ông cho rằng vẻ “bình thường” của ca từ Trịnh Công Sơn chính là tuyệt chiêu của một cây bút lão luyện”
Trang 28CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ THỐNG KÊ PHÂN LOẠI 2.1 Tiêu chí phân loại ngữ liệu
Dựa vào đặc điểm cấu tạo và chức năng biểu thị ý nghĩa thời gian của các tín hiệu ngôn ngữ, dựa vào sự phân loại THTM của Đỗ Hữu Châu, chúng tôi phân chia các THTM có chức năng biểu thị thời gian trong ca từ của Trịnh Công Sơn thành:
Ở mỗi tiểu loại, dựa vào đặc điểm cấu tạo, cách tổ chức, chức năng của THTM và mục đích sử dụng chúng của tác giả, chúng tôi lại phân chia thành những tiểu loại nhỏ hơn
Thuộc loại THTM đơn là những từ, cụm từ có chức năng biểu thị thời gian Cũng căn cứ vào chức năng biểu thị, chúng tôi lại phân chia thành:
- THTM đơn là những từ, cụm từ biểu thị thời gian khái quát
- THTM đơn là những từ, cụm từ biểu thị thời gian cụ thể
Thuộc về loại THTM phức là những câu thơ, cặp câu thơ, đoạn thơ mà ở
đó Trịnh Công Sơn đã tổ chức những THTM đơn theo các biện pháp tu từ
Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi bước đầu khảo sát những THTM được tổ chức theo biện pháp tu từ ngữ nghĩa:
- Những THTM phức dùng so sánh tu từ để biểu thị thời gian
- Những THTM phức dùng ẩn dụ tu từ để biểu thị thời gian
- Những THTM phức dùng nhân hóa tu từ để biểu thị thời gian
- Những THTM phức dùng hoán dụ tu từ để biểu thị thời gian
- Những THTM phức dùng phép điệp để biểu thị thời gian
- Những THTM phức dùng biện pháp tương phản (đối lập) để biểu thị thời gian
Trang 29- Những THTM phức dùng phép liệt kê để biểu thị thời gian
2.2 Miêu tả kết quả thống kê, phân loại ngữ liệu
Qua khảo sát 127 bài hát trong tập “Trịnh Công Sơn – tuyển tập những bài ca không năm tháng” , chúng tôi thống kê được 553 THTM được tác giả
sử dụng để biểu thị thời gian Sau đây là bảng phân loại kết quả thống kê:
1
THTM đơn có chức năng biểu thị thời gian 460/553 (83.1%) THTM đơn là những từ, cụm từ biểu thị thời
THTM đơn là những từ, cụm từ biểu thị thời gian
THTM đơn là những từ, cụm từ biểu thị thời gian
THTM đơn là những từ, cụm từ biểu thị thời gian
THTM đơn là những từ, cụm từ biểu thị thời gian
THTM đơn biểu thị đoạn thời gian trong ngày 121/292 (41.4%)
2
THTM phức có chức năng biểu thị thời gian 93/553 (16.9%) THTM phức dùng so sánh tu từ để biểu thị thời gian 2/93 (2.1%) THTM phức dùng ẩn dụ tu từ để biểu thị thời gian 18/93 (19.3%)
Trang 30THTM phức dùng nhân hóa để biểu thị thời gian 38/93 (40.9%) THTM phức dùng hoán dụ tu từ để biểu thị thời
Trong số THTM thuộc loại này có:
a) Những THTM là những từ, cụm từ chỉ thời gian khái quát nói chung
Ví dụ: mai sau, mai, mai kia, một mai, trăm năm sau, vùng tương lai, ngàn năm nữa, sớm mai,…
Trang 312.2.1.2 THTM đơn có chức năng biểu thị ý nghĩa thời gian cụ thể có tỉ lệ 292/460 chiếm 63.5% Trong đó
a) Những THTM đơn là những từ, cụm từ có chức năng biểu thị năm có
tỉ lệ 16/292 chiếm 5.4%
Ví dụ: hai mươi năm, mười năm, lâu năm, trăm năm,…
b) Những THTM đơn là những từ, cụm từ có chức năng biểu thị mùa
có tỉ lệ 52/292 chiếm 17.8% Trong đó:
b1) Những THTM đơn là những từ, cụm từ có chức năng biểu thị mùa xác định có tỉ lệ 40/52 chiếm 76.9% Thuộc loại này chúng tôi chia thành những tiểu loại nhỏ hơn:
- Những THTM là những từ ,cụm từ có chức năng biểu thị mùa xuân có
tỉ lệ 17/40 chiếm 42.5%
Ví dụ: mùa xuân, xuân thì, ngày xuân, …
- Những THTM là những từ, cụm từ có chức năng biểu thị mùa hạ có tỉ
lệ 5/40 chiếm 12.5%
Ví dụ: mùa hạ, mùa hè, hạ, giữa hạ,
- Những THTM là những từ, cụm từ có chức năng biểu thị mùa thu có tỉ
lệ 10/40 chiếm 25%
Ví dụ: mùa thu, thu, …
- Những THTM là những từ, cụm từ có chức năng biểu thị mùa đông có
tỉ lệ 8/40 chiếm 20%
Ví dụ: mùa đông, ngày đông, đông, … b2) Những THTM đơn là những từ, cụm từ có chức năng biểu thị mùa không xác định có tỉ lệ 12/52 chiếm 23.1%
Ví dụ: mùa mưa, mùa nắng, bốn mùa, một mùa, hai mươi mùa nắng lạ,…
c) Những THTM đơn là những từ, cụm từ có chức năng biểu thị tháng
có tỉ lệ 7/292 chiếm 2.4%
Trang 32Ví dụ: tháng mùa đông, tháng ngày,…
d) Những THTM đơn là những từ, cụm từ có chức năng biểu thị ngày
có tỉ lệ 96/292 chiếm 32.8% Trong đó:
d1) Những THTM là những từ, cụm từ có chức năng biểu thị ngày xác định có tỉ lệ 20/96 chiếm 20.8%
Ví dụ: hôm nay, ngày mai, chủ nhật,…
d2) Những THTM là những từ, cụm từ có chức năng biểu thị ngày không xác định có tỉ lệ 76/96 chiếm 79.2%
Ví dụ: ngày nắng, ngày yêu dấu, ngày thương nhớ, một ngày, hôm nào, ngày kia, ngày nào, ngày xưa, ngày vui, …
e) Những THTM đơn là những từ, cụm từ có chức năng biểu thị đoạn thời gian trong ngày có tỉ lệ 121/292 chiếm 41.4% Trong đó chúng tôi lại chia nhỏ thành từng đoạn thời gian:
- THTM biểu thị thời gian buổi sáng có 15/121 chiếm 12.4%
Ví dụ: sớm mai, rạng đông, sớm kia, bình minh, ban mai,…
- THTM biểu thị thời gian buổi chiều có 60/121 chiếm 49.5%
Ví dụ: một chiều, chiều mưa, chiều hôm, chiều nay, buổi chiều, …
- THTM biểu thị thời gian đêm có tỉ lệ 46/121 chiếm 38.1%
Ví dụ: nửa đêm, đêm khuya, đêm đêm, đêm thâu, đêm qua, bao đêm,…
2.2.2 Miêu tả kết quả phân loại THTM phức 2.2.2.1 Những THTM phức dùng so sánh tu từ để biểu thị thời gian trong
ca từ của Trịnh Công Sơn có tỉ lệ 2/93 chiếm 2.1%
Trang 332.2.2.2 Những THTM phức dùng ẩn dụ tu từ để biểu thị thời gian trong ca
từ Trịnh Công Sơn có tỉ lệ 18/93 chiếm 19.3%
Ví dụ:
Người còn đó nhưng bơ vơ mắt chong đêm dài Ngựa xa rồi, ngựa xa rồi trên ngày tháng vơi
(Phúc âm buồn) Mùa thu qua tay đã bao lần
Ngàn cây thắp nến lên hai hàng
(Nắng thủy tinh)
Ta về nơi đây tháng năm quá rộng Đường xưa em lại thấp thoáng bàn chân
(Khói trời mênh mông)
Từ đó ta nằm đau ôi núi cũng như đèo Một chút vô thường theo từng phút cao giờ sâu
( Đóa hoa vô thường) Đời đã khép và ngày đã tắt, em hãy ngủ đi
Đời mãi đêm và ngày mãi buồn, em hãy ngủ đi
(Em hãy ngủ đi )
2.2.2.3 Những THTM phức dùng nhân hóa để biểu thị thời gian trong ca
từ của Trịnh Công Sơn có tỉ lệ 38/93 chiếm 40.9%
Ví dụ:
Có những tiếng cười lên như trẻ lại Ngày vội vàng lên, bình minh thay đêm tối
(Thành phố mùa xuân) Trăm năm ở đậu ngàn năm
Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn
(Ở trọ)
Trang 34Tôi thấy chiều không nói lời lặng lẽ
Và thấy hoàng hôn áo vàng rực rỡ Đêm bước về thật nhẹ
(Hôm nay tôi nghe) Chiều đã đi vào vườn mắt em
(Nắng thủy tinh) Tôi như trẻ nhỏ ngồi bên hiên nhà, chờ xem thế kỷ tàn phai
(Tự tình khúc)
2.2.2.4 Những THTM phức dùng hoán dụ tu từ để biểu thị thời gian trong
ca từ của Trịnh Công Sơn có tỉ lệ 4/93 chiếm 4.3%
Ví dụ:
Những con mắt bình minh tắt trên dòng sông Những con mắt mùa đông tắt trong hoàng hôn
(Ru đời đã mất) Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ
Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa
(Cỏ xót xa đưa)
2.2.2.5 Những THTM phức dùng phép điệp để biểu thị thời gian trong ca
từ của Trịnh Công Sơn có tỉ lệ 14/93 chiếm 15%
(Xa dấu mặt trời)
Trang 35“Ru mãi ngàn năm dòng tóc em buồn….Mùa xanh lá vội, ru em miệt mài, còn lời ru mãi, còn lời ru này, ngàn năm ru hoài, ngàn đời ru ai”
(Ru em từng ngón xuân nồng)
“Hà Nội mùa Thu mùa Thu Hà Nội mùa hoa sữa về thơm từng cơn gió, mùa cốm xanh về thơm bàn tay nhỏ, cốm sữa vỉa hè thơm bước chân qua”
(Nhớ mùa thu Hà Nội)
“Ngày mai em đi biển nhớ tên em gọi về Gọi hồn liễu rủ lê thê, gọi bờ cát trắng đêm khuya Ngày mai em đi đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ Sỏi đã trông em từng giờ, nghe buồn nhịp chân bơ vơ”
(Biển nhớ)
“Đêm nghe gió tự tình, đêm nghe đất trở mình vì mưa Đêm nghe gió thở dài, đêm nghe tiếng khóc cười của bào thai
(Nghe tiếng muôn trùng)
2.2.2.6 Những THTM phức dùng phép liệt kê để biểu thị thời gian trong
ca từ của Trịnh Công Sơn có tỉ lệ 7/93 chiếm 7.5%
Ví dụ:
“Con đường thật buồn một ngày cuối đông Con đường mịt mù một ngày cuối thu
Em vào mùa hạ nắng thắp trên cao
Và mùa xuân nào ngẩn ngơ tình mới”
(Tôi ru em ngủ) “Đường hôm qua tôi thấy được rồi
Đường hôm nay tôi đã cùng có gì vui Đường tương lai xin nhắc từ đầu cùng anh em trên khắp địa cầu”
(Như tiếng thở dài)
“Rồi mùa xuân không về, mùa thu cũng ra đi, mùa đông vời vợi, mùa
hạ khói mây”
(Gọi tên bốn mùa)
Trang 36“Nếu thật hôm nào tôi phải đi, tôi phải đi ôi bao nhiêu điều chưa nói
Cùng với bình minh hay đêm khuya và từng trưa nắng”
Có người lòng như khăn mới thêu Mười năm sau áo bay đường chiều”
(Có một dòng sông đã qua đời) “Chìm dưới cơn mưa, một người chết đêm qua
Chìm dưới đất kia, một người sống thiên thu”
(Chìm dưới cơn mưa) “Em đứng lên mùa đông nhạt nhòa, từng đêm mưa từng đêm mưa từng đêm mưa, mưa lạnh từng ngón sương mù
Em đứng lên mùa xuân vừa mở, nụ xuân xanh cành thênh thang, chim về giọt nắng nhấp nhô”
(Gọi tên bốn mùa) 2.3 Nhận xét sơ bộ từ kết quả thống kê, phân loại ngữ liệu 2.3.1 Để tái hiện thời gian nghệ thuật, trong hơn 100 bài hát của mình Trịnh Công Sơn sử dụng 460 THTM đơn Như vậy, có thể thấy THTM đơn được tác giả sử dụng phổ biến hơn cả so với THTM phức Chỉ qua khảo sát