ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA NGỮ VĂN --- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN Đề tài: CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ THỂ HIỆN BẰNG PHƯƠNG TIỆN TỪ VỰNG – NGỮ NGH
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đề tài:
CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ THỂ HIỆN BẰNG PHƯƠNG TIỆN TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TRONG TẬP THƠ “NHỮNG BÔNG HOA KHÔNG CHẾT”
CỦA LƯU QUANG VŨ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài này là do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Trọng Ngoãn và không sao chép các đề tài nghiên cứu của người khác
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng thông qua phương tiện là ngôn ngữ Điều đó đã trở thành nguyên lí Nhưng hình tượng nghệ thuật lại được cấu tạo bằng các tín hiệu thẩm mĩ Hay nói cách khác, tín hiệu thẩm mĩ đã trở thành chiếc cầu nối giữa ngôn ngữ và hình tượng
Nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ là một vấn đề liên quan đến nhiều chuyên ngành, được đặt dưới nhiều góc độ khác nhau Và việc nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ dưới góc độ ngôn ngữ là hướng đi cần thiết, đem lại nhiều ý nghĩa đối với quá trình tiếp nhận văn bản nghệ thuật
Lưu Quang Vũ là nhà thơ, nhà viết kịch tài năng trong dòng chảy văn học Việt Nam những năm 60, 70 của thế kỉ XX Trong dòng chảy chung của thơ ca thời
kì chống Mĩ, Lưu Quang Vũ là một trong những hiện tượng thơ độc đáo, mang phong cách rõ rệt, tạo nên bản sắc riêng, hồn cốt riêng cho những trang thơ của mình
Nhắc đến Lưu Quang Vũ, bạn đọc sẽ nghĩ ngay đến nhà viết kịch nổi tiếng,
được ví là “Môlie của Việt Nam” mà quên mất một Lưu Quang Vũ với những trang
thơ khát cháy, nồng ấm với bao vần thơ da diết, đắm đuối, đầy trăn trở xen lẫn dư vị ngọt ngào - cay đắng, đam mê, đau đớn mà dịu êm, khát vọng đấy mà thất vọng đấy Tiếng thơ Lưu Quang Vũ là tiếng lòng chân thật của một con tim khao khát yêu, khao khát sống và cống hiến mãnh liệt Đến với thế giới thơ Lưu Quang Vũ, người đọc như chìm vào một thế giới khác, khám phá chiều sâu tâm hồn con người với bao ưu tư, suy ngẫm, trăn trở mà từ trước đến giờ ta đã lãng quên nó Việc tìm hiểu nghiên cứu thơ Lưu Quang Vũ từ góc độ ngôn ngữ mà cụ thể là những tín hiệu thẩm mĩ ở phương diện từ vựng – ngữ nghĩa sẽ giúp ta có cái nhìn rộng mở, khám phá ra nhiều điểm mới lạ
Tập thơ “Những bông hoa không chết” là tập thơ được xuất bản sau khi nhà thơ đã mất Tập thơ được in trong Di cảo, được đánh giá là tập thơ hay và mang
Trang 4nhiều nét độc đáo của Lưu Quang Vũ Bằng việc tìm hiểu cụ thể ta có thể giải mã những thông điệp ý nghĩa và đánh giá một cách khách quan hơn về tác phẩm này
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học có nhiều hướng đi khác nhau, song những năm gần đây, nhiều vấn đề đang được soi chiếu dưới góc nhìn của ngôn ngữ học hiện đại, trong đó không thể không nhắc đến tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học
Ở nước ta, vấn đề tín hiệu và tín hiệu thẩm mĩ đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như: Đỗ Hữu Châu, Hoàng Trinh, Phan Ngọc, Đái Xuân Ninh, Từ những năm 70 của thế kỉ XX, vấn đề tín hiệu thẩm mĩ được tiếp nhận vào Việt Nam
qua những bản dịch, các công trình khoa học, bài viết cụ thể như: “Lí thuyết hệ thống trong ngôn ngữ học dưới ánh sáng của phương pháp luận khoa học Mác” của Đỗ Hữu Châu, “Từ một số luận điểm của Mác suy nghĩ về bản chất tín hiệu của ngôn ngữ” của Nguyễn Lai, “Từ kí hiệu học đến thi pháp học” của Hoàng Trinh,
Những công trình này đã đem đến một cái nhìn mới, một hướng tiếp cận mới cho văn học Từ cơ sở lí thuyết này, nhiều công trình đã khai thác, khẳng định ý nghĩa
thực tiễn của hướng nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ học Có thể kể đến “Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ - không gian trong ca dao” của Trương Thị Nhàn, “Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn học” của Mai Thị Kiều Phượng, “Tín hiệu thuộc trường nghĩa cây trong thơ Việt Nam” của Phạm Thị Kim Anh, “Tiếp cận tác phẩm thơ ca dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện đại” của Bùi
Trọng Ngoãn (Đề tài khoa học công nghệ cấp bộ),
Nghiên cứu về đề tài “Tín hiệu thẩm mĩ ở phương diện từ vựng – ngữ nghĩa
trong tập Những bông hoa không chết” của Lưu Quang Vũ, ta không thể bỏ qua
những công trình nghiên cứu, bài viết về ngôn ngữ thơ cũng như tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Lưu Quang Vũ
Lưu quang Vũ là một nghệ sĩ tài hoa và đầy tài năng Cuộc đời lao động nghệ thuật dang dở nhưng anh đã kịp để lại cho đời những tác phẩm có giá trị còn
mãi với thời gian Vũ Quần Phương trong bài viết “Đọc thơ Lưu Quang Vũ” có
Trang 5viết: “Đọc thơ anh có cảm giác anh viết kịch để sống với mọi người và làm thơ để sống với riêng mình” [34, tr.76] Như vậy, có thể thấy thơ là sự sống của anh, là tâm hồn anh Tất cả những nỗi niềm, ưu tư, chiêm nghiệm, đều được phổ vào thơ như những nốt nhạc ngân vang, da diết, giàu sức gợi và sức ám sâu sắc
Hơn hai mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Lưu Quang Vũ đi xa nhưng những trang thơ anh để lại cho đời vẫn còn sức nóng, sức lan tỏa, lôi cuốn thu hút giới phê bình, nghiên cứu và đông đảo bạn đọc yêu thơ cùng thời cũng như đương thời Hai mươi năm, một khoảng thời gian không dài nhưng đủ để các thế hệ hôm qua và hôm nay nhìn nhận lại, đánh giá khách quan về vị trí cũng như giá trị mà thơ Lưu Quang Vũ để lại cho đời Đã có không ít những công trình, bài viết nghiên cứu về cuộc sống, sự nghiệp sáng tác của thi sĩ, tìm hiểu về thế giới kịch, thơ, truyện ngắn ở nhiều phương diện, góc độ khác nhau Trong đó có những công trình đề cập đến ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ mà cụ thể là những tín hiệu thẩm mĩ trong thơ anh
Năm 1997, Lưu Khánh Thơ biên soạn cuốn “Lưu Quang Vũ - thơ và đời” Trong cuốn sách này, ngoài những tác phẩm thơ, còn có bài viết “Đọc thơ Lưu Quang Vũ” của tác giả Vũ Quần Phương Người viết đã khẳng định sự đóng góp
của phần thơ và nêu lên những giá trị đích thực của nó Đặc biệt ở bài viết này, Vũ Quần Phương đã có cái nhìn khái quát về thơ Lưu Quang Vũ mà chủ yếu là ở giai đoạn sau Tác giả bài viết chú ý nhấn mạnh sự chuyển biến trong phong cách thơ
Lưu Quang Vũ từ “Hương cây” đến giai đoạn 1971- 1972, đồng thời đưa ra một số
lí giải cho sự thay đổi đó Vũ Quần Phương còn nêu lên một số đặc điểm ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ: “Đọc thơ anh ít thấy dấu vết của bố cục, cảm hứng liền dòng ào
ạt, đầy áp hình ảnh, ảnh thực và ảnh ảo, hiện thực và tưởng tượng, sách vở và đời sống hòa quyện thúc đẩy nhau trong các câu thơ dồn dập” [32, tr.37]
Đến năm 2001, cuốn sách “Lưu Quang Vũ - Tài năng và lao động nghệ thuật” do Lưu Khánh Thơ biên soạn ra mắt bạn đọc Cuốn sách đã tập hợp nhiều
bài viết của nhiều tác giả khác nhau bàn về tất cả các thể loại mà Lưu Quang Vũ đã từng viết, đáng chú ý có đến 12 bài viết bàn luận về thơ anh Trong đó, nhà phê bình
Trang 6Hoài Thanh có bài “Một cây bút trẻ triển vọng” Với bài viết này, Hoài Thanh đã
dự báo về sự xuất hiện một tài năng thơ ca cho làng văn học Việt Nam và ông cũng khẳng định những bước đầu vững chắc của thi sĩ trẻ tuổi này, bởi: “Câu thơ Lưu Quang Vũ rất dồi dào màu sắc và cũng rất thính về các mùi hương Chỉ trong mấy bài mà đã có đủ từ “hương cốm mát trong” đến “mật hương mùa hạ” của các thứ trái cây trên sông Thương, đến những “bè gỗ xuôi thơm nhựa rừng bỡ ngỡ” trên sông Hồng Hà nhiều nữa” [33, tr.9] Ông thừa nhận thơ Lưu Quang Vũ có “ngôn ngữ nắm rất chắc Chữ dùng chính xác mà uyển chuyển, rất Việt Nam Không dễ
mà nói được gọn, nói được nhiều và nói đúng những điều khó nói” [33, tr.19] Bên cạnh đó, Hoài Thanh còn nêu ra một số hạn chế trong thơ Lưu Quang Vũ
Trong bài viết “Những bài thơ viển vông, cay đắng, u buồn”, Vương Trí
Nhàn đã có những phát hiện mới về tiếng thơ Lưu Quang Vũ Ông khẳng định giá trị của những bài thơ được Lưu Quang Vũ viết trong những năm 1971 - 1975 Đáng chú ý, trong bài viết này, ông đã chỉ ra những hình ảnh trở đi trở lại trong thơ Lưu Quang Vũ, được sử dụng như một tín hiệu thẩm mĩ, đó là “mưa”: “Ở anh, mưa cho thấy sự trôi qua của thời gian mà con người bất lực, không sao níu kéo nổi Mưa làm cho hiện tại trở nên vô nghĩa và tương lai trở nên lờ mờ, không xác định” [ 33, tr.69]
Bàn về thơ Lưu Quang Vũ, không thể bỏ qua mảng thơ tình tinh tế, sâu lắng như tiếng lòng đau đáu khát yêu và khát sống, tình yêu như cứu cánh của một tâm
hồn thăm thẳm, canh cánh nỗi lo, nỗi buồn Với “Thơ tình Lưu Quang Vũ”, Nguyễn
Thị Minh Thái đã gợi nhắc đến hình tượng em: “Em - vừa có thể là người tình, vừa
có thể là nỗi khao khát không đạt đến, sự cứu rỗi linh hồn đau buồn của chàng; em còn mang những tên gọi khác nhau, đầy âu yếm và thương cảm: Người đàn bà không có tên I, II, III, mùa thu, mắt một mí, đóa cúc vàng, con ong nâu hạnh phúc, chị Hai, bông hoa huệ trắng xanh ” [33, tr.93]
Năm 2007, cuốn sách “Lưu Quang Vũ về tác gia và tác phẩm” do Lý Hoài
Thu, Lưu Khánh Thơ tuyển chọn và giới thiệu, đã tập hợp một cách có hệ thống các bài viết, công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp thơ Lưu Quang Vũ Bàn về
Trang 7ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ, cũng có không ít những ý kiến, nhận định thú vị, sắc
sảo Với bài viết “Vài nét về thơ tình Lưu Quang Vũ”, tác giả Việt Nga đã có một
sự so sánh thú vị: “Nếu thơ Xuân Quỳnh giản di ̣, mô ̣c ma ̣c, hồn nhiên (ngay cả những dằn vă ̣t đau khổ cũng rất đỗi hồn nhiên) thì thơ Lưu Quang Vũ la ̣i tầng tầng
lớ p lớp những hình ảnh so sánh, ẩn du ̣, những suy ngẫm, triết lý về cuô ̣c đời, con người và tình yêu ” [34, tr.136]
Anh Ngọc cũng dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về cuộc đời, trang thơ Lưu
Quang Vũ Với “Một hồn thơ dào dạt”, tác giả đã cho rằng trang thơ Lưu Quang
Vũ lung linh “đầy màu sắc, hương thơm, mùi vị” nhưng “vừa xa lạ, vừa gần gũi, được đi bằng một thứ nhạc điệu du dương (tuy có lúc đơn điê ̣u) của những câu thơ
vần đôi đều đều, bất tâ ̣n Vẻ đe ̣p của các hình ảnh, sự bất ngờ của những liên tưởng
và cách dùng từ ngữ táo ba ̣o đóng vai trò đă ̣c biê ̣t trong thơ Vũ” [34, tr.150] Đo ̣c thơ Lưu Quang Vũ, Anh Ngo ̣c “ngỡ được tiếp xúc thẳng với mô ̣t chất sống đâ ̣m đă ̣c được cô đo ̣ng trong mấy từ ngữ ngắn ngủi như lời thoa ̣i trong ki ̣ch” [34, tr 150]
Hay trong một bài viết khác, “Vườn trong phố của Lưu Quang Vũ”, Anh Ngọc có
nhận xét, thơ anh mang “cường đô ̣ tình cảm quá ma ̣nh đã phá vỡ con đê khuôn sáo
củ a từ ngữ, ta ̣o nên cả mô ̣t dòng thác những hình ảnh, những liên tưởng đầy đột biến và táo ba ̣o không ngừng đâ ̣p vào tất cả giác quan của người đo ̣c” [34, tr 206]
Phạm Xuân Nguyên với “Tâm hồn trở gió” đã dành nhiều bút lực trải lòng
với những trang thơ của Lưu Quang Vũ Bên cạnh cảm xúc sâu lắng nghẹn ngào tưởng nhớ về nhà thơ, sự cảm nhận hết sức tinh tế ở từng dòng, từng câu , từng chữ trong thơ, tác giả còn làm rõ hình tượng “gió” trong thơ Lưu Quang Vũ: “giống như nhà thơ lãng mạn Anh Percy Bysshe Shelley, thấy ở gió sự “hòa điệu dấy loạn”: Gió
có sức mạnh hủy diệt và bảo tồn gió mang trên đôi cánh của mình sấm, chớp, bão giông” Rồi có đoạn “thơ anh là sức gió đẩy cửa, nối những chân trời với những chân trời, đưa tin con người đến với con người” hay “Lưu Quang Vũ đến và đi trong tình yêu cũng như sức gió”
Năm 2008, nhân kỉ niệm 20 năm ngày mất của Lưu Quang Vũ, Lưu Khánh Thơ đã biên soạn, công bố một phần di cảo của nhà thơ Cuốn sách gồm hai phần
Trang 8chính: phần thứ nhất là Mùa hoa phượng và Nhật kí lên đường; phần thứ hai là Di
cảo thơ với 35 bài thơ in chung với nhan đề: “Những bông hoa không chết” Ngoài
ra, với chủ đề “Người trong cõi nhớ”, người biên soạn đã giới thiệu ba bài viết cảm động, sâu sắc của Bùi Vũ Minh, Anh Chi, Ngô Thảo
Sau khi cuốn Di cảo ra đời đã có hàng loạt bài viết, công trình nghiên cứu,
đặc biệt là phần di cảo thơ trong tập “Những bông hoa không chết” Tác giả Phạm Xuân Nguyên trong “Đọc di cảo mới của Lưu Quang Vũ” đã ghi lại những cảm
nhận tinh tế của mình khi tiếp nhận những bài thơ nói về đề tài chiến tranh Đi sâu khám phá thế giới thơ từ 1973 - 1975 của Lưu Quang Vũ, người viết nhận xét: “Thơ Lưu Quang Vũ vừa trần trụi hiện thực vừa mong manh dự cảm” và “Thơ Vũ nồng nàn, có lúc là nồng nã, nhưng ở những bài thơ viết trực diện cuộc chiến giọng thơ anh đã nhiều khi nấc lên, uất nghẹn và uất hận” Anh có một tâm hồn nhạy cảm và
dễ tổn thương” [39]
Khi tuyển tập thơ “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi” của Lưu Quang
Vũ ra mắt độc giả, cũng có khá nhiều bài viết, bài bình luận Hà Linh trong “Lưu Quang Vũ - đời thơ yêu thương và đau xót” có nhận xét: “Chất thơ Lưu Quang Vũ
có nhiều tự sự, lời thơ, câu chữ rất mềm và trong sáng” [38] Trong khi đó, tác giả
Lê Hồ Quang trong bài “Thơ Lưu Quang Vũ - tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh”
lại khám phá được nhiều điều thú vị: “ngôn ngữ thơ giàu màu sắc mĩ thuật” và với khả năng quan sát đặc biệt, tác giả bài viết còn nhận ra: Với “kĩ thuật kết hợp giữa yếu tố thực và ảo, cụ thể và trừu tượng, vật chất và cảm xúc” [42] trang thơ Lưu Quang Vũ “luôn hiện lên một cách hấp dẫn, sắc nét, sống động” [42], đồng thời góp phần tạo nên “một ngôn ngữ thơ vừa cụ thể, cảm tính vừa giàu ý nghĩa tượng trưng” [42]
Ngoài các công trình, bài viết trên, còn có một luận văn đề câp khá sát với đề tài, đó là: Tín hiệu thẩm mĩ “mưa” trong thơ Lưu Quang Vũ của Bùi Thị Hồi Ở đề tài này, tác giả đã đi sâu khảo sát tín hiệu thẩm mĩ “mưa” trong thơ Lưu Quang Vũ, đồng thời đưa ra ý nghĩa của việc sử dụng tín hiệu thẩm mĩ đó Luận văn đã đưa đến
Trang 9một cái nhìn mới để khám phá chiều sâu ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ, tuy nhiên nó vẫn còn ở dạng khái quát, nhiều chỗ thiên về đánh giá cảm tính, không có cơ sở
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên còn có rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như các bài viết cụ thể khác Trong giới hạn bài nghiên cứu chúng tôi chỉ đề cập đến một vài khía cạnh có liên quan đến vấn đề: Các tín hiệu thẩm mĩ
thể hiện bằng phương tiện từ vựng – ngữ nghĩa trong tập “Những bông hoa không chết” của Lưu Quang Vũ
Nhìn chung, viê ̣c nghiên cứu về thơ Lưu Quang Vũ mới chỉ dừng la ̣i ở những bài viết riêng lẻ, nă ̣ng về thẩm bình văn ho ̣c, mang tính chất chủ quan, cảm tính nhiều hơn là những công trình nghiên cứu, mang tính thống kê, phân tích, tổng hợp thực sự để đi sâu tìm hiểu những tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Lưu Quang Vũ Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi muốn đi vào đi ̣a ha ̣t còn đang bỏ ngỏ, cần được cày xới vốn giàu sức lôi cuốn, hấp dẫn này Trên cơ sở tiếp thu những thành quả của thế
hệ đi trước để lại cùng với mong muốn được tìm hiểu, khám phá nhiều hơn về cái hay trong nội dung cũng như trong nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ, chúng tôi sẽ cố
gắng tâ ̣p trung khảo sát mô ̣t cách hê ̣ thống và nêu được giá trị của các tín hiệu thẩm
mĩ được thể hiện bằng phương tiện từ vựng – ngữ nghĩa trong tâ ̣p “Những bông hoa không chê ́t” của Lưu Quang Vũ
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Lưu Quang
Vũ thể hiện bằng phương tiê ̣n từ vựng - ngữ nghĩa
Phạm vi nghiên cứu là tâ ̣p thơ “Những bông hoa không chết” in trong cuốn Lưu Quang Vũ Di cảo Nhật ký – Thơ do Lưu Khánh Thơ biên soa ̣n, NXB Lao
đô ̣ng, 2008 (gồm 35 bài thơ)
4 Phương pháp nghiên cứu
Đây là đề tài nghiên cứu thuô ̣c chuyên ngành ngôn ngữ nên trong luâ ̣n văn này chú ng tôi sử du ̣ng các phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ ho ̣c nói chung, trong đó đă ̣c biê ̣t chú tro ̣ng các phương pháp sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loa ̣i
Trang 10- Phương pháp phân tích, chứng minh
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp tổng hợp, khái quát
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luâ ̣n, nô ̣i dung chính của khóa luâ ̣n được người viết triển khai qua 3 chương:
Chương mô ̣t: Một số vấn đề lí luâ ̣n liên quan đến đề tài
Chương hai: Khảo sát các tín hiệu thẩm mĩ thể hiện bằng phương tiện từ
vựng – ngữ nghĩa trong tập thơ “Những bông hoa không chết” của Lưu Quang Vũ
Chương ba: Tầm tác động của các tín hiệu thẩm mĩ đối với ngôn ngữ nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ
Trang 11CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Dẫn nhập
Giáo sư Đỗ Hữu Châu đã từng viết: “Cho đến nay, tín hiệu thẩm mĩ được bàn đến nhiều Nhưng tín hiệu thẩm mĩ là gì, đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ là gì, có bao nhiêu loại tín hiệu thẩm mĩ (tín hiệu đơn, tín hiệu phức), chức năng của từng loại, nguồn gốc, tính truyền thống và cách tân của tín hiệu thẩm mĩ ra sao đều là những vấn đề còn bỏ ngỏ” [7, tr.779] Như vậy có thể thấy, đây là vấn đề hấp dẫn tạo được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình tuy nhiên, hệ thống lí thuyết này vẫn chưa hoàn chỉnh Do đó trong bài nghiên cứu này, chúng tôi tiếp nhận nhiều tài liệu, tổng hợp, chọn lọc và đưa ra một hệ thống lí thuyết phù hợp với bài nghiên cứu và tiện cho việc khảo sát ở chương hai
1.1 Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn học
1.1.1 Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương
Trong công trình nghiên cứu về tín hiệu thẩm mĩ, Đỗ Hữu Châu đã đi từ lí thuyết tín hiệu Ông đã chỉ ra những đặc tính là dấu hiệu nhận biết của một tín hiệu qua bốn nhân tố Đó là phải có hình thức cảm tính (cảm nhận được bằng giác quan); gợi ra, đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó (phải mang một nội dung ý nghĩa), “một tín hiệu là một khái niệm về quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt (ý nghĩa)”; phải được nhận thức bởi một chủ thể và nằm trong hệ thống tín hiệu nhất định Nhà Việt ngữ học này còn đưa ra bảng phân loại tín hiệu theo những tiêu chí khác nhau như: đặc tính thể chất, nguồn gốc, mối quan hệ giữa cái biểu hiện và
Trang 12cái được biểu hiện, chức năng xã hội của tín hiệu Như vậy, có thể thấy, ngôn ngữ
có bản chất tín hiệu, là một loại tín hiệu nhân tạo thuộc loại âm thanh, là tín hiệu giao tiếp Vậy tín hiệu ngôn ngữ là gì?
1.1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên
Theo F Saussure, “tín hiệu ngôn ngữ kết liền thành một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một âm thanh” [28, tr 84] Như vậy, bản chất tín hiệu của ngôn ngữ được thể hiện rất rõ qua tính hai mặt: cái dùng để biểu đạt và cái được biểu đạt Mặt biểu đạt của ngôn ngữ là âm thanh và mặt được biểu đạt là ý nghĩa, ý niệm về đối tượng mà đại lượng âm thanh đó gọi tên, gợi ra, phản ánh
F.Saussure đã phân chia mối quan hệ giữa hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ và theo ông đó là mối quan hệ võ đoán tức là tính không lí do F.Saussure còn nêu ra
ba trường hợp nửa vỏ đoán (tính có lí do) như có lí do về ngữ âm: từ tượng thanh;
có lí do về hình thái học: cấu tạo từ; có lí do về nghĩa: chuyển nghĩa
Tín hiệu ngôn ngữ mang tính đa trị Một cái biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ
có thể ứng với nhiều cái được biểu đạt khác nhau (hiện tượng nhiều nghĩa, đồng âm) Trái lại, cũng có trường hợp nhiều cái biểu đạt lại ứng với một cái được biểu đạt (hiện tượng đồng nghĩa) Đồng thời, ngoài nội dung thông tin miêu tả, các tín hiệu ngôn ngữ còn có các thông tin biểu cảm, thông tin tình thái
Do phương tiện của ngôn ngữ tự nhiên là âm thanh mà tín hiệu ngôn ngữ có tình hình tuyến Các âm tiết sẽ lần lượt xuất hiện theo trình tự thời gian Tính hình tuyến là một hạn chế của phương tiện ngôn ngữ Khắc chế được tính hình tuyến là một sáng tạo nghệ thuật trong các tác phẩm văn học
1.1.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ
Trên cơ sở kế thừa nhiều công trình của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ như F.Saussure với chủ nghĩa cấu trúc, P Guiraud với sự sáng tạo lại ngôn ngữ tự nhiên trong tác phẩm văn học và Hjelmslev với nghĩa liên hội, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm tín hiệu thẩm mĩ: “Tín hiệu thẩm mĩ hay tín hiệu ngôn ngữ văn chương
Trang 13được xây dựng trên cơ sở tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên, hệ thống thứ nhất được dùng làm phương tiện biểu đạt cho hệ thống thứ hai theo cơ chế sau:
1.1.2 Đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương
Đã có nhiều công trình, luận án, bài viết bàn về tín hiệu thẩm mĩ mà cụ thể là đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương Ở trong bài này, chúng tôi theo quan điểm của tiến sĩ Bùi Trọng Ngoãn trong công trình cấp bộ “Tiếp cận tác phẩm thơ ca dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện đại” với sáu đặc điểm Sở dĩ chúng tôi lựa chọn như vậy bởi vì trong công trình của mình, người viết trình bày khoa học, sáng rõ, dễ hiểu, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sự khảo sát trong chương hai của luận văn - Khảo sát các tín hiệu thẩm mĩ nổi bật trong tập thơ
“Những bông hoa không chết”
1.1.2.1 Tính hai mặt của tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ cũng được cấu tạo như một tín hiệu ngôn ngữ là có hai mặt, cái biểu đạt và cái được biểu đạt Nhưng tín hiệu thẩm mĩ là một phức thể có cấu tạo kép, gồm cái biểu đạt là tín hiệu ngôn ngữ (ngữ âm và ý nghĩa) và cái được biểu đạt là ý nghĩa thẩm mĩ
1.1.2.2 Tính có lí do, tính giải thích được của tín hiệu thẩm mĩ
Với tín hiệu ngôn ngữ, ở giai đoạn khởi thủy, khi những tín hiệu của hiện thực đi vào tư duy thì mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là quan hệ
có lí do Sau đó, trong quá trình sử dụng, do tách khỏi quá trình sản sinh ra chúng
mà các tín hiệu ngôn ngữ lại mang tính võ đoán
Tín hiệu ngôn ngữ
Cái biểu đạt: ngữ âm Cái được biểu đạt: ý nghĩa
Tín hiệu
thẩm mĩ
Cái biểu đạt tín hiệu ngôn ngữ
Ngữ âm
Ý nghĩa Cái được biểu đạt: ý nghĩa thẩm mĩ
Trang 14Trái lại, tín liệu thẩm mĩ là sự tổ chức lại của tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên thành một hệ thống biểu đạt mới do đó mối quan hệ hai mặt cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong tín hiệu thẩm mĩ mang tính có lí do Vấn đề là cách giải mã quan hệ này như thế nào cho hợp lí
1.1.2.3 Tính đa trị của tín hiệu thẩm mĩ
Mỗi cái biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ có thể ứng với nhiều cái được biểu đạt khác nhau Cũng có trường hợp nhiều cái biểu đạt ứng với một cái được biểu đạt Đây chính là tính đa trị của tín hiệu thẩm mĩ
1.1.2.4 Tính hình tuyến của tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương được biểu đạt bằng tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên, mà tính hình tuyến là một đặc trưng của tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên, do đó, tín hiệu thẩm mĩ cũng mang tính hình tuyến Tuy nhiên, tính hình tuyến của tín hiệu thẩm mĩ được biểu hiện khá phức tạp và rất khó nhận diện Bởi vì
nó phụ thuộc vào việc sử dụng phương tiện ngôn ngữ một cách khéo léo, có thể khơi gợi nhiều chiều kích không gian, thời gian, hoặc có thể đồng hiện, tái hiện, xóa nhòa khoảng cách không thời gian,
1.1.2.5 Tính hệ thống của tín hiệu thẩm mĩ
Tính hệ thống là một đặc tính không thể thiếu của tác phẩm văn chương Ở phạm vi bao quát, tác phẩm văn chương được cấu tạo từ hệ thống hình thức và nội dung Ở phạm vi nhỏ hơn là các hệ thống: ngôn ngữ, bố cục, kết cấu, bút pháp, tư duy nghệ thuật, đề tài, cốt truyện, hình tượng, tư tưởng, cảm xúc, Và mỗi bình diện như trên lại là một tiểu hệ thống tồn tại trong mối quan hệ dung hợp làm nên văn bản nghệ thuật
Tính hệ thống của tín hiệu thẩm mĩ có thể là điều kiện để tạo nên tín hiệu thẩm mĩ Do đó, tín hiệu thẩm mĩ không chỉ giới hạn trong một bài thơ mà có thể tồn tại trong nhiều tác phẩm khác nhau của cùng một tác giả tạo nên hệ thống tín hiệu thẩm mĩ
Trang 151.1.2.6 Tính cấp độ của tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ cũng có cơ chế cấu tạo như tín hiệu ngôn ngữ, bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt, nghĩa là tín hiệu thẩm mĩ cũng có khả năng mang tính cấp độ như ngôn ngữ
Tín hiệu thẩm mĩ có thể là một từ, một cụm từ, một cấu trúc ngữ pháp, thậm chí là các yếu tố ngữ âm cũng trở thành tín hiệu thẩm mĩ Tín hiệu thẩm mĩ trong một văn bản nghệ thuật có thể có quan hệ đồng đẳng (cùng giữ vai trò như nhau trong việc biểu đạt về nội dung hình tượng), nhưng cũng có thể là quan hệ bao hàm
Ở những tín hiệu thẩm mĩ mang quan hệ bao hàm đó, một tín hiệu thẩm mĩ này có thể là cái dùng để biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ kia
Khi trường liên tưởng của con người không bao giờ có giới hạn và khả năng cảm nhận của người đọc đối với văn bản nghệ thuật thường vượt ra khỏi những lẽ thường thì tín hiệu thẩm mĩ luôn luôn là những tầng vỉa chồng chất Nói như thế để thấy rằng phân chia cấp độ của tín hiệu thẩm mĩ là một công việc khó khăn, thậm chí dường như không thể, đó là chưa nói đến tính hiệu quả của việc phân chia này
Tóm lại, để giản tiện có thể chia tín hiệu thẩm mĩ thành hai cấp độ: Các tín hiệu thẩm mĩ bộ phận và các tín hiệu thẩm mĩ bao trùm tác phẩm
1.1.3 Phương tiện ngôn ngữ của tín hiệu thẩm mĩ
Xét về phương tiện ngôn ngữ, tín hiệu thẩm mĩ có thể được xây dựng từ các yếu tố ngữ âm, từ vựng, cú pháp và văn bản Tuy nhiên trong giới hạn đề tài nghiên cứu, chúng tôi chỉ trình bày tín hiệu thẩm mĩ được thể hiện bằng phương tiện từ vựng – ngữ nghĩa
Ở đây, tín hiệu thẩm mĩ từ vựng – ngữ nghĩa được xác định dựa trên cách sử dụng, lựa chọn từ ngữ, cách kết hợp từ Việc sử dụng hay kết hợp đó có ý nghĩa như thế nào đối với tác phẩm thơ Bên cạnh đó, cần phải nhắc đến ý nghĩa mà hệ thống tín hiệu thẩm mĩ mang lại
Không chỉ chú ý đến phần từ vựng, phần ngữ nghĩa cũng là một phần quan trọng để khám phá thế giới nghệ thuật ẩn đằng sau những tín hiệu thẩm mĩ Do đó, cần phải chỉ ra được phần khác biệt hay mở rộng so với phạm vi biểu vật, biểu niệm
Trang 16của từ, của trường từ vựng, hiện tượng phi lí tính trong thơ Đồng thời, cần phải chỉ
ra được một số phương thức tu từ ngữ nghĩa trong thơ
1.2 Lưu Quang Vũ và tập thơ “Những bông hoa không chết”
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp thơ Lưu Quang Vũ
1.2.1.1 Cuộc đời
Lưu Quang Vũ là nhà thơ, nhà văn, nhà viết ki ̣ch nổi tiếng của Viê ̣t Nam vào thập niên 70, 80 của thế kỷ XX Ông sinh ngày 17 tháng 4 năm 1948 ta ̣i Phú Tho ̣ Cha là nhà thơ, nhà viết ki ̣ch Lưu Quang Thuâ ̣n, quê ở thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam Me ̣ là Vũ Thi ̣ Khánh, nữ sinh trường Trung ho ̣c Đồng Khánh, người
Hà Nô ̣i gốc Tuổi thơ Lưu Quang Vũ sống tại Phú Thọ cùng cha mẹ Giai đoa ̣n
1949 – 1953, nhà thơ sống cùng me ̣ và hai em trai ta ̣i chiến khu Viê ̣t Bắc Khi hoà bình lập lại (1954) gia đình ông chuyển về sống tại Hà Nô ̣i Thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật của Lưu Quang Vũ sớm bộc lộ từ nhỏ và vùng quê trung du Bắc
Bộ đó đã in dấu trong các sáng tác của ông sau này
Từ 1965 đến 1970 ông nhập ngũ, phục vụ trong quân chủng Phòng không - Không quân Cũng trong thời kỳ này, năm 1969 Lưu Quang Vũ lâ ̣p gia đình Đây
cũng là thời kỳ thơ Lưu Quang Vũ bắt đầu nở rộ Từ 1970 đến 1978, ông xuất ngũ
và làm đủ mọi nghề để mưu sinh Năm 1972, Lưu Quang Vũ li hôn Năm 1973 đánh dấu mô ̣t sự kiê ̣n quan tro ̣ng trong cuô ̣c đời của nhà thơ Lưu Quang Vũ: ông
kết hôn lần thứ hai với nữ thi sĩ Xuân Quỳnh Cuô ̣c sống khó khăn, châ ̣t vật, Lưu Quang Vũ phải lăn lô ̣n, làm đủ mo ̣i nghề để nuôi gia đình, trong giai đoa ̣n này ông vẫn làm thơ và viết báo Tuy gă ̣p nhiều khó khăn trong cuô ̣c sống nhưng gia đình thi sĩ luôn đầm ấm, ha ̣nh phúc Từ 1978 đến 1988: Lưu Quang Vũ làm biên tập viên Tạp chí Sân khấu cho tới khi mất Thời gian này, ông vẫn tiếp tu ̣c làm thơ, viết truyện ngắn và sáng tác ki ̣ch
Giữa lúc tài năng đang vào độ chín, Lưu Quang Vũ bất ngờ qua đời trong một tai nạn ô tô trên quốc lộ số 5 tại Hải Dương vào lúc 17h ngày 29 tháng 8 năm
1988 Sự ra đi đô ̣t ngô ̣t của ông để la ̣i muôn vàn tiếc thương cho người thân, gia đình, ba ̣n hữu và công chúng yêu thơ văn
Trang 171.2.1.2 Sự nghiệp
Các tác phẩm của Lưu Quang Vũ để lại một dấu ấn đáng kể trong lòng công chúng Việt Nam Tác phẩm của ông nổi bật lên từ những năm sau chiến tranh, đặc biệt là những năm 80 Các vở kịch, truyện ngắn, thơ của Lưu Quang Vũ giàu tính hiện thực và giá trị nhân văn, thể hiện rõ nét từng chặng đường trong cuộc đời của nhà thơ Cho đến nay, những sáng tác của Lưu Quang Vũ đã được tâ ̣p hợp, xuất bản
và phát hành rô ̣ng rãi trên cả nước
Về thơ gồm có: Hương cây (1968 - in chung với Bằng Viê ̣t trong tâ ̣p Hương cây – Bếp lửa); Mây trắng của đời tôi (1989), Bầy ong trong đêm sâu (1993); Thơ
tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ (1994); Lưu Quang Vũ – thơ và đời (1997); Lưu Quang Vũ Di cảo Nhâ ̣t ký – Thơ (2008)
Về văn xuôi: Lưu Quang Vũ có tâ ̣p tiểu luâ ̣n Diễn viên và sân khấu (viết chung, 1979), các tâ ̣p truyê ̣n ngắn Mùa hè đang đến (truyện, 1983); Người kép đóng
hổ (truyện, 1984); Lưu Quang Vũ - Thơ và truyện ngắn (1998)
Về ki ̣ch: Khi tuổi đời còn khá trẻ (40 tuổi), Lưu Quang Vũ đã là tác giả của khoảng 50 vở kịch và hầu hết các vở kịch của ông đều được các đoàn kịch, chèo gây dựng thành công dưới sự chỉ đạo của nhiều đạo diễn nổi tiếng
1.2.2 Đôi nét về thơ Lưu Quang Vũ
Thơ là nơi Lưu Quang Vũ gửi gắm nhiều tâm sự và thể hiê ̣n sâu sắc tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của mình Qua thế giới thơ của thi sĩ, ta sẽ nhận ra từng chặng
đường cảm xúc, ghi dấu từng bước ngoặt lớn trong cuộc đời Nếu phần “Hương cây” là sáng tác đầu đời thiêng liêng với những cảm xúc tươi mới, hồn thơ trong trẻo, đắm đuối, mơ mộng, thì đến “Cuốn sách xếp lầm trang” (bản thảo, chưa in
trọn vẹn) của những năm bảy mươi, tâm hồn nhà thơ như già đi trong những cảm xúc tê tái Những bài thơ giai đoa ̣n này chứa chất nỗi cô đơn, xót xa, bế tắc
Dần dà Lưu Quang Vũ có được những bước tiến dài về nghệ thuật và gă ̣t hái được những thành công Những bài thơ Lưu Quang Vũ viết ở thập niên 80 như đối nghịch với các bài thời 1971, 1972 Nhưng thật ra giai đoạn trước kiến tạo cho giai đoạn sau Sức nặng của câu thơ yêu đời được hình thành từ câu thơ mất mát Nhà
Trang 18thơ nhìn và khái quát việc đời trên cảnh ngộ của chính mình Những bài thơ sau này
củ a Lưu Quang Vũ chứa đựng nhiều trăn trở, suy tư, có rất nhiều chiêm nghiệm
Điều đó thể hiê ̣n khá rõ trong các tâ ̣p “Mây trắng của đời tôi” và “Bầy ong trong đêm sâu” Ở đó, thơ Lưu Quang Vũ đã bớt đi cái phóng túng, ngang tàng mà ấm áp,
gần gũi với cuô ̣c đời hơn Chủ đề trong thơ của ông cũng có nhiều thay đổi, ít viết
về những cái “cao cả” như trước mà chủ yếu là hướng nô ̣i và mang âm điê ̣u da diết buồn Ông viết khá nhiều về tình yêu và thành công ở đề tài này
Cuộc đời và sự nghiê ̣p sáng tác nghê ̣ thuâ ̣t của Lưu Quang Vũ khép la ̣i ở đô ̣ tuổi 40 khi sứ c viết đang còn sung sức nhất Nhưng những gì mà tác giả để la ̣i cho chú ng ta ngày hôm nay vẫn còn nguyên giá tri ̣, đă ̣c biê ̣t là mảng sáng tác về thơ Thơ Lưu Quang Vũ thực sự là mô ̣t thứ thơ mang la ̣i niềm cảm xúc lớn, nhiều bài thơ đã tìm được chỗ đứng sâu rô ̣ng trong lòng ba ̣n đo ̣c và chứng minh được đô ̣ bền
củ a nó với thời gian Chính vì thế, bên ca ̣nh mô ̣t Lưu Quang Vũ của sân khấu, người ta vẫn cần phải nhắc đến mô ̣t Lưu Quang Vũ nhà thơ, với cống hiến không hề ít ỏi của ông Sự đóng góp của Lưu Quang Vũ ở thơ cũng như ở ki ̣ch đã được đời ghi nhận như một trong các sự kiện nghệ thuật cuối thế kỷ XX
1.2.3 Giới thiệu chung về tập thơ “Những bông hoa không chết”
Cuộc đời, sự nghiê ̣p và sự ra đi đô ̣t ngô ̣t của Lưu Quang Vũ cùng người bạn đời – nhà thơ Xuân Quỳnh đã trở thành mô ̣t sự kiê ̣n trong giới văn nghê ̣ Ngoài những tâ ̣p thơ đã được xuất bản thì Lưu Quang Vũ còn để la ̣i mô ̣t khối lượng di cảo khá lớn gồm: nhâ ̣t ký, thư từ, sổ tay ghi chép, bản thảo đã hoàn thành hoă ̣c còn dang
dở , đă ̣c biê ̣t trong đó có nhiều bài thơ chưa được công bố Nhân kỷ niê ̣m 60 năm sinh và mất của Lưu Quang Vũ, gia đình và ba ̣n hữu của tác giả đã cho công bố mô ̣t phần di cảo của ông Tâ ̣p thơ “Những bông hoa không chết” là mô ̣t trong hai phần
quan trọng trong cuốn sách “Lưu Quang Vũ Di cảo Nhật ký - Thơ” do nhà xuất bản
Lao đô ̣ng ấn hành năm 2008
“Những bông hoa không chết” là phần Di cảo thơ được viết trong khoảng 5
năm (1971 -1975) bao gồm 35 bài thơ Từ những trang nhâ ̣t ký mô ̣ng mơ và lãng
mạn của tuổi ho ̣c trò đến những bài thơ rách xé đầy dằn vă ̣t, đau xót của thời kì này
Trang 19là chă ̣ng đường 10 năm Hai chă ̣ng đường khác nhau nhưng đều là của mô ̣t con người thống nhất Khoảng thời gian này, Lưu Quang Vũ phải trải qua thời kì gian khó, thất vo ̣ng, cô đơn và có cả những lúc bế tắc mà ít ai biết đến Nhưng cũng trong vài năm ấy, nhà thơ đã nhâ ̣n thức sâu sắc được nhiều điều rô ̣ng lớn và nhất là khám phá chính bản thân mình Có thể thấy ở đây mô ̣t Lưu Quang Vũ của những ước nguyê ̣n tha thiết muốn vượt lên số phâ ̣n trên nỗi mê ̣t mỏi, hoài nghi để yêu thương, để sống và để viết Lưu Quang Vũ lă ̣ng lẽ làm thơ Làm rất nhiều thơ Làm thơ như ghi nhâ ̣t ký Tuy thơ của ông lúc đó không hợp với sách báo ngày đó vì thế khó được in ấn, xuất bản, nhưng Lưu Quang Vũ vẫn miê ̣t mài viết, dòng thơ vẫn cứ cuồn cuô ̣n, âm ĩ, ra ̣o rực trong tâm hồn người nghê ̣ sĩ Lưu Quang Vũ viết cho nhu
cầu của riêng mình Những bài thơ diễn đa ̣t tâm tra ̣ng và cảm xúc cao đô ̣ mà ông đã trải qua trong những ngày đang sống Chính những bài thơ này gợi mở mô ̣t diê ̣n
mạo thơ khác của Lưu Quang Vũ Mô ̣t Lưu Quang Vũ không những đắm đuối, buồn đau, khốc liê ̣t, mà còn có mô ̣t Lưu Quang Vũ tha thiết vượt lên mo ̣i đau khổ
củ a số phâ ̣n, say mê với cuô ̣c sống, mô ̣t Lưu Quang Vũ ham sống và ham viết
Trang 20CHƯƠNG II KHẢO SÁT CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ THỂ HIỆN BẰNG PHƯƠNG TIỆN TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TRONG TẬP THƠ “NHỮNG
BÔNG HOA KHÔNG CHẾT” CỦA LƯU QUANG VŨ
Dẫn nhập
Trong tập thơ “Những bông hoa không chết” xuất hiện khá nhiều các tín hiệu thẩm mĩ như: “mưa”, “gió”, “nắng”, “lửa”, “đạn”, “hoa”, “mùa xuân”,
“con tàu”, “tấm vé”,… Những tín hiệu thẩm mĩ ấy đã tạo nên dấu ấn đáng nhớ cho
tập thơ Ở bài nghiên cứu này, chúng tôi không đi sâu nghiên cứu từng tín hiệu thẩm
mĩ, các biến thể hay hệ thống tín hiệu thẩm mĩ trong từng bài thơ mà đi theo chủ đề của hệ thống tín hiệu thẩm mĩ
Tập thơ “Những bông hoa không chết” là tập thơ mới, được tập hợp từ nhiều
tuyển tập đã in trước đó và có một số bài chưa xuất hiện Đây là tập thơ được tác giả viết phần lớn vào những năm 1970 – 1980, cạnh đó còn có những bài thơ viết 1954,
1963, do đó nội dung thơ khá đa dạng và phong phú, là những chiêm nghiệm sâu sắc của đời người Những tín hiệu thẩm mĩ vì thế cũng đa dạng, phong phú và phức tạp hơn Ở đây, chúng tôi đi sâu tìm hiểu hệ thống các tín hiệu thuộc năm nhóm: Các tín hiệu thẩm mĩ liên quan đến hiện tượng thiên nhiên, ý niệm thời gian, chiến tranh, các loài hoa và những chuyến đi
Để tiện cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi khảo sát các tín hiệu thẩm mĩ trên hai phương diện, thể hiện bằng phương tiện từ vựng và ngữ nghĩa Và để phân loại, chúng tôi căn cứ theo hai tiêu chí:
-Tiêu chí thứ nhất là cấu tạo của tín hiệu Với tiêu chí này, tín hiệu được chia làm 3 loại: từ đơn, từ phức (từ ghép, từ láy) hay cụm từ, nếu là cụm từ thì chia thành
4 nhóm nhỏ là cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ và cụm chủ - vị (nếu có)
-Tiêu chí thứ hai là nghĩa của tín hiệu Trên cơ sở căn cứ vào nghĩa từ điển, chúng tôi xác định những nhóm nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ Ở cách phân chia này, một tín hiệu thẩm mĩ có thể nằm ở nhiều nhóm khác nhau, tùy vào cách chuyển nghĩa cụ thể trong câu thơ, đoạn thơ (Tính đa trị của tín hiệu thẩm mĩ) Và khi xét
Trang 21các tín hiệu thẩm mĩ, chúng tôi cũng chỉ ra phương thức chuyển nghĩa của tín hiệu,
là ẩn dụ hay hoán dụ
2.1 Các tín hiệu thẩm mĩ liên quan đến hiện tượng thiên nhiên
Thơ Lưu Quang Vũ nói chung, “Những bông hoa không chết” nói riêng tập
hợp dày đặc những tín hiệu thẩm mĩ liên quan đến hiện tượng thiên nhiên Ta bắt
gặp “mưa”, “gió”, “nắng”, “sương”, “mây”, “bão”,… hàng loạt trong tập thơ
Việc sử dụng cụm từ “hiện tượng thiên nhiên” (đề mục) đặt cho các tín hiệu thẩm
mĩ này tuy chưa thật chính xác, tuy nhiên ở mức độ nào đó, chúng tôi nghĩ đã đảm bảo hơn 90% các tín hiệu cụ thể muốn khảo sát
2.1.1 Tín hiệu thẩm mĩ “mưa”
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi đã tìm ra 16 tín hiệu “mưa”, trong đó có
13 tín hiệu là tín hiệu thẩm mĩ Dưới đây là bảng thống kê cụ thể về tín hiệu thẩm
Trang 22Với 13 tín hiệu thẩm mĩ “mưa” nêu trên, chúng tôi đã phân chia theo hai tiêu
chí, theo cấu tạo và theo nghĩa
- Theo cấu tạo:
+ Từ đơn: mưa
+ Từ phức: mưa rào, mưa dầm, cơn mưa, mưa giông, mưa bom (từ ghép)
+ Cụm từ: trận mưa, cơn mưa dầm, trận mưa rào, mùa mưa rào, cơn nắng mưa (cụm danh từ); mưa buốt, trận mưa dài (cụm chủ - vị)
Như vậy, về cấu tạo, cụm từ có số lượng nhiều nhất (7/13 tín hiệu thẩm mĩ), trong đó, cụm danh từ chiếm số lượng nhiều hơn cả Các tín hiệu thẩm mĩ là cụm từ
được kết hợp rất đặc biệt: trận/ cơn + mưa+ từ chỉ tính chất của mưa (rào, dầm,
buốt, dài) Chính cách cấu tạo này cũng góp phần tạo nên sức nặng về ngữ nghĩa
Đọc một số câu thơ ta sẽ bắt gặp sự bất thường trong một số kết hợp từ: “bến phà mưa buốt”, “người quằn quại dưới mưa dầm nắng gắt” “Mưa buốt” không chỉ
gợi lên sự giá lạnh về thể xác mà còn cả sự xuyên thấu, cắt cứa trong tâm hồn Cũng
vậy, “mưa dầm”, mưa kéo dài nhiều ngày trên một diện rộng, mưa dai dẳng, dầm
dề trong thời gian dài và có sự ngấm lại, tượng trưng cho những khó khăn, vất vả, khắc nghiệt của thời chiến tranh mà con người phải hứng chịu
-Phân chia theo nghĩa:
+ Sự khốc liệt và dữ dội (mưa bom, mưa giông, trận mưa)
+ Sự thay đổi, biến chuyển (cơn mưa dầm, trận mưa rào, trận mưa dài, cơn nắng mưa, mùa mưa rào)
+ Không gian ướt át, ảm đạm, lạnh lẽo, u buồn (mưa)
+ Nỗi đau kéo dài (mưa buốt, mưa dầm)
+ Nguồn sống, niềm hạnh phúc (mưa)
Từ bảng khảo sát trên, có thể thấy 13 tín hiệu thẩm mĩ “mưa” được chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ Nếu hiểu theo nghĩa từ điển, “mưa” là hiện tượng tự
nhiên, khi nước bốc lên cao, ngưng tụ thành mây Khi mây gặp lạnh sẽ tạo thành
mưa, rơi xuống đất Và trong thi phẩm, tín hiệu thẩm mĩ “mưa” được Lưu Quang
Vũ sử dụng với những sắc thái ý nghĩa và cung bậc tình cảm khác nhau Mỗi lần
Trang 23“mưa” xuất hiện trong thơ Lưu Quang Vũ là một lần làm tươi mới ngôn ngữ thơ,
cảm xúc thơ, không gian thơ
“Mưa” không chỉ gợi nên không gian về một “xứ sở có nhiều mưa” mà
“mưa” còn dùng với nghĩa chuyển, ẩn dụ cho sự khốc liệt, dữ dội: “những trận mưa dữ dội /những vai áo bạc màu, những bàn tay lấm bụi” và cả sức mạnh tàn phá, hủy diệt: “trận mưa rào xám xịt mái tôn cong” Cùng với sức mạnh tàn phá khốc liệt, “mưa” còn gợi lên sự đổi thay, biến chuyển: “Cơn nắng mưa bật gốc tre già”
Không chỉ dừng lại đó, “mưa” còn tạo nên không gian lạnh lẽo, u buồn, làm nền cho tâm trạng của nhân vật trữ tình: “Mùa thu lạnh cơn mưa dầm dai dẳng” Hơn thế, “mưa” là biểu trưng cho quá khứ xa xôi, ảm đạm, đau thương: “cùng tuổi thơ ở lại với mưa rào” Đó là những ngày mưa dầm dề dai dẳng đau đáu trong lòng
người Quá khứ - điểm vin, chỗ dựa cuối cùng cũng lung lay khiến tâm hồn nhà thơ chới với, hụt hẫng
“Mưa rào” (thành mưa rào trên xứ sở yêu thương), chóng đến chóng tàn
nhưng tưới mát, làm dịu lại cơn khát cháy trong tâm hồn con người Nói được những điều ấy, nhà thơ phải là người rất tinh tế và sâu sắc Tất cả rồi sẽ qua đi như cơn mưa rào, chỉ yêu thương là còn lại mãi mãi, lòng bao dung, nhân hậu sẽ tồn tại vĩnh hằng Mưa làm cho tâm hồn con người được tái sinh sau bao nhiêu đau
thương, đổ vỡ, rách xé Cũng vì tính chất ấy của “mưa” mà “mưa” trở thành niềm
khao khát, đích đến của hạnh phúc, yêu thương, ước mơ, khát vọng, mong mỏi của
nhân vật trữ tình: “Những ngày ngột ngạt những ngày mong mưa”
Trong một bài viết, Vương Trí Nhàn có nhận xét: “Trong các thi sĩ đương thời, Vũ là người “nhạy cảm, thân thuộc với mưa hơn ai hết” Có lẽ vì vậy, “mưa”
đi vào trang thơ một cách tự nhiên mà đầy tinh tế, sâu lắng Khảo sát tín hiệu thẩm
mĩ “mưa”, ta nhận ra “mưa” đã tạo nên bản tình ca nhiều cung bậc cảm xúc, không
chỉ sâu lắng, trữ tình mà còn sôi nổi, mạnh mẽ của một tâm hồn đa sầu, đa cảm trong thơ Lưu Quang Vũ
Trang 242.1.2 Tín hiệu thẩm mĩ “nắng”
Nếu “mưa” gần gũi, thân thuộc, là không gian tâm trạng, là nỗi niềm ưu tư của nhân vật trữ tình thì “nắng” là một phần không thể thiếu trong thế giới thơ Lưu Quang Vũ Qua khảo sát, chúng tôi đã tìm ra 14 tín hiệu “nắng”, trong đó có 8 tín
hiệu thẩm mĩ Dưới đây là bảng thống kê cụ thể về tín hiệu thẩm mĩ này
STT Tín hiệu thẩm mĩ Số lần xuất hiện Tỉ lệ xuất hiện (%)
Với 8 tín hiệu thẩm mĩ “nắng”, chúng tôi đã phân chia theo hai tiêu chí, tiêu
chí cấu tạo và tiêu chí nghĩa
-Phân theo cấu tạo:
+ Từ phức: nắng gió (từ ghép)
+ Cụm từ: nắng rừng, nắng hè, cơn nắng mưa (cụm danh từ); nắng rộng, nắng gắt, nắng chói, nắng tắt (cụm chủ - vị)
Như vậy, trong 8 tín hiệu thẩm mĩ, không có từ đơn, 1 từ ghép, còn lại là
cụm từ Trong đó, số lượng cụm từ mới được tạo thành khá nhiều, như: “nắng rộng”, “cơn nắng mưa”, “nắng rừng”… Dường như, trong những cụm từ này, một
số thực từ, hư từ làm rõ nghĩa đã bị lượt bỏ tạo nên sự đa nghĩa cho cụm từ, ví dụ:
“nắng rộng”, không xác định cụ thể được tính chất của hiện tượng này Chính điều này tạo nên sự mơ hồ về ngữ nghĩa Về cấu tạo, các tín hiệu thẩm mĩ “nắng” trong
thơ Lưu Quang Vũ không xuất hiện một mình mà luôn đi kèm với một số tính từ
Trang 25như: rộng, gắt hay một số danh từ: rừng, trưa, hè, mưa, động từ: tắt, chói góp phần
mở rộng phạm vi biểu vật và biểu niệm
“Nắng” trong thơ Lưu Quang Vũ còn có một số kết hợp từ độc đáo tạo nên nghĩa mới, ví như: “nắng rộng” “Nắng” ở đây không còn chỉ một hiện tượng thiên
nhiên nữa, mà đã mở rộng tạo nên khung trời bao la, tươi đẹp, là sự chuyển biến
mới mẻ lớn lao trong tâm trạng của nhân vật trữ tình: “Bàn tay nhỏ mến thương/ Nối anh vào nắng rộng” Ở câu thơ này, giọng thơ hàm ơn thể hiện rõ nét, có lẽ,
tâm hồn khát nắng đã được chở che, yêu thương bởi “bàn tay nhỏ” tình yêu Có khi
ta còn bắt gặp một số kết hợp từ lạ, ví như: “nghi ngút nắng rừng”, “chấp chới nắng hè” Đây đều là những kết hợp từ độc đáo, tưởng như mâu thuẫn, phi lí mà lại
rất hợp lí, mở ra nhiều chiều kích không gian, tạo nên khung cảnh đẹp đẽ, lãng mạn
và ẩn chứa cả tâm trạng của nhân vật trữ tình
- Phân theo nghĩa:
+ Không gian oi nồng, bỏng rát (nắng gắt, nắng hè)
+ Không gian bao la, rộng lớn, rực rỡ, tươi đẹp (nắng rộng, nắng rừng)
+ Sự biến chuyển (cơn nắng mưa)
+ Đau thương, tuyệt vọng (nắng tắt)
+ Sức mạnh soi sáng, làm bừng thức (nắng chói)
Theo Từ điển tiếng Việt, “nắng” (danh từ, động từ hoặc tính từ) có 3 nghĩa:
1) Ánh sáng trực tiếp từ mặt trời chiếu xuống 2) Khoảng thời gian của một ngày có nắng 3) Tính từ hoặc động từ, có nắng Bên cạnh những nghĩa có trong từ điển,
trong tập thơ “Những bông hoa không chết”, “nắng” còn xuất hiện khá nhiều nghĩa
mới được chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ
Có thể thấy, “nắng” xuất hiện với tỉ lệ ít hơn so với “mưa” Tuy nhiên tín
hiệu thẩm mĩ này vẫn đóng vai trò quan trọng làm nên thế giới tự nhiên muôn hình
vạn trạng trong thơ Lưu Quang Vũ Đi sâu vào thế giới thơ anh, ta nhận ra “nắng”
trở thành một tín hiệu thẩm mĩ độc đáo, mang nhiều tầng ý nghĩa, thay đổi khá rõ về phạm vi biểu vật và biểu niệm
Trang 26Nắng chói chang, gay gắt của vùng nhiệt đới làm cho không gian thơ dường
như bị thiêu cháy: “Lũ trẻ đầu trần đi trong nắng gắt”; “Đi vô vọng trên đường nắng gắt” Nắng vùng nhiệt đới kéo theo cả cái hanh khô, rát bỏng khiến không
gian thơ dường như bị thu hẹp lại khiến tâm trạng nhân vật trữ tình cũng đổi khác:
“Người quằn quại dưới mưa dầm nắng gắt”
Bên cạnh đó,“cơn nắng mưa” trong “cơn nắng mưa bật gốc tre già” còn
cho thấy sự biến đổi, chuyển dời của thời cuộc Và cùng với sự chuyển dời ấy, con
người cảm thấy mình thật bé nhỏ, bơ vơ, cô đơn, tuyệt vọng: “mặt gương vỡ buổi chiều nắng tắt”
Có khi “nắng” xuất hiện như một ẩn dụ cho sự bừng sáng và xuyên thấu Ánh sáng mặt trời là ánh sáng Cách mạng: “Cách mạng tình đầu nắng chói” được dùng với niềm thành kính, thiêng liêng Và sau này, hình ảnh “nắng” đã được nhà thơ Tố Hữu nhắc đến trong “Từ ấy”: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ” Ánh nắng rực
rỡ, ấm áp, diệu kì của Cách mạng đã soi sáng tâm hồn thi sĩ, làm bừng thức cả trí tuệ và tâm hồn
Có thể thấy, “nắng” trong tập thơ không chỉ được mở rộng phạm vi biểu vật
mà còn mở rộng phạm vi biểu niệm Nhà thơ đã sáng tạo một số kết hợp từ độc đáo,
mở rộng phạm vi nghĩa của từ, làm phong phú vốn từ vựng tiếng Việt về các hiện
tượng thiên nhiên, trong đó có “nắng”
2.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ “gió”
Bên cạnh “mưa”, “nắng”, tín hiệu thẩm mĩ “gió” cũng xuất hiện dày đặc trong tập thơ Chúng tôi đã tìm ra 19 tín hiệu “gió”, trong đó có 16 tín hiệu là tín
hiệu thẩm mĩ Dưới đây là bảng thống kê cụ thể về tín hiệu thẩm mĩ này
STT Tín hiệu thẩm mĩ Số lần xuất hiện Tỉ lệ xuất hiện (%)
Trang 27Với 16 tín hiệu thẩm mĩ “gió”, chúng tôi đã phân chia theo hai tiêu chí, theo
cấu tạo và theo nghĩa
-Phân chia theo cấu tạo:
+ Từ đơn: gió
+ Từ phức: cát gió, nắng gió, gió lốc, ngọn gió, gió chướng (từ ghép)
+ Cụm từ: gió lửa (cụm danh từ); gió ốm, gió buốt, gió mặn, gió lạnh, cơn gió nóng, cơn gió lang thang, ngọn gió mênh mông, gió mạnh, gió táp, gió xoáy (cụm chủ - vị)
Trong 16 tín hiệu thẩm mĩ có 1 từ đơn, 5 từ ghép, 11 cụm từ Như vậy, tín hiệu thẩm mĩ là cụm từ chiếm số lượng nhiều nhất Có thể thấy, trong thơ Lưu
Quang Vũ, xuất hiện một số tính từ đi kèm với hình vị “gió” tạo nên nhiều ý nghĩa độc đáo, cụ thể như: “gió ốm” (tóc đen thẳm bay về như gió ốm) “Gió ốm” – một
kết hợp từ độc đáo, mang nhiều ý nghĩa Bằng thủ pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác,
tác giả đã mở rộng cung bậc cảm xúc khi cảm nhận về “em” Vẻ đẹp của “em”
không tồn tại một cách hiện hữu mà tồn tại trong cõi vô thức, trong nỗi nhớ và niềm
đau Ngoài kết hợp: gió + tính từ (gió lạnh, gió buốt, gió mặn, gió nóng, ngọn gió
Trang 28mênh mông, …) còn có kết hợp: gió + động từ, như: cơn gió lang thang, gió táp,
gió xoáy,…
Theo Từ điển tiếng Việt, gió là danh từ, hiện tượng không khí trong khi
chuyển động thành luồng từ vùng có ấp suất cao đến vùng có áp suất thấp Đi vào
thế giới thơ Lưu Quang Vũ, cụ thể là tập thơ “Những bông hoa không chết”, “gió”
linh động chuyển hóa, biển đổi đa dạng theo phương thức ẩn dụ tạo nhiều nghĩa mới
-Phân chia theo nghĩa:
+ Sự biến động, đổi thay (gió, cát gió)
+ Sức mạnh dữ dội có khả năng hủy diệt (gió, gió chướng, gió mặn, gió xoáy, gió lốc, gió lửa, cơn gió nóng, gió lạnh, gió táp, gió lửa)
+ Không gian lạnh lẽo, giá rét (gió lạnh, gió buốt, ngọn gió mênh mông, gió ốm) + Cuộc sống nay đây mai đó, lang thang, phiêu bạt (cơn gió, cơn gió lang thang, gió)
“Gió”, đúng như bản chất vốn có của nó, gợi lên bao sự biến chuyển, trắc trở khó có thể đoán trước được Ta bắt gặp: “Trên mặt người rãn reo cát gió” “Gió” không còn là gió của tự nhiên, gió của trời mà “gió” trong “cát gió”, ẩn dụ cho
những bất trắc, biến đổi, chuyển dời đã in hằn trên mặt người, là chứng tích của một
thời đau khổ, tủi cực
Không chỉ vậy, “gió” mang trong mình sức mạnh hủy diệt: “mái nhà tôi tả tơi gió táp”, “tiếng sông ào ạt réo sôi những tàn lửa quanh mình gió xoáy”,… Có thể thấy, “gió” xuất hiện trong tập thơ rất đa dạng về tính chất, mức độ, có khi là
“gió lốc” - gió xoáy mạnh trong phạm vi nhỏ, sức hủy diệt vô tận, mãnh liệt, có khi
là “gió chướng” thổi từ biển về, hay là “gió nóng”, “gió táp”, “gió xoáy”, …
“Gió” không chỉ thể hiện sức mạnh vốn có của mình mà còn được so sánh để chỉ sức mạnh của người truyền tin: “Người truyền tin như gió chạy qua đồi”
“Gió” xuất hiện trong những trang thơ còn là hiện thân của chủ thể trữ tình
với đầy đủ những cung bậc cảm xúc, có khi mạnh mẽ, sôi nổi, có khi say đắm, đam
mê, nóng bỏng, có khi dịu nhẹ “Gió” đi lang thang, phiêu lưu, “chỉ còn cơn gió
Trang 29lang thang” Phạm Xuân Nguyên trong một bài viết có nhắc: “Như con tàu bồn chồn ra đi, thơ anh tất bật, hối hả như đời anh, suốt đời vội đi, suốt đời nóng ruột, nghe tiếng gió chuyển, gió nổi, gió trở là anh náo nức muốn lao ra với cuộc đời bên ngoài, muốn tung mình ra ngoài không gian” Như vậy, gió không chỉ xuất hiện với
đầy đủ ý nghĩa vốn có mà gió còn mang tâm hồn của nhà thơ, chở tâm hồn ấy đến những bến bờ xa
2.1.4 Một số tín hiệu thẩm mĩ khác liên quan đến hiện tượng thiên nhiên
Bên cạnh ba tín hiệu thẩm mĩ: “gió”, “mưa”, “nắng” xuất hiện với số lượng dày đặc trong thế giới nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ nói chung và tập “Những bông hoa không chết” nói riêng, còn có rất nhiều những tín hiệu thẩm mĩ khác nằm trong
trường từ vựng thuộc hiện tượng thiên nhiên Chúng tôi đã tìm ra 6 tín hiệu, trong
đó có 3 tín hiệu thẩm mĩ Dưới đây là bảng thống kê cụ thể về các tín hiệu thẩm mĩ này
STT Tín hiệu thẩm mĩ Số lần xuất hiện Tỉ lệ xuất hiện (%)
muốn tìm hiểu cụ thể hơn cũng như khai thác tận cùng những ý nghĩa tầng sâu của
tín hiệu thẩm mĩ này Bên cạnh “sương”, còn có “bão”, xuất hiện 7 lần (bão, cơn bão, bão táp), “mây”: 6 lần (mây, đám mây, mây trắng, mây giông)
Với tín hiệu thẩm mĩ “bão”, chúng tôi đã phân chia theo cấu tạo và theo
nghĩa, cụ thể như sau:
-Phân chia theo cấu tạo:
+ Từ đơn: bão
+ Từ phức: cơn bão, bão táp (từ ghép)
Trang 30-Phân chia theo nghĩa:
+ Sức mạnh tàn phá dữ dội, khốc liệt (bão, bão táp)
+ Chiến tranh (cơn bão)
+ Sức mạnh ảnh hưởng sâu rộng (bão táp)
Những ý nghĩa nêu trên đều được chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ
Theo “Từ điển tiếng Việt, “bão” (danh từ): gió xoáy trong phạm vi rộng trong một
vùng có áp suất không khí giảm xuống rất thấp, thường phát sinh từ biển khơi, có
sức phá hoại dữ dội do gió lớn, mưa to Nằm ngoài ý nghĩa này, “bão” xuất hiện trong trang thơ như một điềm xấu kéo theo bao đau thương, mất mát:“Đã nổi bão trên đất này trơ trụi” Phạm vi biểu vật được mở rộng, “bão” không chỉ là thiên tai,
có sức phá hủy mạnh mà còn là chiến tranh, là bom đạn, là chết chóc, là nỗi kinh sợ,
ám ảnh trong tiềm thức mỗi người dân Việt lúc bấy giờ: “cơn bão lớn mười mấy năm chưa dứt”
“Bão” còn là hình ảnh ẩn dụ được chuyển nghĩa để nói lên sức lan tỏa, sức mạnh to lớn của “những lời thơ bão táp”: “Đọc những lời thơ như bão táp/Giục mọi người tiến lên phía trước
Cũng như “bão”, “mây” cũng là một tín hiệu thẩm mĩ đáng chú ý Dưới đây
là sự phân chia theo cấu tạo và theo nghĩa của “mây”
-Phân chia theo cấu tạo:
+Từ đơn: mây
+Cụm từ: đám mây, mây giông (cụm danh từ); mây trắng (cụm chủ - vị)
-Phân chia theo nghĩa:
+ Sự tang tóc, thê lương (mây trắng)
+ Sự biến chuyển dữ dội (mây trắng, mây giông)
Những ý nghĩa nêu trên đều được chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ
Trong tập thơ “Những bông hoa không chết”, “mây” thường đi kèm với tính từ
“trắng”, “trắng xóa”, xuất hiện 4 lần Nếu hình ảnh “mây trắng” xuất hiện trong
thơ thường mang đến sự bình yên, dịu nhẹ trong tâm hồn, một vẻ đẹp tinh khiết, trong sáng, nên thơ như trong thơ Xuân Quỳnh, thơ Quang Dũng, …: “Mây trắng
Trang 31bay đi cùng với gió/ Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ” (Xuân Quỳnh); “Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm/ Em có bao giờ em nhớ thương” (Quang Dũng) Và ngay cả trong thơ Lưu Quang Vũ ở giai đoạn trước đó: “Thơ tôi là mây trắng của đời tôi”
(Mây trắng của đời tôi)
Nhưng đến với trang thơ trong “Những bông hoa không chết”, ta sẽ nhận ra một trạng thái đối cực rất rõ: “mây trắng xóa trôi về cuồn cuộn”, “mây trắng ào ào bay trên thành phố”, “mây trắng xóa ùa lên từ vực thẳm” Có thể thấy, “mây”,
“mây trắng” đã vẽ nên bức tranh màu trắng, tang tóc bi thương, một nỗi đau khó có
thể nguôi ngoai
Bên cạnh đó, “mây” còn xuất hiện với tư cách là một hình vị trong “đám mây”: “áo khăn bay như đám mây bốc cháy” và “mây giông”: “mở chân trời những cũng cuộn mây giông” gợi lên sự biến chuyển dữ dội của tạo vật, của cuộc đời Như vậy, khi đi vào thế giới thơ Lưu Quang Vũ, “mây” đã được chuyển hóa đa
dạng, đa sắc diện hơn
Bên cạnh hai tín hiệu thẩm mĩ “bão”,“mây”,“sương” cũng là một tín hiệu
thẩm mĩ đáng để chúng ta tìm hiểu Với tín hiệu thẩm mĩ “sương”, chúng tôi cũng phân chia theo hai tiêu chí, theo cấu tạo và theo nghĩa
-Phân chia theo cấu tạo:
+Từ phức: sương mù (từ ghép)
+ Cụm từ: mùa sương muối (cụm danh từ); sương xám (cụm chủ -vị)
-Phân chia theo nghĩa:
+ Không gian lạnh lẽo, u ám (sương xám, sương mù)
+ Thời kì dài, khắc nghiệt (mùa sương muối)
Qua việc khảo sát tín hiệu thẩm mĩ theo nghĩa, ta nhận ra: “Sương” không chỉ là “sương mù” - hơi nước ngưng tụ lại thành hạt màu trắng rất nhỏ bay lơ lửng
trong lớp không khí gần mặt đất, như nó vốn tồn tại trong tự nhiên, mà còn gợi lên
không gian lạnh lẽo, u ám: “biển có sóng dữ, có sương mù, có đáy vực khổng lồ cùng cái chết”
Trang 32“Sương muối” còn kết hợp với “mùa” tạo nên một từ mới, “mùa sương muối”, chỉ một khoảng thời gian trong năm, như bao mùa khác Ở đây, cụ thể,
“mùa sương” là khoảng thời gian dài dằng dặc, gom những đau thương, giá lạnh
mà nhân vật trữ tình phải trải qua
Như vậy, qua việc khảo sát các tín hiệu thẩm mĩ liên quan đến hiện tượng
thiên nhiên như: “mưa”, “gió”, “nắng”, “sương”, “bão”, “mây” ta thấy được sự
phong phú trong thế giới ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ cũng như hiểu sâu hơn thế giới nội tâm đa chiều của nhân vật trữ tình Các tín hiệu thẩm mĩ được khảo sát, đa
số đều là cụm từ, mà nhiều hơn cả là cụm danh từ Những danh từ được nối kết với nhau một cách ngẫu nhiên, chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ khiến câu thơ trở nên mơ hồ, khó giải thích được ý nghĩa Chính cách kết hợp khá lạ này đã tạo nên
sự đa nghĩa cho tín hiệu, làm cho thế giới thơ trở nên đa sắc, đa cung bậc hơn
2.2 Các tín hiệu thẩm mĩ liên quan đến ý niệm thời gian
Dẫn nhập
Đọc những bài thơ trong tập “Những bông hoa không chết”, chúng ta sẽ
nhận ra có rất nhiều tín hiệu thẩm mĩ liên quan đến ý niệm thời gian, cụ thể: tín hiệu
thẩm mĩ “mùa xuân”, tín hiệu thẩm mĩ “sáng”(sớm),“đêm” và tín hiệu thẩm mĩ
“ngày”,“tháng”,“năm” Đi sâu khảo sát những tín hiệu thẩm mĩ này, sẽ nhận ra
một số nghĩa mới của từ, nhận ra sự thay đổi phạm vi biểu vật, biểu niệm và một số hình tượng phi lí tính trong ngôn ngữ thơ
2.2.1 Tín hiệu thẩm mĩ “mùa xuân”
Trong các tín hiệu thẩm mĩ liên quan đến ý niệm thời gian có một số lượng
lớn tín hiệu thẩm mĩ “mùa xuân” Qua khảo sát, chúng tôi đã tìm ra 4 tín hiệu “mùa xuân”, trong đó chỉ có 3 tín hiệu là tín hiệu thẩm mĩ Dưới đây là bảng thống kê cụ
Trang 33Với 3 tín hiệu thẩm mĩ “mùa xuân”, để tiện cho quá trình tìm hiểu, chúng tôi
đã phân chia theo hai tiêu chí, theo cấu tạo và theo nghĩa
-Phân chia theo cấu tạo:
+ Từ phức: mùa xuân (từ ghép)
+ Cụm từ: tin xuân (cụm danh từ); ngày xuân đẹp (cụm chủ - vị)
Như vậy, trong các tín hiệu thẩm mĩ nêu trên, cụm từ chiếm số lượng nhiều nhất Có thể thấy, cách cấu tạo tín hiệu, ở góc độ từ vựng cũng khá đa dạng và linh
hoạt, có khi là:“mùa xuân”, có khi là “tin xuân”, là “ngày xuân đẹp”
-Phân chia theo nghĩa:
+ Sự tươi tốt, tràn trề nhựa sống (mùa xuân, ngày xuân đẹp)
+ Niềm vui, hạnh phúc, tình yêu, hy vọng (xuân, tin xuân )
“Mùa xuân”, “xuân” theo “Từ điển tiếng Việt” có nhiều nghĩa khác nhau, ở đây chúng tôi chọn những nghĩa sát nhất với tín hiệu cần khảo sát “Xuân” (danh
từ, tính từ): danh từ, 1) mùa chuyển tiếp từ đông sang hạ, thời tiết ấm dần lên, thường được coi là mở đầu của năm; 2) (văn chương): năm, dùng để tính thời gian
đã trôi qua Tính từ: (văn chương): thuộc về tuổi trẻ, coi là tươi đẹp, tràn đầy sức sống Như vậy, những nhóm nghĩa nêu trên đều được chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ
Trong tập “Những bông hoa không chết”, “mùa xuân” xuất hiện gợi lên không gian tràn trề nhựa sống: “Khắp bốn phía mùa xuân náo động” Xuân đến đất
trời thay đổi khác, vạn vật thay da đổi thịt, khoát lên mình bộ áo mới non tơ, mơn mởn
Mùa xuân không chỉ là mùa của đất trời mà còn là mùa của lòng người, mùa
của tình yêu, của hạnh phúc: “Cho ban mai chim nhạn báo tin xuân” “Mùa xuân”
đến không chỉ mang theo vẻ đẹp của thiên nhiên, vạn vật mà còn đem đến niềm tin,
sự vui vẻ, hạnh phúc cho con người: “ta tạc lòng giữa một ngày xuân đẹp”
Như vậy, “xuân”, “mùa xuân” xuất hiện không chỉ biểu thị ý nghĩa thời gian
mà nó còn kết hợp với một số từ ngữ khác tạo nên ý nghĩa mới cho từ, làm phong phú vốn từ tiếng Việt
Trang 342.2.2 Tín hiệu thẩm mĩ “sáng” và tín hiệu thẩm mĩ “đêm”
Tín hiệu thẩm mĩ “sáng”, “sớm” xuất hiện khá nhiều trong tập thơ, tạo nên nghĩa liên hội Ở đây, chúng tôi khảo sát và đặt trong sự đối sánh với “đêm” để tiện
cho quá trình tìm hiểu
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi đã tìm ra 9 tín hiệu “sáng”, “sớm” trong
đó, có 4 tín hiệu là tín hiệu thẩm mĩ Dưới đây là bảng thống kê cụ thể:
STT Tín hiệu thẩm mĩ Số lần xuất hiện Tỉ lệ xuất hiện (%)
-Phân chia theo cấu tạo:
+ Từ phức : Bình minh, ban mai, sớm mai (từ ghép)
+ Cụm từ: Ban mai xanh (cụm danh từ)
-Phân chia theo nghĩa:
+ Sự trong trẻo, tuyệt đẹp, tinh khiết, yên tĩnh (ban mai, bình minh, sớm mai) + Thời điểm của sự bắt đầu và những đổi thay lớn lao (ban mai xanh)
Tất cả những nhóm nghĩa nêu trên đều được chuyển nghĩa theo phương thức
ẩn dụ
Buổi sáng hay sớm mai là thời điểm bắt đầu ngày mới Theo “Từ điển tiếng
Việt”, “sáng” là khoảng thời gian từ lúc mặt trời mọc cho đến gần trưa; “sớm”:
khoảng thời gian lúc mặt trời mọc Và xuất hiện trong tập thơ, tín hiệu thẩm mĩ này cũng mang những nét nghĩa ấy Những tinh khiết, thanh tân đều được kết đọng trong buổi sớm mai Đây cũng là thời gian con người cảm nhận được sự bình yên và
nhẹ nhàng: “Mỗi sớm mai một thay đổi dáng hình” nhưng có khi là thời điểm để bắt đầu “buổi ban mai ào ạt cánh chim bay”
Trang 35Cùng chỉ một khoảng thời gian nhưng tác giả sử dụng khá nhiều cụm từ, có
khi là “ban mai”, có khi là “sớm mai”, “bình minh”… Có thể thấy nhà thơ là một
người giàu vốn ngôn từ, sử dụng linh hoạt và tinh tế thế giới ngôn ngữ đa dạng
Những tín hiệu thẩm mĩ “sáng”, “sớm” đã khảo sát ở trên đều mang ý nghĩa tích cực, vậy còn “đêm” thì sao? Qua khảo sát, chúng tôi đã tìm ra 10 tín hiệu
“đêm” trong đó, có 9 tín hiệu là tín hiệu thẩm mĩ Dưới đây là bảng thống kê cụ thể
Cũng như những tín hiệu thẩm mĩ khác, chúng tôi phân chia “đêm” theo hai
tiêu chí, cấu tạo và nghĩa
-Phân chia theo cấu tạo:
+ Từ đơn: đêm
+ Từ phức: đêm nay, đêm tối (từ ghép)
+Cụm từ: đêm huyền sử, đêm nô lệ, ngàn đêm (cụm danh từ); đêm dài, đêm trắng, đêm tối, đêm tàn (cụm chủ - vị)
Như vậy, ta dễ dàng nhận ra, tín hiệu thẩm mĩ “đêm” là cụm từ chiếm số
lượng nhiều nhất Về cấu tạo của các cụm từ, có thể thấy, đa số là ở dạng: đêm +
tính từ (đêm dài, đêm trắng, đêm tối) và đêm + danh từ (đêm huyền sử, đêm nô
Trang 36lệ) Những cách kết hợp này không chỉ tạo nên dấu ấn riêng cho tập thơ mà còn góp phần mở rộng phạm vi biểu vật và biểu niệm cho từ
-Phân chia theo nghĩa
+ Nỗi khiếp sợ, ám ảnh kéo dài (đêm tối, đêm, đêm trắng, ngàn đêm, đêm dài, đêm
nô lệ, đêm huyền sử)
+ Cái chết, sự hủy diệt (đêm, đêm nay, đêm tàn,)
+ Sự chờ đợi, mong nhớ (đêm)
“Đêm” xuất hiện trong “Những bông hoa không chết”, không phải để chỉ
một khoảng thời gian nhất định, từ tối cho đến sáng, như định nghĩa trong từ điển
mà đã được chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ “Đêm” trở thành nỗi ám ảnh, nỗi khiếp sợ: “đêm tôi rền tiếng trống từ thuở trước” Màn đêm đen bao phủ không gian, trở thành nỗi khiếp sợ ám vào trong tiềm thức: “Đêm tan tành như một khối thủy tinh đen” “Đêm” đồng nghĩa với cái chết, với sự hủy diệt, chết chóc, đau thương, mất mát “Đêm” còn là chiến tranh kéo dài không có ngày dứt, là khói lửa, bom đạn: “đã quá nhiều đêm nô lệ”
“Đêm” còn là thước đo của nỗi nhớ: “Đêm nhớ thương, em đã gọi thầm” Cùng với tín hiệu thẩm mĩ “sáng”, tín hiệu thẩm mĩ “đêm” không chỉ mở ra
các khoảng khác nhau trong dòng thời gian mà còn mang cả ý niệm về thời gian
Qua khảo sát, ta thấy rằng, số lượng tín hiệu thẩm mĩ “đêm” nhiều hơn gần gấp ba lần so với tín hiệu thẩm mĩ “sáng” Điều này cho thấy khoảng thời gian “đêm” trở thành thời gian chủ đạo của tập thơ “Đêm” không chỉ gợi nhắc cho người đọc nhớ
đến những trận đánh nhau, những xác chết, khói hương trầm, những kí ức buồn mà còn cả những đêm dài thăm thẳm của người nghệ sĩ, những đêm đánh vật với từng trang giấy để cho ra đời những đứa con tinh thần giá trị
2.2.3 Tín hiệu thẩm mĩ “ngày” , “tháng”, “ năm”
Tập thơ ra đời trong những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh Từng ngày, tháng được đong đếm, ý niệm về thời gian luôn là nỗi đau đáu trong tâm hồn người nghệ sĩ đa sầu đa cảm
Trang 37Qua khảo sát, chúng tôi đã tìm ra 13 tín hiệu “ngày”, “tháng”, “năm” trong
đó, có 3 tín hiệu thẩm mĩ Dưới đây là bảng thống kê cụ thể về tín hiệu thẩm mĩ
“ngày”, “tháng”, “năm” và sự phân chia theo cấu tạo và nghĩa
STT Tín hiệu thẩm mĩ Số lần xuất hiện Tỉ lệ xuất hiện (%)
Có thể thấy, về cấu tạo, những tín hiệu thẩm mĩ “tháng năm”, “ngày tháng”,
“ngàn năm” không có gì đặc biệt nhưng để đưa nó trở thành tín hiệu thẩm mĩ thì
cần rất nhiều dụng công nghệ thuật, cách vận dụng linh hoạt và sáng tạo
-Phân chia theo nghĩa:
+ Thời gian quá khứ đau thương (tháng năm, ngày tháng)
+ Thời gian kéo dài đằng đẵng (ngàn năm)
Qua bảng khảo sát, ta thấy rằng, cả hai nhóm nghĩa nêu trên đều được
chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ “Ngày”, “tháng”, “năm” là những từ vốn
dùng để chỉ thời gian nhưng khi được kết hợp, nó lại gợi nhắc về thời gian trong
quá khứ, ví như: “tháng năm”, “ngày tháng” Thời gian đau thương, cay đắng được gợi nhắc: “tháng năm tù đọng bơ phờ”, “chết trong ngày tháng xót xa”… Ở đây, ta nhận ra một số kết hợp từ mới: “tháng năm tù đọng, ngày tháng xót xa”,… “Ngày”,
“tháng”, “năm” không còn được dùng để chỉ một khoảng thời gian như ý nghĩa
vốn có trong từ điển mà là để bày tỏ những chiêm nghiệm, suy tư, trăn trở của chủ thể trữ tình về một thời đã qua
“Ngàn năm” xuất hiện 4 lần ẩn dụ cho thời gian dài đằng đẵng, có khi cụm
từ “ngàn năm” đứng trước: “ngàn năm uất hận”, “ngàn năm chiến trận” hay có khi cụm từ “ngàn năm” được đảo về sau: “mái rêu cổ ngàn năm”, “màu cỏ xanh