Tuy nhiên, tìm hiểu một cách cặn kẽ ca dao về tình yêu lứa đôi ở miền Tây Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa học để nhận diện những nét đặc trưng trong tính cách người Tây Nam Bộ và qua đó hiểu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
PHAN THỊ KIM ANH
TÌNH YÊU LỨA ĐÔI QUA CA DAO NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
PHAN THỊ KIM ANH
TÌNH YÊU LỨA ĐÔI QUA CA DAO NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHAN THU HIỀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 3Bên cạnh đó, tôi xin cảm ơn quý Thầy Cô trong khoa Văn Hóa học đã truyền đạt
kiến thức cho tôi suốt những năm học Cảm ơn quý Thầy Cô trong hội đồng chấm luận
văn đã dành thời gian và công sức đóng góp ý kiến để luận văn hoàn chỉnh hơn Tôi cũng xin cảm ơn phòng đào tạo Sau Đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, không thể quên sự giúp đỡ, động viên của bạn bè và người thân
trong gia đình
Một lần nữa, kính gửi đến quý Thầy Cô, bạn bè và người thân lời tri ân sâu sắc
Học viên Phan Thị Kim Anh
Trang 4MỤC LỤC
DẪN NHẬP 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 8
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10
7 Bố cục của luận văn 11
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 12
1.1 Quan hệ văn hóa – văn học và hướng nghiên cứu văn hóa – văn học 12
1.1.1 Quan hệ văn hóa- văn học 12
1.1.2 Hướng nghiên cứu văn hóa – văn học 15
1.2 Ca dao và ca dao về tình yêu lứa đôi 18
1.2.1 Ca dao như một thể loại văn học dân gian 18
1.2.2 Ca dao với đề tài tình yêu lứa đôi 26
1.3 Ca dao về tình yêu lứa đôi của người Việt Tây Nam Bộ nhìn từ góc độ văn hóa vùng 29
1.3.1 Văn hóa vùng và vùng văn hóa 29
1.3.2 Tọa độ văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ 34
Không gian văn hóa 34
Chủ thể văn hóa 40
Thời gian văn hóa 43
1.3.3 Nhận diện ca dao Tây Nam Bộ 49
Nhận diện qua địa danh 50
Nhận diện qua sản vật 51
Nhận diện qua phương ngữ 55
1.3.4 Ca dao tình yêu lứa đôi trong quan hệ với văn hóa người Việt Tây Nam Bộ 60
Tiểu kết 62
CHƯƠNG 2: CÁC BÌNH DIỆN VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ TRONG CA DAO TÌNH YÊU LỨA ĐÔI 64
2.1 Văn hóa nhận thức 65
2.1.1 Quan niệm về tình yêu và hạnh phúc 65
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn người yêu 66
Quan niệm vẻ đẹp hình thức 66
Quan hệ giữa cái đẹp và cái nết 68
Quan niệm vẻ đẹp tâm hồn 69
2.1.3 Quan niệm về tình yêu và duyên phận 70
Duyên phận quyết định tình yêu 70
Tình yêu chiến thắng duyên phận 72
2.2 Văn hóa tổ chức 75
Trang 52.2.1 Tình yêu lứa đôi và quan hệ gia đình, dòng tộc 75
Chữ tình và chữ hiếu 77
Tình yêu và hôn nhân 79
2.2.2 Tình yêu lứa đôi và những quan hệ xã hội 83
Tình yêu lứa đôi và quan hệ giai cấp, địa vị, tuổi tác 84
Tình yêu và quan hệ giới 87
Tình yêu và dư luận xã hội 92
2.3 Văn hóa ứng xử 95
2.3.1 Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên 95
Thiên nhiên như môi trường, không gian tình yêu lứa đôi 96
Thiên nhiên như một tác nhân trong tình yêu lứa đôi 100
2.3.2 Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội 102
Tình yêu hôn nhân với những người khác chủng tộc, khác quốc tịch 102
Tiểu kết 110
CHƯƠNG 3: TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TRONG CA DAO NHÌN TỪ ĐẶC TRƯNG TÍNH CÁCH VĂN HÓA 112
3.1 Tính bao dung 113
3.1.1 Nhận diện tính bao dung của người Tây Nam Bộ 113
3.1.2 Tính bao dung thể hiện trong ca dao tình yêu lứa đôi 114
3.2 Tính trọng nghĩa 117
3.2.1 Nhận diện tính trọng nghĩa của người Tây Nam Bộ 117
3.2.2 Tính trọng nghĩa thể hiện trong ca dao tình yêu lứa đôi 117
3.3 Tính cởi mở, phóng khoáng 123
3.3.1 Nhận diện tính cởi mở, phóng khoáng của người Tây Nam Bộ 123
3.3.2 Tính cởi mở, phóng khoáng thể hiện trong ca dao tình yêu lứa đôi 125
3.4 Tính thiết thực 129
3.4.1 Nhận diện tính thiết thực của người Tây Nam Bộ 129
3.4.2 Tính thiết thực thể hiện trong ca dao tình yêu lứa đôi 130
Tiểu kết 142
KẾT LUẬN 144
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147
Trang 6DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Là một thể loại của văn học dân gian, ca dao là một loại hình văn học truyền miệng rất được nhân dân ưa thích Ngôn ngữ trong ca dao muôn màu muôn vẻ, là “tiếng
tơ đàn muôn điệu”, mang đậm sắc thái tình cảm con người
Ca dao, tấm gương phản chiếu đời thường một cách có nghệ thuật, nó thể hiện cái hồn đất nước, quê hương, vừa phảng phất vô hình, vừa gần gũi cụ thể, có khi chìm lắng sâu đậm trong tình cảm con người Đặc biệt, điều thú vị nhất là đặc trưng của văn hóa vùng miền được khu biệt và thể hiện rõ nét trong ca dao
Tình yêu không phải là đề tài xa lạ trong văn học, nếu không muốn nói là quá quen thuộc Văn học dân gian thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thật phong phú, nhiều màu, nhiều vẻ trong mảng nói về tình yêu Với riêng ca dao Việt Nam, hình như tất cả những cái hay, cái đẹp đều dồn vào chủ đề tình yêu
Ca dao về tình yêu lứa đôi cũng là một đề tài không mới bởi đã có quá nhiều công trình nghiên cứu, tiếp cận vấn đề này từ các góc độ khác nhau Tuy nhiên, tìm hiểu một cách cặn kẽ ca dao về tình yêu lứa đôi ở miền Tây Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa học để nhận diện những nét đặc trưng trong tính cách người Tây Nam Bộ và qua đó hiểu một cách sâu hơn bản sắc con người và vùng đất Nam Bộ thì chúng tôi thấy các tài liệu hiện vẫn còn bỏ ngỏ…
Trên dải đất luôn nhoài ra biển Đông trong ồn ã sóng gió, lịch sử đã đi qua với bao nỗi thăng trầm Là nơi đi trước về sau, Nam Bộ, với vị thế địa – văn hóa, địa – chính trị của mình trở thành nơi hội tụ nhiều nền văn minh, đón nhận, giao lưu nhiều nền văn hóa đến từ nhiều chân trời khác nhau
Vùng đất Tây Nam Bộ này hẳn sẽ là cội nguồn của những câu ca, lời ăn tiếng nói với những sắc thái giá trị riêng phản ánh đời sống văn hóa của cư dân nơi đây Do vậy, tìm hiểu ca dao, tục ngữ miền đất này chắc chắn sẽ hứa hẹn nhiều điều hấp dẫn, thú vị Bản thân là một người con được lớn lên từ cái nôi vùng đồng bằng sông Cửu Long, việc nghiên cứu, tìm hiểu ca dao về tình yêu lứa đôi ở miền Tây Nam Bộ chính là những giây phút lắng lòng tìm về quê hương và cội nguồn của nền văn hóa đó
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ Văn phổ thông trung học trong nhà trường, tìm hiểu về văn học dân gian sẽ là nguồn cảm hứng và tư liệu quý giá để chúng
Trang 7tôi truyền đạt cho các em học sinh hiểu sâu hơn về văn hóa dân gian, qua đó càng thêm yêu quý những giá trị truyền thống của ông cha để lại
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Tình yêu lứa đôi qua ca dao của người Việt miền Tây Nam Bộ - dưới góc nhìn văn hóa học”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trước nay, về ca dao Tây Nam Bộ nói chung và con người với tình yêu lứa đôi của người Việt ở miền Tây Nam Bộ nói riêng, có một số những bản sưu tầm, phân loại hoặc bình chú ở từng khía cạnh hay từng bài riêng lẻ trong các quyển sách, báo và tạp chí… Tuy nhiên, chúng tôi chưa tìm thấy một công trình nào thuần túy về ca dao lứa đôi người Việt ở miền Tây Nam Bộ
Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu ít nhiều đề cập ca dao trong mối quan hệ tìm hiểu đặc điểm, sắc thái đời sống văn hóa và con người Nam Bộ nói chung, miền Tây Nam Bộ nói riêng, có thể kể tên như:
Tác giả Nguyễn Hoa với Tính cách người Nam Bộ qua ca dao - dân ca [1988]
Ở tuyển tập này, tác giả mới chỉ biên khảo và sưu tuyển ca dao - dân ca Nam Bộ
về tính cách người Nam Bộ trong cái nhìn về ca dao – dân ca nói chung
Còn tác giả Nguyễn Thị Mai với Khoá luận Tính cách người nông dân Nam Bộ trong Văn học dân gian [1989] cũng chỉ có cái nhìn lướt qua về tính cách người Nam
Bộ nói chung trong dòng văn học dân gian
Võ Thị Kim Loan với Khoá luận Tính cách người Nam Bộ qua ca dao dân ca
[1991]; qua đó tính cách người Nam Bộ được thể hiện cụ thể đó là bộc trực, hồn nhiên, bình đẳng, ngang tàng, hào hiệp và trào lộng Tuy nhiên chúng ta cũng chỉ thấy được những đặc điểm chung trong tính cách người Nam Bộ
Dưới góc độ văn học, tác giả Nguyễn Phương Châm với Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ và thể thơ trong ca dao người Việt ở Nam Bộ [Viện Nghiên cứu VHDG, 2000] lại
đưa ta về một cái nhìn khác nhưng lại là cái nhìn phiến diện về ngôn ngữ và thể thơ Qua đó tác giả lại chưa có cái nhìn xâu chuỗi, gắn liền với những tính cách đặc trưng văn hóa vùng miền phía cực Nam của Tổ quốc
Chúng tôi còn tìm thấy luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tuấn Anh với Ca dao, tục ngữ người Việt miền Tây Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa học[ 2009] Tác giả mới chủ
yếu làm công việc sưu tuyển ca dao và tục ngữ của Tây Nam Bộ nói chung Bên cạnh
đó tác giả cũng cho ta một cái nhìn tổng quan về văn hóa tổ chức đời sống tập thể và
Trang 8đời sống cá nhân, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội trong
ca dao – tục ngữ người miền Tây Nam Bộ
Ngoài ra còn rất nhiều bài báo, tạp chí viết về tình yêu lứa đôi ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau
Những công trình nói trên cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu từ hướng tiếp cận với văn học hoặc tiếp cận từ góc độ văn hóa học Tuy nhiên, các tác giả nhìn chung chưa có một cái nhìn so sánh vùng miền để từ đó tìm ra những nét đặc trưng trong tính cách văn hóa của người Việt Tây Nam Bộ
Như vậy, có thể nói việc nghiên cứu ca dao người Việt miền Tây Nam Bộ đã giành được khá nhiều sự quan tâm Những năm gần đây, xuất hiện nhiều công trình sưu tầm văn học dân gian của vùng này, nhất là ca dao Tuy nhiên, những công trình sưu tầm ca dao trên chưa có sự tuyển chọn, chắt lọc cần thiết để bộc lộ rõ tính vùng miền
mà thường bao gồm tất cả ca dao tồn tại, lưu truyền tại vùng đất này (trong đó, một bộ phận không nhỏ là ca dao, thuộc phần ca dao, chung của cả nước; phù hợp với tất cả vùng, miền) Còn nghiên cứu ca dao, qua đó thể hiện đặc điểm, sắc thái đời sống văn hoá người Việt nơi đây tuy có nhưng chưa thành hệ thống, chuyên sâu Mặt khác, các công trình trên chưa thu hẹp những nét riêng trong tình yêu lứa đôi của người Việt ở miền Tây Nam Bộ
Do vậy, dưới góc nhìn văn hóa học, việc sưu tuyển, phân loại ca dao của riêng người Việt miền Tây Nam Bộ theo hệ thống các thành tố văn hóa để phục vụ tốt hơn cho nghiên cứu văn hóa từ nguồn tư liệu dân gian dồi dào là điều còn bỏ ngỏ và nên làm
Chính vì vậy, nghiên cứu về vấn đề này còn là vấn đề khá mới mẻ và đòi hỏi nhiều công sức đối với chúng tôi Chúng tôi trân trọng và biết ơn những thành tựu nghiên cứu của các học giả đi trước đã cung cấp nhiều thông tin bổ ích, có giá trị Trên tinh thần đó, chúng tôi đã tham khảo, kế thừa có chọn lọc một cách trung thực nguồn tư liệu quý báu đó trong suốt quá trình thực hiện luận văn của mình
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tình yêu lứa đôi (tức là những lứa đôi gắn bó với nhau về thể xác lẫn tâm hồn) của người Việt ở miền Tây Nam Bộ
Trang 9Nghiên cứu, tìm hiểu về “Tình yêu lứa đôi qua ca dao của người Việt Tây Nam Bộ” là để có cái nhìn tổng thể và hệ thống về ca dao tình yêu, nhằm tìm ra những nét khu biệt tình yêu lứa đôi của con người ở vùng đất này Bên cạnh đó có cái nhìn về tình yêu lứa đôi ở Tây Nam Bộ trong đặc trưng tính cách văn hóa vùng miền, cùng với những nét riêng trong văn hóa Tây Nam Bộ đặt trong mối tương quan với các vùng miền khác của Tổ Quốc
Từ những hiểu biết về đời sống văn hóa của ca dao, biểu hiện qua tâm tư, tình cảm của người bình dân, luận văn góp một tiếng nói chung trong việc giữ gìn lời ca, tiếng nói của dân tộc, gìn giữ bản sắc dân tộc, nhất là vùng Tây Nam Bộ trong quá trình hội nhập và phát triển
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tất cả ca dao về tình yêu lứa đôi của người Việt ở miền Tây Nam Bộ, bao gồm các tỉnh thuộc miền đồng bằng sông Cửu Long: có mười hai tỉnh và một thành phố:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định theo trục tọa độ không gian ba chiều:
Thời gian tính từ thời điểm sự xuất hiện của người Việt ở Tây Nam Bộ vào khoảng thế kỷ 17 đến nay Không gian được giới hạn trong khu vực miền Tây Nam Bộ Chủ thể là người Việt ở Tây Nam Bộ
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng phương pháp văn hóa học và phương pháp cấu trúc - hệ thống là chủ yếu; Phương pháp văn hóa học là một phương
pháp nghiên cứu liên ngành, kết hợp lý luận của nhiều ngành như: tâm lý học, triết học,
xã hội học, đạo đức, văn hóa học…phương pháp này luôn đặt sự vật hiện tượng cần nghiên cứu dưới góc nhìn của văn hóa học
Phương pháp cấu trúc hệ thống được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài để tiếp cận văn hóa lứa đôi người Việt ở miền Tây Nam Bộ trong hệ thống văn hóa Việt Nam nói chung
Bên cạnh đó luận văn sử dụng phương pháp điền dã, miêu tả khi đi thực tế các
tỉnh thuộc Tây Nam Bộ: sưu tầm và nghiên cứu tư liệu để thu thập các nguồn ca dao về
tình yêu lứa đôi Kết hợp với phương pháp so sánh được sử dụng để tìm ra những nét
tương đồng và dị biệt giữa văn hóa lứa đôi ở Tây Nam Bộ với văn hóa lứa đôi ở các
vùng miền khác
Phương pháp diễn dịch và quy nạp để diễn giải và kết luận các hiện tượng, kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp để từ các hiện tượng cụ thể suy ra những
nét đặc trưng mang tính quy luật của ca dao về tình yêu lứa đôi
5.2 Nguồn tư liệu:
Người viết sử dụng nhiều tư liệu tham khảo chủ yếu là các tác phẩm, các công trình nghiên cứu, biên khảo, bài viết đăng tải trên các tạp chí, hội thảo, hội nghị, tổng kết… của các tác giả viết về ca dao tình yêu Nam Bộ và đặc biệt là Tây Nam Bộ
Nguồn tư liệu thực tiễn là do người viết khảo sát điền dã một số địa bàn ở Tây Nam
Bộ để khai thác, thu thập thông tin, tư liệu hình ảnh về đời sống cư dân để phục vụ cho việc nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về mặt khoa học, luận văn hy vọng góp phần mang đến một cái nhìn tương đối cụ thể, nhằm làm sáng tỏ những nét đặc trưng của người Nam Bộ thông qua mảng ca dao
về tình yêu lứa đôi ở miền Tây Nam Bộ
Về mặt thực tiễn, tình yêu lứa đôi là một đề tài muôn thưở không bao giờ vơi cạn, bởi con người chỉ ngừng yêu khi không còn sự sống Chính vì lẽ đó, luận văn này rất
Trang 11mong góp thêm một tiếng nói trong kho tàng tình yêu lứa đôi, hầu giúp những lứa đôi, nhất là ở vùng Tây Nam Bộ, thêm cơ hội để hiểu nhau hơn thông qua hệ thống ngôn từ phong phú của kho tàng ca dao miền Tây Nam Bộ
Hơn nữa, luận văn cũng mong đóng góp thêm tiếng nói để bảo vệ những giá trị nguồn cội của dân tộc, bảo vệ kho tàng văn hóa dân gian, để từ đó nuôi dưỡng tình yêu với đất Việt
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3
chương
Chương một: “Cơ sở lý luận và thực tiễn” trình bày những nét chung về văn hóa
người Việt ở miền Tây Nam Bộ trong cái nhìn thời gian, không gian và chủ thể, những tiền đề lý luận và thực tiễn cũng như tiêu chí nhận diện để nhận biết, phân loại, đánh giá
ca dao Tây Nam Bộ nói riêng và ca dao Nam Bộ nói chung
Chương hai: “Tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt Tây Nam Bộ nhìn từ các
bình diện văn hóa” trình bày tình yêu lứa đôi trong ca dao nhìn từ văn hóa tổ chức, nhận thức và ứng xử Phần này sẽ cho chúng ta cái nhìn cụ thể hơn về đặc điểm văn hóa giới, cũng như cách biểu đạt tình cảm qua ngôn ngữ, cử chỉ, hành vi của người nam và người
nữ trong tình yêu lứa đôi ở Tây Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung
Chương ba: “Tình yêu lứa đôi trong ca dao người Việt Tây Nam Bộ nhìn từ đặc
trưng tính cách văn hóa” trình bày các biểu hiện của tình yêu lứa đôi qua cái nhìn về đặc trưng tính cách văn hóa người miền Tây Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung
Trang 12CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Quan hệ văn hóa – văn học và hướng nghiên cứu văn hóa – văn học
1.1.1 Quan hệ văn hóa- văn học
Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa, “văn học” là nghệ thuật dùng ngôn ngữ và hình tượng để thể hiện đời sống và xã hội con người [Viện Ngôn Ngữ Học 2003: 1100]
Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn Tuy nhiên, về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện đời sống
Nói như Maxim Gorki, “Văn học là nhân học” Còn theo Jean-Paul Sartre, trong cuốn Văn học là gì? (1948), “Về nguyên tắc, nhà văn hướng tới tất cả mọi người”, “Về bản chất, văn học là tính chủ quan của một xã hội luôn luôn vận động” Văn học là cái
gì đó rất đỗi gần gũi với con người, giúp phát triển nhân cách con người, giúp người hiểu người hơn Văn học xuất phát từ con người, và dù nó có bay cao, bay xa, dù có thăng hoa đến đâu cũng hướng đến con người
Trong quyển Xã hội học Văn hóa, tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng: Văn hóa –
vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi
đó có văn hóa [Đoàn Văn Chúc, 1997]
Cũng trong tập sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Thêm
lại đưa ra một khái niệm: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [Trần Ngọc Thêm 2006]
Trang 13Như vậy có thể nói rằng, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Hay nói một cách tổng quát, văn hóa là những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần của con người
Về mối quan hệ văn hóa – văn học, nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy nhận định rằng, trước đây, quan hệ văn hóa và văn học được coi là quan hệ tương hỗ, đây là thứ quan hệ ngang bằng của hai hình thái ý thức xã hội cùng thuộc thượng tầng kiến trúc, cùng phản ánh một cơ sở hạ tầng Bởi thế, nghiên cứu văn hóa thì văn học được coi như một nguồn tài liệu, còn nghiên cứu văn học thì lại tìm thấy ở nó những chủ đề văn hóa, cũng
là một kiểu tài liệu Do đó, văn hóa và văn học làm tài liệu nghiên cứu cho nhau Có thể nói rằng, gần đây, quan hệ văn hóa và văn học được chú ý nhiều hơn, văn hóa bắt đầu được coi là nhân tố chi phối văn học Ngày nay, hẳn ai cũng thừa nhận văn hóa là một tổng thể, một hệ thống, bao gồm nhiều yếu tố trong đó có văn học [Đỗ Lai Thúy 2009: 57-59] Văn hóa chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận Vì vậy, nhiều giá trị văn học đã được hình thành trên cơ sở các giá trị của văn hóa
Mikhail Bakhtin trong những suy ngẫm về nghiên cứu văn học, ông luôn cho rằng “văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa và không thể hiểu nó bên ngoài bối cảnh văn hóa tổng thể của một thời đại cụ thể ”; tác giả cũng nhấn mạnh “đời sống năng động và mạnh mẽ của văn hóa diễn ra ngay trên những đường biên những lĩnh vực riêng của nó chứ không phải ở những nơi tập trung những đặc trưng riêng của từng lĩnh vực” [Nguyễn Văn Hiệu (dịch) 2007: 20]
Nói đến vị trí của văn học trong văn hóa là nói đến hai mặt của một vấn đề Thứ nhất, bản thân văn học trong văn hóa là một bộ phận của văn hóa, nó chịu sự chi phối mang tính quyết định của văn hóa Thứ hai là nói đến tính đại diện cho văn hóa của văn học, sự tác động tích cực trở lại của văn học đối với văn hóa [Đỗ Thị Minh Thúy 1997: 100]
Khi đặt văn học vào ngữ cảnh của văn hóa để nghiên cứu, tác giả Cao Kim Lan viết rằng “Theo tôi một phương pháp phê bình thống nhất những yếu tố khả thủ của hai
xu hướng này, nghĩa là phải đặt tác phẩm văn học vào ngữ cảnh văn hóa đồng thời vẫn phải thừa nhận/tìm kiếm trong bản thân nó “một cái gì đó” sẽ là một hướng đi có khả
năng tạo ra những cách nhìn mới” [Cao Kim Lan: Văn học và ngữ cảnh văn hóa,
http://vanhocquenha.vn]
Trang 14Phan Ngọc trong Một cách tiếp cận văn hóa khi nghiên cứu văn học giai đoạn
1975-1985 viết: “Nếu ta chấp nhận văn học là một thành tố của văn hóa, thì muốn xét văn học Việt Nam, phải xét nó trên một nền tảng vững chắc hơn là văn hóa Việt Nam” [Phan Ngọc 1999: 301]
Như vậy, các quan niệm có khác nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm đó là khẳng định mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết giữa văn học và văn hóa Nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với văn hóa, và ngược lại, nghiên cứu văn hóa trong mối quan hệ với văn học đều đưa lại những kết quả thú vị mà ở đó các giá trị văn hóa hay văn học đều được làm nổi bật trong sự thống nhất với nhau Người ta có thể nghiên cứu văn hóa
từ văn học, ngược lại, cũng có thể phê bình văn học từ văn hóa Đây là một phương pháp có nhiều thuận lợi bởi người ta đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, cái biết nhiều đến cái biết ít, cái toàn thể đến cái bộ phận bằng con đường loại suy Đỗ Lai Thúy đã sử
dụng thao tác này trong công trình Con mắt thơ Ông coi Thơ Mới là sản phẩm của văn
hóa đô thị và đi tìm đặc điểm của văn hóa đô thị qua các phạm vi không gian, thời gian, con người… một mặt để khu biệt với văn hóa nông thôn, mặt khác để làm nền cho bức tranh văn học bấy giờ
Bàn về mối quan hệ tương tác giữa văn hóa học và văn học, có nhà nghiên cứu cho rằng: “Văn học hiện thân như là một phương diện trung tâm của những mặt vật chất của văn hoá hoặc là của những hình thức biểu đạt trung gian mà qua đó văn hoá trở nên
có thể quan sát được” [Nguyễn Tri Nguyên 2010: 115] Như vậy, rất nhiều nhà nghiên cứu dựa vào văn học truyền miệng để đi tìm lịch sử văn hóa qua huyền thoại, do đó, giữa văn học và văn hóa học rõ ràng có mối quan hệ tương tác rất lớn Từ văn học dân gian, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra ký ức văn hóa của dân tộc, diện mạo văn hóa dân tộc một thời đã qua Dù là ở hình thức nào, giữa văn học và văn hóa đều có sự tương tác chặt chẽ với nhau
Cũng như thế, Huỳnh Như Phương trong bài nghiên cứu Văn học và văn hóa truyền thống cho rằng văn học biểu hiện văn hoá, văn học phản ánh văn hóa Ông
chứng minh rằng trong tác phẩm văn học, người đọc có thể tìm thấy hình ảnh của văn hoá qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn Ngược lại, theo tác giả, văn hoá cũng tác động mạnh mẽ đến văn học Sự tác động ấy không chỉ thể hiện ở đề tài mà còn ở toàn
bộ bầu khí quyển tinh thần bao bọc hoạt động sáng tạo của nhà văn Bản thân nhà văn với thế giới nghệ thuật của mình là một sản phẩm văn hoá Chính không gian văn hoá
Trang 15này chi phối cách xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác [Huỳnh Như Phương 2009: 20-28]
Như vậy, rõ ràng nghiên cứu văn hóa từ văn học là một việc làm có cơ sở khoa học Văn học là một bộ phận của văn hóa và văn học thể hiện các giá trị của bản sắc văn hóa Văn học phản ánh hầu hết các lĩnh vực của đời sống trên nền bản sắc văn hóa dân tộc và như thế tiếp cận văn học là một cách để giúp ta hiểu thấu đáo và sâu sắc văn hóa của đời sống đó
1.1.2 Hướng nghiên cứu văn hóa – văn học
Trong đời sống văn hóa tinh thần của nhiều tầng lớp nhân dân, văn học dân gian chiếm một vị trí khá quan trọng Quan trọng, bởi nó không chỉ đóng vai trò là cơ sở, là nền tảng để phát triển nền văn học hiện đại, mà qua sự sàng lọc của nhiều năm tháng, tự bản thân nó còn trở thành một loại hình nghệ thuật độc lập và độc đáo, đáp ứng được nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật vốn rất đa dạng và phong phú của con người
Trong công cuộc khai hoang lập ấp chinh phục đất phương Nam, ca dao đã ra đời, trở thành một bộ phận không thể tách rời trong đời sống của người dân Nó chính
là những tâm tư, tình cảm, khát vọng của con người trên vùng đất mới Một mặt, nó phản ánh chân thực mọi bình diện của cuộc sống; mặt khác, nó là những tác phẩm thể hiện sức sáng tạo mạnh mẽ và tài hoa của nhân dân lao động Từ ca dao, dân ca ra đời, sau đó tiến dần đến các loại hình nghệ thuật khác rất đặc trưng và rất độc đáo của người
phương Nam như ca ra bộ, đờn ca tài tử, cải lương…
Chính vì sự phát triển đặc thù ấy của ca dao nên phương pháp tiếp cận để nghiên cứu, chính là khung lý thuyết, là công cụ chủ đạo để tiến hành nghiên cứu Như người nông dân đi cày thì cần phải có chiếc cày vậy Trước khi tiến hành nghiên cứu đề tài, cũng như xác định phương pháp luận thích hợp, cần làm rõ một số luận điểm có ý nghĩa phương pháp luận, coi đó như những định hướng quan trọng khi triển khai thực hiện
Luận điểm có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là cần phải luôn coi tình yêu đôi lứa
là một bộ phận hữu cơ , không thể tách rời của quá trình hình thành và phát triển của ca dao trên vùng đất Tây Nam Bộ Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, dù ở mỗi giai đoạn có cách thể hiện khác nhau, hoặc trong những điều kiện nhất định cách thể hiện tình yêu có nhiều dị biệt, song trong thẳm sâu của miền tâm thức mỗi người đều có một góc riêng, một sự thổn thức, hay một niềm day dứt… Tất cả
Trang 16những nỗi niềm đó là chất liệu kết tinh thành những lời tỏ tình dễ thương dưới hình thức ca dao tục ngữ
Những hình ảnh “cọng ngò bị bứt ngang”, hoặc “râu tôm ruột bầu”… những chất liệu mộc mạc tại chỗ trước tiên nó là chất liệu hình thành bối cảnh Thứ nữa chính đây
là giới định khu vực, là không gian cấu thành nên những giá trị Do vậy, các yếu tố cơ bản tác động đến ca dao khu vực Nam Bộ nói chung và tình yêu nam nữ trong ca dao tại vùng đất này nói riêng, chính là hệ quả tất yếu trong bối cảnh đời sống cộng cư cận
cư của các cộng đồng tộc người dưới tác động của môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội Đây lại là dữ liệu cơ sở để đối chiếu với các vùng miền khác, khẳng định về tính chân thật cũng như đặc trưng của đối tượng
Một yếu tố khác cũng không kém phần quan trọng chính là những sự kiện lịch sử
đã ảnh hưởng trực tiếp sự hình thành và phát triển vùng đất này Mỗi giai đoạn lịch sử với tác động của môi trường xã hội đã ghi dấu những chuyển biến trong các lời tự tình Lịch sử là những sự kiện cố định, chỉ có những nhận định chưa chính xác về nó, còn bản thân nó thì không thể sai Đúng và sai, được hay mất chẳng qua là nhận định chủ quan của chủ thể Mỗi thời kỳ do vậy đánh dấu mỗi biến chuyển Dù là những sự kiện
cố định nhưng lịch sử lại phản ánh rõ nét những chuyển động của thời cuộc Những gì còn lưu dấu lại là chứng nhân lịch sử, là kỷ niệm và là văn hóa vậy
Những yếu tố trên là chất liệu định hình nên nét riêng biệt được thể hiện một phần qua tình yêu nam nữ trong ca dao mảnh đất Tây Nam Bộ Để làm nổi bật những yếu tố nêu trên cần phải có đầy đủ những luận chứng, luận cứ cùng với sự phân tích và chứng minh tách bạch mới đủ tính thuyết phục Hẳn nhiên công việc thu thập xử lý, sắp xếp các tài liệu dựa trên một hệ thống khoa học theo tiêu chí khung của luận văn là nấc thang bắt buộc
Có thể nói rằng, tình yêu lứa đôi của người Việt ở miền Tây Nam Bộ (những lứa đôi gắn bó với nhau về thể xác lẫn tâm hồn) là đối tượng mà luận văn này hướng đến tìm hiểu
Thực chất việc nghiên cứu về “Tình yêu lứa đôi qua ca dao của người Việt Tây Nam Bộ” là để có cái nhìn tổng thể và hệ thống về Ca dao tình yêu, nhằm tìm ra những nét khu biệt tình yêu lứa đôi của con người ở vùng đất này Bên cạnh đó có cái nhìn về tình yêu lứa đôi ở Tây Nam Bộ trong đặc trưng tính cách văn hóa vùng miền, cùng với những nét riêng trong văn hóa Tây Nam Bộ đặt trong mối tương quan với các vùng miền khác của Tổ Quốc
Trang 17Tựu chung, luận văn sử dụng nhiều công cụ nghiên cứu khác nhau Mức độ ngoại diên, có thể gọi tên cách phương pháp như: phương pháp nghiên cứu khu vực (Nam Bộ đồng thời so sánh với khu vực khác), phương pháp nghiên cứu chuyên sâu một đối tượng cụ thể (ca dao), phương pháp chuyên gia (sử dụng các thành tựu nghiên cứu của các học giả tiền bối) Nhưng nội hàm thì luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của văn học để thực hiện, bóc tách các giá trị văn hóa của nguồn tư liệu Do vậy, phương pháp nghiên cứu của luận văn chính là phương pháp liên ngành, tiếp cận từ hướng văn học – văn hóa Người thực hiện đã vận dụng và phối hợp các phương pháp
để tiến hành các bước khác nhau của luận văn này
Từ những hiểu biết về đời sống văn hóa của ca dao, biểu hiện qua tâm tư, tình cảm của người bình dân, luận văn góp một tiếng nói chung trong việc giữ gìn lời ca, tiếng nói của dân tộc, gìn giữ bản sắc dân tộc, nhất là vùng Tây Nam Bộ trong quá trình hội nhập và phát triển
Trang 181.2 Ca dao và ca dao về tình yêu lứa đôi
1.2.1 Ca dao như một thể loại văn học dân gian
Văn học Việt Nam là sự tích hợp từ hai dòng văn học dân gian và văn học viết Hai dòng văn học này cùng phát triển song song, nhất là trong thời đại phong kiến
Nếu như văn học viết là các sáng tác của trí thức được ghi lại bằng chữ viết, là sáng tạo của cá nhân, mang dấu ấn của tác giả, thì văn học dân gian là những sáng tác tập thể của nhân dân lao động được truyền miệng từ đời này sang đời khác Những trí thức có thể tham gia sáng tác văn học dân gian, song những sáng tác đó phải tuân thủ theo đặc trưng của văn học dân gian và trở thành tiếng nói, tình cảm chung của nhân dân
Văn học dân gian nguyên thuỷ từng tồn tại và chi phối, từng làm cơ sở kết tinh
tư tưởng thẩm mỹ trong nền văn học viết ra đời và phát triển về sau Vậy nên, văn học dân gian được xem là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc Khi chưa có chữ viết, nền văn học Việt Nam chỉ có văn học dân gian, khi có chữ viết, nền văn học Việt Nam mới bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết
Có thể nói rằng, văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay Ba thuật ngữ này được xem là tương đương: văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, folklore ngôn từ (folklore văn học)
Văn học dân gian bao gồm các thể loại: truyện cổ dân gian có: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn Thơ ca dân gian có: tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, truyện thơ Sân khấu dân gian có: chèo, tuồng, cải lương…
Văn học dân gian mang các đặc trưng sau:
Đặc trưng thứ nhất của văn học dân gian là tính nguyên hợp, biểu hiện ở sự hòa lẫn những hình thức khác nhau của ý thức xã hội trong các thể loại Văn học dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau, tồn taị dưới ba dạng: ẩn (tồn tại trong trí nhớ của tác giả dân gian), cố định (tồn tại bằng văn tự) và hiện (tồn tại thông qua diễn xướng)
Trang 19Đặc trưng thứ hai của văn học dân gian là tính tập thể: văn học dân gian là sáng tác của nhân dân, nhưng không phải tất cả nhân dân đều là tác giả Tính tập thể thể hiện chủ yếu trong quá trình sử dụng tác phẩm
Đặc trưng thứ ba của văn học dân gian là tính truyền miệng: văn học dân gian được lưu truyền từ đời này qua đời khác thông qua hình thức truyền miệng (kể chuyện)
Đặc trưng thứ tư của văn học dân gian là tính dị bản: văn học dân gian là sáng tác tập thể và nó không được cố định trong một văn bản nên khi lưu truyền sang các vùng không gian khác nhau thì nó dần dà thay đổi
Các đặc trưng trên có liên quan chặt chẽ với nhau Tạo thành nét đặc trưng của văn học dân gian so với văn học viết
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Chú cho rằng: chưa bao giờ văn học dân gian cổ truyền của dân tộc lại sống dậy huy hoàng và được nhận thức sâu sắc về giá trị và vai trò của nó như trong thời đại ngày nay Trong những thành tựu hiện đại về việc nghiên cứu văn học dân gian cổ truyền của dân tộc, có một luận điểm khoa học cực kỳ quan trọng được nhiều người thừa nhận là: chính văn học dân gian là nền tảng của sự phát triển, kết tinh của nền văn học dân tộc Luận điểm này vừa là sự khẳng định vai trò của văn học dân gian, vừa là điều cốt lõi nhất khi nói về mối quan hệ giữa văn học dân gian
và văn học viết, vừa là phương pháp luận đối với việc nghiên cứu lịch sử văn học dân tộc nói chung
Sự xuất hiện của nền văn học dân gian trước khi có nền văn học viết và tính chất ngọn nguồn, làm nền của nó đối với nền văn học viết ra đời sau nó, thật ra là qui luật phổ biến trong lịch sử văn học của mọi nước trên thế giới.Lịch sử văn học Việt Nam ở phương diện này không có gì là đặc thù Nhưng lịch sử văn học Việt Nam sẽ có qui luật đặc thù ở chỗ: sau khi có văn học viết rồi thì văn học dân gian đã không teo đi, ngược lại vẫn tồn tại như một giòng riêng và phát triển, do đó vẫn tiếp tục và tăng cường vai trò làm nền cho sự kết tinh của văn học viết
[http://www.viet-studies.info/NguyenDinhChu_VanHocDanGian.htm]
Khác với văn học dân gian, văn học viết hình thành đã "mở ra một thời kỳ lịch
sử mới, oanh liệt, rực rỡ" (Đặng Thai Mai) Tuy nhiên, văn học viết chịu ảnh hưởng của văn học dân gian về nhiều phương diện, từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật Văn học viết cũng có tác động trở lại đối với văn học dân gian trên một số phương diện Mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học viết cũng như vai trò, ảnh hưởng của
Trang 20văn học dân gian đối với văn học thể hiện trọn vẹn hơn cả ở lĩnh vực sáng tác và ở bộ phận thơ văn quốc âm
Sau hơn 10 thế kỷ hình thành và phát triển, văn học viết Việt Nam đạt được những thành tựu nhất định và vẫn đang tiếp tục "dòng chảy" của mình để có thể hội nhập vào nền văn học chung của thế giới
[http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%E1%BB%8Dc_Vi%E1%BB%87t_Nam]
Từ lâu đã xuất hiện hai khái niệm văn học truyền miệng (hay văn học truyền khẩu) và văn học viết (hay văn học thành văn) Sau này lại xuất hiện thêm khái niệm văn chương bác học để sánh với khái niệm văn chương bình dân Cặp khái niệm trên xuất hiện chủ yếu là dựa trên phương thức tồn tại của hai loại hình văn học Cặp khái niệm sau chủ yếu lại muốn bộc lộ bản chất giai cấp của hai loại hình văn học đó Loại thứ nhất là của quần chúng bị áp bức Loại thứ hai là của tầng lớp trên trong xã hội xưa Trong thực tế nghiên cứu văn học lâu nay, đó đây hình như có xu hướng đối lập một cách cực đoan, giả tạo hai loại hình văn học này Sự thật thì quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết là quan hệ hai mặt: vừa đối lập vừa tương hỗ
Nếu như ta có văn chương bác học để sánh với khái niệm văn chương bình dân thì cũng có văn hóa bác học và văn hóa bình dân
Có thể nói rằng nền tảng và diện mạo của văn hóa dân tộc cơ bản của nước ta là văn hóa dân gian, văn hóa của nông thôn và truyền khẩu Văn hóa chuyên nghiệp bác học nảy sinh, phát triển từ cội nguồn của văn hóa dân gian, tác động và ảnh hưởng qua lại với văn hóa dân gian
Văn hóa dân gian Việt Nam có truyền thống hình thành và phát triển từ rất lâu đời, bắt nguồn từ xã hội nguyên thủy Đến thời kỳ phong kiến tự chủ, cùng với sự ra đời
và phát triển của văn hóa bác học, chuyên nghiệp, cung đình, thì văn hóa dân gian vẫn tồn tại và giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của văn hóa cũng như xã hội Việt Nam, nhất là với quần chúng lao động
Về vấn đề này, nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh cho rằng, cùng với sự phát triển
xã hội, văn hóa dân tộc không còn thuần nhất mà bên cạnh văn hóa dân gian đã xuất hiện văn hóa chuyên nghiệp, bác học, cung đình Tuy nhiên, giữa chúng vẫn có mối quan hệ tác động qua lại: văn hóa dân gian vẫn là cội nguồn nuôi dưỡng văn hóa bác học, chuyên nghiệp; và văn hóa bác học, chuyên nghiệp, văn hóa cung đình tác động trở lại, góp phần nâng cao và định hình văn hóa dân gian Hiện tượng Truyện Kiều của
Trang 21Nguyễn Du, sách Nam Dược thần diệu của Tuệ Tĩnh là thể hiện sự tác động qua lại
đó
Từ quan điểm cho rằng văn hóa dân gian là cội nguồn của văn hóa dân tộc, thì trong hoạt động thực tiễn nhằm bảo tồn văn hóa dân tộc, chúng ta phải bắt đầu từ văn hóa dân gian [http://thegioivohinh.com/diendan/showthread.php?t=262]
Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh cũng viết: “Văn hóa dân gian với hệ giá trị và biểu tượng của nó đã làm nên cái gọi là tâm thức dân gian, tâm hồn dân tộc Những cái đó, tới lượt nó quy định các hành vi, tình cảm, hoài vọng của con người Bởi vậy, để nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm dân tộc, xây dựng và củng cố các biểu tượng của dân tộc, chúng ta cũng phải bắt đầu từ văn hóa dân gian
Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa, hơn lúc nào hết chúng ta phải bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc – coi đó như là căn cước của chúng ta hội nhập và giao lưu quốc tế Cần nhận thức rõ vai trò của văn hóa dân gian với tư cách
là cội nguồn, bản sắc, là hệ giá trị và biểu tượng của văn hóa dân tộc.”
t%E1%BB%99c-ngo-d%E1%BB%A9c-th%E1%BB%8Bnh/]
[http://thienthubinh.wordpress.com/2011/03/12/van-hoa-dan-gian-va-van-hoa-dan-Ca dao là một thể loại của văn học dân gian Theo Xuân Diệu, “ca dao cũng là
thơ một loại thơ rất riêng”, ca dao thuộc loại thơ trữ tình dân gian Ca dao (歌謠) là một
từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca: hát, dao: bài hát không có chương khúc; là những bài
hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình – phong tục của người bình dân Bởi thế phong dao là một cách gọi khác của ca dao.” [Dương Quảng Hàm 1968: 8]
Trong quá trình nghiên cứu văn hóa dân gian nói chung và văn học dân gian nói riêng, người ta vẫn còn tranh cãi chưa ngã ngũ về những khái niệm “ca dao”, “ca dao - dân ca”, “phong dao” Bởi giữa các khái niệm này vẫn chưa thực sự phân định ranh giới rạch ròi
Nếu định nghĩa theo từ nguyên thì ca là bài hát có chương khúc hoặc có âm nhạc kèm theo, còn dao là bài hát trơn Như vậy xét về bản chất thì ca dao và dân ca hầu như không có ranh giới rõ rệt Song sau này trên thực tế, thuật ngữ “ca dao” có nội dung hẹp hơn thuật ngữ “dân ca” Trước đây, khi sưu tầm các câu hát và bài hát dân gian, các Nho sĩ trí thức chỉ chú ý đến phần lời thơ của những sáng tác ấy, chỉ tuyển chọn những bài hay nhất và có ý nghĩa khái quát như về mặt phản ánh đời sống, tình cảm, đạo đức, phong tục Như vậy ca dao thường được hiểu là lời của bài hát dân ca khi tách lời ca ra
Trang 22khỏi điệu hát, khi phân biệt ca dao và dân ca về mặt diễn xướng Một bài ca dao không cần tiếng đệm, luyến láy nhạc điệu thì là ca dao, còn một bài ca dao được dùng để hát,
có thêm tiếng nhạc đệm, đưa hơi thì nó sẽ thành dân ca.”[Phạm Thu Yến 1998: 7]
Như vậy, thuật ngữ ca dao đã từng được dùng với nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu [Nguyễn Khắc Phi (cb): 1999: 26].Và một thời "Ca dao là danh từ chung chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu" [Nguyễn Khắc Phi (cb): 1999: 26] Ở trường hợp này, ca dao đồng nghĩa với dân ca Và trên thực
tế, khái niệm ca dao đã dần dần có sự thu hẹp nội hàm
Theo Vũ Ngọc Phan viết trong tuyển tập Tục ngữ - ca dao - dân ca Việt Nam:
“Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao Có thể nói, ranh giới giữa ca dao và dân ca không rõ Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu ca dao
Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định Dân ca thường mang tính chất địa phương, còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói
về một địa phương cụ thể nào, thì nó vẫn được phổ biến rộng rãi” [Vũ Ngọc Phan 1999: 19]
Nguyễn Xuân Kính – Phan Hồng Sơn trong Văn hóa dân gian - những phương pháp nghiên cứu đã đưa ra cơ sở nhận định: “Thuật ngữ lời dân ca, ca dao mà chúng tôi
dùng ở đây hiểu theo nghĩa là một cơ cấu nghệ thuật hoàn chỉnh, có mặt nội dung và mặt hình thức văn chương Nội dung của lời diễn đạt một tình cảm, thông báo một vấn
đề, một điều cụ thể Hình thức của lời chính là từ ngữ, nhịp điệu, vần thơ, kết cấu…”
“Ca dao được hình thành từ dân ca Nhưng ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian Đối với ca dao, người ta không chỉ hát mà còn kể, nói, đọc, ngâm…”[ Nguyễn Xuân Kính – Phan Hồng Sơn 1990:166]
Tác giả Đặng Văn Lung cho rằng "Tất cả các dân tộc trên thế giới suốt mấy nghìn năm chỗ nào cũng có dân ca và ca dao Vì thế nói về ca dao dân ca của một dân tộc hay ca dao dân ca nói chung là vấn đề rất lớn Nó tồn tại rất lâu, từ hàng ngàn năm
Trang 23trước và như các nhà khoa học nghiên cứu trước đây, các học giả đã nói ca dao ra đời khi trong lòng mình có những điều muốn thể hiện ra, muốn nói lên Những điều đó được gọi là ca dao"
[http://www.vietnamsingle.com/f_view.asp?CID=1034&QID=18229]
Để có thể truyền tải được hiệu quả hơn những kiến thức tích luỹ được, con người
ta đã thể hiện chúng theo những vần điệu để chúng trở nên gần gũi, dễ nhớ, dễ thuộc hơn Chính vì khả năng dễ nói, dễ tiếp thu, ca dao đã đi vào đời sống của nhân dân một cách rất tự nhiên và trong mọi hoàn cảnh
Ca dao Tây Nam Bộ được sáng tạo nên từ nguồn cảm hứng thực tế cuộc sống Đó
là những câu hát được truyền tải bằng âm thanh giọng điệu ngôn ngữ với nội dung nghệ thuật phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc Giống như đại thi hào Macxim Gorki đã nhận định: "Con người không thể sống mà không vui sướng được Họ phải biết cười đùa, họ sáng tạo nên những bài hát vui tươi, họ thích nhảy múa" Bởi vậy, ca dao là sản phẩm văn hoá tinh thần và cần thiết đối với đồng bào miền Nam, nhất là Tây Nam Bộ
Ca dao Việt nói chung và Nam Bộ nói riêng đã được chọn để sáng tác lưu truyền và trở thành mạch sống tâm hồn của dân tộc Chúng đã không đơn thuần là những bài truyền giảng kiến thức một cách khô khan, mà chúng đã trở thành nghệ thuật, thành cái đẹp
Việt Nam là một nước nông nghiệp, do đó, ca dao là thành quả của tầng lớp những người nông dân Là thơ ca dân gian truyền miệng nên ca dao đã không chịu sự chi phối của chính trị cũng như các thế lực cai trị nào, thậm chí ca dao còn phản ánh sự chống đối lại những chính sách hà khắc của chính quyền cai trị nữa
Ngày xưa, ở miền Nam phương tiện lưu thông được sử dụng nhiều là tàu, bè, ghe, xuồng, một số người thường đi lại trên sông để buôn bán, người ta gọi họ là giới thương hồ Giới này cũng đóng góp tích cực trong việc phổ biến và truyền tụng Ca dao
Họ đã hò hát trên sông qua những đêm trăng thanh gió mát, khi ngược sông Cửu long lên Nam Vang hay đi Sài Gòn hoặc từ làng này qua làng nọ, hay từ tỉnh nọ qua tỉnh kia Phương tiện chuyển vận chính ngày nay là đường bộ, giới thương hồ đã mai một theo thời kỳ của nó
“Ca dao dân ca, xét về góc độ tư duy của dân tộc, là tấm gương bức xạ hiện thực khách quan của mỗi dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phong tục tập quán riêng Hình ảnh về thiên nhiên, cuộc sống, về truyền thống dân tộc, quan hệ xã hội được
Trang 24phạm trù hóa theo những cách khác nhau, bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau.” [Ca dao dân ca - nét tâm hồn người Việt- Trích đăng danangpt.vnn.vn]
Vì ca dao là một trong những thể loại của văn học dân gian nên nó mang những đặc điểm cơ bản của văn học dân gian là tính tập thể, tính vô danh và tính truyền miệng Những thuộc tính này vô cùng quan trọng đối với văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng Nó đem lại cho văn học dân gian những điểm khác biệt lớn so với văn học viết Và cũng chính những yếu tố này đem đến tính dị bản cho ca dao
Dị bản tức là có những bản khác, bản không đúng trong cùng một tác phẩm văn hóa dân gian Nhưng dị bản là phương thức tồn tại của văn hóa dân gian Văn hóa dân gian là khoa học nghiên cứu dị bản Bởi văn hóa dân gian được sáng tạo bởi một tập thể
và được lưu truyền qua trí nhớ do đó không thể không tồn tại dị bản Thuở xưa, khi chưa có các phương tiện lưu trữ hiện đại như bây giờ, ca dao được bảo tồn trong dân
gian chủ yếu theo lối truyền khẩu Do truyền khẩu, ca dao có thêm một đặc trưng tính
dị bản Cần phải nhấn mạnh rằng tính dị bản làm phong phú kho tàng ca dao Tuy
nhiên, cũng do sự bảo tồn theo lối truyền khẩu nên kho tàng ấy ít nhiều đã không tránh khỏi sự thất truyền
Có thể nói, khoa học nghiên cứu văn hóa dân gian là khoa học về các dị bản Bởi
vậy, để đi sâu vào tìm hiểu bản chất các hiện tượng văn hóa dân gian, cũng như biểu hiện chúng lên bản đồ dưới hình thức đơn giản nhất, người nghiên cứu không thể không
áp dụng phương pháp so sánh và phân loại hình của chúng
Nhờ đặc tính này của ca dao, có thể thuận lợi cho ta nhận diện về những vùng đất và con người khác nhau Tùy đặc trưng sản vật của từng vùng miền mà người ta thêm thắt sửa chữa cho phù hợp với vùng đất đó:
Ba phen quạ nói với diều Ngả kinh ông Hóng có nhiều vịt con
(Kinh ông Hóng ở tỉnh Long An)
Ba phen quạ nói với diều
Cù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm
(Cù lao ông Chưởng thuộc tỉnh An Giang)
Ca dao là một thể thơ dân gian Ca dao thường dùng thể thơ lục bát để thể hiện
“Nói về ca dao là nói về thơ lục bát Chín mươi lăm phần trăm ca dao đều làm bằng thơ
Trang 25lục bát Thể thơ lục bát dễ nhớ và dễ ngâm nga Nếu ca dao là thân hình thì lục bát là đôi tay ôm chặt lấy, gắn bó.” [Duyên Anh: Nói về ca dao] Sách Kho tàng ca dao người Việt, với 10.305 bài ca dao trên tổng số 11.825 bài được sáng tác theo thể lục bát (chiếm tỉ lệ 87%) Trong sách Ca dao Việt Nam, có 973 bài trên tổng số 1.015 bài được tác giả dân gian sáng tác theo thể lục bát (chiếm tỉ lệ 95%) [Trần Kim Liên 2004: 63] Ngoài ra còn thể song thất lục bát, lục bát biến thể, song thất lục bát biến thể Ca dao thường không giới hạn số câu Cứ hai câu gọi là một cặp lục bát (thường là cặp 6 -8) Trong các hình thức sinh hoạt, diễn xướng, một bài có thể kéo dài vô hạn định, tùy thuộc vào khả năng tiếp nối của những người tham gia sinh hoạt
Riêng ở Nam Bộ, nếu phương ngữ Nam Bộ là dấu hiệu hình thức về mặt từ ngữ với nhiều đặc điểm riêng biệt mà miền Tây Nam Bộ là rất tiêu biểu để nhận diện ca dao, tục ngữ vùng này thì sự biến thể về mặt thể loại (chủ yếu là ca dao) chính là dấu hiệu về mặt cấu trúc, giúp người thực hiện có thêm cơ sở để sưu tầm và tuyển chọn
Những tác phẩm ở thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong lao động trong sinh hoạt gia đình xã hội hay nói lên những kinh nghiệm sống và hành động thì bao giờ cũng là bộc lộ thái độ chủ quan của con người đối với những hiện tượng khách quan, chứ không phải miêu tả một cách khách quan nhũng hiện tượng những vấn
đề cho nên ở ca dao cái tôi trữ tình được nổi lên rất rõ
Ca dao đã vận dụng mọi khả năng ngôn ngữ dân tộc để biểu hiện một cách chính xác tinh tế cuộc sống và hơn thế nữa để biểu hiện một cách sinh động và đầy hình tượng nguyện vọng của nhân dân về cuộc sống Và sẽ thật đáng tiếc cho những ai không biết cái hay vẻ đẹp toát ra từ những câu ca dao như: hình tượng người phụ nữ, những lời tỏ tình mượt mà của các chàng trai cô gái trong ca dao, hay những lời ru của
bà của mẹ ru con vào giấc ngủ Khi lớn lên chúng ta tìm về tuổi thơ với lời ru thoang thoảng hiện về trong ký ức Bởi ca dao dùng một loại ngôn ngữ rất đặc trưng - ngôn ngữ thuần Việt ngôn ngữ rất đời thường rất gần gũi
Nội dung được phản ánh trong ca dao đó là: phản ánh khát vọng chinh phục thế giới tụ nhiên để cuộc sống con người được sung sướng no đủ hơn; phản ánh tâm tư tình cảm của con người; phản ánh hiện thực xã hội của dân tộc Ca dao phản ánh lịch sử, miêu tả khá chi tiết trong phong tục tập quán trong sinh hoạt vật chất, tinh thần của nhân dân lao động nhưng trước hết là sự bộc lộ tinh thần dân tộc trong đời sống riêng tư, đời sống gia đình và xã hội
Trang 26Với tính cách là thơ theo ý nghĩa đầy đủ của thơ, ca dao đã vận dụng mọi khả năng ngôn ngữ của dân tộc để biểu hiện một cách chính xác tinh tế cuộc sống hơn nữa
để biểu hiện một cách sinh động và đầy hình tượng nguyện vọng của nhân dân về cuộc sống ấy
1.2.2 Ca dao với đề tài tình yêu lứa đôi
Một triết gia đã cho rằng: “Trong yếu tính của con người, con người không phải
là kẻ nô lệ cho chính mình, hay cho thế giới, con người là một tình nhân” Tình yêu, một hiện tượng tất yếu tồn tại của cuộc sống, là nhu cầu và là khát vọng của đôi lứa khi đến tuổi trưởng thành Tình yêu là một hình thái tình cảm đặc biệt, kỳ diệu của thế giới tinh thần, thế giới tâm hồn con người Từ xưa đến nay, tình yêu đã trở thành một đề tài muôn thuở của thi ca Vốn dĩ tình yêu không phải là đề tài xa lạ với văn chương, nếu không muốn nói là quá quen thuộc Ở thời nào chẳng có người viết thơ, nhất là những vần thơ tình yêu ra đời từ những gian khổ trong cuộc sống Điều kỳ lạ là hiện thực càng đau thương thì tình yêu lại càng trở nên gần gũi và thiêng liêng hơn bao giờ hết
Tình yêu có thể ví như khí thở của con người, bởi con người chỉ ngừng yêu khi không còn sự sống Nói cho cùng tình yêu vẫn là cái gì bất hủ, bất diệt và tồn tại cùng với thời gian Chính vì vậy mà đại văn hào Pháp Voltaire đã nói: “Chân lý cuối cùng trên cõi đời vẫn là tình yêu.”
Ta hãy quay về cội nguồn như tìm lại chính mình qua một khía cạnh của thơ ca dân gian : Ca dao Việt Nam Chúng ta cũng nhìn lại những bài ca dao mang chủ đề về tình yêu Đó là những vần thơ trữ tình, sâu sắc, đậm đà chất dân tộc và rất phổ biến trong dân gian mà có thể bạn đã từng nghe qua
Ca dao của người Việt ở miền Tây Nam Bộ đã miêu tả về tình yêu rất sinh động với đủ mọi cung bậc khác nhau Bên cạnh đó, những bài ca dao của người Việt Nam Bộ cũng là những câu ca chứa chan tình yêu đôi lứa
Cùng với sự vận động của thời gian và không gian, những đổi thay dâu bể, những mới mẻ trong tư duy, nhận thức, những tiến bộ không ngừng của văn hóa, văn minh….Tất cả những yếu tố nêu trên ngày càng khoác thêm cho tình yêu đôi lứa vô vàn chiếc áo mới với sự đa dạng về màu sắc Chúng làm nên nét đặc trưng giữa hai quan niệm tình yêu xưa - nay
Tìm hiểu về đề tài tình yêu đôi lứa của người Việt ở miền Tây Nam Bộ qua ca dao thực chất là tìm hiểu về những cung bậc của tình yêu qua hai trục không gian và
Trang 27thời gian Không gian là mảnh đất miền Tây Nam Bộ, nơi đây chính là cái nôi hình thành, lưu truyền ca dao Thời gian là dòng chảy của ca dao, cho đến khi được biên soạn, định hình về mặt văn bản So sánh với thời điểm ra đời của ca dao, trong suốt quá trình lịch sử dân tộc, ca dao chưa được định hình về mặt văn bản cũng như chưa xác định về mặt niên đại Ca dao có nét chung là đều thuộc về thời gian đã qua, thuộc về quá khứ
Điều đó cho thấy sự đa dạng trong việc biểu đạt đời sống nội tâm của quần chúng lao động về vấn đề hết sức riêng tư - tình yêu đôi lứa Tất cả các cung bậc tình cảm: Yêu thương, nhớ nhung, giận hờn, trách móc, riết róng, lạnh lùng trong tình yêu đôi lứa đều được phản ánh sinh động qua các lời ca dao
Nguyễn Hằng Phương trong bài viết “Cảm hứng chủ đạo trong ca dao người Việt” đã khảo sát 300 lời ca dao cổ truyền về đề tài tình yêu in trong Kho tàng ca dao người Việt (tập I), thống kê được 8 chủ đề: tình yêu say đắm bất chấp mọi khó khăn,
trở ngại: 45 lời (chiếm 15%); Tình yêu tan vỡ vì những nguyên nhân khách quan và chủ quan; 27 lời (chiếm9%); Tình yêu chân thực, giản dị nhưng vô cùng đẹp đẽ, nên thơ:
103 lời (chiếm xấp xỉ 34,33%); Nỗi nhớ nhung, thổn thức trong tình yêu: 108 lời (chiếm 36%); Sự giận hờn, trách cứ trong tình yêu: 16 lời (chiếm xấp xỉ 5,33%); Đừng
bỏ lỡ cơ hội yêu: 5 lời (chiếm xấp xỉ 1,66%); Vẻ đẹp lý tưởng của người yêu và tình yêu: 2 lời (chiếm xấp xỉ 0,66%)
Cũng vậy, khảo sát 122 lời ca dao hiện đại về đề tài tình yêu in trong Ca dao Việt Nam 1945 - 1975; Ca dao chống Mĩ cứu nước chọn lọc, thống kê được các chủ đề sau: Tình yêu gắn với sự nghiệp đấu tranh bảo vệ đất nước: 49 lời (chiếm xấp xỉ 40,16%); Tình yêu gắn với lao động sản xuất và sự nghiệp xây dựng đất nước: 25 lời (chiếm xấp xỉ 20,49%); Tình yêu chiến dịch diệt giặc đốt: 4 lời (chiếm xấp xỉ 3,28%); Tình yêu thuỷ chung, tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng: 37 lời (chiếm xấp xỉ 30,33%); Vẻ đẹp lý tưởng của người yêu theo quan điểm mới: 7 lời (chiếm xấp xỉ 5,74%)
Người viết tiến hành khảo sát 1508 lời Ca dao tình yêu Tây Nam Bộ sưu tầm được từ các địa phương, qua 7 chủ đề thấy như sau:
1 Tình yêu say đắm bất chấp mọi trở ngại, khó khăn : 279 lời chiếm 21,33%
2 Tình yêu tan vỡ vì nguyên nhân chủ quan và khách quan : 263 lời chiếm 20,11%
3 Tình yêu chân thực, giản dị vô cùng đẹp đẽ nên thơ : 176 lời chiếm 13,45%
4 Nỗi nhớ nhung, thổn thức trong tình yêu : 194 lời chiếm 14,83%
Trang 285 Sự giận hờn, trách cứ trong tình yêu : 137 lời chiếm 10,47%
6 Đừng bỏ lỡ cơ hội yêu : 93% chiếm 7,11%
7 Vẻ đẹp lý tưởng người yêu và tình yêu : 58 lời chiếm 4,43%
Khảo sát những lời ca dao tình yêu mang hơi thở hiện đại của miền Tây Nam Bộ, thấy
có 5 chủ đề như sau:
1 Tình yêu gắn với sự nghiệp đấu tranh bảo vệ đất nước : 95 lời chiếm 7,26%
2 Tình yêu gắn với lao động, sự nghiệp xây dựng đất nước : 8 lời chiếm 0,63%
3 Tình yêu chiến dịch diệt giặc dốt : 0
4 Tình yêu thủy chung tràn đầy lạc quan Cách Mạng : 3 lời chiếm 0,22%
5 Vẻ đẹp lý tưởng người yêu quan điểm mới : 2 lời chiếm 0,16%
Như vậy có thể thấy, trong ca dao người Việt miền Tây Nam Bộ, chủ đề tình yêu đôi lứa, có sức sống lâu bền, qua nhiều thế hệ kế tiếp nhau Đến với các tác phẩm thuộc chủ đề này, qua thống kê, có thể thấy trong ca dao của người Việt Nam Bộ, điều dễ dàng nhận thấy, khi yêu nhau, người nông dân ở đấy khó lòng giữ được nhịp rung của trái tim mình
Thực hiện đề tài tìm hiểu tình yêu đôi lứa trong ca dao người Việt ở miền Tây Nam Bộ, chúng tôi đang làm một chuyến “tìm về ”, một cuộc hành hương vô cùng thú
vị, gian nan nhưng hữu ích, còn mục đích thực là muốn biết người Việt ở miền Tây Nam Bộ nói riêng và người bình dân Nam Bộ nói chung đã cảm, đã nghĩ về tình yêu và
họ đã yêu như thế nào…
Tình yêu đôi lứa từ buổi đầu gặp gỡ đến hôn nhân là cả một chặng đường phát triển của tình cảm Luận văn này đóng góp một cách khiêm tốn trong việc tìm hiểu một
số nét về văn hóa nhận thức và ứng xử trong tình yêu đôi lứa của người Việt ở miền Tây Nam Bộ
Trang 291.3 Ca dao về tình yêu lứa đôi của người Việt Tây Nam Bộ nhìn từ góc độ văn hóa vùng
1.3.1 Văn hóa vùng và vùng văn hóa
Từ điền Bách Khoa toàn thư định nghĩa : “văn hóa vùng” là một thực thể văn hoá bao gồm những nét đặc trưng, những sắc thái riêng mà các vùng khác không có hoặc có mà không điển hình, không tiêu biểu Những nét đặc trưng văn hóa vùng thể hiện trên các lĩnh vực văn hoá vật thể và phi vật thể, trên các lĩnh vực kinh tế (làm ruộng nước hay nương rẫy, trồng trọt hay tiến hành kinh tế chiếm đoạt, thừa hưởng của cải sẵn có của tự nhiên), văn hoá vật chất (nhà cửa, y phục, trang sức, ăn uống, phương tiện di chuyển), văn hoá xã hội (các chu kì trong đời người: cưới xin, sinh đẻ, ma chay, lối sống, nếp sống), văn hoá tinh thần (tín ngưỡng, lễ hội, văn hoá dân gian, sinh hoạt cộng đồng, v.v )
[http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=12F9aWQ9MzU3MCZncm91cGlkPTUma2luZD0ma2V5d29yZD0=&page=11]
Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, văn hóa lãnh thổ hay văn hóa vùng là một dạng thức văn hóa , mà ở đó trong một không gian địa lý xác định, các cộng đồng người
do cùng sống trong một môi trường tự nhiên nhất định, trong những điều kiện phát triển
xã hội tương đồng, và nhất là các mối quan hệ giao lưu văn hóa sống động, nên trong quá trình lịch sử lâu dài đã hình thành những đặc trưng văn hóa chung Nói cách khác văn hóa vùng là một dạng thức liên văn hóa Nếu như văn hóa cộng đồng, văn hóa sinh thái không nhất thiết đòi hỏi chúng tồn tại trong một không gian địa lý liên tục, thì văn hóa lãnh thổ hay văn hóa vùng đòi hỏi phải phân bố trên một không gian địa lý lãnh thổ nhất định
Văn hóa sinh thái là một dạng thức văn hóa tương ứng với một vùng sinh thái nhất định, như văn hóa biển, văn hóa thảo nguyên, văn hóa cao nguyên, văn hóa thung lũng… Thường các dạng sinh thái không chỉ và chủ yếu chỉ phân bố theo lãnh thổ, mà chúng còn phân bố theo độ cao của các dạng địa hình, chẳng hạn như các dạng văn hóa sinh thái của miền núi phía Bắc, đó là văn hóa thung lũng, văn hóa rẻo cao và văn hóa rẻo giữa Đặc biệt, các dạng sinh thái này lại tương ứng với sự phân bố các tộc người nhất định, hình thành nên một dạng sinh thái tộc người [Ngô Đức Thịnh 2003 : 9] Tây Nam Bộ nằm ở vùng văn hóa biển
Trang 30Việc nghiên cứu văn hóa vùng có ý nghĩa trong việc tìm hiểu văn hóa miền đất và con người, đây là việc làm giàu ý nghĩa bởi sự khác biệt đến đặc biệt từ điều kiện tự nhiên, địa hình, khí hậu đến con người, đặc trưng văn hoá giữa các vùng miền
Khi xét phân vùng văn hóa, ta cần thấy mỗi vùng đều có những hiện tượng văn hóa có sắc thái riêng, khác các vùng khác Đó chính là tiêu chí để phân định vùng văn hóa Điều này khẳng định thêm rằng ngoài những cái chung sẽ toát lên những cái riêng khu biệt với những vùng khác Nói khác đi chính là các thành tố văn hóa quyết định các
sắc thái đặc thù của từng vùng Thứ nhất, ta cần thấy các thành tố mang tính quyết định:
đó chính là các yếu tố về địa lý, điều kiện tự nhiên như khí hậu, thổ nhưỡng, những đặc điểm tộc người, đặc điểm cư trú, đặc điểm về phương thức sản xuất, ngành nghề, những đặc điểm phát triển lịch sử các dân tộc vùng đó, các đặc điểm mối quan hệ lịch sử -
chính trị Thứ hai, các thành tố biểu hiện: đó chính những đặc trưng văn hóa của vùng
khi được tác động bởi sự sáng tạo của con người lên các thành tố quyết định, dựa vào
đó ta thấy những sắc thái riêng của vùng như: lối sống và phong tục tập quán, nghệ thuật mà chủ yếu là nghệ thuật dân gian (âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc, múa sân khấu,…), ngôn ngữ và văn học Tất cả những yếu tố trên tựu trung lại biểu hiện ở con người thông qua tính cách và tâm lý [Trần Độ 1987:62-63]
Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác.[ Ngô Đức Thịnh 2003: 64]
Khái niệm này đặc trưng cho bản sắc riêng của từng vùng dưới sự thống nhất do cùng cội nguồn tạo ra bản sắc chung Nó làm nên tính đa dạng cho bức tranh văn hoá dân tộc Vùng văn hoá do đó chỉ sự khác nhau của đặc trưng văn hoá tộc người theo không gian địa lí trên một lãnh thổ Những nhóm tộc người khác nhau ở những chỗ khác nhau tạo nên sự phân hoá vùng văn hoá
bac-bo/6778.html]
[http://reportshop.com.vn/chi-tiet-tai-lieu/mot-so-khai-niem-va-vung-van-hoa-chau-tho-Có thể nói rằng, Nam Bộ chính là một vùng văn hóa – lịch sử là một vùng mà ở
đó sinh sống những tộc người Trong quá trình lịch sử lâu dài, giữa họ có những giao lưu, ảnh hưởng khăng khít với nhau, từ đó hình thành nên những yếu tố văn hóa chung
Trang 31thể hiện trong văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần [N.N Trêbôcxarôp, I.A Trêbôxarôpva, 1971] Do vậy, với khu vực văn hóa – lịch sử, mối quan hệ giao lưu, ảnh hưởng lâu đời giữa các tộc người lại là nhân tố cơ bản tạo nên tính thống nhất văn hóa vùng Điều đó cũng không loại trừ trong một vùng văn hóa – lịch sử cũng có những tương đồng về môi trường địa lý, những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử giữa các tộc người Nó càng củng cố hơn tính thống nhất về các đặc trưng văn hóa của vùng Đặc trưng văn hóa của vùng văn hóa – lịch sử là một tập hợp những yếu tố văn hóa gắn bó hữu cơ với nhau, thể hiện rõ hơn cả là trong văn hóa vật chất, như nhà cửa, trang phục,
ăn uống, phương tiện đi lại, trang trí, cũng như trong đời sống tinh thần, như lễ nghi, phong tục, tín ngưỡng, lễ hội, các sáng tác truyền miệng dân gian… Đối với các dân tộc còn ở trình độ văn minh tiền công nghiệp, thì văn hóa dân gian (folklore) thể hiện rõ nét
và cơ bản những sắc thái văn hóa đặc trưng cho vùng văn hóa – lịch sử
Phân vùng văn hóa ở Việt Nam có người phân thành 6, 7 hoặc 8 vùng Theo tác giả Ngô Đức Thịnh phần chia trong quyển Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam ông chia thành 7 vùng như sau:
Thứ nhất là vùng Đồng bằng Bắc bộ có năm tiểu vùng:Tiểu vùng Đất tổ - Phú Thọ (xứ Đoài), Tiểu vùng Kinh Bắc (xứ Bắc), Tiểu vùng Thăng Long – Hà Nội, Tiểu vùng duyên hải Đông Bắc (xứ Đông), Tiểu vùng Sơn Nam (xứ Sơn Nam)
Thứ hai là Vùng văn hóa Việt Bắc, thứ ba là Vùng văn hóa Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ, thứ tư là Vùng văn hóa duyên hải Bắc Trung Bộ , thứ năm là Vùng văn hóa duyên hải Trung và Nam Bộ, thứ sáu là Vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên
và cuối cùng là Vùng văn hóa Nam Bộ [Ngô Đức Thịnh 2003 : 265]
Vùng Văn hóa Nam Bộ
Tây Nam Bộ có người xem là một tiểu vùng thuộc vùng văn hóa Nam Bộ Theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm, khoa Văn Hóa Học, cho rằng Tây Nam Bộ có đặc điểm riêng khác với Đông Nam Bộ về mặt khí hậu, thổ nhưỡng văn hóa và đặc điểm con người , vì vậy nên xem Tây Nam Bộ là một vùng văn hóa bên cạnh vùng văn hóa Đông Nam Bộ
Nếu xét kỹ về không gian và thời gian văn hoá, có thể thấy Nam Bộ có hai vùng văn hoá rõ rệt: vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nam Bộ Trong số các nhà nghiên cứu phân vùng văn hoá Việt Nam kể trên, Huỳnh Khái Vinh và Nguyễn Thanh Tuấn đã xem
“Tây Nam Bộ” là một vùng văn hoá với tên gọi là Vùng văn hoá Cửu Long hay vùng
Trang 32Văn hoá Đồng bằng sông Cửu Long; còn vùng chúng tôi hay gọi là Đông Nam Bộ thì Huỳnh Khái Vinh và Nguyễn Thanh Tuấn gọi là vùng Đồng Nai – Gia Định Đây là cách phân có cơ sở khoa học và có đóng góp Tuy nhiên, Huỳnh Khái Vinh và Huỳnh Thanh Tuấn chỉ xem việc phân vùng của mình để giúp cho việc “hình dung đại thể”,
“một cách trực quan cảm tính” [Huỳnh Khái Vinh – Nguyễn Thanh Tuấn 1995: 91], chưa có nêu rõ tiêu chí, đặc điểm Vùng văn hoá Cửu Long và các tiểu vùng của nó
Thực ra, về mặt cảm tính, vẫn có thể thấy Tây Nam Bộ được nhìn nhận khá sớm thể hiện qua tên gọi trong so sánh với Đông Nam Bộ như Đồng bằng sông Cửu Long, Châu thổ sông Mê Kông, hoặc ngắn gọn là miền Tây Nam Bộ (southwestern region) hay ngắn gọn hơn là miền Tây Trong thời Pháp thuộc, chúng ta thấy người Pháp cũng nhận thức đây là một vùng riêng biệt (theo Địa- hành chính) Họ gọi vùng châu thổ sông Mekong, là Miền Dưới của Nam Kỳ (Low Cochinchina - Basse Cochinchine), Miền Tây Nam Kỳ (Western Cochinchina, Cochinchine occidentale), Miền Quá sông Bassac (Transbassac), Miền Chưa Tới sông Bassac (Cisbassac) với những ý niệm về
“Văn minh sông nước”… Về mặt khoa học, có thể thấy Tây Nam Bộ có những đặc điểm nổi bật so với vùng Đông Nam Bộ với tư cách là một vùng văn hoá
Nhà nghiên cứu Lê Văn Hảo chia Tây Nam Bộ ra 11 vùng văn hóa
1 Đồng Tháp - Cao Lãnh - Sa Đéc
2 An Giang - Long Xuyên - Châu Đốc
3 Tiền Giang - Mỹ Tho - Gò Công
Về phạm vi, vùng văn hoá Nam Bộ nói chung bao gồm địa bàn 19 tỉnh thành:
Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí
Trang 33Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, TP Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Có thể chia thành ba tiểu vùng văn hoá: tiểu vùng Đông Nam Bộ, tiểu vùng Tây Nam Bộ, và tiểu vùng Sài Gòn [Lý Tùng Hiếu – www.vanhoahoc.edu.vn]
So với nhiều vùng văn hóa ở nước ta thì Nam Bộ bộc lộ những sắc thái văn hóa tiêu biểu những “tính cách” riêng của mình
Trước nhất, ai cũng dễ dàng nhận ra đây là vùng đất mới, bởi vậy nó vừa lạ lẫm,
xa vời, lại vừa thu hút vẫy gọi con người Đất mới, con người cũng mới, trên vai không trĩu nặng truyền thống hàng ngàn năm, con người mạnh bạo, năng động, cởi mở…
Nói đất mới là, nói với những người Khmer, Việt, Chăm, Hoa… hiện cùng đang chung sống, tiếp tục khai thác vùng đất Nam Bộ này chứ không có nghĩa đây là mảnh đất vô chủ, mảnh đất không có lịch sử [Ngô Đức Thịnh 2003 : 265]
Là miền đất mới tập hợp dân tứ xứ quy tụ về như vậy, nên trong quá trình lịch sử trên 300 năm nay, ở đây đã diễn ra quá trình giao lưu văn hóa sống động, tạo nên các nét đặc trưng của vùng văn hóa Giao lưu ảnh hưởng ở đây trước nhất là giữa các tộc người, giữa cư dân các địa phương với nhau và giao lưu ảnh hưởng với bên ngoài như Campuchia, Mã Lai, Inđônêxia, Trung Quốc và với phương Tây
Tác giả Lý Tùng Hiếu cho rằng, văn hóa Nam Bộ hình thành trên một vùng đồng bằng sông nước và trên một vùng đất đa tộc người, văn hoá Nam Bộ có hai đặc trưng chủ đạo là đặc trưng đồng bằng sông nước và sự tiếp biến các yếu tố văn hoá của người Chăm, người Khmer, người Hoa vào văn hoá Việt trong vùng Xét về mức độ, những đặc trưng chủ đạo này cũng là những nét đặc thù của vùng văn hoá Nam Bộ Bởi vì mặc
dù đặc trưng đồng bằng sông nước cũng có mặt trong các vùng văn hoá đồng bằng ở Bắc Bộ và Trung Bộ, nhưng chỉ ở Nam Bộ yếu tố sông nước mới nổi lên thành một đặc trưng chủ đạo, chi phối toàn diện cuộc sống cũng như các thành tố văn hoá của các cộng đồng cư dân Và mặc dù các vùng văn hoá đồng bằng ở Bắc Bộ và Trung Bộ đều
có tiếp biến văn hoá của các tộc người khác nhau, nhưng chỉ ở Nam Bộ văn hoá các tộc người thiểu số cộng cư mới đủ sức khúc xạ văn hoá của cư dân Việt trong vùng đến mức làm cho nó trở nên vừa quen vừa lạ đối với chính người Việt đến từ miền Bắc, miền Trung.[ Lý Tùng Hiếu www.vanhoahoc.edu.vn]
Như vậy, thông qua nghiên cứu văn hóa vùng, chúng ta càng thấy được các sắc thái văn hóa đa dạng của các vùng, các tộc người, thấy được quy luật hình thành và biến đổi của văn hóa trong các môi trường không gian địa lý nhất định Nắm được các đặc
Trang 34trưng văn hóa vùng và phân vùng văn hóa hợp lý sẽ giúp người nghiên cứu định hướng được quá trình nghiên cứu văn hóa của mình, vạch ra được một chương trình nghiên cứu hợp lý và có hiệu quả [Ngô Đức Thịnh 2003: 13]
Từ thực tế trên, CI.Wisler đã đi đến kết luận mang tính nguyên tắc là nghiên cứu các vùng văn hóa nhất thiết phải bắt đầu từ việc phân tích một tổ hợp các yếu tố văn hóa, rắng không thể nhìn nhận riêng rẽ từng yếu tố một, chúng hợp thành một thể thống nhất không thể chia cắt, và đó chính là kết quả của quá trình lâu dài nhóm cư dân ấy thích ứng với những điều kiện của môi trường sinh thái (CL.Wisler, 1922)[Ngô Đức Thịnh 2003 : 13]
1.3.2 Tọa độ văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ
Không gian văn hóa
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã đúc kết Bối cảnh tự nhiên - xã hội của Nam
Bộ được tạo nên trong đó có hằng số văn hóa 1 như sau: Nam Bộ là nơi gặp gỡ của
những điều kiện tự nhiên thuận tiện: gần xích đạo nhưng mùa hè không quá nóng và ẩm như miền Bắc ở sâu trong lục địa, không quá khô và quanh năm không bao giờ bị bão lớn như miền Trung [Trần Ngọc Thêm 2008: www.vanhoahoc.edu.vn]
Nam Bộ là vùng địa văn hoá bao gồm các tỉnh miền Đông Nam Bộ, thành phố
Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu long Lịch sử Nam Bộ nhìn chung mới được khai phá và phát triển khoảng 300 năm trở lại đây Nhưng vùng Đông Nam Bộ, cách đây 4000-5000 năm đã có người sinh sống, còn vùng đất Đồng bằng sông Cửu long mới nổi lên khỏi mặt biển từ thế kỷ thứ V trước công nguyên [ Thạch Phương 1992: 8]
Đặc điểm tự nhiên vùng Nam Bộ là vùng đất mới được khai phá; với tính hoang
dã, thoáng rộng của đồng bằng mênh mông, sông nước và kênh rạch chằng chịt như vùng đồng bằng sông Cửu long, hoặc đồi núi đất đỏ cao nguyên như vùng miền Đông, hải đảo như vùng Kiên giang, và biển cả trùng trùng Đây chính là vùng đất có nhiều tài nguyên thiên nhiên gìau có, phong phú dễ dàng khai thác, nhưng cũng đầy hiểm nguy
Dân cư Nam Bộ gồm người Việt, Khmer, Hoa, Chăm,… trong đó có người theo đạo Phật, đạo Hoà hảo, đạo Thiên chúa, đạo Cao đài, đạo Hồi,… và cả những người không tôn giáo Do đó, văn hoá Nam Bộ là đa màu đa sắc và mang dấu ấn nhiều sắc thái dân tộc hết sức đa dạng từ cội nguồn, nhưng lại kết cấu trên cơ sở tinh thần bao
Trang 35dung, hoà hợp, đồng nguyên Có thể nói, văn hoá Nam Bộ là vùng văn hoá đạo Phật, văn hoá Khmer, văn hoá Ấn độ, văn hoá Hoa kiều, nhưng văn hoá Việt là cái nền.”[Nguồn : http://www.tamly.com.vn/home/?act=News-Detail-s-11-412]
Về thời tiết khí hậu, Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt
đới gió mùa và cận xích đạo, nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức
xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao Biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm thấp và ôn hòa Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng từ 80 - 82% “Thiên nhiên khắc nghiệt nhưng cũng rất hào phóng với mảnh đất Nam Bộ Ở đây chỉ có hai mùa: sáu tháng mùa khô, đất nứt nẻ, sáu tháng mùa nước kéo dài Nam Bộ không có mùa đông, hoa trái quanh năm, tôm cá nhiều (những năm trước người ta có thể dùng rổ hớt tôm cá dưới sông lên một cách dễ dàng)”
“Con sông Mê Kông ào ạt đổ ra cùng một lúc trên các cửa biển thật hùng vĩ! Mỗi năm vào mùa nước nổi về, người dân Nam Bộ phải “sống chung với lũ”, cuộc sống của
họ bấp bênh cũng là yếu tố để tạo ra tâm lý “cứ làm đại đi”, “làm tới luôn đi” rất đặc sắc.”
Ưu đãi của thiên nhiên cho vùng đồng bằng sông Cửu Long là khí hậu nóng ấm quanh năm, nắng nhiều, ít có thiên nhiên và thời tiết thất thường Với hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt, có lẽ đây là yếu tố bất biến hơn cả trong cảnh quan thiên nhiên tác động đến văn hóa dân gian của người Việt qua tiến trình lịch ssử, và chính yếu tố này đã tác động mạnh đến văn hóa dân gian của họ Ví dụ: không thể lý giải được thời điểm hội đình làng quê Nam Bộ nếu không dựa vào đặc điểm này của cảnh quan thiên nhiên Hoặc sẽ không cắt nghĩa được lối kiến trúc, nhà cửa của người dân nơi đây nếu không đặt lối kiến trúc ấy vào nền nhiệt, chế độ ánh sáng, sự phân bố ánh sáng mặt trời trong một ngày, một tháng, một năm của vùng đó [Thạch Phương 1992: 56]
Dù cơ bản vẫn là vùng khí hậu nhiệt đới ẩm với hai mùa mưa, nắng đặc trưng, nhưng vào những năm gần đây, do chịu sự tác động của môi trường chung, cũng như nhiều vùng khác, thời tiết khí hậu của khu vực Tây Nam Bộ có nhiều sự thay đổi
“Nhiệt độ trung bình trong năm 270C, cao nhất không quá 300C, thấp nhất không dưới 250C Chế độ gió mùa ở đây tạo nên nhịp điệu mùa rõ rệt: từ tháng 5 đến tháng 10 là thời kỳ gió mùa Tây Nam, là mùa mưa, tập trung tới 80% - 90% lượng mưa
cả năm; từ tháng 11 đến tháng 4 là thời kỳ gió mùa Đông Bắc khô khan Mưa tập trung trong một số tháng làm cho 2 mùa kế tiếp nhau, phân biệt nhau rõ rệt: hết mùa khô là đến mùa mưa” [Viện KHXH 1990: 14]
Trang 36Thiên nhiên nhiệt đới, gió mùa Tây Nam Bộ không chỉ có mặt thuận lợi cho cây
trồng và đời sống con người mà nó còn “tồn tại và phát triển trong trạng thái tương phản: giữa sông và biển, mùa khô và mùa mưa, gió mùa Tây Nam và mùa gió chướng,
lũ và hạn, nước ngọt rất thừa mà lại rất thiếu, đất phù sa ngọt với đất phèn, đất mặn… Mỗi sự nhận biết và sử dụng cái thuận lợi của thiên nhiên đó lại đồng thời đòi hỏi phải tìm ra cho được cái khó khăn cũng do nó gây nên để thích nghi và khắc phục”
[Nguyễn Công Bình 1990: 21]
Về địa hình, cảnh quan và môi sinh thì miền Tây Nam Bộ là nơi hội tụ nhiều
yếu tố thuận lợi, vừa đồng nhất vừa đa dạng so với thiên nhiên các vùng miền ở Việt Nam Khác với miền Đông Nam Bộ, là vùng đất đỏ bazan và đất phù sa cổ, có độ cao trung bình từ 100 - 200 m và là nơi tập trung đồi núi của toàn vùng Nam Bộ; thì miền Tây Nam Bộ là vùng đất phù sa mới, có địa hình bằng phẳng vào loại hiếm thấy ở Việt Nam, độ cao trung bình chưa đầy 2m, và cao không quá 5m so với mực nước biển Ở miền Tây chỉ có hai điểm cao là dãy Thất Sơn (An Giang, cao nhất là núi Cấm 718m), dãy Hàm Ninh (Kiên Giang, cao nhất là núi Chúa 602m) [Lý Tùng Hiếu 2008: www.vanhoahoc.edu.vn] Tuy cùng nằm trong vùng Nam Bộ, nhưng với sự khác biệt
về địa hình cũng có khả năng tạo nên một vài nét khác biệt về đặc điểm sinh sống và quan hệ con người ở hai miền Đông và Tây Nam Bộ
Điều kiện tự nhiên ở Tây Nam Bộ rất thuận lợi cho sự sinh trưởng của các loài sinh vật Toàn bộ 900 loài thực vật phát hiện ở đồng bằng này đều nằm trong giới hạn thực vật nhiệt đới; nguồn lợi sinh vật chủ yếu là sinh vật ưa nước; hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển là nét tiêu biểu của thiên nhiên nhiệt đới, gió mùa [Nguyễn Công Bình 1990: 20] Nhờ vào hệ thống sông Mê Kông, Đồng bằng sông Cửu Long đa dạng sinh học hơn hẳn Đồng bằng sông Hồng Hệ thống rừng chàm hiện nay có khoảng 100 nghìn
ha Rừng ngập mặn còn khoảng 150 nghìn ha tập trung chủ yếu ở Cà Mau và Bạc Liêu Đặc biệt là hệ thống sinh thái cửa sông ven biển với phong phú tôm, cá nước ngọt, nước lợ…Nơi đây còn có hệ sinh thái thủy sinh rất phong phú ở khu vực nội địa vùng biển Tây Nam chiếm 13,5% trữ lượng cá của cả nước Bên cạnh đó là hàng chục sân chim, nhiều nhất là tỉnh Cà Mau [http://vi.wikipedia.org/ ]
Cảnh quan thiên nhiên vùng đồng bằng sông Cửu Long là các tài nguyên động vật, thực vật vừa giàu có, vừa phong phú Hiện tại, những tài nguyên đó còn có mặt hầu khắp trong vùng Đáng nói nhất là cá: vừa phong phú về chủng loại vừa giàu có
về trữ lượng Ngược dòng lịch sử, những động vật như cọp, beo, cá sấu trâu rừng từng
Trang 37phổ biến ở nơi này mà sử sách, bia ký đã ghi chép Những động vật ấy nay không còn nữa, nhưng vẫn chưa phai mờ hình dáng, dấu vết trong văn hóa dân gian của người Việt nơi đây
Tìm ra những nét khu biệt của thiên nhiên Nam Bộ để thấy sự tác động của nhân
tố này với văn hóa dân gian của người Việt nơi đây Sự tác động của các nhân tố ấy là tổng hợp, cũng có thể nét khu biệt này ảnh hưởng đến mạnh mẽ tới một thể loại, nhưng nét khu biệt kia lại không ảnh hưởng mạnh mẽ bằng, và ngược lại Người Việt, ngay buổi ban đầu khi tới nơi này khai phá, tạo dựng văn hóa của mình ắt phải tìm ra một sự thích ứng hợp lý Thế ứng xử trước thiên nhiên, khiến cho văn hóa dân gian có những nét khu biệt khi đặt trong diện mạo văn hóa dân gian của người Việt trên địa bàn cả nước.” [Thạch Phương 1992: 55]
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cũng khẳng định hằng số 2 của văn hóa Nam Bộ: là nơi gặp gỡ của các tuyến giao thông đường biển quốc tế: Việt Nam với Đông Nam Á; Việt Nam với thế giới phương Tây; ngã ba đường Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương [Trần Ngọc Thêm 2008: www.vanhoahoc.edu.vn]
Hai hệ thống sông lớn nhất của vùng là hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long Hệ thống sông Đồng Nai ở khu vực Đông Nam Bộ có lượng phù sa khá thấp, tốc
độ bồi lắng ven biển khá chậm, nhưng nhờ lòng sông sâu nên là nơi tập trung các cảng chính của khu vực như cảng Sài Gòn, cảng Cát Lái, cảng Hiệp Phước, cảng Phú Mỹ [ Lý Tùng Hiếu www.vanhoahoc.edu.vn]
Nếu như môi trường sông nước là một đặc trưng cho thiên nhiên Việt Nam, thì Nam Bộ được xem là một vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng Tuy nhiên, ở Đông
Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh), “ngoại trừ hai đặc điểm nổi bật về thổ nhưỡng là đất đỏ ba-dan và đất xám – phù sa cổ, thì về cảnh quan-sinh thái, chưa có gì đặc biệt lắm so với các vùng khác trong nước Sông ngòi, núi rừng, cây trái, cách làm ăn sinh hoạt, tuy có mang một số nét riêng, nhưng về cơ bản, vẫn gần hao hao giống một số vùng bán sơn địa ở Nam Trung Bộ” [Thạch Phương 1992: 235] Trong khi
đó, miền Tây Nam Bộ lại là nơi thể hiện rõ hơn và vượt trội hơn tính chất “sông nước rất đặc trưng” này Sông ngòi ở đây rất chằng chịt, với khoảng 2500 km sông rạch tự nhiên
và 2500 km sông rạch đào “Nhưng sự khác biệt không phải chỉ về lượng, mà là cả một
sự khác biệt về chất do kết quả tổng hợp của nhiều hệ thống gió mùa và nhiều hệ thống
Trang 38truyền triều tác động từ những hướng luôn luôn thay đổi nhau²” [Nguyễn Công Bình
1990:14-15] Hệ thống sông nước Tây Nam Bộ bủa vây các miệt, bao bọc các cù lao và len lỏi đi khắp vùng Nó không chỉ có vai trò quan trọng đối với lao động sản xuất mà còn chi phối toàn bộ sự sống và nhịp độ sinh hoạt của con người
Với sự kết hợp của địa hình bằng phẳng và môi trường sông nước chằng chịt đã tạo nên một hệ chiều kích không gian rộng mở cho Tây Nam Bộ, khả năng tạo nên vùng biệt lập do phân tầng địa hình là kém hơn so với Đông Nam Bộ và kém nhất so
với cả nước Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng Tây Nam Bộ là vùng có môi trường sông nước điển hình nhất cả nước, kéo theo một cấu trúc không gian “mở”, tập trung
và điển hình nhất ở Việt Nam
Chính môi trường sông nước Tây Nam Bộ đã tạo nên một đời sống giao thông đường thủy, như một hình thức giao thông chủ đạo trong toàn vùng của con người Ngay từ những ngày khẩn hoang, người Việt ở miền Tây Nam Bộ đã phải gắn bó chặt chẽ nhịp sống của mình theo các tính chất thủy văn của hệ thống sông ngòi nơi đây Sự vận động của hệ thống truyền triều có thể tạo nên nhiều thuận lợi lẫn khó khăn cho sự
đi lại của con người Đó cũng là một trong những điểm khác biệt trong môi trường giao tiếp của người Việt ở miền Tây Nam Bộ so với miền Đông Nam Bộ và Bắc Bộ
Hệ thống sông ngòi Tây Nam Bộ được thể hiện tập trung qua sự sung mãn và trù phú của Sông Cửu Long, dòng sông mẹ của các con sông, là đoạn cuối của Sông Mê Kông trên lãnh thổ Việt Nam là sông Hậu Càng xuôi về Nam, hai nhánh sông này càng rộng lớn
Toàn bộ Đồng bằng sông Cửu Long là sản phẩm bồi lắng phù sa của con sông
“Mẹ” Hằng năm, nơi đây nhận khoảng 90.000 triệu mét khối nước mưa và 550.000 triệu mét khối nước sông Mê Kông đổ về, tổng khối lượng phù sa lên đến 1000 triệu tấn/ năm, gấp 7- 8 lần khối lượng phù sa Sông Hồng Một phần phù sa theo lũ tràn bờ đi
vào nội đồng, phần lớn đi ra cửa sông, bồi tụ vùng ven biển “Qua hàng ngàn năm tranh chấp sông với biển, đồng bằng được hình thành và vẫn còn đang tiếp tục hình thành Biết bao cù lao sông lớn nhỏ được tạo ra” [Nguyễn Công Bình 1990: 14,18]
Tác giả Thạch Phương trong Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ cũng khẳng định: “Đây là một bình nguyên bát ngát có độ cao trung bình từ một đến hai mét (những giồng gò cao không quá năm mét) so với mặt nước biển Độ chênh giữa đất và nước ở đây là một điều lý tưởng đối với nhà nông Đồng bằng rộng lớn này được tưới
Trang 39tắm bởi một hệ thống sông rạch dày đặc mà không nơi nào trên đất nước có thể bì được.” [Thạch Phương 1992: 45]
Vùng đồng bằng trù phú này có tiếp giáp với biển, sự tiếp giáp này không chỉ ở phần đáy châu thổ mà bao quanh cả ba mặt Đông, Nam và Tây Nam với một chiều dài đến mấy trăm km Trải qua “hàng ngàn năm tranh chấp sông với biển, đồng bằng được hình thành Biết bao nhiêu cù lao sông lớn nhỏ được tạo ra, có những cái quan sát được bằng mắt thường…có những cù lao cực lớn, đỉnh nằm ở chỗ sông bắt đầu chia nhánh,
Như vậy, yếu tố biển là một yếu tố khá đặc biệt trong cấu trúc không gian chung của miền Tây Nam Bộ Chính yếu tố đó đã tạo cho vùng này một địa thế bán đảo chịu ảnh hưởng của thủy triều qua sự tác động các con sông, rạch với những đợt nước lớn, nước ròng
Môi trường thiên nhiên Tây Nam Bộ luôn khơi dậy và đòi hỏi con người sự tìm tòi, khám phá và thích nghi Đó chính là tiền đề sinh động của quan hệ con người, cho nếp sống tương trợ, trọng tình, trọng nghĩa; cho nhu cầu sẻ chia tri thức, kinh nghiệm, tình cảm của người Việt, cũng như của người Việt với các tộc người khác ở Tây Nam
Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung
Cũng chính tại nơi đây, từ không gian tự nhiên này, một không gian văn hoá đã hình thành và phát triển cùng với sự hiện diện của con người Trải qua nhiều đổi thay, miền Tây Nam Bộ, đến nay bao gồm 13 tỉnh, thành phố: Long An, Tiền Giang, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ
Thiên nhiên đã được biến chuyển và càng ngày càng in đậm dấu ấn văn hóa của một miền sông nước Khi đây là nơi quần cư chủ yếu của con người vùng đất mới, người miền Tây đã biến cải thiên nhiên có phần khắc nghiệt dần dần trở thành không gian văn hóa phục vụ cho đời sống của mình Con người tạo dựng và tổ chức đời sống cộng đồng, qua đó, sông rạch là đường giao thông huyết mạch, cũng là nguồn thực phẩm quan trọng cho đời sống của người dân Tây Nam Bộ Những dòng sông, kênh, rạch được lấy làm ranh giới phân biệt giữa các địa phương, và nơi đây, đã tồn tại văn hóa của miền sông nước
Như vậy, ca dao của người Việt miền Tây Nam Bộ đã nhen nhúm và hình thành
và lưu truyền từ trong môi trường và không gian văn hoá như vậy
Trang 40Chủ thể văn hóa
Nguyễn Phương Thảo trong Văn hóa Nam Bộ, những phác thảo cho rằng:
Chủ thể sáng tạo văn hóa dân gian người Việt Nam Bộ là người Việt Hiển nhiên những
cư dân Việt này không phải là cư dân bản địa ở đây mà họ là những lưu dân
Theo dòng lịch sử, các lớp lưu dân Việt tới Nam Bộ vào những thời điểm lịch sử khác nhau và gốc gác của họ cũng khác nhau Lớp cư dân Việt thứ nhất đến Nam Bộ là những lưu dân đi khai phá vùng đất mới Gốc gác của những lưu dân này, theo GS Trần Văn Giàu chủ yếu có 3 loại:
“Thứ nhất là những người dân Trung, Bắc bần cùng lưu tán hay muốn tránh cuộc phân tranh đẫm máu kéo dài giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn, từ đầu thế kỷ XVII đã lần lượt theo gió mùa vào vùng Đồng Nai – Cửu Long để kiếm sống và an thân Họ là những người tiên phong vũ trang bằng óc phiêu lưu mạo hiểm, bằng cán búa, lưỡi cày, tấm lưới
Thứ nhì là những người (số ít) có tiền của, có quyền thế, chiêu mộ dân nghèo (số đông) ở miền Trung đi vào Nam khẩn đất theo chính sách đinh điền của nhà Nguyễn Thứ ba là những lính tráng cùng nhiều tội đồ được triều đình sai phái, bắt buộc vào Nam lập đồn điền vừa bảo vệ biên cương, giữ trị an vừa mở ruộng lập vườn quanh cứ điểm quân sự.”1 [Nguyễn Phương Thảo 44.45 ]
Những người Việt lần hồi có mặt tại Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng, là những người Việt ở Bắc Bộ và phần nhiều từ vùng đất Ngũ Quảng [Sơn Nam 1967/2007: 28-29], từng được nhận diện đặc điểm nguồn gốc xuất thân trong một
số công trình nghiên cứu với những nét đặc trưng sau:
Thứ nhất, thành phần chủ yếu nhất và đông đảo nhất là những người nông dân và
thợ thủ công nghèo, vì quá đói kém, cơ cực do thiên tai và chiến tranh nội chiến kéo dài, vì không chịu nổi sự bóc lột, áp bức hà hiếp của quan lại, địa chủ và chế độ phong kiến Việt Nam đang vào giai đoạn suy tàn, mục ruỗng…Họ buộc lòng phải rời bỏ làng mạc, quê hương mà lưu thân vào Nam Bộ mong tìm kiếm sự sống So với người Việt còn bám trụ ở lại phần đất đàng cựu thì người Việt ở Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng
là thành phần chứa nhiều chất dương tính trong tính cách Họ không ngại sự thay đổi và bất trắc Ý chí thay đổi cuộc sống, thân phận đã tạo nên sức mạnh, lòng quả cảm cho họ có thể rời bỏ quê cha đất tổ, lên đường vào Nam lập nghiệp [Huỳnh Lứa 1987: 41, 43],
1
Bài Mấy đặc đỉểm của nông dân đồng bằng sông Cửu Long – Đồng Nai, in trong sách Một số vấn đề khoa học
xã hội về đồng bằng sông Cửu Long,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.198