Ru – đích nhận định rằng: “Biểu tượng là những hình ảnh cụ thể của vật thể và hiện tượng của thế giới bên ngoài và của các tính chất của chúng xuất hiện trong ý thức con người mà không c
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2Thế giới biểu tượng trong ca dao người Việt vô cùng phong phú và đa dạng, biểu hiện qua các các hiện tượng tự nhiên, thế giới thực vật, động vật cho đến các đồ dùng cá nhân, các công cụ sinh hoạt gia đình, công cụ sản xuất, công trình kiến trúc Qua ca dao xưa, quần chúng nhân dân ta thường dùng những biểu tượng để thể hiện những cung bậc tình yêu, hạnh phúc hay đau khổ, để biểu trưng cho vẻ đẹp của con người
Thế giới biểu tượng thực sự đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của con người từ xưa đến nay ở khắp mọi miền trên trái đất Các biểu tượng góp phần làm nên bộ mặt của một nền văn hóa ở những đường nét cơ bản nhất Đó là một thế giới có sức hấp dẫn đặc biệt Chính vì thế khi nghiên cứu về biểu tượng thì đây là một lĩnh vực mà đã và đang được các nhà nghiên cứu quan tâm đến rất nhiều Với sự tìm tòi của bản thân, qua luận văn này tôi muốn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này một cách có hệ
thống Vì vậy, bản thân tôi mạnh dạn chọn đề tài Biểu tượng thực vật trong ca
dao người Việt làm đề tài luận văn Bài luận văn dù còn nhiều thiếu sót nhưng
với việc nghiêm túc trong quá trình làm việc, tôi hi vọng bài này sẽ có một
Trang 3đóng góp nhỏ bé trong tổng thể những công trình nghiên cứu về biểu tượng trong ca dao người Việt
2 Lịch sử vấn đề
Thế giới biểu tượng trong ca dao người Việt vô cùng phong phú và đa dạng Chính vì thế khi nghiên cứu về biểu tượng thì đây là một đề tài mà chưa
bao giờ vơi cạn đối với các nhà nghiên cứu
Nói đến biểu tượng trong ca dao, Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi
pháp ca dao đã chia các biểu tượng trong ca dao thành “Thế giới các hiện
tượng thiên nhiên, tự nhiên, thế giới vật thể nhân tạo Bên cạnh đó tác giả đã phân tích một số biểu tượng và hình ảnh thực vật và động vật trong ca dao người Việt trên cơ sở so sánh với văn học viết” [9, tr.310 -311]
Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca việt Nam lại đi sâu
vào nghiên cứu các biểu tượng và tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao Tác giả đã khẳng định rằng “Người dân lao động Việt Nam đem hình ảnh con cò và con bống vào ca dao, dân ca là đưa một nhận thức đặc biệt về khía cạnh của cuộc đời vào văn nghệ, lấy cuộc đời của những con vật trên đây để tượng trưng vài nét đời sống của mình, đồng thời cũng dùng những hình ảnh ấy để khêu gợi hồn thơ” [23, tr.99]
Tác giả Phạm Thu Yến trong cuốn Những thế giới nghệ thuật ca dao
cũng đã bàn về “Vấn đề nghiên cứu biểu tượng thơ ca trữ tình Việt Nam” đã
đi vào nghiên cứu ba vấn đề: “Vấn đề xác định ranh giới giữa biểu tượng và
ấn dụ Biểu tượng thơ ca dân gian với đặc trưng thể loại Sự hình thành và phát triển của biểu tượng thơ ca dân gian” [ 28, tr.84] Khi nghiên cứu ba vấn
đề đó Phạm Thu Yến đã khẳng định rằng “Việc nghiên cứu theo ba vấn đề trên tạo ra cái nhìn toàn diện hơn khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu So sánh việc sử dụng biểu tượng thơ ca các dân tộc giúp cho chúng ta vừa có cái nhìn
Trang 4khái quát mang tính chất quốc tế, vừa có điều kiện đi sâu vào màu sắc riêng, đặc điểm riêng của thơ ca từng dân tộc” [28, tr.101]
Khi nghiên cứu về biểu tượng sóng đôi trong ca dao, trong bài viết Thế
giới biểu tượng sóng đôi trong ca dao người Việt, Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã
nhận xét rằng: “Có thể nói, các biểu tượng sóng đôi đã chiếm vị trí khá đặc biệt trong kho tàng ca dao của người Việt Bên cạnh những giá trị nội tại, với
tư cách là một thành tố của thi pháp ca dao, các biểu tượng sóng đôi đã có những tác động đáng kể đến các thành tố thi pháp khác của thể loại này Biểu tượng sóng đôi với số lượng phong phú, cấu trúc đa dạng và chức năng rõ rệt
đã góp phần tạo nên cái hay, cái đẹp trong ca dao” [1, tr.114] Tìm hiểu nguồn
gốc biểu tượng trong ca dao Việt Nam, Nguyễn Thị Ngọc Điệp cho rằng:
“Các biểu tượng được hình thành từ nhiều con đường khác nhau tạo nên sự đa dạng và phong phú cho hệ thống biểu tượng, hệ thống mã thẩm mỹ ca dao Đáng chú ý nhất là hiện tượng nhiều biểu tượng sóng đôi được hình thành, cho thấy nhu cầu thể hiện, giãi bày tâm tư tình cảm lứa đôi trong nhân dân là
vô cùng to lớn Điều này hoàn toàn hợp lí và dễ hiểu, vì trong hoàn cảnh khắt khe, người dân luôn khao khát vươn tới sự tự do trong yêu đương, mà trước
hết là tự do được bày tỏ tình yêu trong lời ca hát của mình” [21, tr.340]
Đi vào nghiên cứu từng biểu tượng cụ thể, có bài viết Mùa xuân và hoa
trong ca dao ( ngôn ngữ và đời sống, số 4, H.2006), của Mai Ngọc Chừ Biểu tượng hoa trong văn học dân gian ( Tạp chí văn hóa nghệ thuật số 328 / tháng
10 – 2011) của Lê Đức Luận
Những bài viết trên chỉ mới đề cập ở một khía cạnh nào đó, chưa có
công trình nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu một cách sâu sắc Biểu tượng
thực vật trong ca dao người Việt Những công trình, bài viết trên thực sự là
một nguồn tư liệu bổ ích cho tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn Và
Trang 5chúng tôi mong rằng được tiếp bước trên con đường của các nhà nghiên cứu
đã có công khai phá
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Biểu tượng thực vật trong ca dao
người Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, phạm vi khảo sát của chúng tôi được nằm trong ba
tập Kho tàng ca dao người Việt (Tập I, II, III) do Nguyễn Xuân Kính, Phan
Đăng Nhật (chủ biên), NXB Văn hóa thông tin , Hà Nội, 1995
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp quy nạp, diễn dịch
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
5 Đóng góp của đề tài
Với đề tài này, tôi mong rằng nó sẽ giúp ích một phần nào đó cho
những ai tìm hiểu về thế giới biểu tượng thực vật trong ca dao người Việt Đề tài đã làm rõ về giá trị nội dung và nghệ thuật từ biểu tượng thực vật trong ca
dao người Việt Đề tài góp phần hỗ trợ trong việc nghiên cứu và giảng dạy
văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục, luận văn gồm có ba chương chính:
Chương Một: Khái quát những vấn đề chung
Chương Hai: Một số biểu tượng thực vật trong ca dao người Việt Chương Ba: Giá trị nghệ thuật của việc xây dựng biểu tượng thực vật
trong ca dao người Việt
Trang 6CHƯƠNG MỘT: KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái niệm biểu tượng
Có rất nhiều khái niệm về biểu tượng, người ta có thể đứng trên nhiều góc độ để định nghĩa về nó
“Trong triết học và tâm lí học, biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta chấm dứt Biểu tượng như là thuật ngữ của mĩ học, lí luận văn học và ngôn ngữ học còn được gọi là tượng trưng, nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Trong nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loạt hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan điểm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời” [4, tr.23 – 24]
Ru – đích nhận định rằng: “Biểu tượng là những hình ảnh cụ thể của vật thể và hiện tượng của thế giới bên ngoài và của các tính chất của chúng xuất hiện trong ý thức con người mà không có sự trực tiếp tác động của kích thích bên ngoài lên các cơ quan cảm thụ của con người đó” [6, tr.64]
Nguyễn Thái Hòa cho rằng: “Trong Tiếng Việt, thuật ngữ biểu tượng là những từ gần nghĩa dùng để dịch từ symbol, có ý nghĩa cơ bản là một dấu hiệu (tín hiệu, kí hiệu) mang tính chất hàm ước chỉ một đặc trưng, một phẩm chất, một sáng tạo hay hẹp hơn là có khả năng gợi ra một đối tượng khác, một
sự vật khác ngoài sự thể hiện cụ thể của dấu hiệu đó và được cộng đồng chấp nhận” [7, tr.21]
Trang 7Theo Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong bài viết Tìm hiểu nguồn gốc của
biểu tượng trong ca dao Việt Nam thì: “Biểu tượng là một sự vật mang tính
chất thông điệp được dùng để chỉ ra một cái bên ngoài của nó, theo một quan
hệ ước lệ giữa sự vật trong thông điệp và sự vật bên ngoài Nói khác đi, biểu tượng chính là cái nhìn thấy được mang một ký hiệu dẫn ta đến cái không nhìn thấy được” [21, tr.328]
Như vậy, xét ở góc độ chung nhất, theo quan điểm của Nguyễn Xuân
Kính trong cuốn Thi pháp ca dao, ta có thể hiểu: “Biểu tượng là hình ảnh cảm
tính về hiện thực khách quan, thể hiện quan điểm thẩm mĩ, tư tưởng của từng nhóm tác giả (có khi của riêng một tác giả), từng thời đại, từng dân tộc và từng khu vực cư trú” [9, tr.185]
1.2 Đặc điểm biểu tượng
“Biểu tượng trong ca dao là một loại biểu tượng được xây dựng từ ngôn ngữ bằng qui ước của cộng đồng Thế giới biểu tượng này vừa mang những nét đặc thù của nó do nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật thi ca dân gian mang lại” [1, tr.106]
“Biểu tượng nghệ thuật bao gồm mọi nhận thức hành động tĩnh cũng như động được tạo nên từ các loại hình nghệ thuật khác nhau: hội họa, điêu khắc, kiến trúc, điện ảnh, Điều này cũng có nghĩa là biểu tượng có thể được hình thành bởi các chất liệu khác nhau: màu sắc, hình khối, điệu bộ, động tác của con người Trong văn học, chất liệu để xây dựng nên biểu tượng là ngôn ngữ: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, với ca dao không có ngôn ngữ thì không
có biểu tượng” [21, tr.329]
“Được xây dựng trên cơ sở tính hàm súc, hàm nghĩa của ngôn ngữ văn chương, hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong ca dao sẽ góp phần làm cho ngôn ngữ của loại thi ca dân gian này mang tính đa nghĩa và giàu sức khơi gợi [1, tr.107]
Trang 8“Khi xây dựng hình tượng, biểu tượng được bổ sung, phát triển, phong phú bởi các biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, phóng đại, các biện pháp
tu từ, tạo nghĩa khác như láy, đối…” [6, tr.68] “Những hình ảnh được sử dụng trong các phép tu từ này xuất hiện nhiều lần đến mức khi thoát khói các văn cảnh cụ thể, người ta vẫn cảm nhận được ý nghĩa biểu trưng của chúng, lúc đó, ta có các biểu tượng” [21, tr.330]
Khi lần lại từng câu ca dao, tục ngữ, ta có thể phát hiện các biểu tượng gốc đầu tiên Biểu tượng thì rất nhiều vì nó liên quan đến khối lượng từ chỉ vật, chỉ thiên nhiên, chỉ người,…khá nhiều Khi có sự kiện mới, sự vật mới thì
sẽ xuất hiện biểu tượng mới và sẽ có hình tượng mới Thơ ca dân gian và thơ
ca hiện đại là hai phạm trù văn học khác nhau cho nên chúng sẽ có những khác biệt căn bản trong hệ thống thi pháp, trong đó có nghệ thuật xây dựng và
sử dụng biểu tượng Tuy nhiên, dù muốn, dù không, bất cứ một biểu tượng văn học nào cũng có những liên hệ nhất định với ý thức thẩm mỹ truyền thống Sự chiếm lĩnh thế giới bên ngoài, hay sự xuất hiện các biểu tượng trong thơ một mặt như là một phương thức có khả năng đem đến cho nhà thơ chủ quyền bộc lộ tư tưởng và tình cảm cá nhân của mình Nó kích thích nhà thơ diễn đạt những nội dung tiềm ẩn trong tâm hồn, và mặt khác như là biểu hiện của quá trình vận dụng các yếu tố nghệ thuật truyền thống của thơ ca thuộc về sự sáng tạo cá nhân của mỗi nhà thơ và được quy định bởi xu hướng
tư tưởng thẩm mỹ của nhà thơ Trong nguồn cảm hứng về lịch sử và thời đại, mỗi nhà thơ đều tìm cách khai thác và sử dụng biểu tượng cho phù hợp với tạng riêng của mình
1.3 Phân loại biểu tượng
Để phân loại biểu tượng trong ca dao thì đây là vấn đề mà các nhà nghiên cứu quan tâm Trong quá trình phân loại mỗi nhà nghiên cứu đều có
cách phân loại biểu tượng khác nhau
Trang 9Theo tác giả Phạm Thu Yến trong cuốn Những thế giới nghệ thuật
trong ca dao có thể phân loại như sau:
a Biểu tượng động vật
Loan – phượng, ong – bướm, rồng – cá, cò - bống:
Bấy lâu loan đợi phượng chờ Loan sầu phượng ủ biết cơ hội nào
b Biểu tượng thực vật
Trầu - cau, trúc – mai, mận – đào, quế - hồi, bầu – bí
Ở đây quế sánh với hồi Loan sánh với phượng, cho tôi sánh nàng
c Biểu tượng đối tượng
Nhóm này đa dạng và số lượng tương đối lớn: thuyền – bến, trăng – sao, núi – nước, vàng – thau, mặt trăng – mặt trời:
Mặt trăng sánh với mặt trời Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng
Mình ơi có nhớ ta chăng
Ta như sao vượt chờ trăng giữa trời
Sự phân loại thành 3 nhóm biểu tượng này chưa thể thâu tóm được hết cách sử dụng biểu tượng trong thơ ca dân gian Thường các cặp biểu tượng được kết hợp từ các nhóm khác nhau Chính sự kết hợp này làm cho các cặp biểu tượng trở nên đa dạng hơn, thú vị hơn: bướm – hoa, rồng – mây, cá – nước, sen – hồ, chim – phượng – cây ngô đồng [28, tr.92]
Tìm rồng mà lại gặp mây, Sầu riêng năm ngoái, năm nay vẫn còn
Nguyễn Thái Hòa trong cuốn Từ điển tu từ - phong cách học – thi pháp
học đã chia biểu tượng thành hai loại:
Trang 10“Biểu tượng văn hóa là những biểu tượng thuộc lễ nghi, phong tục, tập quản, nếp sống, nếp nghĩ của một cộng đồng dân tộc” [7, tr.22] Cây đa là biểu tượng đẹp với nhiều ý nghĩa, vừa gần gũi với cuộc sống của người dân, vừa mang đậm yếu tố tâm linh của người Việt Nam
Biểu tượng văn học là những biểu tượng sáng tạo văn học, tức những hình ảnh, tín hiệu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học có tính khái quát và phổ biến đến mức có khả năng gợi ra một hình ảnh khác hay một số phẩm chất, một số đặc trưng được biểu hiện” [7, tr.44] Trong ca dao, “đũa ngọc – mâm vàng” biểu tượng cho sự xứng hợp, con cò biểu tượng cho người nông dân cần cù, lam lũ
Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao, theo ông
các loại biểu tượng có thể phân loại như sau:
A Thế giới các hiện tượng thiên nhiên, tự nhiên bao gồm:
1 Trăng, sao, mây gió…(các hiện tượng tự nhiên)
2 Cỏ cây, hoa lá (thế giới thực vật)
3 Rồng phượng, chim muông (thế giới động vật)
B Thế giới các vật thể nhân tạo bao gồm:
4 Áo, khăn, gương, lược, mũ, giầy…(các đồ dùng cá nhân)
5 Chăn, chiếu, giường, mâm, bát…(các dụng cụ sinh hoạt gia đình)
6 Thuyền, lưới, đó, lờ, gàu…(các công cụ sản xuất)
7 Nhà, đình, cầu…(các công trình kiến thiết)
Về thế giới các vật thể nhân tạo, tác giả Nguyễn Xuân Kính đã săp xếp
theo sự phân loại của tác giả Trương Thị Nhàn trong bài: Giá trị biểu trưng
nghệ thuật của các vật thể nhân tạo trong ca dao cổ truyền Việt Nam [9,
tr.310 - 311]
Trang 111.4 Thế giới biểu tượng trong ca dao người Việt
Biểu tượng là một yếu tố quan trọng trong thi pháp văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng, thể hiện quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng của mỗi tác giả hoặc từng nhóm tác giả Biểu tượng được coi là một loại hình tượng ẩn
dụ, được tạo nên bằng ngôn ngữ, phong phú về khả năng biểu cảm và mang đậm tính dân tộc
Xét về mặt kí hiệu học, biểu tượng trong ca dao cũng chính là những kí hiệu Sở dĩ có thể nói như vậy, do toàn bộ hệ thống ngôn ngữ của một dân tộc chính là một hệ thống kí hiệu Mỗi kí hiệu bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt liên hệ với nhau qua một quan hệ võ đoán Và trong hệ thống kí hiệu
đó lại có những thành tố được dùng kí hiệu lần thứ hai để chí ra một ý nghĩa nào đó ở bên ngoài nó Biểu tượng được xem là “vật môi giới giúp ta tri giác bất khả tri giác” Chẳng hạn như biểu tượng con rồng được người Việt Nam cho ba ý nghĩa: thứ nhất có mối liên hệ với đất nước của nền văn minh nông nghiệp, thứ hai là sự hình thành, cội nguồn của dân tộc (truyền thuyết con rồng cháu tiên) và ý nghĩa thứ ba là thể hiện quyền lực nhà vua
Xét về mặt tu từ học, biểu tượng là những hình ảnh ấn dụ, so sánh, tượng trưng Trong ca dao, biểu tượng được chủ yếu tạo nên bởi biện pháp tu
từ nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, so sánh…Ngoài ra biểu tượng còn là những công thức truyền thống được lặp đi lặp lại đã trở nên quen thuộc trong ca dao
Thế giới biểu tượng trong ca dao Việt Nam thật phong phú và đa dạng Chúng có mặt trong tất cả các lĩnh vực, từ những vật vô tri bình thường (đôi đũa, ngọn đèn, chiếc gương…) cho đến hình ảnh hùng vĩ của thiên nhiên ( sông, núi, biển…) từ những vật tầm thường nhưng quen thuộc (khăn, nón, áo…) cho đến những đồ vật quý giá (vàng, bạc, ngọc…) Không chỉ những hình ảnh quen thuộc quan sát từ tự nhiên, cuộc sống hằng ngày, người Việt còn sử dụng chất liệu thi ca trong văn chương bình dân cho đến văn chương
Trang 12bác học có nguồn gốc từ văn chương cổ Trung Quốc và Việt Nam Những biểu tượng này liên kết với nhau làm cho người đọc có thể xem và hiểu nhiều hơn về cuộc sống, tâm tư, tình cảm của người bình dân thời xưa Chính biểu tượng đã tạo nên màu sắc riêng của ca dao
Thế giới biểu tượng trong ca dao là thế giới biểu tượng tồn tại trong tâm thức con người đã được hình tượng hóa, tạo nên những rung động thẩm
mỹ sâu sắc: Ví dụ các loại cây cỏ trong vườn như: tùng, trúc, cúc, mai (tứ quý) đã được chọn làm biểu tượng của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, đồng thời cũng là biểu tượng của một lối sống thanh cao, không bon chen danh lợi
Trong ca dao, một số biểu tượng có nguồn gốc khá phức tạp, là sự đan xen nhiều quan niệm, nhiều ảnh hướng khác nhau Ví dụ: Biểu tượng “trầu cau”, “cây đa” vừa xuất phát từ phong tục tập quán của dân tộc, vừa là kết quả của sự quan sát thiên nhiên tinh tế Còn biểu tượng rồng vừa lại có lai lịch từ các quan niệm thần thoại vừa lại có lai lịch từ văn học Trung Quốc Đặc biệt trong ca dao nhiều biểu tượng sóng đôi được hình thành cho thấy nhu cầu thể hiện, giãi bày tâm tư, tình cảm lứa đôi trong nhân dân là vô cùng lớn Điều này hoàn toàn hợp lý và dễ hiểu vì trong hoàn cảnh xã hội phong kiến thời xưa, với nhiều ràng buộc, cấm đoán, khắt khe, người dân luôn vươn cao, khát khao tự do yêu đương, mà trước hết là được tự do bày tỏ tình cảm thông qua lời ca tiếng hát của mình Những hình ảnh rồng – mây, loan – phụng, phượng hoàng – cây ngô đồng …đã trở thành biểu tượng của tình yêu đẹp đẽ, của hạnh phúc lứa đôi
Trong ca dao biểu tượng thực vật cũng là một trong những biểu tượng xuất hiện với tần số khá nhiều, nhưng chưa có ai đi vào nghiên cứu cụ thể từng biểu tượng Trong luận văn này chúng tôi đi vào nghiên cứu những biểu tượng tiêu biểu như biểu tượng “cây”, “hoa”, “trái, (quả)” Mỗi biểu tượng này đi vào ca dao lại mang một hàm ý khác nhau, những biểu tượng này đã
Trang 13trở thành phương tiện để lứa đôi trò chuyện, tâm tình Các biểu tượng là trung tâm giúp hình thành nên bài ca dao, đem lại người tiếp nhận những dấu ẩn khó quên về một lối nói năng, lối diễn đạt kín đáo, tao nhã, cô động, và súc tích của tác giả dân gian
Như vậy có thể khẳng định rằng, biểu tượng trong ca dao xuất hiện với tần số khá cao, đã phản ảnh được một số đặc trưng quan trọng của ca dao về thi pháp cũng như về nội dung Những biểu tượng này đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành nên cấu tứ mẫu mực của rất nhiều bài ca dao, là nguồn thi liệu quen thuộc, phong phú của người Việt xưa
Tiểu kết:
Ở chương này, chúng tôi đã xác lập được toàn bộ những vấn đề lý thuyết mang tính chất cơ sở và khái quát nhất có liên quan trực tiếp tới đề tài Đặc biệt ở chương này là những vấn đề quan trọng, là cơ sở vững chắc để triển khai ở chương sau Từ những cơ sở lý thuyết ở chương này, chúng tôi áp dụng để làm rõ vấn đề cần triển khai ở chương sau
Trang 14CHƯƠNG HAI: MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG THỰC VẬT TRONG CA
DAO NGƯỜI VIỆT
2.1 Những biểu tượng thực vật trong ca dao người Việt
2.1.1 Biểu tượng cây
Qua khảo sát trong cuốn KTCD của Nguyễn Xuân Kính Trong biểu tượng cây này chúng tôi thống kê ở dạng biểu tượng đơn gồm: cây quế (13 lần), cây trúc (12 lần), cây đa (11 lần), cây tre (8 lần), cây lúa (5 lần), cây liễu (3 lần), cây quýt (3 lần), cây mía (2 lần), cây thông (2 lần) Các biểu tượng đơn chỉ xuất hiện 1 lần: cây thầu dầu, cây nứa, cây đài bi, cây khế Còn ở dạng biểu tượng sóng đôi gồm: liễu – đào (11 lần), trúc – mai (8 lần) Những biểu tượng sóng đôi xuất hiện 1 lần: trúc – thông, mía – gừng, nghệ - gừng, quế - gừng, quế - hồi, mía – chuối:
a Biểu tượng đơn:
+ Cây quế xuất hiện 13 lần:
Em như cây quế giữa rừng Thơm cay ai biết ngát lừng ai hay
+ Cây trúc xuất hiện 12 lần:
Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh
+ Cây liễu xuất hiện 3 lần:
Đêm qua gió mát trăng thanh Bỗng đâu thấy khách biên đình sang chơi
Ai về nhắn liễu Chương Đài Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay
Trang 15+ Cây đa xuất hiện 11 lần:
Trăm năm đành lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ con đò khác đưa
+ Cây tre xuất hiện 8 lần:
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
Đan sàng thiếp cũng xin vâng Tre non đủ lá nên chăng hỡi chàng
+ Cây lúa xuất hiện 5 lần:
Đôi ta như mạ mới gieo Như lúa mới cấy còn non đòng đòng
+ Cây chanh xuất hiện 2 lần:
Trèo lên cây chanh Hái chanh ăn chanh Ngửa ăn bọc chanh
Bớ người quân tử cầu danh Đừng thấy chanh chua mà phụ, gặp cô gái lành mà sa
+ Cây thông xuất hiện 2 lần:
Thân em như thể cây thông Mùa hè tươi tốt mùa đông rậm rà
+ Cây mía xuất hiện 2 lần:
Tiếc thay cây mía có sâu
Có người nhan sắc trên đầu có tang Tang cha tang mẹ thì thương Tang đức ông chồng thì bỏ quách đi
Trang 16Các biểu tượng đơn chỉ xuất hiện một lần:
+ Cây thầu dầu:
Mình em như cây thầu dầu Ngoài tươi trong héo giữa sầu tương tư
+ Cây nứa:
Ngỡ là cây nứa không gai
Ai ngờ gai nứa dài hơn gai chồng Anh nghĩ em chưa có chồng Anh đi qua cửa em bồng con ra Đứa con da trắng như ngà
Bố mẹ chẳng giống, hóa ra giống mình
+ Cây đài bi:
Thân em như cây đài bi Ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương
+ Cây khế:
Mình em như cây khế trên chùa
Ai đi ngang qua cửa phật thấy khế chua cũng thèm
b Biểu tượng sóng đôi:
+ Liễu – đào xuất hiện 11 lần:
Hôm nay lan huệ sánh bày Đào đông ướm hỏi liễu tây một lời
Lạ lùng ướm hỏi nhau chơi Một mai cá nước chim trời gặp nhau
+ Trúc – mai xuất hiện 8 lần:
Ai đi đâu đấy hỡi ai Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm
Trang 17Các biểu tượng sóng đôi chỉ xuất hiện một lần:
2.1.2 Biểu tượng hoa
Chúng tôi thống kê trong cuốn KTCD trong biểu tượng hoa này gồm có: hoa sen (17 lần), hoa nhài (11 lần), hoa lí (10 lần), hoa mai (10 lần), hoa đào (8 lần), hoa hồng (4 lần), hoa sói (4 lần), hoa huệ (2 lần), hoa hường (2 lần), hoa khoai (2 lần) Các biểu tượng chỉ xuất hiện 1 lần là, hoa mai, hoa quế, hoa chanh, hoa ngâu, hoa gạo, hoa bưởi
Trang 18+ Hoa sen xuất hiện 17 lần:
Hoa sen hoa khéo giữ màu Nắng hồng hồng không nhạt, mưa dầu không phai
+ Hoa nhài xuất hiện 11 lần:
Càng thắm lại càng mau phai Thoang thoáng hoa nhài mà lại thơm lâu
+ Hoa lí xuất hiện 10 lần:
Gái chưa chồng như bông hoa lí Trai chưa vợ như bức tượng vẽ tranh đồ
+ Hoa mai xuất hiện 10 lần:
Đồn đây có nhánh hoa mai Cho xin một chút họa may nên gần
+ Hoa đào xuất hiện 8 lần:
Đi ngang qua thấy búp hoa đào Giơ tay muốn bẻ sợ bờ rào lắm gai
+ Hoa hồng xuất hiện 4 lần:
Em như búp hoa hồng Anh giơ tay muốn bẻ về bồng nâng niu
+ Hoa sói xuất hiện 4 lần:
Hoa sói nó nở như ri
Ai mà qua đấy bước đi chẳng rời
+ Hoa huệ xuất hiện 2 lần:
Khi xưa thiếp sáng rạng như gương Thiếp liều mình thiếp trao thương cho chàng
Nay chừ huệ héo, lan tàn Thầy mẹ đánh mắng, dạ chàng khiến vong
Trang 19+ Hoa hường xuất hiện 2 lần:
Thân em như thể hoa hường Anh xem có ý kéo mắc đường chông gai
+ Hoa khoai xuất hiện 2 lần:
Thiếu chi hoa lí hoa lài
Mà anh lại chuộng hoa khoai trái mùa
Những biểu tượng hoa chỉ xuất hiện 1 lần:
Ai mua em bán một cành năm quan Hoa em còn nụ chưa tàn Hoa em chính thức còn không Anh nào có vợ thì đừng chơi hoa
Trang 20+ Hoa bưởi:
Thấp thoáng là bóng hoa nhài Thấy mùi hoa bưởi thì ai cũng tìm
2.1.3 Biểu tượng trái (quả)
Qua khảo sát quyển KHTC, trong biểu tượng trái (quả) này Chúng tôi thống kê ở dạng biểu tượng đơn, trong đó quả cau (9 lần), quả bòng (4 lần), trái chanh (3 lần), trái bần (2 lần), trái dừa (2 lần), trái ớt (2 lần), quả đào tiên (2 lần) Những biểu tượng đơn chỉ xuất hiện 1 lần là, trái đậu quyên, trái xoài, quả bí, quả mai, trái thầu đâu, quả mận, quá mơ, trái mãng cầu, trái thơm, trái
bồ hòn, trái nhãn Biểu tượng sóng đôi chỉ các loại trái (quả) xuất hiện với tần
số khá cao, trong đó trầu – cau (9 lần), mận – đào (3 lần), lựu – đào (3 lần), cam – quýt (2 lần), lê - lựu (1 lần):
a Biểu tượng đơn:
+ Quả cau xuất hiện 9 lần:
Dao vàng cán trúc lăm le Thấy cau non muốn bửa sợ em hai lòng
+ Quả bòng xuất hiện 4 lần:
Đôi tay nâng lấy quả bòng Nâng lên đặt xuống giữa dòng nước trong
+ Trái chanh xuất hiện 3 lần:
Thân em như thể trái chanh Lắt léo trên cành nhiều kẻ ước mơ
+ Trái dừa xuất hiện 2 lần:
Thân em như thể trái dừa Đãi người xa xứ, cặn thừa đãi anh
Trang 21+ Trái ớt xuất hiện 2 lần:
ớt nào mà ớt chẳng cay gái nào mà gái chẳng hay gen chồng
+ Trái bần xuất hiện 2 lần:
Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu? + Quả đào tiên xuất hiện 2 lần:
Quả đào tiên ruột mất vỏ còn Buông lời hỏi bạn, lối mòn ai đi
Những biểu tượng trái (quả) xuất hiện 1 lần:
+ Quả xoài:
Thân em như quả xoài trên cây Gió đông gió tây, gió nam gió bắc
Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành Một mai rụng xuống biết vào tay ai ?
+ Trái đậu quyên:
Hai ta như trái đậu quyên Dầu khô dầu héo, cũng nguyền trên dây
Trang 22+ Quả mận:
Gặp đây hỏi thật bác đồ Mận non ăn được hay chờ đào tiên
+ Quả mơ:
Tay cầm nắm muối quả mơ
Mơ chua muối mặn, ta chờ đợi nhau
+ Trái nhãn:
Chim quyên ăn trái nhãn lồng Thia lia quen nhậu, vợ chồng quen nhau
+ Trái mãng cầu:
Thân em như trái mãng cầu
Ở trong bàn tán, hạc chầu hai bên
Em ôm duyên ngồi đợi đã chín mười con trăng
b Biểu tượng sóng đôi:
+ Trầu – cau xuất hiện 9 lần:
Miếng trầu ăn kết làm đôi
Lá trầu là vợ, cau tươi là chồng Trầu xanh, cau trắng cay nồng Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên
Trang 23+ Mận – đào xuất hiện 3 lần:
Ước gì đào vợ mận chồng Đào thương mận nhớ, não nùng đôi bên
+ Lựu – đào xuất hiện 3 lần:
Sen xa hồ, sen khô hồ cạn Lựu xa đào, lựu ngả đào nghiêng
+ Cam – quýt xuất hiện 2 lần:
Đầu năm ăn quả thanh yên Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng
Vì cam cho quýt đèo bòng
Vì em nhan sắc cho lòng nhớ thương
+ Lê - lựu xuất hiện 1 lần:
Em trông anh như cá trông sao Như lê trông lựu như đào trong mưa
2.2 Vẻ đẹp tiềm ẩn từ biểu tượng thực vật trong ca dao người Việt
2.2.1 Biểu tượng cho tình yêu, hôn nhân gia đình
Tình yêu là đề tài muôn thuở, là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà văn sáng tạo văn học nghệ thuật Đã có nhiều nhà văn, nhà thơ khai thác đề tài này, mỗi người đều đưa đến cái hay, cái sâu, cái riêng của tình yêu Trong ngôn ngữ ca dao, những cung bậc cảm xúc yêu thương đó lại càng hấp dẫn và sâu lắng hơn, ngôn ngữ ca dao với nhiều cách gọi, cách hàm ẩn khác nhau vừa diễn tả được tình cảm, vừa thấy được giá trị biểu đạt của ca dao
Qua lăng kính của ngôn ngữ ca dao, các thi sĩ dân gian đã gửi gắm những tâm hồn lãng mạn, những tình cảm yêu đương dạt dào, sâu đậm của những đôi lứa yêu nhau Đặc biệt các thi sĩ dân gian đã vẽ lên một khung cảnh tình yêu, muôn màu, muôn vẻ, với đầy đủ các cung bậc, có buồn vui, giận hờn
và có cả trách móc, có tình yêu nồng thắm, thuận lợi và tình yêu chia cắt, cách
Trang 24trở Ngôn ngữ ca dao dường như đã thể hiện được một cách trọn vẹn tất cả mọi cung bậc cảm xúc trong đó
Dân gian ta thường có câu “vạn sự khởi đầu nan”, và có lẽ trong tình yêu lời nói đầu tiên là khó nhất Chính vì thế mà ca dao đã chắp cánh cho trí tưởng tượng, bay bổng, giúp họ sáng tạo nên nhiều cách nói duyên dáng, độc đáo, tế nhị để thêu dệt nên những tình cảm chân thành của họ
Tình yêu làm cho “trái tim biết hát”, làm cho “con mắt có đuôi”, để rồi cuối cùng “xe chỉ luồn kim” Trong mỗi hoàn cảnh gặp gỡ khác nhau, mỗi đôi lứa yêu nhau đều có cách tỏ tình khác nhau Những lời tỏ tình đó thật đa dạng
và phong phú, nó đã đi vào ca dao người Việt Trên trời, dưới nước, thấp thoáng sau lũy tre làng, quanh co bên bờ đê ruộng đồng, rì rào bên sóng lúa chín vàng, mênh mông trong tiếng sáo diều vi vu…tất cả những hình ảnh đẹp
đó đã tạo nên những vần thơ trao hỏi ý tình giữa trai, gái trong làng
Hãy nghe chàng trai mở đầu, hỏi một cô thôn nữ, bằng một câu hỏi bâng quơ trong một đêm trăng sáng:
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá, đan sàng nên chăng?
Đan sàng thiếp cũng xin vâng Tre non đủ lá nên chăng hỡi chàng
Không gian “đêm trăng”, và hình ảnh cây “tre” ở trong câu ca dao trên
đã trở thành biểu tượng cho chuyện tình yêu của đôi trai gái ở thôn quê Lời tỏ tình của đôi trai gái thật tinh tế, giản dị, mà hàm chứa sự kín đáo tình cảm trong sáng, chân thành Chàng trai đã ướm hỏi cô gái bằng cách dùng hình ảnh “tre non đủ lá”, ở đây “tre non đủ lá” là loại tre vừa đến độ trưởng thành,
có độ dẻo phù hợp cho việc có thể “đan sàng” Anh chàng đưa ra hình ảnh
“tre non đủ lá” để thử lòng cô gái, để ngầm bộc lộ tình cảm của mình với cô gái Còn cô gái trong bài ca dao đó cũng hết sức thông minh, khéo léo, và tế
Trang 25nhị Trước lời ướm hỏi ấy nàng đã rất bình tĩnh và xứ lí một cách hỏm hĩnh Lối đối đáp của cô gái, vừa có ý hỏi khích, vừa có ý thăm dò lại vừa đáp trả tình cảm mà chàng trai dành cho mình, câu trả lời đầy dụng ý mà mang nhiều cung bậc cảm xúc xen lẫn làm cho chàng trai không biết đường nào mà trả lời Một điều đặc biệt ở cách xưng hô nữa, chàng trai thì xưng hô là “anh”, còn cô gái thì rất nhã nhặn, lịch sự xưng “thiếp”, gọi “chàng” Cách xưng hô nhẹ nhàng, ngọt ngào, vừa gần gũi, vừa tôn trọng đối tượng, vừa thể hiện sự ý tứ của chàng trai và sự dè dặt của cô gái
Cũng là lời tỏ tình của một đôi trai gái, nhưng thi sĩ dân gian đã mượn hình ảnh “quả cau non” để thổ lộ điều đó:
Dao vàng cán trúc lăm le Thấy cau non muốn bửa sợ em hai lòng
“Cau non”, tức là cau đang còn lớn, ăn chưa ngon, cũng giống như tình cảm lúc này của một đôi trai gái chưa có sự chín muồi, chưa đến mức thắm thiết, say đắm, do vậy mới có sự hoài nghi, ngần ngại Vì là đang ở dạng non, hạt cau chưa thể đông đặc lại nên lúc bổ ra rất dễ bị cau hai lòng cũng như giai đoạn chớm đến của tình yêu, chưa có đủ điều kiện để tìm hiểu, ướm hỏi của đối phương nên mới có thái độ e ngại, ngập ngừng, lưỡng lự như vậy Nhưng cũng có thể hiểu trong một hoàn cảnh nào đó lại là sự thử thách tấm lòng, là một cách ứng xử khôn khéo để thăm dò tình cảm của đối phương
Trong chuyện tình yêu trai, gái không chỉ bạo dạn, tế nhị một chút mà còn phải chủ động thì mới lợi dụng tục ăn trầu để kén chọn cho mình một người bạn trăm năm Có như vậy mới tạo được hạnh phúc đôi lứa:
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu
Cử chỉ mời trầu đó không phải là tính cách lả lơi, mà chỉ chứng tỏ rằng
cô gái muốn sống thành thật vời lòng mình Hai tiếng “trầu cau” chỉ sự mong
Trang 26ước của một mối duyên hòa hợp Qua cách mời trầu, lịch sự, nhã nhặn của cô gái, chàng trai không thể không nhận Tục mời trầu giờ đây đã gắn kết hòa quyện với tình yêu đôi lứa và trở thành sợi dây tơ hồng để trai, gái tìm nhau, bộc lộ tình cảm yêu thương của mình
Ca dao còn xuất hiện hàng loạt biểu tượng sóng đôi: như mận - đào, trúc - mai, liễu – đào, trầu – cau,… để diễn tả những cung bậc tình cảm khác nhau của những đôi lứa trai, gái đang ở tuổi yêu, những câu tỏ tình được gợi
ra thật nhẹ nhàng, bay bỏng như có chất thơ:
Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng có lối ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
Khi nhắc tới mận – đào là người ta liên tưởng ngay tới hình ảnh chàng trai và cô gái “Mận”, “đào” là hai loại trái cây thân thuộc được trồng trong vườn quê, biểu tượng cho sức sống lâu bền của tuổi trẻ, cho sự mãnh liệt của tình yêu “mận” là anh, “đào” là em, còn vườn hồng là tình duyên của cô gái
và chàng trai Chàng trai muốn tỏ tình với cô gái, nhưng mà không hỏi trực tiếp em đã có người yêu chưa, mà ưởm hỏi “Vườn hồng đã có ai vào hay chưa”? Còn thiếu nữ mặc dù chưa có người yêu, nhưng không trả lời là em chưa có người yêu, trái lại cô gái đã trả lời một cách thông minh, tế nhị
“Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”
Sự quyến luyến của cặp biểu tượng “mận hỏi đào” đã phản ảnh tâm hồn trong sáng, trẻ trung, hồn nhiên và lành mạnh của đôi trai gái làng quê ngày xưa Đồng thời các thi sĩ dân gian đã mượn biểu tượng “mận”, và “đào” để thể hiện niềm mơ ước, khát khao tình yêu đôi lứa hạnh phúc của họ Điều này chứng tỏ rằng tâm tình của người lao động ở thôn quê có lúc bộc lộ mộc mạc, chất phát nhưng cũng có lúc bay bướm, kín đáo, tế nhị
Trang 27Hay là cặp biểu tượng sóng đôi trúc – mai cũng được dùng để diễn đạt nhiều cung bậc tình cảm, nhiều cảnh ngộ tình yêu Đây là lời nhắn nhủ, hi vọng trong tình yêu lứa đôi:
Đợi chờ trúc ở với mai Đợi chờ anh ở với ai chưa chồng
Cũng có khi trong ca dao biểu tượng liễu – đào được dùng xoắn xuýt với nhau để thể hiện tình cảm đôi lứa thắm thiết:
Bướm xa hoa, bướm khô hoa héo Liễu xa đào, liễu ngẩn đào ngơ
Thực chất “bướm” không có “hoa” để hút nhụy, “hoa” không có bướm
để thụ phấn thì sẽ chết Tác giả dân gian mượn quy luật của tự nhiên, đưa ra cặp biểu tượng sóng đôi “bướm – hoa”, “liễu – đào” để đưa ra quy luật của anh và em, nhằm tăng mức độ của sự khẳng định anh và em phải sống với nhau, nương tựa vào nhau, nếu tách rời nhau thì sẽ không tồn tại được:
Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo Liễu xa đào, liễu ngả đào nghiêng
“Bùn mà không có bèo”, “bèo mà không có bùn” thì bùn khô bèo héo,
“liễu” mà phải xa “đào” không được nương tựa vào nhau thì “liễu ngả đào nghiêng” Cây liễu thường có dáng điệu ẻo lả, phất phơ nên thường được ví với nữ giới, đồng nghĩa với sự mềm yếu, giống như người ta thường nói con gái “chân yếu tay mềm” nên cần phải có một nơi nương tựa, một bờ vai vững chắc, để che chở, bảo vệ Còn cây đào có gốc cành cứng cáp, già cỗi, có sức mạnh bền bỉ thường là biểu tượng cho người con trai
Tình yêu là muôn màu, muôn vẻ, vì thế lời tỏ tình của đôi lứa yêu nhau trong ca dao cũng được diễn đạt ở những cung bậc cảm xúc khác nhau Trong
đó biểu tượng trầu – cau cũng là một trong những biểu tượng được nhắc đến khá nhiều trong ca dao để thổ lộ chuyện tình yêu nam nữ:
Trang 28- Đôi ta từ lúc gặp nhau
Tình yêu gắn bó như cau với trầu
- Bấy lâu nay cau phải lòng trầu,
Bỏ luôn, bỏ bán, bỏ rầu chợ phiên
“Cau phải lòng trầu” ở đây chính là chàng trai đã thầm yêu trộm nhớ cô gái bấy lâu nay nhưng không dám nói ra Chàng trai đã mượn hình ảnh trầu – cau để bày tỏ tấm chân tình của mình, bày tỏ tình yêu tha thiết của mình dành cho cô gái
Biểu tượng sóng đôi trầu – cau đã tác động lẫn nhau, bổ sung ý nghĩa cho nhau thành biểu tượng mang ý nghĩa liên kết vĩnh cửu và duy nhất Miếng trầu, quả cau giờ đây không phải là một vật đơn thuần mà chính là tình yêu thầm kín của đôi trai gái đã hóa thân vào Đây là một ẩn ý để tạo nên biểu tượng gắn kết của tình yêu không thể tách rời nhau
Biểu tượng trầu – cau còn thể hiện sự xứng đôi vừa lứa:
Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng, Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?
Trầu vàng nhá lẫn cau xanh, Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời
“Trầu vàng – cau xanh” hay “cau xanh – trầu vàng” là những cặp biểu tượng sóng đôi chúng đều tương xứng với nhau về thuộc tính, cùng kết hợp với nhau tạo nên một cặp xứng đôi vừa lứa Trầu vàng ăn với cau xanh đã bổ sung, nhấn mạnh, khơi gợi giá trị của cau xanh và ngược lại cau xanh nhá lẫn với trầu vàng là điểm tựa nâng cấp ý nghĩa cho trầu vàng Cả “trầu vàng – cau xanh” hay “cau xanh – trầu vàng” đã nương nhau, nâng nhau lên làm thành một cặp biểu tượng hoàn chỉnh “tuy hai mà một, tuy một mà hai” cũng giống như “Tình anh sánh với duyên nàng” hay “duyên em sánh với tình anh”
Trang 29Trong ca dao, biểu tượng sóng đôi trầu – cau đi với nhau khá nhiều, và luôn đi song song, liên kết bền vững trong nhiều bài ca dao trở thành biểu tượng cặp đôi Dựa vào ý nghĩa của sự tích trầu cau, cùng việc sử dụng những nét tương đồng về hình dáng, màu sắc, đường nét Dân gian đã tạo nên cặp ẩn
dụ trầu – cau thật là đẹp, sóng đôi với nhau phù hợp với thói quen thẩm mỹ và
có khả năng gợi tả, gợi cảm một cách phong phú, tinh tế Trong đó “cau” tượng trưng cho sự cứng cáp của người con trai, còn “trầu” biểu thị cho sự mảnh khảnh, nhỏ nhắn, mềm mại của người con gái cần được che chở vừa có
ý nghĩa biểu trưng cao nhất lại vừa phù hợp với quan niệm phương Đông truyền thống Chính từ lối nói ẩn dụ này mà khi viết về tình yêu ca dao mới biểu đạt hết được những cung bậc cảm xúc thiết tha nhất của nó và những tâm
tư, tình cảm trong mọi ngõ ngách tâm hồn của người Việt mới được thổ lộ một cách trọn vẹn nhất
Tình yêu là thứ tình cảm thiêng liêng, vĩnh hằng nhất của đời người Đúng vậy nói về tình yêu trai, gái trước hết phải nói đến nỗi nhớ nhung khi xa cách, bởi nhớ nhung là biểu hiện đầu tiên Sự nhớ nhung đã được thi sĩ dân
gian mượn những hình ảnh mang tính biểu tượng để diễn đạt nỗi nhớ đó:
- Em trông anh như cá trông sao
Như lê trong lựu, như đào trông mưa
- Ước gì đào vợ mận chồng
Đào thương mận nhớ, não nùng đôi bên
Trong tình yêu, một trong những yếu tố để làm cơ sở cho sự vững chắc, bền vững đó chính là lòng chung thủy, chân thành, tin tưởng lẫn nhau Khi hai người yêu nhau, do hoàn cảnh phải xa cách nhau, nhưng hai tâm hồn đó luôn hướng về một phía, hai trái tim cùng nhịp đập, cùng nhau tin tưởng rằng vào một ngày không xa hai người sẽ được hạnh phúc bên nhau trọn đời Muốn
Trang 30như vậy thì phải có sự tin tưởng, chờ đợi, và thời gian chính là thước đo tình cảm của hai bên:
Cau non năm tháng đợi chờ
Ba vuông nhiễu thắm em đội phất phơ trên đầu
Con mắt sắc như dao cau Quả cau tiện chũm chào nhau ăn cùng
Từ quả “cau non” đến lúc quả “cau tiện chum” để chào nhau ăn cùng là khoảng thời gian không ngắn chút nào nên nó còn biểu thị sự gắn bỏ thủy chung của đôi trai gái
Để diễn tả nỗi nhớ nhung, sự thủy chung, chờ đợi trong tình yêu, các thi sĩ dân gian đã mượn những hình ảnh sau để thổ lộ điều đó:
- Tay cầm nắm muối quả mơ
Mơ chua muối mặn, ta chờ đợi nhau
- Trái bồ hòn trong tròn ngoài méo
Trái thầu đâu trong héo ngoài thơm Thương anh em ít nói ít cười
Em ôm duyên ngồi đợi đã chín mười con trăng
Từ nỗi nhớ nhung da diết mãnh liệt trong tình yêu nên chàng trai và cô gái lại càng khao khát, ước ao được ở chung một nhà:
- Bây giờ trầu lại gặp cau
Ước gì ta ở với nhau một nhà
- Ước gì anh biến ra cau
Em hóa ra bẹ, ấp nhau tứ mùa
Chỉ vì khát khao chảy bỏng trong tình yêu mà đôi lúc cô gái trở nên táo bạo, giục giã:
Anh ơi, anh hãy mau mau, Buồng cau con lợn cưới nhau cho rồi
Trang 31Bên cạnh tình yêu đôi lứa trai gái, một trong những mảng biểu đạt khá sâu sắc của ca dao chính là tình cảm vợ chồng
Hình ảnh “quả cau” sau đây đã diễn tả sự trọn đầy tình cảm của người
vợ trẻ:
Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa Tiền gạo thì của mẹ cha Cái nghiên cái bút thực là của em
Nhân vật trữ tình trong bài ca dao này là người vợ đang trò chuyện, tâm
sự với người chồng và nhắc lại những kỉ niệm xưa trong quan hệ vợ chồng từ khi mới lấy nhau, hình ảnh “quả cau nho nhỏ” Đây là hình ảnh quả cau ngày cưới được miêu tả cụ thể, chân thực nhưng lại mang ý nghĩa tượng trưng, gợi nhớ biết bao nhiêu kỉ niệm của tình cảm vợ chồng Cách miêu tả này cho thấy tâm hồn phong phú, tế nhị và khả năng quan sát tinh tế của tác giả dân gian Tình cảm đằm thắm, mặn nồng của cặp vợ chồng còn được thể hiện qua câu ca dao sau:
Miếng trầu ăn kết làm đôi
Lá trầu là vợ, cau tươi là chồng Trầu xanh, cau trắng cay nồng Vôi pha với nghĩa thuốc nồng với duyên
Sự hóa thân của trầu – cau muôn đời là biểu tượng cho tình nghĩa vợ chồng, luôn yêu thương, quấn quýt bên nhau không tách rời Phải nói rằng biểu tượng sóng đôi trầu – cau được dân gian sử dụng linh hoạt, uyển chuyển Lúc thì “cau với trầu”, lúc thì “ trầu gặp cau”, lúc thì lại “cau xanh ăn với trầu vàng, trầu vàng nhá lẫn cau xanh, hay trầu xanh, cau trắng”, là những biểu tượng đôi tương đồng, cùng kết hợp với nhau tạo nên một cặp xứng đôi vừa lứa Vì thế nó trở thành biểu tượng điển hình cho tình yêu, hôn nhân gia đình
Trang 32Tình nghĩa vợ chồng thắm thiết, mặn nồng còn được thể hiện qua hàng loạt các biểu tượng:
- Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Thia lia quen nhậu, vợ chồng quen nhau
- Hôm nay sum họp trúc mai
Tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm
- Đôi ta như chỉ mới xe
Như trăng mới mọc như tre mới trồng
Trong cuộc sống của con người cứ ngỡ rằng, khi đã tìm được bến đỗ của cuộc đời thì sẽ hạnh phúc Thế nhưng họ lại phải đối mặt với vô vàn những trái ngang, nghịch cảnh, phải sớm chịu cảnh chia li, cách trở Điều đó thể hiện rất rõ qua những lời trách móc
Trước hết là trách cha mẹ đã làm dở dang cuộc tình của mình:
Vì chưng mẹ trót nhận trầu, Bắt con ngậm miệng cúi đầu vâng theo
Lấy người chẳng biết chẳng yêu
Sống sao cho mãi bóng chiều trăm năm
Dù nay muốn đứt tơ tằm,
Mẹ thương thì sự lỡ lầm đã qua
Lễ giáo phong kiến cũng là một trong những nguyên nhân làm cho bao đôi lứa yêu nhau phải chia lìa:
- Chạnh thương chạnh nhớ chạnh sầu
Vì ai nên nỗi cho trầu xa cau?
- Ai làm cho áo lìa bâu
Cho cau lìa trầu, đường cái phân đôi
Trang 33Biểu tượng “cau lìa trầu, trầu xa cau” thể hiện nỗi lòng, tâm sự của đôi trai, gái đã hóa thân vào, là sự xa cách, là sự chia li, đổ vỡ Nỗi đau buồn và
sự ngang trái, ngăn cách trong tình yêu, xót xa của đôi trai gái, vừa có khả năng phản ảnh xã hội, vừa thể hiện sự khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến làm cho bao đôi uyên ương phải chia lìa
“Ai” ở đây là đại từ phiếm chỉ, “ai” ở đây có nhiều cách hiểu khác nhau Ai có thể là cha mẹ, cũng có thể là sự khắt khe của lễ giáo phong kiến không cho phép trai gái tự do yêu nhau, hay do người tình mình phụ bạc
Có lúc lời trách móc của chính đôi bạn tình, nhưng càng trách lại càng yêu:
Trúc đợi mai, mai không đợi trúc Sao chẳng giữ lời giao ước thuở xưa
Hóa ra đây lại là lời trách yêu, lời tỏ tình khéo léo của chàng trai dành cho cô gái, anh và em gần gũi với nhau, cớ sao em lại thờ ơ, sắt đá trước tấm lòng thủy chung của anh
Còn đây là tình cũ nghĩa xưa Sau bao nhiêu năm xa cách giờ mới gặp lại nhau, nỗi vui mừng khôn xiết của đôi trai gái được biểu hiện:
Bữa nay lựu lại gặp đào Cựu tình tương hội lẽ nào chẳng vui
“Lựu” lại gặp “đào” là chuyện vô cùng hiếm hoi trong ca dao được dùng để diễn tả nhưng sự kiện khó có thể xảy ra, kiểu như dân gian ta thường
có câu “rồng đến nhà tôm” Vậy “lựu”, “đào” biểu tượng cho sự cách trở, chia
li trong tình yêu của đôi bạn trẻ Ý nghĩa này xuất phát từ thực tế, hoa đào nở vào mùa xuân, còn hoa lựu nở vào mùa hè, khi hoa đào đã tàn hết, quả đào đã xanh mướt thì hoa lựu mới nở Khi quả đào đã được hái hết khỏi cây vào mùa
hè thì quả lựu mới bắt đầu lơ lửng như những chiếc đèn lồng mùa thu trên cây “Đào” và “lựu” luôn nối tiếp nhau theo thời gian mà không gặp được
Trang 34nhau, không cùng nhau tồn tại trong một mùa Sự xa cách này không khác lắm so với những sự chia li của tình yêu đôi lứa, có tình với nhau nhưng do rất nhiều lí do không thể đến được với nhau Bởi vậy “bữa nay lựu lại gặp đào” cũng giống như “anh gặp em” còn gì vui mừng hơn nữa
Biểu tượng sóng đôi trầu – cau trong hai câu ca dao sau đã diễn tả nỗi lòng hiu quạnh của người con gái trong sự mòn mỏi, chờ đợi chàng trai Dường như sự chờ đợi đó là vô vọng để tới mức “cau long hạt”, “trầu long vôi”, càng thấy được sự buồn tủi trong lòng cô gái và ít nhiều có sự trách móc của nàng đối với chàng
Chờ chàng chẳng thấy chàng đâu,
Để cau long hạt, để trầu long vôi
Hình ảnh “cau long hạt” cũng đủ diễn tả thời gian chờ đợi của nàng là rất lâu đủ để thấm thía những nỗi buồn, và hình ảnh “trầu long vôi” càng làm cho chuyện tình cảm thêm buồn thảm Cho nên biểu tượng sóng đôi trầu - cau lúc này đã chất chứa biết bao tâm trạng thất vọng của cô gái
Như vậy biểu tượng sóng đôi trầu – cau đã được tác giả dân gian nhân hóa lên thành con người, là cái cớ cho các đôi tình nhân tỏ tình với nhau, mà
cụ thể là để cho các chàng trai, cô gái xưa giãi bày tâm tư, tình cảm của mình một cách trọn vẹn nhất Hay nói đúng hơn nhân vật trữ tình, đối tượng trữ tình
ẩn mình trong các biểu tượng mang những đặc điểm, giá trị, phẩm chất của biểu tượng Các chàng trai, cô gái tự xưng mình là trầu – cau và họ đã hóa thân vào những hình ảnh đó
Nguyên nhân của tình yêu bị chia li, cách trở không chỉ là do “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, hay là sự khắt khe của lễ giáo phong kiến, hay do lí do khác, mà còn là do người tình mình phụ bạc Sau đây là lời trách móc của cô gái về sự bạc bẽo của chàng trai khi không nhận thấy sự vất vả, đảm đang của nàng:
Trang 35Cau non khéo bổ cũng dày, Dẫu thương cho mấy cơ hội này cũng xa
Bây giờ hỏi thật anh Ba, Còn thương như cũ hay là hết thương?
Ban ngày dãi nắng tối lại dầm sương, Thân em lao khổ một mình, có thương chăng hỡi mình?
Có khi thì chàng trai lại trách móc sự phản bội, bạc tình, bạc nghĩa của
cô gái:
Đồng tiền Vạn Lịch thích bốn chữ vàng Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu
Bây giờ nàng lấy chồng đâu,
Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng
Trăm cau anh để cúng nàng, Nghìn vàng anh đốt giải oan lời thề,
Xưa kia nói nói thề thề Bây giờ bẻ khóa trao chìa cho ai?
Bây giờ nàng đã nghe ai?
Gặp nhau ghé nón, chạm vai chẳng chào
Đôi khi là lời trách móc sự vô tâm của bạn tình, có tình cảm với người
ta, nhưng không dám nói ra, đến lúc “để cho thầy mẹ ăn trầu người ta”, mà ăn trầu người ta tức là đã nhận lời gả con gái của mình cho người khác:
Thương ai chẳng nói khi đầu,
Để cho thầy mẹ ăn trầu người ta
Có khi trách móc kẻ tham giàu sang mà trở nên thay lòng đổi dạ:
Xuống đồng ngắt lá rau xanh, Thấy chim loan phượng đỗ cành sen dâu
Trang 36Người ơi trở lại xơi trầu, Tham nơi phú quý bỏ sao cho đành
Sự chênh lệnh giàu nghèo cũng trở thành một ảnh hướng lớn lao trong tình yêu lứa đôi:
Ngắn tay chẳng với tới cao Tiếc ôi là tiếc, trái đào chín cây
Như vậy trong ca dao những cuộc hôn nhân đem lại hạnh phúc, thủy chung, nhưng cũng có những cuộc hôn nhân chỉ đem lại nỗi buồn, sự chia li đắng cay, chán chường Ca dao là phương tiện duy nhất để họ gửi gắm vào đó khát vọng xây dựng gia đình hạnh phúc, được chung sống trọn đời với tình
yêu của mình
Ca dao với âm hưởng lắng động tình người thể hiện mối quan hệ tình cảm nam nữ dưới nhiều gốc độ khác nhau Những lời tâm tình của ca dao cũng chính là mong ước của tất cả mọi người có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong xã hội Ca dao góp phần làm nên vẻ đẹp của các cung bậc trong tình yêu
2.2.2 Biểu tượng cho người phụ nữ
Phụ nữ là hương sắc của muôn đời, là mùa xuân của trái đất, là hạnh phúc của nhân loại Mãi mãi là cái đẹp là ước mơ, là cái đích vươn tới, là sự khao khát, ngưỡng mộ của loài người Ở thời nào cũng vậy, vẻ đẹp của người phụ nữ như một hằng số, bất biến ngàn đời Đó là sự nhẫn nại, cam chịu, là sự thuỷ chung son sắt Dù bao khổ đau, bất hạnh vẫn không thể vùi lấp được những vẻ đẹp đó Nó như những viên ngọc thô mà thời gian, những bất hạnh khổ đau là chất xúc tác mài giũa, càng ngày càng toả sáng lấp lánh Vẻ đẹp đó
đã được tác giả dân gian thể hiện một cách trọn vẹn và đầy đủ trong ca dao Qua ca dao, ta thấy vai trò to lớn của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội Nhưng liệu rằng họ có được coi trọng như những gì họ đã làm và đã hi
Trang 37sinh hay không Còn nhiều lắm tiếng khóc của những người làm phận nữ nhi,
họ khóc trong đau đớn, buồn tủi với cảnh đời trái ngang, bạc bẽo của đời mình Qua ca dao ta có thể hiểu một phần nỗi đau ấy
Khi nói đến biểu tượng cho người phụ nữ thì trước hết ta phải nói đến biểu tượng hoa, bởi vì hoa là một sinh vật phát triển cao nhất, đẹp nhất, toàn
mĩ nhất, là bông hoa của trái đất, là cuộc sống của trần gian
Từ xưa đến nay hoa đã chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của
xã hội loài người nói chung và nói đến người phụ nữ nói riêng Hình ảnh hoa
có giá trị biểu tượng cao Hoa biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ, đồng thời bên cạnh vẻ đẹp là nỗi bất hạnh, đau khổ của người phụ nữ xưa
Khi đi vào tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng hoa với vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam Trước hết có thể nói hoa là một biểu tượng riêng cho phái đẹp Nói đến hoa tức là nói đến cái đẹp, người phụ nữ được ví như những bông hoa Giữa người phụ nữ và hoa có những nét tương đồng là cơ sở cho sự
so sánh hoặc chuyển nghĩa ẩn dụ Đấy là vẻ đẹp của sự dịu dàng, trong trắng, tinh khiết, hấp dẫn, nét đáng yêu Điều đó được thể hiện một cách rất rõ trong
ca dao:
- Miệng em cười như cánh hoa nhài
Như nụ hoa quế, như tai hoa hồng
- Anh chỉ quen một cô nàng da trắng tóc dài
Miệng cười như cánh hoa nhài nở nang
- Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
Cái tồn tại mãi mãi với thời gian, với truyền thống của người Việt Nam, vẫn là nét duyên dáng, vẻ đẹp nữ tính dịu dàng, bình dị Không giống như vẻ đẹp của những người phụ nữ khác trên thế giới Người phụ nữ Việt Nam mang một vẻ đẹp thanh tao và duyên dáng đầy nét Á Đông Họ mang nét đẹp