Các nhà thơ tiêu biểu của thời kì này là: Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Đình Kính, Vi Thùy Linh, Nguyễn Thế Hoàng Linh… Trong đó, Mai Văn Phấn là một trong những nhà thơ đương đại có
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG BẦU TRỜI KHÔNG MÁI CHE
CỦA MAI VĂN PHẤN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG BẦU TRỜI KHÔNG MÁI CHE
CỦA MAI VĂN PHẤN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 3Lời cam đoan Tôi là Nguyễn Thị Huyền Trang, sinh viên lớp 11SNV, khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, xin cam đoan rằng: Công trình này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên TS Ngô Minh Hiền
Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học trong công trình này
Người thực hiện:
Nguyễn Thị Huyền Trang
Trang 4Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới
cô giáo Ngô Minh Hiền, người đã đồng hành và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Qua đây cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành tới quý thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu đề tài Cũng xin được cảm ơn các thầy cô trong thư viện trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã cung cấp nguồn tài liệu quý giá cho quá trình nghiên cứu Đồng thời tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình và bạn bè trong thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên:
Nguyễn Thị Huyền Trang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng và phạm vi nghên cứu 4
4 Giới thuyết thuật ngữ 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Phương pháp so sánh- đối chiếu 5
5.2 Phương pháp phân tích tổng hợp 5
6 Bố cục của đề tài 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 6
THƠ MAI VĂN PHẤN 6
TRONG DÒNG CHẢY THƠ CA VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 6
1.1 Một số đặc điểm nổi bật của thơ ca Việt Nam đương đại 6
1.1.1 Một số đặc điểm nổi bật về nội dung 6
1.1.2 Một số đặc điểm nổi bật về nghệ thuật 9
1.1.3 Thành tựu thơ Việt Nam đương đại 12
1.2 Con đường thơ Mai Văn Phấn 14
1.2.1 Mai Văn Phấn – gương mặt mới của thơ Việt Nam đương đại 14
1.2.2 Hành trình thơ Mai Văn Phấn 16
1.2.3.Quan niệm nghệ thuật của Mai Văn Phấn 20
CHƯƠNG 2 23
THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG 23
TRONG TẬP THƠ BẦU TRỜI KHÔNG MÁI CHE 23
2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình 23
2.1.1 Cái tôi đức tin thánh thiện 23
Trang 62.1.2 Cái tôi thiết tha yêu đương 26
2.1.3 Cái tôi mặc cảm, cô đơn 29
2.2 Hình tượng không gian, thời gian 31
2.2.1 Hình tượng không gian nghệ thuật 31
2.2.2 Hình tượng thời gian nghệ thuật 37
CHƯƠNG 3 40
MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT 40
TRONG TẬPBẦU TRỜI KHÔNG MÁI CHE 40
3.1 Thể thơ 40
3.1.1 Thơ tự do 40
3.1.2 Thơ văn xuôi 44
3.2 Ngôn ngữ thơ 49
3.2.1 Ngôn ngữ thơ đậm chất đời thường 49
3.2.2 Ngôn ngữ thơ giàu tính tượng trưng 52
3.3 Giọng điệu 54
3.3.1 Giọng thủ thỉ, tâm tình 54
3.3.2 Giọng triết lí, chiêm nghiệm 57
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại, các nhà văn, nhà thơ đang tìm kiếm hướng đi mới cho sự nghiệp sáng tác Nhiều tác phẩm đã có sự cách tân mạnh mẽ ở phương diện nội dung lẫn hình thức Đặc biệt, thơ Việt Nam đương đại ngày càng phát triển phong phú, đa dạng nhưng cũng nhiều phức tạp Các nhà thơ tiêu biểu của thời kì này là: Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Đình Kính, Vi Thùy Linh, Nguyễn Thế Hoàng Linh… Trong đó, Mai Văn Phấn là một trong những nhà thơ đương đại có số lượng tác phẩm lớn và những cách tân nghệ thuật táo bạo Thơ ôngnhận được nhiều sự quan tâm của độc giả
Bầu trời không mái che được xuất bản năm 2010 Tập thơ này là một
trong những minh chứng tiêu biểu cho sự cố gắng tìm tòi, cách tân nghệ thuật
của Mai Văn Phấn Tuy thời gian ra đời chưa lâu nhưng Bầu trời không mái
che đã nhận được một số ý kiến đánh giá tích cực Nghiên cứu thế giới nghệ
thuật thơ Mai Văn Phấn trong tập Bầu trời không mái che, chúng tôi muốn
thông qua một tập thơ cụ thể để làm rõ nguyên tắc tư tưởng – thẩm mĩ gắn với một quan niệm riêng, cá tính sáng tạo riêng của tác giả
2 Lịch sử vấn đề
Mai Văn Phấn là một nhà thơ có nhiều đóng góp cho thơ ca Việt Nam hiện đại Các công trình nghiên cứu về thơ Mai Văn Phấn rất nhiều, có thể tập hợp thành ba kiểu chính sau: kiểu thứ nhất là những bài viết giới thiệu thơ hoặc giới thiệu tác giả, kiểu thứ hai là những bài phê bình về một khía cạnh cụ thể trong thơ Mai Văn Phấn và kiểu thứ ba là những công trình nghiên cứu mang tính trường quy
Kiểu bài giới thiệu chiếm số lượng lớn Những bài này thường được in trong các tạp chí hoặc trên các trang blog cá nhân Kiểu bài này có đặc điểm
Trang 8nêu những nhận định, đánh giá, cảm quan ban đầu đối với tác phấm và tác giả
Ngoài ra, thơ Mai Văn Phấn còn được phê bình dưới nhiều góc độ khác
nhau Tiêu biểu trong số đó là bài viết Ban mai và ngọn lửa và Thơ là Ngôi
Lời được in trong cuốn Nhà văn như Thị Nở của tác giả Phạm Xuân Nguyên
Với Ban mai và ngọn lửa, Phạm Xuân Nguyên đã nhận thấy “Mai Văn Phấn
làm thơ dưới nguồn ánh sáng linh thiêng dẫn dắt của ban mai và ngọn lửa Anh tin vào sự hồi sinh, phục thiện, hoàn nguyên của đất đai bầu trời, của cỏ
cây hoa lá”.Còn trong bài Thơ là Ngôi Lời, nhà phê bình có viết: “Thơ khởi
thủy là Lời để thành Ngôi Lời Tuyển thơ Mai Văn Phấn này chứng thực chặng đường người thơ đi từ Chữ về Lời, từ hiện đại về truyền thống Cái truyền thống vẫn là hồn nhiên, trong trẻo, nhưng đã ngấm chất hiện đại nên là truyền thống của hiện tại, được nói bằng một giọng điệu Mai Văn Phấn ”
[8,tr.191]
Các công trình nghiên cứu mang tính trường quy đã tìm hiểu thơ Mai Văn Phấn một cách hệ thống và khoa học Những Luận văn Thạc sĩ của các tác giả Nguyễn Quang Hà (Đại học Thái Nguyên), Hoàng Thị Thanh Nhàn (Đại học Vinh), Vũ Thị Thảo (Đại học Đà Nẵng) đã cho thấy giá trị và những đóng góp lớn của thơ Mai Văn Phấn đối với thơ ca Việt Nam đương đại
Công trình Một số cách tân nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn, của
Nguyễn Quang Hà bảo vệ năm 2012 đã chỉ ra những nét mới, đặc sắc trong quan niệm nghệ thuật cũng như cấu trúc thơ Mai Văn Phấn Tác giả đã khẳng định rằng “ Ý nghĩa thơ của Mai Văn Phấn là ở chỗ tác giả không tạo ra sự xa
lạ, không tạo nên một cú sốc đối với người thưởng thức Nỗ lực cách tân làm mới thơ mình của Mai Văn Phấn vẫn không tách dời với truyền thống Có thể nói rằng Mai Văn Phấn đã đưa truyền thống về với hiện đại và kéo hiện đại gắn bó thân mật với truyền thống Mai Văn Phấn mang trên mình trọng trách
Trang 9làm mới những giá trị truyền thống, nối truyền thống với hiện đại khiến cho thơ Việt không còn khoảng cách giữa quá khứ - hiện tại - tương lai, hướng đến một nền thơ hiện đại thuần Việt, mang hơi thở Việt.”
Hoàng Thị Thanh Nhàn với công trình nghiên cứu Thế giới nghệ thuật
trong thơ Mai Văn Phấn, bảo vệ năm 2014 đã làm rõ tìm hiểu thế giới nghệ
thuật trong thơ Mai Văn Phấn, trước hết, đó là hình tượng cái tôi và hình tượng thế giới Hình tượng cái tôi trong thơ Mai Văn Phấn nổi lên với các đặc điểm cơ bản sau: giàu khát vọng và năng lượng cách tân thi ca; say đắm, nồng nàn trong tình yêu; thống nhất giữa lý tính tỉnh táo và trực giác nhạy cảm; khao khát hướng tới một thế giới tinh thần lý tưởng, “thuần Việt” Đi cùng hình tượng cái tôi là hình tượng thế giới Đó là một thế giới viên mãn và thuần khiết; tương giao và hài hòa; và đầy ắp những cảm giác siêu nghiệm
Để tổ chức nên thế giới nghệ thuật độc đáo ấy, nhà thơ đã sử dụng một cách linh hoạt và hiệu quả nhiều phương thức, phương tiện thể hiện Ông sử dụng
đa dạng thể thơ, bao gồm lục bát, thơ tự do, thơ văn xuôi và thơ cực ngắn Thơ ông nghiêng về kiểu kết cấu mở, sử dụng linh hoạt bút pháp tạo hình, đặc biệt theo hướng siêu thực – nghịch dị phản ánh những mâu thuẫn và đối nghịch, của con người hiện đại
Với Luận văn thạc sĩ Đặc điểm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn, Vũ Thị
Thảo thuộc trường Đại học Đà Nẵng đã chỉ ra quan niệm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn Bên cạnh đó, tác giả công trình còn cho thấy kiểu tư duy thơ độc đáo, đan xen giữa hiệu thực và biến ảo, giữa phi lí và tượng trưng, liên tưởng
và bắc cầu Chủ đề chính trong các sáng tác của Mai Văn Phấn thường nói về tình yêu, thiên nhiên, vũ trụ và thế giới tâm linh nằm ngoài sự nhận thức của con người Chính vì thế nên ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn được lạ hóa một cách tối đa và hình ảnh thơ mang tính biểu tượng cao Ngoài ra, giọng điệu giễu nhại, hoài nghi và một số biện pháp nghệ thuật đặc sắc khác của thơ Mai
Trang 10Văn Phấn cũng được Vũ Thị Thảo chú ý đề cập trong công trình nghiên cứu này
Dù ở cách tiếp cận nào về thơ Mai Văn Phấn, các tác giả đã khám phá được cái tiềm ẩn đằng sau con chữ Tuy nhiên, nhiều bài phê bình chỉ tìm hiểu
về một khía cạnh nhỏ trong thơ Mai Văn Phấn còn các công trình nghiên cứu trường quy lại ở tầm khái quát tổng thể, ít thấy bài nào liên quan tới các vấn
đềtrong một tác phẩm cụ thể của Mai Văn Phấn Đề tài Thế giới nghệ
thuậttrong Bầu trời không mái che của Mai Văn Phấn sẽ giải quyết các vấn
đề về thế giới nghệ thuật thơ có trong một tác phẩm cụ thể của Mai Văn Phấn
3 Đối tượng và phạm vi nghên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tập thơ Bầu trời không mái che của Mai Văn
Phấn
Phạm vi nghiên cứulà thế giới nghệ thuật trong tập thơ Bầu trời không
mái che của Mai Văn Phấn
4 Giới thuyết thuật ngữ
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thế giới nghệ thuật là: “Khái niệm chỉ
tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo theo nguyên tắc tư tưởng , khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù
nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng… chỉ xuất hiện một cách có ước lệ trong các sáng tác nghệ thuật” [4, tr.251]
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp so sánh- đối chiếu
So sánh Bầu trời không mái che của Mai Văn Phấn trên các phương
diện về cái tôi trữ tình, ngôn ngữ thơ, thể thơ, giọng điệu của tập thơ này với các tác phẩm khác cùng một tác giả và so sánh – đối chiếu với các tác phẩm cùng thời của các nhà thơ khác để thấy được giá trị của tập thơ và những đóng góp của Mai Văn Phấn
5.2 Phương pháp phân tích tổng hợp
Các vấn đề về hình tượng nghệ thuật và phương thức nghệ thuật có
trong tập Bầu trời không mái chesẽ được phân tích một cách chi tiết nhằm
phát hiện và lí giải nguyên nhân, nguồn gốc của vấn đề Từ đó, chúng tôi sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá xác đáng
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thơ Mai Văn Phấn trong dòng chảy thơ ca Việt Nam hiện đại
Chương 2: Thế giới hình tượng trong Bầu trời không mái che của Mai Văn
Phấn
Chương 3: Một số phương thức nghệ thuật trong Bầu trời không mái che của
Mai Văn Phấn
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1 THƠ MAI VĂN PHẤN TRONG DÒNG CHẢY THƠ CA VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Một số đặc điểm nổi bật của thơ ca Việt Nam đương đại
1.1.1 Một số đặc điểm nổi bật về nội dung
Thơ Việt Nam sau 1975 có những đặc điểm nội dung nổi bật là: thơ tiếp tục mạch cảm hứng sử thi, nhưng thiên về bi tráng và gắn với những kinh nghiệm, trải nghiệm cá nhân; thơ hướng vào đời sống thế sự và trở về với cái tôi cá nhân; thơ đi sâu vào những vùng mờ của tâm linh, vô thức và phát triển theo hướng tượng trưng siêu thực
Trong tư thế người chiến thắng, nhiều trường ca đã thể hiện quá trình chiến đấu của dân tộc Các nhà thơ nói về niềm tự hào và niềm vui chiến thắng nhưng còn nói nhiều hơn sự chịu đựng và hi sinh của nhân dân, của đồng đội để đất nước có được hòa bình, thống nhất như ngày hôm nay
“Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy
Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc…
Một mình một mâm cơm Ngồi bên nào cũng lệch Chị chôn tuổi thanh xuân trong má lúm đồng tiền”
(Đường tới thành phố, Hữu Thỉnh)
Chân dung thế hệ trẻ đã được khắc họa rất sinh động trong thời kì kháng Mỹ cứu nước, giờ đây được miêu tả phong phú hơn, sâu hơn về những gian lao, mất mát và hi sinh, ở cả những suy tư trải nghiệm trong thế giới nội tâm tạo nên bức chân dung tinh thần của họ:
Trang 13“Ngày sinh nhật bắt đầu bằng cơn sốt
Cổ đắng khô ngồi thở trên đỉnh dốc Bạn mở bi đông nhường hớp nước cuối cùng Hớp nước cuối cùng giữa cơn sốt đầu tiên Ngày sinh nhật tuổi 25 mình được uống”
(Những người đi tới biển, Thanh Thảo)
Tuy nhiên, khuynh hướng sử thi cũng chỉ được tiếp tục trong khoảng mười năm đầu kể từ sau 1975 Trạng thái sử thi phai nhạt dần, nhường chỗ cho những quan điểm tiếp cận mới chuyển dịch theo hướng cái nhìn thế sự với nhiều cảm hứng khác nhau
Nhiều bài thơ, từ khoảng 1980 trở đi đã không ngần ngại thể hiện những vấn đề về đời sống xã hội Hướng vào thế sựvà chiêm nghiệm về nhân sinh, phần lớn các nhà thơ đã thể hiện trong tác phẩm nỗi âu lo, nỗi buồn nhân thế Mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội trong một hoàn cảnh mới đã khác rất nhiều so với thời chiến tranh Đối với nhiều nhà thơ, chặng đường thơ sau 1975 là hành trình tìm lại chính mình, nhà thơ hiện
ra như Người đi tìm mặt(Hoàng Hưng) Chế Lan Viên trở lại với câu hỏi day
dứt “Ta là ai?” – cái câu hỏi mà tưởng chừng như một thời nhà thơ đã rũ bỏ được
““Ta là ai?” Như ngọn gió siêu hình Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt
“Ta vì ai?”Khẽ xoay chiều ngọn bấc Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh”
(Hai câu hỏi, Chế Lan Viên)
Với thế hệ các nhà thơ trẻ xuất hiện cuối những năm 90, ý thức cá nhân càng được đề cao và mài sắc Họ muốn phơi bày con người thực của mình,
Trang 14chống lại mọi thứ khuôn phép, lề thói có sẵn, thậm chí cả những quan niệm phổ biến về thi ca, đạo đức
“Tôi là tôi Một bản thể đầy mâu thuẫn Tôi đã nhìn mình trong gương cả khi khóc, khi cười Bất cứ lúc nào, trên sân khấu cuộc đời
Tôi vẫn là diễn viên tồi Bởi tôi không bao giờ hóa trang để nhập vai người khác”
(Tôi, Vy Thùy Linh)
Bên cạnh cảm hứng sử thi và hướng vào đời sống thế sự, trở về với cái tôi cá nhân thì thơ ca sau 1975 còn đi sâu vào những vùng mờ của tâm linh,
vô thức và đưa thơ theo hướng tượng trưng, siêu thực
Xuất phát từ quan niệm thơ chủ yếu là sự biểu hiện cái tôi ở phần tiềm thức, các nhà thơ đã đi sâu vào các vùng mờ của tiềm thức, vô thức như những giấc mơ, sự mộng mị, cõi hư ảo… Họ chối bỏ sự áp đặt của ý thức, kinh nghiệm mà coi trọng những cảm giác thực thể và siêu nghiệm, được biểu đạt bằng ấn tượng, biểu tượng, bằng những ám thị hoặc các liên tưởng trùng phức, theo cách biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng hay siêu thực
Với ý muốn thoát ra khỏi quan niệm thơ và thi pháp truyền thống, muốn giải phóng thơ ra khỏi phương tiện chức năng biểu đạt những cái ngoài
nó, đưa thơ về chính nó, những nhà thơ theo xu hướng này đã đưa ra một quan niệm mới về chữ và nghĩa của thơ Họ muốn người đọc thơ không phải
đi tìm nghĩa sau các Chữ và với các tác giả, làm thơ chính là làm “chữ” Lê
Đạt tuyên bố: “Chữ bầu lên nhà thơ” còn Trần Dần lại cho rằng: “Tôi viết tức
là tôi để con chữ tự mình làm nghĩa”
Trang 151.1.2 Một số đặc điểm nổi bật về nghệ thuật
Thơ ca sau 1975 đã có nhiều sự thay đổi từ thể thơ cho đến kết cấuthơ, cách tổ chức câu thơ, ngôn ngữ và giọng điệu
Thơ tự do không vần trước đây còn là một hiện tượng hiếm, ít xuất hiện trên thi đàn thì bây giờ trở nên rất phổ biến Thơ văn xuôi với cách viết không phần dòng cũng được sử dụng rộng rãi ở nhiều trường ca và ở cả những bài thơ ngắn Hầu hết các nhà thơ trẻ thuộc thế hệ sau 1975 đều không muốn làm thơ theo những thể cách luật Họ muốn giải phóng thực sự cho những ý tưởng cảm xúc khỏi những khuôn mẫu thể loại có sẵn Tuy nhiên, một số cây bút vẫn còn sử dụng các thể thơ quen thuộc, đặc biệt là thơ lục bát Song, đối với các tác giả này, họ cũng cố gắng thay đổi theo hướng tự do hơn về cách tổ chức câu thơ, nhịp điệu như thơ lục bát của Nguyễn Duy, Lê Đình Cảnh, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn…
Tổ chức kết cấu bài thơ cũng hết sức đa dạng và ở nhiều trường hợp đã vượt ra khỏi cách kết cấu, lập tứ quen thuộc Đặc biệt ở lối thơ “vụt hiện” hay
ở những thể nghiệm của Trần Dần, Lê Đạt để cho chữ tạo sinh ra nghĩa Còn
ở các trường ca thì tác phẩm thường được tổ chức thành các chương, khúc mà kết cấu bên trong là mạch trữ tình – chính luận Một số tác giả khác lại thử nghiệm lối thơ rất ngắn, bài thơ chỉ gồm hai, ba dòng
Tự do hóa cũng thể hiện ở việc tổ chức câu thơ Câu thơ điệu nói được hình thành trong quá trình hiện đại hóa thơ ca và hội nhập thơ ca Việt Nam trong dòng chảy với thơ ca khu vực và thơ ca thế giới Khi thơ tự do và thơ không vần đã trở nên phổ biến thì các dòng thơ hoặc giãn nở hoặc co lại một cách rất tự do, sự liên kết giữa các dòng thơ, câu thơ có xu hướng phá bỏ những trật tự logic thông thường Nhịp điệu tuy vẫn còn là một yếu tố cần thiết nhưng nó đã hết sức linh hoạt Đặc biệt, trong một số trường hợp, nhịp
Trang 16điệu câu thơ đã gần với câu văn xuôi và gần như không đóng vai trò gì đáng
kể trong việc tổ chức câu thơ
Tự do hóa về kết cấu bài thơ, tổ chức câu thơ cũng đi liền với sự tự do trong việc sử dụng ngôn ngữ Trường từ ngữ thơ đã được mở rộng đến mức gần như không có một giới hạn nào Những từ thông tục, khẩu ngữ, biệt ngữ
đã xuất hiện trong thơ Nhiều từ ngữ, hình ảnh được sử dụng trong thơ sau năm 1975 mang đậm tính thời đại Các tác giả đưa vào thơ những hình ảnh, từ ngữ mà ở trong đời sống nó được xem như là dấu hiệu của một xã hội mới –
xã hội hiện đại hóa Thơ Phùng Khắc Bắc có hình ảnh một đôi trai gái đèo nhau bằng “xe Điamang”, với “quần Zin”, “áo phông sáng lòa”,… Chế Lan Viên ghi nhận thế giới bấy giờ là thế giới của “xe cúp, tivi, phim màu ngũ sắc”, “của quyền lực, tuổi tên, đốp chát”,…
Một số nhà thơ đương đại theo khuynh hướng tượng trưng không muốn “vẽ truyền thần” trong thơ mà muốn qua chữ để có cách “nhìn nghiêng” về thế giới, muốn đi sâu vào những ú ớ của vô thức, muốn biểu đạt thế giới bằng những kí hiệu ngôn ngữ là chữ: “Tôi giản dị đồng nhất thế giới thơ vào chữ” (Trần Dần) Còn Lê Đạt chủ trương tỉnh lược từ ngữ tối đa để gia tăng tính biểu đạt của ngôn ngữ, buộc độc giả phải có “lỗ tai mới” khi đọc thơ:
“Vườn chôm chôm
mùa khem thèm thòm trái cấm Vui mồm lắp lẫn
nhiều kinh kệ không quen Amen”
(Khuyết điểm – Lê Đạt)
Trang 17Đi xa hơn nữa, Dương Tường đề ra loại “thơ ngoài lời”, khước từ mọi
hình thức biểu đạt của ngôn ngữ bằng cách xuất bản tậpĐànvới những bài thơ
không lời mà thay vào đó là sự hỗn độn của những mảng màu sắc Theo ông, điều đó thể hiện mong muốn làm sao phải mở ra được những miền không gian liên tưởng bên ngoài những câu chữ cụ thể, điều mà đã từng xuất hiện trong thơ trên thế giới
Hình ảnh phổ biến và nổi trội trong thơ giai đoạn này là xu hướng biểu tượng hóa Biểu tượng nghệ thuật được sử dụng rộng rãi và phát huy ưu thế của nó trong thơ của mọi thế hệ Các loại biểu tượng cũng hết sức đa dạng, từ những hình ảnh sẵn có trong thiên nhiên, những “mẫu gốc” trong tâm thức văn hóa dân tộc, các bộ phận của con người cho đến các hình ảnh kì ảo là sản phẩm của trí tưởng tượng trong quá trình sáng tạo
Sự đa dạng về phong cách và sự phong phú về giọng điệu là đặc điểm nghệ thuật nổi bật của thơ Việt sau 1975 Đây cũng chính là giai đoạn chuyển giọng của thơ: nhà thơ nói nhiều hơn về nỗi buồn nhân sinh, về những cảm nhận của cái tôi trước một thực tại khắc nghiệt Chất giọng tự thú, tự bạch trở thành gam giọng phổ biến Cắt nghĩa về thực trạng này có thể nhìn từ hai phía, đó là nỗi buồn xuất phát từ thời thế, sự khủng hoảng về niềm tin, sự bất
an trước thời cuộc, và bên cạnh đó, trong hoàn cảnh mới, quan hệ người trở nên lỏng lẻo, con người sống trong nhiều mối quan hệ hơn nhưng cũng cô đơn hơn Theo đó, gắn liền với chất giọng tự thú là giọng điệu giễu nhại Ở đây chất giọng giễu nhại mang trong mình nó ít nhất hai chức năng nghệ thuật
cơ bản Đó là làm cho thơ bớt đi sự nghiêm trang thái quá, ngôn ngữ thơ bớt
đi sự “trong suốt” mà tăng thêm phù sa của “cây đời” đồng thời cho phép người đọc hình dung cuộc sống như một thực thể đa trị Giọng giễu nhại cùng với cảm hứng giải thiêng giúp xóa bỏ khoảng cách giữa thơ với cuộc sống, tạo ra một hiệu ứng đó là sự chua chát đằng sau mỗi nụ cười:
Trang 18“Lần lữa mãi thế là ta lỡ dại
Để dành thành mất cắp cả tình yêu”
(Một góc chiều Hà Nội, Nguyễn Duy)
Hay nụ cười chua chát ẩn sau những phép tính nhẩm có vẻ rất khôn ngoan:
“21 tuổi hồn nhiên như vậy đó
3 bài thơ nhân với 7 hẹn hò Khi rượu cạn, hoa tàn, tim tắt nến Thỏi son hồng ra ngõ đứng co ro”
(Tính nhẩm - Hoàng Nhuận Cầm)
Những cảm xúc tự nhiên của con người được bộc lộ hết sức chân thành mộc mạc, phù hợp với khuynh hướng thơ ca hiện đại Tính đa giọng điệu mà nhất là giọng điệu trầm lắng như một nốt nhạc lặng lẽ giữa bản tình ca muôn điệu của nhịp sốngđầy chất suy tư, chiêm ngiệm, góp phần xây nên thành công cho thơ ca sau 1975
1.1.3 Thành tựu thơ Việt Nam đương đại
Thơ Việt Nam từ sau 1975 có sự hiện diện và tiếp nối của nhiều thế hệ nhà thơ, đó là: thế hệ các nhà thơ thời “tiền chiến”, thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thế hệ nhà thơ trẻ xuất hiện từ đầu những năm 90 Mỗi thế hệ sáng tác mang đến một màu sắc riêng, giọng điệu riêng cho thơ ca Việt Nam đương đại
Thế hệ các nhà thơ xuất hiện trước 1945, hay còn được gọi là “thế hệ tiền chiến” với những tên tuổi rạng rỡ trên thi đàn như Xuân Diệu, Huy Cận,
Tố Hữu, Chế Lan Viên,… tiếp tục có mặt trong đời sống thơ, chủ yếu là trong khoảng mười năm đầu sau 1975 Các nhà thơ này đã có sự thay đổi về đề tài
và cảm xúc, hướng nhiều hơn đến đời sống hiện tại hoặc những triết lí nhân
Trang 19sinh Trong số đó, Chế Lan Viên là nhà thơ có sự chuyển biến rõ rệt nhất, thơ ông thể hiện quá trình tiếp nhận các khuynh hướng sáng tác một cách mau lẹ
và sâu sắc
Thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ giữ vị trí chủ chốt và có nhiều đóng góp quan trọng kểtừ sau 1975 Đặc biệt, thế hệ chống Mỹ không chỉ đóng góp nổi bật trong mười năm đầu sau chiến tranh với việc tiếp tục khuynh hướng sử thi đậm chất bi tráng trong các trường ca mà còn sớm nở ra khuynh hướng cảm hứng thế sự đời tư, với nhiều giọng điệu khác nhau: Thanh Thảo và Nguyễn Khoa Điềm; Hữu Thỉnh
và Nguyễn Đức Mậu; Thu Bồn và Trần Mạnh Hảo; Nguyễn Duy và Trần Đăng Khoa; Xuân Quỳnh và Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ…
Ngoài ra, một thế hệ nhà thơ trẻ xuất hiện từ đầu những năm 90 đã đem nhiều tiếng nói mới, cách nhìn mới, cảm xúc mới trong thơ Trong số họ, tuy chưa có những phong cách khẳng định vị trí của mình trong công chúng một cách rộng rãi nhưng đã có nhiều tên tuổi gây được sự chú ý: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quốc Chánh, Mai Văn Phấn, Đồng Đức Bốn và gần đây là Phan Huyền Thư, Vy Thùy Linh, Nguyễn Thế Hoàng Linh… Các nhà thơ dân tộc thiểu số góp những tiếng thơ đặc sắc mang bản sắc dân tộc: Y Phương, Lò Ngân Sủn, Inrasara…
Thơ Việt Nam đương đại có số lượng tác phẩm lớn Nổi lên đáng chú ý
là các trường ca: Những người đi tới biển, Những ngọn sóng mặt trời, Đêm
trên cát của Thanh Thảo; trường ca Đường tới thành phố, Trường ca biển của
Hữu Thỉnh; Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu; Đất nước hình tia
chớp của Trần Mạnh Hảo…Bên cạnh trường ca, các tập thơ cũng chiếm số
lượng đáng kể Một số tập thơ nổi bật như:Hoa trên đá của Chế Lan Viên;
Một tiếng đờn,Ta với ta của Tố Hữu; Khát, Linh, Đồng Tử,ViLi in love của
Trang 20Vy Thùy Linh; Và đột nhiên gió thổi, Bầu trời không mái che, Hôm sau của Mai Văn Phấn;Gửi VB của Phan Thị Vàng Anh; Hởcủa Nguyễn Thế Hoàng
Linh…
Thơ Việt Nam đương đại dù không còn vị thế nổi trội và vai trò tiên phong trong đời sống văn học nhưng thơ ca đã đạt được một số thành công nhất định: số lượng tác giả, tác phẩm lớn; nội dung phản ánh phong phú và đa dạng; có nhiều tìm tòi, cách tân mạnh mẽ về mặt nghệ thuật Tất cả những điều này đã đem đến một giai đoạn mới trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam
1.2 Con đường thơ Mai Văn Phấn
1.2.1 Mai Văn Phấn – gương mặt mới của thơ Việt Nam đương đại
Mai Văn Phấn nhà thơ thuộc thế hệ hậu chiến, một trong những gương mặt xuất sắc của khuynh hướng cách tân thơ Việt đương đại Ông sinh năm
1955, tại Kim Sơn, Ninh Bình, hiện sống và làm việc tại thành phố Hải Phòng Thành phố cảng này là nơi đã sinh ra nhiều nhà văn, nhà thơ khác với tên tuổi và tài năng đã được khẳng định: Văn Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Bùi Ngọc Tấn, Thi Hoàng, Đồng Đức Bốn, Đình Kính, Dư Thị Hoàn,…
Ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, Mai Văn Phấn đã sớm bộc lộ khả năng thơ ca Ông từng là một trong những học sinh giỏi văn của trường cấp ba Kim Sơn và bắt đầu làm thơ từ năm 16, 17 tuổi Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Mai Văn Phấn lên đường nhập ngũ Năm 1981, trở về quê và làm việc tại Công ty Thuỷ lợi II Ninh Bình Sau đó, học Đại học Ngoại ngữ Hà Nội và được cử đi du học ở Liên Xô (cũ) Suốt từ năm 21 tuổi đến năm 37 tuổi, ông không làm thơ Thay vào đó, trong khoảng thời gian 16 năm ấy, Mai Văn Phấn chỉ tập trung trau dồi kiến thức văn hóa, ngoại ngữ, chuyên môn và dành
Trang 21nhiều thời gian cho việc đọc và suy ngẫm về văn chương Những giá trị thơ của Mai Văn Phấn chỉ thực sự phát lộ khi ông bắt đầu sáng tác trở lại vào đầu thập niên 90 Những năm tháng đi du học cộng với tinh thần ham học hỏi, ông
đã tiếp thu được tinh hoa nhiều nền văn hóa, văn học trên thế giới Đây là những kiến thức hết sức quan trọng làm nền tảng cho hành trình sáng tạo của nhà thơ về sau
Trong suốt những năm miệt mài sáng tác, Mai Văn Phấn đã khẳng định được những bước đi vững chắc và táo bạo của mình trong lĩnh vực văn học nghệ thuật Chính sự cống hiến hết mình cho văn học nghệ thuật, đặc biệt thi
ca, nhà thơ Mai Văn Phấn đã có một vị trí vững vàng trên thi đàn thơ Việt Nam hiện đại
Mai Văn Phấn có số lượng tác phẩm lớn, góp tiếng nói không nhỏ trong thơ ca Việt Nam hiện nay Ông đã cho ra đời 12 tác phẩm, trong đó có hơn 10 tác phẩm tái bản hoặc tái bản nhiều lần, một số bản được bổ sung Anh ngữ,
Pháp ngữ, hoặc Anbani ngữ Các tác phẩm đó là: Giọt nắng (1992), Gọi xanh (1995), Cầu nguyện ban mai (1997), Nghi lễ nhận tên (1999), Người cùng
thời (1999), Vách nước (2003), Hôm sau (2009), Và đột nhiên giói thổi
(2009), Bầu trời không mái che (2010), Hoa giấu mặt (2012), Những hạt
giống của đêm và ngày (2013), Buông tay cho trời rạng (2013)
Thơ Mai Văn Phấn là một hành trình nhọc nhằn đi từ truyền thống đến hiện đại, trải qua những lần “vong thân”, tự phủ định bản ngã nhằm xác lập giá trị riêng cho thơ Nhà thơ đã thoát khỏi lối mòn của những cảm xúc đơn điệu, lối viết khuôn sáo để có một cái nhìn mới mẻ về hiện thực Thơ Mai Văn Phấn từng đạt được những giải thưởng thơ nhưng không dừng lại ở đó, ông vẫn tiếp tục cuộc hành trình trên con đường thơ và khao khát góp phần tạo nên một diện mạo mới cho thơ Việt đương đại
Trang 221.2.2 Hành trình thơ Mai Văn Phấn
Trong cuốn Thơ tuyển Mai Văn Phấn cùng tiểu luận và trả lời phỏng
vấndo NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2011, chính nhà thơ Mai Văn Phấn đã
chia sự nghiệp sáng tác của mình thành các giai đoạn: từ khởi đầu đến năm
1995, từ 1995 đến 2000 và từ 2000 đến 2010
Ở giai đoạn sáng tác đầu tiên, thơ Mai Văn Phấn có những bài nổi bật
như: Tản mạn về cỏ, Một mình, Kinh cầu ban mai, Tạ ơn bông lau, Em, Giấc
mơ đi qua, Hát giữa hai mùa, Nghi lễ cuối cùng… Một điều dễ nhận thấy là
những bài thơ này đã ẩn chứa suy nghĩ táo bạo nhưng chưa có sự cách tân mạnh mẽ về mặt nghệ thuật
“Em đi cùng đám mây bông Mình anh gió hú dọc sông Ngân Hà Tàn mùa chiếc lá lia qua
Cho cô đơn ấy xẻ ra mấy phần Sáng thì làm trăng thượng tuần
Lu thì ghép với mấy lần cong vênh”
(Một mình)
Rõ ràng, ngay từ buổi bước chân vào nghiệp viết, Mai Văn Phấn đã có
ý thức tự thân về cái mới, cái lạ trong nghệ thuật Với tư duy thơ độc đáo, tác giả đã đặt các hình ảnh sóng đôi với nhau: “em” – “anh”, “đám mây bông” –
“gió hú dọc sông Ngân Hà”, “sáng”–“lu” Ngôn ngữ được nhà thơ trau chuốt, lựa chọn kĩ Chữ “lia” trong câu “Tàn mùa chiếc lá lia qua” là một điểm nhấn nghệ thuật Vì “một mình” nên cái gì cũng diễn ra rất nhanh, rất chóng vánh, mọi thứ khi vắng bóng “em” đều trở nên vô nghĩa, chỉ có nỗi cô đơn là hiện hữu bao trùm khắp các không gian
Trang 23Nhìn chung, từ 1995 trở về trước, Mai Văn Phấn rất chú ý đến khuôn khổ của một bài thơ, từ cách gieo vần, nhịp điệu cho đến cấu trúc, bố cục Các hình ảnh thơ mang tính lãng mạn cao, đậm chất truyền thống Thơ Mai Văn Phấn giai đoạn đầu được nằm trong những chỉnh thể an toàn, hướng tới thị hiếu tiếp nhận của số đông bạn đọc
Trong 5 năm (1995 -2000), Mai Văn Phấn đã cho ra đời một số lượng
lớn các tác phẩm Tiêu biểu là các tập thơ: Gọi xanh (1995), Cầu nguyện ban
mai (1997), Nghi lễ nhận tên (1999) và trường ca Người cùng thời (1999)
Đây là giai đoạn đánh dấu nhiều thể nghiệm của tác giả Nếu giai đoạn sáng tác trước, Mai Văn Phấn cố gắng làm lạ những ý thơ thì giai đoạn sáng tác tiếp theo này, nhà thơ không chỉ dừng lại ở đó mà còn có nhiều nỗ lực trong việc cách tân về mặt hình thức Thơ Mai Văn Phấn không còn nằm trong một chỉnh thể an toàn như trước nữa, trái lại, nhà thơ đã thử bút và thành công với thể thơ tự do, cách ngắt dòng, xuống dòng được thực hiện một cách phóng khoáng, phá cách
“Lại con đường
dấu chân liềm hái dấu chân mã tấu nước mắt loang màu đám cỏ gà xót buốt một đời kim chỉ
be chắn khỏi vỡ”
(Làng)
Thơ văn xuôi cũng là một trong những thể nghiệm của Mai Văn Phấn trong giai đoạn này Các tác phẩm được nhà thơ Mai Văn Phấn viết theo thể
thơ văn xuôi là: Đến trong ý nghĩ, Vòng cung thời gian, Những ý nghĩ không
sắp đặt, Niệm khúc số 18, Dấu vết… Ngoài ra, tác giả Mai Văn Phấn còn táo
Trang 24báo kết hợp giữa thể thơ tự do và thơ văn xuôi trong các sáng tác Trường ca
Người cùng thời là tác phẩm thể hiện đầy đủ những thử nghiệm cho lối viết
mới của ông
Bước sang giai đoạn sáng tác thứ ba, Mai Văn Phấn đã chứng tỏ sức
sáng tạo dồi dào, bản lĩnh Với các tập thơ: Vách nước (2003), Hôm sau (2009), Và đột nhiên giói thổi (2009), Bầu trời không mái che (2010), nhà thơ
đã tự làm mới chính bản thân mình Giai đoạn trước 1995, thơ Mai Văn Phấn mang hơi hướng lãng mạn, từ 1995 đến 2000 là giai đoạn tìm tòi, có nhiều biến động của thơ ông thì giai đoạn sáng tác này, phong cách thơ đang dần được định hình và phát triển theo hướng tượng trưng siêu thực Nếu như giai đoạn sáng tác thứ hai, Mai Văn Phấn tập trung cách tân phần kết cấu tác phẩm
và cấu trúc của mỗi câu thơ thì sang giai đoạn sáng tác mới, ông vẫn giữ nguyên những thành quả cũ, thêm vào đó là sự cách tân mạnh mẽ về thế giới hình tượng
“Tôi vội vẽ chiếc lồng trong ý nghĩ
Sợ chim bay đi
Vừa vẽ xong nó cất cánh Tôi ôm khung nắng, khung gió Nhành cây xanh hối hả đuổi theo”
(Con chào mào)
Mỗi tập thơ là một cuộc “vong thân” đầy sự ý thức, tính tự giác của Mai Văn Phấn Mỗi một chặng đường sáng tác là một lần vượt qua “sa mạc” các khuynh hướng, các trường phái.Thơ Mai Văn Phấn có nhiều chặng đường, nơi kết thúc mỗi giai đoạn chính là điểm xuất phát cho cuộc khai phóng khác Nhưng bất kỳ giai đoạn nào, người đọc dễ nhận thấy tình yêu, sự
Trang 25chân thành của tác giả đối với cuộc sống khao khát tìm đến những chân trời nghệ thuật, khám phá bản thân ngay tại thời điểm đó
Tập thơ Bầu trời không mái chera mắt bạn đọc năm 2010 Tác phẩm gồm ba phần, mỗi phần chín nhịp Trong bài viết Bầu trời không mái che của
Mai Văn Phấn, nhà nghiên cứu Lê Vũ cho rằng cấu trúc tập thơ ba phần
tương ứng với kết cấu thượng - trung - hạ, “Cửa Mẫu là cõi Trời, Mùa Trăng là cõi Đất, và Hình Đám Cỏ là cõi Người Thiên địa nhân, tam vị nhất thể, còn số chín là cửu cửu biến thiên gồm động - tĩnh và mao mạch của cơ thể thơ”
Bầu trời không mái che là tập thơ thứ chín của nhà thơ Mai Văn Phấn
Điều quan trọng ở đây không phải vấn đề số lượng tập thơ xuất bản mà là sự vượt lên chính mình, nhà thơ đã bỏ lại những ảnh hưởng của các trường phái thơ hiện đại, hậu hiện đại để vươn về phía truớc trên đường bay của tâm linh
và ngôn ngữ
Cũng trong năm 2010, tập thơ này được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam Có ý kiến đánh giá rằng đây là giải thưởng trao cho một “quá
trình thơ Mai Văn Phấn” chứ không hẳn chỉ dành cho một tập thơ Bầu trời
không mái chelà thành quả của những cố gắng, nỗ lực không ngừng nghỉ của
nhà thơ Mai Văn Phấn Với tập thơ này, chúng ta có thể nhận thấy chất riêng, nét độc đáo, sự khác biệt của thơ Mai Văn Phấn so với tám tập thơ trước đó
của ông Bởi lẽ, Bầu trời không mái chelà kết quả của những hành trình băng
qua các “sa mạc” khuynh hướng, tập thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc lĩnh hội tri thức và tài năng thơ ca bẩm sinh
Sau tập Bầu trời không mái che, nhà thơ Mai Văn còn xuất bản thêm ba tập thơ khác nữa, đó là Hoa giấu mặt (2012), Những hạt giống của đêm và
Trang 26ngày (2013), Buông tay cho trời rạng (2013) Mỗi tập thơ, tác giả lại tiếp tục
với những khám phá và thể nghiệm mới Tuy nhiên, thi pháp đã nghiêng dần
về hướng tự nhiên, không còn đặt nặng vấn đề hình thức Bầu trời không mái
che sẽ là tập thơ bắt đầu cho một giai đoạn sáng tác mới của Mai Văn Phấn
Có thể nói, thơ Mai Văn Phấn là thành quả của sự tìm tòi, nỗ lực cách tân không ngừng nghỉ Đối với ông, thơ không gói gọn trong một phong cách
cố định mà là thành quả của sự dấn thân và vận động Điều đáng ghi nhận ở nhà thơ Mai Văn Phấn là ông đã ý thức việc đưa thơ Việt hòa vào dòng chảy chung với thơ ca thế giới Càng về sau, thơ của ông càng kén chọn người đọc, yêu cầu một lối tư duy mới, không thỏa hiệp với cách đọc cũ
1.2.3.Quan niệm nghệ thuật của Mai Văn Phấn
Mai Văn Phấn là một trong những nhà thơ có kiến thức sâu rộng và vốn ngoại ngữ tốt Đối với ông, làm thơ không chỉ là bản năng tự có mà còn là quá trình học hỏi, tích lũy kiến thức văn thơ lâu dài, bền bỉ Song hành với việc sáng tác, Mai Văn Phấn đã đưa ra những quan niệm về nhân sinh và về nghệ thuật Điều này được thể hiện rõ trong các bài tiểu luận phê bình hay trong nhiều bài phỏng vấn trên các tạp chí
Nhà thơ cho rằng, bên cạnh cuộc sống thực, hữu hình luôn tồn tại một thế giới tâm linh, vô hình Có ý kiến cho rằng Mai Văn Phấn vốn theo đạo Thiên chúa nên điều đó ảnh hưởng tới các sáng tác của ông Tuy nhiên, trong thơ ông, thế giới tâm linh được phản ánh rất rộng, nhiều khi cõi tâm linh và cõi vô thức của con người có sự giao hòa, gặp gỡ lẫn nhau Đức tin được thể hiện trong thơ Mai Văn Phấn là một đức tin nguyên thủy, hướng vào thế giới tâm linh để an ủi tinh thần, chứ không chỉ giới hạn trong tình yêu với đạo Thiên chúa
Trang 27Là một nhà thơ có cái nhìn sâu sắc về cuộc sống, Mai Văn Phấn đã thể hiện trên các trang viết về sự bận rộn, xô bồ, phức tạp của xã hội hiện đại Ở
đó, con người dễ rơi vào cảm giác cô đơn, lạc lõng Bằng sự nhạy cảm, tinh tế
và chất nhân văn của một nhà thơ, ông cũng đã phát hiện ra những phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng ở con người hiện đại: dù họ có bị cuộc sống gây áp lực hay cơ thể mệt mỏi rã rời thì thẳm sâu trong tâm hồn họ vẫn khát khao được yêu thương, được quay về với bản thể tự nhiên của mình
Tình yêu khởi nguồn sự sống Mai Văn Phấn tiếp cận thế giới bằng đôi mắt phồn sinh, vạn vật sinh sôi nảy nở Cuộc sống là một quá trình hóa sinh bất định Đối với nhà thơ, cái chết được nhìn nhận như một sự khởi đầu mới Ông tin vào sự sống bất tử nhờ vào lẽ hóa sinh mầu nhiệm Mọi thứ đều phải trải qua những đau đớn để vươn lên tìm kiếm một vẻ đẹp hoàn thiện Trong giai đoạn khó khăn, bế tắc nhất, tình yêu sẽ là nguồn động lực đưa đến kết quả tốt đẹp hơn
Quan niệm nghệ thuật của Mai Văn Phấn có nhiều điểm khác lạ so với những nhà văn, nhà thơ khác Ông luôn coi quá trình sáng tạo là một cuộc
“vong thân” Mỗi nhà thơ phải biết tự phủ định mình, tức là phải coi cái mình vừa viết ra là cái đã cũ thì mới mong đạt đến thành công đỉnh cao trong nghệ thuật Trong suốt quá trình cầm bút, nhà thơ Mai Văn Phấn luôn trăn trở về vấn đề cách tân nghệ thuật Thậm chí ông còn đặt vấn đề cách tân làm vấn đề trung tâm trong quan niệm thơ của mình.Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến thơ Mai Văn Phấn không bao giờ ổn định phong cách Thơ ông đã có sự vận động qua những “sa mạc” trường phái Cái mới đối với nhà thơ trước hết là mới về hình thức, từ đó mang đến cho người đọc những cảm nhận mới về nội dung
Trang 28Theo Mai Văn Phấn, nhà thơ phải là người có kiến thức sâu rộng ở mọi lĩnh vực Đặc biệt, trong cuộc sống hiện đại này, những người cầm bút phải luôn trau dồi kiến thức văn học, cập nhật lí thuyết, thi pháp của các trường phái, thơ không còn là địa hạt của những người sáng tác theo bản năng Mai Văn Phấn luôn mang trong mình trách nhiệm của một nhà thơ đương đại Thơ đối với ông là quá trình chinh phục và phấn đấu lâu dài, bền bỉ Ông luôn cố gắng đưa thơ Việt giới thiệu ra thế giới Bước đầu tiên đáng ghi nhận là Mai Văn Phấn đã dịch các tác phẩm của mình ra các thứ tiếng khác Đó là tinh thần, ý thức hội nhập của một nhà thơ đương đại
Trang 29CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG
TRONG TẬP THƠ BẦU TRỜI KHÔNG MÁI CHE
2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình
Cái tôi trữ tình là chủ thể của hành trình sáng tạo thi ca, có vai trò quan trọng trong thơ với tưcách là trung tâm để bộc lộ lại tất cả suy nghĩ, tình cảm, thái độ được thể hiện bằng một giọng điệu riêng
2.1.1 Cái tôi đức tin thánh thiện
Cái tôi đức tin thánh thiện được thể hiện trong tập Bầu trời không mái
che luôn thiết tha hướng về đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt
Đầu tiên là đức tin về Mẫu Trong tâm thức người Việt, Mẫu – mẹ là đại diện cho sự che chở, bao bọc, đồng thời Mẫu cũng là đại diện cho sự sinh sôi, nảy
nở Tin vào Mẫu chính là tin vào chỗ dựa vững chắc trên con đường đã lựa chọn
“Mẫu nâng niu con ánh trăng Tiếng chuyền cành, tiếng hú
Da thịt con yêu trải sâu đêm tối Dựng tầng mây mưa nguồn”
(I, Cửa Mẫu)
Mẫu ở đây không đơn thuần là người mẹ sinh thành ra “con”, mà rộng hơn đó là Mẹ Cả của vũ trụ, của thiên nhiên Bằng đức tin thánh thiện, cái tôi trữ tình trong tác phẩm hướng tới Mẫu - trung tâm của sự chở che, bao bọc cho“con”, cho “cha” và cho tất cả mọi người Chính vì thế, hướng về Mẫu là một nhu cầu tự thân của tác giả
Trang 30Xuất phát từ nhu cầu tự thân và bằng đức tin trong sáng, thuần khiết nên đến một ngày, sau khi trải qua khó khăn, sóng gió cuộc đời, “con” trưởng thành và thể hiện lòng biết ơn tới Mẫu:
“Con biết ơn trận mưa Sấm to và gió mát”
Đối với “con”, “trận mưa”, “sấm to”, “gió mát” là những ân huệ mà
Mẫu ban tới, giúp “con” vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất Cái tôi đức tin thánh thiện gắn với lòng biết ơn tới Mẫu
Trong thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn, chúng ta bắt gặp một số
nghi lễ như: nghi lễ nhận tên, nghi lễ tấn phong tình yêu Với tập Bầu trời
không mái che, tác giả thể hiện cái tôi đức tin thánh thiện bằng cách đưa nhân
vật trữ tình quay về với những nghi lễ truyền thống
“công đồng tứ phủ
mở lòng đệ tứ bao dung mắt nhìn mưa thuận gió êm khâm sai ân huệ tâm thành kính lễ
tứ vị chầu bà khăn gấm áo hoa
đi tươi về tốt thuận buồm xuôi ngược
má phấn môi son…”
(IX, Cửa Mẫu)
Trang 31Riêng phần nghi lễ được nhà thơ dành trọn một nhịp (Nhịp IX) trong phần Cửa Mẫu Đoạn thơ được thể hiện mô phỏng hình thức của một nghi lễ
thờ Mẫu có trong dân gian Dù có những cách tân, những phá cách nghệ thuật nhưng khi quay về với đời sống tinh thần, với cội nguồn tâm linh thì nhà thơ Mai Văn Phấn vẫn luôn trân trọng, nâng niu các giá trị nguyên bản
Ngoài đức tin về Mẫu, cái tôi trữ tình trong tập Bầu trời không mái che
còn thể hiện đức tin về một thế giới tâm linh kì bí khác
“Vũ trụ choàng áo đen lên con Chỉ hở đôi mắt cầu nguyện”
(Cửa Mẫu)
Cái tôi đầy đức tin hướng về thế giới tâm linh đều vô hình Ở đó, con người không thể sờ mó mà chỉ biết đến nó thông qua cảm nhận và đôi mắt là nơi thể hiện đức tin chân thành nhất Đó là một thế giới vô hình tồn tại ngay cạnh thế giới hữu hình, là chỗ dựa tinh thần vững chắc khi nhân vật trữ tình gặp bế tắc Thế giới tâm linh vừa là điểm đến đầu tiên làm thanh sạch tâm hồn vừa là điểm cuối cùng, giúp chủ thể trữ tình có thêm niềm tin, động lực để bước tiếp
Trong tác phẩm,chủ thể trữ tình không chỉ tin vào một lực lượng, một thế giới siêu nhiên mà đức tin đó còn được đặt ngay trong chính bản thân con người Nếu như cái tôi trữ tình tràn đầy đức tin vào Mẫu và đức tin vào một thế giới tâm linh kì bí khác là đức tin hướng ngoại thì đức tin vào chính bản thân là một đức tin hướng nội Đức tin về chính bản thân là sự kết hợp của những cố gắng, nỗ lực với lí trí và kinh nghiệm
“Ngày mai mặt đất này
Và thế giới sẽ đổi khác”
Trang 32(III, Mùa Trăng)
Cái tôi đức tin được thể hiện trong tác phẩm là cái tôi mang đức tin thánh thiện, trong sáng, thuần khiết Đức tinđược đặt vào Mẫu, vào thế giới tâm linh kì bí và đặt đức tin ngay trong chính bản thân chủ thể trữ tình Điều
đó cho thấy đức tin đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần của tác giả
2.1.2 Cái tôi thiết tha yêu đương
Cái tôi thiết tha yêu đương trongBầu trời không mái chelà một bản thể
đa diện Ở mỗi góc độ khác nhau, chủ thể trữ tình hiện lên như một sự phân thân chưa trọn vẹn (hoặc hóa thân, hoặc mơ hồ trôi dạt vào thế giới tiềm thức tâm linh), phải đến với tình yêu, sống trong tình yêu đôi lứa, nhân vật trữ tình mới hiện lên với một bản thể đầy đủ
“Lo em phải mang quá sức Anh đã chạy theo
Lúc kiễng chân, lúc bám tay hờ
Tà áo bay nắng sớm Nhạt hoa văn trên chiếc túi da nâu
Dù ở đâu anh vẫn choàng lên Chuỗi hạt lặng yên chờ em ngủ Lại xô đi lạo xạo quay tròn”
(Nhịp III, Hình Đám Cỏ)
Chủ thể trữ tình hiện lên với tình yêu chân thành, nhẹ nhàng, nồng thắm Đó là sự quan tâm đến từ những điều nhỏ bé: “Lo em phải mang quá sức”, là khao khát được ở bên luôn luôn được ở bên “em”, được chăm sóc
“em”
Trang 33Đối với chủ thể trữ tình, “em” là hiện thân của tình yêu Vì thế, hình tượng nhân vật “em” ở trong tác phẩm được khắc họa bằng tất cả những gì đẹp đẽ nhất Cái đẹp ở đây không nằm ở ngoại hình mà vẻ đẹp của hình tượng nhân vật “em” đã được nhìn qua lăng kính của “anh” – người đang yêu “em” say đắm Vẻ đẹp đó được xây dựng bằng bút pháp gợi nhiều hơn tả
Nếu như vũ trụ bao la là nơi chủ thể trữ tình không thể hiểu hết được, cuộc sống xô bồ, phức tạp khiến nhân vật trữ tình mệt mỏi, khi cái tôi trữ tình quay về với thế giới của chính mình lại rơi vào cảm giác cô đơn thì khi bên cạnh “em”, mọi thứ trở nên rộn ràng, đầy sức sống.Tình yêu của “em” đã làm nên “giai điệu xuân” trong “anh”
“Trong hơi ấm nồng nàn Hạt nắng chảy vào em Mùa nước về rạng rỡ”
(Giai điệu xuân)
Cái tôi trữ tình hướng về “em” cũng chính là hướng về một cuộc sống tình yêu ấm nóng “Em” đã đánh thức tình yêu, cuộc sống trong “anh” Vẻ đẹp của “em” hòa quyện trong vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời “Em” nồng nàn
và “em” rạng rỡ “Em” chính là người tạo nên những mảng màu sáng trong thế giới nghệ thuật
Giữa cuộc sống xô bồ phức tạp, tình yêu nổi lên như một nguồn sống bản năng, đưa con người về với thiên nhiên và những giá trị nguyên bản Tình
yêu xuất hiện xuyên suốt từ đầu tập thơ cho đến cuối tập thơBầu trời không
mái che Điểm đặc biệt là tình yêu và tình dục luôn song hành với nhau Qua
lăng kính vạn vật phồn sinh, thời khắc ái ân hiện lên trong thơ một cách dày đặc Tình yêu của con người hòa quyện với tình yêu thiên nhiên, vũ trụ
Trang 34“Đêm ái ân lặng phắc ngọn đèn Trái hồng đượm trong hương cốm nõn”
(Cốm hương)
Nhà thơ Vi Thùy Linh đã chỉ ra sự khác biệt trong thơ tình yêu của
Mai Văn Phấn là: “Chưa có ai coi sự gần gũi trong tình yêu là nghi lễ, chỉ
có Mai Văn Phấn Trong thơ anh, ái ân trở thành nghi lễ giao linh thiêng liêng của con người; nghi lễ đầu tiên và cuối cùng”
“Đây là thời khắc ái ân Thắp sáng lãnh địa bóng tối Mùa phồn sinh thụ phấn, kết hạt Mặn nồng thiêm thiếp trăng khuya”
(III, Mùa Trăng) Trong tập “Bầu trời không mái che”, cái tôi trữ tình thể hiện tình yêu
được một cách kín đáo nhưng không kém phần mãnh liệt:
“Vẫn hiểu nhau dù quên tiếng nói
Đã yêu Hiến dâng Đã sống”
(Nhịp VIII, Hình Đám Cỏ)
Đối với chủ thể trữ tình, tình yêu gắn liền với sự hiến dâng Đó là vẻ đẹp dịu dàng của “em” và trách nhiệm của “anh” Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi đã yêu chân thành và trọn vẹn
Trong tình yêu, nhân vật trữ tình được sống trọn vẹn, tột cùng yêu thương Người đọc có thể nhận ra một bản thể cô đơn tự trôi trong cõi vô thức của chính mình, một chủ thểtrữ tình đầy đức tin gửi tâm hồn vào thế giới tâm linh nhưng đồng thời trong tác phẩm còn tồn tại một bản thể trữ tình khácsống