Nhiều công trình nghiên cứu, phê bình của các nhà văn, nhà thơ và các nhà nghiên cứu như: Giáo sư Phong Lê, Lã Nguyên, Tô Hoài, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Bích Thu đã được đăng tải trên nhi
Trang 2BÙI THỊ HÀ
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG XA XÔI THÔN NGỰA GIÀ
CỦA MA VĂN KHÁNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH:LÝ LUẬN VĂN HỌC
M· sè: 60.22.01.20
Người hướng dẫn khoa học: TS Ph¹m tuÊn vò
NGHÖ aN - 2015
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ma Văn Kháng là một tác giả có sức sáng tạo bề bỉ và có những thành tựu Trong chặng đường ngót 50 năm lao động nghệ thuật không mệt mỏi, Ma Văn Kháng đã có một gia tài văn học với hơn 200 truyện ngắn, 15 tiểu thuyết, tiểu luận, bút ký có giá trị
Đã có nhiều đánh giá về sự nghiệp sáng tạo của Ma Văn Kháng GS.Phong Lê cho rằng: “Bây giờ người ta không quan tâm Ma Văn Kháng viết gì nữa, người ta muốn biết Ma Văn Kháng đã viết như thế nào để có gia tài văn chương đồ sộ mà thôi” Nhà văn Bích Ngân cũng dành cho thầy mình những lời trân trọng: “Suốt 50 năm miệt mài cầm bút, nhà văn Ma Văn Kháng đã để lại những dấu ấn riêng đã cắm vào dấu mốc quan trọng trong văn học”
PGS.TS La Khắc Hòa nhận định: “Ma Văn Kháng là nhà văn của cái đẹp trong dòng đời sinh hóa, bình dị, hồn nhiên, cái đẹp trong niềm hạnh phúc được làm người có ý nghĩa đích thực của nó”
1.2 Ngoài ra sự quan tâm đón nhận của độc giả rộng rãi còn có sự khẳng định cống hiến văn học của Ma Văn Kháng bằng ba giải thưởng lớn:Giải thưởng nhà văn Đông Nam Á (ASEAN, 1998); Giải thưởng nhà nước về Văn hóa - Nghệ thuật đợt 1 (2001); Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt 4 (2012)
1.3 Xa xôi thôn ngựa già là tập truyện của nhà văn Ma Văn Kháng
vừa được Nxb Phụ nữ ấn hành quý III năm 2013 Tác phẩm gồm 6
truyện vừa: Seo ly, kẻ khuấy động tình trường, Thắp một tuần hương;
Cố Vinh, người xứ lạ; Cánh buồm tím; Người khổ nhất trần gian và Xa
xôi thôn ngựa già.
Trang 5Xa xôi thôn ngựa già là câu chuyện kể về một người đàn ông 65
tuổi nhưng vẫn đang còn rất nhiều nhiệt huyết và đam mê, đã tự bỏ tiền
đi khắp nơi trên đất nước để có thêm hiểu biết và rồi ông lên thôn Ngựa Mới (còn gọi là thôn Ngựa Già) để khai hoang, đưa máy móc vào áp dụng trong sản xuất nông nghiệp ở nơi đây mặc cho mọi người nói ông
là kẻ hoang tưởng Thôn Ngựa Già từ khi ông lên có cuộc sống ấm no, sung túc hơn Ông được người dân trong thôn Ngựa Già gọi là “chàng hiệp sĩ”, là “bông hoa đức hạnh mang màu lửa” của người dân thôn bản
ở đây
Truyện Cố Vinh, người xứ lạ kể lại câu chuyện về một cha xứ đi
mở mang nước chúa ở vùng đồng bào dân tộc Mông Ông đã cống hiến
cả trái tim và tâm hồn bằng “cái đam mê của kẻ tạo cử nghiệp ở bước khởi đầu” nhưng lại có một kết cục buồn thảm vì đã sống thành thật với chính mình…
Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường là câu chuyện về một phụ nữ
xinh đẹp tuyệt sắc của xứ Mèo trên núi Fansian Sắc đẹp của cô đến mức đã lưu truyền trở thành một trong những truyền kỳ đặc sắc nhất trong vùng, “mắt nàng biếc xanh màu núi lung liêng, môi nàng hé mở đầy vẻ mời mọc gợi tình” Nàng là nguyên nhân gây nên những bi hài kịch, những cuộc thăng chức, giáng chức của các vị quan chức quan trọng trong huyện lỵ M, để từ đó những âm mưu, toan tính có cơ hội được hé lộ, phơi bày…”
Tập truyện đã phản ánh hơi thở nóng hổi của cuộc sống đương đại tại những bản làng vùng núi phía Bắc Bằng ngòi bút am hiểu, đầy tình cảm với những năm gắn bó cùng đồng bào dân tộc tại miền núi Nhà văn
Ma Văn Kháng đã phác họa những mặt tích cực, tiêu cực, những bộn bề
lo toan, bon chen của cuộc sống mưu sinh hiện đại, cũng vì cảnh đời éo
Trang 6le nhưng vẫn khát khao vươn lên bằng sức sống mãnh liệt của những bản làng vùng núi phía Bắc.
Trong tập tiểu luận bút ký về nghề văn Phút giây huyền diệu của
cùng tác giả (Nxb Hội Nhà văn, 2013), Ma Văn Kháng gọi hai truyện
trong tập truyện vừa này (Cố Vinh, người xứ lạ; Seo Ly, kế khuấy động
tình trường) là truyện ngắn và cho đây là hai trong số 10 truyện ngắn
hay nhất của mình (tr.204) Như vậy là cùng một truyện mà có hai cách gọi thể loại khác nhau của chính tác giả Đây cũng là một lý do khiến chúng tôi nghiên cứu đề tài này Ngoài ra nghiên cứu thế giới nghệ thuật
của tập truyện Xa xôi thôn Ngựa Già còn góp phần vào việc xác định
đóng góp của Ma Văn Kháng cho văn xuôi Việt Nam đương đại
2 Lịch sử vấn đề
Ma Văn Kháng quan niệm “sống rồi mới viết”, ông từng khẳng định rằng “Kinh nghiệm sống của nhà văn có một dung lượng rộng hơn thông thường sống, ngoài cái nghĩa là trải nghiệm trực tiếp, là quan sát nghe ngóng học hỏi, là dấn thân, lăn lộn vào các vùng chưa biết, còn là sống với tất cả chiều kích của đời sống tinh thần tâm tưởng, tâm hồn, như tiềm thức, tâm linh, ảo giác, tưởng tượng… trên cơ tầng một nền
học vấn cao” Nhà văn, kẻ sống hết mình với cuộc đời, (báoVăn nghệ số
38, ngày 22/9/2012) Điều này được minh chứng qua cuộc đời và văn chương Ma Văn Kháng đã cống hiến cho văn học
Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn Ông sinh ra ngày 1 tháng 12 năm 1936 tại Hà Nội Quê gốc ở phường Kim Liên, quận Đống
Đa, Hà Nội Ông tham gia quân đội từ thời thiếu niên và được đi học ở khu học xá Trung Quốc Năm 1960, Ma Văn Kháng vào Đại học Sư phạm Hà Nội Tốt nghiệp lên dạy ở tỉnh Lào Cai và từng là hiệu trưởng trường trung học Về sau ông được Tỉnh ủy điều về làm thư ký cho Bí
Trang 7thư Tỉnh ủy, rồi làm phóng viên, Phó Tổng biên tập báo của Đảng bộ tỉnh.
Từ năm 1976 đến nay ông công tác tại Hà Nội, ông từng là Tổng biên tập, phó giám đốc Nhà xuất bản Lao động Từ tháng 3 năm 1995,
ông là Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt
Nam
Ông lấy bút danh là Ma Văn Kháng, cái tên nghe rất đặc biệt có vẻ
“thiểu số” này đã nói lên sự gắn bó và tình cảm của tác giả đối với miền đất từng sống và hoạt động trên hai mươi năm, nơi quê hương thứ hai của mình
Mảnh đất Lào Cai xinh đẹp cùng những con người tình nghĩa là động lực cho ngòi bút Ma Văn Kháng thỏa sức sáng tạo Hàng loạt tiểu thuyết, truyện ngắn có giá trị phản ánh đời sống của đồng bào miền núi khiến cho có người mệnh danh Ma Văn Kháng là “nhà văn núi rừng”
Khối lượng văn chương đồ sộ của Ma Văn Kháng thu hút sự nghiên cứu, đánh giá của những nhà nghiên cứu phê bình văn học Ngay
từ khi truyện ngắn Phố cụt ra đời (1959) và đặc biệt là những tác phẩm xuất hiện trong giai đoạn đầu những năm 80 của thế kỷ XX, Ma Văn Kháng đã được đông đảo dư luận, độc giả và các nhà phê bình quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu, phê bình của các nhà văn, nhà thơ và các nhà nghiên cứu như: Giáo sư Phong Lê, Lã Nguyên, Tô Hoài, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Bích Thu đã được đăng tải trên nhiều sách báo và tạp chí…
Khi bàn về Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời trong Vẫn
chuyện Văn và Người, Giáo sư Phong Lê nhận xét: "Truyện ngắn Ma Văn
Kháng quả là một hiện tượng nổi bật trong văn học nhữ ng năm 90, tuy
Trang 8vẫn chỉ một giọng điệu nhưng không gây nhàm tẻ Biết thế trước rồi mà vẫn ham đọc Một giọng điệu vẫn là nằm trong trong mạnh ngầm tuôn chảy từ một nguồn chung của nền truyện ngắn hiện đại Rõ ràng Ma Văn Kháng vẫn chưa tách ra được thật rõ một lối riêng, nhưng vẫn không bị
nhoè mờ trong diện mạo chung đó … Côi cút giữa cảnh đời đối với tôi, đó
là một cuốn sách đọc không thôi cảm động và đầy ấn tượng Trên hai trăm trang sách, đọc một thôi, không có gì khúc mắc, tất cả đều dễ hiểu, tưởng như không có nghệ thuật… Cuốn sách của Ma Văn Kháng ai đọc cũng hiểu, đọc một lần là hiểu, và xem ra cũng chỉ một tầng nghĩa thôi Ấy vậy
mà, tôi lại nghĩ, đó mới là hoặc vẫn là nghệ thuật đích thực"
Trong Phút giây huyền diệu – tiểu luận và bút ký về nghề văn của
Ma Văn Kháng, PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện cho rằng: “Đọc Ma Văn Kháng ta thấy ông là cây bút gây ấn tượng sâu sắc, bởi mỗi tác phẩm của ông là những chí thú về tượng trưng, ẩn dụ nghệ thuật, những luận đề quan thiết đến cuộc sống và con người cõi trần thế, mà nếu thiếu đi, cuộc sống nghèo nàn, vô nghĩa, con người sẽ trở nên nhạt nhẽo, tầm thường, thô kệch biết bao!”
Tác giả Nguyễn Nguyên Thanh trong bài viết Ngày đẹp trời- tính
dự báo về những tinh thế xã hội (báo Văn nghệ số 21 ngày 23/5/1987)
khẳng định: “Ma Văn Kháng đã khám phá cuộc sống từ nhiều bình diện khác nhau, ông lách sâu hơn vào ngõ ngách tinh thần ,tìm ra những nguyên nhân và quy luật khắc nghiệt của tồn tại xã hội”
Khi đọc tập Heo may gió lộng, tác giả Trần Bảo Hưng đã có cảm
nhận: “Truyện anh viết thường có lớp lang, thứ tự, ít tiểu sảo mà hấp dẫn, ngòi bút anh tỏ ra khách quan, điềm tĩnh nhưng vẫn thấm đượm tình yêu thương con người,vẫn nhoi nhói nỗi đau trần thế Không ít truyện của anh mang tính chất luận đề và chất triết lí khá rõ nhưng
Trang 9vẫn nhuyễn, vẫn cuốn hút người đọc vì văn của anh đậm đà, giàu hương vị, nhiều chi tiết, đời sống phong phú, tiêu biểu và nhiều thuyết phục”.
Đáng chú ý nhất phải kể tới bài viết “Khi nhà văn đào bới bản thể ở
chiều sâu tâm hồn” của Lã Nguyên đăng trên Tạp chí văn học số 9/1999
Bằng cái nhìn sắc sảo, cách tiếp cận khoa học, tác giả đã đề cập tới nhiều bình diện của truyện ngắn Ma văn Kháng Tác giả chia truyện ngăn Ma văn kháng thành ba nhóm: Nhóm thứ nhất là những sáng tác viết về đề tài miền núi, nhóm thứ hai là những tác phẩm viết về đời sống thành thị trong sự đổi thay mạnh mẽ của đất nước Nhóm thứ ba là những sáng tác đi sâu thể hiện niềm tin và tinh thần lạc quan vào cuộc sống Cũng trong bài viết này tác giả đã đề cập đến một số đặc điểm truyện ngắn Ma văn Kháng như: Tính công khai bộc lộ chủ đề, sự cố ý tô đậm tính cách nhân vật, việc lồng giai thoại vào cốt truyện, đưa thành ngữ,tục ngữ vào ngôn ngữ nhân vật… Điều đáng chú ý là, trong bài viết này tác giả đã đưa ra một số nhận xét về nghệ thuật trần thuật của nhà văn Tuy mới chỉ dừng lại ở những nhận định chứ chưa được cụ thể hóa và lí giải một cách cụ thể nhưng chúng tôi coi đó là những gợi mở thú vị là những chỉ dẫn quý báu trong quá trình triển khai đề tài của mình
Bên cạnh những bài viết trên các báo và tạp chí còn có một số luận văn về Ma văn Kháng đã được bảo vệ thành công
Với đề tài Đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn Ma văn Kháng từ
sau năm 1980, tác giả Phạm Mai Anh đã tập trung khai thác một số yếu
tố nghệ thuật trong truyện Ma văn Kháng như: kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ Tác giả chỉ ra những đặc điểm truyện ngắn Ma văn Kháng như: lối kết cấu mở, nghệ thuật đặc tả nhân vật, sự kết hợp lời kể lời tả, lời thuyết minh luận bàn
Trang 10Trong luận văn Giá trị tư tưởng và nghệ thuật truyện ngắn Ma
Văn Kháng, tác giả Đỗ Phương Thảo đã khảo sát và đưa ra một số kết
luận về nghệ thuật xây dựng cốt truyện như: sử dụng phép liệt kê, sử dụng các yếu tố dân gian, sử dụng các yếu tố hoang đường kỳ ảo…
Công trình nghiên cứu của TS Đào Thủy Nguyên Đặc điểm
truyện ngắn Ma văn Kháng về đề tài dân tộc và miền núi đã đi sâu
nghiên cứu và khẳng định một cách đầy thuyết phục những vấn đề nhân sinh, thế sự, những thành công đặc sắc về nghệ thuật xây dựng nhân vật
và sử dụng ngôn từ trong truyện ngắn viết về đề tài dân tộc và miền núi của Ma văn Kháng
Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu truyện ngắn Ma văn Kháng, chúng tôi nhận thấy thế giới nghệ thuật đã ít nhiều được đề cập đến nhưng mới dừng lại ở những ý kiến, nhận định có tính khái quát, Đây là những gợi ý quý báu của các tác giả để chúng tôi tiếp tục nghiên
cứu triển khai qua tập truyện vừa, mới nhất của Ma văn Kháng Xa xôi
thôn Ngựa Già.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nhận thức được những phương diện chủ yếu của thế giới nghệ
thuật trong Xa xôi thôn Ngựa Già của Ma Văn Kháng.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Chỉ ra được nghệ thuật thể hiện nhân vật và quan niệm nghệ thuật về con người của Ma Văn Kháng ở tác phẩm này
- Nhận thức được hình tượng người trần thuật, thời gian và không gian nghệ thuật của tác phẩm
- Khái quát được các biểu hiện chủ yếu của giọng điệu nghệ thuật
trong tác phẩm Xa xôi thôn Ngựa Già.
Trang 114 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các phương diện chủ yếu
thuộc thế giới nghệ thuật của tác phẩm Xa xôi thôn Ngựa Già của Ma
Văn Kháng
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê - phân loại
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Giới thuyết khái niệm thế giới nghệ thuât Quan niệm
về con người và nhân vật trong Xa xôi thôn Ngựa Già
Chương 2 Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật
trong Xa xôi thôn Ngựa Già
Chương 3 Hình tượng người trần thuật và giọng điệu nghệ thuật
của Xa xôi thôn Ngựa già
Trang 12Chương 1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT QUAN NIỆM
VỀ CON NGƯỜI VÀ NHÂN VẬT TRONG XA XÔI THÔN NGỰA GIÀ
1.1 Giới thuyết khái niệm thế giới nghệ thuật
Thế giới nghệ thuật là thế giới do người nghệ sĩ sáng tạo ra trong tác phẩm Một mặt nó phản ánh hiện thực, mặt khác nó biểu hiện những khát vọng chân, thiện, mĩ của chủ thể sáng tạo Với ý nghĩa này, vấn đề đặt ra là cần phải có một khái niệm về thế giới nghệ thuật thật bao quát, thật đầy đủ
để làm cơ sở cho việc tiếp cận các hiện tượng và tác giả văn học Đáp ứng yêu cầu đó, ở Liên Xô cũ vào những năm 70 đã có một số công trình
nghiên cứu về khái niệm này như các công trình: Thế giới nghệ thuật của
M.Gorki, 'Thế giới nghệ thuật của Sôlôkhốp Ở Việt Nam khái niệm được
nhắc đến vào những năm 80 Năm 1985, trong luận án Tiến sĩ khoa học: Sự
hình thành và những vấn đề của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Nghĩa Trọng đã xác định hàm
nghĩa khái niệm thế giới nghệ thuật như sau: “Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mĩ học bao gồm tất cả các yếu tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn Nó
là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm mĩ Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực - đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật Trong thế giới nghệ thuật chứa đựng sự phản ánh hiện thực, tư tưởng, tình cảm cửa nhà văn Thế giới nghệ thuật không chỉ tương đương đối với tác phẩm nghệ thuật mà còn rộng hơn bản thân nó Nó có thể bao gồm tất cả các tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn, một trào lưu nghệ thuật, một thời kỳ nhất định của văn học, một nền văn học của dân tộc hay
Trang 13nhiều dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể liên quan đến nhiều yêu tố khác của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hình tượng nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai được người nghệ sĩ tạo dựng trong đó chứa đựng hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người… là thế giới sinh động và đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học mỗi dân tộc, mỗi thời kỳ lịch sử để có thế giới nghệ thuật riêng của mình” Đây là một khái niệm rộng, được triển khai với nhiều cấp độ Tuy còn dừng ở mức khái quát song quan niệm sẽ là những gợi ý hết sức quý báu, phù hợp với nhiều luận điểm mà chúng tôi sẽ triển khai trong luận văn
Năm 1992, Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử -
Nguyễn Khắc Phi, chủ biên) định nghĩa: "Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, một tác giả, một trào lưu) Sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc riêng của nghệ thuật Thế giới nghệ thuật
có thời gian không gian riêng, có quy luật tâm lí thang bậc giá trị riêng trong việc phản ánh thế giới Mỗi thế giới ứng với một cách cắt nghĩa về thế giới [7, 201- 202]
Khái niệm thế giới nghệ thuật là phương diện của thi pháp học Theo Trần Đình Sử: "Thi pháp học là bộ môn cổ xưa nhất đồng thời cũng là bộ môn hiện đại nhất [38, 4] Thế giới nghệ thuật đã được nói đến từ rất xa xưa Cách đây hơn 2300 năm Aristote khi bàn về kịch cho rằng: Kịch cần phải có sáu thành phần “ Cốt truyện, tính cách, tư tưởng, bài trí sân khấu, văn tự, và bố cục âm nhạc” [1, 35] Lưu Hiệp đã đưa ra cái nhìn biện chứng về sự thống nhất giữa nội dung và hình thức Ông quan niệm một tác phẩm văn học phải đảm bảo 6 yếu tố:
1- Tình cảm sâu mà không dối
2 - Việc chắc mà không ba hoa
Trang 143- Phong thái mà không tạp
4- Nghĩa thẳng mà không quanh co
5- Thể gọn mà không rườm rà
6- Văn đẹp mà không dâm [1; 61]
Ngoài ra Lưu Hiệp còn nhấn mạnh các phương diện khác như ngôn ngữ, kết cấu với những nhận xét sâu sắc; những so sánh độc đáo… Các quan niệm đưa ra ở trên có giá trị rất lớn về mặt lí luận để vận dụng vào thực tiễn tìm ra giá trị đích thực của văn học Việc khẳng định thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể ngoài việc chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa các yếu tố còn giúp người nghiên cứu tránh được những suy diễn chủ quan, lệch lạc trong việc khám phá, chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật Vì vậy, dù nghiên cứu văn học ở cấp độ nào đều phải làm rõ thuật ngữ này
Là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều yếu tố nên việc tìm hiểu kĩ trong dung lượng luận văn cao học là rất khó Vì thế, trong chương này chúng tôi chỉ trình bày khái quát các vấn đề của khái niệm thế giới nghệ thuật Một số yếu tố được trình bày nhằm đảm bảo tính hệ thống nên còn dừng
ở mức sơ giản Trên cơ sở đó chúng tôi sẽ vận dụng vào tìm hiểu thế giới
nghệ thuật tập truyện Xa xôi thôn Ngựa Già của Ma văn Kháng.
Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật Trong tiếng Việt chỉnh thể được cắt nghĩa là “Thể, khối thống nhất trong đó các
bộ phận có liên quan chặt chẽ với nhau không tách rời” [41, 56] Trong triết học, nó được hiểu “là khái niệm trặc trưng cho tính thống nhất nội tại toàn vẹn, đầy, đủ, biệt lập của khách thể Sự tổng hợp những mặt, những thuộc tính, những mối quan hệ vốn có của khách thể tạo ra tính thống nhất bên trong của nó với môi trường bên ngoài” [37, 21] Trong nghiên cứu văn học "chỉnh thể” là thuật ngữ chuyên ngành có ý nghĩa
"Là tổng thể bao gồm các yếu tố có mối quan hệ mật thiết với nhau
Trang 15tương đối bền vững, bảo đảm cho hoạt động của nó như môi trường xung quanh…” Vận dụng khái niệm này vào tìm hiểu chỉnh thể thế giới nghệ thuật cho thấy thế giới này bao gồm rất nhiều cấp độ Tác phẩm, tác giả, giai đoạn, thời kì văn học, nền văn học dân tộc, trào lưu
Mỗi cấp độ lại là một chỉnh thể toàn vẹn, thống nhất Mọi yếu tố trong hệ thống chỉnh thể có quan hệ ràng buộc, quy định và tác động lẫn nhau Mối quan hệ này đã tạo ra một thế giới với nội dung và chức năng mới vốn không có khi đem tách rời các yếu tố Nói như vậy, thì chỉnh thể thế giới nghệ thuật là sự liên kết "siêu tổng cộng" của các chỉnh thể nhỏ trong hệ thống từ quan niệm, mô hình, hình tượng đến các chỉnh thể nhỏ hơn khái niệm hình tượng Chỉnh thể thế giới nghệ thuật là kết quả của quá trình tư duy của người nghệ sĩ khi biến những cảm xúc, những tình điệu thẩm mĩ, những cách khám phá, cắt nghĩa, lí giải đời sống thành "thiên nhiên thứ hai" - để người đọc chiêm nghiệm, suy ngẫm, soi ngắm các vấn đề mà người nghệ sĩ đã gửi vào trong đó Là sản phẩm của nhà văn nhưng thế giới nghệ thuật tồn tại độc lập với nhà văn đó theo cách riêng của mình
Tính chỉnh thể của văn học được biểu hiện qua sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức Trong sáng tạo, nội dung làm nẩy sinh hình thức và hình thức phụ thuộc, phục tùng nội dung, biểu đạt nội dung Không có nội dung ở ngoài hình thức, cũng không có hình thức trừu tượng tách rời nội dung Tuy nhiên, việc thống nhất không phải lúc nào, nhà văn nào cũng có thể làm được mà chỉ những nhà văn thực sự tài năng thì mới tạo nên sự thống nhất Sự thống nhất càng cao thì giá trị biểu hiện càng lớn Trong thế giới nghệ thuật, mối quan hệ giữa nội dung
và hình thức là hệ quả tất yếu nhằm thống nhất nội tại giữa các yếu tố, thể hiện tính quy luật của chỉnh thể Đây là cơ sở để đánh giá đúng chân
Trang 16giá trị của tác phẩm Nó giúp người sáng tác tránh được những lắp ghép máy móc, khiên cưỡng, vô cảm và giúp người nghiên cứu tránh được những đánh giá chủ quan, cứng nhắc.
Như vậy, chỉ khi nội dung và hình thức phù hợp, thống nhất với nhau thì mới tạo nên chỉnh thể và cũng chỉ trong chỉnh thể thì mối quan
hệ này mới xuất hiện Đúng như Bêlinxki nhà phê bình Nga đã viết: "Khi hình thức là biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt tới mức nếu tách nó
ra khỏi nội dụng thì có nghĩa là huỷ diệt hình thức” [ 37, 256] Từ mối quan hệ này đã mở ra một hướng khám phá thế giới nghệ thuật bắt đầu
từ hình thức, tức là tiếp cận từ góc độ thi pháp Khi quan niệm thế giới nghệ thuật là chỉnh thể thì ta đã thừa nhận cấu trúc nội tại chỉ là một tầng
mà là nhiều tầng được đặt trong hệ thống từ cảm hứng đến sáng tạo, từ thấp đến cao: ngôn từ - hình tượng - kết cấu - văn bản Nhưng phải thừa nhận rằng quá trình sinh thành chưa thể tạo nên một chỉnh thể trọn vẹn Bởi thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nên nó cần có một quá trình cảm thụ Trong quá trình cảm thụ mới xuất hiện các mối quan hệ ngược xuôi giữa các lớp, các yếu tố các mối quan hệ này vừa đan xen vừa đồng hoá để tạo ra một chỉnh thể toàn vẹn có chức năng, nội dung mới Nằm trong chỉnh thể các yếu tố vừa mang ý nghĩa của bản thân nó vừa mang ý nghĩa của chỉnh thể Do sự chi phối phụ thuộc lẫn nhau nên một yếu tố trong chỉnh thể thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các yếu tố khác Chẳng hạn, trong các tác phẩm thuộc loại hình tự sự, do yêu cầu tái hiện cuộc sống đầy đủ, chi tiết nên nó không bị hạn chế bởi thời gian, không gian, số lượng nhân vật Các nhân vật được xây dựng chi tiết, tỉ mỉ với nhiều quan hệ phức tạp Nhưng ở tác phẩm
kịch do phản ánh cuộc sống bằng hình thức diễn xướng nên hạn chế về
thời gian, không gian đã kéo theo số lượng nhân vật ít, các tình tiết khắc hoạ chỉ tập trung ở các mâu thuẫn đã lên tới đỉnh điểm Như vậy, thế
Trang 17giới nghệ thuật chỉ dược xem là chỉnh thể khi các yếu tố, các lớp có sự ràng buộc, quy định lẫn nhau theo một quy luật nhất định Coi tính chỉnh thể là phẩm chất không thể thiếu của sáng tạo nghệ thuật cho phép ta nhìn nhận thế giới này ở dạng đầy đủ, nhiều mặt nhất Nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật Tác phẩm nghệ thuật là thế giới chủ quan với những tìm tòi độc đáo, mới mẻ, những hư cấu tưởng tượng kỳ diệu, nó không phải là sự lắp ghép tuỳ tiện mà là một chỉnh thể toàn vẹn thống nhất được tạo nên bởi các nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật riêng Những nguyên tắc này có ý nghĩa tương đối ổn định trong từng thời kỳ Đây là một trong những căn cứ để nhận biết giai đoạn văn học Trong sáng tạo nghệ thuật, nghệ thuật và tư tưởng không bao giờ tách rời nhau mà nó là một thể thống nhất cùng biểu hiện tư tưởng và sáng tạo của nhà văn Tất nhiên tư tưởng sẽ định hướng cho sáng tạo Teskhov đã nói: ''Nếu như có một tác giả nào đó mà khoe với tôi rằng anh ta đã viết một thiên truyện không có dự định từ trước thì tôi sẽ gọi anh ta là thằng rồ” [43, 1l].
Như vậy, nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật chịu sự chi phối của quan điểm tư tưởng thế giới quan, nhân sinh quan, quan điểm nghệ thuật của
cá nhân và thời đại Tập truyện vừa Xa xôi thôn Ngựa Già là nguyên tắc
tư tưởng của Ma văn Kháng khi cảm nhận về cuộc sống trong thời kỳ đổi mới đất nước và nó mang đậm phong cách của ông
1.2 Quan niệm về con người trong tập truyện Xa xôi thôn Ngựa Già
1.2.1 Giới thiệu khái niệm quan niệm về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù quan trọng của thi pháp học Mặc dù hiện nay, khái niệm này chưa được các nhà nghiên cứu định nghĩa một cách thống nhất và chặt chẽ, nhưng nó đã phần nào gợi mở cho chúng ta hướng đến đối tượng chủ yếu của văn học Theo đó,
“Văn học nghệ thuật là một sự ý thức về đời sống, nên nó mang tính chất
Trang 18quan niệm rất cụ thể” và “Hình tượng nghệ thuật một khi đã hình thành
là mang tính chất quan niệm, ngay cả vô thức cũng là quan niệm về cái
vô thức Nhà văn không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm
về đối tượng” [7;23] Có thể khẳng định, quan niệm chính là một phương tiện thiết yếu của sáng tạo nghệ thuật Do vậy, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học là bước đi thiết thực để đến với chiều sâu của các tác phẩm, của các giai đoạn văn học
Macxim Gorki đã từng khẳng định: “Văn học là nhân học” Đó là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người Do vậy, con người chính là đối tượng chủ yếu của văn học Dù miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, hoặc đơn giản là miêu tả các nhân vật, văn học đều nhằm mục đích miêu tả
và thể hiện vào con người
Thực tế cho thấy, không có một tác phẩm, một tác giả hay một nền văn học nào lại chỉ đơn thuần nói về thiên nhiên mà không liên quan đến con người Nói cách khác, mục đích miêu tả của nhà văn là nhằm hướng đến thể hiện con người Ngay cả những dòng thơ viết về cảnh vật, thiên nhiên không phải là động tác phác thảo vài nét cơ bản vào không gian,
mà là sự bộc lộ những tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình cũng như chủ thể tác giả dấu mặt
Tóm lại, trong văn học, yếu tố con người được nói đến như một điều tất yếu Con người chính là nhân vật trung tâm của văn học
Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của nhà văn Có thể nói, nó giống như là một chiếc chìa khóa vàng góp phần gợi mở cho chúng ta tất cả những gì bí ẩn trong sáng tạo nghệ thuật của mỗi người nghệ sĩ nói chung và từng thời đại nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù được nhiều nhà nghiên cứu quan
Trang 19tâm tìm hiểu, song khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người vẫn còn nhiều cách định nghĩa và diễn đạt khác nhau
Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: "Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” [37,15] Quan niệm nghệ thuật về con người sẽ đi vào phân tích, mổ xẻ đối tượng con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học của tác giả, từ đó, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó Vì vậy, chúng ta sẽ thấy được giá trị của hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm
Giáo sư Huỳnh Như Phương nhìn bao quát: Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lí của tác phẩm
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa như sau: “Quan niệm nghệ
thuật về con người là hình thức bên trong, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức tác phẩm Nó gắn với các phạm trù khác như phương pháp sáng tác, phong cách của nhà văn, làm thành thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật” [7, 247]
Nhìn chung, tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng các tác giả trên đều nói lên cốt lõi của vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người
Từ đó, chúng ta có thể đi đến khái quát cách hiểu quan niệm nghệ thuật
về con người như sau:
Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác phẩm Quan niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay
cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng
Trang 20Như vậy, vì trung tâm của văn học là con người nên con người cũng chính là đối tượng thẩm mĩ thể hiện quan niệm của tác giả về cuộc sống Người sáng tác sẽ là người vận động, suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người Bởi người
ta không thể miêu tả và tạo nên chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học nếu không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp nhất định
Tập truyện vừa Xa xôi thôn Ngựa Già của Ma văn Kháng, với
những bộn bề bon chen của cuộc sống được nhà văn tái hiện mang một sức sống mãnh liệt bởi những câu chuyện đã nói hộ cho cảnh đời của bao người.Một cha xứ với lí tưởng cao cả mở mang nước chúa; Một cô gái Mèo xinh đẹp vật lộn với cuộc sống nơi huyện lỵ nhỏ ; hay một trang nghĩa hiệp hoang tưởng như một chàng hiệp sĩ đã lạc thời…
Những con người nhỏ bé nhưng tâm hồn cao cả, hướng thiện là cái lí tưởng giản dị mà nhà văn muốn hướng tới
1.2.2 Các biểu hiện của quan niệm về con người trong tập
truyện Xa xôi thôn Ngựa Già
1.2.2.1 Con người của thời kỳ bao cấp tư tưởng
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp - Mĩ, đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn xây dựng chũ nghĩa xã hội Thời bao cấp từ 1975 đến 1986 được biết đến như một nỗi ám ảnh cho những ai đã phải trải qua nó.Ở cái thời ấy nhiều lúc cái sự ăn trở thành tất cả đối với con người
Tiếu lâm Việt nam nổi tiếng với các loại truyện có liên quan tới
miếng ăn, từ Thầy đồ ăn vụng mật, tới anh chàng sang nhà bố vợ, nhờ
con gà vướng dây mà gắp lia lịa Nhiều truyện ngắn của Nguyễn Công
Hoan, Đói của Thạch Lam hoặc Một bữa no của Nam Cao viết về cái
Trang 21ăn… Người ta thấy văn chương có những tác phẩm cảm động khi đi vào
miêu tả những liên hệ của con người với miếng ăn Hồi kí Từ bến sông
Thương của Anh Thơ kể, hồi kháng chiến chống Pháp, có lần tác giả gặp
Xuân Diệu đang trên đường vào khu bốn Hỏi tại sao vào mới biết ra ở
Việt Bắc thiếu cái ăn quá, tác giả Thơ thơ “du” Thanh Nghệ để tìm cách
cải thiện sức khỏe Mối quan hệ giữa người và miếng ăn là một đặc điểm của thời đại
Ngoài sự ăn, trong may mặc, đi lại và cả trong vui chơi giải trí nữa, con người lúc ấy cũng ở vào tình trạng tương tự Những câu nhại
Truyện Kiều: “Bắt ở trần phải ở trần, cho may ô mới được phần may ô”
lan ra như cỏ dại, câu này chết đi câu khác lại được truyền tụng Nói rằng thiếu thốn còn quá đơn giản, phải nói sự thiếu thốn lúc ấy đã lên đến mức vượt ra ngoài sự tưởng tượng Hơn nữa, sự thiếu thốn triền miên ấy đã in sâu vào tâm lí mọi người và trở nên một cách nghĩ thường trực, nhìn bên ngoài có chút gì đó kỳ quái, thế mới đáng sợ
Về mặt sản xuất, chế độ bao cấp mang lại nhiều tai hại, nó tước đi của xã hội sự năng động và khả năng điều chỉnh tự nhiên Nhưng không chỉ có thế, tác động sâu xa mà nó để lại trong đời sống tâm lí và toàn bộ cách sống của con người cũng là điều đáng để day dứt
Tchekhov là một nhà văn Nga, rất nhạy cảm với chủ đề nỗi khổ tai hại tới phẩm chất con người Qua miệng một nhân vật, nhà văn đã khái quát: “Những kẻ đang chịu đau khổ thường ích kỷ, ác độc, thiếu tỉnh táo, nghiệt ngã và ít khả năng hiểu người khác hơn cả những người đần độn”
Xa xôi thôn Ngựa Già là tập truyện phản ánh cuộc sống thông qua
các nhân vật với những tính cách như là đặc sản của chế độ bao cấp
Người đọc sẽ khó quên hình ảnh ông Tương Bằng trong Thắp một
tuần hương, đã từng là “tấm gương trung thành liêm chính vằng vặc như
Trang 22gương treo giữa trời”, vì cuộc sống nghèo khổ, khó khăn, để có thể tồn tại và theo đuổi lí tưởng riêng của mình mà “có đài cung cấp, bán đi để nghe loa công cộng cho đỡ tốn pin”, và “ông sống chẳng mấy khi yên ổn với mọi người Vài ngày, buồn thế, tôi lại phải chứng kiến một cuộc đôi
co, thậm chí cãi cọ đến văng tục giữa ông và một đồng nghiệp Mà toàn
là chuyện nợ nần, vay mượn nhau từ đời tám hoánh nào” Trong con mắt của những người xung quanh ông là “lão bủn xỉn, có tính gian, hay thóc mách và lố bịch lắm” Khi cái ăn,mọi vật dụng trở nên thiếu thốn đến khổ sở thì suy nghĩ và trăn trở lớn nhất của con người là làm sao cho đủ cái ăn cái mặc Con người phải nghĩ tới bản thân mình trước tiên, không
có thời gian để mở lòng mình để hiểu người khác,cảm thông và yêu thương con người Không chỉ thành công khi xây dựng một tính cách nổi bật của thời bao cấp mà cuối câu chuyện người đọc cảm thấy được ấm lòng hơn khi cuối tác phẩm nhân vật “tôi” đã ân hận nhận ra rằng “bấy lâu nay tôi chỉ là một kẻ sống hời hợt, không hề biết chia sẻ, giao tiếp với đồng loại của mình” Từ nỗi ân hận day dứt ấy người đọc hoàn toàn
co thể tin vào một cuộc sống tốt đẹp hơn khi con người biết cảm thông
và đùm bọc nhau
Nhà văn Trung Quốc, Thiết Ngưng đã từng viết về một nhân vật rất
lạ rằng: “Do có thời gian bị đày xuống nông thôn và chịu cảnh rét buốt thấu xương Bà dạy mẫu giáo ở một huyện nọ nảy sinh một thói quen là lúc nào cũng lo rét, sợ rét và không đủ phương tiện chống rét; thế là đi đâu, tới cửa hàng bách hóa nào bà cũng lùng sục để mua chăn bông, rồi
về xếp cao từ nền nhà lên tận trần”
Trong truyện Cánh bướm tím, qua hồi tưởng của Thoan, hình ảnh
ông Lâm “một đời làm thợ tay nghề bậc cao,bậc lương lên tới tột đỉnh” nhưng quần áo ông không có lấy một bộ tử tế, số vải được thưởng
Trang 23ông không may đồ mà để dành “Mình già rồi, vải được thưởng để đấy,
có chết con cái còn lấy vải đó may cho chúng được , ch ứ còn đã thành quần áo rồi thì đứa nào nó chịu mặc” Những ngày tháng thiếu thốn đã làm cho ông Lâm luôn lo lắng, sợ sệt
Đồng thời với việc tác động vào tâm tính con người, những ngày bao cấp còn làm cho mối quan hệ giữa người với người biến dạng, sự biến dạng này mỗi ngày một ít đến mức người trong cuộc khó nhận ra, nhưng rồi cuối cùng vẫn hằn lên thành quy tắc rõ ràng Nếu như thời gian đầu,giữa người với người có sự chia sẻ ngọt bùi thì càng về sau (nhất là từ những năm 1975 trở đi) một lối sống nổi lên và đóng vai trò chi phối Trong cảnh nghèo rỗi rãi, người ta rất hay soi mói, để ý đồng nghiệp và hàng xóm Nghi ngờ xen lẫn ghen tị Nghi ngờ: “đói ăn vụng túng làm càn” ai cũng một lần da đến ruột, ai cũng sẵn sàng làm bậy như mình thôi Và ghen tị, ghen tị một cách tự nhiên, thậm chí không biết rằng đang làm một hành động độc ác
Trong truyện Người khổ nhất trần gian, người phụ nữ là vợ Lân
khi biết tin hàng xóm của mình là Nội được cử đi Pari công tác một nhiệm kỳ 5 năm đã ghen tỵ: “làm sao có thể vô tư khi mình thì quá khổ
mà người khác lại cứ nhơn nhơn sung sướng được!” Vợ Lân là như thế,
từ hôm được tin Nội được cử sang Pari công tác một nhiệm kỳ những 5 năm, mặt y cứ lầm lầm và hễ có dịp là y sổ ra, toàn những lời tức tưởi đố
kỵ âm ỉ sẵn ở trong lòng” người phụ nữ ấy từ cuộc sống khó khăn của mình nên trở thành người hẹp hòi, có tính ghen tỵ và thiển cận Cũng từ chuyến công tác của Nội, Ma văn Kháng đã đặt ra câu hỏi trong
truyện Ai khổ hơn ai? qua việc so sánh cuộc sống giữa hai người hàng
xóm là Nội và Lân để thấy rằng “cuộc đời còn biết bao là oái oăm bí ẩn đến quái đản”
Trang 241.2.2.2 Con người tự nhiên và con người xã hội
Đối tượng trung tâm của văn học là con người Người nghệ sĩ nhận thức
rõ bản chất con người thực tại thì mới có thể phục vụ tốt cho con người Một nhà thơ Đức đã nói: “Phương pháp sáng tác đích thực là phương pháp mang tính người đích thực” Xét trên quan điểm nghệ thuật, phương pháp ưu việt nhất - cái đứng trên mọi nguyên tắc, nguyên
lý - nội hàm của nó luôn chứa đựng sự hiểu biết về con người, tình yêu
và trách nhiệm đối với con người
Thi hào Goethe từng nói: “Phải nắm bắt được cái tối cao và là cái khó nhất trong nghệ thuật- tức là hiểu được cái cá nhân, thì mới thoát khỏi được quyền lực của tư tưởng” Thật vậy, nếu nhà văn chỉ biết tổng hòa các mối quan hệ xã hội trừu tượng mà không quan tâm đến con người trong các mối tổng hòa đó, ắt sẽ tạo nên những hình tượng người
là những sinh vật bất biến, cứng ngắt Nhà văn sẽ bước vào con đường minh họa cho những tư tưởng có sẵn, sản xuất những hình tượng nhạt nhẽo, phi hiện thực, và nếu đó là hiện thực, nó vẫn là hiện thực theo chủ nghĩa khái niệm, công thức của tư duy cũ Minh họa sẽ dễ dàng dẫn đến việc lặp lại những nhu cầu trừu tượng, từ chối những nhu cầu mới của đời sống hiện nay - những nhu cầu nhằm khẳng định và cải tạo cuộc sống Thời đại đổi mới không cho phép nhà văn thuyết giáo về một mẫu người chung chung, xa lạ đối với con người cụ thể trong đời sống Không thể cào bằng một cách đơn giản cá tính của con người Con người trong tác phẩm phải được nhà văn mổ xẻ thấu đáo, tường tận trên bình diện giai cấp lẫn thế giới sinh vật thuần túy - con người bản năng bình
thường và con người xã hội Tập truyện Xa xôi thôn Ngựa Già của Ma
văn Kháng là một tập truyện như thế, giúp người đọc hiểu đúng bản chất con người và cá nhân con người Việt Nam hiện nay
Trang 25Ma văn Kháng cho rằng: “Một con người là một cá thể hữu hạn nhưng cũng là cái vô hạn vô cùng”, tức là con người cá nhân lưỡng diện,
đa chiều luôn tồn tại hai mặt tốt xấu, con người không trùng khít với chính nó, vừa mang bản chất tự nhiên vừa chịu tác động bởi môi trường
xã hội Phản ánh sự xuống cấp về mặt nhân cách do sự đảo lộn các giá trị chuẩn của cuộc sống trong buổi giao thời Đó là sự chao đảo biến dạng những giá trị đạo đức của truyền thống gia đình, là lối sống vụ lợi, thực dụng đến trắng trợn giữa người với người Tất cả đang rơi vào hỗn tạp biến dạng khiến cho cuộc sống chao đảo bất an, con người trong xã hội
ấy, đặc biệt là những con người có tâm huyết có trách nhiệm với cuộc đời đều lâm vào bi kịch Bị chà đạp, bị vùi dập, bị rơi vào khủng hoảng niềm tin và bế tắc không lối thoát
Trong truyện Cánh bướm tím, Ma văn Kháng đã viết về cuộc
sống một gia đình khi người cha là ông Lâm qua đời sau bao hy sinh và vất vả để các con của ông khôn lớn và trưởng thành Thoan con gái út trong gia đình hồi tưởng về khoảng thời gian cha lâm bệnh nặng, nằm cấp cứu trong bệnh viện Hai người con trai và hai cô con dâu của ông mãi lo cho công việc kiếm tiền, đi lễ chùa và đi du lịch mà không thể gặp mặt cha lần cuối mà thay vào đó là những lời trách móc: “Khốn nạn thế! Tiêu chuẩn của cụ đáng lẽ phải là A1 bệnh viện cao cấp, chứ đâu có phải cái xó nhà thương bình dân ấy” Và khi biết được nguyên nhân cái chết của cụ: “ Vỡ tim! Ngu đến thế là cùng! Anh cả Lễ kêu trời trong điện thoại khi gọi cho anh hai Nghĩa Anh bảo tim cụ, động mạch vành của cụ trục trặc từ lâu, lại không chịu đi chữa, vì còn mải gây gổ, kiện tụng với thằng cha lãnh đạo nọ Dở hơi, gàn quái quá chừng Nó chẳng qua cũng
là một bãi cứt trong một đống cứt lớn ở nhà xí, thối thì thối chung chứ riêng gì cụ ngửi mà cụ uất tức Hai anh trai của Thoan nhất trí cho rằng cha Thoan là kẻ không thức thời dể thiệt thân!”
Trang 26Cuộc sống với những tranh đấu và cơm áo gạo tiền đã làm cho con người quên đi tình cảm gắn bó thiêng liêng giữa những người ruột thịt trong gia đình mà thay vào đó là những toan tính vụ lợi cho bản thân mình, ít có sự thông cảm sẻ chia Câu chuyện là lời cảnh báo của Ma Văn Kháng về tình trạng bóp méo, xáo trộn đạo lí truyền thống gia đình.
Khác với nhân vật trong Cánh bướm tím là những con người tha hóa
về nhân cách, Cố Vinh trong Cố Vinh người xứ lạ là sự tranh đấu của
giữa bản chất tự nhiên với những gò ép bản thân để trở thành con người thực thi nghĩa vụ với Thiên chúa, sau đó không thắng nổi nhu cầu của cuộc sống bản năng đã chết vô nghĩa
Là một thanh niên mới ngoài tuổi hai mươi, Cố Vinh trở thành một cha xứ với lý tưởng cao cả là đi mở mang nước chúa ở vùng đất Sa Pả với đồng bào dân tộc Mông Để làm tốt công việc của mình, Cố Vinh không quản khó khăn gian khổ, rong ruổi khắp các bản làng người Mông
“Bản nào có đám cúng để giải thoát cho người ốm đau thì dẫu xa xôi cách trở mấy, Cố cũng lần mò tới Cố trích mụn nhọt cho ông già bà cả
Cố hút đờm dãi cho trẻ sơ sinh Cho tiền bạc kẻ nghèo khó, yên ủi người hoạn nạn”
Những tận tụy của Cố Vinh cũng được trả giá xứng đáng “bây giờ sau biết bao nổ lực phi thường và thành quả trác tuyệt nọ, Cố Vinh đang sống trong tâm trạng vô cùng mãn nguyện Ngài thấy lòng thanh thản vô cùng Nhất là mỗi khi nghe thấy tiếng chuông rền Gần chục tháp chuông trong vùng cùng lên tiếng đưa hồn người vào xứ sở kinh nguyện ngày ngày” Đến đây tưởng như cuộc sống của Cố Vinh đã được an nhàn thì con người bản năng của Cố bắt đầu sống dậy Tác động đến Cố Vinh đầu tiên là “con ngựa đỏ, tên nô lệ tận tụy và cương cường sức lực của Cố” trong một lần “nổi cơn cuồng hứng bất tử khi nó gặp ngựa cái”, tiếp đó,
Trang 27đập vào mắt Cố Vinh là hình ảnh “Sùng Sử cũng như con ngựa đực, nhưng ở thế chủ động và đang triển khai hành vi tính giao thú vật của y
Y đã đè rập được một thiếu nữ Mông trên búi cây cỏ hôi Y hung hãn như thú rừng vồ được mồi Ngồi được lên bụng thiếu nữ nọ y giật tung hai vạt áo khép của cô ta Chính lúc ấy Cố Vinh cũng như mắt Sùng Sử, hai cặp mắt đồng thời nhìn thấy hai bầu vú xổng xểnh như hai cái bánh dầy trắng mịn của cô gái Riêng Cố Vinh, Cố còn được biết thêm: phụ nữ
sứ này không mang xu chiêng và nhìn sâu xuống phía bụng dưới thiếu
nữ, Cố Vinh trẻ tuổi biết thêm rằng: họ chỉ có một lớp váy che ngoài” Những điều này làm cho “mặt Cố Vinh tối sầm Óc ngài mù mịt Ngài lểu đểu quay trở lại và vội nằm úp sấp xuống tấm da bò để chẹn một sức bứt phá nhức nhối vừa bột phát từ bên trong” Và “ que diêm đã bùng cháy thành ngọn lửa thần”
Ở Cố Vinh đang có sự đấu tranh mạnh mẽ giữa bản năng tự nhiên trong người thanh niên trẻ tuổi và sự kiềm chế bản năng dục vọng của một cha xứ “ Nhiều đêm , Cố trằn trọc, quằn quại bên chăn gối” Nhưng
“cuộc sống phóng dục ở đây diễn ra thật tự nhiên Gái tắm truồng nồng nỗng bên suối cả bầy Trai gái yêu nhau là có thể dâng tặng nhau thân thể mình, và trong ngày hội phóng đãng của bản làng, bất kể ai cũng có thể làm tình với ai Khốn khổ cho Cố Vinh, ngài nhắm mắt bỏ qua, bịt tai lại không nghe cũng vô hiệu Trình diễn trong óc ngài bây giờ liên tục là cảnh tượng trai gái, đàn ông, đàn bà ái ân hành lạc Tội nghiệp cho Cố, nơi Cố nằm là một sàn gác Đêm đêm từ đó, chỉ cần mở mắt nhìn xuống
là Cố có thể tận mắt chứng kiến cuộc chung đụng nam nữ của các cặp vợ chồng”
Con người với bản năng tự nhiên trong Cố Vinh đã chiến thắng khi
“thiếu nữ Mông nọ kéo bàn tay Cố và đặt nó vào khuôn ngực ấm áp của
Trang 28mình Cố vòng tay còn lại ôm trọn tấm lưng thăn lẳn nóng hổi của người đàn bà trẻ và giọng ngài như giọng con trai Mông đang trong thời mê đắm: Em đẹp như con gà sống thiến Hồn anh ở vạt áo em, từ buổi thấy
em ở bên bờ suối Lao Chải đó, em yêu” Cuối cùng thì “Người đi cải hóa
kẻ mông muội lại bị bọn người bị coi là mông muội gieo hoang mê”
Ma Văn Kháng là nhà văn có thiên hướng nhạy cảm với những mặt trái của xã hội, không bằng lòng với thực tại xã hội, luôn nhìn cuộc sống diễn ra từ cái nhìn đối chiều, cái nhìn lật tẩy, đó cũng là một cách cảm thụ mới không kém phần sâu sắc về đời sống mà ông đã có lần nêu rõ :
“Nghệ sĩ là con người nhạy cảm Tác phẩm của họ giúp cho người đọc nhìn rõ hơn cái nguyên cớ khuất chìm của tình trạng suy đồi nhân thế”
1.2.2.3 Con người có tướng số
Nghiên cứu tập truyện vừa của Ma văn Kháng thấy xuyên suốt trang văn là những triết luận đời sống hết sức nhất quán Triết luận ấy lấy tình người, tính người và sự hồn nhiên làm mẫu số để nhà văn trò chuyện về con người và cuộc đời Các nhà văn thường miêu tả ngoại hình nói về tính cách, Ma văn Kháng thường miêu tả tướng để thể hiện tính người, tình người Bởi vì cái tính thường lộ ra ở cái tướng, nhất là những kẻ ác tính ác tâm
Trong dân gian lâu nay cũng tồn tại quan niệm “xem mặt mà bắt hình dong”, người đọc đã khá quen thuộc với việc vận dụng tướng số trong việc đoán tính cách hay số phận con người như: “Những người ti hí mắt lươn/ Trai thì trộm cắp, gái buôn chồng người", "Những người thắt đáy lưng ong, Vừa khéo chiều chồng lại khéo chăm con", "Đàn ông miệng rộng thì sang,
Đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà" Truyện Kiều của đại thi hào
Nguyễn Du cũng sử dụng nhiều câu "bắt hình dong", sau này được sử dụng rộng rãi trong đời sống khi được đem ra làm "quẻ bói" (bói Kiều) Chẳng
Trang 29hạn: Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang để chỉ người có vẻ đẹp phúc hậu, cuộc đời sẽ được an nhàn, thảnh thơi Hay: Thoắt trông nhờn nhợt
màu da, Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao, mới nghe qua đã thấy người như thế
không mấy cảm tình, khó mà sống lương thiện được
Trong tập truyện Xa xôi thôn Ngựa Già của Ma văn Kháng, tướng số
cũng được tác giả sử dụng khi thể hiện tính cách và số phận con người
Ở truyện Seo Ly kẻ khuấy động tình trường, ngay từ khi Seo Ly xuât
hiện trong truyện với sắc đẹp “đã lưu truyền và trở thành một trong những truyền kỳ đặc sắc nhất trong vùng” thì người đọc phần nào dự đoán được cho số phận của nàng,bởi thông thường “hồng nhan bạc phận” Và Seo Ly cô gái Mèo xinh đẹp đã phải sống với bao vật lộn nơi huyện lị nghèo, nàng trở thành “cái máng lợn bị tha đi đá lại” trong cuộc tranh giành người đẹp, trải qua bao cơ cực tủi nhục của đời người
Trong truyện Thắp một tuần hương, mượn lời của nhân vật Giang
tác giả đã có những phán xét chuẩn đoán về cuộc đời, số mệnh ông Tương Bằng qua tướng của ông “ Gặp ông ấy vài lần, nhìn thoáng qua là
em biết chứ Cách đây mười hai năm, ông ấy đã mổ tim Quá date rồi!
Giờ, lục phủ ngũ tạng đều đã suy Thiên quý đã hết nên râu tóc bạc cả Gân xương rã rời, đi đứng đâu con vững Anh có để ý không, ấn đường ông đã có dấu vết hôn ám Em lo ông chẳng thọ được bao lâu nữa đâu!” Giải thích cho cái nguyên cớ vì sao lại có những phán xét ấy Giang tiếp: “Anh đã nghe chuyện ông nội em và bố em chưa? Cả hai đều
mệnh thiên y, đúng giờ ngọ mỗi ngày, gọi từng người trong gia tộc đến,
xét đoán người này người nọ thọ yểu ra sao, chính xác từng ngày từng giờ Em được hưởng cái tiên thiên bẩm sinh của hai cụ, và đi vào ngành
y là theo hướng nghiệp của các cụ đấy Để em đoán vận số của ông bạn già cùng buồng với anh nhé…”
Trang 30Việc dự đoán trước cái chết của ông Tương Bằng cùng với miêu tả những chuyến đi đòi lại công lí khi sức lực đã tàn khiến cho độc giả thấy
rõ hơn quyết tâm và sức mạnh lớn lao của ông trên con đường muốn
“người ta phải xác minh lại giá trị của ông” và đấu tranh chống lại những thói hư tật xấu, sự lệch lạc về đạo đức của những con người trong thời đại mới Đưa quan niệm con người có tướng số vào trong tác phẩm Ma Văn Kháng đã góp phần không nhỏ vào thành công tác phẩm và là một nét mới trong cái nhìn về con người của ông
1.3 Nhân vật của tập truyện Xa xôi thôn Ngựa Già
1.3.1 Khái niệm nhân vật
Nhà văn Tô Hoài cho rằng: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” Quả đúng như vậy, nhân vật không chỉ là nơi bộc lộ tư tưởng, chủ thể tác phẩm mà còn là nơi tập trung các giá trị nghệ thuật của tác phẩm tự sự Thành bại của một đời văn, của một tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng nhân vật.Nhân vật trong tác phẩm văn học là hình tượng con người được xây dựng bằng các phương tiện của văn học Thực ra phạm vi nhân vật rộng hơn Nhân vật có thể là những con người được miêu tả trong tác phẩm, hay có khi chỉ hiện ra qua một đại từ nhân xưng Nhưng trong nhiều trường hợp nhân vật lại không phải là con người mà có khi chỉ là một “bông hoa” biết nói, một “con cóc” biết kiện trời, thậm chí có cả
ma, quỷ, thần, tiên nữa Những sự vật, những đồ vật này trở thành nhân vật khi được “người hóa”, nghĩa là cũng mang tâm hồn, tính cách như con người
Biểu hiện của nhân vật trong tác phẩm rất đa dạng Có nhân vật hiện ra khá đầy đặn từ ngoại hình cho đến nội tâm, từ hành động cho đến tiểu sử như trong tác phẩm tự sự Có nhân vật lại chỉ hiện ra qua
Trang 31ngôn ngữ như trong kịch bản văn học Có nhân vật lại chỉ bộc lộ qua cảm xúc, ý nghĩa như nhân vật trong tác phẩm trữ tình Lại có nhân vật không được miêu tả chân dung, ngoại hình, hành động nhưng người đọc vẫn nhận ra qua “giọng văn” như nhân vật người kể chuyện… Có nhân vật hiện ra như con người bình thường ở ngoài đời Lại có nhân vật hiện
ra với hình ảnh “ba đầu sáu tay”, “mặt xanh nanh vàng” như quỷ sứ, hay lăn tròn lông lốc như “Sọ Dừa”… Có nhân vật đơn giản chỉ là những đồ vật được nhân hóa…
Có thể nói nhân vật hiện ra muôn màu muôn vẻ Vậy làm thế nào
để nhận diện ra nhân vật? Muốn nhận diện nhân vật cần căn cứ vào đặc điểm của nó Trước hết, có thể căn cứ vào tên gọi của nhân vật Thông thường mỗi nhân vật đều có tên gọi của nó Có thể đó là cái tên riêng cụ thể nhưng cũng có khi tên gọi theo dấu hiệu nghề nghiệp, đặc điểm, giới tính, tiểu sử hay một địa điểm đặc biệt nào đó như: anh trai cày, lão nhà giàu, chàng mồ côi, chàng ngốc, chú lùn, chàng thợ săn…
Cũng có khi tên nhân vật là tên gọi những nhân vật, đồ vật đã được nhân hóa như: thỏ, rùa, bông hoa… hoặc tên gọi những nhân vật tưởng tượng: mụ phù thủy, con quỷ ba đầu sáu tay…
Tuy nhiên nếu chỉ căn cứ vào tên gọi thì có khi chưa nhận diện đúng nhân vật, cho nên sau tên gọi thường là những đặc điểm về tiểu sử, tính cách Thực ra ngay từ tên gọi một số nhân vật những đặc điểm của nhân vật đã được bộc lộ như: anh trai cày, chàng ngốc, mụ phù thủy… Các đặc điểm nghề nghiệp, tiểu sử, tính cách cho biết một cách sâu sắc hơn ý nghĩa xã hội mà nhân vật khái quát
Trong thực tiễn nhiều khi các đặc điểm tính cách đã thay cho tên gọi nhân vật như: “Kẻ thắng lợi tinh thần” (AQ), “kẻ lười biếng” (Oblomov),
Trang 32“con người thừa” (E.Onegin)… Trong nhiều tác phẩm người ta còn lấy các đặc điểm làm công thức giới thiệu nhân vật.
Nhân vật văn học có những đặc điểm khác với nhân vật của các loại hình nghệ thuật khác Trước hết do hình tượng văn học là hình tượng “phi vật thể” cho nên nhân vật của văn học là nhân vật của tưởng tượng, liên tưởng chứ không phải “hữu hình”, “nhìn thấy được” như trong điêu khắc, hội họa hay điện ảnh, sân khấu Qua ngôn từ, người đọc tưởng tưởng và hình dung nhân vật theo khả năng liên tưởng của mình Khả năng và đặc điểm liên tưởng của mỗi người không giống nhau nên nhân vật văn học được cảm nhận cũng không hoàn toàn giống nhau Mỗi người sẽ có “gương mặt” nhân vật riêng của mình
Mặt khác do hình tượng văn học là hình tượng thời gian cho nên nhân vật văn học là nhân vật quá trình Nhân vật văn học hiện dần ra trong quá trình… Muốn tiếp nhận được con người phải hồi cố, nhớ lại những gì đã xẩy ra cho nhân vật trước đó
Tóm lại, nhân vật trong tác phẩm văn học là những con người hay
sự vật mang cốt cách của con người được xây dựng bằng các phương tiện của nghệ thuật ngôn từ
Ý nghĩa của nhân vật thể hiện ở khả năng biểu đạt của nó trong tác phẩm Sáng tạo ra nhân vật, nhà văn nhằm thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và các quan niệm về các nhân vật đó trong các quan hệ xã hội Mỗi nhân vật xuất hiện sẽ là một “tiếng nói” của nhà văn về con người, về cuộc đời Đọc một nhân vật do vậy ta không chỉ hiểu một số phận, một cuộc đời mà còn hiểu ý nghĩa cuộc đời đằng sau mỗi số phận đó
Không thể đánh giá, phán xét nhân vật như những con người thật ngoài đời, mà phải đánh giá ở những khái quát nghệ thuật mà nó thể
Trang 33hiện Có như vậy mới xem xét nhân vật như là một hiện tượng thẩm mỹ chứ không phải một hoạt động xã hội học.
Sức sống của một nhân vật ngoài tính sinh động của sự miêu tả còn chính là ý nghĩa điển hình mà nó khái quát Những nhân vật xây dựng thành công và có sức sống lâu bền đều là những nhân vật có giá trị điển hình sâu sắc Đó là những nhân vật không chịu nằm yên trên trang sách mà đã bước từ trang sách ra giữa cuộc đời Đó là những nhân vật
đã làm cho tên tuổi các nhà văn trở thành bất tử
1.3.2 Các loại nhân vật trong tập truyện Xa xôi thôn Ngựa Già
Nhân vật văn học là một biểu tượng hết sức đa dạng Những nhân vật được xây dựng thành công từ xưa đến nay bao giờ cũng là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại Tuy nhiên xét về mặt nội dung tư tưởng, kết cấu, chất lượng miêu tả… có thể thấy hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại nhân vật khác nhau
Tập truyện vừa Xa xôi thôn Ngựa Già của Ma Văn Kháng với một
thế giới nhân vật hết sức phong phú, đa dạng, để có thể phân loại , chúng tôi tiến hành xem xét từ các góc độ khác nhau
1.3.2.1 Phân loại tư tưởng căn cứ vào nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật
Theo tiêu chí này có thể nói đến nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) hay phản diện (nhân vật tiêu cực)
Nhân vật chính diện là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa trong xã hội, cho cái thiện, cái tiến bộ, nhân vật phản diện là nhân vật đại diện cho lực lượng phi nghĩa, cho cái cũ, cái lạc hậu, phản động cần bị lên án
Tuy nhiên trong quá trình phát triển của nền văn học, trong mọi giai đoạn lịch sử khác nhau, việc xây dựng các nhân vật chính nghĩa hay
Trang 34phản diện cũng khác nhau Nếu như trong thần thoại chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và phản diện thì trong truyện cổ tích, các truyện thơ nôm, các nhân vật thường được xây dựng thành hai tuyến rõ rệt có tính chất đối kháng quyết liệt Ở đây hễ là nhân vật chính diện thường tập trung những đức tính tốt đẹp còn nhân vật phản diện thì hoàn toàn ngược lại.
Trong văn học hiện đại nói chung, và trong tập truyện vừa Xa xôi
thôn Ngựa Già của Ma Văn Kháng nhiều khi khó phân biệt đâu là nhân
vật chính diện, đâu là nhân vật phản diện, điều này phù hợp với quan niệm rằng hiện thực nói chung và con người nói riêng không phải chỉ mang một phẩm chất thẩm mỹ mà bao hàm nhiều phẩm chất thẩm mỹ khác nhau, cái nhìn của chủ thể đối với sự vật nhiều chiều, phức hợp chứ không đơn điệu
Những nhân vật như ông Tương Bằng trong Thắp một tuần
hương là nhân vật có bản chất tốt nhưng đó không phải là phẩm chất
duy nhất Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp - Mỹ “mấy ai mới 21 tuổi đầu mà đã đảm nhiệm nổi chức trách chủ nhiệm tỉnh bộ Việt Minh một tỉnh lớn ở đồng bằng khu Ba Hăm hai tuổi là Bí thư tỉnh ủy, chỉ huy cuộc kháng Pháp suốt một rẻo biên giới Lao Cai, Hà Giang Rồi lẫm liệt trong vai tướng soái, đứng đầu bộ tư lệnh tiểu phỉ, đập tan âm mưu gây phản loạn của hai tên đế quốc đầu sỏ Pháp - Mỹ cùng lũ chúa đất thổ ty S u ốt mười năm trai trẻ đứng vững trong cương vị chủ tịch tỉnh trong tuyến đầu chống Mỹ ở một địa bàn trọng yếu sát nách thủ đô đâu phải là ai cũng có thể đảm nhận được! Cũng có được mấy người như bác vào tuổi trung niên đã hoàn thành trọng trách nhiệm vụ đối ngoại của một đoàn thể lớn là tổ chức công đoàn.Đi nước ngoài công tác như con thoi trên khung dệt Trước đối phương gian ngoan, xảo quyệt thì
Trang 35tỉnh táo, sắc bén và vững vàng; trước cám dỗ và sa sẩy không một lời ong tiếng ve; Gương trung thành liêm chính vằng vặc như gương treo giữa trời” [19; 44] Thế nhưng khi bước ra khỏi cuộc chiến người anh hùng ấy, tấm gương sáng ấy trở thành “một lão bủn xỉn, có tính gian, hay thóc mách và lố bịch lắm” [19; 32] Là anh hùng hợp thời trong chiến tranh nhưng bước ra khỏi cuộc chiến, trở về với cuộc sống đời thường ông lạc lõng, cô đơn và “khác người” Hai tính cách, hai phẩm chất nhưng cùng tồn tại trong một con người.
Trong truyện Xa xôi thôn Ngựa Già, ông Chí miệt mài với những
nghiên cứu và những chuyến đi để đưa những nghiên cứu ấy vào ứng dụng đời sống, với mong muốn cuộc sống của bà con những nơi ông tới
sẽ ấm no hạnh phúc hơn Mặc dù các ứng dụng của ông đã bị cho là lỗi thời và không được chính quyền địa phương ứng dụng, ông vẫn miệt mài dù sức khỏe ông đã rất kém Trong con mắt hai cô con gái của ông thì “ Bố cháu bị người ta lừa mà không biết hay bố cháu tự huyễn hoặc mình như nhà quý tộc nọ?” Cùng một nỗi khổ tâm và thương cảm cho cha mình, hai cô con gái nhìn thấy hình ảnh của cha trong cuốn tiểu
thuyết Đôn Kihôtê, Nhà quý tộc tài ba xứ mantra của văn hào Miguel
De Cervantes Tây Ban Nha Nhà quý tộc đã ngoại ngũ tuần này đọc nhiều sách kiếm hiệp quá nên mắc chứng hoang tưởng, đang yên lành,
tự dưng sắm ngựa, mang khiên, mộc giáo rỉ ra đi đóng vai kỵ sĩ đánh nhau với cối xay gió, với đàn lợn vì tưởng đó là bọn tướng khổng lồ, là đội quân của lũ phù thủy, hành động rất gàn dở lố lăng, làm trò cười cho thiên hạ mà tưởng là mình đang thực hiện sứ mệnh thanh trừ mội xấu
xa, tàn bạo, bất công, phù nguy cứu khổ, phò chính trừ tà Bên cạnh đó
là ông Khái, người hàng xóm của ông thì ông Chí là “hâm hấp, dở người”, Cô giáo Loan thì vẫn thấy ông “đáng kính trọng hơn là đáng chê cười” Con người ông Chí mang những tính cách trái ngược nhưng
Trang 36thống nhất“Ông là bông hoa đức hạnh mang màu lửa, ông gàn dở mà can đảm, ông dớ dẩn mà sâu sắc, ông đáng cười mà đáng khâm phục, ông, nhà kỵ sĩ lỗi thời mà tâm hồn thánh thiện”.
Nổi bật hơn cả, làm người đọc nhớ nhiều hơn cả là hình ảnh, cô
gái Mèo Seo Ly trong Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường với “mỗi chi
tiết trên cơ thể nàng đã được đào thải, gạn lọc, chọn tuyển và bây giờ định hình như những tuyệt phẩm của tạo hóa” và “thần thái nàng quái kiệt, yêu kiều như từ huyền thoại cổ tích đi ra”, tưởng rằng nàng sẽ được sống cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn, nhưng cuộc đời của Seo Ly là những ngày vật lộn giữa cuộc đời, vật lộn với cuộc sống nơi huyện lỵ nhỏ, luôn khao khát có được cuộc sống bình yên, giản dị Thế nhưng cũng chính cô lại là người đã làm đảo lộn cuộc sống vốn bình yên nơi đây Xây dựng nhân vật với những tính các khác nhau là cái nhìn của chủ thể phức hợp nhiều chiều chứ không đơn điệu của Ma Văn Kháng.Bakhtin cho rằng: “Cần phải thống nhất trong bản thân mình vừa các đặc điểm chính diện lẫn phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao
cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc Chính vì vậy ở đây sự phân biệt chính diện và phản diện chỉ có ý nghĩa tương đối”
Để tạo nên những câu chuyện độc đáo và ý nghĩa, một tác phẩm văn học thường ít khi thiếu các nhân vật phản diện.Trong tập truyện của
Ma Văn Kháng những nhân vật này, ngoài những thói hư, tật xấu thường thấy trong xã hội thì bên cạnh đó cũng mang nhiều phẩm ch ất khác nữa
Trong truyện Cánh bướm tím, Ma Văn Kháng đã thành công khi
xây dựng hình ảnh hai cô con dâu là Bỉnh và Thìn với điểm chung là tham lam, làm việc gì cũng tính toán chi li lợi hại từ đầu đến cuối câu chuyện, luôn đặt đồng tiền cao hơn tình cảm con người Hay nhân vật
Trang 37vợ anh giáo Lân trong Người khổ nhất trần gian, người phụ nữ với “thói
ghen tỵ, tính hẹp hòi và thiển cận”, khi thấy hàng xóm là vợ chồng Nội
có cuộc sống về vật chất dư dả hơn Cùng với những thói xấu những người phụ nữ này vẫn luôn dành tình yêu thương cho chồng con mình
1.3.2.2 Phân loại dựa vào vai trò của nhân vật trong tác phẩm
Xem xét chức năng và vị trí của nhân vật trong tác phẩm, có thể chia thành các loại nhân vật: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ
Nhân vật chính là nhân vật giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và triển khai tác phẩm Ở đây nhân vật thường được nhà văn tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách nhân vật Qua nhân vật chính, nhà văn thường nêu lên những vấn đề những mâu thuẫn cơ bản trong tác phẩm và từ đó giải quyết vấn
đề, bộc lộ cảm hứng tư tưởng và tính thẩm mỹ
Seo Ly, nhân vật chính trong tập truyện trong Seo Ly, kẻ khuấy
động tình trường Chân dung một cô gái Mèo xinh đẹp được Ma Văn
Kháng miêu tả khá tỉ mỉ: “Không còn là thiếu nữ măng tơ, không còn là măng mới nhú, nụ mới hé Seo Ly đã là một thiếu phụ… môi hé mở đầy
vẻ mời mọc gợi tình” và “thần thái lại quái kiệt, yêu kiều, như từ huyền thoại cổ tích bước ra” và đặc biệt hơn ở Seo Ly “hương thơm hắt ra từ người con gái”
Xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm, là trung tâm câu chuyện, cuộc đời của nàng, sự tồn tại của nàng gắn liền với sự thay đổi của cả huyện nghèo “Người đàn bà khuấy đảo đời sống thường nhật buồn tẻ Nàng chính là thủ phạm, là kẻ khởi xướng những hành động sôi nổi và
ly kỳ của cánh đàn ông, các cuộc rình rập, theo dõi, đuổi bắt, lật mặt nhau, có nguyên cớ là đàn bà Nhờ nàng tình trường phố huyện xưa nay
Trang 38lặng tờ, uể oải bỗng như tăng đôi sinh lực, sống hoạt hẳn lên Từ nàng bắt đầu nảy sinh các cuộc đánh ghen dữ dội của cánh đàn bà Nhờ nàng đàn ông bỗng dồi dào năng lực yêu và đàn bà bỗng diêm dúa, tơ tuốt và phong tình hơn Nàng cho mọi người thấy cuốn sách vĩ đại của thiên nhiên được viết bằng các khúc ca hoan lạc Hương thơm của các chuyện trăng gió giờ đây át cả mùi đồng ruộng thanh tao bấy lâu nay được coi là chủ đề của đời sống Nàng bổ sung một khoảng trống hụt trong đời sống con người khiến cho mọi người ngộ ra điều quan trọng rằng bấy lâu nay
họ sống mà không biết mình đang sống Nhờ nàng, mọi người cảm được cái thú vui vô tận của đời sống tình dục và chốn bồng lai cực lạc của đời sống lứa đôi Nhờ nàng những kẻ dại nhất, dù trong phối cảnh tầm thường của đời sống phố huyện nhận ra mỗi ngày sống vẫn là một ngày
vàng, vậy cần phải tận dụng cho đầy đủ các phương diện”
Trong trường hợp này Seo Ly là nhân vật chính, cũng là nhân vật trung tâm trong tác phẩm Ngay từ tên gọi của tác phẩm cũng đã cho người đọc thấy được điều ấy
Qua lời kể của nhân vật tôi (Thược) hình ảnh nhân vật chính ông
Tương Bằng trong Thắp một tuần hương được tái hiện cả ở cả hiện tại
và quá khứ
“Ông Tương Bằng, hai mươi năm trước biểu hiện là một thanh niên nước Việt khôi ngô tuấn tú, ngời ngời một vẻ đẹp nam nhi” [19; 32] Từng là một gương mặt điển hình Châu Á, nhưng ông Tương Bằng của hiện tại “gầy còm, già nua, râu tóc bạc cả, gân xương rã rời, đi đứng không còn vững” Là một nhà chính trị gia, một nhà cách mạng nòi,ông nảy sinh từ cái gốc cắm vào các phong trào, các cuộc vân động
xã hội Dù chuẩn bị nhận sổ hưu, ra khỏi quỹ đạo của chức trách nhưng ông vẫn “sống theo quán tính, tự tạo hư giác cho mình mà không hay”
Trang 39Xuyên suốt câu chuyện là cuộc sống, là hoạt động, là những lý lẽ riêng và cả cái chết của ông khiến cho người đọc không khỏi suy ngẫm xót xa về cuộc đời của lão thành cách mạng, hy sinh tuổi trẻ, hạnh phúc gia đình vì cuộc cách mạng, nhưng bước ra khỏi cuộc chiến ông cô đơn lạc lõng, và khi mất “Đám tang ông lèo tèo vài chục bạn bè đồng nghiệp Càng buồn khi phải nghe một bài điếu văn nhạt nhẽo như được viết theo một khuôn mẫu có sẵn Mọi cái chết đều cô đơn Nhà cách mạng chuyên nghiệp này chết trong cô đơn hơn bất cứ ai”.
Cũng giống như Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường, truyện Cố
Vinh, người xứ lạ là tác phẩm nằm trong tập truyện mà Ma Văn Kháng
đã dùng tên của nhân vật chính, cũng là nhân vật trung tâm để đặt cho tác phẩm “Cố Vinh lừng lững một tầm vóc gấu mẹ, tuy mới ngoài tuổi
20, nhưng gương mặt đã bào giũa mọi hơi ám đối nghịch”, “Mũi ông thò
lò, mắt xanh lơ, râu cằm ông giống hình một cái chổi đót, vàng hươm mùi thuốc lá Cả thân hình đồ sộ của ông choàng một lớp vải đen thâm, lại kỳ dị thêm vì cái mũ nan trắng toát rộng như cái nấm đại”
Chuyện xoay quanh hành trình mở mang nước chúa của ông cố Vinh trẻ tuổi và cận vệ “thân tín nhất” là Sùng Sữ ở vùng miền núi Sa
Pả của đồng bàodân tộc Mông Từ đó hé lộ biết bao nguyên cớ từ sự hy sinh tưởng như lớn lao của một con người
Nhân vật chính của truyện Cánh bướm tím là ông Lâm người đã
khuất được một năm trời Cuộc đời của nhân vật chỉ được tái hiện lại trong trí nhớ của những người còn sống Xuyên suốt câu chuyện là cuộc đời của ông qua cảm nhận của các con và bạn bè, vì vậy sự hồi tưởng của mỗi người về nhân vật chính không giống nhau, truyện đã khai thác thành công nội tâm sâu kín của con người, phản ánh thành công những méo mó về đạo đức truyền thống của gia đình vì tác động của đồng tiền
Trang 40Truyện Người khổ nhất trần gian có hai nhân vật chính Lân và
Nội, với hai cuộc sống hoàn toàn trái ngược nhau “Hai người cùng sinh năm Bính Tý nhưng số phận thì hoàn toàn trái ngược nhau Ngoài 50 tuổi, kẻ thì gần như cả đời ru rú ở một xó trường trong một tỉnh lỵ hẻo lánh phía Nam chưa đặt chân tới thành phố Vinh, còn người phía Bắc chưa hề biết thế nào là bãi biển Trà Cổ đẹp nhất đất nước Một thì từng
xẻ ngang, xé dọc bầu trời, châu lục nào cũng đặt chân đến, còn các nước văn minh tiêu biểu như Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật hoặc các con rồng châu Á thì qua lại như đi chợ, thuộc vanh vách tên từng đường phố ở các thành phố lớn Một thì có lúc đã phải bán cả những cuốn sách quý đi lấy tiền đong gạo, có thời cả tuần chỉ ăn bí đỏ và lá dâm bụt, chậm lương đứt bữa là chuyện bình thường Một thì đã sống thừa mứa chứa chan giữa bao la của ngon vật lạ, giờ dửng dưng hoàn toàn với cao lương mỹ vị nghĩ đến tiệc tùng, chiêu đãi là phát chán nên phải tìm cách
thoái thác” Xây dựng hai nhân vật đối kháng nhằm đặt ra câu hỏi Ai là
người khổ hơn? Sướng hay khổ luôn là câu hỏi lớn của con người trong
xã hội đương thời
Đặc biệt hơn, Xa xôi thôn Ngựa Già tác giả dành thời gian miêu tả
khá kỹ lưỡng các nhân vật chính từ ngoại hình tới thế giới nội tâm
Ông Nguyễn Văn Chí nhân vật chính cũng chính là nhân vật trung tâm của tác phẩm: “năm nay vào tuổi 65, cao 1m72 vóc hình cân đối, da
dẻ săn seo, xương xẩu gồ ghề, cơ bắp rắn đanh, chân tay mình mẩy nổi cục nổi hòn toàn đầu mấu, va đâu cũng chẳng biết đau Mắt hình quả trám, ông có đôi lưỡng quyền lô cốt nhô cao Đặc điểm dễ nhận là vẻ hồn nhiên cố hữu biểu hiện ở đôi tai vểnh tròn như cái lá mít tuổi thơ và cái trán tóc bò liếm Thêm cái mũi lá cọ sờn buột vành Đôi chân chân cuốc mác xẻ” [19, 108]