Đặc điểm thân phận con người trong ca dao Nghệ Tĩnh

Một phần của tài liệu Thân phận con người trong ca dao nghệ tĩnh (Trang 40 - 49)

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG CA DAO

2.2. Đặc điểm thân phận con người trong ca dao Nghệ Tĩnh

Như chúng ta đã biết, người dân Nghệ Tĩnh với khí chất gân guốc, kiên cường bất khuất, tình nghĩa thủy chung….Họ là những con người có bản lĩnh vững vàng trong cuộc sống, thường xuyên vật lộn với thiên nhiên khô cằn, cay nghiệt, đã liên tục đấu tranh chống giai cấp bóc lột. Chính cuộc chiến đấu không biết mệt mỏi đó đã hun đúc, tôi luyện cho con người đất Hồng Lam trở nên cứng cỏi, gang thép, bền bỉ trong các cuộc đấu tranh. Xã hội có nhiều thay đổi, vị trí của con người cũng có nhiều thứ bậc khác nhau, có người giàu sang, có người hèn mọn… Tất cả những đặc điểm đó được phản ánh khá rõ nét qua ca dao Nghệ Tĩnh.

Người nông dân Nghệ Tĩnh trước Cách mạng tháng Tám phải chịu nhiều nỗi cực khổ, đó là thiên nhiên thời tiết khắc nghiệt, chiến tranh liên miên với nạn bóc lột, sưu thuế của bọn phong kiến, bọn giặc Tây. Họ là những người lao động chân chất, thật thà, cần cù lao động. Phát xít Nhật vào xâm lược nước ta, chúng dùng rất nhiều thủ đoạn đê tiện, độc ác, chúng bắt dân ta nhổ ngô, khoai, đậu… để trồng các loại cây chiến lược là đay và thầu dầu cho bọn chúng:

Chém cha giặc Nhật côn đồ, Bắt người cướp của tha hồ thẳng tay.

Dân ta trăm đắng ngàn cay, Thóc ăn chẳng có trồng đay trồng dầu.

Cảnh cơ cực, bần hàn của những công nhân làm việc ở các đồn điền của thực dân Pháp, đêm thao thức không ngủ được, lo sợ bao nhiêu thứ, lo mất việc, lo mất lương:

Đêm năm canh anh những âm thầm, Nửa lo mất việc, nửa nhằm mất lương.

Những khi thất bát mất mùa bà con nghèo xứ Nghệ lại tranh thủ đem cuốc, đem giỏ đi mót khoai của những nhà giàu, đây là cảnh miêu tả một đoàn người đi mót khoai:

Chiều chiều ra đứng mà ngong (trông) Cuốc cùn chộng rách đang dong ngược đồng.

Vị thế của những người dân lao động được phản ánh trong ca dao rất chân thực, đa dạng với nhiều hình thức khác nhau. Đó có thể là thân phận của những người lao động nghèo khổ, cũng có thể là số phận của những người đi ở, đi làm thuê, nô lệ… Những người này đều thuộc lớp dưới của xã hội và chịu sự quản lí của một giai cấp thống trị nào đó. Họ làm nhiều nghề khác nhau như công việc của người mõ, ngày xưa mõ làng là người đói khổ, mang thân phận hèn hạ:

- Chồng em anh đã biết chưa?

Ngồi trong cửa sổ mà đưa võng điều.

- Chồng em anh đã biết rồi,

Thắt lưng chạc (dây) lạt, chia xôi cho làng.

Vào thời kì khó khăn này, những người có ruộng thì lo sưu thuế, những người nghèo không có ruộng, hoặc do một số lí do nào đó họ phải đi ở. Vị thế của những người này ít khi được xem trọng, dù làm lụng vất vả nhưng chẳng được tôn trọng, luôn bị chủ nhà chửi mắng, khinh thường, rẻ rúng:

…Thân tôi vác cày vác bừa, Đi sớm về trưa mòn cả hai vai.

Chúa thuê tôi một quan hai, Tôi ở với chúa đã vài ba năm.

Con gà cất tiếng gáy thăm Bà chúa đang nằm ai tính công lao.

…bắt được con cá đem về nấu canh.

Xương cá thì bà để dành, Nạc bà ăn hết, đã đành chẳng cho…

Trong xã hội phong kiến, một xã hội mà quyền làm người và quyền làm chủ vận mệnh của mình không được đảm bảo thì ngang trái, bất công đến với người dân là chuyện tất yếu xảy ra. Cuộc đời của bao phụ nữ, toàn là những rủi ro tan vỡ, những hồi hộp lo âu, là những đau khổ và nước mắt, là những khinh bỉ dập vùi. Họ không có địa vị trong gia đình, trong xã hội, luôn bị kì thị, khinh miệt. Làm dâu nhà người bị mẹ chồng khinh miệt hành hạ, sai bảo như con hầu là số phận chung của những cô gái làm dâu nhà giàu:

Thân em như trái đào non, Không may số kếp lấy con nhà giàu.

Hắn coi như thể con hầu, Nửa đêm còn phải thái rau băm bèo.

Gần sáng mới được chồng yêu, Hắn vật hắn lộn như diều bắt ga (gà).

Sớm ngày quảy gánh đi ra, Vừa đói vừa mệt như ma hớp hồn.

Trong một xã hội xảy ra nhiều bất công, ngang trái, đặc điểm vị thế của mỗi người có sự phân hóa rất lớn, “kẻ ăn không hết, người làm không ra”.

Những người giàu có, thống trị thì có quyền hành bóc lột nhân dân nghèo khổ. Những kẻ nghèo hàn, cơ cực luôn phải chịu sự khinh miệt, đàn áp của bọn nhà giàu. Thân phận của những người đi ở, đặc biệt là những nàng dâu,

họ không có tiếng nói, luôn bị mẹ chồng, bố chồng, …hành hạ cả về thể xác lẫn tinh thần. Những người này đã bị tước đi tất cả những quyền mà nhẽ ra họ đáng được hưởng. Khi nhân phẩm con người bị chà đạp, tính mạng con người bị đe dọa, họ đã lên tiếng đòi quyền sống, quyền ấm no, hạnh phúc lứa đôi.

Chính những con người này lại là những con người cách mạng quả cảm, mạnh mẽ:

Gừng già càng rụi càng cay,

Anh hùng càng cực, càng dày nghĩa nhân.

Chơi cho quỷ khóc thần sầu, Dù trăm gươm múa trên đầu cũng chơi.

2.2.2. Đặc điểm khí chất con người

Xứ Nghệ được ví như Việt Nam thu nhỏ, cái gì Việt Nam có thì xứ Nghệ cũng có. Suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, Nghệ Tĩnh là vùng tự do, địch khiếp sợ không dám xâm chiếm trở lại. Trải qua các cuộc kháng chiến, đấu tranh giải phóng dân tộc, người xứ Nghệ hăng hái xung phong ra mặt trận, chiến đấu hết sức dũng cảm. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, anh hùng Phan Đình Giót đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai, chặn họng súng kẻ thù để đồng đội tiến lên. Yếu tố lịch sử - văn hóa như vậy vô hình chung khiến người xứ Nghệ tự bản thân đã mang cái tính ương ngạnh, kiêu hãnh và trịch thượng.

Với khí hậu khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi, gió lào triền miên, nắng mưa thất thường đã ảnh hưởng rất lớn đến tính cách, phong tục, nét văn hóa của con người xứ Nghệ. Đối mặt với điều kiện tự nhiên không thuận lợi là điều quen thuộc với người dân Nghệ Tĩnh ngàn đời nay. Trước thiên nhiên khắc nghiệt, họ thể hiện ý chí phi thường, lòng tự tin vô bờ, ý thức cao siêu và ước vọng cất cánh:

Trèo truông những ước truông cao Đã đi đò dọc ước ao sông dài.

Tính chất phi thường bộc lộ qua điều ước đầy chất “trạng”, sự dí dỏm, “nghịch ngược” của người Nghệ Tĩnh. Đó là những điều ước trái với lẽ thường: “trèo truông”, vượt núi hay “đi đò dọc” ngược ngàn đều là những công việc lao động nặng nhọc, những hành trình có rất vất vả, gian nan. Nếu ước truông thấp thì sự thực truông vẫn cao, đường vẫn khó. Đằng sau cách nói ngược đó là một sự điềm tĩnh, trầm lặng của tư tưởng. Người dân xứ Nghệ biết chấp nhận sự thực khách quan, bởi khó khăn gian khổ với họ là điều không xa lạ. Ý chí, nghị lực, bản lĩnh, tình cảm của con người càng trải qua khó khăn thử thách càng được tôi luyện và khẳng định.

Đó là con người với một tâm hồn rộng lớn, một tinh thần quả quyết, bền bỉ:

Cả gan vác cuốc lên rừng

Đào cho trốc núi cũng xin đừng hãi ai.

Sông sâu sào ngắn chơi vơi,

Cả gan anh chống những nơi thác ghềnh.

Những ai nói tới Nghệ Tĩnh những ngày hè, chắc đã hiểu được cái nắng Hoài Hoan giữa mùa hạn hán. Nắng lửa mùa hè thường đi liền với gió mùa Tây Nam mà bà con xứ nghệ thường gọi là gió lào. Cái nắng, cái gió ròng rã, người và gia súc uể oải, cây cối xác xơ, ngay cả đến cỏ dại, cũng héo khô.

Tuy nhiên, người dân đất Hồng Lam với tinh thần bền bỉ, cần cù, chịu khó họ đã chống chọi với thiên nhiên, để làm ra hạt gạo thật là khó khăn, vất vả:

Ba cơm bảy mắm chín cà, Sớm mưa, trưa nắng mới ra lúa này.

Người dân xứ Nghệ đã biết ý thức được cuộc sống lao động khổ cực, biết quý trọng những gì mình làm ra. Họ biết rằng chỉ có lao động mới đem

lại cho con người cái ăn cái mặc. Bao nhiêu câu ca dao ra đời trong hoàn cảnh lao động như thế. Họ hiểu quy luật ở đời, tự động viên mình và nhắc nhở người khác:

- Có làm cơm sớm cơm trưa,

Không làm thì miếng cơm thừa cũng không.

- Quan đâu đến kẻ chần ngần, Giàu đâu đến kẻ nhác mần siêng ăn.

Dù cuộc sống vô vàn gian khổ nhưng người Nghệ Tĩnh không khoanh tay cam chịu, họ truyền nhau niềm tin vào tương lai:

Sông kia khúc lở khúc bồi Con người khổ mãi thì rồi có vinh.

Họ đã đổ ra không biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và cả máu nữa để giành giật với thiên nhiên từng miếng cơm manh áo. Người dân xứ Nghệ rất căm ghét và có tư tưởng vượt nghèo, cái khổ. Với thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai khô cằn, lại là vùng biên viễn trong nhiều cuộc chiến tranh giữ nước và mở mang bờ cõi nhưng với thế núi hình sông hùng vĩ và thơ mộng nên Nghệ Tĩnh từ xa xưa đã ghi dấu là một vùng đất địa linh nhân kiệt. Trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, nước ta đã bao phen phải nhờ cậy vào sự giúp sức của các nước khác trên thế giới. Người Nghệ Tĩnh với tấm lòng yêu nước thiết tha, luôn luôn nêu cao khí tiết của mình, để đánh giặc ngoại xâm không nên ảo tưởng nhờ cậy sự hào hiệp vô tư của nước ngoài mà nên có tinh thần độc lập, tự cường, phải đoàn kết toàn dân “lấy sức ta mà giải phóng cho ta”:

Trèo lên dãy núi Hồng Lam, Tìm vài vị thuốc Việt Nam gia truyền.

Thuốc này như thể thuốc tiên, Từ vua Thái Tổ nhiều phen đã dùng.

Lá chí sĩ, rễ anh hùng,

Làm thuốc độc lập cứu cùng dân gian.

Thuốc tây đã đến cuộc tàn, Thuốc bắc cũng hiếm, ta bàn thuốc ta.

Hỡi ai ưa thuốc thì nhắc nhủ nhau ra…

Khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, chúng bóc lột đến tận xương tủy. Nhân dân xứ Nghệ đã nêu cao tinh thần kháng chiến, khơi gợi lòng yêu nước với chí căm thù giặc trong giặc ngoài:

- Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây,

Sông Lam hết nước mới hết nguồn đấu tranh.

- Hồng Hà nước đỏ như son, Chết đi thì chớ sống còn đánh Tây.

Khí chất can trường, dũng cảm, dám xả thân hi sinh, đi đầu trong phong trào cách mạng của người Nghệ Tĩnh vẫn luôn toả sáng. Khi vào Việt Nam bọn thống trị đã đưa ra những luận điệu xảo trá để lừa bịp, đe dọa. Tuy nhiên, nhân dân xứ Nghệ vẫn ung dung, bình tĩnh, hiên ngang không những không nghe mà còn biết nói những lời “dạy bảo”:

Xin đừng khoác lác loanh quanh, Gieo mầm nghi hoặc, dân lành chẳng nghe.

Trong cuộc chiến đấu ác liệt bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương, ca dao xứ Nghệ đã cho thấy người dân Nghệ Tĩnh với khí chất kiên cường. Họ đã bày tỏ thái độ sống không đội trời chung, sẵn sàng đứng dưới lá cờ của Đảng tiền phong để cứu nước, giải phóng dân tộc, đem lai hạnh phúc cho con người. Người dân nơi đây luôn ghi trong lòng một mối thù vô cùng sâu sắc đối với bọn xâm lược, coi đó là món nợ máu:

Ăn một đọi cơm, Đơm một đọi máu, Máu chi tanh tưởi máu ơi,

Mồ cha quân đế quốc đã sướng đời không bay!.

Khí chất Xô-viết không chỉ được người Nghệ Tĩnh truyền giữ trong đấu tranh với kẻ thù mà còn cả trong tinh thần hiếu học. Bản lĩnh không ngại gian khổ của những thế hệ thanh niên trên trận chiến chống đói nghèo, trong sự gắn kết cộng đồng vì mục tiêu no ấm, hạnh phúc. Người xứ Nghệ có câu: “Đi xa lại muốn về, khổ đau càng muốn về” thể hiện được tình cảm thân thiết, gắn bó của người dân vùng đất núi Hồng, sông Lam. Đó cũng chính là một trong những nét bản sắc của người Hà Tĩnh. Ở Nghệ Tĩnh, người đời trước luôn dạy người sau tin vào cái nghĩa làm người, coi trọng đạo lí hơn vật chất của cải:

Giàu mà ngốc nghếch ngu si, Đói mà biết cậu biết dì còn hơn.

Là con người sống tình nghĩa, chân thành, thẳng thắn, bộc trực, nhân dân xứ Nghệ có quan niệm rất triết lí đó là làm người sống ở đời nên tích lấy chữ “Nhân” để đức cho con cháu kẻo để lại hậu quả về sau “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”:

Cha mẹ làm việc chẳng lành, Để cho con phải lênh đênh thế này.

Người gian dối sẽ gặp người dối gian, đó là điều dĩ nhiên, là quy luật nhân quả đã được ông cha nghiệm ra từ chiều dài lịch sử:

Mướp đắng sánh với mạt cưa, Anh ni khéo lừa lại gặp ả tê (kia).

Trong tình yêu cũng vậy, người Nghệ Tĩnh luôn thẳng thắn và bộc trực, không vòng vo tam quốc mà “cứ yêu thì nói rằng yêu. Không yêu thì nói một điều cho xong”. Đó là lời của cô gái nói với chàng trai vừa như khuyên lơn nhắc nhở, lại vừa như trách móc. Còn chàng trai qua bài khuyên “Đừng tham ô lục soạn” đã cho ta thấy quan niệm về tình yêu và hạnh phúc của họ thật giản dị và đáng yêu:

Phận em con gái liệu hài Đừng tham thanh chuộng lạ Chớ tham Hán phụ hài

Đừng tham ô lục soạn vác vai…

Có nhiều đôi trai gái trên con đường tìm hiểu đến với nhau đã không được đôi bên chấp thuận. Người Nghệ Tĩnh vốn sinh ra trên mảnh đất giàu tình nghĩa, coi trọng chữ lễ, nên cô gái mới khuyên người yêu nếu thương nhau thì đừng bỏ cuộc mà cần phải làm cho cha mẹ thấu hiểu lòng mình:

- Anh ơi đi lại cho dày

Thầy mẹ không gả em bày mưu cho.

Quen nhìn thẳng vào mọi khó khăn, hiểm nghèo trong cuộc sống, người Nghệ Tĩnh đã sớm định hình một bản chất riêng: Kiên quyết đến cứng nhắc, rắn rỏi đến khô khan nhưng đời sống tình cảm của con người ở đây đối với thiên nhiên, đối với con người vẫn luôn bền bỉ, cảm động thiết tha.

Tiểu kết:

Như vậy, khí chất của người dân Nghệ Tĩnh rất kiên cường và anh dũng. Họ sẵn sàng chống chọi với thiên nhiên, đấu tranh với kẻ thù để tồn tại và phát triển, chân thật, mộc mạc nhưng đằm thắm nghĩa tình. Ca dao Nghệ Tĩnh là bức chân dung tinh thần của con người vùng văn hóa Hồng Lam với bản lĩnh cứng cỏi, bền bỉ gân guốc, trọng nghĩa khinh tài, điềm tĩnh sâu sắc, giàu khát vọng và nhiều lúc thiết tha tinh tế… Tất cả những đặc điểm đó đã tạo nên nét riêng biệt của vùng đất xứ Nghệ so với các vùng khác.

Chương 3

Một phần của tài liệu Thân phận con người trong ca dao nghệ tĩnh (Trang 40 - 49)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(85 trang)