1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi hỏi ướm trong ca dao về tình yêu đôi lứa 2 của người việt (2017)

80 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

21 CHƯƠNG 2: NHỮNG CÁCH THỂ HIỆN HÀNH VI HỎI ƯỚM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA GIAO TIẾP ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG HÀNH VI HỎI ƯỚM TRONG CA DAO TÌNH YÊU ĐÔI LỨA.. Việc nghiêncứu ngôn ngữ trong đời sốn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HÀ TRANG

HÀNH VI HỎI ƯỚM TRONG CA DAO

VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA CỦA NGƯỜI VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HÀ TRANG

HÀNH VI HỎI ƯỚM TRONG CA DAO

VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA CỦA NGƯỜI VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

TS: KHUẤT THỊ LAN

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của giảng viên – Tiến sĩ

Khuất

Thị Lan đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáotrong khoa Ngữ văn đặc biệt là các thầy cô trong tổ Ngôn Ngữ - Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong 4 năm học nói chung

và trong quá trình nghiên cứu khóa luận nói riêng

Mặc dù có nhiều cố gắng song với trình độ và kiến thức còn hạn chế củangười viết, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rấtmong nhận được sự góp ý chân thành của thầy cô và các bạn sinh viên để bàikhóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Hà Trang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả của quá trình học tập, nghiêncứu của tôi cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Ngữ văn trườngĐại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của giảng viên -

Tiến sĩ Khuất Thị Lan.

Trong quá trình làm khóa luận, tôi có tham khảo những tài liệu có liênquan đã được hệ thống trong mục Tài liệu tham khảo Khóa luận không có sựtrùng lặp với các khóa luận khác

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Hà Trang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4.1 Mục đích nghiên cứu………5

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu……….…… 5

5 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined 6 Đóng góp của đề tài 5

7 Bố cục của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

1.1.1 Khái niệm về giao tiếp 6

1.1.2 Các nhân tố của giao tiếp từ góc nhìn ngữ dụng học 7

1.1.2.1 Ngữ cảnh 7

1.1.2.2 Ngôn ngữ 10

1.1.2.3 Diễn ngôn 11

1.2 Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ 12

1.2.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ 12

1.2.2 Phân loại hành vi ngôn ngữ 13

1.2.3 Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời 14

1.2.4 Hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp 16

1.2.4.1 Hành vi ở lời trực tiếp 16

1.2.4.2 Hành vi ở lời gián tiếp 16

1.3 Hành vi hỏi và hành vi hỏi ướm trong giao tiếp của người Việt 19

Trang 6

1.3.1 Hành vi hỏi trong tiếng Việt 19

1.3.2 Hành vi hỏi ướm trong giao tiếp của người Việt 19

1.4 Bức tranh ca dao của người Việt 20

1.4.1 Tiếng nói tình cảm trong ca dao 20

1.4.2 Ca dao về tình yêu đôi lứa 21

CHƯƠNG 2: NHỮNG CÁCH THỂ HIỆN HÀNH VI HỎI ƯỚM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA GIAO TIẾP ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG HÀNH VI HỎI ƯỚM TRONG CA DAO TÌNH YÊU ĐÔI LỨA. 23

2.1 Một số cách sử dụng hành vi hỏi ướm tiêu biểu trong ca dao về tình yêu đôi lứa 23

2.1.1 Hành vi hỏi ướm để thăm dò 24

2.1.1.1 Hỏi để tiếp cận làm quen bằng cách khen 25

2.1.1.2 Hỏi ướm để tạo cớ làm quen 29

2.1.2 Hành vi hỏi ướm để bày tỏ 28

2.1.3 Hành vi hỏi ướm để khẳng định 30

2.1.4 Hành vi hỏi ướm để trách móc 32

2.1.4.1 Lời than trách chính người trong cuộc 33

2.1.4.2 Than trách do điều kiện ngoại cảnh không ủng hộ cho tình yêu 36

2.1.5 Hành vi hỏi ướm để khuyên 36

2.1.5.1 Khuyên lấy chồng 37

2.1.5.2 Khuyên lựa chọn người bạn đời cho phù hợp 38

2.2 Ảnh hưởng của các nhân tố giao tiếp đến việc sử dụng hành vi hỏi ướm

38

2.2.1 Ảnh hưởng của hoàn cảnh giao tiếp đến việc sử dụng hành vi hỏi ướm

38

2.2.2 Ảnh hưởng của mục đích giao tiếp đến việc sử dụng hành vi hỏi ướm

Trang 7

2.3 Ảnh hưởng của văn hóa giao tiếp trong việc sử dụng hành vi hỏi ướm

45

KẾT LUẬN 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 9

Trong giao tiếp thực tế cũng như trong các tác phẩm văn học, ngôn ngữgiúp bộc lộ tính cách con người, thể hiện tình cảm, cảm xúc vv Việc nghiêncứu ngôn ngữ trong đời sống cũng như trong tác phẩm văn học giúp con ngườinhìn nhận rõ hơn bản chất ngôn ngữ, bản chất thông điệp, các hành vi màngười nói, người viết gửi gắm.

Là một chuyên ngành còn tương đối mới của ngôn ngữ học miêu tả,song ngữ dụng học đã có những đóng góp quan trọng trong việc giúp conngười nhận biết các đơn vị sản phẩm của ngôn ngữ hình thành trong quá trìnhgiao tiếp bằng ngôn ngữ, đồng thời ngữ dụng học còn giúp chúng ta thấy hoạtđộng giao tiếp đã chi phối như thế nào đến cấu trúc ngôn ngữ

Ca dao là một thể loại của văn học dân gian mang tính cộng đồng dântộc do tầng lớp bình dân sáng tác Đã có rất nhiều những nghiên cứu lớn nhỏ

về ca dao dưới nhiều góc độ tiếp nhận như lịch sử, văn hóa, cấu trúc ngôn từ,phép tu từ trong ca dao vv… Đối với Ngữ dụng học, mảng nghiên cứu về cadao dưới cái nhìn của chuyên ngành này đã và đang được các nhà nghiên cứukhám phá

Đặc biệt, hiện nay, mảng ca dao dân ca chiếm số lượng tương đối trongchương trình ngữ văn ở các cấp học Nó không chỉ cung cấp những tri thức vềvăn hóa, lịch sử, xã hội cho học sinh mà còn là những nét đẹp văn hóa mà tacần bảo tồn và gìn giữ Đi đôi với việc tích hợp trong giảng dạy thì nghiên cứu

về ca dao dưới cái nhìn của ngữ dụng học là một điều cần thiết

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn ca dao làm đối tượng nghiêncứu Tuy nhiên vì phạm vi của ca dao rất rộng và các vấn đề liên quan tớingôn ngữ rất phong phú và đa dạng nên trong phạm vi của một khóa luận tốt

nghiệp, chúng tôi xác định đề tài là “Hành vi hỏi ướm trong ca dao về tình yêu đôi lứa

Trang 10

của người Việt” Hành vi hỏi ướm trong ca dao là một đề tài mới mẻ và đầy

thú vị, hứa hẹn sẽ đóng góp những phát hiện mới về ngôn ngữ dưới góc nhìnngữ dụng học.Với việc triển khai đề tài này, chúng tôi mong muốn góp thêmtiếng nói của mình khi nghiên cứu một loại hành vi ngôn ngữ đặc biệt bêncạnh những công trình nghiên cứu về các hành vi ngôn ngữ đã có

2 Lịch sử vấn đề

Ca dao dân ca được sưu tầm, biên soạn và nghiên cứu từ rất sớm rấtnhiều những công trình nghiên cứu lớn, nhỏ về thể loại này Người ta nghiêncứu về ca dao với các góc độ có thể tìm hiểu, khám phá được như: kết cấu,ngôn ngữ, thể thơ, không gian, thời gian nghệ thuật…Song tùy vào từng lĩnhvực nghiên cứu, mục đích của từng bài viết viết mà các tác giả đi vào khaithác những vấn đề ấy theo những cách thức và mức độ khác nhau

Trong những năm gần đây các nhà nghiên cứu có xu hướng đi vào tìmhiểu ca dao dưới góc độ thi pháp, góc độ ngôn ngữ và góc độ văn hóa còndưới góc độ của ngữ dụng thì chưa được quan tâm và chưa có công trìnhnghiên cứu chuyên sâu

- Từ góc độ thi pháp: Trần Thị Kim Liên có công trình nghiên cứu về

“Cách sử dụng từ xưng hô trong ca dao tình yêu” Trong bài viết này tác giả

đã chỉ ra các cung bậc tình cảm thể hiện qua một số cặp từ xưng hô: anh – cô;anh – nàng; anh – em và một số phương tiện xưng hô khác Trong đó tác giảđặc biệt chú ý đến sự khác nhau ở cách dùng các đại từ xưng hô trong ca daotình yêu ba vùng Bắc, Trung, Nam

Về thời gian nghệ thuật, Trần Thị An trong bài viết “Về một phương diện nghệ thuật của ca dao tình yêu” cho rằng: “thời gian là một vấn đề được tác giả dân gian quan tâm trong mảng ca dao tình yêu” và “đặc điểm bao trùm của dòng thời gian trong ca dao tình yêu là tính ước lệ”, ước lệ

ở “những công thức thời gian”, ở “cách tính thời gian”.

Trang 11

- Từ góc độ ngôn ngữ: Tìm hiểu ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học,chúng tôi chỉ tìm thấy có một số bài viết và công trình nghiên cứu sau: Bài

“Ngôn ngữ ca dao Việt Nam” của Mai Ngọc Chừ, đăng trên tạp chí Văn học

số 2, 1991 Bài viết đã có cái nhìn khái quát về ngôn ngữ ca dao Tác giả chorằng “Ngôn ngữ ca dao đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời nhấtcủa tiếng Việt: nó có cả những đặc điểm tinh tuý của ngôn ngữ văn học đồngthời nó còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình có hiệu quả của ngôn ngữ chung,ngôn ngữ hội thoại vào một loại ngôn ngữ truyền miệng Chính sự kết hợpgiữa ngôn ngữ nói, ngôn ngữ hội thoại với ngôn ngữ văn học tạo nên nhữngđặc điểm riêng biệt độc đáo của ca dao.” Cách thức mà ca dao dân ca sử dụng

để tạo nên vẻ riêng biệt, độc đáo là sử dụng các biện pháp tu từ

Việc nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ nói chung và hành vi ngôn ngữnói riêng là một trong những nội dung cơ bản của Ngữ dụng học Những nămgần đây xuất hiện khá nhiều luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ, những bài đăng trên tạpchí Ngôn Ngữ bàn về vấn đề hành vi ngôn ngữ hỏi Cụ thể

* Tác giả Bùi Minh Toán có bài viết tìm hiểu “Từ loại Tiếng Việt vàkhả năng thực hiện hành vi hỏi” đăng trên tạp chí ngôn ngữ số 2 năm 1996 Ởđây tác giả chỉ ra trong tiếng Việt có từ loại có chức năng chuyên biệt dùng đểhỏi và có từ loại có không chức năng chuyên biệt dùng để hỏi mà có chứcnăng

khác

* Tác giả Vũ Thị Mến trong khóa luận tốt nghiệp năm 2007 đã tìm hiểu:

“Hành vi hỏi trong hội thoại của một số truyện ngắn Nam Cao” Tác giả đã đivào khảo sát và phân tích các hành vi hỏi được nhà văn Nam Cao sử dụngtrong một số truyện ngắn của mình

- Từ góc độ văn hóa: Bài “Ngôn ngữ của người Nam Bộ trong ca dân ca”, tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 6,1999 của Nguyễn Thế Truyền và

dao-“Một số đặc điểm ngôn ngữ của ca dao dân ca Nam Bộ”, tạp chí Ngôn ngữ số

Trang 12

dao dân ca Nam Bộ Đây có thể xem là những thành tựu ban đầu về nghiêncứu văn hóa và ngôn ngữ địa phương qua ngôn ngữ ca dao Trong công trìnhnghiên cứu Thi pháp ca dao (1993), Nguyễn Xuân Kính dành một phần nghiêncứu sâu về các từ chỉ tên đất, tên người và cách dùng số từ trong ca dao Tácgiả chỉ ra xu hướng dân gian và xu hướng thuần Việt trong cách sử dụng lớp

từ đó

Cho đến nay có rất ít công trình nghiên cứu về ngữ dụng của hành vihỏi ướm trong ca dao tình yêu một cách chuyên biệt Vì vậy, chúng tôi sẽ cốgắng tìm hiểu vấn đề này Trong khóa luận của chúng tôi, những công trìnhnghiên cứu nêu trên sẽ là những cơ sở lí thuyết, lí luận quan trọng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là hành vi hỏi ướm và các cách thểhiện hành vi hỏi ướm trong ca dao về tình yêu đôi lứa của người Việt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này được nghiên cứu trong phạm vi những bài ca dao viết về tình

yêu đôi lứa trong cuốn “Kho tàng ca dao của người Việt” của Nguyễn Xuân

Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên, (2001) Nxb Văn hóa- thông tin, Hà Nội

Tư liệu này gồm 4 tập

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của khóa luận là đi sâu tìm hiểu về hành vi hỏi ướm trong cadao Bằng việc thực hiện khóa luận này, chúng tôi mong muốn tìm hiểu cácnội dung liên quan tới hành vi hỏi ướm trong ca dao viết về tình yêu đôi lứacủa

người Việt như: những cách thể hiện hành vi hỏi ướm trong ca dao về tình yêu

và những ảnh hưởng của văn hóa giao tiếp tới việc sử dụng hành vi hỏi ướm

Từ đó thấy được một nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của người Việt xưa thôngqua loại hình văn chương

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 13

Từ việc tìm hiểu về cơ sở lý luận chung của ca dao và hành vi hỏi ướmtrong tiếng Việt, khóa luận có nhiệm vụ làm sáng tỏ về: những cách thể hiệnhành vi hỏi ướm trong ca dao về tình yêu và những ảnh hưởng của văn hóagiao tiếp tới việc sử dụng hành vi hỏi ướm.

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Giúp cho việc đọc hiểu ca dao; tìm ra đặc trưng, phong cách ca dao

7 Bố cục của khóa luận

Khóa luận này của chúng tôi gồm ba phần:

- Phần mở đầu

- Phần nội dung:

+ Chương 1: Cơ sở lí luận

+ Chương 2: Những cách thể hiện hành vi hỏi ướm và ảnh hưởng của văn

hóa giao tiếp đến việc sử dụng hành vi hỏi ướm trong ca dao về tình yêu đôi

lứa.

- Phần kết luận

NỘI DUNG

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Một số vấn đề chung về giao tiếp

1.1.1 Khái niệm về giao tiếp

Giao tiếp là nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống con người Nó

diễn ra thường xuyên ở mọi nơi, mọi lúc bởi vì “không ai có thể sống cô độc,

lẻ loi mà không cần giao tiếp với người khác” [3; tr.7] Nhờ giao tiếp mà con

người trở nên gần gũi, thấu hiểu nhau hơn Giao tiếp là hoạt động tiếp xúcgiữa người với người trong xã hội nó diễn ra sự trao đổi thông tin, sự trao đổinhận thức, tư tưởng, tình cảm và sự bày tỏ mối quan hệ, sự ứng xử, thái độgiữa người với

người và với những vấn đề giao tiếp

Hàng loạt định nghĩa về giao tiếp đã được đưa ra A.Leongciev khái

quát: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ đảm bảo tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lí và sử dụng phương tiện đặc thù mà trước hết là ngôn ngữ”.

Parghin lại đưa ra định nghĩa như sau: “Giao tiếp là một quá trình quan hệ, tác động giữa các cá thể, là quá trình thông tin giữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổi cảm xúc lẫn nhau”

Nhìn từ góc độ ngữ dụng học, GS.TS Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa về

giao tiếp như sau: “Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin (bao gồm cả tri thức, tình cảm, thái độ, ước muốn, hoạt động…) giữa ít nhất hai chủ thể giao tiếp (kể cả trường hợp một người giao tiếp với chính mình) diễn ra trong một ngữ cảnh và tình huống nhất định bằng hệ thống tín hiệu nhất định” [1, tr.23] Trong giao tiếp lời nói và hành động là các yếu tố quan

trọng

Trang 15

Với rất nhiều định nghĩa được đưa ra, để tìm một định nghĩa hoànchỉnh về giao tiếp quả thật không đơn giản Bởi, mỗi nhà nghiên cứu, vớinhững

Trang 16

mục đích nghiên cứu khác nhau, sẽ đề xuất những định nghĩa và mô hìnhgiao tiếp khác nhau Tuy nhiên, theo chúng tôi, giao tiếp được hiểu là:

“Hoạt động mà người nói dùng ngôn ngữ để truyền đạt cho người nghe những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình về một thực tế khách quan nào đó để người nghe có hành động với thực tế như người nói mong muốn”.

1.1.2 Các nhân tố của giao tiếp từ góc nhìn ngữ dụng học

Nhân tố giao tiếp là nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp và chi phốicuộc giao tiếp đó

Theo các nhà ngôn ngữ học thì có nhiều nhân tố giao tiếp khác nhautham gia vào hoạt động giao tiếp nhưng ở đây chúng tôi chỉ chọn phân tíchcác nhân tố được nhắc đến phổ biến, có mặt thường xuyên và chi phối trực

tiếp hoạt động giao tiếp của con người đó là: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn.

Về vai giao tiếp: trong một cuộc giao tiếp có sự phân vai: vai phát ra

diễn ngôn tức là vai nói (viết), kí hiệu bằng Sp1 (speaker 1) và vai tiếp nhậndiễn ngôn, tức nghe (đọc), kí hiệu bằng Sp2 (speaker 2) Trong cuộc giaotiếp nói, mặt đối mặt, hai vai nói, nghe thường luân chuyển, Sp1 sau khi nóixong chuyển thành vai nghe Sp2 và ngược lại Sự thực thì vai nói, nghekhông hề đơn giản

Trang 17

Về quan hệ liên cá nhân: quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát, nhận trong giao tiếp “Quan hệ liên cá nhân

Trang 18

là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau” [1; tr.17] Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến

trình giao tiếp, cả nội dung và hình thức của diễn ngôn

b Hiện thực ngoài diễn ngôn: Trừ nhân vật giao tiếp, tất cả những yếu

tố vật chất, xã hội, văn hóa… có tính cảm tính và những nội dung tinh thầntương ứng không được nói đến trong diễn ngôn của cuộc giao tiếp được gọi

là hiện thực ngoài diễn ngôn (đối với ngôn ngữ thì là hiện thực ngoài ngôn

ngữ)

Tuy gồm cả những yếu tố vật chất và tinh thần nhưng hiện thực ngoàidiễn ngôn phải được nhân vật giao tiếp ý thức Khi đã trở thành những hiểubiết của những người giao tiếp (và của những người sử dụng ngôn ngữ) thì

hiện thực ngoài diễn ngôn hợp thành tiền giả định bách khoa hay tiền giả định giao tiếp của diễn ngôn.

Nhân tố hiện thực ngoài diễn ngôn gồm các bộ phận sau:

Hiện thực – đề tài của diễn ngôn Thế giới khả hữu và hệ quy chiếu:

khi giao tiếp các nhân vật giao tiếp dùng diễn ngôn của mình để “nói” vềmột cái gì đó Cái được nói tới là hiện thực – đề tài của diễn ngôn Thuộchiện thực – đề tài diễn ngôn trước hết là những cái tồn tại, diễn biến tronghiện thực ngoài ngôn ngữ và ngoài diễn ngôn Cũng được xem là hiện thựcngoài ngôn ngữ, ngoài diễn ngôn những cái thuộc tâm giới của con ngườinhư một cảm xúc, một tư tưởng, một ý định… Hiện thực – đề tài của diễnngôn còn là bản thân ngôn ngữ Đề tài diễn ngôn là một mảng trong hiệnthực ngoài diễn ngôn được các nhân vật giao tiếp (người nói, người nghe:Sp1, Sp2) thỏa thuận lấy làm đối tượng để trao đổi trong cuộc giao tiếp đó

Chúng ta có thể xác định lại khái niệm hiện thực – đề tài, thế giới khảhữu, thế giới thực tại, hiện thực ngoài diễn ngôn ngữ và quan hệ giữa chúngnhư sau: Thế giới khả hữu là những dạng thức tồn tại của hiện thực, cùngvới

Trang 19

thế giới thực tại chúng ta đang sống hợp thành hiện thực ngoài diễn ngôn.

Hoàn cảnh giao tiếp

- Hoàn cảnh giao tiếp rộng: Bao gồm toàn bộ những hiểu biết về hoàn

cảnh địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa, chính trị, tôn giáo…chung của dân tộccủa đất nước thậm chí của cả thế giới vào thời điểm và ở không gian đangdiễn ra cuộc giao tiếp Tất cả những hiểu biết trên tạo thành tiền giả định báchkhoa và nó được huy động một cách khác nhau tùy theo các nhân vật giao tiếp

và tùy theo từng cuộc giao tiếp cụ thể Cuộc giao tiếp chỉ có thể được tiếnhành khi các nhân vật giao tiếp có chung một lượng tiền giả định nào đó

Chẳng hạn cuộc giao tiếp trong bài viết ca dao sau:

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

Đan sàng thiếp cũng xin vâng Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng?

Để có thể tiến hành cuộc giao tiếp thì cô gái và chàng trai đã phải cóchung một lượng tiền giả định bách khoa nào đó Trước hết để có thể đáp lờichàng trai thì cô gái phải có hiểu biết về công việc đan lát giần sàng Nhưngchàng trai đâu có ý định hỏi công việc đan sàng vào một đêm trăng thanh nhưthế, và cũng đâu cần xưng hô thân mật, trang nhã như vậy: anh – nàng Chắchẳn cô gái phải hiểu ẩn ý của chàng trai cũng như hiểu cách sử dụng ngôn ngữcủa người bình dân vốn kín đáo, tế nhị nhất là trong cách bày tỏ tình cảm nên

cô nhanh nhạy đáp lại một cách hết sức khôn khéo, ý nhị mà không kém phầnthông minh Và người đọc để hiểu tình ý trong bài viết ca dao trên thì cũngcần phải có một lượng tiền giả định bách khoa tương tự mà các nhân vật giaotiếp đó đã sử dụng để tạo ra chúng

Bên cạnh hoàn cảnh giao tiếp rộng, ta còn có hoàn cảnh giao tiếp hẹp mà

Đỗ Hữu Châu gọi là thoại trường và ngữ huống

Trang 20

- Thoại trường (hoàn cảnh giao tiếp hẹp): một cuộc giao tiếp phải diễn

ra trong một không gian cụ thể ở một thời gian cụ thể Thoại trường được hiểu

là cái không – thời gian cụ thể ở đó các cuộc giao tiếp diễn ra Không – thờigian thoại trường là không gian có những đặc trưng chung, đòi hỏi người taphải xử sự, nói năng theo những cách thức ít nhiều cũng chung cho nhiều lầnxuất hiện

- Ngữ huống giao tiếp: quan hệ liên cá nhân, các tiền giả định bách

khoa, thoại trường của một cuộc giao tiếp không phải nhất thành bất biến đốivới cuộc giao tiếp Những yếu tố của các nhân tố, nhân vật giao tiếp, của hiệnthực ngoài diễn ngôn thay đổi liên tục suốt quá trình giao tiếp Tác động tổnghợp của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh ở từng thời điểm của cuộc giao tiếp làcác ngữ huống của cuộc giao tiếp Thông qua ngữ huống mà ngữ cảnh chiphối diễn ngôn Sự thay đổi của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh phải được nhữngngười đang giao tiếp ý thức thì mới được gọi là ngữ huống

1.1.2.2 Ngôn ngữ

Tất cả các cuộc giao tiếp đều phải sử dụng một tín hiệu làm công cụ.Trong trường hợp giao tiếp bằng ngôn ngữ thì hệ thống tín hiệu là các ngônngữ tự nhiên Các phương diện sau đây của ngôn ngữ tự nhiên sẽ chi phối diễn

ngôn Đường kênh thính giác và kênh thị giác của ngôn ngữ: ngôn ngữ tự

nhiên

là ngôn ngữ co đường kênh cơ bản là đường kênh thính giác Về sau, cùng với

sự phát triển của xã hội, ngôn ngữ có đường kênh thị giác Từ đó, diễn ngôn

có hai dạng thức: diễn ngôn nói (miệng) và diễn ngôn viết

Các biến thể của ngôn ngữ: biến thể chuẩn mực hóa, biến thể phương ngữ địa lí và phương ngữ xã hội, ngữ vực và phong cách chức năng Khác với

tất cả hệ thống tín hiệu giao tiếp thông thường khác mà tính đồng nhất (cónghĩa là không có các biến thể) là chủ đạo, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu chỉtồn tại và hành chức trong những biến thể nhất định Ngôn ngữ chuẩn mực(tiếng Việt

Trang 21

chuẩn mực) là một biến thể của những biến thể đó Ngôn ngữ chuẩn mực baogồm những đơn vị từ vựng, kể cả các ngữ cố định, các kết cấu cú pháp, cáccách phát âm được toàn thể một cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận, cho là đúng.Phương ngữ địa lí bao gồm cách phát âm, các đơn vị từ vựng và một số nhữngkết cấu cú pháp được sử dụng ở những địa phương nhất định trong một quốcgia Phương ngữ xã hội là những biến thể chủ yếu bao gồm các đơn vị từ vựng

và một số quán ngữ, một số kiểu kết cấu được sử dụng trong một cộng đồng

xã hội theo nghề nghiệp, theo hoạt động khoa học, nghệ thuật, tôn giáo…thậm chí trong cộng đồng của những người sinh sống ngoài vòng pháp luật.Ngữ vực là một biến thể của ngôn ngữ theo các hoàn cảnh xã hội như: Tư

pháp, báo chí, tự nhiên… Trong nhiều tác phẩm ngôn ngữ, hai thuật ngữ ngữ vực và phong cách dùng đồng nghĩa với nhau.

Loại thể: là những biến thể sử dụng của các diễn ngôn Loại thể đã khởi

động tâm lí tiếp nhận và quy tắc thuyết giải diễn ngôn theo loại thể khi gặpnhững diễn ngôn được viết theo một loại thể nào đó

1.1.2.3 Diễn ngôn

Để hiểu thế nào là diễn ngôn chúng ta cần phân biệt được 3 thành phần:câu, phát ngôn và diễn ngôn

Câu là đơn vị cú pháp quen thuộc, được xem là lớn nhất của ngữ pháp

tiền dụng học Câu có hai mặt: trừu tượng và cụ thể Câu trừu tượng là những

mô thức kết học do các đơn vị từ vựng trừu tượng kết hợp với nhau theonhững quy tắc chủ yếu là tuyến tính Về mặt cụ thể, các câu trừu tượng sẽ làmđầy bởi các đơn vị từ vựng cụ thể

Phát ngôn: Một câu được làm đầy bằng những đơn vị từ vựng cụ thể có

thể được dùng ở những ngữ cảnh khác nhau, nhằm nhiều đích khác nhau Lúcnày, câu là phát ngôn

Diễn ngôn: Là bất kì một dải nói và viết nào của ngôn từ được cảm nhận

Trang 22

là tự nó đã hoàn chỉnh (Michael Hoey) Diễn ngôn là đơn vị lớn hơn câu, lớnhơn một phát ngôn nó có thể do một phát ngôn hoặc vô số phát ngôn hợp lại.Diễn ngôn phải có tính mạch lạc, nghĩa là nó phải có đề tài, chủ đề chung,giữa các phát ngôn trong một phát ngôn phải có quan hệ về hình thức và nộidung trong một cuộc giao tiếp Là thuật ngữ chung cho tất cả các đơn vị lờinói, tùy theo đường kênh hay dạng ngôn ngữ được sử dụng chia thành hai loạidiễn ngôn: diễn ngôn nói và diễn ngôn viết.

1.2 Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ

1.2.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ

John.L.Ausstin - nhà triết học người Anh, là người đầu tiên xây dựngnền móng cho lí thuyết về hành vi ngôn ngữ Sau khi ông mất, những chuyên

đề ông trình bày ở Trường Đại học Tổng hợp Havrard được tập hợp lại xuấtbản thành sách có nhan đề “How to do things with word” (Chúng ta làm gì khichúng ta nói) Sau đó lí thuyết này được nhà ngôn ngữ J.R Searle nghiên cứuhoàn chỉnh với công trình Speech Acts (Hành động ngôn ngữ)

Ở Việt Nam, các tác giả Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân đã nghiêncứu về hành động ngôn ngữ dựa trên cơ sở lí luận của John.L.Ausstin, J.R.Searle và trình bày khái niệm về hành vi ngôn ngữ như sau:

Theo Đỗ Hữu Châu: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C” [1, tr.88].

Trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, hành vi ngôn ngữ

được định nghĩa như sau: “Một đoạn lời nói có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu - ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm – âm học

mà người

Trang 23

nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó” [6, tr.107]

Vậy hành vi ngôn ngữ là hành động nói năng của con người Con người

sử dụng ngôn từ để giao tiếp nhằm một mục đích nào đó và loại hành độngnày là hành động mang tính chất xã hội

1.2.2 Phân loại hành vi ngôn ngữ

Austin cho rằng hành động ngôn ngữ gồm ba loại lớn: hành vi tạo lời(acte locutoire), hành vi mượn lời (acte perlocutoire), hành vi ở lời (acteillocutoire), trong đó hành vi ở lời là đối tượng chính của việc nghiên cứu theohướng ngữ dụng học

Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ,các kiểu kết hợp từ thành câu…để tạo ra hình thức và nội dung một phát ngôn.Nhờ hành vi tạo lời này mà có thể tạo ra nhiều phát ngôn có nghĩa

Hành vi mượn lời là những hành vi mượn các phương tiện ngôn ngữ,nói đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả tâm lí hay vật língoài ngôn ngữ nào đó của người nghe, người nhận hay của chính người nói

Ví dụ 1: Khi giáo viên thông báo tới học sinh: “Chiều nay cả lớp đi laođộng” Phát ngôn này nói ra sẽ gây những phản ứng khác nhau như: một sốhọc sinh vui vì đó là một cơ hội để được đi chơi, một số học sinh buồn vì sẽkhông đi học thêm được…

Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng.Hiệu quả của chúng là gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúngcủa

người tiếp nhận ngôn bản Đích của hành vi ở lời khác với hành vi mượn lời ởchỗ là đích của hành vi ở lời được gọi là đích ở lời và nếu đích này được thoảmãn thì ta có hiệu quả ở lời Hiệu quả ở lời được thể hiện bằng lời hồi đáp củangười tiếp nhận phát ngôn

Ví dụ

Trang 24

Em về thưa mẹ cùng thầy

Có cho anh cưới tháng này anh ra Anh về thưa mẹ cùng cha Bắt lợn sang cưới, bắt gà sang cheo.

Trong phát ngôn trên, Sp1 thể hiện hành vi cầu khiến sai khiến bạn tình

về thưa lại với cha mẹ có cho cưới thì tháng này anh ra Qua đó Sp1 thể hiệntình cảm muốn được kết hôn với người yêu Khi nghe Sp1 bày tỏ tình cảmchân thật của mình thì Sp2 đã đồng ý bằng cách bảo chàng trai về nhà thưavới mẹ cha, bắt lợn sang cưới, bắt gà sang cheo Vậy hiệu lực ở lời phát ngôncủa Sp1 đã được Sp2 chấp nhận

Ngoài ra, O.Ducrot cho rằng: Hành vi ở lời khác hành vi tạo lời và hành

vi mượn lời ở chỗ là chúng có thể thay đổi tư cách pháp nhân của người thamgia hội thoại Người nói và người nghe buộc đặt vào nghĩa vụ và quyền lợimới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành vi ở lời đó

Vậy hành vi mượn lời và hành vi ở lời đã đem lại cho phát ngôn nhữnghiệu lực nhất định Nhưng ngữ dụng học chỉ quan tâm tới hiệu lực ở lời củangôn ngữ mà thôi Tuy nhiên thực tế sử dụng thì các hành vi tạo lời, hành vimượn lời, hành vi ở lời đều được kết hợp đồng thời và thống nhất

Với đề tài nghiên cứu Hành vi hỏi ướm trong ca dao về tình yêu đôi lứa của người Việt, khóa luận này chỉ tập trung nghiên cứu về hành vi ở lời 1.2.3 Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời

Hành vi ở lời là một hành động xã hội Đây là loại hành vi không đượcthực hiện một cách tùy tiện mà phải tuân thủ một số điều kiện nhất định

GS Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó” [1, tr.111]

Austin cho rằng các điều kiện hành vi ở lời là các điều kiện “may mắn”,

Trang 25

nếu chúng đảm bảo thì hành vi mới “thành công”, đạt hiệu quả J Searle đãtiếp thu, điều chỉnh và bổ sung các điều kiện “may mắn” của Austin, gọi đó làđiều kiện sử dụng hay điều kiện thoả mãn.

Có tất cả bốn điều kiện, mỗi điều kiện được biểu hiện khác nhau tuỳtheo phạm trù, loại và từng hành vi ở lời cụ

thể

a Điều kiện nội dung mệnh đề là chỉ ra bản chất nội dung của hành vi.Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản hay một hàm mệnh đề.Nội dung mệnh đề có thể là một hành động của người nói hay của ngườinghe

b Điều kiện chuẩn bị: Là những hiểu biết của người phát ngôn về nănglực, lợi ích, ý định của người nghe và các quan hệ của người nói và ngườinghe c Điều kiện chân thành: Là những điều kiện chỉ ra các trạng thái tâm lítương ứng của người phát ngôn Nghĩa là khi đưa ra một phát ngôn ngườinói thực sự chân thành với hành động ngôn ngữ và mong đợi hiệu quả củahành vi ở lời mà họ thực hiện

d Điều kiện căn bản: Là những điều kiện đưa ra trách nhiệm bị ràngbuộc của người nói và người nghe khi hành vi ở lời đó được phát ra Tráchnhiệm này có thể là những hành động sẽ được thực hiện hoặc đối với tínhchân thực của nội dung Phân tích cụ thể ví dụ sau đây, ta sẽ thấy rõ sự thểhiện của các

điều kiện vừa trình bày

Ví dụ:

Rèm voi em đã chống rồi Mời chàng nho sĩ vào ngồi thong dong

Có lòng tưởng đến khách nhân Khoan thai rồi sẽ bước chân vào ngồi.

Trang 26

Điều kiện chuẩn bị: Giữa Sp1và Sp2 có mối quan hệ tình cảm nam nữ.Sp1 đưa ra lời nói mong muốn Sp2 chấp nhận lời mời của mình Nếu Sp1

không

Trang 27

đưa ra lời mời thì cả Sp1 và Sp2 sẽ không chắc rằng Sp2 tự thực hiện hànhđộng bất kể lúc nào.

Điều kiện chân thành: Sp1 mong muốn lời mình đưa ra được chấpnhận Điều kiện căn bản: Khi Sp1 nói ra thì tạo ra mối ràng buộc giữa haingười, buộc Sp2 phải có trách nhiệm với lời mời của Sp1 Thế nên khi nghelời mời của Sp1, thì Sp2 đã trả lời đáp lại, chấp nhận lời mời

Tóm lại để nhận biết được hành vi ở lời thì phải dựa vào các điều kiện

sử dụng hành vi ở lời Nhờ vào điều kiện sử dụng hành vi ở lời mà có thểnhận biết và phân biệt được hai loại hành vi ngôn ngữ: hành vi ngôn ngữ trụctiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp

1.2.4 Hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp

1.2.4.1 Hành vi ở lời trực tiếp

George Yule đưa ra quan niệm: “Chừng nào có mối liên h ệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng, thì ta có một hành động nói trực tiếp”.

Đồng ý kiến với quan niệm của Yule, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đưa ra

nhận định: “Han ̀ h động ngôn ngữ trực tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng” [2, tr.390]

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, hành vi ở lời trực tiếp là “những hành vingôn ngữ được thực hiện đúng với đích ở lời, đúng với điều kiện sử dụng củachúng” [1, tr.145]

1.2.4.2 Hành vi ở lời gián tiếp

Trang 28

ngữ gián tiếp được gọi là hành vi ở lời gián tiếp.

Austin là người khởi xướng nghiên cứu hành vi ở lời gián tiếp Searle vànhiều nhà ngôn ngữ trên thế giới tiếp tục hướng nghiên cứu này, đã đi sâu vàlàm sáng tỏ thêm nhièu vấn đề Quan niệm của Searle, một hành vi ở lờiđược thực hiện gián tiếp thông qua một hành vi ở lời khác sẽ được gọi làhành vi ở lời gián tiếp

Goerge Yule cho rằng: Chừng nào có một mối liên hệ gián tiếp giữamột cấu trúc và một chức năng, thì ta có một hành động nói gián tiếp

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp nhận định: “Hành động ngôn từ gián tiếp là han ̀ h động ngôn từ được thực hiện ở những phát ngôn có quan h ệ gián tiếp giữa một chức năng và một cấu trúc” [2, tr.390].

Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Hi n ệ tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành vi ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp Một han ̀ h vi được sử dụng gián tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác” [1, tr.146].

Ví dụ :

Đến đây hỏi thi t ệ chủ nhà

Vườn hồng nghiêm cấm hay là cho chơi?

Vườn hồng nghiêm cấm chín từng Quan ngang khách tạm xin đừng có vô.

Bài ca dao trên là lời đối đáp giữa người con trai và con gái Chàng traimuốn đến với cô gái để tỏ lời yêu đương nhưng chàng trai không nói trựctiếp mà đã dùng lời nói gián tiếp coi cô gái và tình yêu của cô gái là “vườnhồng”, đáp lại lời của chàng trai, cô gái cũng dùng cách nói gián tiếp để trảlời Cách

Trang 29

nói này không giống cách nói trực tiếp của chàng trai trong bài ca

Em đưa cho anh một đĩa rau muống chiên Anh trồng sống laị, em xin giao duyên ngàn đời.

Như vậy, một hành vi ngôn ngữ được sử dụng gián tiếp là một hành vingôn ngữ trong đó người thực hiện một hành vi ở lời này lại nhằm cho ngườinghe, dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cảhai

người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác

Để sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, nhân vật giao tiếp cần phải tuỳvào từng hoản cảnh giao tiếp thì mới đạt mục đích của

mình

Ví dụ

Trong ngữ cảnh, đến giờ nấu cơm mà khách vẫn chưa về, chủ nhà cónhiều cách nói khác nhau nhưng đều có chung một đích là muốn khách về(để nấu cơm) Chủ nhà có thể dùng các câu sau:

- Mấy giờ rồi nhỉ?

- Ở nhà ai nấu cơm cho anh?

- Anh về đi để tôi còn phải nấu cơm.

- Mẹ ơi, nấu cơm giúp con?

Trong giao tiếp người ta thường sử dụng cách nói gián tiếp, với nộidung không thể hiện trên câu chữ, mà thông qua câu chữ đối tượng giao

Trang 30

được mục đích của người nói muốn điều gì Tuy nhiên, để sử dụng đượchành vi ở lời gián tiếp có hiệu quả thì cần phải tuân theo các điều kiện sửdụng hành vi ở lời gián tiếp.

Trang 31

1.3 Hành vi hỏi và hành vi hỏi ướm trong giao tiếp của người Việt

1.3.1 Hành vi hỏi trong tiếng Việt

Theo quan điểm của ngữ dụng học, hỏi là một động từ ngữ vi với hànhđộng ngôn trung là hành động hỏi Trong tiếng Việt, hành vi hỏi có thể đượcthể hiện bằng các biểu thức ngôn ngữ có chứa động từ ngữ vi “hỏi” và biểuthức không có động từ ngữ vi “hỏi”

Hiện nay chưa có một khái niệm chung, thống nhất về hành vi hỏi Córất nhiều ý kiến được đưa ra xung quanh loại hành vi ngôn ngữ này Trong

đó, phải kể đến quan niệm cho rằng: “Hành vi ngôn ngữ hỏi là hành vi có hiệulực ở lời là hỏi với mục đích thúc giục người nghe thông báo một điều gì đó

mà người nói chưa rõ hoặc được người nói nêu ra như một yêu cầu cần phảisáng rõ

Với tư cách là hành vi ở lời, hành vi hỏi có cấu trúc cơ bản gồm haiphần: Nội dung mệnh đề (kí hiệu là p), là thành phần nội dung biểu thị cấutrúc nghĩa miêu tả Hiệu lực ở lời (kí hiệu là F), là thành phần biểu thị đíchcủa hành vi hỏi hay nói cụ thể chính là hiệu lực hỏi Ngoài ra, đối với hành vihỏi còn (có thể có hoặc không) động từ ngữ vi “hỏi”- động từ chỉ dẫn hànhđộng được biểu thị trong hành vi hỏi

Ngoài thành phần nghĩa hiển ngôn, trong hành vi hỏi còn có một sốkiểu thông tin ngữ dụng bổ trợ như: thông tin về quan hệ vai ; thông tin nàychi phối việc lựa chọn từ xưng hô hay tiểu từ nghi vấn; thông tin về thái độ,tình cảm của người nói với người nghe cùng với những đánh giá; thông tinđịnh vị, quy chiếu cái được nói đến; thông tin quan hệ, sự liên kết giữa cácphát ngôn, các tham thoại; thông tin trích dẫn lời nói trước và thông tin vềphương tiện thể hiện nghi vấn…Với những đặc trưng trên, hành vi hỏi đượcxem là loại hành vi ngôn ngữ dễ nhận diện và có khả năng biểu đạt nhiều

Trang 32

phương diện thông tin ngữ nghĩa, góp phần quan trọng trong việc phát triểnchiến lược giao tiếp

1.3.2 Hành vi hỏi ướm trong giao tiếp của người Việt

Trang 33

Hành vi hỏi ướm là cách hỏi vòng vo, dùng những lời nói, hình ảnhkhông có liên quan trực tiếp đến mục đích hỏi để đưa ra câu hỏi nhằm thểhiện sự tế nhị, kín đáo.

Để hiểu rõ hơn về hành vi hỏi ướm, chúng ta cần phân biệt giữa hành

vi hỏi và hành vi hỏi ướm Hành vi hỏi là một khái niệm rộng bao hàm hành

vi hỏi ướm Hành vi hỏi hỏi được thể hiện dưới 2 dạng: hành vi hỏi trực tiếp

và hành vi hỏi gián tiếp Trong đó, hành vi hỏi ướm là một dạng của hành vihỏi gián tiếp Nếu như hành vi hỏi trực tiếp hướng tới mục đích là để khi thácthông tin thì hành vi hỏi ướm lại hướng tới nhiều mục đích khác nhau như:khen ngợi, baỳ tỏ, thăm dò,

Có thể nói, hành vi hỏi ướm mang đậm nét văn hóa của người Việt, và

nó được thể hiện rõ nét nhất trong ca dao dân ca, đặc biệt là ca dao về tìnhyêu đôi lứa

1.4 Bức tranh ca dao của người Việt

1.4.1 Tiếng nói tình cảm trong ca dao

Ca dao là một thể loại quan trọng của văn học dân gian; là phương tiệnchủ yếu phản ánh tâm tư, tình cảm của con người trong các mối quan hệkhác nhau Đó là tình yêu đối với quê hương, đất nước, là tình cảm mến

Trang 34

trong tình yêu Trong ca dao tiếng nói tình cảm của người dân được thể hiệntrực tiếp nhưng đôi khi nó lại được bộc lộ một cách gián tiếp thông qua cáchình ảnh, lối so sánh, lối nói vòng Điều đó xuất phát từ chính văn hóa và bảnchất của con người Việt Nam.

1.4.2 Ca dao về tình yêu đôi lứa

Những bài viết ca dao về tình yêu đôi lứa là bộ phận có số lượng tácphẩm rất lớn, nội dung phong phú, nghệ thuật đặc sắc, có thể là đại diện tiêubiểu cho nhóm ca dao dân ca về tình cảm

“Ca dao dân ca về tình yêu đôi lứa, trước hết là những san ́ g tác của người lao động, nên sự gắn bó giữa tình yêu và lao động trong những bài viết ca dao này cũng là điều dễ hiểu Đó là mối quan h hai ệ chiều, biểu hiện trong quá trin ̀ h sáng tác, diễn xướng và cả trong nội dung bài viết ca Lao động làm tình yêu thêm bền chặt, sâu sắc Tình yêu làm lao động thêm có ý nghĩa và năng suất Nhờ môi trường lao động con người dễ cảm thông, hiểu biết nhau hơn” [5; tr18]

Những bài viết ca dao về đề tài này sinh thành, tồn tại và phát triểnchủ yếu do nhu cầu bộc lộ tâm tư, tình cảm, khát vọng của nhân dân Đó là

“tiếng hát đi từ trái tim lên miệ ng” (dẫn theo Phạm Thu Yến), tiếng hát được

cất lên từ nhu cầu được giãi bày tình cảm giữa những người lao động

Là tiếng nói trực tiếp của chủ thể trữ tình nên nguồn cảm xúc trong cadao tình yêu luôn dào dạt, tươi mới Người lao động cảm nhận trực tiếpcuộc sống của họ Những niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, khổ đau mà họ hátlên đều gắn bó máu thịt với con người của họ Mỗi câu hát là một bức tranhtâm trạng với những đường nét, màu sắc tinh tế

Em chạy theo anh, em vấp, em té sấp bụi

bờ.

Miệ ng em kêu, tay em ngoắt, em biểu anh chờ, sao anh lại đi

luôn.

Trang 36

Đằng sau lớp ngôn từ còn xù xì, thô nhám nhưng ngồn ngộn chất sống

ấy, ta có thể cảm nhận được những tâm hồn đầy cảm xúc, những nỗi niềmrất thực Chính những tình cảm thực ấy, đã giúp ca dao dân ca trữ tìnhkhông đi vào lối diễn đạt cũ kỹ, sáo mòn mà luôn luôn mới mẻ, sáng tạo

Ca dao dân ca là cây đàn muôn điệu rung lên những tiếng tơ lòng củangười dân đất Việt Những câu ca đằm thắm, trữ tình mang chở cả điệutâm hồn và chứa chan những tình cảm thiết tha, sâu năng Trong ca dao,đặc biệt là ca dao tình yêu, nhân vật trữ tình chàng trai – cô gái thường sửdụng cách hỏi ướm để gián tiếp bày tỏ các trạng thái, cung bậc cảm xúc củamình Đó là lối diễn đạt từ xa đến gần, từ chung đến riêng, từ rộng đếnhẹp… nhằm giúp cho người nói dễ dàng hơn trong việc trao gửi tâm tình

Có thể nói, hỏi ướm đã tạo nên lối diễn đạt đặc trưng, đem lại sức hấp dẫncho ngôn ngữ ca dao

Trang 37

CHƯƠNG 2: NHỮNG CÁCH THỂ HIỆN HÀNH VI HỎI ƯỚM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA GIAO TIẾP ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG HÀNH VI HỎI

ƯỚM TRONG CA DAO TÌNH YÊU ĐÔI LỨA

2.1 Một số cách sử dụng hành vi hỏi ướm tiêu biểu trong ca dao về tình yêu đôi lứa

Qua quá trình khảo sát ngữ liệu, chúng tôi thu thập được 352 bài cadao về tình yêu đôi lứa có chứa hành vi hỏi ướm Tuy nhiên, hành vi hỏiướm trong ca dao không có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bềmặt với hiệu lực nó tạo ra, hay nói cách khác, trên bề mặt là hỏi ướmnhưng lại tạo ra những hiệu lực là những hành động ngôn ngữ gián tiếp

khác như: thăm dò, làm quen, than, trách, bày tỏ, chê, khuyên…

Sau đây là bảng thống kê các kiểu hỏi ướm với hiệu lực ở lời khácnhau:

Thông qua bảng thống kê số liệu trên chúng tôi có thể rút ra nhữngnhận xét như sau:

Hành vi hỏi ướm trong ca dao có thể tạo ra các hiệu lực ở lời khácnhau: thăm dò, làm quen, khẳng định, trách móc… Trong số đó, hành vi hỏiướm- thăm dò chiếm số lượng lớn nhất: 33.5% Sau đó tới hành vi hỏi ướm-bày tỏ:

Trang 38

cách của con người Việt Nam là ưa sự kín đáo, tế nhị đặc biệt trong chuyệntình cảm riêng tư Do đó, khi tác giả dân gian bộc lộ tình cảm của mình haythăm dò để làm quen thì họ thường sử dụng cách nói vòng vo, gián tiếp.

Hành vi hỏi ướm- khuyên chiếm số lượng ít nhất: 5.1% So với cáchiệu lực ở lời khác thì khuyên là hành vi thường được bộc lộ trực tiếp, thểhiện thái độ thẳng thắn, chân thành của người nói, ít khi phải sử dụng hành

vi hỏi ướm Do vậy, hành vi hỏi ướm- khuyên chiếm số lượng ít hơn so vớicác hiệu lực ở lời khác

Nhìn chung, thông qua bảng số liệu trên, chúng ta có thể thấy hành

vi hỏi ướm tạo ra các hiệu lực ở lời khác nhau, ở mỗi loại lại có đặc điểm vàcách sử dụng từ ngữ riêng biệt Chúng ta có thể tìm hiểu kĩ từng loại nhưsau:

2.1.1 Hành vi hỏi ướm để thăm

tượng về chính mình trước đối tượng Vì thế, chủ thể trữ tình chắc hẳn phải tính toán những chiến lược với nội dung và phương thức hỏi sau:

2.1.1.1 Hỏi để tiếp cận làm quen bằng cách khen

Việc khen diễn ra dối với cả nhân vật nữ và nhân vật nam, nhưng tỉ lệnghiêng về việc nam khen nữ nhiều hơn Khi mới gặp nhau lần đầu, chưa biết

Trang 39

gì về đối phương, người nam cũng có thể dễ dàng cất lời khen Lời khen củanam dành cho nữ có thể là khen về tính nết, cũng có thể khen về hình thức.

Trang 40

Khen về tính nết như:

Ai đem em tới giữa đồng

Ngày đăng: 06/01/2020, 17:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (2001), Đa ̣ i cương ngôn ngữ ho ̣ c, tập 2 “Ngữ dụng ho ̣ c”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 “Ngữ dụng học”
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
2. Nguyễn Thiện Giáp, (2001), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
3. Tạ Đức Hiền, Bi ̀ nh luận bin ̀ h giảng tục ngữ ca dao Viê ̣ t Nam, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận biǹ h giảng tục ngữ ca dao Việt Nam
Nhà XB: NXB HàNội
4. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (2001)… Kho tàng ca dao người Vi ê t, tập 1, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao ngườiViêt
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
5. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (2001)… Kho ta ̀ ng ca dao người Viêt, tập 2, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao ngườiViêt
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w