Các biện pháp nghệ thuật

Một phần của tài liệu Thân phận con người trong ca dao nghệ tĩnh (Trang 62 - 68)

Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN THÂN PHẬN CON NGƯỜI

3.3. Các biện pháp nghệ thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi chủ biên thì “Điệp ngữ là một hình thức tu từ có đặc điểm:

một từ, cụm từ câu hoặc đoạn thơ văn được lặp lại với dụng ý nhấn mạnh hoặc gây ấn tượng cho người đọc, người nghe” [15, tr.117].

Trong ca dao Nghệ Tĩnh biện pháp điệp ngữ được sử dụng rất độc đáo.

Đây là tâm trạng của cô gái lấy chồng chung, chờ đợi chồng khắc khoải mãi mà vẫn không thấy chồng về:

Canh một, Canh hai,

Canh ba, Canh tư, Canh năm, Vừa nằm đã sáng,

Nghe con gà nó kêu rảng rảng, Chồng nơi mô mà chẳng thấy tăm hơi,

Lấy chung chồng khổ lắm chị em ơi!.

Điệp ngữ “Canh” được lặp lại ở năm dòng đầu cho thấy được thời gian chờ đợi chồng về của người phụ nữ. “Canh một”, “Canh hai”, “Canh ba”,

“Canh tư”, “Canh năm”. Người phụ nữ đã kiên nhẫn đợi chồng năm canh ròng rã, mà không thấy chồng về. Đó là nỗi khổ cực, bất hạnh của thân phận những người phụ nữ xưa khi lấy phải cảnh chồng chung. Khát khao được gần chồng, có chồng bên cạnh quả rất khó đối với những người phụ nữ này.

Ở vùng nông thôn ngày xưa, theo phong tục cũ của người Nghệ Tĩnh, khi con trai đưa vợ về phải trải qua rất nhiều khó khăn, cực khổ, thậm chí bị đối xử thậm tệ, đây là cách đi làm rể cho nhà vợ sắp cưới:

Công anh tát nước đầu bờ, Em đi trên ruộng em chờ đợi ai?

Mình anh gánh lúa sụn vai,

Mình anh trồng đỗ, trồng khoai, trồng cà.

Một tay quét dọn của nhà, Việc làm cùi cụi sao mà tội thân.

Đi ở rể phải chịu bao nhiêu gánh nặng, bao nhiêu công việc vất vả người con trai đều phải gánh chịu. Điệp từ “Mình anh” nhằm nhấn mạnh sự lẻ loi, cô độc của chàng trai, việc gì cũng đến tay “trồng đỗ”, “trồng khoai”,

“trồng cà”.

Như vậy, về giá trị nhấn mạnh và biểu đạt điệp ngữ được hình thành trong mối quan hệ ngữ cảnh với những từ khác trong chuỗi lời nói. Về mặt hình thức, điệp ngữ làm cho bài ca dao thông suốt, nhịp nhàng hoặc dồn dập.

3.3.2. So sánh

“So sánh là phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tượng dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng khác” [15, tr.282].

So sánh là một trong những thủ pháp nghệ thuật hiệu quả tạo nên tiếng cười trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh. Tác giả dân gian đã cố tình tạo nên một độ chênh nhất định giữa cái so sánh và cái được so sánh. Chính lối so sánh này, dẫn đến những liên tưởng bất ngờ và đem lại một cách tri giác hoàn toàn mới mẻ về đối tượng, từ đó bật ra tiếng cười trào phúng, phê phán tình trạng con gái lấy phải chồng già:

Con gái mà lấy ông già

Ra đường bạn hỏi “là cha hay chồng?”

Về nhà ôm lấy bì bông

Sướng hơn ôm chồng da thịt nhăn nheo.

Người phụ nữ trong xã hội xưa phải chịu rất nhiều đau khổ, bất hạnh.

Họ bị bóc lột về thể xác lẫn tinh thần, không có quyền quyết định cho số phận của mình. Những người này đã so sánh thân phận của mình như “cây bèo”:

Thân em như thể cây bèo,

Khi ra giữa rộc (ruộng sâu), khi trèo cồn cao.

Vì ai em phải lao đao,

Cho tóc em rụng, má đào em phai.

Hình ảnh “cây bèo” gợi cho chúng ta sự trôi nổi, lênh đênh, vô định của thân phận những người phụ nữ xưa.

Tình yêu của các chàng trai, cô gái xứ Nghệ rất chân thành, đằm thắm, vô tư, trong sáng. Họ yêu nhau rất mãnh liệt, không thể tách rời:

- Đôi ta như bấc với dầu Khơi lên cho rạng kẻo sầu tương tư.

- Đôi ta như cúc với khuy Như kim với chỉ, may đi cho rồi.

Ở đây, tác giả dân gian đã có những so sánh rất độc đáo. Những sự vật bình thường như: “bấc”, “đèn”, “cúc”, “khuy”,…đều hiện lên với nhiều ý nghĩa sâu sắc mang tâm hồn tình cảm như con người có đôi, có cặp vậy. “bấc”

không “dầu” thì đèn không thể sáng, như “cúc” với “khuy”, “kim” cần “chỉ”

để có thể may thành áo, cũng như anh cần có em.

Như vậy, biện pháp so sánh giúp ta nhận thức sâu sắc hơn các phương tiện của sự vật, hiện tượng. Nó làm cho ca dao giàu hình ảnh, giàu tính biểu cảm và tạo nên những biểu tượng phong phú.

3.3.3. Ẩn dụ

“Ẩn dụ là phương thức tu từ dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện tượng tương tự, thể hiện cái này qua cái kia, mà bản thân cái được nói tới thì dấu đi một cách kín đáo” [15, tr.11].

Trong kho tàng ca dao xứ Nghệ biện pháp ẩn dụ được sử dụng khá nhiều. Ẩn dụ làm cho cái được nói tới có thêm ý nghĩa bổ sung, nhấn mạnh, biểu hiện cảm xúc. Nếu như ca dao người Việt dùng các cặp hình ảnh “trúc - mai”, “thuyền - bến” trong từng ngữ cảnh cụ thể thì ca dao Nghệ Tĩnh cũng sử dụng những hình ảnh ấy trong một bài ca dao tạo thành một ẩn dụ nhân

hoá độc đáo:

Trúc dặn dò mai, bến dặn dò thuyền Nghe ai quyến rũ bỏ lời nguyền của anh

Bến dặn dò thuyền, trúc dặn dò mai Nghe ai quyến rũ, không vãng lai chốn này.

Trong bài ca dao trên, “trúc - mai”, “thuyền - bến” cũng trách móc, oán hờn như con người vậy. Ở đây, tình cảnh và tâm sự của chàng trai thật đau đớn và tội nghiệp. Sự kết hợp các cặp hình ảnh và sự láy lại cho ta thấy lời trách móc của chàng trai vì người yêu phụ bạc lời nguyền ước xa xưa.

Có khi đó còn là thân phận thấp cổ bé họng của những người lao động đành phải chấp nhận sống một cuốc sống an phận của mình. Tác giả đã sử dụng biện pháp ẩn dụ để nói lên được thân phận của những người nông dân xưa, cha mẹ khổ cực thì sinh con cái ra cũng vất vả, cực khổ như mình:

Cha rô mà lấy mẹ rô

Đẻ ra con diếc, con rô, con tràu (cá quả).

Có thể nói ẩn dụ là nhu cầu tự thân của ca dao. Nhân dân Nghệ Tĩnh đã sử dụng những sự vật, hiện tượng, những con vật gần gũi, quen thuộc trong đời sống hàng ngày để bộc lộ những suy nghĩ, tâm trạng, thân phận, những quan niệm về lẽ đời, con người và cả những vấn đề xã hội.

3.3.4. Tương phản

Tương phản là một thuật ngữ có nguồn gốc từ nghệ thuật hội họa.

Trong văn học, tương phản là một biện pháp nghệ thuật được dùng để khắc họa hình tượng. Thông thường, hiệu quả của biện pháp này là nhằm biểu hiện những thuộc tính trái ngược nhau của sự vật, hiện tượng.

Cùng với thủ pháp so sánh, có thể nói rằng, uyển chuyển nhất trong nghệ thuật ngôn từ của ca dao là nghệ thuật tương phản. Hầu như bài ca dao

nào cũng có hiện tượng phản ấy. Các hình ảnh, sự việc, hiện tượng nếu đặt cạnh nhau càng tương phản, càng đối lập thì càng tạo hiệu quả biểu đạt:

Vợ thì quần lĩnh áo the

Chồng thì múc nước rửa xe cả ngày.

Sự đối lập giữa hình ảnh người “vợ quần lĩnh áo the”, sạch sẽ, nhàn nhã với người chồng lúc nào cũng bận bịu “múc nước rửa xe cả ngày”, trái với nếp sinh hoạt hàng ngày của một gia đình đã tạo ra tiếng cười hài hước châm biếm những cô vợ lười nhác và những người chồng nhu nhược.

Đó còn là thân phận của những người phụ nữ lấy phải người chồng vô tích sự, qua lời than thân của cô gái ta thấy được sự tương phản rõ rệt giữa người chồng của cô và chồng của các bà vợ khác:

Chồng người đội mủ che đầu, Hoa sen màu áo ra màu quan viên.

Chồng tôi say ngộ say điên, Bò quanh bò quẩn ở bên xó đình.

Sự đối lập, tương phản còn thể hiện ở sự bất chấp, đối nghịch, sự quyết liệt đến mức xả thân, sự phủ định chua chát:

- Chồng gì anh vợ gì tôi Chẳng qua là cái nợ đời chi đây

- Mặc ai chê mặc ai dèm Quảy trù đến nhởi mà đem em về.

Tóm lại, trong ca dao Nghệ Tĩnh nhân dân lao động nơi đây đã sử dụng biện pháp nghệ thuật tương phản, để phê phán những thói hư tật xấu, phong tục lạc hậu,…tất cả đã diễn tả được đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người tạo ra những tiếng cười sảng khoái, đồng thời tạo nên nét riêng biệt cho người dân vùng đất Hồng Lam.

Một phần của tài liệu Thân phận con người trong ca dao nghệ tĩnh (Trang 62 - 68)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(85 trang)