1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cấu trúc hội thoại trong ca dao người việt

75 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 794,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc sắc nhất là mảng ca dao về tình yêu với lối hát đối đáp giao duyên thể hiện tình yêu đôi lứa trong lao động, trong hội hè đình đám của các chàng trai, cô gái.. Theo lý thuyết của các

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 2

MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài

Cuộc sống của con người không thể tách rời việc giao tiếp Có hai phương tiện giao tiếp cơ bản trong đời sống con người, đó là giao tiếp bằng phương tiện ngôn ngữ và giao tiếp bằng phương tiện phi ngôn ngữ Trong đó, hội thoại là hình thức giao tiếp quan trọng nhất của con người với ngôn ngữ là phương tiện chủ yếu Vì vậy, hội thoại và lý thuyết hội thoại là những vấn đề gắn bó chặt chẽ, mật thiết với đời sống hằng ngày của chúng ta Nghiên cứu

về yếu tố nào đó của hội thoại cũng sẽ giúp ta hiểu hơn về tâm lý, tích cách,

cử chỉ , thái độ, ngôn ngữ,…của nhân vật giao tiếp

Là một loại hình của nghệ thuật ngữ văn dân gian, ca dao thông qua những tín hiệu ngôn ngữ đã thể hiện phong phú và linh hoạt những hình tượng thẩm mĩ văn học, phản ánh mọi mặt của cuộc sống sinh hoạt, những suy tư và diễn biến tình cảm của con người Ngôn ngữ ca dao vừa là ngôn ngữ thơ, cũng vừa là ngôn ngữ giao tiếp Chính vì thế, nó mang trong mình một hình thức diễn đạt đặc biệt, giao tiếp bằng thơ Hay nói cách khác, văn bản ca dao là một đơn vị giao tiếp được hình thành từ lối sinh hoạt diễn xướng giao duyên nên mang đặc điểm của văn bản hội thoại Đặc trưng hội thoại đã chi phối cấu trúc của ca dao

Cuộc sống và tâm hồn dân tộc được thể hiện sinh động trong ca dao bằng chính những tín hiệu ngôn ngữ với một hình thức diễn đạt đặc biệt mà trong đó, hội thoại là hình thức phổ biến đặc sắc Nó thể hiện được không khí diễn xướng, khung cảnh hội thoại, thể hiện cả tâm tư tình cảm, mong muốn, khát vọng của những người tham gia hội thoại Mà qua đó, ta có thể nhìn thấy được tài ứng đối, trí thông minh, khả năng vận dụng tài tình của nhân dân lao động

Trang 3

Bởi những lẽ đó, khi nghiên cứu về ca dao hay hội thoại, sẽ thiếu sót lớn nếu ta chỉ nghiên cứu một cách riêng biệt mà không lồng ghép việc

nghiên cứu ca dao dưới góc nhìn hội thoại Với đề tài Cấu trúc hội thoại

trong ca dao ngươ ̀ i Viê ̣t, chúng tôi hi vọng mang lại một hướng tiếp cận mới

về ca dao nói chung và thi pháp ca dao nói riêng

2 Lịch sử vấn đề

Những năm gần đây, việc nghiên cứu ca dao đã có bước phát triển vượt bậc Các nhà nghiên cứu đã chú ý đến nhiều lĩnh vực của ca dao như thi pháp, thể thơ, kết cấu, lời, thời gian không gian nghệ thuật, hình ảnh biểu tượng, đặc điểm ngôn ngữ… Bên ca ̣nh đó, các công trình nghiên cứu về về lí thuyết ngữ dụng học và ứng dụng lí thuyết ngữ dụng học vào phân tích hội thoại tiếng Việt thì la ̣i rất phong phú Tuy nhiên, vấn đề tiếp câ ̣n ca dao dưới góc nhìn ngữ du ̣ng ho ̣c lại còn khá hiếm hoi, đặc biệt vấn đề “Cấu trúc hội thoại trong

ca dao” thì chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào Tuy vậy, ta

có thể điểm qua mô ̣t số nghiên cứu có đề câ ̣p đến, hoặc liên quan đến viê ̣c phân tích đă ̣c trưng cấu trúc hô ̣i thoa ̣i trong ca dao

Với việc tiếp cận ca dao người Việt theo hướng thi pháp,trong cuốn Thi

pháp ca dao (2007, nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội), Nguyễn Xuân

Kính có đề cập đến vấn đề này ở phần “các dạng kết cấu” Tác giả đã chỉ ra các dạng kết cấu chính trong ca dao, trong đó có kết cấu hai vế, đề cập đến khả năng hội thoại, đối đáp trong ca dao Ví như câu ca dao sau:

“Mình về có nhớ ta chăng?

Ta như lạt buộc khăng khăng nhớ mình

Ta về ta cũng nhớ mình Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao.”

Bài “Ngôn ngữ ca dao Việt Nam” của Mai Ngọc Chừ, đăng trên tạp chí Văn học số 2,1991 trình bày rõ đặc điểm ngôn ngữ ca dao: ““Ngôn ngữ ca

Trang 4

dao đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời nhất của tiếng Việt: nó có

cả những đặc điểm tinh tuý của ngôn ngữ văn học đồng thời nó còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình có hiệu quả của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại vào một loại ngôn ngữ truyền miệng Chính sự kết hợp giữa ngôn ngữ nói, ngôn ngữ hội thoại với ngôn ngữ văn học tạo nên những đặc điểm riêng biệt độc đáo của ca dao.”

Trong bài viết Bài ca dao Tát nước đầu đình từ góc nhìn ngữ dụng học đăng

trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 7, 2004, Đỗ Thị Kim Liên đã vận dụng

lí thuyết hành động ngôn ngữ và lí thuyết chiếu vật và chỉ xuất để xác định các hành động nói và vai giao tiếp, thời gian và không gian trong một bài ca dao từ góc độ tiếp cận văn bản

Tác giả Hoàng Kim Ngọc (2009) với công trình nghiên cứu So sánh và

ẩn dụ trong ca dao trữ tình - dưới góc nhìn ngôn ngữ - văn hoá học, đã tiếp

cận ca dao từ góc nhìn của lí thuyết giao tiếp bằng ngôn ngữ và phân tích diễn ngôn; xem lối đối đáp giao duyên là một hình thái đặc biệt của giao tiếp bằng ngôn ngữ Từ đó, tác giả vận dụng các lí thuyết về so sánh và ẩn dụ của ngôn ngữ học để nghiên cứu ẩn dụ và so sánh trong ca dao

Trong cuốn Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt (2009, nhà xuất bản đại

học Huế) Lê Đức Luận cũng có bàn đến vấn lời đơn và lời đôi trong cấu trúc

giao tiếp Tác giả nhấn mạnh: ““Vận dụng lý thuyết hội thoại vào xem xét

cấu trúc nội dung lời ca là một việc làm cần thiết và đúng hướng…Khi phân tích lời đơn (không có cấu trúc đối đáp trên văn bản), chúng ta cần phải xác định rõ nó có dấu hiệu cấu trúc đối đáp không, nếu không thì cần xác định rõ

nó là lời đối hay lời đáp trên văn bản để lần tìm ra nguyên cớ cho cấu trúc nội dung của lời ca, chìa khoá khám phá nội dung ý nghĩa của lời ca”

Ngoài ra còn có một loạt các nghiên cứu, các bài viết, bài bình giảng, phân tích đề cập đến vấn đề này

Trang 5

Như vậy có thể thấy vấn đề hội thoại trong ca dao đã và đang được các nhà nghiên cứu khai thác tìm hiểu trong cả những nghiên cứu chung về ca dao, thi pháp ca dao và nghiên cứu chuyên về ngôn ngữ cấu trúc Tuy nhiên, trên thực tế vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu “Cấu trúc hội thoại trong

ca dao” một cách chuyên biệt Trên cơ sở những kết quả các công trình nghiên cứu trên,và khoảng trống vấn đề chưa được nghiên cứu, chúng tôi đã học hỏi được rất nhiều điều và có được những kiến thức cần thiết để đi sâu, tiến tới việc nghiên cứu cấu trúc hội thoại trong ca dao

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Cấu trúc hội thoại trong ca dao

người Việt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là khảo sát cuốn Kho ta ̀ ng ca dao người Viê ̣t, (bốn

tâ ̣p), 1995 Nxb Văn hóa Thông tin

4 Các phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp

nghiên cứu sau:

-Phương pháp thống kê, tổng hợp

-Phương pháp phân tích, so sánh

-Phương pháp nhận xét, đánh giá

7 Cấu trúc bài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chương:

Chương mô ̣t: Cơ sở lí luận của đề tài Chương hai: Đặc trưng cấu trúc hội thoại trong ca dao người Viê ̣t Chương ba: Văn hóa ứng xử giao tiếp trong ca dao

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Ca dao và đặc trưng hội thoại trong ca dao

1.1.1 Đặc trưng ca dao người Việt

Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Nếu định nghĩa theo từ nguyên thì “ca” là bài hát có khúc điệu hoặc có âm nhạc kèm theo, còn dao là bài hát trơn, không có khúc điệu Ca dao là từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Như vậy, có thể thấy thuật ngữ ca dao và thuật ngữ dân ca hầu như không có ranh giới rõ rệt Song trong thực tế khi giới tri thức trước đây sưu tập các câu hát và bài hát dân gian, họ chỉ quan tâm ghi chép phần lời thơ của những sáng tác ấy, cho nên thuật ngữ ca dao của họ dùng để gọi tên những ghi chép ấy đã có nội dung hẹp hơn thuật ngữ dân ca: Nó chỉ phần lời thơ của những sáng tác dân gian

Theo Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán thì “ca dao còn gọi là

phong dao Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì ca dao là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này, ca dao đồng nghĩa với dân ca, ca dao có thể là thơ dân gian truyền thống” [ 7,

tr.31] Chu Xuân Diên cho rằ ng “ca dao là lời của bài hát dân ca đã tước bỏ

đi tiếng đệm, tiếng láy…hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể bẻ thành như ̃ng làn điê ̣u dân ca” [11, tr.411-437] Lê Đức Luận đi ̣nh nghĩa “ca dao là

Trang 7

lời các câu hát dân gian và những sáng tác ngâm vi ̣nh được lưu truyền trong dân gian va ̀ gọi chung là lời ca dân gian” [18, 26]

Như vậy, ca dao có tương đối nhiều đi ̣nh nghĩa Tuy nhiên, ta có thể hiểu chung nhất ca dao là những lời thơ dân gian được truyền miệng từ đời này sang đời khác cho đến ngày nay

Về nội dung, ca dao Việt Nam được xem là tấm gương phản ánh trung thực hình ảnh thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam; là kho tài liệu phong phú về phong tục, tập quán trong các lĩnh vực đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động Lời ca dao cũng chính là tình cảm chân thành, sâu sắc của người bình dân xưa đối với quê hương đất nước, với ông bà cha

mẹ, với bạn bè, người yêu… Cũng chính nhờ vào cách thể hiện tình cảm ý nhị tinh tế và sâu sắc mà ca dao có một sức hấp dẫn lạ lùng đối với người đọc qua nhiều thế hệ Đặc sắc nhất là mảng ca dao về tình yêu với lối hát đối đáp giao duyên thể hiện tình yêu đôi lứa trong lao động, trong hội hè đình đám của các chàng trai, cô gái Nội dung của các câu ca dao này phản ánh mọi biểu hiện sắc thái cung bậc tình yêu Đó là những tình cảm thắm thiết, những niềm mơ ước, những nỗi nhớ nhung da diết trong hoàn cảnh may mắn, hạnh phúc hay những cảm xúc, lời than thở, oán trách nảy sinh trước những tình huống rủi

ro, ngang trái đau khổ Do đó, nghiên cứu ca dao cũng là hành trình tìm hiểu tâm hồn, văn hoá dân tộc

Về hình thức, ca dao là thơ nhưng là một kiểu thơ riêng, có thể xem ca dao đứng giữa ranh giới của thơ và lời nói có vần điệu Ca dao cũng giống như thơ là đều thể hiện các phương thức: kết hợp và lựa chọn, biểu hiện và liên tưởng, sử dụng các biện pháp nghệ thuật chuyển nghĩa, sử dụng các thể thơ,… Do tính đặc thù của phương thức diễn xướng và lưu truyền mà ca dao khác với thơ ở khuôn hình cấu tạo, cấu trúc; về đặc trưng ngôn ngữ, tổ chức ngôn ngữ,… Đa số văn bản ca dao có cấu tạo chỉ hai dòng thơ với cấu trúc

Trang 8

luôn thay đổi và bao gồm nhiều lượt lời nối tiếp nhau Về đặc trưng ngôn ngữ,

ca dao có nhiều lời ca từ đồng dao, hát ví, hát đối mang tính khẩu ngữ được lưu lại Theo Mai Ngọc Chừ thì ca dao có cả đặc điểm tinh túy của ngôn ngữ văn học đồng thời còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình, hiệu quả ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại vào loại ngôn ngữ truyền miệng bằng thơ…

“Chính sự kết hợp giữa ngôn ngữ nói, ngôn ngữ hội thoại với ngôn ngữ gọt

dũa dã tạo nên đặc điểm riêng biệt độc đáo của ngôn ngữ ca dao” Theo tác

giả Hữu Đạt, ca dao còn có tổ chức ngôn ngữ theo kiểu lắp ghép liên hành vi,

có khả năng dự đoán trước, có độ lặp cao về mô hình kiến trúc và dễ tạo nên các dị bản

Có thể thấy rằng, ca dao là văn chương dân gian, mô ̣t thể loa ̣i đô ̣c đáo trải qua nhiều thời kì lịch sử, đã được sinh ra trong những giai đoạn xã hội từ

xa xưa và lưu truyền cho đến ngày nay Dọc theo chiều dài lịch sử dân tộc, ca dao đã là vũ khí chống lại những xâm nhập văn hóa của nhiều thế lực, là thành trì bảo tồn nền văn hóa dân tộc Thông qua những bài ca dao, chúng ta

có thể hình dung được đời sống sinh hoạt của nhân dân từ thời xưa Đặc biệt, ngôn ngữ giao tiếp của nhân dân đã được ca dao thể hiện rất chân thực, tự

nhiên, sinh động

1.1.2 Đặc trưng hội thoại trong ca dao

Hội thoa ̣i trong ca dao, dân ca là đố i đáp nam nữ, vẫn mang những đặc điểm chung nhất của lý thuyết hô ̣i thoa ̣i và hô ̣i thoa ̣i trong cuộc sống đời thường Tuy nhiên, hô ̣i thoa ̣i trong ca dao là loa ̣i hô ̣i thoa ̣i đă ̣c thù, phù hợp

vớ i môi trường diễn xướng và đă ̣c điểm của ca hát giao duyên Cho nên, hô ̣i thoại trong ca dao có những khác biê ̣t so với hô ̣i thoa ̣i đời thường Cấu trúc

hội thoa ̣i trong ca dao vì thế cũng bi ̣ chi phối bởi những điểm khác biê ̣t ấy Cụ thể như sau:

Trang 9

Khác với hô ̣i thoa ̣i trong cuô ̣c sống đời thường, là những cuô ̣c hội thoa ̣i

vớ i những lời ăn tiếng nói hằng ngày, ngôn ngữ hô ̣i thoa ̣i thuô ̣c các phong

cách chức năng ngôn ngữ khác nhau và mỗi cuô ̣c thoa ̣i luôn gắn liền với mỗi hoạt đô ̣ng xã hô ̣i khác nhau Hô ̣i thoa ̣i trong ca dao là hình thức hô ̣i thoa ̣i bằng lờ i thơ đươ ̣c hát lên, sử du ̣ng ngôn ngữ thơ ca, mang tính nha ̣c điệu của mỗi cuộc hát nên tính truyền cảm rất lớn, thường gắn với những khung cảnh riêng và tùy thuô ̣c vào tính chất của cuô ̣c thoa ̣i Hô ̣i thoa ̣i trong ca dao chủ yếu là những bài hát giao duyên, những bài dân ca mang tính chất bóng bẩy

củ a ngôn ngữ thơ, bay bổng của nhạc điệu Những lời ca từ đó có nội dung phản ánh đời sống nhiều mặt của nhân dân lao động thời xưa với ngôn ngữ bình dị, chất phác, hồn nhiên của người nông dân lao động nhưng nội dung phong phú nhất của ca dao là lĩnh vực đề tài tình yêu nam nữ

Sự phát triển của ca dao tình yêu phản ánh nhu cầu bộc lộ một loại tình cảm và nhu cầu thực hiện sinh hoạt tình cảm phong phú của con người Sự phát triển của ca dao tình yêu cũng đồng thời được giải thích bởi sự phổ biến rộng rãi và tồn tại lâu đời của sinh hoạt hát đối đáp nam nữ, một sinh hoạt ca hát dân gian có nhiều gắn bó mật thiết với điều kiện lao động, phong tục, tập quán xã hội và nghi lễ - tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp Chính sự cần thiết trong giao tiếp bày tỏ bộc lộ cảm xúc yêu thương chia sẻ mà ca dao cần đến hội thoại

Hội thoa ̣i trong ca dao phần lớn là song thoa ̣i thể hiê ̣n tấm lòng, nỗi ấm ức về tình yêu dồn nén, không được yêu, hay yêu thầm hay dang dở… Ca dao tình yêu người Việt có những nhân vật trữ tình là chàng trai, cô gái mang những nét chung về diện mạo, tính cách và tâm hồn của thanh niên nam nữ ở nông thôn thời phong kiến Qua những lần đối thoại trao đổi giữa hai nhân vật trữ tình đó, ca dao tình yêu nhiều khi bộc lộ một cách trực tiếp những quan niệm về hôn nhân và tình yêu trai gái, tình yêu vợ chồng của những người lao

Trang 10

động xưa kia Đồng thời, nhiều sắc thái tâm trạng như lòng khao khát yêu đương, những e dè, băn khoăn trong bước đầu của quan hệ tình yêu, những niềm vui và những nỗi đau khổ do tình yêu hạnh phúc và tình yêu đau khổ đưa lại, những nỗi nhớ thương, những niềm mơ ước về cuộc sống chung…Những vấn đề đó được miêu tả một cách chân thật, mộc mạc qua lời trao, lời đáp đầy tinh tế

Hội thoa ̣i bằng thơ tùy thuô ̣c vào mỗi cuô ̣c hát, mỗi cuô ̣c thoa ̣i là mỗi cuộc hát Vì thế, tùy theo đă ̣c trưng của mỗi làn điê ̣u dân ca mà mỗi cuộc thoại có những đă ̣c trưng vùng miền nhất đi ̣nh như lời hát dân ca Quan họ

Bắc Ninh kha ́c Hò khoan Quảng Nam, khác những làn điê ̣u Ví dặm Nghê ̣

Ti ̃nh, hay Phường vải,… Sở dĩ nói đến yếu tố này là vì đă ̣c trưng hô ̣i thoa ̣i

vố n gắn liền vớ i các yếu tố phi ngôn ngữ như cử chỉ, gio ̣ng điê ̣u, giai điê ̣u,…vốn là những đă ̣c trưng của mỗi làn điê ̣u dân ca Tâm lý của hô ̣i thoại

là tâm lý giới tính, chủ yếu theo phe, theo nhóm, ít có tâm lí cá nhân Vì trong thờ i Phong kiến, giữa hoàn cảnh nam nữ vố n không đươ ̣c gă ̣p nhau, không được bày tỏ tình cảm một cảnh trực tiếp, cá nhân mà mỗi bài hát luôn là phải

là của tâ ̣p thể

Như vâ ̣y, bằng phương thức thể hiện là hội thoại đã làm cho ca dao mang tính trữ tình đậm đà và tính tư tưởng sâu sắc Nghiên cứu về đă ̣c trưng cấu trúc hội thoại, một mảng của hô ̣i thoa ̣i trong ca dao, ta sẽ thấy được những nét đô ̣c đáo của trí tuê ̣ dân gian và đặc trưng giao tiếp trong ca dao

1.2 Hội thoại và cấu trúc hội thoại

1.2.1 Lý thuyết hội thoại

Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người Giao tiếp

có thể một chiều: một bên nói và một bên nghe Đó là độc thoại Ví dụ: Diễn văn của tổng thống Mỹ, lời của phát thanh viên,… Ở đây ta không xét loại giao tiếp này Giao tiếp có thể hai chiều Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi:

Trang 11

Bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó chính là

hội thoại

Hội thoại thường gồm ba vận động: sự trao lời, sự trao đáp và sự tương tác Sự trao lời là lời người nói hướng tới một người nhận khác Tình thế giao tiếp trao lời ngầm ẩn rằng tất yếu phải có một người nhận (tiếp ngôn) trong lời của người trao (người phát ngôn – chủ ngôn) Chính vì vậy, ngay từ khi đưa ra phát ngôn, người trao lời đã định hình đích phát ngôn nhằm vào ai, vào cái gì, có nghĩa là đã điều hành, dự kiến trước phản ứng của người nghe, người nhận Sự trao đáp là sự trả lời đối với sự trao lời, chính nó tạo nên giao tiếp, hội thoại Trong thực tế, tất cả các hoạt động ngôn ngữ đều đòi hỏi một

sự đáp ứng Điều này đúng không chỉ đối với các hành động như hỏi (trả lời), chào (đáp lại), cầu khiến (chấp nhận hay không)… mà đúng cả cho những hành động xác tín (khẳng định, miêu tả), đưa ra một xác tín tức là ngầm “hỏi” người nghe có ý kiến như thế nào, đòi hỏi người nghe một sự phản ứng nào

đó

Tương tác trong hội thoại thể hiện ở chỗ các nhân vật giao tiếp ảnh hưởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau đến cách ứng xử của từng người trong quá trình hội thoại Sự tương tác này thể hiện ở lượt lời Trong thực tế, hội thoại yêu cầu phải luân phiên lượt lời nhưng đôi khi vẫn có hiện tượng lấn lời, cướp lời hay bỏ lượt lời… Ngoài ra, tương tác của hội thoại còn thể hiện ở những cặp trao đáp củng cố, sửa chữa như: chào mời, hỏi han, xin lỗi, chữa lỗi… hoặc bằng các hành vi ngôn ngữ khác

Ba vận động trao lời, trao đáp, tương tác là ba vận động đặc trưng cho một cuộc thoại Nếu thiếu một trong ba vận động trên thì không thể đảm bảo nguyên tắc hội thoại Tuy nhiên cũng có một số trường hợp ngoại lệ và ta sẽ thấy rõ điều này qua thực tế hội thoại và phần không tham gia đáp lời theo Lê

Trang 12

Đức Luận là tham thoại hẫng trong ca dao và một số bài ca dao ở dạng hội thoại đặc biệt khác

Về quy tắc hội thoại, nữ giáo sư Catherine Kerbrat Orecchioni – nhà

ngôn ngữ học Pháp, chuyên gia về dụng học tương tác cho rằng quy tắc hội

thoại chia làm ba nhóm:

Thứ nhất là nguyên tắc luân phiên lượt lời Vai nói thường xuyên thay đổi nhau, mỗi lần chỉ một người nói Khi nói, cần có những biện pháp cho thấy sự chấm dứt lượt lời, giữa các lượt lời không ngắt quãng quá dài, không dẫm đạp nhau (trừ chiến thuật im lặng) Trật tự nói trước, nói sau không cố định mà luôn thay đổi do các nhân vật tự thương lượng với nhau một cách

không tường minh

Thứ hai là nguyên tắc liên kết hội thoại, nó giúp hội thoại đạt hiệu quả, hướng về đúng nội dung và mục đích Tính liên kết hội thoại thể hiện trong một phát ngôn, giữa các phát ngôn, giữa các hành động ngôn ngữ và các đơn

vị hội thoại Cần lưu ý, tính liên kết không chỉ thuộc lĩnh vực nội dung và thể hiện theo các dấu hiệu “ngữ pháp” hiểu theo truyền thống Nó còn thuộc các lĩnh vực, các hành động ngôn ngữ, các quan hệ lập luận Nguyên tắc liên kết mềm dẻo, linh hoạt mà cũng có khi chặt chẽ, nghiêm ngặt tùy theo tính chất

hội thoại

Thứ ba là các nguyên tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong cộng tác hội thoại Để có được hội thoại chân thực, ta cần lưu ý đến một số nguyên tắc

nhất định Trước hết là nguyên tắc cộng tác hội thoại (hãy làm cho phần đóng

góp của anh đúng như nó được đòi hỏi và nó xuất hiện phù hợp đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh đã chấp nhận tham gia vào)

Nguyên tắc này được Grice tách làm bốn phương châm nhỏ: về lượng, về chất, phương châm quan hệ (lý thuyết quan yếu) và phương châm cách thức Các phương châm này đúng cho một cuộc thoại chân thực, đạt được tính chất

Trang 13

cộng tác và lý thuyết quan yếu Tuy nhiên, thực tế có nhiều cuộc thoại mang

ẩn ý, chính những phương châm này sẽ giải thích những hàm ẩn trong hội thoại Bên cạnh đó, khi tham gia hội thoại, chúng ta cũng cần chú ý tới nguyên tắc tôn trọng thể diện, nguyên tắc khiêm tốn tạo nên phép lịch sự

trong hội thoại [3, tr.46,47,48]

Những quy tắc hội thoại nêu ra trên đây chỉ mang tính chất phổ quát Trong thực tế đời sống, ta cần chú ý đến tính địa phương, tính cá nhân, tính dân tộc để ứng xử đúng với những quy tắc hội thoại “đặc ngữ” riêng Đó chính là tính đặc thù liên văn hóa của hội thoại

Các yếu tố đi kèm: trong hội thoại, ngoài ngôn ngữ còn có các yếu tố đi kèm như: điệu bộ, cử chỉ, …Các yếu tố kèm ngôn ngữ rất phong phú gồm: yếu tố kèm lời tĩnh và yếu tố kèm lời động Yếu tố kèm lời tĩnh: diện mạo, trang phục… cung cấp thông tin về giới tính, tuổi tác, dân tộc, thành phần xã hội và có thể là tính cách Yếu tố tĩnh tạo thiện cảm hoă ̣c ác cảm với người đối thoại, từ đó họ có thể chấp nhận hoă ̣c chối bỏ cuộc thoại Yếu tố kèm lời động như nụ cười, nét mặt, tư thế ngồi, khoảng cách ngồi, cử chỉ, điệu bộ khác… Các yếu tố này có thể thay đổi theo cuộc thoại Các yếu tố này rất quan trọng, thiếu chúng hội thoại sẽ tẻ nhạt, thậm chí phải chấm dứt Những yếu tố kèm ngôn ngữ này còn góp phần lý giải ý nghĩa của lời nói

Hội thoại là hoạt động giao tiếp quan trọng của con người nên được các nhà ngôn ngữ nghiên cứu rất kĩ Lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ- Pháp cho rằng

“Hội thoại là một tổ chức tôn ti như tổ chức một đơn vị cú pháp Các đơn vị

của cấu trúc hội thoại từ lớn đến đơn vị tối thiểu là: Cuộc thoại, đoạn thoại, cặp trao đáp, tham thoại, hành vi ngôn ngữ” [3, tr.49]

1.2.2 Cấu trúc hội thoại

Các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về hội thoại ở Thụy Sĩ, tiêu biểu là Eddy Roulet và ở Pháp là Catherine Kerbrat Orecchioni, vào năm 1980 có

Trang 14

nhiều quan điểm thống nhất với nhau về cấu trúc hội thoại cũng như phương hướng nghiên cứu cấu trúc hội thoại

Theo lý thuyết của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học này thì hội thoại

là một tổ chức tôn ti trật tự gồm các đơn vị theo các đơn vị từ lớn đến nhỏ là: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp trao đáp, tham thoại, hành vi ngôn ngữ Ba đơn vị lớn có tính lưỡng thoại, hai đơn vị nhỏ còn lại có tính đơn thoại Cuộc thoại là đơn vị bao trùm lớn nhất Đó là toàn bộ cuốc đối đáp giữa các nhân vật từ khi bắt đầu đến lúc kết thúc Nhà nghiên cứu Catherine Kerbrat Orecchioni cho

rằng: “Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là một nhóm

nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, trong một không gian, thời gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng” [3,tr.49] Thông thường, các cuộc thoại đều có

dấu hiệu mở đầu và kết thúc giúp ta phân định nó

Đoạn thoại của hội thoại theo GS.TS Đỗ Hữu Châu là “một mảng ngôn

bản do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng Về ngữ nghĩa, đó là sự liên kết chủ đề: một chủ đề duy nhất, và về ngữ dụng, đó là tính duy nhất về mục đích” [3,tr.49] Như vậy, cũng có thể

nói, tiêu chí ngữ dụng của đoạn thoại là sự hiện thực một quan hệ lập luận trong đoạn thoại đó Trong một cuộc thoại có thể chia ra nhiều đoạn thoại Chúng thuộc cấu trúc như sau: đoạn thoại mở, thân cuộc thoại, đoạn thoại kết

Cặp trao đáp (cặp thoại) theo nguyên tắc là một đơn vị lưỡng thoại tối thiểu Đây là cơ sở của hội thoại Cặp thoại được cấu thành từ các tham thoại Cặp thoại có liên kết tuyến tính với nhau và thể hiện các tính chất khác nhau Tham thoại là đơn vị đơn thoại Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định Tham thoại có thể lớn hơn, bé hơn hoặc bằng với lượt lời

Trang 15

Hành động ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại Theo GS.TS Đỗ Hữu Châu: “Các ứng xử bằng lời (và các yếu tố kèm ngôn ngữ)

đều căn cứ vào các hành động ngôn ngữ đi trước, không phải căn cứ vào các đơn vị ngữ pháp thông thường như từ và câu Xét trong quan hệ hội thoại, các hành động ngôn ngữ có thể chia thành hai nhóm: những hành động có hiệu lực ở lời và những hành động liên hành động” Những hành động có hiệu lực

ở lời là những hành động làm thay đổi quyền lực và trách nhiệm của người hội thoại Những hành động liên hành động nằm trong quan hệ giữa các hành động tạo nên một tham thoại, chúng có tính chất đơn thoại trong khi các hành động ở lời có tính chất đối thoại Các hành động ngôn ngữ này là: dẫn khởi, tiếp tục, nhắc lại, củng cố, kết thúc, chú thích, đánh giá, nhấn mạnh, điều chỉnh…[3, tr.53] Như vậy, khi khảo sát hội thoại thì cần dựa trên cấu trúc năm cấp bậc trên để phân tích đúng trật tự, làm sáng tỏ được nội dung, mục

đích hội thoại

Nghiên cứu về hội thoại, nguời ta nghiên cứu ở phương diện cấu trúc hội

thoại, “Các cuộc hội thoại tuy thiên biến vạn hóa về kiểu loại và lỏng, trôi

chảy như dòng nuớc với những đơn vị phân dịnh không thật rõ ràng nhưng giữa chúng vẫn có những cái gì đó chung về cấu trúc Chính nhờ những cái chung về cấu trúc này mà mặc dầu không đuợc dạy, huấn luyện một cách bài bản nhung từ bé chúng ta đã làm chủ được chúng, nhờ đó mà “phối kết hợp” đuợc lời nói của chúng ta với nhau một cách “hợp quy cách” khiến cho sự tương tác trong hội thoại diễn ra thuờng êm ả, đạt đuợc mục đích đặt ra cho nó” [3, 290] Ca dao cũng vậy, với những cái chung về cấu trúc hội thoại, ca

dao thể hiện những nét đặc sắc, tinh tế, duyên dáng trong giao tiếp của những người bình dân trong đời sống và sinh hoạt ngày xưa

* Tiểu kết: Như vậy, ca dao là những lời thơ dân gian được hình thành

và sử dụng trong các cuộc hát giao duyên như hát ví, hát ghẹo, hát quan họ…

Trang 16

Lời thơ đó có chức năng thực hiện một hành động giao tiếp nào đó trong cuộc đối đáp như hỏi, bày tỏ, cầu khiến, thề hẹn, từ chối, trách cứ… Lời ca dao có cấu trúc là một cuộc hội thoại với lượt trao lời và lượt đáp lời

Bên cạnh đó,chương một luận văn đã đề cập đến những tiền đề lí thuyết cơ bản về ngữ dụng học có liên quan Tuy đối tượng nghiên cứu của luận văn không phải là bản thân các khái niệm, các quy tắc nhưng những lí thuyết trên chính là cơ sở để đi đến việc nghiên cứu đặc trưng cấu trúc hội thoại trong ca dao và góp phần vào nghiên cứu văn hoá ứng xử giao tiếp của người Việt

Trang 17

CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG CẤU TRÚC HỘI THOẠI TRONG CA DAO

2.1 Đặc trưng cuộc thoại trong ca dao

2.2.1 Cuô ̣c thoa ̣i hoàn chỉnh

Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất trong cấu trúc hội thoại Đó là toàn bộ cuộc đối đáp giữa các nhân vật từ khi bắt đầu đến khi kết thúc cuộc hội thoại Tuy nhiên, trong ca dao, hầu hết những bài ca dao thường chỉ dừng lại, kết thúc giữa chừng mà không có mở đầu, kết thúc rõ ràng Vì thế, cuộc thoa ̣i trong ca dao vốn rất khó được xác đi ̣nh

Tuy nhiên, ta vẫn có thể bắt gă ̣p những cuộc thoại trong ca dao bằng lời

ca củ a những cuô ̣c hát đối đáp, có mở đầu, có nô ̣i dung và kết thúc trong suốt cuộc diễn xướng Cuô ̣c thoa ̣i do mô ̣t nam và mô ̣t nữ đa ̣i diê ̣n cho hai phe trai

gái đố i đáp để giao duyên, thử tài nhau, go ̣i là hát đôi Hình thức này rất được phổ biến và ưa chuộng Trai gái mê nhau qua những lời ca mùi mẫn, qua tài ứng đối nhanh nhẹn, đồng thời cảm hóa nhau về đức hạnh, tính nết đươ ̣c bày

tỏ bằng lời hát trong mô ̣t cuô ̣c hát giao duyên

Cùng lắng nghe đôi trai gái đối đáp với nhau trong quan hệ tình cảm tương hợp, trong nhịp lòng đồng điệu, hoà quyện vào nhau mà không xung khắc, đối chọi Đó là những tâm trạng bâng khuâng, vui buồn, những niềm thương nỗi nhớ trao gởi cho nhau để cùng nhau san sẻ Nội dung đối đáp như một chuyện tình lứa đôi trong đời thường được thi vị hoá như một kịch bản

vớ i mô ̣t cuô ̣c thoa ̣i hẳn hoi, có chào hỏi, có đi vào nô ̣i dung vấn đề rồi có lời chào ta ̣m biê ̣t

Gặp nhau, cô gái mở lời:

Em tới đây đất nước nhà ngươi

Quê hương nhà bạn không biết vui cười với ai

Trang 18

Người nam đáp lời:

Em đã tới đây thì anh thưa với xóm, với phường

Để cho người lạ ngụ đương đây cùng

Cô gái đáp la ̣i:

Thiếp với chàng vô can vô cớ

Bắt lấy chữ tình thiếp nhớ chàng thương

Tưởng là vạn thọ vô cương

Té mô hay chàng Nam, thiếp Bắc thảm trăm đường chàng ơi

Chàng trai tiếp lời cô gái:

Thiếp với chàng Bắc, Nam hai ngả Nay chự chừ hữu xạ tự nhiên hương Gặp em đây anh cũng muốn gá nghĩa cang thường

Sợ thầy với mẹ đã vấn vương cho em rồi

Cô gái và chàng trai cứ thế tiếp nối lời đố i đáp để giãi bày tất cả nỗi

lòng của mình:

Núi Ngự Bình trước tròn sau méo

Sông An Cựu nắng đục mưa trong Trách ai một dạ hai lòng

Em ôm duyên thủ tiết long đong đợi chờ

Chàng trai:

Núi Ngự Bình trước tròn sau méo Sông An Cựu nắng đục mưa trong Bởi vì thầy với mẹ lánh đục tìm trong Nên chi duyên chàng nợ thiếp long đong mãi hoài

Cô gái:

Chim trong lồng còn thương cây nhớ cội Người xa người tội lắm người ơi!

Trang 19

Nỏ thà không chộ (thấy) thì thôi Chộ rồi đôi đứa đôi nơi thật thảm sầu

Chàng trai:

Cầu Trường Tiền mười hai vài sáu nhịp Anh qua không kịp tội lắm em ơi Mấy lâu ni chịu tiếng mang lời Dẫu xa nhau ngàn dặm, dạ vẫn bồi hồi nhớ thương

Chàng trai không đơ ̣i cô gái đáp mà tiếp tu ̣c:

Tai anh nghe thầy mẹ bán gả em đi Cũng bằng đưa dao vô cắt ruột anh thì em ơi

̀ i cô gái:

Ví dầu thầy mẹ nhận lễ một trăm mâm

Em cũng xin trả lại để kết nghĩa tri âm với chàng

Sự gặp gỡ nào rồi cũng phải chia tay, nhưng lúc chia tay bao giờ cũng dùng dằng, lưu luyến Giữa chàng trai và cô gái vẫn còn gì đó như muốn giữ

lại bước chân nhau

Cô gái phải mở lời:

Sao hôm đã lặn, sao mai đã mọc anh tề

Thôi thời bớt lời nhân nghĩa cho em về kẻo khuya

Chàng trai cố níu kéo:

Ra về răng dứt mà về

Bỏ thương bỏ nhớ bỏ lời thề cho ai

Cô gái ngâ ̣p ngừng hỏi, như còn vấn vương:

Ra về nhớ nghĩa em không Hay thuận buồm xuôi gió biệt mông xa chừng

Trăng lên, nỗi vấn vương không đủ giữ chân hai người ở la ̣i thêm giây phú t nào, chàng trai đành buông lời tiếc nuố i:

Trang 20

Trăng lên đến đó em tề

Ta chưa nói chi được em đành về bỏ ta

Một cuộc thoại đôi khi cũng là đối đáp nhưng không phải trao duyên

mà là một cuộc thử trí, thử lòng:

Thằng Bờm có cái quạt mo Phú ông xin đổi ba bò chín trâu Bờm rằng : Bờm chẳng lấy đâu Phú ông xin đổi ao sâu cá mè Bờm rằng : Bờm chẳng lấy mè Phú ông xin đổi một bè gỗ lim Bờm rằng : Bờm chẳng lấy lim Phú ông xin đổi con chim đồi mồi Bờm rằng : Bờm chẳng lấy mồi Phú ông xin đổi hòn xôi, Bờm cười

Đây là bài đồng dao sáng tác cho trẻ em, giáo dục trẻ em tính thật thà, chất phác, không tham lam Bài ca dao không phải là một bài đối đáp thuần túy mà là kể lại câu chuyện dưới hình thức đối đáp, tác giả là người ngoài cuộc, kể lại cuộc hội thoại của Bờm và Phú ông Cuộc hội thoại có mở đầu với phần giới thiệu “ Thằng Bờm có cái quạt mo”, có diễn biến nội dung với phần đối đáp của hai nhân vật, và kết thúc cuộc thoại là việc Bờm đồng ý đổi chác cái quạt mo với nắm xôi – phù hợp với giá trị của cái quạt :“ Bờm cười”

Một trường hợp khác, cặp trai gái bày tỏ lòng mình qua những câu hát đối đáp mượt mà với cuộc “hò” trên sông nước Cuô ̣c hát chia làm ba chặng diễn xướng Chặng một là rao, dạo để tìm hiểu đối phương Lời hò khiêm nhượng, từ tốn Chặng thứ hai là hò đố, hò kết bạn, hò se duyên Đây là giai đoạn chính của cuộc hò, rất sôi nổi, hồi hộp và hết sức hào hứng Chặng ba là

hò giã từ, hẹn nhau trong mùa cấy khác

Trang 21

Mở đầu là phần gợi mở, ướm lời của chàng trai:

Bạc với vàng con đen, con đỏ

Đôi đứa mình còn nhỏ thương nhiều

Vừa nghe tiếng em là anh muốn như anh Kim Trọng, Anh Kim Trọng thương chị Thúy Kiều thuở xưa

Cô gái đáp lại ngay:

Ớ người không quen ơi, Nghe anh, em cũng muốn thương nhiều,

Nhưng hoa đà có chủ

Cũng khó chiều dạ anh

Dễ gì chịu rút lui, chàng trai tiếp lời:

Chim kia còn thỏ thẻ trên cành

Nghe em nói vậy,

Dạ không đành rẽ phân

Cô gái tỏ ra phân vân:

Bình bồng giữa chốn giang tân, Bên tình bên nghĩa biết thân bên nào?

Cậu trai được thế, nhào vô:

Nhứt lê, nhì lựu, tam đào

Bên tình bên nghĩa

Bên nào cũng đồng thân

Thấy chàng trai có vẻ "xôm vô", cô gái liền làm cao:

Gió thổi hiu hiu, lục bình trôi riu ríu, Anh đừng bận bịu, bớ điệu chung tình

Con nhạn bay cao khó bắn,

Mà con cá ở ao quỳnh cũng khó câu ơ

Bị thách thức, chàng trai đâu dễ chịu thua:

Trang 22

Ớ nầy em hai ơi, hãy nghe cho kỹ, Xưa nay gái không cưới chồng, trai không ở giá

Anh đoái thương nàng xinh đã quá xinh

Buông lời cất tiếng nỉ non, Nếu như nàng lo việc cháu con, Sao không kiếm chốn trao thân gởi thế?

Trên đời bá công bá nghệ, dưới lại là tứ thứ tứ dân

Làm người sao khỏi chữ lương nhân,

Mà nàng đành chịu để phòng không chiếc bóng?

Sách có chữ: phụ nhân nan hóa, ít kẻ yêu vì, Nên lấy chồng phải luận phải suy, Phải xem trong lóng đục

Đây đã đến thời, phải lúc, Hay nàng còn cúc dục cù lao?

Hơ ơ để anh ngơ ngẩn ra vào, Thầm yêu trộm nhớ, dạ nào bỏ anh ơ

Anh chàng hí hửng tưởng mình đã ở thế thượng phong, nhưng cô nàng đáp lại ngay:

Ớ nầy anh nó ơi, Phận em giao phó cho trời xanh,

Lấy anh thì em không lấy, nhưng cũng không đành làm ngơ

Vốn em cũng chẳng bơ thờ,

Em đã từng chọn trong lóng đục, nhưng vẫn còn ngờ nợ duyên

Vốn em cũng muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang,

nhưng em lại sợ ổng hay gia hay giảm

Em cũng muốn lấy ông thầy pháp cho ra đám,

Trang 23

nhưng sợ ổng hét la ghê gốc

Em muốn lấy chú thợ mộc, nhưng sợ chú hay đục khoét rầy rà

Em muốn lấy ông thợ cưa cho thật thà, nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt

Em muốn lấy người hạ bạc, nhưng lại sợ mang lưới mang chài

Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai, nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới

Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi, nhưng sợ ảnh hay nói tức nói êm

Em muốn lấy anh đặt rượu làm men, nhưng lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi

Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi, nhưng sợ ổng hay giọng quyển giọng kèn

Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn, nhưng lại sợ nó nhiều điều thá, ví

Em muốn lấy ông lái buôn thành thị, nhưng sợ ổng kêu rêu mắc rẻ khó lòng

Em muốn lấy anh thợ đóng cột, đóng thùng, nhưng sợ ảnh hay trật niềng, trật ngõng

Em muốn lấy ông hương, ông tổng, nhưng lại ghê việc chống, việc gông

Em muốn lấy anh hàng gánh tay không, nhưng lại sợ đầu treo, đầu quảy

Em muốn lấy anh thợ đát, thợ đan, nhưng sợ ảnh hay bắt phải, bắt lỗi

Trang 24

Em muốn lấy anh kép hát bội, nhưng lại sợ giọng rỗi, giọng tuồng

Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng, nhưng sợ ảnh hay dằn, hay thúc

Hò ơ Mấy lời trong đục, chẳng dám nói ra

Có thày giáo tập dạy ở làng ta, hay khuyên hay điểm, hay dạy, hay răn

So đức hạnh ai bằng, Lại con nhà văn học,

Sử kinh thày thường đọc, biết việc thánh hiền

Gặp nhau em kết nghĩa liền, Không chờ chẳng đợi, cho phỉ nguyền phụng loan ơ

Mỗi thành viên của cối hò theo chủ đề của mình luân phiên diễn xướng đối đáp với nhau mà các nghệ nhân đã quy ước

Cuộc thoa ̣i trong ca dao thâ ̣t sự là mô ̣t nô ̣i dung hấp dẫn, cho ta thấy đươ ̣c những nét tinh tế, duyên dáng trong lời nói của nam nữ thời xưa, những

lờ i trao gửi tình cảm vừa đầy ắp ân tình, vừa vô cùng có duyên

2.2.2 Cuô ̣c thoa ̣i không hoàn chỉnh

Theo lý thuyết hô ̣i thoa ̣i, mô ̣t cuô ̣c thoa ̣i ngắn nhất cũng đủ hai vế đối thoại là trao lời và đáp lời Tuy nhiên, các công trình biên soa ̣n ca dao dân ca

từ trước đến nay cho thấy các cuô ̣c thoa ̣i đầy đủ trong ca dao rất ít mà đa số tồ n tại dưới da ̣ng không đầy đủ Da ̣ng đó chính là cuô ̣c thoa ̣i không hoàn chỉnh, hay còn go ̣i là “mảnh vỡ hội thoại trong ca dao” [16,tr.189]

Trang 25

Cuộc thoại không hòa chỉnh có ba dạng Đó là dạng cuộc thoại bị cắt bớt, dạng cuộc thoại chỉ có một vế, dạng lời thoại bị xé nhỏ hoặc bị cắt bớt

Dạng cuộc thoại bị cắt bớt là bài những ca dao chỉ có lượt lời của một bên, lượt lời của bên còn lại bị cắt bớt nhưng vẫn tồn tại ở dạng cuộc thoại Trong thực tế hát đối đáp, cuộc thoại giữa hai phe nam và nữ nhằm để giao duyên, thử tài nhau có thể kéo dài hàng giờ, thậm chí thâu đêm Trong cuộc thoại đó đương nhiên sẽ có sự luân phiên lượt lời giữa bên nam và bên nữ Thế nhưng, khá nhiều bài ca dao chỉ có một lượt lời của người nam hoặc người nữ mà không có phần lượt lời của người còn lại Chẳng hạn như trong bài ca dao thách cưới:

Cưới em trăm tấm lụa đào Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng

… Cưới em chin chĩnh mật ong Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò

Cưới em tám vạn trâu bò Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

Lá đa mặt nguyệt hôm rằm Răng nanh thằng Cuội, râu cằm Thiên Lôi

Gan ruồi, mỡ muỗi cho tươi Xin chàng chín chục con dơi góa chồng Thách thế mới thỏa trong lòng Chàng mà lo được, thiếp cùng theo chân

Lời ca trên là lời thách cưới của cô gái con nhà giàu đối với chàng trai Những lễ vật mà cô đưa ra thật tình đã làm khó cho chàng trai rất nhiều Nào

là lụa đào, ngọc, vàng, bạc rồi tới trâu, bò Song những thứ ấy thì còn có thể

Trang 26

xoay được nếu chàng trai là con của nhà quyền quý Nhưng còn các lễ vật khác như ông sao trên trời, gan ruồi, mỡ muỗi… thì kiếm đâu ra? Lễ vật thách cưới của cô gái thật là oái oăm, chàng trai khó lòng mà đáp ứng được Như thế, chàng trai đành bỏ cuộc, ôm mối tương tư và có lẽ phải tìm cho mình một người con gái khác phù hợp hơn, ít nhất là với điều kiện của mình Nhưng nếu bài ca dao thực sự kết thúc ở đây thì thật khiến người ta thất vọng, bởi lẽ họ đang trong trạng thái choáng váng khi nghe lời thách cưới của cô gái và cái

mà họ đang hồi hộp chờ đợi lúc này là sự đáp lời của chàng trai

Và trên thực tế, vẫn có lượt lời của chàng trai đáp trả lại lời thách cưới của cô gái trong một bài ca dao khác:

Anh là con trai học trò

Em mà thách cưới thế anh lo thế nào?

Em khoe em đẹp như sao

Để anh lận đận ra vào đã lâu

Mẹ em thách cưới cho nhiều Thử xem anh nghèo có cưới được không?

Nghèo thì bán bể bán sông Anh cũng cố cưới lấy công ra vào Cưới em trăm tám ông sao Trăm tấm lụa đào mươi cót trầu cau Cưới em một trăm con trâu Một nghìn con lợn, bồ câu tám nghìn…

… Cưới em ba chum mật ong Mười thúng mỡ muỗi ba nong quýt đầy

Họ hàng ăn uống no say Mười ngày ròng rã mặt rày xướng ca

Trang 27

Nếu lời thách cưới của cô gái khiến người ta phải chóng mặt thì sự đáp lời của chàng trai càng khiến người ta phải ngạc nhiên và có phần nể phục Chàng trai này thật lém lỉnh và táo bạo Thông thường trong tình huống này người ta sẽ tiến hành thương lượng để giảm bớt lễ vật thách cưới nhưng ở đây, chàng trai lại tỏ ra hết sức bình thản Không chỉ vậy, lễ vật mà anh đáp ứng còn có vẻ vượt quá yêu cầu của cô gái Đây quả là một anh “học trò” bản lĩnh, vì tình yêu mà anh đã vượt qua được rào cản của vật chất tầm thường Sự đáp lễ này đã thể hiện được phần nào sự tôn trọng của chàng trai đối với phẩm giá của cô gái và sự đồng cảm của anh đối với người mình yêu Và như vậy,

sự tồn tại lượt lời của chàng trai trong bài ca dao này đã khiến cho cuộc thoại thêm phần kịch tính, hấp dẫn và biết đâu cuộc thoại sẽ còn kéo dài với những điều thú vị hơn nữa

Có những bài ca dao dạng cuộc thoại nhưng chỉ có một vế Đó là dạng tồn tại thứ hai của cuộc thoại không hoàn chỉnh

Anh nói với em Như rựa chém xuống đá Như rạ cắt xuống đất Như mật rót vào tai Bây chừ anh đã nghe ai

Bỏ em giữa chốn thuyền chài rứa chi?

Căn cứ vào cách xưng hô và nội dung của lời thoại, có thể thấy đây là lời của một cô gái có ý trách móc chàng trai phụ bạc, đành lòng vứt bỏ ân nghĩa thủy chung để chạy theo cuộc tình mới Ở đây không có phần lời của chàng trai, nhưng theo đúng lý thuyết hội thoại thì phải có, bởi lẽ nếu không

có lời thoại của chàng trai (có thể là lời thề non hẹn biển, nguyện suốt cuộc đời thủy chung, son sắt với tình yêu) thì cớ sao cô gái lại có thể buông những lời trách móc ấy được

Trang 28

Ngoài ra, một biểu hiện nữa của dạng cuộc thoại không hoàn chỉnh là

sự xé nhỏ hoặc cắt bớt lời thoại, điển hình như:

-Ngày đi lúa chửa chia vè Ngày về lúa đã đỏ hoe ngoài đồng

- Ngày đi rúc chửa mọc măng Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre

- Ngày đi em chửa có chồng Ngày về em đã con bồng con mang

Trên thực tế thì những câu ca dao này cùng tồn tại trong một bài :

- Ngày đi rúc chửa mọc măng Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre Ngày đi lúa chửa chia vè Ngày về lúa đã đỏ hoe ngoài đồng Ngày đi em chửa có chồng Ngày về em đã con bồng con mang

Những biểu hiê ̣n trên đã cho ta thấy sự phong phú, đa da ̣ng và phức ta ̣p trong hoạt đô ̣ng sáng tác lưu truyền và diễn xướng ca dao dân gian Với viê ̣c áp du ̣ng lý thuyết hô ̣i thoa ̣i trong tiếp câ ̣n ca dao đã cho ta thấy những phần

lờ i bi ̣ cắt xén, thiếu sót, chắp vá, bỏ lửng,….ta ̣o thành những “mảnh vỡ hô ̣i thoại” trong ca dao và trong cả những lời đối đáp khuyết phần đáp lại của đối

tác ta ̣o thành tham thoa ̣i hẫng là mô ̣t nét đă ̣c sắc, vô cùng giá tri ̣ của ca dao Việt Nam

2.2.3 Quy mô cuộc thoại

Khi giao tiếp, tức là thực hiện một cuộc hội thoại, các nhân vật giao tiếp sẽ thực hiện một cuộc thoại với quy mô nhất định Một cuộc hội thoại thông thường bao gồm có mở thoại, thân thoại và kết thoại Tuy nhiên, mỗi cuộc hội thoại thường bất định về quy mô, có thể có cả mở thoại, thân thoại,

Trang 29

kết thoại có thể vắng yếu tố nào đó Một cuộc thoại cũng có thể có ít hoặc nhiều các nhân vật tham gia hội thoại Nguyễn Đức Dân có cách định nghĩa

cuộc thoại một cách đơn giản như sau: “Chúng ta đề cập tới thuật ngữ “cuộc

thoại” vì nói tới hội thoại là nói tới cuộc thoại Đó là một lần nói chuyện, trao đổi giữa những cá nhân, ít nhất là hai trong một xã hội Ngắn là những cuộc thoại chỉ chứa một cặp câu như: chào - chào, hỏi - đáp, đề nghị - đồng

ý, ra lệnh - nhận lệnh,…” [5, tr 79] Tuy nhiên, cũng có những cuộc thoại kéo

dài với những nội dung liên tiếp nhau, các nhân vật tham gia nhiều hơn hai, ba,…Trên cơ sở đó, ta đề cập đến quy mô cuộc thoại

Có những cuộc thoại đơn giản, rất ngắn, chỉ hai lượt lời là lời chào hỏi hoặc đối đáp của hai nhân vật:

- Đến đây hỏi bạn tương tri

Đá lèn ăn với lộc chi ơi chàng?

- Anh đây giảng sách đã thông

Đá vàng ăn với trầu không ơi nường

Đó là cuộc thoại có khi chỉ hai lượt lời, không có mở đầu, nhưng cũng không tiếp diễn nên cuộc thoại kết thúc với quy mô đơn giản

Có khi cuộc thoại chỉ có một người nói với một hay nhiều người nghe

Đó là cuộc thoại kể lại một cuộc thoại khác trong một bài ca dao:

“Sáng ngày em đi hái dâu Gặp hai anh ấy ngồi câu Thạch Bàn Hai anh đứng dậy hỏi han Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu Thưa rằng em đi hái dâu Hai anh đứng dậy mở trầu mời ăn Thưa rằng bác mẹ em răn Làm thân con gái chớ ăn trầu người

Trang 30

Trong câu chuyện trên cô gái đang trần thuật lại sự việc thông qua việc

kể lại diễn biến câu chuyện từ đầu đến cuối Câu chuyện diễn ra với nhiều tình tiết từ việc cô gái đi hái dâu, gặp hai chàng trai đang ngồi câu cá, rồi họ mời cô ăn trầu và cô đã từ chối Trong bài ca dao trên có cả lời hỏi, lời đáp của cô gái và chàng trai nhưng không phải là cặp trao đáp mà chỉ là lời trần thuật lại của cô gái Có thể bài ca dao trên là lời cô gái đang kể lại cho bạn bè hoặc người thân cô nghe mà thôi

Có những cuộc thoại thoại nhiều lượt lời, nhiều nhân vật tham gia giao tiếp Đó là những cuộc hát đối đáp với hai phe nam nữ và không thể xác định bao nhiêu nam, bao nhiêu nữ Vào những đêm trăng từng lớp gái trai giã gạo hát hò Họ trao nhau tình cảm qua câu hát tiếng chày Có cô gái cất giọng hát:

Em như một đóa tường vi Giai lên đến ngọn dễ chi hái về

Một người trong đám hát rằng:

Em như một đóa tường vi Anh như con bướm sợ gì đám gai

Có một cô gái khác đáp lời:

Tường vi hoa dại bên rào

Ai mà động đến gai cào sướt tay

Trang 31

Khi nghe chàng trai cất tiếng, cô gái liền bẻ lại:

Rau muống trổ bông lên bờ nó trổ

Ai biểu anh chờ mà anh kể công ơn

Khi cô gái đáp lại, chàng trai tiếp nối cuộc thoại:

Khế với canh một lòng chua xót Mật với gừng một ngọt một cay

Ra về bỏ áo lại đây

Để khuya em đắp gió tây lạnh lùng

Chàng trai liền đáp trả:

Có lạnh lùng lấy mùng mà đắp Trả áo cho anh về đi học kẻo trưa

Như vậy, một cuộc thoại có thể xác lập từ quy mô đơn giản chỉ có hai nhân vật giao tiếp, có khi một người nói nhiều người nghe, có khi chỉ là lời đối và đáp,…đến quy mô lớn hơn như cả một cuộc đối đáp với hai phe nam

nữ diễn biến suốt một buổi, một đêm, một ngày, Quy mô của những cuộc thoại trong ca dao vốn tùy thuộc và chịu ảnh hưởng của nhân vật, hoàn cảnh

và nội dung cuộc giao tiếp

2.2 Cấu trúc đoạn thoại trong ca dao

Đoạn thoại là một phần của cuộc thoại gồm nhiều că ̣p thoại, là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng học Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ đề: Một chủ

đề duy nhất và về ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích Cấu trúc của một cuộc thoại có thể là: đoạn thoại mở, thân cuộc thoại, đoạn thoại kết thúc

2.2.1 Đoạn thoại mở thoại

Thông thường, sự phân đoạn thoại trong ca dao cũng không rành mạch, chủ yếu dựa vào trực cảm và võ đoán Đoạn thoại mở phần lớn là công thức hoá, mang nhiều tính chất đưa đẩy Ngoài việc “phá vỡ tảng băng “giữa các

Trang 32

nhân vật, đoạn thoại mở còn thăm dò đối phương về mọi mặt (hứng thú với đề tài nào, quan hệ giữa mình với đối phương ) Đoạn thoại mở thường tránh xúc phạm đến thể diện của người nghe, chuẩn bị một “hoà khí” cho cuộc thoại Hoa ̣t đô ̣ng giao tiếp trong ca dao dân ca thường mở đầu bằng những lời thoại : chào, mời, gặp, đến, rủ, tới, Trong hoạt động gặp gỡ thì có: gặp em,

gặp nhau, gặp đây, Gặp nhau thường ở những không gian thoáng đãng như

ở cánh đồng, đường vắng, ngã ba, bến sông để mở đầu hội thoại bằng việc làm quen, mời trầu, hò hát Tương ứng, trong một đoạn thoại sẽ xuất hiện những đoạn thoại mở đầu:

- Gặp nhau anh muốn tỏ tường Xin nàng cho biết quê hương nơi nào?

- Chàng hỏi em phải nói ra Bắc Ninh là tỉnh huyện nhà không sai

Trong cuộc thoại này, chàng trai là người mở thoại với ý “đưa dẩy” mong muốn được cùng cô gái giao tiếp hội thoại với mình với lời nói “anh muốn tỏ tường” Rõ ràng, cô gái đã tinh tế nhận ra những lời ướm của chàng trai và chính cô gái cũng tạo ra hòa khí cho cuộc giao tiếp khi trả lời lại

“chàng” một cách rất khôn khéo, vừa để duy trì cuộc hội thoại, vừa kín đáo dễ thương :

“Chàng hỏi em phải nói ra”

- Khăn lông rút gốc đẹp tợ như rồng, Anh muốn mua cho đội, sợ chồng em ghen

- Vịt bầu đòi tắm ao sen, Chồng tôi chưa có, mà ghen nổi gì?

Tương tự đoạn thoại trên, chàng trai là người mở thoại với ý “đưa dẩy”, mượn việc muốn mua khăn để mong muốn được cùng cô gái giao tiếp hội thoại với mình Rất khôn ngoan, anh chọn cách đón đầu khi nói “ sợ chồng

Trang 33

em ghen” để thăm dò cô gái và biết chắc có nên bắt đầu cuộc hội thoại hay không Cô gái cũng đã nhận ra ý nghĩa lời nói của chàng trai và trả lời đúng ý một cách rất khôn khéo

Bên cạnh là các đoạn thoại với nội dung chào hỏi, tâm tình, hò hát, mở đầu cuộc giao tiếp:

- Hỏi chàng quê quán nơi đâu,

Mà chàng thả lưới buông câu chốn này

- Quê anh ở phủ Hưng Nguyên Phú long là tổng, Liệu xuyên là làng

Đấy là lời nói trống đầy khéo léo, cô gái đã đã mượn lí do hỏi quê quán

và việc đi câu để mở lời, nhằm thăm dò đối phương và tìm cách rút lui cho bản thân, mục đích là để làm quen đồng thời tránh sự vồ vập, thẳng thắn quá khi mình là nữ:

- Bữa ni chàng mới tới nhà Hỏi chàng coi thử ở xa hay gần?

- Trước Lam Thuỷ, sau Hồng Sơn, Nhà nào đọc sách gảy đờn nhà anh

Hoạt động chào mời là hoạt động mở đầu cuộc thoại, bắt đầu bằng những đoạn thoại chào mời thể hiện đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Việt Nam, phổ biến là người nữ đón tiếp người nam với lời chào mời thân tình:

-Chào chàng tới cảnh trần cung Chào mừng rộn hỏi anh hùng gần xa -Mời chàng nhẹ gót vào hiên Thơ thần rượu thánh trà tiên ngọt ngào

Trong giao tiếp, hoạt động cốt lõi để làm quen là hỏi để bắt đầu cho cuộc giao tiếp:

Trang 34

-Hỏi anh tên họ những chi

Nó cho em biết mai đi em chào

Với hành động hỏi trực tiếp nơi chốn, phần lớn các cô gái, chàng trai muốn biết quê quán của nhau, vì cuộc đối đáp thường diễn ra trong ngày hội làng, trai gái nhiều vùng khác nhau kéo đến Điều này phù hợp với tính cách người Việt: trước khi trao gửi tình yêu, người ta cần xác định nguồn gốc, gia cảnh hai bên Bên cạnh đó, đó là cách vào đề rất duyên dáng để bắt

đầu cuộc đối đáp

Đoa ̣n thoa ̣i dưới đây gồm mô ̣t că ̣p thoa ̣i, mở đầu cho cuộc hội thoại Tuy nhiên, đoa ̣n thoa ̣i này kết thúc và không biến diễn nữa :

-Anh đến với trăng thì trăng đã mọc Anh đến với hoa thì hoa đã nở Anh đến với đò thì đò đã sang sông Anh đến với em thì em đã lấy chồng

Em đối với anh như rứa Hỏi có mặn nồng chăng em?

- Anh đến với trăng, trăng đến giờ thì trăng phải mọc Anh đến với hoa, hoa đến thời thì hoa phải nở Anh đến với đò, đò đầy đủ chuyến thì đò phải sang sông

Anh đến với em, đến duyên thì em phải lấy chồng

Em đối với anh như rứa Còn mặn nồng thì tùy anh

Bài ca dao trên có 2 lươ ̣t lời, là lời của chàng trai và cô gái Chàng trai bắt đầu câu chuyện bằng một loạt hình ảnh để tránh bớt sự thẳng thắn, bất ngờ khi dò hỏi tình cảm của cô gái Trước một loạt các câu hỏi chàng trai đặt ra,

cô gái đã trả lời mô ̣t cách rất khôn khéo, đầy đủ Tuy nhiên, hai lượt lời đều

Trang 35

thống nhất một đề tài, ta có thể xếp đây là một cuộc thoại có một cặp trao đáp, một đoạn thoại hoàn chỉnh

Như vậy, đoạn thoại mở thoại của các nhân vật tham gia hội thoại có tính chất chuẩn bị cho một cuộc thoại có thể có ý nghĩa cho cả đời của hai nhân vật giao tiếp

2.2.2 Đoạn thoại thân cuộc thoại

Đoạn thoại thân cuộc thoại là đoạn thoại tiếp nối đoạn mở thoại, tiếp tục

cuộc hội thoại để bước vào nội dung cần trao đáp:

- “Anh đi lấy vợ cách sông

Em đi lấy chồng giữa ngõ anh ra”

- “Có lấy thì lấy xa xa Chớ lấy trước ngõ anh ra, anh buồn”

- “Buồn thời cất gánh đi buôn Một vốn bốn lãi anh buồn làm chi”

Ở bài ca dao trên có đến 2 cặp thoại, tức là có đến 4 lượt lời Đoạn thoại trên đi thẳng vào vấn đề cần nói, đó là lời đối đáp giữa chàng trai và cô gái về chuyện tình duyên không thành Bố mẹ cô gái thách cưới quá lớn khiến hai người không thể đến với nhau Chàng trai trong bài ca dao tỏ ra xót xa, đau buồn…nhưng cô gái lại tỏ ra rất cứng rắn, mạnh mẽ Cô gái vẫn hy vọng những điều tốt nhất sẽ đến với chàng trai, mặc dù vẻ bề ngoài cô tỏ ra lạnh lùng Cả hai nhân vật cùng đã đi qua phần mở đầu, chào hỏi để tham gia vào nội dung giao tiếp, cùng đối đáp về vấn đề chính, về điều cần nói Đoạn thoại

là phần cơ bản của chủ đề cuộc thoại, trước khi đi đến phần kết:

- “Buồn vì con gái nữ nhi

Mẹ cha thách cưới làm chi lỡ làng”

Một ví dụ khác với hai người nói, hai lượt lời:

SP1 - Nghe em phân như dần khúc ruột

Trang 36

Gần nhau chưa được lại nói cuộc chia xa

Thế nào cũng ráng chờ qua, Tiền lo không kịp, qua sẽ bán nhà cưới em

SP2 - Hỏi thử anh cho biết đường nhơn ngãi,

Em đâu có ngại sự đợi chờ

Một lời hứa đạo tóc tơ Trăm năm cũng chẳng hững hờ dạ riêng

Bài ca dao có hai lượt lời, gồm 8 dòng Trình tự của lượt lời trao SP1 như sau:

Tham thoại 1: Nghe em phân như dần khúc ruột … chia xa là tham

thoại bày tỏ Chàng trai bày tỏ tâm trạng xót xa của mình trước sự chia ly

Tham thoại 2 : Thế nào cũng ráng chờ qua là tham thoại thỉnh cầu

Chàng trai mong muốn cô gái chờ mình

Tham thoại 3: Tiền lo không kịp, qua sẽ bán nhà cưới em là tham

thoại hứa hẹn Chàng trai hứa hẹn sẽ kiếm tiền cưới cô gái bằng mọi giá cho dù phải bán nhà

Trình tự lượt lời đáp SP2:

Tham thoại 1 : Hỏi thử anh cho biết đường nhơn ngãi thuộc tham

thoại giải thích Cô gái giải thích lí do thực hiện hành động hỏi của mình trước đây

Tham thoại 2 : Em đâu có ngại đợi chờ là tham thoại chấp nhận gián

tiếp Cô gái chấp nhận lời thỉnh cầu

Tham thoại 3 Một lời hứa … dạ riêng là tham thoại hứa hẹn Cô gái

hứa hẹn sẽ đợi chờ

Rõ ràng, chàng trai và cô gái phải trải qua giai đoạn mở đầu, chàng trai phải nghe cô gái phân bua như thế nào rồi mới cảm thấy “dần từng khúc ruột” Còn cô gái đã mở đầu cuộc hội thoại bằng sự thử lòng chàng trai qua

Trang 37

những câu hỏi “Hỏi thử anh cho biết đường nhơn ngãi” Đoạn thoại có cơ

sở để diễn biến với những bày tỏ của chàng trai và cô gái tiếp tục và kéo dài cuộc hội thoại Đây chính là đoạn thoại làm nên thân cuộc thoại của các nhân vật giao tiếp

Như vậy, với phần đi tiếp nối phần mở đầu, đi vào nội dung của cuộc thoại, đoạn thoại thân cuộc thoại là phần quan trong nhất trong cuộc hội thoại Cuộc thoại không thể mở đầu rồi kết thúc mà không bày tỏ vấn đề, nội dung

2.2.3 Đoạn thoại kết thúc

Đoạn thoại kết thúc là những đoạn thoại chẳng những có chức năng tổ chức sự kết thúc cuộc gặp gỡ mà còn tìm cách xác định cái cách mà người ta phải chia tay, cảm ơn, hứa hẹn, lời chúc Vì phép lịch sự, phải tránh sự kết thúc đột ngột, đơn phương Dưới đây là những ví dụ:

Sao hôm đã lặn, sao mai đã mọc anh tề

Thôi thời bớt lời nhân nghĩa cho em về kẻo khuya

Chàng trai cố níu kéo:

Ra về răng dứt mà về

Bỏ thương bỏ nhớ bỏ lời thề cho ai

Cô gái ngâ ̣p ngừng hỏi, như còn vấn vương:

Ra về nhớ nghĩa em không Hay thuận buồm xuôi gió biệt mông xa chừng

Chàng trai đành buông lời tiếc nuối:

Trăng lên đến đó em tề

Ta chưa nói chi được em đành về bỏ ta

Một trường hợp khác:

- Nếu không thệ hải minh san,

Làm sao biết được đá vàng chì thau

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w