1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trồng cam của các hộ nông dân trên địa bàn huyện cao phong tỉnh hòa bình

92 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 797,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu - Cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp - Thực trạng tình hình trồng cam của hộ nông dân trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu do bản thân tôi trực tiếp thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Hà Nội, ngày tháng năm

Người cam đoan

Phạm Thị Mai Linh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN Với sự chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo Ban Giám Hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học; sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,

sự nỗ lực của bản thân để thực hiện được công trình nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trồng cam của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Cao Phong – tỉnh Hòa Bình”, tôi xin chân thành cảm ơn:

Sự giúp đỡ tận tình của Thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS TS Trần Hữu Dào – người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

và thực hiện luận văn

Ban giám hiệu nhà trường, Phòng đào tạo sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Các Phòng, Ban của UBND huyện Cao Phong, UBND thị trấn Cao Phong, UBND xã Tây Phong, xã Bắc Phong, xã Dũng Phong, xã Tân Phong, xã Thu Phong và các hộ gia đình ở thị trấn và các huyện trên đã tạo điều kiện cho tôi trong việc thu thập số liệu và những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu luận văn này

Sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm

Tác giả luận văn

Phạm Thị Mai Linh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng v

Danh mục các hình vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾTRONG NÔNG NGHIỆP 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Các khái niệm và phân loại hiệu quả kinh tế 4

1.1.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế 7

1.1.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 8

1.2 Cơ sở thực tiễn về sản xuất kinh doanh cam và đánh giá hiệu quả kinh tế trồng cam 11

1.2.1 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật trong trồng cam 11

1.2.2 Tình hình sản xuất, phát triển và tiêu thụ cam trong nước và trên thế giới 22

1.2.3 Kinh nghiệm nghiên cứu về hiệu quả kinh tế trồng cam 24

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO PHONG –TỈNH HÒA BÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình 28

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 28

Trang 4

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 32

2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển nông nghiệp của huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình 37

2.2 Phương pháp nghiên cứu 38

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và mẫu nghiên cứu 38

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 39

2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 39

2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn 43

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

3.1 Thực trạng phát triển cây cam của hộ nông dân trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình 48

3.2 Thực trạng hiệu quả gây trồng cam của các hộ nông dân điều tra 50

3.2.1 Đặc điểm của các hộ điều tra 50

3.2.2 Thực trạng sản xuất và hiệu quả cho các hộ điều tra 55

3.2.3 Hiệu quả sản xuất trồng cam bình quân của các hộ điều tra 56

3.2.3 Tính toán hiệu quả kinh tế cho 1 ha trồng cam của các hộ 58

3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất trồng cam của hộ nông dân 62

3.3.1 Ý kiến của các hộ nông dân về một số điều kiện sản xuất trong trồng cam tại địa phương 62

3.3.2 Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến năng suất trồng cam 63

3.4 Phân tích ma trận SWOT cho sản xuất cam tại Cao Phong 67

3.5 Các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trồng cam của hộ nông dân trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình 69

3.5.1 Phương hướng phát triển mô hình trồng cây cam cho huyện Cao Phong 69

3.5.2 Giải pháp về giống, kỹ thuật trồng và chăm sóc cam 71

Trang 5

3.5.3 Giải pháp liên quan đến sản phẩm 75

3.5.4 Giải pháp hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân 76

3.5.5 Giải pháp về cơ chế chính sách 77

3.5.6 Giải pháp giữ gìn và phát triển thương hiệu 78

3.5.7 Giải pháp phát triển cây cam đi đôi với bảo vệ môi trường (Phát triển bền vững) 79

3.5.8 Khuyến nghị để thực hiện các giải pháp 80

KẾT LUẬN 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

5 GO Gross Output - Giá trị sản xuất

7 IC Intermediate Cost - Chi phí trung gian

8 ISO International Organization for Standardization - Tiêu

chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng

9 KH&CN Khoa học và Công nghệ

11 MI Mixed Income - Thu nhập hỗn hợp

12 MMTB&CCDC Máy móc thiết bị và Công cụ dụng cụ

14 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

17 Quacert Trung tâm chứng nhận phù hợp

18 SXNN Sản xuất nông nghiệp

19 TNHH Trách nhiệm hữu hạn

22 VA Value Added - Giá trị gia tăng

23 VietGAP Vietnamese Good Agricultural Practices - Thực hành

sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam

24 WTO World Trade Organization - Tổ chức Thương mại Thế

giới

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng cam, quýt trên thế giới 2006 – 2010 22

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất cam, quýt ở các vùng trên thế giới 2008 - 2010 23

Bảng 1.3 Diện tích và sản lượng cam, quýt nước ta giai đoạn 2009 – 2012 24

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai huyện Cao Phong giai đoạn 2012 - 2014 30 Bảng 2.2 Phương pháp phân tích SWOT 43

Bảng 3.1 Diện tích, sản lượng, năng suất cam Cao Phonggiai đoạn 2012 - 2014 49

Bảng 3.2 Thông tin về giới tính của chủ hộ 50

Bảng 3.3 Đặc điểm độ tuổi của chủ hộ 50

Bảng 3.4 Đặc điểm về trình độ văn hóa & chuyên môn của chủ hộ 51

Bảng 3.5 Thông tin về số năm kinh nghiệm của chủ hộ 52

Bảng 3.6 Thông tin về số lượng lao động của hộ nông dân 52

Bảng 3.7 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của các hộ nông dân 53

Bảng 3.8 Nhu cầu về mở rộng quy mô sản xuất của các hộ nông dân 53

Bảng 3.9 Giá bán bình quân một số loại cam của hộ nông dânhuyện Cao Phong tính đến niên vụ 2014 54

Bảng 3.10 Tình hình sản xuất cam của các hộ nông dân điều tra 55

Bảng 3.11 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trồng camcủa các hộ nông dân giai đoạn 2012 - 2014 57

Bảng 3.12 Thu nhập cho một chu kỳ trồng cam 59

Bảng 3.13 Chi phí cho 1 ha cam 60

Bảng 3.14 Tổng hợp chi phí và thu nhập 1 ha camtrong cả chu kỳ kinh doanh 61

Bảng 3.15 Các ý kiến của các chủ hộ điều tra về điều kiện SX cam 63

Bảng 3.16 Giả thiết và kỳ vọng của các biến độc lập 64

Bảng 3.17 Kết quả phân tích hồi quy mô hình 65

Bảng 3.18 Phân tích ma trận SWOT trong sản xuất cam trên địa bànhuyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình 67

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Sơ đồ các kênh tiêu thụ sản phẩm cam trên địa bàn 54 Hình 3.2 Biểu đồ giá trị sản xuất bình quân của hộ nông dân được nghiên cứu giai đoạn 2012 - 2014 56

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Cây cam (danh pháp hai phần: Citrus x sinensis) là loài cây ăn quả cùng họ với cây bưởi Cây cam là cây ăn quả đặc sản có giá trị dinh dưỡng cao với hương vị thơm ngon, nhiều chất bổ, được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng Loài cam là một cây lai được trồng từ xưa, có thể lai giống giữa loài bưởi (Citrus maxima) và quýt (Citrus reticulata) Đây là cây nhỏ, cao đến khoảng 10m, có cành gai và lá thường xanh dài khoảng 4-10cm Cam bắt nguồn từ khu vực Đông Nam

Á, có thể là từ Ấn Độ, Việt Nam hoặc miền nam Trung Quốc Cây cam không chỉ

là cây ăn quả mà còn là cây chắn gió, cây tạo cảnh quan, cây phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cây chống xói mòn rửa trôi… góp phần cải tạo môi trường sinh thái Ngành công nghiệp cam (loại trái cây có múi) bắt đầu từ nam Phi hơn 300 năm trước Hiện nay có hơn 100.000 người lao động làm việc này và có 70% các sản phẩm có liên quan hay nguồn gốc xuất xứ từ cam Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quốc gia trồng cam, cụ thể nhưchâu Á có Việt Nam, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Iran, Pakistan…, châu Mỹ có Hoa Kỳ, Mexico, Brasil…, châu Âu có Tây Ban Nha, Ý, Hà Lan, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ…, châu Phi có Ai Cập, Cộng hòa Nam Phi…, châu Đại Dương có Australia… Ở Việt Nam, cây cam được Nhà nước cũng như người sản xuất rất quan tâm Cây cam đã và đang được phát triển mạnh tại các địa phương như: Hòa Bình, Hà Giang, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bắc Giang, Yên Bái… Cao Phong là một huyện miền núi tỉnh Hòa Bình có tiểu vùng khí hậu, đất đai thích hợp với nhiều loại cây ăn quả á nhiệt đới như: cam, quýt, bưởi, mía…, trong

đó cây cam chiếm vị trí vô cùng quan trọng Trong những năm qua, với sản lượng không ngừng tăng thì vị trí kinh tế của cây cam luôn giữ vai trò quan trọng đối với người dân huyện Cao Phong

Tháng 11/2014, Cục sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý Cao Phong cho sản phẩm cam của huyện Cao Phong, bước đầu chứng nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho 4 giống cam: CS1, Xã Đoài lùn, Xã Đoài cao và cam Canh Đây là bước đột phá mở ra nhiều cơ hội cho người trồng cam, được kỳ vọng là cú hích

Trang 10

quan trọng đưa sản phẩm cam Cao Phong đến với người tiêu dùng, hướng tới tiếp cận thị trường trong và ngoài nước Ngoài ra, Trung tâm Chứng nhận phù hợp (Quacert) – Bộ KH&CN đã trao Giấy chứng nhận Nhóm sản xuất cam VietGAP cho Nhóm sản xuất cam VietGAP Đác Tra Cao Phong (thị trấn Cao Phong) Theo

đó, chứng nhận sản phẩm cam, quýt của nhóm này được sản xuất phù hợp Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi an toàn (VietGAP) Diện tích được chứng nhận là 106,47 ha; sản lượng dự kiến 2.700 tấn/năm ; sản phẩm là các loại cam Canh, CS1, V2, quýt Ôn Châu (bao gồm hoạt động thu hoạch, không bao gồm hoạt động sơ chế) Giấy chứng nhận có giá trị từ ngày 24/11/2015 đến ngày 13/11/2016

Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế quốc tế, Việt Nam đã ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, cây cam Cao Phong cũng đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức Trong quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ đã có hàng loạt câu hỏi đặt ra về hiệu quả kinh tế của sản xuất cam hiện nay ở Cao Phong, những thuận lợi - khó khăn và những giải pháp nào nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế cây cam trên địa bàn huyện Cao Phong Bên cạnh đó, hầu hết người dân vẫn còn quen với những kỹ thuật canh tác cũ, cộng thêm điều kiện khí hậu biến đổi cũng gây cản trở khá nhiều cho hoạt động sản xuất cam tại đây Cần phải nghiên cứu và phân tích

để đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng cam

Từ yêu cầu thực tiễn và nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trồng cam của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Cao Phong - tỉnh Hoà Bình” làm luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở đánh giá tình hình và hiệu quả kinh tế trồng cam tại địa bàn, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trồng cam của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kết quả và hiệu quả kinh tế trồng cam của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình

- Đối tượng khảo sát là các hộ nông dân trồng cam trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến hiệu quả kinh tế trồng cam của hộ nông dân tại huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình

- Phạm vi về không gian: địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình

- Phạm vi về thời gian: số liệu thứ cấp được thu thập trong 3 năm (2012 – 2014), số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2015

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp

- Thực trạng tình hình trồng cam của hộ nông dân trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế trồng cam của hộ nông dân trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình

- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trồng cam của

hộ nông dân tại huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ

TRONG NÔNG NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm và phân loại hiệu quả kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế

Hiệu quả là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp đến nền kinh

tế sản xuất hàng hóa Hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án hành động Hiệu quả được xem xét dưới nhiều giác độ và quan điểm khác nhau: hiệu quả tổng hợp, hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị xã hội, hiệu quả trực tiếp, hiệu quả gián tiếp, hiệu quả tương đối, hiệu quả tuyệt đối… Ngày nay, khi đánh giá hiệu quả đầu tư của các dự án phát triển, nhất là những dự

án đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, đòi hỏi phải xem xét hiệu quả kinh tế trên nhiều phương diện

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế Xuất phát từ giác độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế:

- Quan điểm thứ nhất: Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế Ngày nay, quan điểm này không còn phù hợp vì nếu cùng một kết quả sản xuất nhưng hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng ta có cùng một hiệu quả

Trang 13

- Quan điểm thứ hai: Hiệu quả đạt được được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả sẽ cao khi các nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó cao Nhưng chi phí hoặc nguồn nhân lực được sử dụng tăng nhanh vì sao? Hơn nữa, điều kiện sản xuất năm hiện tại khác với năm trước, yếu tố bên trong và bên ngoài của nền kinh tế có những ảnh hưởng cũng khác nhau Do đó, quan điểm này chưa được thỏa đáng

- Quan điểm thứ ba: Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất

ra, tức là giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị

- Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức độ tăng khối lượng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội, của nền kinh tế quốc dân Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hóa nào đó khác Giới hạn khả năng sản xuất được đặc trưng bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng (Potential Gross National Product) là tổng sản phẩm quốc dân cao nhất có thể đạt được, đó là mức sản lượng tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Tỷ lệ giữa tổng sản phẩm quốc dân thực tế với tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng là chỉ tiêu hiệu quả Chỉ tiêu chênh lệch tuyệt đối giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế là phần sản lượng tiềm năng mà xã hội không sử dụng được phần lãng phí Tuy nhiên, khái niệm tiềm năng phụ thuộc vào lao động tiềm năng là lao động ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Sản lượng tiềm năng cũng phải ứng với một tỷ lệ huy động tài sản cố định nào đó thì mới hợp lý Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả Do đó, việc xác định khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ quan điểm triết học Mác – Lê nin và những luận điểm của lý thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng đắn

Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả như trên, chúng ta thấy rằng hiệu quả

là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của hiệu quả kinh tế và quản lý Hơn nữa,

Trang 14

việc xác định hiệu quả là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp về lý luận và cả thực tiễn Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế

xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Muốn vậy, sản xuất không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

Quan điểm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thỏa mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường Chính vì vậy mà hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá toàn diện trên cả 3 khía cạnh: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.[2]

1.1.1.2 Phân loại hiệu quả kinh tế

Hoạt động sản xuất của nền kinh tế - xã hội được diễn ra ở các phạm vi khác nhau, đối tượng tham gia vào các quá trình sản xuất và các yếu tố sản xuất càng khác nhau thì nội dung nghiên cứu hiệu quả kinh tế càng khác nhau Do đó, để nghiên cứu hiệu quả kinh tế đúng thì cần phân loại hiệu quả kinh tế

Có thể phân loại hiệu quả kinh tế theo các tiêu chí sau:

* Phân loại theo phạm vi và đối tượng xem xét

- Hiệu quả kinh tế quốc dân: là hiệu quả kinh tế tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã hội của một quốc gia

- Hiệu quả kinh tế ngành: là hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất nhất định như công nghiệp, nông nghiệp…

- Hiệu quả kinh tế theo lãnh thổ: là hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng vùng, từng địa phương

- Hiệu quả kinh tế của từng quy mô, tổ chức sản xuất kinh doanh: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình…

- Hiệu quả kinh tế từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố đầu vào sản xuất

* Phân loại theo bản chất, mục tiêu

Trang 15

- Hiệu quả kinh tế: phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu ích về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra, nó đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế của hoạt động kinh

tế mang lại

- Hiệu quả xã hội: phản ánh mối tương quan giữa kết quả của các lợi ích về mặt

xã hội do hoạt động sản xuất mang lại

- Hiệu quả kinh tế - xã hội: phản ánh mối tương quan giữa kết quả tổng hợp về mặt kinh tế - xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó như bảo vệ môi trường, lợi ích công cộng…

- Hiệu quả phát triển và bền vững: là hiệu quả kinh tế - xã hội có được do tác động hợp lý để tạo ra nhịp độ tăng trưởng tốt nhất và đảm bảo những lợi ích lâu dài

về kinh tế - xã hội

* Phân loại theo các yếu tố cơ bản của sản xuất các nguồn lực và hướng tác động vào sản xuất

- Hiệu quả sử dụng đất đai

- Hiệu quả sử dụng lao động

- Hiệu quả sử dụng các yếu tố tài nguyên như năng lượng, vốn…

- Hiệu quả của việc áp dụng khoa học – kỹ thuật như hiệu quả làm đất, hiệu quả bón phân…[2]

1.1.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất, có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hóa và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Một giải pháp kỹ thuật quản lý có hiệu quả kinh tế cao

là một phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu

tư Từ khái niệm chung đó, cần xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế, đây

là một vấn đề phức tạp và còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả

Trang 16

kinh tế là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các tài nguyên

Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế trong những điều kiện cụ thể mà ở một giai đoạn nhất định Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung và chủ yếu xuyên suốt mọi thời kỳ, còn tiêu chuẩn là mục tiêu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá bằng định lượng theo tiêu chuẩn

đã lựa chọn ở từng giai đoạn Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng khác nhau

Đối với toàn xã hội thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là khả năng thỏa mãn các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra, trong nền kinh tế thị trường còn đòi hỏi yếu tố chất lượng và giá thành thấp để tăng khả năng cạnh tranh Đối với các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế phải là thu nhập tối đa tính trên chi phí hoặc công lao động bỏ ra

Đối với hộ nông dân thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế phải đứng trên góc độ hạch toán kinh tế, tính toán các chi phí, các yếu tố đầu vào, đồng thời tính toán được đầu ra từ đó Xác định mối tương quan kết quả giữa đầu vào bỏ ra và kết quả đạt được và đó chính là lợi nhuận.[3]

1.1.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

1.1.3.1 Yêu cầu của hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Hiệu quả là một phạm trù kinh tế hết sức phức tạp và được thể hiện rất đa dạng

và phong phú Do tính chất phức tạp của vấn đề hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp nên khi đánh giá hiệu quả kinh tế đòi hỏi phải có một hệ thống chỉ tiêu đáp ứng các yêu cầu sau:

- Đảm bảo tính thống nhất về nội dung với hệ thống chỉ tiêu kinh tế của nền kinh tế quốc dân và ngành nông nghiệp

Trang 17

- Đảm bảo tính toàn diện và hệ thống Tính toàn diện thể hiện khi xác định hiệu quả kinh tế cần có đầy đủ các chỉ tiêu tổng quát, chỉ tiêu chủ yếu, chỉ tiêu phụ… Tính hệ thống vì nó là bộ phận thống nhất nằm trong hệ thống chỉ tiêu cùng loại của hệ thống kinh tế quốc dân

- Đảm bảo tính khoa học và tính khả thi Có nghĩa là hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế phải bắt nguồn từ bản chất của hiệu quả kinh tế nên phương pháp phải nhất quán xuyên suốt quá trình nghiên cứu

- Phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những nông sản

có khả năng xuất khẩu

- Kích thích sản xuất phát triển, tăng cường mức độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất

1.1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Phương pháp xác định HQKT bắt nguồn từ bản chất HQKT, đó là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, hay

nó là mối quan hệ giữa các yếu tố đầu ra và đầu vào Mối tương quan đó cần so sánh cả về giá trị tuyệt đối và tương đối giữa hai đại lượng Có thể biểu hiện chỉ tiêu hiệu quả bằng 4 công thức sau:

* Công thức 1: Tính hiệu quả kinh tế

H = Q – C Trong đó:

H là HQKT

Q là giá trị sản lượng

C là chi phí tài chính Chỉ tiêu này thường được tính cho một đơn vị chi phí bỏ ra như tổng chi phí, chi phí trung gian chi phí lao động… Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả càng cao Tuy nhiên, ở cách tính này, quy mô sản xuất lớn hay nhỏ chưa được tính đến, không so

Trang 18

sánh được HQKT của các đơn vị sản xuất có quy mô khác nhau Hơn nữa, chỉ tiêu này chỉ cho biết quy mô của hiệu quả chứ không chỉ rõ được mức độ HQKT, do đó chưa giúp cho các nhà sản xuất có những tác động cụ thể đến các yếu tố đầu vào để giảm chi phí nguồn lực, nâng cao HQKT

* Công thức 2: Tính hiệu quả kinh tế theo chi phí tài chính

H = Q/C

* Công thức 3: Tính hiệu quả kinh tế theo giá trị sản lượng

H = C/Q Khi so sánh hiệu quả thì việc sử dụng số tương đối là cần thiết bởi nó nói lên mặt chất lượng của hiện tượng Cách tính này có ưu điểm là phản ánh được mức độ

sử dụng các nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực mang lại kết quả là bao nhiêu Vì vậy, nó giúp cho việc đánh giá HQKT của các đơn vị sản xuất một cách

rõ nét Tuy nhiên, cách tính này cũng có nhược điểm là chưa thể hiện được quy mô HQKT vì trên thực tế, những quy mô khác nhau nhưng lại có hiệu suất sử dụng vốn như nhau

Trong thực tế, khi đánh giá HQKT, người ta thường kết hợp giữa công thức 1

và công thức 2 để bổ sung cho nhau, qua đó sẽ đánh giá được HQKT một cách sâu sắc và toàn diện

* Công thức 4: Tính hiệu quả kinh tế tăng thêm

H = ∆Q - ∆C Trong đó:

H là HQKT tăng thêm

∆Q là kết quả tăng thêm

∆C là chi phí tăng thêm Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả càng cao Công thức này thể hiện rõ mức độ hiệu quả của đầu tư thêm và nó được dùng kết hợp với công thức 4 để phản ánh HQKT toàn diện hơn

Trang 19

* Công thức 5: Tính hiệu quả kinh tế tăng thêm theo kết quả

H = ∆Q/∆C

* Công thức 6: Tính hiệu quả kinh tế tăng thêm theo chi phí

H = ∆C/∆Q Công thức này thể hiện rõ HQKT của việc đầu tư thêm hay tăng thêm chi phí,

nó thường được sử dụng để xác định HQKT theo chiều sâu hoặc của việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Tỷ suất này giúp cho các nhà sản xuất xác định được điểm tối đa hóa lợi nhuận để đưa ra những quyết định sản xuất tối ưu nhất Tuy nhiên, chỉ tiêu này chưa phân tích được tác động, ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên như đất đai, khí hậu…

Trong thực tế sản xuất, khi đánh giá HQKT, ta thường kết hợp các công thức lại với nhau để chúng bổ sung cho nhau Như vậy, việc đánh giá HQKT sẽ chính xác và toàn diện hơn Tùy thuộc vào từng trường hợp mà ta lựa chọn chỉ tiêu cho phù hợp với điều kiện của sản xuất [3]

1.2 Cơ sở thực tiễn về sản xuất kinh doanh cam và đánh giá hiệu quả kinh tế trồng cam

1.2.1 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật trong trồng cam

1.2.1.1 Đặc điểm sinh học của cây cam

a) Đặc điểm sinh học và yêu cầu ngoại cảnh

Cam là cây ăn quả thuộc nhóm cây có múi Cam là cây ưa ẩm, thích hợp với khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới, nhiệt độ thích hợp từ 23-29oC, có thể trồng tốt ở điều kiện nhiệt đới Cam là cây ăn quả lâu năm, thời gian sinh trưởng có thể kéo dài đến 60 năm Các loại đất có thể trồng cam là: đất phù sa ven sông, đất bồi tụ, đất rừng mới khai phá, đất thung lũng, đất phù sa cổ có tầng dày 80-100 cm, pH từ 5-7, có hàm lượng mùn cao, dễ thoát nước, mực nước ngầm dưới 1m

Cam có thể trồng và cho trái quanh năm với kỹ thuật xử lý ra hoa trái vụ như hiện nay Mật độ trồng đối với cây ghép trên gốc ghép gieo hạt là 300-500 cây/ha,

Trang 20

khoảng cách cây và hàng khoảng 4x5m Các loài cam ghép gốc nhân vô tính (chiết, ghép) có thể trồng với mật độ dày hơn: 800-1200 cây/ha, với khoảng cách 3x3m hoặc 3x4m Giống phổ biến cam mật, cam sành chiếm diện tích lớn, ngoài ra còn

có một số giống như cam sành Hà Giang, cam Vinh, cam Bù Hà Tĩnh, cam Xoàn, cam Canh…

Theo Từ điển Bách khoa Nông nghiệp (NXB Nông nghiệp Hà Nội – 1991), cây cam là cây ăn quả nhiệt đới và cận nhiệt đới, cây nhỡ, thân nhẵn, không gai hoặc có ít gai Lá cam hình trái xoan, cuống lá hơi có cánh eo lá Hoa mọc thành chùm 6-8 lá hoa mọc ở nách lá Quả cam hình cầu, có nhiều tép, vị chua ngọt, hạt

có lá mầm trắng, ra hoa tháng 3-4 và quả chín vào tháng 10-12 Tuy nhiên, do sự biến đổi của nhiều yếu tố về điều kiện tự nhiên cũng như tác động của con người thông qua các biện pháp kỹ thuật, thời gian ra hoa và cho quả của cam trong năm cũng có sự biến đổi

Cam là loại quả vừa ngon, đẹp vừa có nhiều dinh dưỡng Trong một quả cam, nước quả chiếm 28-56%, vỏ chiếm 22-22,5%, hạt 1,3-2,5% Trong nước cam có 11,6% đường, 2% axit citric, axit hữu cơ, các vitamin A, B, C và chất khoáng Trong vỏ cam tươi có 3,8% tinh dầu, 61,25% nước, các vitamin A, B… Cam là quả cung cấp hàm lượng chất dinh dưỡng phong phú và nhiều nguyên tố vi lượng khác

b) Nhu cầu dinh dưỡng

Cây cam có nhu cầu kali và đạm cao nhất, sau đó mới đến lân, canxi, magie và một số nguyên tố vi lượng như đồng, sắt, kẽm, bo, molypden, mangan…

Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng dinh dưỡng trong một tấn quả cam tươi là 1,7kg N; 0,5kg P2O5; 3,2kg K2O; 0,3kg MgO; 1,1kg CaO; 0,1kg S; 3,0g Fe; 0,8g Mn; 1,4g Zn; 0,6g Cu; 2,8g B Kali là nguyên tố cam lấy từ đất nhiều nhất, vì vậy bón kali có thể làm tăng năng suất cam 10-46%

1.2.1.2 Quy trình trồng và chăm sóc cam

Trang 21

Sau mỗi mùa thu hái quả, công việc đốn tỉa, tạo hình cho cây cam phải được tiến hành thường xuyên như: cắt bỏ những cành khô, cành bị sâu bệnh, cành tăm, cành vượt, cành xiên vào tán, cành mọc quá dày, cành quá yếu nhằm giúp cho cây thông thoáng, ít sâu bệnh

a) Mật độ trồng cam, kỹ thuật làm đất và chọn cây xen canh

Trước khi trồng một tháng, đất phải được dọn sạch cỏ, cày bừa kỹ, chia lô, rạch hàng, đào hố bón phân lót hoặc làm mô trồng Mật độ trồng đối với các cây ghép trên gốc gieo hạt là 300-500 cây/ha Khoảng cấy cây và hàng có thể là (4m)x(5m) Các loại cam ghép gốc nhân vô tính (chiết ghép), có thể trồng với mật độ dày hơn 800-1200 cây/ha, với khoảng cách khoảng (4m)x(2m), (3m)x(3m), (3m)x(4m)

Ở các vùng đồng bằng, người ta thường làm mô để trồng cam Để đắp thành

mô thì nên dùng đất ao hoặc nương vườn cũ đất mặt ruộng hay đất bãi bồi ven sông, phơi khô Mô có kích thước rộng 60-80 cm, cao 20-30 cm Phần giữa mô nên trộn với 100-200 gam phân lân và 5-10 kg phân chuồng hay rơm rác ủ mục để tạo điều kiện cho rễ cây phát triển trong giai đoạn đầu Ngoài ra có thể trồng bằng hố với kích thước hố đào (40cm)x(40cm)x(40cm) hoặc (60cm)x(60cm)x(60cm) Ở vùng đồi núi cao cần đào hố sâu và rộng hơn, khoảng (70cm)x(70cm)x(70cm) Lớp đất đào lên được trộn đều với 30 kg phân chuồng hoai mục loại tốt, trộn với 0,2-0,5

kg phân Văn Điển (tecmo photphat), với 0,1-0,2 kg sulfat kali (K2SO4) Lấp hố trước khi trồng 15-20 ngày

* Bón phân cho cây cam giai đoạn kiến thiết cơ bản

Trang 22

Bón lót trước khi trồng:

- Lượng phân bón tính cho một hố trồng: 20-50kg phân hữu cơ hoai mục, 0.5kg vôi bột, 50g phân Sumicoat (#100 viên phân) cho mỗi hố trồng Toàn bộ số phân trên trộn đều với lớp đất được đào lên, sau đó cho vào lấp đầy hố, để sau 30 ngày thì đặt bầu trồng cây

- Lượng phân (g/cây) bón cho cam từ 1-3 tuổi: 170-500g NPK 30-9-9+TE + 256-570g super lân + 85g phân kali + 50-100g phân sumicoat

Cách bón: bón lân và kali một lần vào cuối mùa mưa, phân NPK chia thành 3-4 lần để bón hoặc hòa nước tưới gốc cây, phân sumicoat chỉ bón 1 lần vào đầu mùa mưa

* Bón phân cho cây cam giai đoạn kinh doanh

- Lượng phân (g/cây) bón cho cam từ 4-6 tuổi: 640-8000g NPK 30-9-9+TE + 880-1200g super lân + 185g phân kali +50g phân CanNiBo

- Lượng phân (g/cây) bón cho cam từ 7-9 tuổi: 950-1300g NPK 30-9-9+TE + 1500-1800 super lân + 258g phân kali + 75g phân CanNiBo

- Lượng phân (g/cây) bón cho cam trên 10 tuổi: 1300-2600g NPK 30-9-9+TE + 2130-2440g super lân + 385g phân kali + 100g phân CanNiBo

Cách bón: phân NPK (30-9-9+TE) chia làm 3 lần để bón: trước ra hoa, sau khi đậu quả và sau thu hoạch Chia đều mỗi lần bón 1/3 lượng phân

Phân kali: chia làm 2 lần để bón: bón ½ lượng K2O sau khi đậu quả và ½ lượng còn lại bón trước khi thu hoạch 1-2 tháng

Phân super lân: bón toàn bộ sau khi thu hoạch quả cùng với phân hữu cơ

Phân CanNiBo: chia đều làm 2 lần bón trước khi ra hoa và lúc ra trái non Cuốc rãnh sâu xung quanh, rộng 30cm hoặc đào thành những hố rộng 20-30cm, sâu 20-30cm, phân trộn đều với nhau, rắc vào rãnh hoặc hố, lấp đất, tưới nước, kết hợp với làm cỏ, tủ gốc

Trang 23

- Tưới thúc: hòa tan 10-20g HAI-Chyoda trong 10 lít nước, tưới định kỳ 10-20 ngày/lần hoặc khi thấy cây cằn cỗi

Ngoài phân bón gốc, sử dụng phân bón lá cho cam là rất cần thiết Phun phân bón lá Foliar Blend (50ml/16L) vào thời kỳ sau thu hoạch và trước khi ra hoa giúp cây hồi phục nhanh, ra lá, ra cành mới, phân hóa mầm hoa và đậu trái, phun phân bón lá Hoàng Hổ Si (40ml/16L) vào thời kỳ sau đậu trái và trái đang lớn giúp cam bóng đẹp, lớn nhanh, có năng suất cao và chất lượng tốt

c) Chăm sóc

- Thời kỳ kiến thiết cơ bản, cây cam chưa có quả cần chú ý xen tỉa cành tạo tán cho cây Người ta cắt tỉa bớt các cành nhỏ, cành vợt và cành mọc sâu trong tán Đặc biệt cần tỉa bỏ những cành nhánh bị sâu gây hại Công việc tỉa cành, tạo tán cũng cần được tiến hành thường xuyên hàng năm sau mỗi mùa thu hái quả Cần cắt

bỏ những cành khô, cành tăm, cành quả mọc yếu và những cành bị sâu bệnh gây hại nhằm tạo tán cây thông thoáng, loại bỏ một phần sâu bệnh hại

- Hoa cây ăn quả có múi thường rất nhiều, nhưng tỷ lệ đậu quả thường thấp, chỉ vào khoảng 2-8%, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết chăm bón và đặc điểm giống, loài Do đó, thời kỳ nụ, hoa, quả non, người ta thường tỉa bớt các hoa dị hình, nhưng hoa quả non ra muộn và ở các vị trí không thích hợp cho việc hình thành và phát triển quả Công việc này có thể được thực hiện bằng cách phun các chất điều hòa sinh trưởng

- Ở thời kỳ quả được khoảng 1-2 tuần lễ cần tiến hành sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng kết hợp với bón phân bổ sung và các nguyên tố vi lượng để tăng tỷ

lệ đậu quả và thúc đẩy nhanh quá trình lớn của quả, giảm lượng hạt và làm đẹp mã quả Biện pháp này đặc biệt có hiệu quả khi sử dụng dạng chelat

d) Một số yêu cầu khác

* Yêu cầu về sinh thái

Cây cam và cây có múi nói chung có những yêu cầu sinh thái rất đặc trưng:

Trang 24

- Nhiệt độ: cây cam có thể sống và phát triển được trong khoảng nhiệt độ từ 13-38oC, thích hợp nhất là 23-29oC Dưới 13oC và trên 42oC thì sự sinh trưởng bị ngừng lại

- Ánh sáng: cây cam không thích ánh sáng trực xạ nhưng giai đoạn kiến thiết cây cần nhiều ánh sáng để phát triển thân lá Giai đoạn cho trái nếu cường độ ánh sáng cao làm cho trái dễ bị nám, ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm của trái

- Nước: cam cần nhiều nước trong giai đoạn ra hoa, mang trái nhưng không chịu được úng Độ ẩm đất thích hợp nhất là 70-80%, độ ẩm không khí là 75%, lượng mưa là 1.000-2.000 mm/năm

- Đất đai: đất phù sa, tơi xốp, thoát nước tốt, thích hợp với cây có múi, tầng canh tác dày tối thiểu 0,5 m; pH khoảng 5,5-7; hàm lượng hữu cơ trên 3% Không nên trồng cây có múi trên đất sét nặng, đất phèn, đất nhiều cát, tầng canh tác mỏng, mực nước ngầm dưới 80cm

* Yêu cầu về kỹ thuật

- Kỹ thuật chọn giống: việc chọn giống tốt và sạch bệnh sẽ giúp cây sinh trưởng khỏe trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, tăng sức đề kháng đối với sâu bệnh, cho trái có phẩm chất tốt Chọn cây đúng giống, năng suất, chất lượng cao được nhân giống từ cây mẹ chứng thực Đối với cam chọn cây giống có nguồn gốc từ các dòng ưu tú được vi ghép và chứng nhận sạch bệnh vàng lá Greening và Tristeza

- Kỹ thuật trồng và chăm sóc: kỹ thuật thiết kế vườn, tưới tiêu, bón phân, chăm sóc, xử lý sâu bệnh trong các giai đoạn phát triển của cây: thời kỳ kiến thiết cơ bản, thời kỳ kinh doanh, thời kỳ khai thác, thời kỳ già cỗi và chuyển sang cải tạo, trồng mới

1.2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trồng cam

a) Các nhân tố tự nhiên

Trang 25

Sản xuất – kinh doanh cây ăn quả nói chung và cây cam nói riêng diễn ra trên địa bàn rộng, do vậy các yếu tố tự nhiên như vị trí địa lý, địa hình, đất đai, thời tiết, khí hậu, nguồn nước… cũng ảnh hưởng trực tiếp đến mặt cung sản phẩm quả Ngoài ra, yếu tố thời tiết khí hậu cũng có ảnh hưởng nhất định đến mặt cầu sản phẩm này

* Vị trí địa lý, địa hình, đất đai

Vị trí địa lý của sản xuất cây ăn quả tác động trực tiếp đến việc tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm hoa quả, và do vậy có thể tạo ra lợi thế hay bất lợi về cạnh tranh cho một quốc gia, một vùng, một địa phương, hoặc thậm chí cho một cơ

sở kinh doanh nào đó Vùng sản xuất cây ăn quả nằm ngay gần thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như thị trường cung cấp đầu vào, kết hợp với hệ thống giao thông

đi lại thuận tiện không những cho phép giảm chi phí vận chuyển, giảm chi phí sản xuất và chi phí tiêu thụ, quan trọng hơn còn cho phép thỏa mãn nhu cầu thị trường

về chất lượng tươi ngon và thời điểm cung cấp

Địa hình với các đặc điểm cơ bản về độ cao so với mặt nước biển, độ dốc, độ chia cắt có ảnh hưởng đến việc quy hoạch, bố trí vùng trồng, lựa chọn các loại cây

ăn quả, chủ động khả năng mở rộng diện tích vùng trồng…

Đất đai là yếu tố hết sức quan trọng trong phát triển sản xuất – kinh doanh cây

ăn quả Quỹ đất đai dồi dào cho phép mở rộng diện tích các vườn trồng cây ăn quả

để gia tăng sản lượng quả cung cấp Các loại đất khác nhau cho phép phát triển các loại cây ăn quả khác nhau Chất lượng đất đai còn tác động đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, đến năng suất và chất lượng quả thu hoạch Do vậy, yếu tố đất đai cũng có thể mang lại lợi thế cạnh tranh nhất định cho người sản xuất – kinh doanh, nhất là khi nó góp phần tạo cho sản phẩm quả có một hương vị ngon khác biệt so với các sản phẩm cùng loại khác

* Thời tiết, khí hậu

Trang 26

Các đặc điểm của thời tiết, khí hậu như nhiệt độ, độ ẩm không khí, chế độ gió mưa nắng, sương giá… có tác động trực tiếp đến sinh trưởng và phát dục của các loại cây ăn quả, và do đó nó cũng ảnh hưởng đến năng suất chất lượng và thời vụ thu hoạch quả Mỗi chủng loại cây ăn quả thích nghi với các điều kiện thời tiết khí hậu khác nhau, do vậy cần đặc biệt lưu ý đến yếu tố này trong quy hoạch vùng trồng và lựa chọn chủng loại cây trồng, thiết kế vườn trồng và tác động các biện pháp kỹ thuật trồng trọt Yếu tố thời tiết khí hậu cũng tác động trực tiếp đến con người, do vậy có ảnh hưởng đến cầu tiêu dùng quả tươi trên thị trường như: về mùa nóng thì lượng cầu về các loại quả có tác dụng giải nhiệt như cam, chanh, quýt, dừa… thường có xu hướng tăng lên

* Nguồn nước và thủy văn

Mặc dù cây ăn quả nói chung, cây cam nói riêng là loại cây có khả năng chịu hạn, song muốn cây ra hoa kết quả tốt, đạt sản lượng cao, chất lượng quả tốt thì cần đảm bảo cung cấp đủ nước theo yêu cầu của cây, nhất là vào thời kỳ phát triển của quả Vì vậy, các nguồn nước và chế độ thủy văn, các dòng sông suối là những điều kiện quan trọng, phải được xác định và bố trí các công trình tưới tiêu, phục vụ cho từng mùa và từng tiểu vùng trong quy hoạch các vùng trồng cây ăn quả nói chung và cây cam nói riêng

b) Các nhân tố kinh tế - xã hội

* Cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật

Các hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, trung tâm thương mại, cơ sở công nghiệp chế biến có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất, chế biến, giao lưu hàng hóa nói chung và thực phẩm nói riêng Hệ thống cơ sở hạ tầng

có phát triển mới tạo tiền đề cho việc thực hiện thâm canh sản xuất cây ăn quả, áp dụng các tiến bộ công nghệ trong bảo quản, chế biến sản phẩm, tăng cường hoạt động thông thương, buôn bán hàng hóa và khuyến khích đầu tư Đồng thời nhân tố

Trang 27

này cũng giúp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế

* Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là nhân tố có ảnh hưởng rộng khắp và lâu dài đến toàn bộ sự phát triển của ngành hàng cây ăn quả Ở nước ta, các chính sách lớn có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình sản xuất, chế biến, lưu thông, tiêu thụ và tiêu dùng thực phẩm, hoa quả bao gồm:

- Chính sách kinh tế nhiều thành phần với các nội dung chủ yếu: thừa nhận hộ

là đơn vị kinh tế tự chủ, từng bước đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đối với các hợp tác xã, nông trường, lâm trường, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, khuyến khích phát triển kinh tế cá thể và kinh tế tư nhân

- Chính sách giao ruộng đất cho các hộ gia đình nông dân sử dụng ổn định lâu dài, với các quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, thế chấp, cho thuê theo quy định của pháp luật

- Cơ chế lưu thông hàng hóa với phần lớn giá cả các loại vật tư, nông sản chủ yếu do thị trường quyết định Thị trường trong cả nước đã trở thành một thể thống nhất và đang dần hội nhập sâu vào thị trường thế giới

- Chính sách đầu tư của Nhà nước đối với ngành hàng nông nghiệp và nông thôn, trong đó Nhà nước đã tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đẩy mạnh phát triển nghiên cứu khoa học và chuyển giao kỹ thuật, tăng cường cung cấp tín dụng đến hộ nông dân

- Chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp, chính sách thuế xuất nhập khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái…

- Chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách khuyến nông, khuyến lâm, chính sách phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chính sách tạo việc làm…

- Chính sách xuất khẩu với xu hướng chung là khuyến khích xuất khẩu nông sản, trong đó có rau quả thực phẩm

Trang 28

* Lao động

Ở bất kỳ ngành nào, lao động luôn là nhân tố có ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất – kinh doanh Trong phát triển sản xuất cây ăn quả nói chung và cây cam nói riêng, để có thể phát triển, mở rộng diện tích cây trồng, tiến tới phân vùng quy hoạch sản xuất hàng hóa, đòi hỏi phải có đủ lao động, với một trình độ nhất định Ở nông thôn, nguồn lao động dồi dào, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, có sẵn kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất, am hiểu về khí hậu, thổ nhưỡng, do đó rất thuận lợi cho phát triển sản xuất cây ăn quả, nhất là các giống cây ăn quả bản địa đã được những người dân trồng trên mảnh đất của họ từ lâu đời

* Khoa học – công nghệ ở khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm

Trong bối cảnh sự cạnh tranh ngày càng tăng, tiến bộ khoa học công nghệ và việc ứng dụng vào quá trình sản xuất, chế biến và bảo quản ngày càng trở nên quan trọng, góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước

- Công nghệ nhân giống cây ăn quả

Công nghệ nhân giống cây ăn quả có ảnh hưởng rất lớn đến số lượng, chất lượng và giá thành cây con sản xuất ra Công nghệ nhân giống, lai tạo giống còn cho phép tạo các giống cây ăn quả cho quả với năng suất cao, thời vụ thu hoạch đa dạng và chất lượng tốt, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Hiện nay, trong công nghệ nhân giống cây ăn quả, các phương pháp kỹ thuật đã và đang được áp dụng đó là: nhân giống bằng hạt, nhân giống vô tính bằng chiết cành, giâm cành hoặc ghép (ghép mắt, ghép cành, ghép chồi) Mỗi phương pháp sử dụng có hệ

số nhân giống khác nhau, tạo ra các cây con có ưu nhược điểm riêng và giá thành cũng không giống nhau

- Công nghệ sản xuất cây ăn quả

Trang 29

Công nghệ sản xuất cây ăn quả gồm hệ thống quy trình sản xuất và các biện pháp kỹ thuật trong khâu trồng, tạo tán, chăm sóc và thu hoạch (như làm đất, chọn mật độ trồng, kỹ thuật trồng, tưới nước, bón phân, kích thích sinh trưởng, thụ phấn, phòng trừ dịch bệnh…) Ngày nay, công nghệ sản xuất cây ăn quả ngày càng được nghiên cứu, cải tiến và hoàn thiện hơn nữa để phù hợp với các điều kiện sinh thái khác nhau Do đó, cho phép tạo dựng được các vườn trồng có năng suất chất lượng sản phẩm cao và thời vụ thu hoạch dài, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường và nâng cao hiệu quả sản xuất cây ăn quả Tuy nhiên, để áp dụng thành công các phương pháp đó, đòi hỏi người trồng cây ăn quả phải không ngừng học hỏi, tích lũy kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực hành

- Công nghệ bảo quản và chế biến sản phẩm

Công nghệ bảo quản và chế biến quả có ảnh hưởng quan trọng đến sản xuất và kinh doanh cây ăn quả Theo ước tính, tổn thất sau thu hoạch sản phẩm rau, quả nói chung ở nước ta còn khá cao, vào khoảng 20-25% Vì vậy, công nghệ bảo quảnsau thu hoạch có vai trò đặc biệt trong nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành rau, quả nói chung

Công nghệ chế biến có ảnh hưởng quan trọng đến sản xuất – kinh doanh cây ăn quả Nó cho phép đa dạng hóa các sản phẩm quả phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng, cho phép kéo dài thời gian tiêu thụ quả, cho phép vận chuyển đi xa

và dài ngày Nhờ vậy, công nghệ chế biến có tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm này Các phương pháp chế biến tiêu thụ quả chủ yếu hiện nay gồm chế biến ướp lạnh, chế biến sấy khô, chế biến đóng hộp, ép thành nước quả hoặc nước quả cô đặc, chế biến nghiền, chế biến mứt quả… [4]

Trang 30

1.2.2 Tình hình sản xuất, phát triển và tiêu thụ cam trong nước và trên thế giới 1.2.2.1 Tình hình sản xuất, phát triển và tiêu thụ cam tại một số nước trên thế giới

Cam là một loại cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng, chế biến được nhiều món ăn, nước uống ngon nên loại cây này cũng được trồng rất nhiều nơi trên thế giới

Niên vụ 2009 – 2010, tổng sản lượng cam thế giới đạt 52,2 triệu tấn, trong đó, Brazil 17,74 triệu tấn, Mỹ 7,4 triệu tấn, các nước thuộc EU 6,5 triệu tấn, Trung Quốc 6,35 triệu tấn, Mexico 3,9 triệu tấn Lượng cam tham gia thị trường thế giới 3,8 triệu tấn, trong đó Nam Phi 1,13 triệu tấn, Ai Cập 800 nghìn tấn, Mỹ 525 nghìn tấn, EU 240 nghìn tấn, Morocco 215 nghìn tấn và Trung Quốc 185 nghìn tấn Theo thống kê của FAO năm 2011, tình hình xuất nhập khẩu cam quýt trên thế giới như sau: Nhập khẩu 37,13 nghìn tấn có giá trị 31.272,38 nghìn USD, xuất khẩu 71 nghìn tấn có giá trị 38.112,3 nghìn USD

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng cam, quýt trên thế giới 2006 – 2010

Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)

Nguồn: FAO Statistics, 2012

Kết quả trên bảng 1.1 cho thấy tình hình sản xuất ngành hàng cam, quýt trên thế giới tăng dần qua các năm theo cả quy mô và chất lượng Tốc độ phát triển về diện tích năm 2010 so với 2006 là 105% Năm 2010 sản lượng cam, quýt thế giới đạt 123.694.474 tấn, năng suất 14,31 tấn/ha, cao gấp 1,002 lần so với năm 2006 Trong thời gian tới, với trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến, dự báo khả năng sản lượng cam và năng suất cam sẽ tăng liên tục, tuy nhiên quỹ đất sẽ có sự

Trang 31

thu hẹp nhẹ do quỹ đất nông nghiệp đang ngày càng giảm nhường chỗ cho các ngành công nghiệp phát triển

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất cam, quýt ở các vùng trên thế giới 2008 - 2010

Nguồn: FAO Statistics, 2012

Châu Mỹ và châu Á là hai châu lục có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển trồng các loại cây có múi như cam, quýt Theo thống kê từ FAO, diện tích, năng suất và sản lượng cam, quýt của hai châu lục này luôn đứng đầu qua các năm Năm 2010, sản lượng cam, quýt tại các nước châu Á đạt 51.980.151 tấn, chiếm 42,02% sản lượng cam, quýt thế giới Các nước châu Đại Dương có sản lượng cam, quýt thấp nhất, chỉ đạt 562.344 tấn, chiếm 0,45% sản lượng cam thế giới

1.2.2.2 Tình hình sản xuất, phát triển và tiêu thụ cam tại Việt Nam

Theo số liệu thống kê của Bộ NN&PTNT, diện tích cây ăn quả cả nước hiện nay đạt khoảng hơn 900 nghìn ha, sản lượng khoảng 10 triệu tấn, diện tích cây ăn quả phục vụ xuất khẩu khoảng 255 nghìn ha, sản lượng quả xuất khẩu ước đạt hơn

400 nghìn tấn Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt gần 300 triệu USD/năm

Trang 32

Ở Việt Nam, cây cam được trồng ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam với nhiều giống cam ngon như cam Sành, cam Vinh, cam Canh…

Năng suất cam của Việt Nam tương đương với các nước trong khu vực khoảng 7-10 tấn/ha nhưng thấp hơn nhiều so với các nước tiên tiến trên thế giới như Úc,

Mỹ, Brasil… có năng suất 30-40 tấn/ha

Bảng 1.3 Diện tích và sản lượng cam, quýt nước ta giai đoạn 2009 – 2012 Chỉ tiêu ĐVT Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Diện tích

1.2.3.1 Kinh nghiệm nghiên cứu về hiệu quả kinh tế trồng cam trên thế giới

Để sản xuất cây ăn quả nói chung hay cây cam nói riêng đạt hiệu quả kinh tế cao cần áp dụng các quy trình kỹ thuật mới, dùng giống tốt sạch bệnh, canh tác đúng kỹ thuật, nhân giống bằng công nghệ tiên tiến

Nhà thực vật, nhà di truyền học Hà Lan đã đề xuất sử dụng tia X gây đột biến cho thực vật nhằm tạo ra nhiều loại giống có sức chống chịu bệnh và cho năng

Trang 33

suất, sản lượng cao, phẩm chất tốt Đến đầu những năm 1980, nhiều nước phát triển, đặc biệt là Mỹ đã dùng công nghệ sinh học để giành ưu thế cạnh tranh trong sản xuất nông nghiệp: đạt chất lượng cao, giá thành hạ Kỹ thuật chuyển gen tạo giống cùng một lúc đưa vào một thực vật những gen mong muốn từ những sinh vật khác nhau đưa ra giống nhanh và vượt qua giới hạn của tạo giống truyền thống, từ

đó tăng sản lượng, giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, cải thiện môi trường,nâng cao sản lượng cây trồng bảo toàn sự đa dạng sinh học

Nghề làm vườn và kinh doanh quả tươi là nghề có nhiều rủi ro vì sản phẩm quả tươi dễ bị hư hỏng Để thành công trong kinh doanh, người sản xuất và kinh doanh quả cần biết những công việc, cách quản lý kỹ thuật của mọi thành viên trong hệ thống đảm bảo chất lượng Trên thế giới, đặc biệt ở các nước có nền nông nghiệp tiên tiến thì hệ thống đảm bảo chất lượng hàng nông sản không còn là một khái niệm mới mẻ đối với người nông dân, nhà thu mua xử lý, nhà kinh doanh cũng như nhà quản lý sản xuất hàng nông nghiệp Điển hình như phương pháp và công nghệ chế biến nông sản của Australia Công nghệ sau thu hoạch được dùng ở Australia đối với các loại quả từ thu hoạch đến chợ bán buôn được thực hiện rất liên hoàn và khép kín, nó đã góp phần làm cho chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn rất cao Hệ thống của xử lý sau thu hoạch được thiết kế để giảm thiểu các chi phí về lao động, giảm thiểu các thiệt hại trong quá trình giữ gìn chất lượng sản phẩm quả

Cây ăn quả nói chung hay cây cam nói riêng là loại cây được xếp vào loại những cây có giá trị kinh tế cao hơn cây lương thực, có giá trị sử dụng, giá trị thương phẩm, nhu cầu tiêu dùng của thị trường về các loại quả trong đời sống hàng ngày dần tăng lên đáng kể

1.2.3.2 Kinh nghiệm nghiên cứu về hiệu quả kinh tế trồng cam tại Việt Nam

Ở nước ta, trình độ thâm canh các vườn quả đang ở mức rất thấp Cơ sở vật chất và khả năng tiếp thu các kỹ thuật mới còn rất yếu kém, nhất là ở các tỉnh trung

du và miền núi phía Bắc, ven biển Trung Bộ, khu 4 cũ và Tây Nguyên Nước ta

Trang 34

chưa có những vườn nhân giống tiêu chuẩn, các vườn chưa đáp ứng được nhu cầu

về số lượng và chất lượng cây giống để phát triển sản xuất Hiện tượng phát triển diện tích cây ăn quả một cách tràn lan theo hướng quảng canh là phổ biến

Qua thực trạng cho thấy nhu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế trồng cây ăn quả là một trong những vấn đề sống còn trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế Tình trạng không đồng đều về giống, quy trình kỹ thuật thâm canh thực hiện không đầy

đủ, việc chăm bón tùy tiện dẫn đến sự chênh lệch khá lớn về chất lượng, sản phẩm kém khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu

Để nâng cao hiệu quả kinh tế trồng cây ăn quả, nước ta đã tiếp thu những thành quả của thế giới Cho đến nay, Viện Bảo vệ Thực vật cùng một số cơ quan phối hợp đã tiến hành nghiên cứu và đã đưa xuống một số địa phương ứng dụng các chế phẩm sinh học và sử dụng côn trùng thiên địch Việc tạo công nghệ sản xuất các chế phẩm sinh học đã mở ra triển vọng về hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế, bước đầu khắc phục được tình trạng kháng thuốc hóa học của một số loại sâu và dần thay đổi được tập quán lạm dụng thuốc hóa học nhằm bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng Đây cũng là điều kiện quan trọng làm tăng giá trị kinh

tế và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường hội nhập

Bên cạnh các chế phẩm sinh học, các ứng dụng thiên địch để bảo vệ vườn cây

ăn quả như thả kiến vàng trên cây ăn quả để diệt sâu rầy đem lại hiệu quả rất cao

và được khuyên dùng

Những năm gần đây, Việt Nam gặp phải khá nhiều khó khăn về đầu ra cho nông sản do hệ thống kiến thức về bảo quản, sơ chế nông sản của nước ta còn hạn chế Mặc dù có tiềm năng xuất khẩu rau quả nhiệt đới, song Việt Nam còn những yếu điểm điển hình là sản xuất phân tán, năng suất thấp, chưa giải quyết dứt điểm được khâu tạo giống, thu hoạch, công nghệ bảo quản trước và sau thu hoạch kém phát triển, khâu kiểm dịch giữa nước ta và thị trường nhập khẩu chưa thống nhất,

Trang 35

do đó thiếu tính bền vững dẫn đến việc nông sản xuất khẩu bị thua thiệt khi ra thị trường thế giới

Trong môi trường hội nhập, rõ ràng việc quan tâm hàng đầu là chất lượng sản phẩm, chế biến, bảo quản và xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam Chất lượng sản phẩm là yếu tố quyết định Muốn có sản phẩm nông nghiệp tốt thì các khẩu trước thu hoạch (giống, phân bón, cách thức chăm sóc và việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật…), trong và sau thu hoạch đều rất quan trọng Nhanh chóng xây dựng các phòng kiểm tra chất lượng nông sản đủ năng lực phân tích các chỉ tiêu về thành phần dinh dưỡng, chất phụ gia, chất kích thích, độc tố, thực phẩm chiếu xạ

và nông sản chuyển gen… Mặt khác, cần khuyến khích người dân áp dụng các quy trình quản lý chất lượng sản xuất hàng nông sản đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu

Trang 36

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO PHONG –

TỈNH HÒA BÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Cao Phong ở vào tọa độ địa lý 105o10' – 105o25'12" vĩ bắc và 20o35'20" – 20o46'34" kinh đông Cao Phong là một trong số các huyện vùng cao của tỉnh Hòa Bình, có đường ranh giới phía đông giáp huyện Kim Bôi, phía tây giáp huyện Tân Lạc, phía bắc giáp huyện Đà Bắc và thành phố Hòa Bình, phía nam giáp huyện Lạc Sơn, đều thuộc tỉnh Hòa Bình

Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 254 km2 (chiếm 5,4% tổng diện tích

tự nhiên của tỉnh Hòa Bình), dân số trung bình là 40.170 người (chiếm 5,1% dân số toàn tỉnh), mật độ dân số là 158 người/km2 (chỉ bằng 0,9 lần mật độ dân số cả tỉnh)

Độ cao trung bình của toàn huyện là 399 m Tuy là một huyện vùng cao nhưng trên địa bàn huyện Cao Phong lại ít có núi cao Nhìn chung, địa hình của huyện có cấu trúc thoai thoải, độ dốc trung bình của đồi núi khoảng 10 – 15o, chủ yếu là đồi dạng bát úp, thấp dần theo chiều từ đông nam đến tây bắc

Căn cứ vào địa hình, có thể phân chia huyện Cao Phong thành ba vùng: vùng núi cao (gồm 02 xã: Yên Thượng, Yên Lập), vùng giữa (gồm 08 xã: Dũng Phong, Nam Phong, Tây Phong, Tân Phong, Ðông Phong, Xuân Phong, Thu Phong, Bắc Phong và thị trấn Cao Phong) và vùng ven sông Đà (gồm 02 xã: Bình Thanh và Thung Nai)

Do điều kiện tự nhiên đa dạng, phức tạp nên Cao Phong có điều kiện rất thuận lợi để hình thành nền nông nghiệp đa dạng về cây trồng và vật nuôi Tuy nhiên, địa

Trang 37

hình đa dạng và phức tạp như vậy cũng sẽ gây khó khăn trong việc thiết kế, xây dựng và nâng cao hiệu quả sử dụng của các công trình thủy lợi và các cơ sở hạ tầng khác

Nhìn một cách tổng thể, khí hậu Cao Phong mát mẻ, lượng mưa khá và tương đối điều hòa Điều kiện khí hậu như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi với nhiều hình thức canh tác hoặc mô hình chăn nuôi khác nhau

Hạn chế lớn nhất của khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp là nạn thiếu nước vào mùa khô, đặc biệt là ở những vùng chưa có các công trình thủy lợi Về mùa đông, bên cạnh sự khô hạn, các yếu tố khí hậu khác như: nhiệt độ xuống thấp, sương muối, không đủ ánh sáng… cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển

2.1.1.3 Địa hình

Trên địa bàn huyện Cao Phong có nhiều loại đất khác nhau Ở vùng địa hình đồi núi có các loại đất: nâu vàng, đỏ vàng, nâu đỏ và mùn đỏ vàng Vùng địa hình thấp có các loại đất: phù sa, dốc tụ… Nhìn chung, đa số các loại đất ở Cao Phong

có độ phì cao, thích hợp cho việc trồng nhiều loại cây khác nhau, nhất là cây công nghiệp, cây ăn quả cũng như phát triển chăn nuôi

2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

* Tài nguyên đất

Trang 38

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai huyện Cao Phong giai đoạn 2012 - 2014

Đơn vị tính: ha

Cơ cấu sử dụng đất đai năm

2014 (%)

- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 3.954,46 3.883,77 4.340,68 17,00%

- Diện tích đất lâm nghiệp 13.618,54 13.560,59 13.875,78 54,36%

- Diện tích đất nuôi trồng thủy sản 77,69 77,67 88,32 0,35%

Nguồn: Ban thống kê huyện Cao Phong, 2014

Trong cơ cấu sử dụng đất của huyện Cao Phong, tính đến cuối năm 2014, đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá lớn (71,71%) tổng diện tích đất tự nhiên với 18.304,78 ha Trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 17,00% tổng diện tích đất nông nghiệp với 4.340,68 ha; đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất 54,36% tổng diện tích đất nông nghiệp với 13.875,78 ha; chiếm tỷ trọng thấp nhất là đất nuôi trồng thủy sản là 0,35% tổng diện tích đất nông nghiệp với 88,32 ha Tương tự là đất phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng 18,46% tổng diện tích đất tự nhiên với 4.713,20 ha Trong khi đó, đất chưa sử dụng chiếm tỷ lệ không cao (9,83%), chủ yếu là đất đồi núi Tuy diện tích đất chưa sử dụng không nhiều nhưng vẫn còn tiềm năng cho việc phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả… và cũng đặt ra nhiệm vụ trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc cho địa phương

Xét trong giai đoạn từ 2012 -2014, diện tích đất theo mục đích sử dụng có sự biến động cả về quy mô và cơ cấu Diện tích đất nông nghiệp và phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên, diện tích đất chưa sử dụng bị giảm đi, nguyên nhân của sự biến động

Trang 39

trên là do yêu cầu phục vụ mục đích phát triển kinh tế - xã hội của huyện, diện tích chưa sử dụng được chuyển dần sang diện tích đất ở và các mục đích công cộng khác như xây dựng cơ sở hạ tầng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

* Tài nguyên khoáng sản và du lịch

Trên địa bàn huyện Cao Phong có sông Đà và hàng chục con suối lớn nhỏ chảy qua Tuy nhiên, do nền địa chất nơi đây nằm trong miền hoạt động Karst hóa mạnh, cộng với tình trạng tàn phá rừng đầu nguồn, nên vào mùa khô, nhiều suối có lưu lượng nước rất ít hoặc bị cạn kiệt

Theo những số liệu đánh giá chung về nguồn nước ở vùng Tây Bắc, tiềm năng nước ngầm ở Cao Phong tương đối dồi dào, có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân Hiện nay, các giếng nước trong các

hộ dân ở bản, làng đang khai thác thường có độ sâu trên dưới 20m và cho nước có chất lượng khá tốt

Cao Phong có thảm thực vật tương đối đa dạng, bao gồm nhiều loại: gỗ, tre, nứa và gần đây trồng thêm các loại cây ăn quả, keo lá tràm…

Theo kết quả điều tra thăm dò gần đây, Cao Phong có một số loại khoáng sản chính như: đất sét, cát, sỏi, quặng perit, quặng đồng, than…

Ngoài các mỏ đất sét và vật liệu xây dựng dễ khai thác và thuận tiện trong việc vận chuyển, còn các mỏ khoáng sản khác thì cần tiếp tục khảo sát, đánh giá cụ thể

về trữ lượng và khả năng khai thác

Ngoài ra, Cao Phong còn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch vì

có hai xã nằm trong khu vực lòng hồ sông Đà, lại có nhiều xóm, bản với các lễ hội đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số như bản Giang Mỗ (người Dao) ở xã Bình Thanh, có các di tích lịch sử, văn hóa như di tích Anh hùng Cù Chính Lan, căn cứ Cao Phong – Thạch Yên… Nếu được đầu tư, các địa chỉ văn hóa này đều là các danh lam thắng cảnh có khả năng thu hút khách du lịch

Trang 40

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Dân cư và lao động

a) Dân cư

Là một trong bốn vùng đất Mường nổi tiếng của tỉnh Mường Hòa Bình, trải qua hàng trăm năm hình thành và phát triển, huyện Cao Phong ngày nay có ba dân tộc chủ yếu sinh sống là: dân tộc Mường (chiếm 72,38%), dân tộc Kinh (chiếm 26%) và dân tộc Dao (chiếm 2,77%)

Dân số huyện tính đến hết năm 2014 là 45.120 người (chiếm 5,2% dân số toàn tỉnh), đứng thứ 10/11 trong các huyện, thành phố thuộc tỉnh Mật độ dân số huyện tương đối thấp, khoảng 166 người/km2 (đứng thứ 7/11 so với các huyện trong tỉnh), thấp hơn mật độ chung toàn tỉnh (173 người/km2) Dân cư phân bố không đều, tập trung nhiều nhất ở thị trấn Cao Phong (409 người/km2), các xã còn lại mật

độ trung bình khoảng 148 người/km2) Việc phân bố cư dân không đều ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có nông nghiệp, đặc biệt là cho việc đầu tư sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng, quy mô và diện tích canh tác bị phân tán…

b) Lao động

Lực lượng lao động ở huyện Cao Phong khá dồi dào, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp Nếu như năm 2002 số lao động trong độ tuổi tham gia lao động là 19.739 người thì đến năm 2012 con số này là 25.231 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm đa số với 91,8%; lao động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng khoảng 2,2% và lao động dịch vụ chiếm 5,9%

Cùng với sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở Cao Phong thời gian qua có sự chuyển dịch, tỷ trọng lao động nông – lâm – thủy sản giảm từ 93,13% năm 2002 xuống còn 91,8% năm 2012 Qua những con số trên, ta thấy sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở Cao Phong diễn ra tuy còn chậm nhưng theo hướng tích cực, cần phát huy hơn nữa trong thời gian tới

Ngày đăng: 24/06/2021, 16:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w