Những năm qua, việc tập trung thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình giảm nghèo đã tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã h
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Một số giải pháp góp phần giảm nghèo
bền vững cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình” là
công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu trong luận văn đƣợc sử dụng trung thực Kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn này chƣa từng đƣợc công bố tại bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin đƣợc trích dẫn trong luận văn này đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 25 tháng 03 năm 2014
TÁC GIẢ
Nguyễn Tuấn Đạt
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, ngoài
sự nỗ lực của bản thân, bản thân tôi luôn luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Khoa đào tạo SĐH, đặc biệt là các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt những kiến thức, những kinh nghiệm quý báu giúp cho tôi trang bị hành trang cho công việc của mình sau này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo – TS Trần Văn Dư đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ nhân viên các phòng ban thuộc Cơ quan UBND huyện Kim Bôi, các xã điều tra đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài này
Cuối cùng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình tôi và bạn bè tôi, những người luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 03 năm 2014
TÁC GIẢ
Nguyễn Tuấn Đạt
Trang 3MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
Đối tượng nghiên cứu là tình hình giảm nghèo của các hộ gia đình nông dân trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 3
4.1 Về lý luận 3
4.2 Về thực trạng 4
4.3 Nội dung về giải pháp 4
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO CÁC HỘ NÔNG DÂN 5
1.1 Một số lý luận về giảm nghèo bền vững cho các hộ nông dân 5
1.1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế hộ nông dân 5
1.1.2 Khái niệm giảm nghèo bền vững 8
1.1.3 Nội dung cơ bản của giảm nghèo bền vững 14
1.1.4 Những nhân tố tác động đến giảm nghèo bền vững 17
Trang 41.2 Kinh nghiệm giảm nghèo cho các hộ nông dân ở một số nước trên thế
giới và Việt Nam 22
1.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo cho các hộ nông dân ở một số nước trên thế giới 22
1.2.2 Kinh nghiệm về giảm nghèo cho các hộ nông dân ở Việt Nam 25
1.3 Tổng quan về các công trình công bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài 30
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 32
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 32
2.1.2 Đặc điểm kinh tế 37
2.1.3 Đặc điểm văn hóa - xã hội 44
2.2 Phương pháp nghiên cứu 46
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 46
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 47
2.2.3 Phương pháp xử lý, tổng hợp số liệu 48
2.3 Các chỉ tiêu dùng trong phân tích 48
2.3.1 Các chỉ tiêu phản ảnh điều kiện sản xuất của nông hộ 48
2.3.2 Các chỉ tiêu phản ảnh mức thu nhập và chi tiêu của nông hộ 49
2.3.3 Các chỉ tiêu phản ảnh kết quả và hiệu quả sản xuất của hộ 49
2.3.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng nghèo, giảm nghèo 49
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
3.1 Thực trạng nghèo đói của các hộ dân trên địa bàn huyện Kim Bôi giai đoạn 2011 - 2013 50
3.1.1 Thực trạng nghèo đói chung trên địa bàn huyện Kim Bôi giai đoạn 2011 - 2013 50
3.1.2 Thực trạng thoát nghèo của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Kim Bôi giai đoạn 2011 - 2013 52
3.1.3 Thực trạng tái nghèo của các hộ nông dân ở huyện Kim Bôi giai đoạn 2011 - 2013 54
Trang 53.2 Thực trạng công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Kim Bôi giai đoạn
2011 - 2013 56
3.2.1 Các chương trình hỗ trợ giảm nghèo trên địa bàn huyện Kim Bôi 56 3.2.2 Kết quả các chương trình hỗ trợ giảm nghèo tại huyện Kim Bôi 58
3.3 Tình hình giảm nghèo của các hộ điều tra 62
3.3.1 Tình hình về chủ hộ điều tra 62
3.3.3 Nguồn lực của nông hộ 66
3.3.4 Kết quả sản xuất của hộ điều tra 72
3.3.5 Tình hình về thu nhập và chi tiêu của hộ 80
3.3.6 Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tác động dến giảm nghèo bền vững 84
3.3.7 Những vấn đề đặt ra cho công tác giảm nghèo theo hướng bền vững ở huyện Kim Bôi 90
3.4 Một số giải pháp góp phần giảm nghèo bền vững tại huyện Kim Bôi - tỉnh Hòa Bình 92
3.4.1 Định hướng và mục tiêu 92
3.4.1.1 Định hướng chung 92
3.4.2 Giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện Kim Bôi 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 PHỤ LỤC
Trang 6LĐ-TB&XH Lao động thương binh và xã hội
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Các yếu tố khí hậu chủ yếu ở Kim Bôi năm 2012, 2013 33 2.2 Cơ cấu sử dụng đất huyện Kim Bôi năm 2013 37 2.3 Kết quả sản xuất các ngành kinh tế của huyện Kim Bôi 2011 – 2013 39 2.4 Cơ cấu kinh tế ở huyện Kim Bôi giai đoạn 2011 - 2013 40 2.5 Các loại đường giao thông chính ở huyện Kim Bôi 42 2.6 Biến động dân số, lao động huyện Kim Bôi giai đoạn 2011 - 2013 44 2.7 Một số chỉ tiêu tổng hợp về giáo dục năm học 2012 - 2013 45
3.1 Thực trạng nghèo đói ở huyện Kim Bôi giai đoạn 2011 - 2013 51
3.2 Thực trạng thoát nghèo của các hộ nông dân ở huyện Kim Bôi
3.3 Thực trạng tái nghèo ở huyện Kim Bôi giai đoạn 2011 - 2013 55
3.4 Vốn đầu tư từ các chương trình hỗ trợ giảm nghèo trên địa bàn
3.5 Cơ cấu vốn đầu tư từ các chương trình hỗ trợ giảm nghèo trên địa
3.6 Ảnh hưởng của các chương trình giảm nghèo trên địa bàn huyện
3.7 Đặc điểm cơ bản của các nhóm hộ điều tra năm 2013 63
3.8 Tình hình nhà ở và trang bị sinh hoạt của các nhóm hộ điều tra
3.9 Tình hình sử dụng đất của các nhóm hộ điều tra năm 2013 67 3.10 Tình hình về nhân khẩu, lao động của hộ điều tra 68
Trang 83.11 Tình hình nguồn vốn của các nhóm hộ điều tra năm 2013 70 3.12 Tình hình trang bị công cụ sản xuất của hộ điều tra 71
3.13 Năng suất, sản lƣợng một số cây trồng chính của các nhóm hộ
3.14 Tình hình về vật nuôi của các nhóm hộ điều tra năm 2013 75 3.15 Chi phí sản xuất của các nhóm hộ điều tra năm 20 77 3.16 Kết quả sản xuất của các nhóm hộ điều tra năm 2013 79 3.17 Tình hình thu nhập bình quân của hộ điều tra năm 2013 81 3.18 Tình hình chi tiêu và tích lũy của hộ điều tra năm 2013 82
3.19 Tổng hợp các nguyên nhân dẫn đến nghèo và tái nghèo của hộ
3.20 Kết quả khảo sát về tác động của yếu tố chính sách đối với đời
sống hộ nông dân
88
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Số hộ nghèo tại Kim Bôi giai đoạn 2011 - 2013 52
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn 20 năm đổi mới, công tác xóa đói, giảm nghèo ở nước ta đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, được nhân dân ghi nhận và bạn bè quốc tế đánh giá cao Thực hiện mục tiêu giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn
và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc
mà Việt Nam đã cam kết Mục tiêu này đã được cụ thể hóa trong các nghị quyết, quyết định như Nghị quyết Số: 80/NQ-CP của Quốc hội về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2012 đến năm 2020, quyết định Số: 1489/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2013 – 2015
Những năm qua, việc tập trung thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình giảm nghèo đã tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; cơ sở hạ tầng của các huyện, xã nghèo được tăng cường; đời sống người nghèo được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 22% năm 2005 xuống còn 9,45% năm
2011 Thành tựu giảm nghèo của nước ta thời gian qua được cộng đồng quốc
tế ghi nhận và đánh giá cao
Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao; chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn còn khá lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, nhất
là ở khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 11Kim Bôi là huyện nằm giữa rìa phía đông của tỉnh Hòa Bình, có địa bàn rộng, dân cư đông, chủ yếu là dân tộc Mường (chiếm 83%) dân số Do ảnh hưởng của điều kiện địa lý, tự nhiên, tập quán canh tác, đến nay, Kim Bôi vẫn
là một trong những huyện có nền kinh tế phát triển chậm Chưa có sản phẩm hàng hóa, sản xuất còn mang tính tự cấp, tự túc nên đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Là một trong số 23 huyện nghèo theo quyết định số 293/QĐ-TTg về việc Hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho 23 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao được áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định của Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm
2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo Trong những năm gần đây, huyện đã có nhiều nhóm giải pháp cụ thể bao gồm cả tuyên truyền, tổ chức và nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách và các bước thực hiện cho từng giai đoạn nhằm giảm nghèo
và đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên trong thời gian tới cần có những biện pháp thiết thực, hiệu quả hơn nữa nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững, cải thiện đời sống nhân dân, phát triển kinh tế
Xuất phát từ những vấn đề trên, em lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp góp phần giảm nghèo bền vững cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình” làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, phân tích thực trạng giảm nghèo của các hộ nông dân, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm nghèo bền vững cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo, giảm nghèo bền vững cho các hộ nông dân;
Trang 12- Đánh giá thực trạng giảm nghèo của các hộ nông dân ở huyện Kim Bôi
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững cho các hộ nông dân;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm nghèo bền vững cho các hộ nông
dân trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là giải pháp giảm nghèo cho các hộ gia đình nông dân trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi về nội dung
Đề tài nghiên cứu thực trạng giảm nghèo của các hộ nông dân và một số
yếu tố tác động đến giảm nghèo Từ đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu góp phần giảm nghèo bền vững cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện Kim Bôi,
tỉnh Hòa Bình
3.2.2 Phạm vi về không gian và thời gian
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu về giảm nghèo bền vững cho các
hộ nông dân trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu thu thập liên quan tới giảm nghèo tập trung chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2011 - 2013 Số liệu khảo sát, điều tra năm
2013
4 Nội dung nghiên cứu
4.1 Về lý luận
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hộ nông dân, kinh tế
hộ nông dân; Khái niệm về nghèo, giảm nghèo và giảm nghèo bền vững; Đề cập đến nội dung cơ bản của giảm nghèo bền vững; Sự cần thiết giảm nghèo
bền vững và những nhân tố tác động đến giảm nghèo bền vững
Trang 134.2 Về thực trạng
Đề tài đã đánh giá thực trạng về tình hình đói nghèo trên địa bàn huyện Kim Bôi; Phân tích thực trạng công tác giảm nghèo; Đi sâu nghiên cứu tình hình nghèo, giảm nghèo của các hộ điều tra Đồng thời phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến giảm nghèo Từ đó, rút ra những hạn chế và những vấn đề đặt ra cho công tác giảm nghèo theo hướng bền vững ở huyện Kim Bôi
4.3 Nội dung về giải pháp
Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm giảm nghèo bền vững cho các hộ nông dân ở huyện Kim Bôi, Hòa Bình bao gồm:
Nâng cao nhận thức và quyết tâm thoát nghèo của chính người nghèo, hộ nghèo; Giải pháp tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo; Tăng cường đào tạo nhân lực; Giải quyết việc làm; Tăng cường công tác khuyến nông khuyến lâm; Tăng cường cơ sở vật chất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã an toàn khu; Giải pháp tuyên truyền và hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội; Hoàn chỉnh chính sách hỗ trợ giảm nghèo thông qua các chương trình, dự án đầu tư và Các giải pháp về tổ chức thực hiện: nâng cao vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng, trách nhiệm của các cấp chính quyền, các tổ chức quần chúng Thêm vào đó là một số giải pháp cụ thể cho các hộ nghèo và hộ tái nghèo trên địa bàn huyện
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO CÁC HỘ NÔNG DÂN
1.1 Một số lý luận về giảm nghèo bền vững cho các hộ nông dân
1.1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế hộ nông dân
1.1.1.1 Khái niệm về hộ
Cho đến nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu và phát biểu của các tổ chức, các nhà khoa học về hộ gia đình như: cuộc hội thảo của các nhà khoa học tại Hà Lan năm 1980; Nhà khoa học Harris (1981) ở viện nghiên cứu phát triển trường Đại học Tổng hợp Susex (London - Anh); ở Mỹ có Wallerstan (1982), Wood (1981 - 1982), Smith (1985), Martin và Bellhel (1987); Nhóm các nhà nhân chủng học (Waller (Áo) 1982, Wood (Mỹ) 1982) hay các nhà nghiên cứu
thuộc Liên hợp quốc cũng đã đưa ra nhiều khái niệm về hộ gia đình Các quan
niệm trên chỉ ra rằng:
Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung
và có chung một ngân quỹ; Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác; là nhóm người chung huyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc, ở chung trong một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ; Hộ là một đơn vị
tự nhiên tạo nguồn lao động; Hộ là một đơn vị bảo đảm tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung; Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình tạo
ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng Như vậy, hộ là 1 tập
hợp những người có chung huyết thống, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng
Trang 151.1.1.2 Khái niệm hộ nông dân
Về nông hộ hay hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao" [14] Hộ nông dân là hình thức kinh tế gắn lao động của một gia đình nông dân với một mảnh đất nhất định (đất của riêng hoặc của người khác) và một số công cụ, sức kéo cần thiết để khai thác mảnh đất ấy
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo nhà khoa học Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” [28] Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc [9] , trong phân tích điều tra nông thôn năm
2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp" Có thể thấy, hộ nông dân có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất,
sử dụng lao động gia đình là chủ yếu Hoạt động nông nghiệp, hoạt động phi nông nghiệp Đặc điểm của nông hộ có tính 2 mặt (tính kinh tế gộp) vừa là người sản xuất vừa là người tiêu dùng
Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các học giả
có thể thấy rằng:
Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp
Trang 16Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân
1.1.1.3 Khái niệm kinh tế nông hộ
Trong những nghiên cứu của mình, C.Mác đã thấy rằng: Phát triển nông nghiệp không giống như phát triển công nghiệp, kinh tế nông trại gia
đình tỏ ra là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp có hiệu quả và "Nông
nghiệp hợp lý mâu thuẫn với phát triển kinh doanh chủ nghĩa tư bản"[5] Sau
các công trình nghiên cứu về kinh tế nông dân của C.Mác và V.I.Lênin đã xuất hiện một xu hướng nghiên cứu về sự phát triển kinh tế hộ nông dân GS
Frank Ellis trường Đại học Tổng hợp Cambridge (1988) cho rằng: "Kinh tế
nông hộ khác với những người làm kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường ở bốn yếu tố: đất đai, lao động, vốn và sự tiêu dùng”[14] Traianov đã cho
rằng: Hình thức kinh tế nông hộ có khả năng thích ứng và tồn tại trong mọi hình thức sản xuất và ông chú ý đến đặc tính sinh học của cây trồng, vật nuôi cũng như các đặc điểm khác của sản xuất nông nghiệp để hướng tới một sự
hợp tác không phải "Vô chủ hóa" hoặc "Tạp chủ hóa" trong nông nghiệp
Từ những tư tưởng, những quan điểm, khái niệm và những đặc điểm của kinh tế hộ nông dân như đã nêu ở trên chúng ta có thể rút ra được bản chất của kinh tế hộ nông dân thể hiện ở những khía cạnh sau:
Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế, trong đó các thành viên hoạt động
và làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích của bản thân, của gia đình và của toàn xã hội Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế thích nghi nhất với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, nơi mà các cây trồng, vật nuôi đòi hỏi sự quan tâm sát sao, sự chăm sóc đóng lúc của con người
Trang 17Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế phổ biến mang tính chất đặc thù
ở mỗi vùng, mỗi khu vực và mỗi nước trên thế giới Kinh tế hộ nông dân là đơn
vị kinh tế cơ sở vừa sản xuất, vừa tiêu dùng (mà người ta thường gọi tự cấp tự túc) sản phẩm mà hộ làm ra có thể được tiêu dùng luôn với vai trò là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng
Cũng như những thành phần kinh tế khác, Kinh tế hộ nông dân phải vận dụng tổng hợp các quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế khách quan trong quá trình tồn tại và phát triển của mình Kinh tế hộ nông dân không những giải quyết tốt các mục tiêu của hộ nông dân mà còn giải quyết tốt vấn đề môi trường sinh thái và vấn đề xây dựng nông thôn mới
1.1.2 Khái niệm giảm nghèo bền vững
1.1.2.1 Khái niệm về nghèo
Trên thế giới vấn đề nghèo đói được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau như: nghèo về văn hoá, nghèo về tri thức, nghèo về kinh tế Dưới góc độ kinh tế, nghèo cũng được xem xét với các lát cắt khác nhau như: nghèo về lương thực thực phẩm, nghèo về điều kiện sinh hoạt, nghèo trong mối quan hệ với giàu, nghèo trong việc bị hạn chế tiếp cận các nguồn lực phát triển; nghèo trong việc khó tiếp cận được thị trường Vậy nghèo được hiểu như thế nào?
Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức vào tháng 9/1993 tại Bangkok (Thái Lan), các quốc gia trong khu vực đó
thống nhất cho rằng: "Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không
được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đó được XH thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán của từng địa phương [4] Đây là khái niệm tương đối đầy đủ và bao quát nên có
thể coi đây là định nghĩa chung nhất và có tính hướng về phương pháp nhận diện nét chính yếu phổ biến về đói nghèo của các quốc gia Ưu điểm của khái
Trang 18niệm này là đó làm rõ được bộ phận dân cư nghèo là: "Tùy theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán từng địa phương"
Quan niệm nghèo của Việt Nam: Về cơ bản quan niệm nghèo của Việt Nam thống nhất với khái niệm nghèo của ESCAP Quan niệm nghèo ở đây có 2 dạng là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống Nhu cầu cơ bản, tối thiểu đó là mức bảo đảm tối thiểu về ăn, mặc, nhà ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và vệ sinh môi trường Nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt từng quốc gia và cũng được mở rộng dần
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định Nghèo tương đối gắn liền với
sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xóa dần nghèo tuyệt đối là việc có thể làm
Tóm lại, nghèo đói là một phạm trù lịch sử, có tính tương đối Tính chất
và đặc trưng của nghèo đói phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự nhiên, nhân tố chính trị, văn hóa và trình độ phát triển KT-XH của vùng, miền, quốc gia, khu vực Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn, là cơ sở của việc tìm kiếm đồng bộ các giải pháp giảm nghèo ở nước ta, nhất là vùng dân cư nông nghiệp và nông thôn hiện nay
1.1.2.2 Tiêu chí xác định nghèo và chuẩn nghèo đói
* Tiêu chí xác định nghèo
- Chỉ số đánh giá đói nghèo:
Dựa trên những định nghĩa về đói nghèo ở Việt Nam, thước đo sử dụng phổ biến hiện nay để đánh giá nghèo khổ về thu nhập là đếm số người sống dưới chuẩn nghèo
Trang 19Tỷ lệ nghèo được tính bằng tỷ lệ phần trăm của dân số Việc sử dụng chỉ số này là cần thiết để đánh giá tình trạng nghèo và những thành công trong mục tiêu
“giảm nghèo” của quốc gia và thế giới Khoảng cách nghèo là phần chênh lệch giữa mức chi tiêu của người nghèo với ngưỡng nghèo, tính bằng tỷ lệphần trăm
so với ngưỡng nghèo Khi so sánh nhóm dân cư trong một nước, khoảng cách nghèo cho biết tính chất và mức độ nghèo khổ khác nhau giữa các nhóm
- Chỉ tiêu đánh giá:
Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá nghèo đói ở Việt Nam được tính trên nhiều phương diện khác nhau căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và hiện trạng đời sống trung bình phổ biến của dân cư hiện nay Có thể đưa ra một số chỉ tiêu chính để đánh giá đói nghèo như sau:
Chỉ tiêu về thu nhập: Thu nhập bình quân một người một tháng (hoặc năm) được đo bằng chỉ tiêu giá trị hay hiện vật quy đổi, thường dùng lương thực (gạo)
để đánh giá Thu nhập ở đây được hiểu là thu nhập thuần tuý và cần xác định rõ chỉ tiêu thu nhập bình quân nhân khẩu tháng để xác định mức đói nghèo
Chỉ tiêu về nhà ở và tiện nghi sinh hoạt: Căn cứ trên hiện trạng về nhà cửa
và các đồ dùng sinh hoạt Chỉ tiêu này mang tính chất tương đối vì phụ thuộc vào thời điểm đánh giá chỉ tiêu
Chỉ tiêu tư liệu sản xuất: Những người nghèo đói có ít thậm chí rất ít tư liệu sản xuất bên cạnh đó tư liệu sản xuất của họ lại thô sơ Một bộ phận lớn người nghèo còn thiếu ruộng đất canh tác, sản xuất
Chỉ tiêu về vốn: tính trên số tiền được sử dụng vào sản xuất kinh doanh Người nghèo hiện nay đa phần là đi vay nợ hoặc vay tín dụng của ngân hàng và các tổ chức tài chính vi mô
Hiện nay, các chỉ tiêu đánh giá nghèo đói còn xét trên nhiều yếu tố khác như giáo dục, y tế, nguy cơ dễ bị tổn thương, không có tiếng nói và không có quyền lực
Trang 20* Chuẩn nghèo
Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội là cơ quan thường trực của chương trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kỳ Lúc đầu nghèo được xác định tiêu chí đánh giá là dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang chỉ tiêu thu nhập, kết quả là đã 6 lần công bố, điều chỉnh chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau[3]
Theo Quyết định số 170 / 2005 / QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác định chuẩn nghèo giai đoạn 2006 – 2011 là: Vùng thành thị: 260.000 đồng/người/tháng; Vùng nông thôn (cho cả miền núi và đồng bằng): 200.000 đồng/người/tháng
Ngày 30/01/2012 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định Số TTg điều chỉnh chuẩn nghèo giai đoạn 2012 – 2015 như sau:
09/2012/QĐ-Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
Để xác định được ngưỡng nghèo đói thì điểm mấu chốt của vấn đề là phải xác định được chuẩn mực đói nghèo Do chuẩn đói nghèo là khái niệm động, nó biến động theo thời gian và không gian nên không thể đưa ra được những chuẩn mực chung cho đói nghèo để áp dụng trong công tác xóa đói giảm nghèo, mà cần phải có các chỉ tiêu, tiêu chí riêng cho từng vùng, miền ở từng thời kỳ lịch sử
1.1.2.3 Khái niệm về giảm nghèo
Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người
Trang 21nghèo giảm Nói một cách cụ thể hơn, giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ớt điều kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người Nói giảm nghèo trong đó luôn bao hàm xóa đói và cũng giống như khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo chỉ là tương đối Bởi nghèo có thể tái sinh mỗi khi quan niệm nghèo
và chuẩn nghèo thay đổi Hoặc có những biến động khác tác động đến như: khủng hoảng, lạm phát, thiên tai vv Vì vậy, việc đánh giá mức độ giảm nghèo cần được xem xét trong một không gian và thời gian nhất định
Đối với nước ta hiện nay tình trạng nghèo đói là do nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế lạc hậu kém phát triển sang nền kinh tế hiện đại Trong nền kinh tế này tồn tại và đan xen nhiều trình độ sản xuất khác nhau Trình độ sản xuất cũ lạc hậu vẫn còn tồn tại trong khi đó trình độ sản xuất mới, tiên tiến chưa đóng vai trò chủ đạo nên dẫn đến có sự giàu nghèo khác nhau trong các tầng lớp dân cư
Ở góc độ quốc gia: Giảm nghèo ở nước ta chính là quá trình chuyển đổi
trình độ sản xuất cũ lạc hậu còn tồn tại sang trình độ sản xuất mới cao hơn
Ở góc độ người nghèo: Giảm nghèo là quá trình giúp người nghèo có
khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên
cơ sở đó để họ có nhiều lựa chọn hơn giúp họ từng bước thoát ra khỏi tình trạng nghèo đói
1.1.2.4 Khái niệm về giảm nghèo bền vững
Để hiểu rõ khái niệm giảm nghèo bền vững thì trước hết chúng ta phải hiểu thể nào là phát triển bền vững Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau [18] Phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và tài nguyên thiên nhiên
để đáp ứng những nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của thế hệ hiện tại
Trang 22nhưng không làm tổn hại, gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế - xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng cuộc sống của các thế hệ trong tương lai Phát triển bền vững là một vấn đề có tính tổng thể
có nghĩa là bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Như vậy, nội dung của giảm nghèo bền vững là một trong những nội dung của phát triển bền vững, nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội và môi trường Vấn đề giảm nghèo bền vững đạt hiệu quả cao hay thấp đều ảnh hưởng đến phát triển bền vững của mỗi địa phương
Từ đó, chúng ta có thể hiểu rằng: “giảm nghèo bền vững là việc giúp cho
các hộ nghèo có thu nhập ổn định để thoát nghèo và có các kỹ năng, kỹ thuật để
có khả năng ứng phó với những bất lợi xảy ra để không tái nghèo” Giảm nghèo
bền vững còn có nghĩa là giảm nghèo một cách hiệu quả trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Tính chất bền vững ở đây được hiểu là những việc làm hôm nay không làm phương hại đến tương lai, người nghèo sẽ thoát nghèo không chỉ bằng các chính sách an sinh xã hội mà phải bằng các hoạt động hỗ trợ sinh kế, tự thân thoát nghèo Họ không chỉ trông chờ vào các chương trình phúc lợi xã hội, chương trình dự án để thoát nghèo mà còn biết cách áp dụng để phát triển sản xuất, thu nhập ổn định, cố gắng nỗ lực để không tái nghèo
1.1.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo
Để đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo, không thể chỉ đánh giá dựa trên số lượng người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo giảm xuống
mà phải căn cứ trên nhiều khía cạnh khác nhau:
Giảm nghèo bền vững nhìn theo khía cạnh thu nhập của người dân:
Giảm nghèo bền vững đó là thu nhập của người dân đạt mức 1,5 lần chuẩn nghèo; Giảm nghèo bền vững là hoạt động hỗ trợ để người dân có ý chí
Trang 23tự vươn lên tạo được nguồn thu nhập ổn định và đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người; Giảm nghèo bền vững là không thuộc diện nghèo 3 năm trở lên
Giảm nghèo bền vững nhìn dưới giác độ năng lực của người dân:
Người dân cần có khát vọng và được hướng dẫn cách làm ăn mới có thể giảm nghèo bền vững; Trong nền kinh tế thị trường, muốn thoát nghèo bền vững thì người dân phải được và có khả năng tham gia vào "sân chơi" của thị trường; Muốn giảm nghèo bền vững thì người dân phải biết cách làm ăn và có khả năng chống chọi với những rủi ro
Giảm nghèo bền vững nhìn dưới góc độ xã hội:
Giảm nghèo bền vững chỉ được giải quyết khi duy trì quan hệ xã hội tốt, người nghèo hết nghèo và vươn lên khá giả khi trong lúc khó khăn họ tìm được
sự giúp đỡ; Do tập quán nên phụ nữ ít được tham gia các hoạt động xã hội, không tham dự tập huấn cách làm ăn
Để đi đến nhận thức thống nhất về giảm nghèo bền vững, nghiên cứu này xin đi từ quan niệm về giảm nghèo và quan điểm về bền vững Nếu như giảm nghèo được hiểu là kết quả từ sự nỗ lực của nhà nước, cộng đồng và
người dân là cho người dân đạt mức sống vượt trên mức sống tối thiểu thì bền
vững được hiểu là có khả năng chống đỡ được hay có khả năng chịu được Khi
kết quả từ những nỗ lực của nhà nước, cộng đồng và người dân đạt được mức sống cao hơn mức sống tối thiểu và có khả năng duy trì trên mức tối thiểu này khi gặp (đối mặt) với các cú sốc, hay rủi ro thông thường thì có thể giảm nghèo
là bền vững Quan điểm này chỉ ra rằng để giảm nghèo bền vững không chỉ dừng lại ở mức sống cao hơn mà còn đòi hỏi những điều kiện, yếu tố duy trì và phát triển kết quả đó
1.1.3 Nội dung cơ bản của giảm nghèo bền vững
Thứ nhất, tăng thu nhập cho người nghèo, vùng nghèo
Trang 24Khi đánh giá vấn đề nghèo đói, các tổ chức quốc tế cũng như các nước khác nhau lựa chọn phương pháp và chỉ tiêu đánh giá cơ bản giống nhau Nhìn chung các quốc gia đều căn cứ vào chỉ tiêu chính là thu nhập để đánh giá Như vậy, tăng thu nhập cho đối tượng nghèo là nội dung cần được quan tâm nhất đối với công tác giảm nghèo
Thứ hai, tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển và dịch vụ công
đối với người nghèo, vùng nghèo
Phần lớn người nghèo tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, nhất là vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa Những nơi này thường là xa các trung tâm kinh tế và dịch vụ xã hội Hệ thống cơ sở hạ tầng thiếu và yếu hơn so với những vùng khác Phổ biến là tình trạng thiếu điện, thiếu nước tưới, nước sinh hoạt, thiếu thông tin, thiếu chợ đầu mối, thiếu vốn, đất sản xuất và thị trường, giao thông đi lại khó khăn
Nghèo thường gắn liền với dân trí thấp Do nghèo mà không có điều kiện đầu tư cho con cái học hành để nâng cao trình độ hiểu biết Dân trí thấp thì không
có khả năng tiếp thu tiến bộ của khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất và không có khả năng tiếp cận với những tiến bộ, văn minh của nhân loại nên dẫn đến nghèo về mọi mặt (kinh tế và tinh thần, chính trị) Vì vậy, để giảm nghèo phải nâng cao trình độ dân trí, nâng cao sự hiểu biết cho người nghèo là giải pháp có tính chiến lược lâu dài
Thêm vào đó là phải tạo điều kiện để giúp người nghèo tiếp cận có hiệu quả với các dịch vụ y tế, dịch vụ tài chính, tín dụng và tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ vv Hỗ trợ người nghèo về y tế để họ có điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn, hạn chế được bệnh tật, từ đó có điều kiện tái sản xuất sức lao động, đây là yếu tố quan trọng để tăng trưởng và phát triển
Thứ ba, giảm thiểu sự tổn thương cho người nghèo để giảm nghèo
mang tính bền vững
Trang 25Trong thực tiễn người nghèo rất dễ bị tổn thương giảm nghèo có tình trạng khá phổ biến là có rất nhiều hộ gia đình sau khi thoát nghèo một thời gian do nhiều nguyên nhân khác nhau như: gặp thiên tai, tai nạn, rủi ro trong sản xuất, ốm đau, do tác động của phân hóa giàu - nghèo của quá trình phát triển vv
Vì vậy, nhiệm vụ của công tác giảm nghèo không chỉ hỗ trợ để người nghèo vượt qua ngưỡng cửa nghèo một cách thụ động mà phải có giải pháp tích cực để bản thân người nghèo chủ động tự vươn lên thoát nghèo vững chắc tiến tới trở thành hộ khá, hộ giàu Đồng thời Nhà nước phải có chính sách, giải pháp giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng và giảm nghèo Trong những trường hợp cần thiết phải có sự trợ giúp kịp thời để họ vượt qua sự biến động của cuộc sống Phải xây dựng chiến lược giảm nghèo dài hạn và chiến lược này phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển KT-XH chung của quốc gia, địa phương
Thứ tư, giảm nghèo trước hết phải ưu tiên các đối tượng chính sách,
vùng cách mạng, gắn giải quyết vấn đề kinh tế với chính trị - xã hội
Ở nước ta, trong những năm đổi mới nền kinh tế đã có bước phát triển vượt bậc, đời sống của đa số dân cư được cải thiện; công tác giảm nghèo đã thu được những thành tựu đáng kể Tuy vậy, mức sống của người dân vẫn cũng thấp, phân hóa thu nhập có xu hướng tăng lên, một bộ phận khá lớn dân
cư vẫn sống nghèo đói Trong đó có một số vùng cách mạng, vùng dân tộc ít người vẫn chịu nhiều thiệt thòi trong hội nhập cộng đồng và không đủ sức tiếp nhận những thành quả do công cuộc đổi mới mang lại Những giải pháp giảm nghèo tập trung cho đối tượng này vừa là yêu cầu cấp thiết đối với mục tiêu phát triển bền vững, vừa mang tính nhân văn sâu sắc
Trang 261.1.4 Những nhân tố tác động đến giảm nghèo bền vững
Có nhiều nhân tố tác động đến nghèo đói và giảm nghèo khác nhau Khi nghiên cứu tác động của các nhân tố đến vấn đề nghèo đói người ta có thể chia thành những nhóm nhân tố sau đây:
1.1.4.1 Thể chế, Chính sách và nguồn lực hỗ trợ giảm nghèo của Chính phủ, Nhà nước và của địa phương
* Thể chế
Thể chế là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo (Viện ngôn ngữ học, 2000) Thể chế xã hội nước ta theo Hiến Pháp 1992 là xây dựng và thực hiện thành công Xã hội chủ nghĩa, mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vì thế, trong chính sách phát triển đất nước, nhà nước ta quan tâm rất lớn tới đối tượng người nghèo, địa phương nghèo và tập trung đầu tư phát triển kinh tế các vùng khó khăn, đảm bảo yếu tố công bằng trong đầu tư phát triển kinh tế xã hội đất nước
Thể chế được cụ thể hóa qua các văn bản pháp luật Trong thể chế nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, các cơ quan hoạt động phối hợp chặt chẽ nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong phát triển kinh tế xã hội Đối với hoạt động hỗ trợ giảm nghèo, khi có sự thống nhất cao giữa các Bộ, Ban, Ngành, các cơ quan Trung ương và địa phương thì nguồn hỗ trợ giảm nghèo sẽ được đầu tư đúng mục đích, đúng đối tượng với quy mô phù hợp, không chồng chéo, dàn trải, vì thế hiệu quả hỗ trợ giảm nghèo cũng được nâng cao
* Chính sách
Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào
đó của nền kinh tế xã hội do Chính phủ thực hiện Nó bao gồm mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để đạt được các mục tiêu đó Các chính
Trang 27sách của Chính phủ, Nhà nước và địa phương đặc biệt là các chính sách về đầu tư có ảnh hưởng lớn tới mức đầu tư và hiệu quả của hỗ trợ giảm nghèo cho phát triển kinh tế Cơ chế chính sách đúng đắn, hợp lòng dân sẽ tạo thêm động lực cho người lao động, các doanh nghiệp, thành phần kinh tế tham gia tích cực vào công tác giảm nghèo
Từ những quan điểm chỉ đạo đến những chính sách cụ thể của chính phủ cho thấy quan điểm tăng trưởng kinh tế đi đôi với giảm nghèo bên vững vẫn luôn được Đảng ta quan tâm chỉ đạo Đó là cơ sở, tiền đề để định hướng cho các chính sách, giải pháp tập trung giảm nghèo hiệu quả Cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành và thực hiện nhiều chương trình, chính sách liên quan đến XĐGN
* Nguồn lực tài chính
Khả năng tài chính của Chính phủ, của cộng đồng: Trước hết, khả năng tài chính của Chính phủ giành cho xóa đói giảm nghèo ảnh hưởng lớn đến phương thức và quy mô hỗ trợ giảm nghèo Nếu ngân sách dồi dào, các giải pháp hỗ trợ giảm nghèo mang tính trực tiếp được chú trọng Ngược lại, nếu ngân sách hạn hẹp, cơ chế hỗ trợ giảm nghèo chủ yếu thực hiện qua hỗ trợ gián tiếp Sự lồng ghép và mức độ lồng ghép các chương trình giảm nghèo ảnh hưởng lớn đến quy mô kinh phí và hiệu quả của hỗ trợ giảm nghèo Nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tổ chức đều tiến hành hỗ trợ giảm nghèo Do đó, để tiết kiệm nguồn lực, tăng hiệu quả đầu tư, cần tiến hành lồng ghép hợp lý các hoạt động hỗ trợ giảm nghèo trên cùng một địa bàn
1.1.4.2 Nhóm nhân tố thuộc về bản thân người nghèo, vùng nghèo
* Đối với bản thân người nghèo
Bản thân người nghèo có đủ năng lực và ý chí vươn lên thoát nghèo là động lực quyết định để thực hiện giảm nghèo thành công và bền vững Trong
Trang 28cuộc sống, con người sinh ra ai cũng phải hành động để mong muốn mang lại lợi ích cho mình, mà trước hết là để tồn tại Nhưng mỗi con người có năng lực
và ý chí khác nhau nên kết quả hành động của họ trong những điều kiện giống nhau có thể sẽ khác nhau Đây là nguồn gốc sâu xa của sự phân hoá giàu - nghèo Nhà nước và cộng đồng đã cố gắng để hỗ trợ cho những người yếu thế Nếu bản thân người nghèo biết nắm lấy cơ hội này để vươn lên, tự nâng cao năng lực của mình, quyết tâm thoát nghèo và vươn tới làm giàu thì cơ hội thoát nghèo của họ sẽ cao hơn và kết quả giảm nghèo sẽ bền vững
* Đối với vùng nghèo
Vùng nghèo, thông thường là những vùng có nhiều hạn chế và trở ngại trong phát triển kinh tế - xã hội như: vị trí không thuận lợi, tài nguyên hạn chế, môi trường khí hậu khắc nghiệt, hay do tác động của quá trình phát triển, quá trình CNH - HĐH, kinh tế kém phát triển v.v Những vùng này thường khó có điều kiện phát triển hơn so với các vùng khác nên trở thành nghèo
Để hỗ trợ cho các vùng nghèo, Nhà nước và cộng đồng đã có nhiều biện pháp hỗ trợ như: tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất và giải quyết các chính sách xã hội Nếu biết nắm lấy những cơ hội này, cộng đồng vùng nghèo có quyết tâm vươn lên, đoàn kết một lòng, khắc phục khó khăn, phát huy nội lực, có kế hoạch và giải pháp sáng tạo, chủ động thì cơ hội vươn lên thoát nghèo và tiến tới làm giàu sẽ cao
1.1.4.3 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương
* Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
Các đặc điểm về tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên khoáng sản)
và đặc điểm kinh tế xã hội (phong tục tập quán, trình độ dân trí), tạo nên những lợi thế cũng như những khó khăn riêng cho các vùng, các xã trong huyện, nó ảnh hưởng tới quy mô đầu tư và hiệu quả của hỗ trợ giảm nghèo
Trang 29Vị trí địa lý không thuận lợi: Đó là những nơi xa xôi, hẻo lánh giao thông
đi lại khó khăn Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nghèo đói cao ở các vùng, địa phương ở vào vị trí địa lý này Do điều kiện địa lý như vậy,
họ dễ rơi vào thế cô lập với bên ngoài, khó tiếp cận được với các nguồn lực của phát triển như: tín dụng, KHKT, công nghệ, thị trường v.v
Đất đai không thuận lợi cho sản xuất: Đất canh tác ít, đất cằn cỗi, khó canh tác, năng suất cây trồng, vật nuôi đều thấp Đây là nguyên nhân dẫn đến sản xuất trong nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với những vùng thuần nông
Địa hình khó khăn: Địa hình phức tạp, bị chia cắt nhiều bởi sông suối và núi đá, đất dốc Những vùng có địa hình như vậy việc tổ chức sản xuất kinh doanh và dịch vụ gặp nhiều khó khăn Đất bị xói mòn, dễ bị khô hạn, chi phí sản xuất cao, hiệu quả sản xuất thấp
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hay gặp thiên tai như: hạn hán, lũ lụt, mưa bão v.v Những vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra như khu vực miền Trung, một số tỉnh miền núi phía Bắc, làm cho việc giảm nghèo thiếu cơ sở bền vững
* Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế
Ảnh hưởng không thuận lợi của những nhân tố thuộc về kinh tế làm gia tăng nghèo đói và khó khăn đối với giảm nghèo bao gồm: Quy mô của nền kinh
tế nhỏ, cơ cấu kinh tế lạc hậu, tốc độ tăng trưởng chậm, thu nhập của dân cư thấp, khả năng huy động nguồn lực vật chất cho giảm nghèo khó khăn, thị trường bị bó hẹp
Quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế là yếu tố quan trọng tạo điều kiện tiền đề để người nghèo có cơ hội vươn lên nhờ hưởng lợi từ tăng trưởng kinh
tế mang lại Vì vậy, quy mô nền kinh tế lớn và tăng trưởng kinh tế cao, bền vững
là điều kiện quan trọng nhất để thực hiện giảm nghèo
Trang 30Khả năng huy động nguồn lực vật chất, tài chính là yếu tố rất quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại khi thực hiện các mục tiêu giảm nghèo Nhà nước cần có nguồn lực đủ mạnh để hình thành và thực hiện các chương trình hỗ trợ như: Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho xã nghèo, vùng nghèo; hỗ trợ cho các doanh nghiệp để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH tạo nhiều việc làm cho người lao động; hỗ trợ trực tiếp cho
hộ nghèo về đời sống khi gặp rủi ro, thiên tai và hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chương trình khuyến nông, đào tạo
Về phía hộ gia đình nghèo, để phấn đấu thoát nghèo, họ cũng cần có nguồn lực để tự mình phấn đấu vươn lên Nguồn lực họ có thể có được là từ các nguồn hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng dân cư, vốn vay tín dụng và khả năng tích lũy của bản thân Nhưng khả năng về tích luỹ và vay tín dụng đối với người nghèo là khó khăn
* Nhóm nhân tố thuộc về xã hội
Về đặc điểm xã hội, nếu trình độ người dân thấp thì thái độ ứng xử và khả năng sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích sẽ bị hạn chế, dẫn tới việc đầu tư khó đạt được hiệu quả cao Những nhân tố xã hội tác động đến nghèo đói và hoạt động giảm nghèo bao gồm: Dân số và lao động, trình độ dân trí, đầu tư cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe, phong tục, tập quán, an ninh chính trị, vấn
đề cán bộ và tổ chức bộ máy quản lý, điều hành
Tình trạng nghèo đói liên quan chặt chẽ với sự gia tăng dân số và cơ cấu dân cư Do sinh đẻ nhiều, thời gian lao động và thu nhập của hộ gia đình sẽ giảm Nhân khẩu trong gia đình tăng nên mức thu nhập bình quân đầu người của
hộ tiếp tục giảm Sức khỏe của người mẹ đẻ nhiều cũng suy giảm và tác động đến sức khỏe của những đứa con sau khi sinh làm cho sức lao động giảm dần, nguy cơ nghèo đói sẽ tăng cao và kéo dài
Trang 31Về lao động, nếu cơ cấu dân cư có tỷ lệ lao động thấp, một lao động chính phải nuôi nhiều người ăn theo thì khả năng tăng trưởng kinh tế thấp, nghèo đói tăng và giảm nghèo sẽ khó khăn Chất lượng lao động là một nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế nói chung và giảm nghèo nói riêng Chất lượng lao động gắn với việc nâng cao trình độ dân trí và chiến lược phát triển giáo dục Hầu hết những người nghèo, vùng nghèo ở Việt Nam là những nơi có trình độ dân trí thấp Cùng với tác động của thu nhập thấp nên việc đầu tư chăm lo cho con cái học hành của các hộ gia đình nghèo và vùng nghèo ít được quan tâm hơn, ít được học vấn, ít được đào tạo nghề nên ít có cơ hội tìm kiếm việc làm có thu nhập cao Kết quả tỷ lệ đi học trong độ tuổi ở các vùng này sẽ thấp và như vậy, nguy cơ nghèo về tri thức dẫn đến nghèo đói về mọi mặt sẽ gia tăng
Về y tế, người nghèo có thu nhập thấp và thường tập trung ở vùng khó khăn nên ít có điều kiện để chăm lo sức khỏe, bệnh tật phát sinh, sức lao động suy giảm ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của họ
Tác động của môi trường an ninh chính trị, xã hội đến nghèo đói và giảm nghèo Môi trường chính trị, xã hội và đói nghèo có mối quan hệ mật thiết với nhau Một khi môi trường chính trị, xã hội ổn định và tiến bộ sẽ là điều kiện tốt
để thực hiện các chương trình phát triển KT-XH Các nhà đầu tư, các nhà sản xuất kinh doanh sẽ yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh; nhờ vậy mà thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, là cơ sở để tăng nguồn lực cho giảm nghèo
1.2 Kinh nghiệm giảm nghèo cho các hộ nông dân ở một số nước trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo cho các hộ nông dân ở một số nước trên thế giới
Đói nghèo đã trở thành thách thức lớn, đe dọa đến sự sống còn, ổn định và phát triển của nhân loại Sở dĩ như vậy vì thế giới là một chỉnh thể thống nhất, và mỗi quốc gia là một chủ thể trong chính thể thống nhất ấy Toàn cầu hóa đã trở
Trang 32thành cầu nối liên kết các quốc gia lại với nhau, các quốc gia có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, sự ổn định và phát triển của một quốc gia có ảnh hưởng
trực tiếp và sâu sắc đến sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác
Mặt khác, đói nghèo còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nhân loại Thay vì con người có thể tập trung toàn bộ nguồn lực cho phát triển, thì một phần lớn nguồn lực đó phải dành ra để giải quyết vấn đề đói nghèo và các vấn đề toàn cầu khác do đói nghèo mang lại Nghèo đói, bất công là nguyên nhân của tội phạm quốc tế; nghèo đói cộng với thiếu hiểu biết kéo theo đó là gia tăng dân
số, cạn kiệt nguồn nước, khan hiếm nguồn năng lượng; lương thực, thực phẩm ngày càng thiếu hụt; bệnh tật ngày càng lan tràn, khó kiếm soát; môi trường sống
bị ô nhiễm nghiêm trọng…
1.2.1.1 Kinh nghiệm giảm nghèo của Thái Lan
Đối với Thái Lan tỷ lệ nghèo chiếm 30% dân số trong thập kỷ 80 đến năm
1990 giảm xuống chỉ còn 3% Bởi chính phủ Thái Lan đã thực hiện một số biện pháp sau:
Đối với người nghèo: Chính phủ cho vay bằng hiện vật để sản xuất, cho vay vật tư với giá rẻ, chất lượng tốt
Thu mua các sản phẩm ngũ cốc rẻ, Ngân hàng cho nông dân vay vốn với lãi suất thấp (3% năm) và cho nông dân dùng thóc để thế chấp Khi thóc được giá, người nông dân bàn thóc đi để hoàn trả vốn cho Ngân hàng
Chính phủ Thái Lan áp dụng mô hình gắn liên chính sách phát triển quốc gia với chính sách phát triển nông thôn Thông qua việc phát triển nông thôn, xây dựng các xí nghiệp ở những làng quê nghèo, phát triển mô hình kinh doanh nhỏ và vừa, mở rộng các trung tâm dạy nghề ở nông thôn để giảm bớt
tỷ lệ thất nghiệp.Bên cạnh đó, ban hành chính sách cải cách ruộng đất, qua đó người nông dân được quyền làm chủ thất sự về đất đai Nhà nước tạo điều kiện cho người nông dân tự mô rộng quy mô, hướng nông dân đi theo con đường sản xuất hàng hóa[22]
Trang 331.2.1.2 Kinh nghiệm giảm nghèo của Trung Quốc
Theo thống kế ở Trung Quốc thì tỷ lệ đói nghèo chiếm 8,8% dân số (1998) Ngay từ những năm 1980 Chính phủ đã đưa ra chương trình xóa đói giảm nghèo với những bước đi phù hợp, đến những năm 1990 số người nghèo còn 12,5 triệu người, đến năm 1995 chỉ có 65 triệu người
Trong khi tập trung phát triển kinh tế, chính phủ đã dành một số lượng lớn nhân lực, nguyên liệu và nguồn tài chính để giúp cho người nghèo giải quyết vấn
đề đói nghèo Với chủ trương phát triển ngành nông nghiệp địa phương như: Phát triển công nghiệp nông thôn góp phần chuyển dịch từ lao động nông nghiệp sang lĩnh vực lao động công nghiệp
Riêng vùng sâu và vùng xa, Chính phủ có chủ trương kết hợp khai thác tổng hợp nông nghiệp, đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển ngành nghề của địa phương, phòng chống dịch bệch, phổ cập giáo dục, nâng cao trình độ văn hóa, trình độ kỹ thuật cho người lao động, khống chế mức độ gia tăng dân số, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái Chính sách tín dụng cho các hộ nghèo vay vốn với lãi suất thấp, thực hiện ưu đãi về thuế, tín dụng, tăng đầu tư, khuyến khích các tổ chức xã hội giúp đỡ các vùng nghèo, phổ biến kinh nghiệm từng vùng rồi nhân ra diện rộng[16]
1.2.1.3 Kinh nghiệm giảm nghèo của Đài Loan
Đài Loan là một trong những nước công nghiệp mới (NICs) và là một nước thành công nhất trong mô hình kết hợp chặt chẽ giữa phát triển công nghiệp với phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội mà Đài Loan đã áp dụng thành công góp phần xóa đói giảm nghèo nhanh chóng cho nước này như:
Tạo điều kiện hình thành các trang trại gia đình với quy mô nhỏ, chủ yếu
đi vào sản xuất nông phẩm theo hướng sản xuất hàng hóa
Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, mở mang thêm những ngành sản xuất kinh doanh ngoài nông nghiệp, số trang trại vừa sản xuất nông nghiệp vừa kinh doanh ngoài nông nghiệp tăng lên
Trang 34nhanh chóng Việc tăng sản lượng và tăng năng suất lao động trong nông nghiệp đến lượt nó lại tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp phát triển
Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triển nông thôn Đài Loan rất coi trọng phát triển mạng lưới giao thông nông thôn cả đường
bộ, đường sắt và đường thủy
Trong nhiều thập kỷ qua, Đài Loan coi trọng việc phát triển giao thông nông thôn đều khắp các miền, các vùng sâu vùng xa, điện khí hóa nông nghiệp nông thôn, từ đó góp phần cải thiện điều kiện sản xuất và sinh hoạt ở nông thôn Chính quyền Đài Loan cho xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp ngay ở vùng nông thôn để thu hút lao động nhàn rỗi ở khu vực nông nghiệp, tạo điều kiện để tăng thu nhập cho nông dân nghèo, góp phần ổn định cuộc sống của họ Bên cạnh đó, Đài Loan áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc đối với những người trong độ tuổi, do dó trình độ học vấn của người dân nông thôn được nâng lên Ngoài ra, hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân cũng được quan tâm đầu tư thích đáng[16]
1.2.2 Kinh nghiệm về giảm nghèo cho các hộ nông dân ở Việt Nam
1.2.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước và
là sự nghiệp của toàn dân Phải huy động nguồn lực của Nhà nước, của xã hội và của người dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, nhất là sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp để xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh
tế - xã hội bền vững Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng xã hội, sự nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo của người nghèo, hộ nghèo là nhân
tố quyết định thành công của công cuộc xóa đói giảm nghèo
Công cuộc giảm nghèo nhanh, bền vững là nhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo sâu sát, cụ thể và đồng bộ của các cấp chính quyền, sự phối hợp tích cực của Mặt trận Tổ
Trang 35quốc và các đoàn thể nhân dân; đồng thời, phải phát huy vai trò làm chủ của người dân từ khâu xây dựng kế hoạch, đến tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá hiệu quả của Chương trình
Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội là cơ quan thường trực của chương trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kỳ Lúc đầu nghèo được xác định tiêu chí đánh giá là dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang chỉ tiêu thu nhập, kết quả là đã 6 lần công bố, điều chỉnh chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau
Lúc đầu nghèo được xác định tiêu chí đánh giá là dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang chỉ tiêu thu nhập
Từ năm 1993 – 2000, Đảng và Nhà nước đã liên tục xác định chuẩn nghèo 2 năm 1 lần
Giai đoạn 1993 – 1995 xác định: Hộ đói: Bình quân thu nhập đầu người
quy gạo/tháng dưới 13kg đối với khu vực thành thị, dưới 8kg đối với khu vực nông thôn; Hộ nghèo: Bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20kg đối với khu vực thành thị và dưới 15kg đối với khu vực nông thôn
Giai đoạn 1995 – 1997 xác định: Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình
quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tính cho mọi vùng;
Hộ nghèo, là hộ có thu nhập đối với vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15kg/người/tháng Và có quy định Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người /tháng; Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng
Giai đoạn 1997 - 2000 (Theo Công văn số 1751 / LĐTBXH) xác định: Hộ
đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tương đương 45.000 đồng (giá năm 1997, tính cho mọi vùng); Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập ở các mức tương ứng như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15kg/người/tháng (tương đương 55.000 đồng); Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (tương đương 70.000 đồng); Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90.000 đồng)
Trang 36Sau năm 2000 thì mức điều chỉnh tính cho 5 năm, cụ thể như sau:
Giai đoạn 2001 - 2005 (Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH): về việc
điều chỉnh chuẩn nghèo (không áp dụng chuẩn đói): Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng; Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng; Vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng
Giai đoạn 2006 - 2011 (Quyết định số 170 / 2005 / QĐ-TTg): Vùng thành
thị: 260.000 đồng/người/tháng; Vùng nông thôn (cho cả miền núi và đồng bằng): 200.000 đồng/người/tháng
Giai đoạn 2012 – 2015 (Ban hành trong Quyết định Số 09/2012/QĐ-TTg
ngày 30/01/2012 của Thủ tướng CP): Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống; Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống; Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng; Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
Ngày 08/10/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định Số: TTg Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn
1489/QĐ-2013 – 2015 với những mục tiêu[7]:
Cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo thuộc huyện nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về công tác giảm nghèo
ở các vùng nghèo; góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư
Thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước tăng lên 1,6 lần so với cuối năm 2012 (riêng các hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi tăng gấp 2,5 lần); tỷ lệ hộ
Trang 37nghèo cả nước giảm bình quân 2%/năm (riêng các huyện, xã nghèo giảm 4%/năm) theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2012 - 2015
Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chính sách giảm nghèo để cải thiện điều kiện sống của người nghèo, trước hết là về y tế, giáo dục, văn hoá, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn với các dịch vụ
xã hội cơ bản
1.2.2.2.Kinh nghiêm từ kết quả giảm nghèo ở một số địa phương
* Bài học từ hỗ trợ giảm nghèo ở huyện Yên Mô - Ninh Bình
Yên Mô là một huyện nghèo của tỉnh Ninh Bình, nhằm thoát nghèo, tạo bước đột phá mới, năm 2008, Yên Mô đề ra mục tiêu giảm nghèo của toàn huyện là 11%, riêng các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao như: Yên Đồng, Yên Thành, Yên Thái phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn dưới 15% và đến năm 2011 con số này là dưới 12%
Nông nghiệp vẫn là lĩnh vực được huyện tập trung phát triển, các xã nghèo được hỗ trợ kinh phí về con giống, cây trồng , khuyến khích hỗ trợ mở rộng sản xuất các ngành nghề thế mạnh tại địa phương Bên cạnh đó, Yên Mô đang chú trọng phát triển công nghiệp bằng việc tạo hành lang pháp lý, cơ chế thông thoáng, cải thiện môi trường sản xuất, kinh doanh, nhằm thu hút vốn hỗ trợ vào lĩnh vực này Ưu tiên đào tạo nghề mới, nâng cao tay nghề cho các lao động ở 3 xã trên
Huyện triển khai dự án làm đường giao thông nông thôn, đường đến trung tâm các xã nghèo Bên cạnh đó, nhiều dự án hỗ trợ xây dựng các công trình thuỷ lợi đã được đề ra cùng nhiều tuyến đê, cầu cống đã được khẩn trương nạo vét, sửa chữa, xây mới nhằm đảm bảo lưu thông dòng chảy, phục vụ tốt việc tưới tiêu Ngoài ra, các xã nghèo trên còn được hỗ trợ hỗ trợ xây dựng một số công trình như: Trường tiểu học, trường mầm non, trạm y tế, nhà văn hoá thôn, xóm
Như vậy, kinh nghiệm hỗ trợ cho phát triển kinh tế của Yên Mô là hỗ trợ
Trang 38cho cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi, giáo dục đào tạo nhân lực và y tế cộng đồng, tập trung cao nguồn vốn hỗ trợ vào các xã nghèo nhất của huyện Triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp trên, Yên Mô đã giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 13,73% (năm 2007), giảm 11,44% so với năm 2005 Đến cuối năm 2008, tỷ lệ hộ nghèo của toàn huyện chỉ còn 11%, riêng 3 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao trong huyện thì con số này chỉ còn từ 12,75% - 14,5%, đạt mục tiêu
đã đề ra[35]
* Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững từ tỉnh miền núi Tuyên Quang
Tuyên Quang là tỉnh miền núi, giao thông đi lại khó khăn, đất sản xuất nông nghiệp ít Hiện toàn tỉnh còn 37 xã và 78 thôn, bản đặc biệt khó khăn Tuy nhiên, những dự án, mô hình xóa đói, giảm nghèo mới, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, nên đã và đang giúp đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên Quang - Thủ đô kháng chiến năm xưa thoát nghèo bền vững
Nhằm giúp các hộ nông dân, đặc biệt là các hộ nghèo nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống từ trồng lúa, vụ lúa mùa năm 2011, tỉnh Tuyên Quang có 14.760 hộ nông dân (trong đó có 4.128 hộ nghèo) ở 3 huyện: Lâm Bình, Na Hang, Sơn Dương, được tổ chức Codespa (tổ chức phi chính phủ của Tây Ban Nha) hỗ trợ thực hiện Dự án “Giúp các hộ nông dân tăng thu nhập thông qua áp dụng phân viên nén dúi sâu trong thâm canh lúa” Kết quả, dự án đã giúp tăng năng suất lúa hơn 15% so với diện tích lúa áp dụng cách bón phân truyền thống, đạt 65 tạ/ha, qua đó giúp hàng trăm hộ dân thoát nghèo, cải thiện đời sống
Cũng như Dự án “Giúp các hộ nông dân tăng thu nhập thông qua áp dụng phân viên nén dúi sâu trong thâm canh lúa”, dự án “Vay bò trả bê” được Hội Nông dân tỉnh Tuyên Quang triển khai thực hiện từ năm 2001, tại 19 xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ở 5 huyện: Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Na Hang, cũng đã giúp hơn 200 hộ dân thoát nghèo bền vững
Dự án “Vay bò trả bê” là một dự án có ý nghĩa thiết thực với các hộ nghèo Con
Trang 39bò được vay không chỉ giúp bà con có “nguồn vốn” ban đầu, mà còn giúp bà con
có thêm sức kéo, phân bón trong sản xuất nông nghiệp của gia đình
Ngoài những dự án trên, Tuyên Quang còn nhiều mô hình xóa đói, giảm nghèo khác đang thực hiện hiệu quả như: Trồng rừng bằng chè Shan tuyết tại huyện Na Hang; phát triển đàn trâu chất lượng cao tại huyện Chiêm Hóa; phát triển vùng cam sạch tại huyện Hàm Yên; nuôi trồng thủy sản trên lòng hồ thủy điện Tuyên Quang… Các dự án, mô hình xóa đói giảm nghèo trên đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh từ 29% năm 2009 xuống còn 24% trong năm 2011[19]
1.3 Tổng quan về các công trình công bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận
án, luận văn tốt nghiệp đã đề cập đến vấn đề xóa đói giảm nghèo (XĐGN), trong đó có các công trình như:
- Nguyễn Thị Nhung: Vai trò của xóa đói giảm nghèo đối với phát triển
kinh tế- xã hội ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Kinh tế, năm
2012 Trong công trình trên, tác giả đã đi sâu nghiên cứu những lý luận, thực tiễn
về vai trò của XĐGN đối với phát triển kinh tế - xã hội, cùng với đó là đưa ra kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế giới về XĐGN và phát triển kinh tế xã hội Trên cơ sở đánh giá thực trạng nghèo đói ở vùng Tây Bắc cũng như thực trạng của công tác XĐGN trong mối quan hệ với phát triển kinh
tế - xã hội, tác giả đã chỉ ra những cơ hội cũng như thách thức đối với công tác XĐGN ở Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay, từ đó đã đưa ra những gợi ý về giải pháp cơ bản để XĐGN nhằm phát triển kinh tế xã hội ở Tây Bắc[23]
- Trần Thị Vân Anh, Nghiên cứu giải pháp xóa đói giảm nghèo cho
nông dân ở huyện Sơn Động – tỉnh Bắc Giang, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, năm
2011 Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghèo đói, đánh
Trang 40giá được thực trạng nghèo đói của huyện Sơn Động Tác giả chỉ ra được những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói của hộ nông dân huyện Sơn Động và đề xuất được một số giải pháp nhằm xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân huyện Sơn Động Tuy nhiên, luận văn mới chỉ dừng lại ở việc xem xét việc giải quyết nghèo đói cho nông dân huyện Sơn Động theo quan điểm của ngành kinh tế nông nghiệp, chưa đề cập đến vấn đề xóa đói giảm nghèo bền vững cho nông dân nói riêng và dân cư nghèo của huyện Sơn Động nói chung[1]
- Phạm Thái Hưng và một số tác giả với đề tài: Nghèo của đồng bào
dân tộc thiểu số ở Việt Nam, thực trạng và thách thức tại các xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135-II, năm 2011 đã nghiên cứu về mức sống của
đồng bào các dân tộc thiểu số Nghiên cứu mô tả một cách toàn diện về tình trạng nghèo và vấn đề mức sống của nhóm dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn
Mô tả này tập trung ở khía cạnh nghèo về thu nhập và khía cạnh phi tiền tệ của vấn đề mức sống kinh tế Đồng thời nghiên cứu về các yếu tố quyết định chênh lệch thu nhập giữa nhóm đa số và nhóm dân tộc thiểu số khác bằng cách phân tích chênh lệch thu nhập; một là khác biệt về các đặc điểm và nguồn lực giữa các nhóm dân tộc, hai là sự khác biệt về thu nhập từ các đặc điểm và nguồn lực Khía cạnh quan trọng thứ ba là đã tìm hiểu đồng bào các dân tộc thiểu số nghèo được hỗ trợ từ những chương trình và chính sách hiện tại như thế nào Sau những phân tích đó tác giả đã có những kiến nghị cho các chính sách và chương trình tương lai nhằm đưa ra những hỗ trợ hiệu quả hơn cho việc nâng cao mức sống cho các dân tộc thiểu số[17]
Nhìn chung, các công trình trên tiếp cận dưới những góc độ khác nhau cả
lý luận và thực tiễn về giảm nghèo, giảm nghèo bền vững; thấy được sự cần thiết phải đẩy mạnh giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và đều gợi ý những hướng đi và giải pháp để giảm nghèo ở nước ta