Tuy vậy, công tácXĐGN vẫn chưa được đồng đều ở các địa phương, đói nghèo vẫn là một thách thức lớn đối với nước ta, đến nay tỷ lệ đói nghèo vẫn còn khá cao trên 13%, số này khógiải quyết
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo không chỉ xuất hiện và tồn tại lâu dài dưới các chế độ lạc hậutrước đây, mà ngay trong thời đại ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học- công
nghệ hiện đại, với lực lượng sản xuất cao chưa từng thấy trong từng quốc gia, kể cảcác quốc gia phát triển nhất trên thế giới đói nghèo vẫn tồn tại một cách hiển nhiên
Vì vậy, đói nghèo là vấn đề mang tính toàn cầu, là thách thức lớn, đòi hỏi các quốcgia, cộng đồng quốc tế phải tập trung nỗ lực giải quyết
Nước ta vốn là một nước nghèo, kém phát triển, lại trải qua nhiều cuộc chiếntranh xâm lược và thường xuyên bị thiên tai tàn phá Do đó đói nghèo đã trở thành
quốc nạn kéo dài Vì vậy, xoá đói giảm nghèo (XĐGN) là vấn đề kinh tế- xã hội vừa
cơ bản lâu dài, vừa cấp bách trước mắt Đây cũng là một chủ trương, quyết sách lớn
của Đảng và Nhà nước ta Ngay sau khi nước ta mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã xác định chúng ta có 3 thứ giặc cần phải loại bỏ đó là "giặc đói, giặc
dốt, giặc ngoại xâm", Người còn căn dặn "phải làm cho người nghèo thì đủ ăn, người
đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm" Đồng chí Lê Khả Phiêu- nguyên Tổng bí thư TW Đảng đã nhấn mạnh "Vấn đề nghèo khổ không được giải quyết thì
không một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế cũng như quốc gia đặt ra như tăng
trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hòa bình, ổn định, đảm bảo các quyền con người được thực hiện" [14].
Sự phân hóa giàu nghèo trong những năm qua có xu hướng tăng lên giữa cáctầng lớp dân cư và giữa các vùng trong cả nước Vì vậy chiến thắng đói nghèo, hạnchế sự phân hóa giàu nghèo đã và đang trở thành nội dung quan trọng hàng đầu ở
nước ta Những năm gần đây thực hiện chính sách đổi mới, nền kinh tế nước ta tăng
trưởng khá nhanh (bình quân trên 7%/năm) Đời sống đại bộ phận nhân dân đã
được cải thiện và nâng lên một cách rõ rệt, XĐGN đã trở thành phong trào mạnh mẽ
trong cả nước Tỷ lệ đói nghèo giảm đáng kể, bình quân mỗi năm giảm hơn 2%,nhiều mô hình XĐGN thành công xuất hiện và được nhân rộng Sự phối hợp lồngTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2ghép các chương trình kinh tế xã hội khác với XĐGN bước đầu đã đem lại kết quả
và theo ước tính khoảng hơn 20% hộ nghèo được hưởng lợi từ các chương trình
120, 327, 135, chương trình nước sạch nông thôn, y tế, giáo dục Tuy vậy, công tácXĐGN vẫn chưa được đồng đều ở các địa phương, đói nghèo vẫn là một thách thức
lớn đối với nước ta, đến nay tỷ lệ đói nghèo vẫn còn khá cao (trên 13%), số này khógiải quyết hơn vì 90% hộ nghèo sống ở nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa,
đồng bào các dân tộc thiểu số là những nơi kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí
thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, nhiều nơi thường xuyên bị thiên tai tàn phá…
Tỉnh Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc khu vực bắc miền Trung, diện tích tựnhiên, dân số không lớn, kinh tế chậm phát triển và thuộc diện tỉnh nghèo, tỷ lệ
đói nghèo khá cao (trên 20%) Huyện Vũ Quang nằm ở phía tây tỉnh Hà Tĩnh,
huyện mới thành lập gồm 12 xã và thị trấn miền núi, vùng sâu, vùng xa Là huyện
khó khăn nhất tỉnh, tỷ lệ đói nghèo năm 2000 (khi mới thành lập huyện) là 54,1%;năm 2004 giảm xuống còn 22,8%; năm 2005, Bộ LĐTBXH thay đổi chuẩn nghèo
mới tỷ lệ hộ nghèo lại tăng lên 52,4% (tương ứng 4.080 hộ) Công tác xoá đóigiảm nghèo của huyện thời gian qua đã đạt được một số thành quả nhất định, nhưxóa nhà tranh, tre dột nát cho 2.955 hộ nghèo, tạo việc làm cho hàng ngàn lao
động, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn năm 2001 là 55,3%, năm 2005tăng lên là 63,5%; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con em đi lao động nước ngoài;
thực hiện nhiều chương trình, dự án cho vay vốn với lãi suất ưu đãi Tuy vậy, tỷ
lệ hộ nghèo của huyện hiện vẫn còn cao (hơn 30% theo chuẩn mới) Tốc độ xóa
đói giảm nghèo còn chậm Vì vậy, XĐGN hiện đang là vấn đề bức xúc được các
cấp, các ngành, địa phương đặc biệt quan tâm Việc nghiên cứu vấn đề đói nghèo
và tìm ra giải pháp xoá đói, giảm nghèo là một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa lýluận và thực tiễn hết sức quan trọng
Xuất phát từ tình hình đó tôi chọn đề tài "Nâng cao hi ệu quả xóa đói giảm nghèo cho các h ộ nông dân trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh" làm
luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế, với mong muốn được đóng góp một phần nhỏtrong công cuộc xoá đói giảm nghèo ở vùng nghiên cứu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 M ục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng đói nghèo, xác định những vấn đề đặt
ra trong công tác xoá đói giảm nghèo của huyện, trên cơ sở đó đề xuất phương
hướng và các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả xoá đói giảm nghèo trênđịa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
2.2 M ục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá các vấn đề cơ bản có tính chất lý luận và phương pháp luận
để xem xét đánh giá vấn đề đói nghèo của các hộ nông dân hiện nay
- Phân tích đánh giá thực trạng, tìm ra nguyên nhân và những nhân tố ảnh
hưởng đến đói nghèo của các hộ nông dân
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xoá
đói giảm nghèo ở vùng nghiên cứu
3 Đối tượng, phạm vi và địa điểm nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là các hộ nông dân ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu thực trạng đói nghèo của các hộ nông
dân; công tác xóa đói giảm nghèo, nguyên nhân và những nhân tố ảnh hưởng đến
đói nghèo ở huyện Vũ Quang, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp xoá đói giảm
nghèo trong thời gian tới
- Về không gian: Nghiên cứu tình hình đói nghèo của các hộ nông dân trên
địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tỉnh
- Về thời gian: Nghiên cứu tình hình đói nghèo từ năm 2005- 2008, điều tra
nông hộ và thu thập số liệu năm 2008, đề xuất giải pháp đến năm 2010 và những
năm tiếp theo
3.3 V ề địa điểm nghiên cứu:
- Huyện Vũ Quang được chia ra 3 vùng sinh thái như sau:
+ Vùng 1: Gồm 6 xã ven sông Ngàn Sâu thuộc huyện Đức Thọ cũ (Ân Phú,
Đức Giang, Đức Lĩnh, Đức Bồng, Đức Hương, Đức Liên)
+ Vùng 2: Gổm 2 xã thuộc vùng rừng núi, biên giới (Hương Điền, Hương Quang).Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4+ Vùng 3: Gồm 4 xã thuộc vùng bán sơn địa (Hương Thọ, Hương Minh, SơnThọ và Thị trấn Vũ Quang)
- Địa điểm nghiên cứu: Chọn 3 xã đại diện cho 3 vùng sinh thái của huyện
gồm xã Đức Lĩnh đại diện cho vùng 1, xã Hương Điền đại diện cho vùng 2 và
Hương Minh đại diện cho vùng 3 Mỗi xã chọn 40 hộ điều tra trong đó 25 hộ nghèo
và 15 hộ không nghèo
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập tài liệu
- Tài liệu thứ cấp: Được thu thập từ nhiều nguồn, từ sách, báo, tạp chí, tài liệu
tập huấn của Bộ LĐTB&XH các nghị quyết của Trung ương, của tỉnh và huyện, cácbáo cáo về công tác XĐGN của các tổ chức quốc tế, của Trung ương, của tỉnh, củaUBND huyện, Phòng Thống kê, Phòng LĐTB&XH huyện, Niên giám thống kê củatỉnh và huyện từ năm 2005-2007, báo cáo của UBND các xã điều tra,…
- Tài liệu sơ cấp: Tiến hành thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp
các đơn vị điều tra theo bảng hỏi đã được lập sẵn
- Phạm vi điều tra: Điều tra chọn mẫu, theo phương pháp chọn mẫu phân loại
4 2 Các phương pháp phân tích
Số liệu điều tra được xử lý bằng phần mềm EVIEW và EXCELL Các
phương pháp phân tích sau đây đã được sử dụng:
- Thống kê mô tả: Số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân của các chỉ tiêu
phân tích
- Thống kê so sánh: Giữa các vùng sinh thái và các nhóm hộ.
- Phân tích kinh doanh: Phương pháp này được sử dụng để phân tích đánh
giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nhóm hộ
4.3 Các ch ỉ tiêu phân tích
Trong quá trình nghiên cứu tôi có sử dụng một số chỉ tiêu phân tích như sau:
- Tổng giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ sản
xuất ra trong một năm
GO =
n
i 1
QiPi Qi:Là khối lượng sản phẩm và dịch vụ loại i
Pi:Là đơn giá sản phẩm và dịch vụ loại i
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5- Chi phí trung gian (IC): Là bao gồm những chi phí vật chất và dịch vụ được
sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm
- Giá trị gia tăng (VA): Là kết quả thu được sau khi trừ đi chi phí trung gian
của một hoạt động sản xuất nào đó
VA = GO – IC
- Tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí (GO/IC)
- Tỷ suất giá trị tăng thêm theo chi phí (VA/IC)
- Và một số chỉ tiêu khác…
5 Kết quả nghiên cứu dự kiến:
- Luận giải cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu tình hình đói nghèo ở huyện VũQuang, tỉnh Hà Tĩnh
- Đánh giá một cách khách quan thực trạng nghèo đói và những kết quả đạt
được trong công tác xoá đói giảm nghèo ở huyện Vũ Quang từ năm 2005-2008 Từ
đó rút ra những bài học cần thiết cho việc đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo trong thời
gian tới
- Đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm góp phần đẩy nhanh tốc độ xóa đóigiảm nghèo trên địa bàn toàn huyện
6 Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục Luận
văn có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói.
- Chương 2: Thực trạng nghèo đói và công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện
Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả xóa đói giảm
nghèo ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO ĐÓI
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI
1.1.1 Khái niệm về nghèo đói
Theo quan niệm chung: "Những người có thu nhập dưới 1/3 mức bình quân
của xã hội thì coi là loại nghèo khổ" Ở Inđônêxia quy định cụ thể hơn: "Ai có thu nhập quy ra gạo bình quân đầu người 285kg/ năm trở xuống được coi là nghèo khổ.
Cơ quan hợp tác phát triển Quốc tế Thụy Điển- SIDA mô tả: "Hộ gia đình nghèo là
hộ có ít tài sản, túp lều, ngôi nhà hoặc mái nương thân của gia đình đó làm bằng
gỗ, tre, bùn, cỏ, lá, hoặc bằng bẹ cọ và chỉ có ít đồ đạc bên trong như chiếu, ổ lá làm chỗ ngủ, gia đình không có đất hoặc có mảnh đất không đảm bảo cuộc sống mong manh hoặc đất thuê mướn hoặc cấy rẽ Gia đình có ít vốn và nguồn lương thực ít ỏi, không chắc chắn và lệ thuộc thời vụ, thu nhập của gia đình thường rất thấp trong những mùa làm ăn ế ẩm, đó là những khi may có việc làm" [5].
Tuy nhiên, nghèo đói không phải là một khái niệm bất biến mà là khái niệm
có tính động, thường xuyên biến đổi và di chuyển Ở thời điểm này với một vùng,
một nước nào đó thì chỉ số đo được là nghèo đói hoặc giàu, nhưng sang một thờì
điểm khác, so sánh một vùng khác, cộng đồng dân cư khác thì chỉ số đó có thể mất
ý nghĩa Vì vậy khi nghiên cứu vấn đề nghèo đói ở nông thôn, các nhà khoa học đưa
ra nhiều khái niệm khác nhau Hội nghị về chống đói nghèo Châu Á- Thái BìnhDương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) vào tháng 9/1993 đã đưa ra định
nghĩa: "Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn
những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của các địa phương" [4].
Có thể xem đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói, có tính chất hướngdẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về nghèo đói
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tạiCopenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn về đóiTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7nghèo: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đôla
(USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại".
Đói là tình trạng con người không có ăn, ăn không đủ lượng dinh dưỡng
tối thiểu cần thiết, sự đứt đoạn trong nhu cầu ăn Nói cách khác, đói là một kháiniệm biểu đạt tình trạng con người ăn không đủ no, không đủ năng lượng tốithiểu cần thiết để duy trì sống hàng ngày và không đủ sức để lao động, để tái sảnxuất sức lao động
Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉdành chi hầu như toàn bộ cho ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích lũy hầu
như không có
Cần phân biệt 2 dạng nghèo: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
- Nghèo đói tuyệt đối:
Theo David O.Dapice, Viện phát triển quốc gia Har vald: "Nghèo khổ tuyệt đối là không có khả năng mua một lượng sản phẩm tối thiểu để sống".
Nghèo đói tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng
thoả mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống Trên thực tế, một bộ phận dân
cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu đói
Giới hạn nghèo đói (tiêu chí nghèo đói) có thể được xác định hoặc căn cứ
vào chi phí ước tính cho một khối lượng hàng hóa cơ bản theo giá cả hợp lý hoặccăn cứ vào tiêu chuẩn dinh dưỡng chẳng hạn như lượng calo và chất đạm cần phải
cung cấp cho cơ thể Tuy vậy đều có những vấn đề về định nghĩa cũng như đo
lường Ví dụ: Cơ cấu những hàng hóa cơ bản lại phụ thuộc vào tính chất văn hóa, xã
hội của dân cư cũng như yếu tố khí hậu Yêu cầu về lượng calo thay đổi tùy theotuổi, giới tính, khí hậu và công việc cụ thể Có những mối quan hệ qua lại phức tạpgiữa yếu tố dinh dưỡng, y tế, giáo dục và tỷ lệ sinh đẻ mà chúng ta chưa thể biết hết
mà phải được chú ý trong các mục tiêu chính sách Vì vậy thường có yếu tố tùy tiện
trong định nghĩa về sự đói nghèo tuyệt đối; trên giác độ xã hội thì giới hạn tối thiểu
không thể xác định theo một số tuyệt đối về sinh học mà cần có sự thay đổi tùy theomức độ phát triển chung về kinh tế xã hội và chính trị
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8- Nghèo tương đối:
Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương
Nghèo tương đối được xét trong tương quan xã hội, phụ thuộc điểm dân cưsinh sống và phương thức tiêu thụ phổ biến nơi đó, sự nghèo khổ tương đối đượchiểu là những người sống dưới mức tiêu chuẩn có thể chấp nhận được trong những
địa điểm và thời gian xác định Đây là những người cảm thấy bị tước đoạt nhữngcái mà đại bộ phận những người khác trong xã hội được hưởng do đó chuẩn mực để
xem xét sự nghèo khổ tương đối thường khác nhau từ nước này sang nước kháchoặc từ vùng này sang vùng khác, nghèo khổ tương đối cũng là một hình thức biểuhiện sự bất bình đẳng trong phân phối và trong thu nhập
Đánh giá nghèo tương đối phụ thuộc rất nhiều vào chính sách và giải pháp
phát triển của từng nơi Ngày nay, nghèo tương đối còn được chú trọng nhiều hơn
để có giải pháp thu hẹp sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo Ngoài ra, xem
xét nghèo tương đối còn có ý nghĩa lớn khi áp dụng các giải pháp phát triển Những
nhóm người khác nhau trong một vùng có tình trạng nghèo khổ khác nhau thì chính
sách và giải pháp phải khác nhau cho từng đối tượng
Vấn đề nghèo đói thường đi đôi với phân phối thu nhập, sự phân phối thunhập không đồng đều thường dẫn đến sự gia tăng nghèo đói Do vậy, vấn đề XĐGN
có liên quan mật thiết với tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
1.1.2.Tiêu chuẩn phân định nghèo đói
1.1.2.1 Quan ni ệm của thế giới
Để xác định tình trạng và mức độ nghèo đói, người ta thường căn cứ vào các
tiêu chí về lĩnh vực kinh tế mà trước hết là dựa trên thu nhập bình quân tính theo
đầu người một năm hoặc tháng theo hai khu vực điển hình là thành thị và nông thôn
cụ thể:
- Thu nhập tính từ nguồn do nông hộ sản xuất ra đó là nguồn thu rất quantrọng của hầu hết người nghèo trên thế giới, nguồn thu khác do phân phối lại của xãhội từ các phần phúc lợi của y tế, văn hóa
- Chi tiêu tính trên một đầu người/ năm (tháng) gồm tất cả các chi phí về ăn,
ở, mặc, đi lại và các khoản chi phí khác
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9Tiêu chí này liên quan mật thiết về chế độ dinh dưỡng, năng lượng (calo) trên
đầu người trong ngày, y tế, giáo dục thu nhập quốc dân BQ đầu người là một trong
những căn cứ để đo mức độ, trình độ phát triển chung của một nước so với một nướckhác Tuy nhiên chỉ tiêu này chỉ mang tính chất tương đối và có những hạn chế nhất
định, bởi lẽ chỉ số trung bình cao về tổng thu nhập quốc gia (GNI) hay tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) là hết đói nghèo Chỉ tiêu này được ngân hàng thế giới (WB) đưa ra
để tính mức độ giàu nghèo của các quốc gia theo 2 phương pháp sau:
+ Theo phương pháp Atlas được phân ra làm 5 loại về sự giàu nghèo của các
nước (lấy mức thu nhập năm 1990)
Trên 25.000 USD/năm là nước giàu
Từ 10.000 USD/ năm đến dưới 25.000 USD/ năm là nước khá giàu
Từ 2.500 USD/ năm đến dưới 10.000 USD/ năm là nước trung bình
Từ 500 USD/ năm đến dưới 2.500 USD/ năm là nước nghèo
Dưới 500 USD/ năm là nước cực nghèo
(Theo cách này, Việt Nam xếp thứ 153/158 nước tại thời điểm nghiên cứu)
WB cũng đã đưa ra thang đo nghèo đói tính theo đầu người như sau:
Đối với nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo đói khi mà có thu nhập
0,5 USD/ngày
Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày
Các nước thuộc châu Mỹ la tinh và Caribe là 2 USD/ ngày
Các nước Đông Âu là 4 USD/ ngày
Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ ngày
+ Theo phương pháp p.p.p là phương pháp sức mua tương đương tính bằngUSD (theo cách này thì Việt Nam xếp thứ 116/176 nước tại thời điểm năm 1993)
Các nhà khoa học khi xác định thước đo sự nghèo khổ thường vạch ra giớihạn nghèo khổ, giới hạn này biểu hiện dưới dạng thu nhập gia đình tính BQ đầu
người nếu thu nhập gia đình dưới hạng nghèo khổ thì được coi là nghèo, còn quy
mô của sự nghèo khổ đó được tính theo tỷ lệ hộ nghèo trên tổng số hộ trong vùng,khu vực hay toàn quốc
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10Từ sự phân tích định tính đến phân tích định lượng, các nhà xã hội học cũng
như các nhà kinh tế học đưa ra 2 cách tính như sau:
Cách thứ nhất: Giới hạn nghèo khổ được xác định tương đương với mứcthu nhập của những người làm dịch vụ xã hội trong những năm đầu thập niên 60
Cách thứ hai: Lấy số liệu chi tiêu cho lương thực, thực phẩm đủ sống cho
một gia đình nhân với 3 sẽ ra mức giới hạn nghèo khổ (nay còn gọi là mức thu nhập
tối thiểu của đời sống) theo tiêu chuẩn này thế giới hiện nay còn hơn 1,3 tỷ người
1.1.3.2 Quan ni ệm của Việt Nam.
Việt Nam quan niệm về nghèo đói đơn giản và trực diện hơn Qua một cuộc
tham vấn có sự tham gia của người dân miền núi họ cho rằng: "Nghèo đói là gì ư?
Chính là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi ăn gì? bạn nhìn nhà ở của tôi thì biết, trong nhà nhìn thấy mặt trời, khi mưa trong nhà cũng như ngoài sân" Người Hà Tĩnh quan niệm: "Nghèo đói đồng nghĩa với nhà tranh tre dột nát, không đủ đất đai sản xuất, không có trâu, bò, không có ti vi, con cái thiếu học, ốm đau không có tiền chữa bệnh."
Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế xã hội của nước ta và hiện trạng đời
sống trung bình phổ biến của dân cư hiện nay, có thể xác lập các chỉ tiêu đánh giá
về đói nghèo theo mấy chỉ tiêu chính sau đây:
- Chỉ tiêu thu nhập và chi tiêu
Mức thu nhập của các đối tượng khác nhau thì sẽ khác nhau Chẳng hạn côngnhân viên chức có thu nhập chính từ lương, còn nông dân có thu nhập chính từ sảnxuất nông nghiệp, dịch vụ Ở Việt Nam do đặc điểm ngoài môt số cán bộ công nhânviên chức và một số lao động ở thành thị còn lại khoảng 80% dân số là nông thônTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11nên thu nhập chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp Do đó để tránh sự biến động giá
cả theo thời gian là sự chênh lệch giữa các địa phương người ta dùng gạo để làm
đơn vị tính toán và so sánh độ nghèo đói
+ Tổng cục Thống kê đã đưa ra giới hạn đói nghèo mức thu nhập bình quân
đầu người tương đương 16,2kg gạo/tháng với cơ cấu sử dụng bao gồm:
Chi cho ăn : 13kg/ người/ tháng
Văn hóa, giáo dục, y tế và đi lại : 1,1kg/ người/ tháng
Tổng cộng lại nếu một gia đình có thu nhập BQ/ người/ tháng dưới 15,1kggạo thì được gọi là hộ nghèo tuyệt đối Họ chỉ có thể trang trải cho ăn, mặc chưa thể
nói đến các nhu cầu khác của xã hội như vui chơi, giải trí, văn hóa tinh thần
+ Xét thu nhập bằng tiền để xác định mức độ nghèo đói như sau:
Nghèo tuyệt đối: Bộ phận dân cư ở nông thôn có mức sống tối thiểu 25.000đ/
người/ tháng hay 300.000đ/ người/ năm Còn ở thành thị 30.000đ/ người/ tháng hay
360.000đ/ người/ năm
+ Theo đánh giá của Cục Thống kê năm 1993, qua kết quả điều tra tìnhtrạng giàu nghèo của nước ta tính ra mức thu nhập BQ đầu người/ tháng của cả
nước là 119.000đ trong đó ở nông thôn là 94.440đ, ở thành thị là 220.340đ Từ đó
đã đưa ra cách phân loại như sau:
Ở nông thôn 30.000đ/ người/ tháng
Theo cách này cuối năm 1993 cả nước có khoảng 3 triệu hộ nghèo đói chiếmkhoảng 23% tổng số hộ, trong đó có khoảng 60 vạn hộ đói chiếm khoảng 4,2 %tổng số hộ
+ Thời kỳ 1997- 1998, Bộ LĐTB & XH đưa ra tiêu chuẩn đánh giá nghèo đói
trên cơ sở điều chỉnh một số chỉ tiêu đã đưa ra năm 1993 như sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12 Hộ đói: Thiếu ăn từ 3- 6 tháng, dụng cụ gia đình hầu như không đáng kể,con cái thất học, nhà ở dột nát, thu nhập bình quân người trong hộ 13kg/ tháng
tương đương 45.000đ
Hộ nghèo:
Ở miền núi, hải đảo: Bình quân 15kg gạo/người/tháng tương đương 55.000đ
Ở nông thôn (đồng bằng trung du) bình quân 20kg gạo/ người/ tháng
+ Ngày 01/11/2000, Bộ LĐTB & XH đã có quyết định số
1143/2000/QĐ-LĐTBXH về việc điều chỉnh tiêu chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001- 2005 như sau:
Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000đ/người/tháng hay 1.200.000đ/người/ năm
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000đ/ người/ tháng hay 960.000đ/
người/ năm
Vùng thành thị: 150.000đ/ người/ tháng hay 1.800.000đ/ người/ năm
Những hộ có mức thu nhập BQ đầu người dưới mức quy định trên được coi
là hộ nghèo
+ Sau 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta bước đầu phát triển với tốc độ
tăng trưởng cao Đời sống mọi mặt của nhân dân được nâng lên rõ rệt Vì vậy, nhànước tiếp tục điều chỉnh chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006- 2010 như sau:
Khu vực nông thôn dưới 200.000đ/ người/ tháng
Khu vực thành thị: Dưới 260.000đ/ người/ tháng
Bảng 1.1: Hộ nghèo đói theo tiêu chuẩn của Bộ LĐTB&XH
(Nguồn số liệu từ tài liệu của bộ LĐTB&XH)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13+ Chuẩn mực từ 2006- 2010 được áp dụng cho tất cả các địa phương và cácvùng trong cả nước, tuy nhiên căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế xã hội và kếtquả thực hiện xóa đói giảm nghèo địa phương nào có đủ điều kiện sau đây có thể
đưa ra chuẩn đói nghèo cao hơn chuẩn đói nghèo nêu trên
Thu nhập BQ đầu người cao hơn thu nhập BQ đầu người của cả nước
Có tỷ lệ hộ nghèo đói thấp hơn tỷ lệ bình quân chung của cả nước
Có nguồn lực cân đối cho các giải pháp hỗ trợ xóa đói giảm nghèo
Tóm lại, ở nước ta xác định chuẩn đói nghèo dựa vào chỉ tiêu thu nhập bình
quân đầu người, có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng hiện nay các địa phươngđang áp dụng chuẩn đói nghèo do Bộ LĐTB&XH đưa ra thời kỳ 2006- 2010
- Chỉ tiêu về nhà ở và tiện nghi sinh hoạt
Những người nghèo đói thường sống trong những căn hộ tồi tàn, nhà tranh
vách đất, đồ dùng sinh hoạt không có gì ngoài giường gỗ, tre, phản và vài thứ khácdưới mức trung bình Tuy nhiên có một số người tuy nghèo đói nhưng vẫn ở nhàxây, có vài đồ dùng sinh hoạt khác đó là tài sản do cha ông để lại hoặc là tài sản cótrước khi lâm vào nghèo đói
- Chỉ tiêu về tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất (TLSX) cũng là một yếu tố để đánh giá mức độ nghèo đói,người nghèo thường TLSX rất ít, công cụ sản xuất phần lớn thô sơ, các thứ khácnhư đất đai, vườn, ao chuồng đều ít hoặc không có để làm phương tiện sinh sống
Chỉ một số rất hữu hạn có TLSX khá nhưng do kém hiểu biết, không có kinhnghiệm hoặc lười nhác cũng bị rơi vào tình cảnh nghèo đói
- Chỉ tiêu về vốn
Thông thường đã lâm vào cảnh nghèo đói không có vốn để dành họ thườngvay mượn để mua lương thực cứu đói, hoặc đầu tư sản xuất Người nghèo thường bịđộng trong cuộc sống, phải bán lúa hoặc hoa màu non, gán ruộng vườn, vay mượn
với lãi suất cao, phải làm thuê để trả nợ, kiếm sống qua ngày; một bộ phận dân cư
dễ rơi vào các tệ nạn xã hội như trộm cắp, cướp dật, mại dâm Nếu không có cácTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14chính sách xã hội để trợ giúp cho những người nghèo thì dễ làm cho mâu thuẫn xãhội trở nên gay gắt thậm chí rối loạn.
Qua việc xem xét đánh giá các chỉ tiêu trên, chúng ta nhận diện vấn đề nghèo
đói rõ ràng hơn nhất là tính chất kinh tế- xã hội của hiện tượng đói nghèo các hậu
quả tiêu cực của đói nghèo xét từ bình diện xã hội, đều bắt nguồn và phát sinh trựctiếp từ căn nguyên kinh tế
1.2 THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ KINH NGHIỆM XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.2.1 Thực trạng đói nghèo trên thế giới
Theo số liệu của WB đưa ra trong năm 2001 trên toàn thế giới có 1,1 tỉ người
(tương ứng với 21% dân số thế giới) có ít hơn 1 USD tính theo sức mua địa phương
và vì thế được xem là rất nghèo: Năm 1981 là 1,5 tỉ người (40% dân số thế giới), năm
1987 là 1,227 tỉ người (30% dân số thế giới), năm 1993 là 1,314 tỉ người (29% dân sốthế giới) tỷ lệ người nghèo đã giảm từ 27,9% năm 1990 xuống 21,3% năm 2001nghĩa là đã có 118 triệu người thoát khỏi tình trạng nghèo khó cùng cực Nếu chiều
hướng này tiếp tục được duy trì thì mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về xóa đói giảmnghèo vào năm 2015 có thể đạt được xét trên phạm vi toàn cầu, với số người nghèo
khổ giảm xuống dưới mức 735 triệu người so với 1,22 tỉ người năm 1990
Báo cáo năm 2006 của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc về thực hiện chương
trình hành động đối với các nước chậm phát triển nhất thế giới, đã khẳng định mặc
dù viện trợ phát triển từ năm 2002 đã tăng nhưng tỷ lệ đói nghèo ở các nước nàyvẫn không được cải thiện Báo cáo cho biết ở các nước chậm phát triển nhất, tỷ lệ
đói nghèo vẫn tiếp tục tăng và chỉ số an ninh xã hội vẫn rất đáng lo ngại Nạnnghèo đói kinh niên tiếp tục làm trầm trọng thêm những căn bệnh thế kỷ nhưHIV/AIDS và suy thoái môi trường Tuổi thọ trung bình của dân số ở 7 trong 50nước chậm phát triển nhất thế giới đang giảm nhanh vì dịch bệnh HIV/AIDS Báo
cáo còn chỉ rõ bức tranh về tình nghèo đói trên thế giới vẫn cho thấy tình trạng
không đồng đều trên phạm vi khu vực Thành tích giảm nghèo chủ yếu diễn ra ởcác nước Đông Á, vùng Thái Bình Dương và Nam Á là những khu vực có nhiều
khả năng đạt được mục tiêu XĐGN trên phạm vi quốc gia vào năm 2015 TheoTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Liên Hợp Quốc mỗi ngày có khoảng 30.000 trẻ em chết vì nguyên nhân nghèokhổ Phần lớn những người này sống ở Châu Á Các thành viên Liên Hợp Quốctrong cuộc họp thiên niên kỷ năm 2000 đã nhất trí với mục tiêu đến năm 2015giảm một nửa số người có ít hơn 1 USD Nhưng theo thông tin WB vào tháng4/2004 đã đạt được mục tiêu này ở một số nước Trong khi nhờ vào tăng trưởngkinh tế tại nhiều vùng của Châu Á tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt (từ 58%xuống còn 16%), tại Đông Á thì con số những người nghèo nhất lại tăng lên ởChâu Phi (gần gấp đôi từ năm 1981 đến năm 2001 phía nam sa mạc Sahara).Tại
Đông Âu và Trung Á những người nghèo nhất đã tăng lên 6% dân số Nếu như đặt
ranh giới nghèo là 2 USD mỗi ngày thì tổng cộng có 2,7 tỉ người nghèo gần mộtnửa dân số thế giới
ch lệch giàu/
nghèo
Cả nước Thành
Thị
Nông thôn
-(Nguồn số liệu tập huấn cho cán bộ của Bộ LĐTB&XH)
Ở khu vực Đông Á, mặc dù đã đạt nhiều tiến bộ trong xóa đói giảm nghèo,nhưng thực trạng nghèo đói vẫn còn khá nghiêm trọng và thách thức lớn đối với cácnước này Chênh lệch giữa 20% nghèo nhất trong ASEAN cũng khá lớn, trầm trọng
nhất là Thái lan (15,8 lần), Philipin (hơn10 lần), Singapo (hơn 7 lần) [5]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16Ở Áo theo số liệu của Bộ Xã hội (báo cáo về tình trạng xã hội 2003-2004)năm 2003 hơn 1 triệu người nghèo (13,2%), năm 2002 có 900.000 người (12,%),năm 1999 là 11% dân số nghèo Ranh giới nguy cơ nghèo là 60% của thu nhập
trung bình Theo đó, trung bình 8 người thì có một người có thu nhập ít hơn 785Euro/ tháng Phụ nữ có nguy cơ nghèo cao hơn (14%) Ở Áo còn có "nghèo nguykịch" khi ngoài việc thiệt thòi về tài chính còn thiếu thốn hay hạn chế nhất địnhtrong những lĩnh vực sống cơ bản Trong năm 2003 có 467.000 người (5,9% dân số)nghèo nguy kịch Theo một bản báo cáo của hội nghị về nạn nghèo, lần đầu tiên có
số liệu về cái gọi là "working poor": Tại Áo có 57.000 người nghèo mặc dầu là cóviệc làm, những người làm việc cho đến 20 tiếng hằng tuần có nguy cơ nghèo gấp
đôi những làm việc từ 31 đến 40 tiếng.[32]
Ở Đức, thu nhập tương đương sau thuế hàng tháng do Cục Thống kê Liên
bang tính toán vào năm 2002 là 1.217 Euro trong các tiểu bang cũ và 1.008 Eurotrong các tiểu bang mới Theo các tiêu chí của liên minh Châu Âu cho ranh giớinghèo (60%), ranh giới nghèo nằm vào khoảng 730,20 Euro cho phía tây và 604,80
Euro cho phía đông nước Đức
Theo số liệu từ "Báo cáo giàu và nghèo lần thứ hai" do Chính phủ Liên bang
Đức đưa ra trong tháng 3 năm 2005 thì năm 2003 có 13,5% dân số nghèo Năm
2002 là 12,7% năm 1998 là 12,1% hơn 1/3 những người nghèo là những người nuôicon một mình, vợ chồng có hơn 3 con chiếm 19% trong số người nghèo
Trẻ em và thanh niên ở Đức có nguy cơ nghèo cao, 15% trẻ em dưới 15 tuổi
và 19,1% từ 16-24 tuổi thuộc vào diện này Số trẻ em sống nhờ vào trợ cấp xã hội ở
Đức tăng thêm 64.000 lên đến 1,08 triệu năm 2003 và đạt đến 1,45 triệu trong
2004-2005 Theo UNICEF, trẻ em nghèo ở Đức tăng hơn so với phần lớn các nước côngnghiệp Thêm vào đó nghèo có ảnh hưởng lớn đến cơ hội giáo dục (theo nghiên cứucủa hội từ thiện công nhân)
Ngược lại thì nạn nghèo ở người già tại Đức giảm từ 13,3% năm 1998 xuống11,4% trong năm 2003 Thế nhưng nạn nghèo ở đây dự đoán sẽ tăng vì nhữngngười thất nghiệp, làm việc nửa ngày và người thu nhập ít hiện đang có nhiều, sẽ có
tiền nghỉ hưu ít và thêm vào đó là mức nghỉ hưu của tất cả những người về hưuTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17trong tương lai (tất cả những người làm việc hiện nay) sẽ bị giảm đi theo các cải tổ.
Theo một nghiên cứu của Dcutshes Institut thì 1/3 công dân liên bang có nguy cơnghèo trong tuổi già Nguyên nhân bên cạnh sự tăng tuổi thọ là các cải tổ về chế độ
hưu của năm 2001 và năm 2004 giảm mức độ tiền hưu theo luật pháp xuống khoảng
18% và nhiều công nhân liên bang không sẵn sàng tự lo trước tuổi già và khôngmuốn hay không có khả năng (khoảng 60%) [5]
Theo số liệu báo cáo của Cục Điều tra dân số tháng 8/2005 thì ở Mỹ những
người có thu nhập dưới ranh giới nghèo đã liên tiếp tăng đến lần thứ tư Có 12,7%
dân số hay 37 triệu người nghèo đã tăng 0,2% so với năm trước đó Một gia đình 4
người được coi là nghèo khi chỉ có thể chi tiêu ít hơn 19.310 đô la Mỹ trong mộtnăm đối với những người độc thân thì ranh giới này ở vào khoảng 9.650 đô la [5]
1.2.2 Thực trạng nghèo và chương trình chống đói nghèo ở Việt Nam
1.2.2.1 Th ực trạng nghèo đói ở nước ta
- Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam theo chuẩn nghèo giai đoạn 2001-2005
Theo tài liệu tập huấn giảm nghèo của Bộ LĐTB&XH năm 2007, từ sau năm
2000 tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh: Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 đã ghinhận những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyệnthành công nhất trong phát triển kinh tế' Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh trong vòng 5
năm từ 17,2% năm 2001 (2,8 triệu hộ) xuống dưới 7% năm 2005 (1,1 triệu hộ), bình
quân mỗi năm giảm khoảng 34 vạn hộ Tính đến cuối năm 2005 cả nước có:
+ 12 tỉnh thành phố không còn hộ nghèo (tỷ lệ dưới 3%)+ 14 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 3-5%
+ 25 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 5-10%
+ 12 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 10-15%
+ 1 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo trên 15% (Lai Châu 18,98%)Tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng: Tỷ lệ nghèo khu vực miềnnúi vẫn cao gấp 1,7 đến 2 lần so với tỷ lệ hộ nghèo chung của cả nước: Tây Bắc, Tâynguyên, Bắc Trung Bộ có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất và vùng Đông Nam Bộ có tỷ
lệ nghèo thấp nhất Gần 90% hộ nghèo sống ở nông thôn Hộ nghèo là dân tộc thiểu
số còn chiếm tỷ lệ rất cao ở một số tỉnh như Kon Tum 80%, Gia Lai 77%
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Bảng 1 3: Tỷ lệ nghèo đói 2000- 2005 (theo chuẩn 2001-2005)
(Nguồn tài liệu tập huấn của bộ LĐTB&XH)
Kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững: Qua xem xét sự phân bố về thunhập của các hộ gia đình cho thấy còn tỷ lệ lớn hộ gia đình nằm ngay sát cận trênchuẩn nghèo và nếu gặp thiên tai, rủi ro, sự thay đổi của cơ chế chính sách và tác
động của quá trình hội nhập thì khả năng tái nghèo của nhóm hộ này rất lớn
Tốc độ giảm nghèo của nhóm dân tộc thiểu số chậm: Khu vực miền núi tỷ lệ
hộ nghèo giảm nhanh hơn khu vực đồng bằng và thành thị, nhưng tỷ lệ hộ nghèo ởkhu vực miền núi vẫn cao hơn nhiều Mặc dù số lượng hộ nghèo là dân tộc thiểu số
đã giảm nhưng tỷ lệ trong tổng số hộ nghèo của cả nước từ năm 1992 đến năm 2004
có chiều hướng tăng lên, điều đó cho thấy tốc độ giảm nghèo của dân tộc thiểu sốchậm hơn tốc độ chung của cả nước Nhóm dân tộc có tỷ lệ hộ nghèo cao là VânKiều chiếm 60,3%; PaKô 58,5% và H.Mông 35% (số liệu năm 2003)
Bảng 1 4: Tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số nghèo trong tổng số hộ nghèo
(Nguồn tài liệu tập huấn cán bộ của Bộ LĐTB&XH)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19Khoảng cách chênh lệch về thu nhập và chi tiêu giữa các nhóm dân cư, giữanhóm giàu và nhóm nghèo, giữa các vùng kinh tế, giữa khu vực thành thị và nôngthôn vẫn có xu hướng gia tăng.
- Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới (2006-2010)
Do mức sống của người dân nói chung ngày tăng, cùng với định hướngchung là từng bước tiếp cận với các nước đang phát triển trong khu vực về XĐGN,nên chuẩn nghèo 2001-2005 không còn phù hợp với giai đoạn mới Vì vậy, Chínhphủ đã ban hành quyết định 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 về ban hành chuẩnnghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 như sau:
Đối với khu vực nông thôn, những hộ có thu nhập bình quân đầu người
một tháng từ 200.000 đồng trở xuống
Đối với khu vực thành thị, những hộ có thu nhập bình quân đầu người một
tháng từ 260.000 đồng trở xuống
Những hộ có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo
được xác định là hộ nghèo Theo chuẩn nghèo nêu trên, ước tính cuối năm 2005 cảnước có 3,9 triệu hộ nghèo, chiếm 22% số hộ toàn quốc Vùng có tỷ lệ hộ nghèo
cao nhất là vùng Tây Bắc (42%) và Tây Nguyên (38%), thấp nhất là vùng ĐôngNam Bộ (9%)
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn giai đoạn 2006 - 2010 năm 2005
9
18 22
051015202530354045
TB ĐB ĐBSH BTB DHNTB TN ĐNB ĐBSCL BQ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 201.2.2.2 Chương trình xoá đói giảm nghèo của Việt Nam
Ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
quan tâm ngay đến nhiệm vụ chống đói nghèo Người coi đói nghèo là một thứ "giặc" như "giặc dốt", "giặc ngoại xâm" Người khẳng định phải làm sao cho dân “ai cũng có
cơm no, mặc ấm, ai cũng được học hành” Người chủ trương "làm cho người nghèo thì
đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm" Tư tưởng này của Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng ta quán triệt trong quá trình xây dựng CNXH, nhất là
thời kỳ đổi mới Trong văn kiện đại IX, Đảng ta đã khẳng định: "Khuyến khích làm
giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xóa đói giảm nghèo" [10] Mục tiêu chiến lược xóa
đói giảm nghèo thời kỳ 2001-2010 do đại hội đề ra là "Phấn đấu đến năm 2010 về cơ
bản không còn hộ nghèo, thường xuyên cũng cố thành quả xóa đói giảm nghèo" [10].
Báo cáo chính trị đại hội X cũng khẳng định "Khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người
dân làm giàu theo pháp luật , thực hiện có hiệu quả các chính sách xóa đói giảm nghèo , phấn đấu không còn hộ đói, giảm mạnh hộ nghèo, tăng nhanh số hộ giàu, từng bước xây dựng gia đình, cộng đồng và xã hội phồn vinh" [11] Từ năm 1992 các
hoạt động xóa đói giảm nghèo được thực hiện như mục tiêu quốc gia Đến năm 1998
xóa đói giảm nghèo đã thực sự trở thành một CTMTQG Trong nông nghiệp- nôngthôn, nơi tập trung phần lớn người nghèo, Chính phủ đã thực hiện chính sách giao đất
giao rừng cho nông dân kết hợp với việc cung cấp tín dụng thông qua quỹ cho vay ưu
đãi hộ nghèo Ngân hàng chính sách xã hội cùng với ngân hàng NN&PTNT là hai tổ
chức tài chính cung cấp tín dụng chủ yếu cho nông dân
Để tập trung nguồn lực, hỗ trợ trực tiếp các xã nghèo, hộ nghèo, tạo điều
kiện và môi trường xoá đói giảm nghèo bền vững, ngày 14/1/2008, Thủ tướngChính phủ đã ban hành quyết định số 5/1998- QĐ-TTg về quản lý CTMTQG,
theo đó xoá đói giảm nghèo được nâng lên thành 1 trong 7 CTMTQG trọngđiểm Ngày 23/7/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 133/1998/QĐ-
TTg phê duyệt CTMTQG về XĐGN giai đoạn 1998- 2000, chương trình nàynhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi, phù hợp để hỗ trợ cho người nghèo sảnxuất, tăng thu nhập XĐGN Tổng nguồn vốn đầu tư thực hiện chương trình nàykhoảng 10.000 tỷ đồng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21Ngày 4/5/2001, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt các CTMTQG giai đoạn2001-2005 Từ đây, các hoạt động XĐGN được lồng ghép thêm chương trình hỗ trợtạo việc làm, trở thành CTMTQG về XĐGN và hỗ trợ việc làm Mục tiêu của
chương trình này là: Phấn đấu đến 2005 sẽ giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí giaiđoạn này) của Việt Nam xuống dưới 10% bình quân mỗi năm giảm từ 1,5-2%
(khoảng 28-30 vạn hộ/năm), không để tái đói kinh niên, đảm bảo cho các hộ nghèo
có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu (thuỷ lợi nhỏ, trường học, trạm y tế, đường dân sinh,nước sinh hoạt, chợ)
Phấn đấu mỗi năm có từ 1,4-1,5 triệu việc làm, giảm tỷ lệ lao động thấtnghiệp ở khu vực thành thị xuống dưới 6% và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ởnông thôn lên 80% vào năm 2005 Nội dung của chương trình bao gồm các chínhsách hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo về y tế, giáo dục, chính sách an sinh
xã hội, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, trợ giúp nhà ở, công cụ lao động, đấtsản xuất và đặc biệt là vốn tín dụng Các chính sách ưu đãi cho người nghèo đượcthực hiện thông qua các dự án hỗ trợ trực tiếp XĐGN bao gồm: Nhóm các dự án
XĐGN chung (gồm các dự án tín dụng cho hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất;
dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, khuyến nông, lâm, ngư; dự án xâydựng mô hình XĐGN ở các vùng khó khăn…) và nhóm các dự án XĐGN cho các
xã nghèo
Tiếp tục thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ trước mà nước ta đãcam kết [26], Chính phủ đã phê duyệt CTMTQG về XĐGN giai đoạn 2006-2010theo quyết định số 20/2007/QĐ-TTg ban hành ngày 05/02/2007 Mục tiêu cụ thểcủa chương trình là giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 22% năm 2005 xuống còn 10-11% năm
2010, thu nhập của nhóm hộ nghèo tăng 1,45 lần so với năm 2005 và 50% số xã đặcbiệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó
khăn Chương trình này sẽ áp dụng với những đối tượng là người nghèo, hộ nghèo,
xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo, ưu tiên đối tượng hộ nghèo mà chủ hộ là phụ nữ, hộnghèo là dân tộc thiểu số, hộ nghèo có đối tượng bảo trợ xã hội (người già, ngườitàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt) Đến năm 2010, đối với các xã đặc biệt khó
khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo cơ bản xây dựng đủ các công trình hạ tầng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22thiết yếu, 6 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi, thực hiện khuyếnnông - lâm - ngư, chuyển giao KHKT, hướng dẫn cách làm ăn cho 4,2 triệu lượt
người nghèo, miễn, giảm học phí học nghề cho 150 nghìn người nghèo, 100%người nghèo được Nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh được quỹ bảo
hiểm y tế thanh toán theo quy định; miễn giảm học phí và các khoản đóng góp xâydựng trường học cho 19 triệu lượt học sinh nghèo, trong đó có 9 triệu học sinh tiểuhọc; tập huấn nâng cao năng lực cho 170 nghìn cán bộ tham gia công tác XĐGNcác cấp trong đó 95% là cán bộ cấp cơ sở, hỗ trợ để xoá nhà tạm cho 500 nghìn hộnghèo, phấn đấu 98% người nghèo có nhu cầu được trợ giúp pháp lý miễn phí Bêncạnh đó, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 sẽ tạo
điều kiện để người dân tham gia quá trình xây dựng, triển khai thực hiện chương
trình bảo đảm tính dân chủ, công khai và minh bạch Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho
người nghèo các chi phí về giáo dục, dạy nghề (miễn, giảm học phí cấp trực tiếpcho người học hoặc cơ sở đào tạo), chi phí y tế (cấp thẻ bảo hiểm y tế)…[25] Đếnnay các chương trình XĐGN đang tiếp tục được đẩy mạnh rộng khắp trong các địaphương cả nước, tỷ lệ đói nghèo ngày càng giảm, đời sống của nhân dân không
ngừng được cải thiện và nâng lên rõ rệt
1.2.2.3 Đặc điểm của những người nghèo đói
Đặc điểm nghèo đói ở nông thôn khác ở thành thị Hộ nghèo nông thôn chủ
yếu dựa vào đất đai và lao động, thu nhập chính dựa vào năng suất, sản lượng củaSXNN mà trong đó chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi Còn ở thành thị hộ nghèophải đi làm thuê, bán sức lao động để kiếm sống Ở nông thôn hộ nghèo thường ởnhững nơi hẻo lánh, xa cộng đồng, canh tác trên những vùng đất bạc màu cằn cỗi,thiếu đầu tư chăm sóc nên năng suất thấp Cơ hội để có thu nhập ngoài sản xuấtnông nghiệp rất hiếm, với nhu cầu lao động nông nghiệp phụ thuộc vào thời vụ sảnxuất nông nghiệp đã tác động mạnh đến đời sống hộ nông dân khi vào những thánggiáp hạt Tại các vùng đồng bằng người nghèo có tài nguyên khá hơn nhưng lạithiếu các dịch vụ xã hội, chính sách hỗ trợ, cơ sở hạ tầng và hướng dẫn kỹ thuật
Nhìn chung hộ nghèo có những đặc điểm sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23- Hộ nghèo thường có thu nhập thấp, không ổn định, không có việc làmthường xuyên, có ít tài sản, không có thu nhập phụ.
- Hộ nghèo có trình độ học vấn thấp hơn đại bộ phận dân cư
- Cuộc sống hộ nghèo đói thường phải phụ thuộc người khác, thường phảivay vốn lãi suất cao chỉ để thỏa mãn nhu cầu tối thiểu
- Người nghèo, hộ nghèo thường có số lượng nhân khẩu trong gia đình cao
hơn bình quân chung Khi quy mô gia đình càng lớn thì thu nhập bình quân đầuthông thường sẽ giảm và khả năng nghèo của hộ sẽ cao hơn Theo thống kê năm
1998, mỗi bà mẹ trong nhóm nghèo nhất có trung bình 3,5 con, so với 2,1 con củanhóm giàu nhất Các hộ gia đình đông con và ít lao động dẫn đến tỷ lệ ăn theo trong
gia đình cao, phần lớn hộ có tỷ lệ ăn theo cao là những hộ nghèo
- Người nghèo khó tiếp cận giáo dục- đào tạo Đối với những hộ nghèo, thu
nhập của họ thường đủ để trang trải cho các nhu cầu về ăn uống và sinh hoạt Cácchi phí về giáo dục là một gánh nặng trong gia đình Theo điều tra hộ gia đình năm
2002, chi phí trực tiếp cho giáo dục là rất đáng kể, nó có thể lên đến 270 nghìn
đồng/ năm chọ một học sinh tiểu học, 455 nghìn đồng/ năm cho học sinh THCS
Mặt khác đối với rất nhiều hộ nghèo, sức lao động của trẻ em có giá trị hơn nhiều sovới việc để chúng đến trường Lợi ích dài hạn của giáo dục không thể bù đắp đượcnhững tổn thất về thu nhập trong ngắn hạn của gia đình Để có thêm thu nhập, trẻ
em và những em đã đến tuổi lao động (từ 15-18 tuổi) phải bỏ học để lao động sảnxuất hoặc đi làm thuê Các số liệu thống kê cho thấy người nghèo thường có trình
độ học vấn thấp hơn đại bộ phận dân cư, khoảng 90% người nghèo có trình độ phổthông cơ sở hoặc thấp hơn Tác giả Kim Thị Dung khi nghiên cứu vai trò của tàichính vi mô đối với XĐGN ở các tỉnh miền núi phía bắc đã bất ngờ phát hiện ra
rằng có nhiều người nghèo khi vay vốn tín dụng họ không thể viết và ký được màphải điểm chỉ [44]
- Người nghèo không có tiếng nói, không có địa vị trong xã hội Họ là những
người có học vấn thấp, ăn nói không lưu loát, ít tiếp cận với kỹ năng chuyên môn và
công nghệ mới, khó tiếp cận với thông tin đại chúng Trong sản xuất kinh doanh họTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24không phải là người làm ăn giỏi Đặc biệt những người nghèo thường hay tự ty,phần lớn thời gian dành cho kiếm sống hàng ngày, họ ít có điều kiện giao lưu, thamgia các hoạt động xã hội, đoàn thể Chính những hạn chế đó đã cản trở người nghèotham gia vào các chính quyền địa phương và giảm khả năng tiếp cận với các dịch vụcông cộng Khi họ được xem là những người không tiêu biểu, tiếng nói của họ ít
được coi trọng, họ không có địa vị trong xã hội
- Người nghèo dễ bị tổn thương: Ăn uống của những người nghèo thường
không đầy đủ, họ dễ bị suy dinh dưỡng, đặc biệt là ở trẻ em Thiếu tiền chữa bệnhnên thường mắc nhiều bệnh tật, bệnh kéo dài và bệnh nặng không có tiền chạy chữa
Người nghèo vì mục đích kiếm kế sinh nhai, họ thường làm những công việc
nặng nhọc, độc hại dễ bị tai nạn nghề nghiệp gây biến động mạnh đến thu nhập của
gia đình đặc biệt nếu xảy ra đối với lao động chính trong gia đình
Trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là SXNN những bất lợi về thời tiết
thường gây mất mùa, thu hoạch không đủ ăn, người nông dân trở nên thiếu đói.Điều này dễ nhận ra đối với người nông dân ở các tỉnh miền Trung là vùng có khí
hậu khắc nghiệt, thời tiết thất thường, không thuận lợi cho SXNN Đặc biệt mấtmùa hoặc thiệt hại trong đầu tư bằng vốn vay trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôitôm là những nguy cơ làm cho người nông dân trở nên nghèo khó
Người nghèo còn dễ bị tổn thương trước những biến động về giá cả thịtrường Do khối lượng sản phẩm hạn chế, khi giá cả thị trường biến động ngườinghèo không đủ để bù đắp chi phí Sản phẩm làm được bán ra thì rẻ, nhưng sản
phẩm tiêu dùng hàng ngày mua vào lại hết sức đắt đỏ
- Ở thành thị hay nông thôn đều có người nghèo, nhưng cơ hội việc làm cho
người nghèo ở thành thị lớn hơn ở nông thôn Nông thôn người nghèo sống nhờ vào
SXNN giá trị thu nhập thấp, tỷ số lệ thuộc cao Ở nông thôn, đặc biệt là vùng sâu
vùng xa cơ sở hạ tầng yếu kém, người dân khó có thể tiếp cận với các dịch vụ xã
hội, nguy cơ nghèo luôn rình rập họ Mặt khác tỷ lệ dân số sống ở nông thôn lớn(trên 80%) nên người nghèo hầu như tập trung ở nông thôn Theo tổng cục thống kê
năm 2002 hộ nghèo ở thành thị chỉ có 10,6% trong khi ở nông thôn là 26,9% vànăm 2004 ở thàng thị là 8,6% còn ở nông thôn là 21,2% [29]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 251.2.2.4 Nguyên nhân d ẫn đến nghèo đói
Nghèo đói là hậu quả của nhiều nguyên nhân, ở Việt Nam nguyên nhânchính gây ra đói nghèo có thể phân theo 3 nhóm:
- Nhóm nguyên nhân khách quan
+ Những biến động về chính trị xã hội, chiến tranh, thiên tai, điều kiện sảnxuất khó khăn là một trong những nguyên nhân làm cho người nông dân trở nênnghèo đói Do nguồn thu nhập bấp bênh, khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả
năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống như mất mùa, mất việc
làm, thiên tai, mất sức lao động Với khả năng kinh tế mong manh của các hộ gia
đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những đột biến
lớn trong cuộc sống của họ Những vùng khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn
hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, kinh tế chậm phát
triển, hậu quả chiến tranh để lại có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn Theo thống kê tỷ lệ hộ
nghèo năm 2002 ở Tây Nguyên là 51,8% ở miền núi phía bắc và bắc Trung bộ
43,9% cao hơn nhiều so với vùng đồng bằng sông Hồng 22,4% và vùng đồng bằngsông Cửu Long 23,4%
+ Rủi ro cũng là một nguyên nhân làm cho người dân trở nên nghèo đói, đặcbiệt là ốm đau và tai nạn Nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa có cácthiết chế phòng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại Do không có tay nghề và thiếukinh nghiệm làm ăn, thu nhập thấp khả năng đối phó và khắc phục rủi ro của ngườinghèo kém có thể còn gặp rủi ro hơn nữa Theo báo cáo của WB, ốm đau, bệnh tậtkéo dài là nguyên nhân làm cho các hộ gia đình bị sa sút trong những năm gần đây
ở Việt Nam
- Nhóm nguyên nhân chủ quan của người nghèo
Thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, mắc các tệ nạn
xã hội hay lười lao động
+ Người nghèo hầu hết là những người có trình độ học vấn thấp, thiếu hiểubiết, không có điều kiện tiếp thu KHKT vào sản xuất, trình độ học vấn thấp; khả
năng kiếm việc làm trong khu vực khác, lĩnh vực khác, những công việc có thu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26nhập cao hơn và ổn định hơn cũng bị hạn chế Mặt khác do kiến thức hạn chế họkhông có khả năng phân tích thị trường để có định hướng SXKD những sản phẩm
đem lại thu nhập cao
+ Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểunên họ không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoátkhỏi cảnh nghèo khó Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết
định liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái đến không những thế hệ
hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai [12]
+ Quy mô gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập bình quân đầu
người trong hộ Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của đói nghèo Tỷ lệ
sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao Trong năm 1998, mỗi bà mẹ trongnhóm nghèo nhất trung bình có 3,5 con, so với 2,1 con của nhóm giàu nhất Mộttrong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh cao trong các hộ nghèo là do họ
không có điều kiện tiếp cận với các biện pháp tránh thai an toàn Mặt khác, nhận
thức trách nhiệm của các cặp vợ chồng trong việc sinh đẻ có kế hoạch cũng chưacao Những hộ gia đình sinh nhiều con, đẻ dày một mặt hạn chế sức lao động của
bà mẹ, mặt khác phải chi phí thêm một khoản không ít để nuôi con nhỏ Như vậyviệc sinh đẻ không có kế hoạch sẽ làm cho quy mô gia đình tăng lên và làm cho tỷ
lệ người ăn theo cao hơn là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạngnghèo của hộ
+ Chi tiêu không có kế hoạch, không tính toán cũng là một nguyên nhân chủ
quan gây nên nghèo đói Chi tiêu không có kế hoạch thường dẫn đến thiếu ăn trong
những tháng giáp hạt Để đảm bảo nhu cầu sống và sản xuất tiếp theo họ phải vay
mượn có khi phải vay nặng lãi khó khăn lại càng khó khăn hơn
+ Một nguyên nhân thuộc về chủ quan của hộ nghèo đói nữa là trong gia đình
có người mắc tệ nạn xã hội như rượi chè, cờ bạc, nghiện ma túy Vấn đề bệnh tật và
sức khỏe kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của người nghèo, làm cho
họ rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo Họ phải chịu hai gánh nặng một là mất đithu nhập từ lao động hai là phải chi phí cao cho khám chữa bệnh Do vậy đã đẩy họphải vay mượn, cầm cố tài sản để có tiền trang trải chi phí
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27- Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách
Thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng chocác khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn
cách làm ăn, khuyến nông- lâm- ngư Chính sách trong GD-ĐT, y tế, giải quyết đấtđai, định canh định cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư còn hạn chế
Suy cho cùng, nguyên nhân đói nghèo là do thiếu hụt về kinh tế Trước đây,chúng ta sai lầm cơ bản nhất là phủ nhận quyền tự do sản xuất của cá nhân và hộ gia
đình đặc biệt là quyền sở hữu về quyền sử dụng đất, ép buộc mọi người vào làm ăn
tập thể, không giải phóng được năng lực sản xuất đã làm tăng thêm thực trạng đóinghèo trong xã hội Từ khi có nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, nghị quyết TW6 củaBan Chấp hành Trung ương khóa VI đã tạo ra những thay đổi cơ bản trong nhận thức
và chỉ đạo phát triển nông nghiệp, trong đó xác định lại vị trí của kinh tế hộ gia đình,vai trò, vị trí và quyền lợi của người lao động trong quan hệ liên kết kinh tế ở nôngthôn, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho nông dân Những chính sách về XĐGN như
chương trình 135, 120, đã góp phần làm giảm mạnh tỷ lệ nghèo đói ở nước ta
1.2.3 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của một số nước và ở Việt Nam
1.2.3.1 Kinh nghi ệm xoá đói giảm nghèo của một số nước
Đói nghèo đang là vấn đề xã hội bức xúc và nóng bỏng của nhiều quốc gia
trên thế giới, diễn ra trên tất cả các châu lục với những mức độ khác nhau, đặc biệt
là các quốc gia kém phát triển, đang phát triển Các kết quả nghiên cứu cho thấy thếgiới còn khoảng 1/2 tỷ người không đủ ăn hàng ngày; mỗi năm có khoảng 15-20triệu người chết vì đói, vì bệnh tật và suy dinh dưỡng Số người nghèo đói tập trung
ở châu Á là 633 triệu người, Mỹ La tinh bao gồm cả Caribê 75 triệu người và châu
Phi 204 triệu người, Bôlivia là nước chiếm tỷ lệ cao nhất 97% về số người sống
dưới mức nghèo khổ ở những vùng nông thôn
Thách thức của sự phát triển và yêu cầu tìm kiếm giải pháp, các mô hìnhphát triển bền vững đặt ra đối với các quốc gia, các khu vực ngày càng lớn mà trướchết là vượt ra khỏi ngưỡng nghèo khổ, bắt kịp nhịp dộ phát triển của thời đại, tránh
nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế Sau đây là kinh nghiệm của một số quốc gia trên
thế giới:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28- Kinh nghiệm của Ấn Độ
Là nước có số người nghèo khổ nhiều nhất thế giới, chiếm 27% của 1,3 tỷngười nghèo trên thế giới XĐGN là một trong những mục tiêu cơ bản của phát
triển kinh tế xã hội ở Ấn Độ Chính phủ đặt ra vấn đề phát triển nông thôn toàn diệnnhằm khơi dậy những tiềm năng sẵn có trong nông thôn và nông dân, nổi bật là
"cuộc cách mạng xanh" trong nông nghiệp, nhằm đưa tiến bộ KHKT vào sản xuất
tăng nhanh khối lượng và năng suất cây trồng, cùng với chủ trương đẩy mạnh phát
triển công nghiệp nông thôn Chính phủ có biện pháp giúp đỡ từng nhóm và hộ gia
đình nhằm phát triển sản xuất, đã giúp cho 15 triệu hộ gia đình với 75 triệu nhân
khẩu thoát khỏi cảnh nghèo khổ…
- Kinh nghiệm của Trung Quốc
Có thể nói Trung Quốc là nước thành công nhất trong công tác XĐGN Tuy
là nước đông dân nhất thế giới, nhưng Trung Quốc có tỷ lệ dân số sống ở mức
nghèo khổ thấp nhất Một trong những kinh nghiệm của Trung Quốc trong công tácchống đói nghèo là: Trung Quốc đã thực hiện chính sách "Tam nông" (nông nghiệp,nông thôn và nông dân); trợ cấp thực phẩm cho dân cư đô thị cho vay ưu đãi giáodục đối với người nghèo, giảm thiểu đóng góp cho nông dân, kể cả việc miễn họcphí cho con cái nông dân Trung Quốc đã thực hiện phương châm tạo điều kiện chocác khu vực nghèo đói có khả phát triển (khu vực nông thôn phía tây) Trung Quốc
đã tiến hành cải cách ruộng đất một cách có hệ thống vào năm 1979, đất đai được
chia một cách bình đẳng cho nông dân, từ bỏ chính sách lương thực hàng đầu đểnhằm đa dạng hóa sản phẩm, hướng đầu tư chủ yếu vào nông nghiệp, đồng thời coitrọng phát triển các doanh nghiệp nông thôn vừa và nhỏ về chế biến nông sản, thựchiện lưu chuyển lao động trong nông nghiệp, giảm tỷ lệ sinh đẻ trong dân, nâng caotrình độ văn hóa, giáo dục Trọng điểm của công tác XĐGN là phát huy được sựtham gia của mọi lực lượng xã hội, khai thác được nguồn nhân lực vào công tácchống đói nghèo
Giữa thập niên 80, Trung Quốc đã đề ra chiến lược chống đói nghèo mộtcách toàn diện để giải quyết dần tình trạng nghèo đói của 102 triệu người Năm
1994, Trung Quốc lại đưa ra chương trình giải quyết nạn đói cho 80 triệu ngườiTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29trong vòng 7 năm Kết quả chỉ trong vòng 2 thập kỷ cuối thế kỷ trước đã giảm đượcgần 3/4 số người đói (từ hơn 200 triệu người xuống còn 58 triệu người) [4].
- Kinh nghiệm của Chi Lê
Chi Lê là nước duy nhất ở châu Mỹ có tốc độ giảm nghèo tương đối nhanh,
năm 1997, Chi Lê có 39% dân số sống dưới mức nghèo khổ, đến năm 1996, chỉ còn
20%, từ năm 1990-1998 có 2 triệu người đã thoát khỏi nghèo khổ trong tổng dân số11,5 triệu người Theo các nhà phân tích, Chi Lê đạt được kết quả trên là dựa vào 3nhân tố sau đây: sự tăng trưởng kinh tế được giữ vững, sự gia tăng những chỉ tiêu
xã hội và việc xây dựng nhiều chương trình xúc tiến việc làm Chi Lê cũng là nước
đầu tiên ở Mỹ La Tinh tiến hành tư nhân hóa, mở cửa thị trường và giảm thuế từ đó
lạm phát được kiềm chế và kinh tế bắt đầu tăng trưởng; Chi Lê được coi là "Con
báo phương nam" vào những năm 1990
- Kinh nghiệm của Inđônêxia
Trong vòng 20 năm, Inđônêxia đã giảm 3/4 số người nghèo Từ 64% số người
nghèo đói năm 1975 giảm xuống 11% năm 1995; kết quả đó là do họ đã chú trọng
phát triển sản xuất nông nghiệp (nơi tập trung đa số người nghèo) Inđonêxia thành
công trưởng kinh tế nhờ chú trọng đến giáo dục đào tạo, đầu tư vào kết cấu hạ tầng
nông thôn kể cả các công trình thủy lợi và duy trì một tỷ giá hối đoái hợp lý Nhờ vậygiá nông sản không giảm điều này đã mang lại thuận lợi cho người nông dân mà phầnlớn là người nghèo
- Kinh nghiệm của Thái Lan
Từ những năm 1980, nước này đã áp dụng mô hình gắn liền chính sách pháttriển quốc gia với chính sách nông thôn, qua việc phát triển các xí nghiệp ở các làngquê nghèo, phát triển các doanh nghiệp nhỏ, mở rộng các trung tâm dạy nghề ởnông thôn nhằm giảm bớt nghèo đói Nhờ vậy tỷ lệ nghèo đói ở Thái Lan đã giảm
từ 30% ở thập kỷ 80 xuống còn 23% năm 1990 (tương ứng khoảng 13 triệu người)
- Kinh nghiệm của Malaixia
Malaixia đã chủ trương tăng trưởng kinh tế nhanh, phân phối thu nhập côngbằng, nâng cao mức sống nhân dân, coi trọng phát triển nông nghiệp là thế mạnh đểbắt tay vào phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa- hiện đại hóa và giảiTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30quyết những vấn đề xã hội Kết quả đã giảm từ 20,7% nghèo đói năm 1986 xuốngcòn 17,1% năm 1990.
- Kinh nghiệm của Singapo
Singapo cũng rất thành công trong việc hạn chế nạn nghèo đói nhờ sự pháttriển nhanh chóng và bền vững của nền kinh tế về việc trải đều lợi ích do tăng
trưởng kinh tế mang lại cho mọi thành viên trong xã hội, nước này đã thiết lập được
những thiết chế cần thiết cho việc khuyến khích và quản lý sự tăng trưởng kinh tế,
họ đã biết sử dụng thị trường để nâng cao hiệu quả nhanh chóng thoát khỏi nướcnghèo và phát triển mạnh mẽ
1.2.3.3 Kinh nghi ệm xóa đói giảm nghèo ở nước ta
Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong công tác xóa đói giảm
nghèo, điều đó được cả thế giới công nhận Nhờ kinh tế phát triển và tăng trưởng
liên tục Nhất là nông nghiệp và nông thôn được nhà nước xác định là khu vực và
đối tượng ưu tiên đầu tư (thủy lợi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng các tiến bộ
KHKT vào sản xuất ); có các chính sách cải cách trong nông nghiệp và nông
thôn, đặc biệt là giao quyền sử dụng đất cho người dân đã tạo ra những động lực
và nguồn lực mới Từ đó cho phép thực hiện XĐGN trên diện rộng, nên đời sốngcủa người nông dân ở nông thôn- khu vực tập trung đông người nghèo đã được cảithiện rõ rệt
Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định là tiền đề giúp cho việc XĐGN nhanh và
toàn diện Thực hiện XĐGN bền vững cần phải bảo đảm các điều kiện cho ngườinghèo có thể thụ hưởng được các thành tựu phát triển, phải tạo việc làm và tăng thunhập ở cả thành thị và nông thôn Việc tăng cường tài sản cho người nghèo, đặc biệt
là đất đai là một trong những giải pháp hữu hiệu để tăng trưởng và giảm đói nghèo.Đồng thời phải đầu tư cho con người và phát huy nguồn lực con người, coi đó là
yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững
Chương trình XĐGN đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể từ
Trung ương tới cơ sở chỉ đạo sát sao và triển khai thực hiện tích cực, được nhân dân
đồng tình hưởng ứng Chính phủ đã cụ thể hóa thành chính sách, cơ chế, dự án và
kế hoạch hàng năm nhằm tập trung phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng cácTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31công trình phúc lợi để phục vụ sản xuất và đời sống, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đảm bảo an ninh lương thực người nghèo đã bướcdầu có nhận thức đúng để tự vươn lên, biết tận dụng các cơ hội và sử dụng có hiệuquả sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng Các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể
trong nước từ Trung ương đến cơ sở và người dân cần có nhận thức đúng và rõ ràng
về trách nhiệm XĐGN để tạo nên sức mạnh tổng hợp cho xoá đói giảm nghèo
Hệ thống chính sách, cơ chế, giải pháp XĐGN bước đầu được thực hiện và
đi vào cuộc sống như: Tín dụng ưu đãi, hướng dẫn cách làm ăn, hỗ trợ về y tế, giáo
dục, hỗ trợ đồng bào dân tộc ít người đặc biệt khó khăn; hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng, định canh định cư, di dân kinh tế mới, hỗ trợ pháp lý tạo thành hànhlang pháp lý thuận lợi cho XĐGN Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các xã
nghèo để phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đặc
biệt là những xã nghèo miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồngbào dân tộc ít người Các mục tiêu về XĐGN đề ra phải đồng bộ, mang tầm chiến
lược: XĐGN không chỉ tập trung nâng cao mức sống của người nghèo mà còn bao
gồm cả việc tạo cơ hội và hành lang pháp lý để nâng cao dân trí và ý thức pháp luậtgiúp họ tham gia vào đời sống kinh tế, chính trị- xã hội Cơ chế chính sách khôngchỉ dừng lại ở chống đói nghèo mà còn ngăn chặn tái đói nghèo [9]
Chiến lược hướng về XĐGN cần phải đa dạng và có mục tiêu trên cơ sở nhucầu của dân cư Hệ thống các cơ chế, chính sách cần linh hoạt tùy điều kiện củatừng vùng, từng địa phương Để thực hiện các cơ chế chính sách có hiệu quả, cần có
sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp và đồng thời phát động phong tràosâu rộng trong cả nước
Hệ thống tổ chức cán bộ làm công tác XĐGN đã được hình thành ở các tỉnh,thành phố quá trình tổ chức hoạt động đạt hiệu quả cao Đội ngũ thanh niên tìnhnguyện, cán bộ tỉnh, huyện tăng cường có thời hạn cho các xã nghèo đã hoạt độngtích cực trong việc giúp các xã xây dựng kế hoạch, dự án, tổ chức thực hiện chươngtrình XĐGN ở địa phương
Nhiều địa phương đã xây dựng và thực hiện thành công nhiều mô hình xóa
đó giảm nghèo như chuyển giao kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất cho người nghèo,
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32vay vốn tín dụng ưu đãi gắn với tập huấn kỹ thuật cho hội viên nghèo, hoạt động trợgiúp hộ nghèo về nhà ở, khám chữa bệnh miễn phí, trợ giúp con em người nghèotrong giáo dục, học nghề, xây dựng công trình hạ tầng cơ sở ở các xã đặc biệt khó
khăn, giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, hỗ trợ cho hộ nghèo
vay chuộc lại đất sản xuất bị cầm cố, nhượng bán, liên kết giữa các doanh nghiệp và
hộ nghèo thông qua hỗ trợ vốn, giống kỹ thuật, mua và chế biến sản phẩm, liênthông xuất khẩu lao động từ đào tạo nghề đến cung cấp lao động, tuyển lao động vàcho vay tín dụng để đi xuất khẩu lao động
Đa dạng hóa huy động nguồn lực, trước hết là chủ động phát huy nguồn lực
tại chỗ, huy động nguồn lực cộng đồng (các tổng công ty, các địa phương, các tầnglớp dân cư) kết hợp với sự đầu tư của nhà nước đi đôi mở rộng hợp tác quốc tế để
tăng thêm nguồn lực cho XĐGN trong đó ngân sách Nhà nước trích một phần thỏađáng cho công tác XĐGN Ngoài ra, kêu gọi lòng hảo tâm của các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước thông qua các hoạt động xã hội từ thiện, ngày vì người nghèonhằm gây quỹ XĐGN Những hoạt động này thời gian qua cũng mang lại nhiều lợiích thiết thực góp phần rất lớn trong công tác XĐGN ở nước ta
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI VÀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TỈNH
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN VŨ QUANG TÁC
ĐỘNG ĐẾN ĐÓI NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 V ị trí địa lý
Vũ Quang, là một huyện miền núi nằm ở phía tây tỉnh Hà Tĩnh, phía đônggiáp huyện Đức Thọ, phía bắc giáp huyện Hương Sơn, phía nam giáp huyện Hươngkhê, phía tây giáp nước Lào, có đường biên giới Việt- Lào dài 43km, có đường HồChí Minh chạy qua huyện 21km nối thông với các huyện Hương Khê, Hương Sơn,
Đức Thọ và Nghệ An; Có tuyến đường tỉnh lộ 5 nối liền với quốc lộ 8A đây là điều
kiện khá thuận lợi trong việc giao lưu phát triển với các địa phương trong và ngoàitỉnh, có vườn quốc gia Vũ Quang rộng 55.058ha Điều kiện của huyện cho phépphát triển một nền nông nghiệp toàn diện, đặc biệt tiềm năng phát triển kinh tếnông- lâm- ngư nghiệp, kinh tế dịch vụ và du lịch sinh thái, góp phần đẩy mạnhkinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo
2.1.1.2 Đặc điểm thời tiết thủy văn
- Vũ Quang nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa thuộc loại khắc nghiệt,
mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, mùa hạ có gió phơn tây nam (gió
Lào) khô nóng, nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,30C, biên độ nhiệt giao động khá
lớn, nhiệt độ tối cao là 410C, nhiệt độ trung bình tối thấp là 70C, nhiệt độ trung bìnhcủa các tháng mùa đông là 17,50C, mùa hạ trung bình là 31,80C, tổng tích nhiệt lớn,trung bình 1.952 giờ, đủ ánh sáng cho cây trồng phát triển quanh năm
- Tổng lượng mưa bình quân hàng năm khá lớn 2.995,5mm, nhưng phân bố
không đều và thường xảy ra lũ lụt, hạn hán ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống
của dân cư Từ tháng 9 đến tháng 11, lượng mưa chiếm khoảng 70-75% lượng mưa
cả năm, có mùa mưa phụ từ tháng 4 đến tháng 6 nhưng lượng mưa chiếm khôngTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34nhiều lắm trung bình từ 60- 80mm Huyện Vũ Quang có 2 con sông Ngàn Trươi vàNgàn Sâu chảy bao quanh địa bàn, cùng với nhiều hồ đập có trữ lượng nước khá lớn,
đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của dân cư
- Độ ẩm tương đối cao trung bình 85%, các tháng mùa đông trung bình90%, thời kỳ khô hạn kéo dài thường 4-5 tháng, từ tháng 4 đến tháng 8, độ ẩmtrung bình 70%
- Chế độ gió diễn biến theo mùa, từ tháng 4 đến tháng 8 có gió phơn tây namkhô nóng do ảnh hưởng của gió tây nam thổi qua dãy Trường Sơn Từ tháng 10 đến
tháng 3 năm sau có gió mùa đông bắc ẩm lạnh trong đó tháng 1 là thời kỳ gió mùađông bắc hoạt động mạnh nhất, bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 11, tần
suất bão trung bình là 0,4 trận/năm
2.1.1.3 Địa hình, đất đai, thổ nhưỡng
`Địa hình huyện Vũ Quang tương đối phức tạp, không bằng phẳng, bị chia
cắt bởi nhiều khe suối và 2 con sông vì vậy không thuận lợi cho giao thông đi lại vàthủy lợi
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện 63.821,5ha trong đó chủ yếu là đấtlâm nghiệp 53.881ha (chiếm 84,4%), đất nông nghiệp 3291ha (chiếm 5,2%), đấtnuôi trồng thủy sản 16ha (chiếm 0,03%), đất chuyên dùng 1361ha (chiếm 2,13%),
đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 1656ha (chiếm 2,59%), đất bằng chưa sử
dụng 662ha (chiếm 1,04%), đất đồi núi chưa sử dụng 2.559ha (chiếm 4,01%), cònlại là một số đất khác
Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Vũ Quang năm 2007
Đơn vị
hành chính
Diện tích TN
Đất NN
Đất LN
Đất NTTS
Đất ở
Đất CD
Đ chưa SD
Đất khác Toàn huyện 63821,5 3291 53.881 16 229 3.017 3.181 205,5
Trang 35(Nguồn số liệu từ Niên giám thống kê huyện năm 2007)
- Vùng 1: Gồm 6 xã (Ân Phú, Đức Giang, Đức Lĩnh, Đức Bồng, Đức Hương,
Đức Liên) Với diện tích tự nhiên 10.444,2ha chiếm 16% tổng diện tích tự nhiên.Đất nông nghiệp 1.991/10.444,2ha, cao hơn các vùng khác, đất đai tươi tốt, dễ canh
tác, độ dốc vừa phải, đất nông nghiệp được phân bố đều giữa lúa và màu, canh tác
đạt năng suất cao Tuy nhiên, hầu hết đất nông nghiệp thấp, trũng dễ bị ngập lụt; đất
lâm nghiệp chủ yếu là đồi cao sỏi đá cằn cỗi canh tác hiệu quả kinh tế thấp
- Vùng 2: Gồm 2 xã biên giới (Hương Quang và Hương Điền) thuộc vùngrừng núi, với diện tích 35.648ha, chiếm 55% tổng diện tích tự nhiên, xã Hương
Điền không có ruộng; vùng này đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng không đáng kể
275/35648ha, chủ yếu là đất bãi và ven đồi, năng suất cây trồng thấp, đất lâmnghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhưng chủ yếu là diện tích rừng thuộc vườn quốc gia VũQuang quản lý
- Vùng 3: Gồm 4 xã (Sơn Thọ, Hương Thọ, Hương Minh và Thị trấn VũQuang) Với diện tích 17.729ha chiếm 27% tổng diện tích tự nhiên Vùng này tỷtrọng đất nông nghiệp chiếm ít hơn 1.025/17.729ha Đất đai chỉ có xã Hương Minh
đất tốt, dễ canh tác, các xã còn lại đất ruộng ít chủ yếu là ruộng khe độ chua cao,năng suất thấp, đất trồng màu hầu hết là đất ven đồi và đất bãi độ dốc cao, bạc màu,chi phí đầu tư cao, năng suất thấp Nhưng vùng này đất lâm nghiệp tương đối tốt các
diện tích rừng trồng đạt hiệu quả kinh tế cao
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 362.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội
2.1.2.1 Tình hình dân s ố và lao động
Tổng dân số toàn huyện năm 2007 là 32.602 người, mật độ dân số bình quân
51 người/ km2, với 8.373 hộ, trong đó hộ SXNN là 6.705 hộ chiếm 80,07% tổng số
hộ, dân số của huyện từ năm 2005- 2007 hầu như không tăng thậm chí có chiều
hướng giảm vì tỷ lệ tăng tự nhiên nhỏ hơn tỷ lệ giảm cơ học Huyện có dân tộc LàoThơng dân tộc thiểu số gồm có 93 hộ, với 443 nhân khẩu thuộc bản Kim Quang xãHương Quang họ sống co cụm, tập quán sinh hoạt còn rất lạc hậu
Tổng số lao động trong độ tuổi của huyện năm 2007 là 17.412 người (trong
đó có khả năng lao động 16.455 người) chiếm 53,47% tổng dân số, lao động nông
nghiệp chiếm trên 85%, lao động hàng năm tăng không đáng kể do lao động trưởng
thành đi làm ăn nơi khác, đi học ngành nghề Lực lượng lao động của huyện khá
dồi dào nhưng chất lượng thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, việc làm thiếu, thunhập thấp, tỷ lệ người ăn theo cao, bình quân 1 lao động phải nuôi 2 người ăn theo
Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động huyện Vũ Quang
từ năm 2005- 2007
2 Tổng số hộ
a Hộ sản xuất nông nghiệp
b hộ sản xuất phi nông nghiệp
người người người
8.1076.8911.216
8.2126.8161.396
8.3736.6981.675
3 Tổng số lao đông
a Lao động nông nghiệp
b Lao động phi nông nghiệp
người người người
17.38414.6312.753
17.39014.5962.794
17.41214.4502.962
(Nguồn số liệu từ Niên giám thống kê huyện Vũ Quang năm 2007)
2.1.2.2 Cơ sở hạ tầng
Huyện Vũ Quang mới được thành lập gần 10 năm, được sự quan tâm đầu tưcủa Trung ương và của tỉnh cơ sở hạ tầng của huyện từng bước được đầu tư xâydựng theo nhu cầu thiết yếu của sản xuất và đời sống của nhân dân trong huyện
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37- Về giao thông nông thôn: Thực hiện nghị quyết 03 của Ban Chấp hành
Huyện ủy khóa I về công tác giao thông nông thôn, Nghị quyết Đại hội Huyện
Đảng bộ lần thứ II, thời gian qua các địa phương trong huyện đã tổ chức nhiều đợtphát động ra quân làm giao thông nông thôn, với phương châm Nhà nước và nhândân cùng làm đã huy động được hàng ngàn ngày công đào đắp hàng vạn mét khốiđất đá, phát sẽ các tuyến đường liên thôn liên xóm củng cố lại toàn bộ hệ thốnggiao thông nông thôn, đảm bảo thuận tiện cho việc đi lại, sinh hoạt và sản xuất của
nhân dân Khi huyện mới thành lập chưa có ki lô mét đường nhựa nào, đến cuối
năm 2008 toàn huyện đã có hơn 93 km đường nhựa và 81km đường bê tông, 42kmđường cấp phối
- Về thuỷ lợi: Hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu cho sản xuất được quan
tâm đầu tư phát triển, đã xây dựng và củng cố được 69 hồ, đập lớn nhỏ với dunglượng 4.629.900m3 nước, đảm bảo tưới diện tích 784ha Hệ thống cống, rãnh,kênh mương nội đồng được nạo vét từng bước kiên cố hóa, toàn huyện xây dựngđược 43km kênh mương cứng Hiện nay, huyện đang được Nhà nước đầu tư dự án
thuỷ lợi Ngàn Trươi- Cẩm Trang đây là một dự án lớn với tổng kinh phí trên 4000
tỷ, dung lượng của hồ chứa nước khoảng 70 tỷ m3 nước, công trình mới bắt đầu
khởi công xây dựng
- Về điện thắp sáng: Toàn huyện có 40 trạm biến áp, 101/101 thôn xóm có
điện lưới quốc gia, 99,5% hộ có điện thắp sáng (8.334/8.373 hộ) Hệ thống lướiđiện được đầu tư nâng cấp vừa đảm bảo tiết kiệm điện và an toàn cho tính mạng của
nhân dân
- Về nước sinh hoạt: Huyện được Nhật Bản đầu tư dự án RIBIC xây dựng
nhà máy nước gồm 3 máy bơm mỗi máy công suất 37kw, bồn chứa dung lượng
500m3 kinh phí đầu tư giai đoạn 1 là 19 tỷ đồng công trình đã bàn giao đưa vào sử
dụng Đến nay toàn huyện có 78,3% hộ dân sử dụng nước sạch bằng nước máy vàgiếng khoan đạt quy chuẩn
- Về văn hóa- giáo dục:
+ Đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân trong huyện ngày càng đượcnâng lên rõ rệt, 12/12 xã có bưu điện văn hóa xã, hơn 58,3% hộ gia đình có tivi, cóTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 381.683 máy điện thoại thuê bao cố định, hơn 30% số hộ có xe máy, 80% nhà ởđược ngói hóa trong đó có hơn 50% được xây dựng kiên cố Đặc biệt thời gian qua
thực hiện chủ trương xóa nhà tranh tre dột nát, toàn huyện đã vận động nhân dânquyên góp thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm đã xóa được
2955 căn nhà tranh tre với tổng kinh phí 14,775 tỷ đồng và ngói hóa được 49 cănnhà với kinh phí 490 triệu đồng
Thực hiện cuộc vận động "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", 5
năm qua, huyện đã xây dựng được 49 làng văn hóa cấp tỉnh và huyện, có 3.555 giađình được công nhận là gia đình văn hóa và xây dựng được 25 hương ước làng xã
+ Về giáo dục đào tạo: Năm học 2007-2008, toàn huyện có 13 trường mầmnon, 75 lớp với 1.298 cháu, 13 trường tiểu học, 126 lớp với 2.693 em học sinh, 7
trường THCS, 109 lớp có 3.459 em học sinh; 1 trường THPT 30 lớp với 1.347 em
học sinh; 1 trung tâm giáo dục thường xuyên có 7 lớp bổ túc văn hóa, 2 lớp đại họctại chức, 1 lớp trung cấp mầm non; 12/12 xã có trường học cao tầng Trường chuẩnquốc gia khối THCS có 5/7 trường, khối tiểu học có 4/13 trường; huyện đã hoànthành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và hoàn thành phổ cập THCS theo chuẩn quốcgia Tổng số giáo viên mầm non: 83 người, giáo viên tiểu học: 176 người; giáo viên
THCS: 206 người; giáo viên THPT: 64 người Cơ sở vật chất, phòng cao tầng toàn
huyện có 181 phòng chiếm tỷ lệ 56%, phòng tre lá tạm bợ 25 phòng chiếm 7%, sốcòn lại là cấp 3, cấp 4
Bảng 2.3: Tình hình giáo dục đào tạo huyện Vũ Quang từ 2005-2007
34131371
34131371
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 393407512610930
-132-14-54
971029096115
4997316221054
5298317620664
301014-410
10611310899118
9.8021.2783.3143.9121.298
8.7971.2982.6933.4591.347
-1.00520-621-45349
901018289103
(Nguồn số liệu Niên giám thống kê huyện Vũ Quang năm 2007)
Nhìn vào bảng số liệu dễ thấy rằng bậc học tiểu học và THCS quy mô giáo dục
có chiều hướng giảm dần do dân số giảm cơ học, nhưng đội ngũ giáo viên được tăng
cường đầy đủ hơn, cơ sở vật chất trường học được tăng cường nhiều hơn Trong nhữngnăm qua chất lượng dạy và học đã không ngừng được nâng lên một cách rõ rệt
- Về y tế: Toàn huyện có 15 trạm y tế xã trong đó có 1 phòng khám đa khoakhu vực, 1 bệnh viện huyện có 134 giường bệnh, toàn huyện 147 cán bộ nhân viên
y tế, trong đó có 16 bác sỹ, 57 y sỹ, 44 y tá Có 6 trạm y tế xã có bác sỹ chiếm 50%tổng số trạm Cơ sở vật chất trang thiết bị được tăng cường, mạng lưới y tế thôn bản
được củng cố và mở rộng
- Về xây dựng cơ bản: Được sự quan tâm đầu tư của Trung ương và tỉnh HàTĩnh các công trình trọng điểm như hệ thống giao thông, thủy lợi, điện thắp sáng,trạm y tế, trường học và một số công trình phúc lợi xã hội khác như chợ, trụ sở làmviệc của các cơ quan huyện và xã đã được đầu tư xây dựng cơ bản và đưa vào sửdụng Tổng vốn đầu tư xây dựng tính từ 2005-2008 là 137.394 triệu đồng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40Bảng 2.4: Tình hình xây dựng cơ bản phân theo ngành nghề của huyện
Số
lượng
C cấu (%)
Số
lượng
C cấu (%)
Y tế- trợ giúp XH 10.138 24,78 500 0,77 1.500 4,72
Văn hóa- nghệ thuật 2.000 4,89 3.150 4,87 1.500 4,72
(Nguồn số liệu Niên giám thống kê huyện Vũ Quang năm 2007)
Cơ cấu đầu tư của huyện còn nhiều bất cập, nhiều lĩnh vực chưa được quantâm như lĩnh vực văn hóa, vui chơi giải trí, cơ sở hạ tầng phát triển công thương
nghiệp nói riêng và lĩnh vực kinh tế nói chung Tuy nhiên, bảng số liệu chưa phảnánh hết vốn đầu tư của huyện ví dụ như các công trình trụ sở, giao thông, chợ…
lượng đầu tư khá lớn nhưng ngành thống kê chưa tổng hợp được
2.1.2.3 Tình hình phát tri ển kinh tế của huyện
Khi mới thành lập nền kinh tế của huyện hết sức yếu kém, điểm xuất phátthấp Trước tình hình đó đại hội huyện đảng bộ lần thứ I và lần thứ II đã đề ra chủ
trương phát triển nền kinh tế tổng hợp theo hướng cơ cấu nông- lâm- thương mại
dịch vụ- tiểu thủ công nghiệp Do đó kinh tế của huyện đã có những bước chuyểnbiến tích cực nhất là việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cải tạo rừng tạp,
vườn tạp thành rừng cây, vườn cây lâm nghiệp, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao,ứng dụng rộng rãi KHKT vào sản xuất và đời sống, phát triển đa dạng ngành nghề-
dịch vụ tăng thêm thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân Mức tăng trưởng kinh tếbình quân hàng năm đạt 12%/năm
Trường Đại học Kinh tế Huế