1.2.1 Mục tiêu chung Tìm hiểu tình hình cung ứng đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất trồng trọt của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Yên Mô, từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả cung ứng đầu vào phục vụ sản xuất trồng trọt cho các hộ trên địa bàn. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Góp phần hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về đầu vào và cung ứng đầu vào trong hoạt động sản xuất trồng trọt. Đánh giá tình hình cung ứng đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất trồng trọt cuả các hộ nông dân trên địa bàn huyện Yên Mô Đề xuất một số định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả cung ứng đầu vào phục vụ sản xuất trồng trọt cho nông dân trên địa bàn.
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nói đến sản xuất là nói đến việc sử dụng các nguồn lực hay các yếu tố đầu vào theo một quy trình kỹ thuật nhất định nhằm tạo ra những sản phẩm đầu ra đáp ứng được kỳ vọng của xã hội Đã từ lâu đầu vào trong sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng, quyết định đến năng suất và chất lượng sản phẩm Ngày nay, mục tiêu mà nông nghiệp của nước ta cần hướng đến là một nền nông nghiệp chất lượng cao với các loại nông sản thỏa mãn yêu cầu hội nhập, phục vụ nội tiêu, xuất khẩu, có sức cạnh tranh tốt Muốn vậy nông nghiệp cần phải chuyển hướng phát triển theo chiều sâu, trên cơ sở phát triển khoa học nông nghiệp, những tiến bộ kỹ thuật mới, để lựa chọn và tạo ra các loại đầu vào mới, chất lượng tốt nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất trồng trọt của bà con nông dân
Sản xuất trồng trọt cần nhiều các yếu tố như vốn, lao động, kỹ thuật, vật
tư (giống, phân bón, thuốc BVTV,…) Nhưng để các đầu vào mới được đưa vào thực tiễn sản xuất đòi hỏi phải có quá trình cung ứng Cung ứng chính là cầu nối giữa sản xuất, nghiên cứu với việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn Hiện nay có rất nhiều loại đầu vào mới có chất lượng tốt xuất hiện đã góp phần làm năng suất và chất lượng cây trồng tốt hơn và nhờ có cung ứng mà các đầu vào mới này được đưa tới tay bà con nông dân Hệ thống cung ứng đã tạo ra
sự thuận tiện cho các nông dân tiếp cận với các đầu vào mới thông qua các cửa hàng bán lẻ, các phòng nông nghiệp, các trạm khuyến nông, hợp tác xã nông nghiệp, các tổ chức xã hội…Để họ có thể tự chọn mua loại đầu vào nào, số lượng bao nhiêu và được tư vấn kỹ thuật sản xuất.Tuy việc cung ứng đầu vào trong sản xuất nông nghiệp phong phú với nhiều hình thức nhưng có nhiễu loạn thông tin thị trường, một phần do sự hiểu biết của người dân còn thấp đặc biệt người dân sống ở vùng cao, vùng sâu dân tộc thiểu số việc tiếp cận các thông tin rất hạn chế, sản xuất còn mang nặng tính truyền thống Mặt khác, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ, vật tư nông nghiệp gặp nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm, thường phân phối qua nhiều khâu trung gian khi đến tay người dân thì giá quá cao và nhiều khi không đáp ứng đủ nhu
Trang 2cầu của nông dân Bên cạnh đó các tổ chức, đoàn thể quần chúng ở cơ sở là những trung gian hoạt động rất hiệu quả nhưng chưa được sử dụng một cách tích cực và chưa phát huy được hết vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình Do vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để đảm bảo được nguồn cung ứng đầu vào vững chắc cho sản xuất nông nghiệp, dung hoà hợp lý giữa giá bán các sản phẩm sản xuất trong nước với giá nhập khẩu, đảm bảo lợi ích cộng đồng trong dây chuyền cung ứng giữa người sản xuất, người nhập khẩu và người dân?
Yên Mô là một huyện thuần nông, nằm ở phía đông nam của tỉnh Ninh Bình Trong quá trình phát triển kinh tế, huyện còn gặp nhiều khó khăn nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là hoạt động sản xuất trồng trọt Trình độ dân trí chưa cao, các thông tin thị trường còn xa lạ với nông dân, dịch
vụ và các ngành kinh doanh phục vụ nông nghiệp ít phát triển, nguồn vốn đầu tư còn ít Bên cạnh đó đây cũng là nơi có nguồn tài nguyên khá phong phú và nhiều đất đai, thời tiết phù hợp dể phát triển các cây trồng như: lúa nước, ngô, đậu tương…biết khai thác tốt sẽ đạt hiệu quả kinh tế cao Vì vậy, để đưa kinh tế vùng
đi lên thì giải pháp hữu hiệu và cần thiết là tiến hành quy hoạch những vùng sản xuất tập chung và chuyên môn hoá đi sâu và phát triển những cây trồng có lợi thế so sánh Muốn vậy thì cần phải quan tâm đến việc cung ứng các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất trồng trọt Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Tìm hiểu tình hình cung ứng đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất trồng trọt của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình.”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu tình hình cung ứng đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất trồng trọt của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Yên Mô, từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả cung ứng đầu vào phục vụ sản xuất trồng trọt cho các hộ trên địa bàn
Trang 31.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ nông dân hoạt động sản xuất trồng trọt và các nguồn cung ứng đầu vào phục vụ sản xuất trồng trọt trên địa bàn (Phòng nông nghiệp; ngân hàng NN&PTNT; ngân hàng chính sách xã hội; hệ thống các cửa hàng vật tư nông nghiệp; các tổ chức đoàn thể xã hội; các doanh nghiệp, nhà máy phục vụ hỗ trợ cung ứng cho sản xuất NN)
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nội dung: Các nguồn cung ứng đầu vào chủ yếu phục vụ hoạt
động sản xuất trồng trọt cuả các hộ nông dân trên địa bàn huyện Yên Mô và đánh giá của nông dân về các nguồn cung ứng đó
+ Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu tại huyện Yên Mô tỉnh Ninh
Bình
+ Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu đề tài vòng 3 năm từ năm
2007- 2009 Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 24/1/2010 đến ngày 10/5/2010
Trang 4PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
và còn là nguồn xuất khẩu có giá trị theo giá trị sử dụng
Cây trồng được phân thành các nhóm: cây lương thực (lúa, ngô, sắn),cây công nghiệp (cây lấy đường, cây lấy dầu, cây lấy nhựa, cây lấy chất kích thích, cây lấy sợi, cây lấy tinh dầu, cây làm thuốc); cây thực phẩm (rau, đậu, cây ăn quả)
Trong quá trình phát triển kinh tế, sản xuất trồng trọt cần phải được phát triển để đáp ứng với nhu cầu ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm của xã hội Hoạt động sản xuất trồng trọt phụ thuộc nhiều vào điều kiện khách
quan, trước hết trồng trọt khác cơ bản với các ngành khác ở chỗ tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai Gắn liền với vai trò chủ đạo của đất đai là ảnh hưởng của thời tiết, độ màu mỡ, cấu tạo thổ nhưỡng của đất đai mỗi nơi mỗi khác nên việc lựa chọn cơ cấu cây trồng và kĩ thuật canh tác là khác nhau Sản xuất trồng trọt có phát triển ổn định hay không còn phụ thuộc trình độ thâm canh của người dân, quy mô sản xuất, … và đặc biệt
là mức độ đầu tư (giống, phân bón, thuốc BVTV, lao động, công nghệ…) vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm trồng trọt.
Trang 52.1.2 Lí luận về cung ứng đầu vào
2.1.2.1 Lí luận về đầu vào
a Khái niệm về đầu vào
Đầu vào là các chi phí về lao động, vật tư, tiền vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh (Từ điển Tiếng Việt, 2005, NXB Đà Nẵng)
Đầu vào là những yếu tố sản xuất, hoặc dịch vụ nào đó được dùng để sản xuất đầu ra Đầu vào nông nghiệp bao gồm: lao động, đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất.(Đỗ văn Viện, 2006, giáo trình quản trị doanh nghiệp nông nghiệp NXB nông nghiệp)
Theo quan điểm của các nhà kinh tế, đầu vào là các nhân tố sản xuất (tư bản, lao động,…) được đưa vào quá trình sản xuất và kết hợp với nhau để tạo
ra sản lượng Nó là các khoản tài nguyên tiêu tốn tính theo giá thị trường và được biểu hiện bằng chi phí sản xuất: tiền mua nguyên vật liệu vật tư, chi phí thuê lao động, địa điểm,…Trong sản xuất kinh doanh các chủ doanh nghiệp phải lựa chọn đầu vào tối ưu và sử dụng có hiệu quả các đầu vào đó để tối thiểu hoá chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận
Theo quan điểm cổ điển, đầu vào chỉ bao gồm nguyên liệu, vốn và lao động còn theo quan điểm mới ngoài các yếu tố trên đầu vào còn có đóng góp của tri thức Trong nền kinh tế tri thức, đầu vào này sẽ chiếm một tỷ trọng rất lớn so với các đầu vào còn lại Chẳng hạn, trong sản xuất trồng trọt, ứng dụng CNSH như: chuyển gen mang tính trạng tốt vào giống cây trồng, nhằm tạo ra những giống có năng suất cao, thích nghi với điều kiện thời tiết khắc nghiệt, có khả năng chống chịu dịch bệnh hoặc tạo ra các chế phẩm sinh học bảo vệ cây trồng Hiện nay, nhiều nông dân đã ứng dụng CNSH vào trồng trọt và đạt hiệu quả kinh tế khá cao Đơn cử như việc dùng các chế phẩm phòng trừ sâu bệnh, kích thích cây ra hoa sớm, đồng loạt đậu trái, cho năng suất cao gấp 1,5 - 4 lần
so với cách chăm sóc truyền thống
Trang 6b Các yếu tố đầu vào trong sản xuất trồng trọt
Trong sản xuất trồng trọt các yếu tố đầu vào chủ yếu bao gồm: đất đai, lao động, vốn, kỹ thuật và công nghệ, tài nguyên thiên nhiên( rừng, biển, động thực vật và nguồn nước) và môi trường, và các tư liệu sản xuất khác Quy mô và chất lượng của các đầu vào quy định quy mô và hiệu quả của ngành trồng trọt Việc khai thác và sử dụng tốt các đầu vào sẽ tạo nên trạng thái cân bằng của ngành trồng trọt, tạo điều kiện nâng cao thu nhập và tích lũy cho nông nghiệp Tùy theo đặc điểm về hoạt động sản xuất trồng trọt mà các đầu vào trên được sử dụng ở phạm vi và quy mô khác nhau Tuy nhiên, các đầu vào này luôn khan hiếm cả về lượng và chất và việc sử dụng chúng lại mang tính cạnh tranh giữa các phương thức sử dụng khác nhau Vì thế, việc sử dụng các loại đầu vào trong sản xuất trồng trọt sẽ bao gồm việc phân tích đặc điểm của từng loại đầu vào đó, phương hướng sử dụng các đầu vào
và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng Trong phạm vi đề tài thì chủ yếu nghiên cứu đến các yếu tố đầu vào như: lao động, vốn, vật tư (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật), khoa học công nghê
- Vốn: là yếu tố nội lực quan trọng nhất của các doanh nghiệp cũng
như trong các nông hộ, nó ảnh hưởng sâu sắc, trực tiếp và có ý nghĩa quyết định đến hoạt động sản xuất của nông hộ Đây là điều kiện để các hộ tái đầu
tư mở rộng sản xuất, nâng cao năng suất, sản lượng
- Vật tư nông nghiệp (giống, phân bón, thuốc BVTV,…) và các yếu
tố khác cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động sản xuất trồng trọt, tác động trực tiếp tới năng suất, phẩm chất của cây trồng Nếu sử dụng các yếu tố này một cách cân đối, hợp lý thì vừa nâng cao năng suất, hiệu quả đầu
tư vừa góp phần bảo vệ, cải tạo đất
+ Giống cây trồng là một nhóm cây trồng có các đặc điểm kinh tế, sinh
học giống nhau và tính trạng hình thái giống nhau ở các vùng sinh thái và điều kiện kỹ thuật phù hợp
Trang 7+ Phân bón: Trong sản xuất trồng trọt phân bón là 1 yếu tố quan trọng cần
thiết và không thể thiếu “nhất nước nhì phân tam cần tứ giống” Phân bón là những bổ sung cho đất được dùng để thúc đẩy cây cối phát triển; các loại chất dinh dưỡng có trong phân bón là nitơ, phốt pho, kali và các chất dinh dưỡng khác được thêm vào với những số lượng nhỏ Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật được thực hiện phổ biến, thường mang lại hiệu quả lớn, nhưng cũng chiếm phần khá cao trong chi phí sản xuất nông nghiệp
+Thuốc BVTV: Là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất
tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật Những sinh vật gây hại chính gồm sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác nhân khác Mặt khác, thuốc BVTV còn được dùng để kích thích cây trồng tăng trưởng và phát triển là một yếu tố quan trọng góp phần làm tăng sản lượng cây trồng và giảm các thiệt hại trước thu hoạch
- Khoa học công nghệ
+ Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội mà con người thu nhận được thông qua hoạt động nghiên cứu Khoa học cũng đồng thời là hoạt động của con người sáng tạo ra tri thức mới
+ Công nghệ là tri thức có hệ thống dùng để sản xuất ra một loại hàng hoá hay tiến hành một loại dịch vụ nào đó Công nghệ là kết quả sử dụng tri thức khoa học, nghiên cứu công phu mới tạo ra được
* Vai trò của công nghệ trong sản xuất trồng trọt
Công nghệ có vai trò hết sức quan trọng trong sản xuất nói chung và sản xuất trồng trọt nói riêng Vai trò của công nghệ thể hiện qua các mặt sau:
- Công nghệ giúp cho quá trình sản xuất diễn ra có hiệu quả: nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm
- Công nghệ là hướng để làm tăng sản phẩm trong điều kiện nguồn lực ngày càng khan hiếm Trong khi các tài nguyên khác như đất đai, lao động… trở nên ngày một khan hiếm thì công nghệ giúp con người sản xuất ra nhiều sản
Trang 8phẩm hơn so với khối lượng nguồn lực đầu vào không đổi, thậm chí còn ít hơn.
- Công nghệ làm cho các đầu vào trong sản xuất trồng trọt ngày càng đa dạng hơn Thực tiễn có thể chứng minh càng ngày người nông dân càng có nhiều lựa chọn hơn trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào trong sản xuất kinh doanh, điều này có phần đóng góp rất lớn của công nghệ trong nông nghiệp
- Công nghệ làm cho người sản xuất có thu nhập cao hơn và thời gian rảnh rỗi dài hơn do đó góp phần tăng chất lượng cuộc sống người nông dân
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường việc cung ứng đầu vào, đặc biệt là công tác chuyển giao công nghệ mới, kỹ thuật tiến bộ vào trong sản xuất trồng trọt đóng vài trò to lớn trong phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, tác động làm dịch chuyển đường cung sang bên phải làm tăng mức tiêu dùng xã hội với chi phí thấp hơn
0
D: đường cầu thị trường So: Đường cung trước khi áp dụng KTTB
S1: Đường cung sau khi áp dụng KTTB
Đồ thị 1 Biểu thị phối hợp lợi ích xã hội khi áp dụng KHCN
Qua đồ thị ta thấy lợi ích xã hội tăng khi áp dụng tiến bộ kỹ thuật
• Đặc điểm của công nghệ trong sản xuất trồng trọt
+ Công nghệ trồng trọt gắn liền với quá trình sinh học, việc xây dựng và
áp dụng công nghệ trong nông nghiệp phải tuyệt đối tuân thủ quy luật của sinh vật
+Công nghệ trong trồng trọt là sự kết hợp chặt chẽ các kỹ thuật hiện đại
và cổ truyền
+ Công nghệ trong trồng trọt đang được xây dựng theo hướng của một nền nông nghiệp bền vững
- Lao động: Theo Ricacdo thì “lao động là cha, đất đai là mẹ đẻ ra của
cải vật chất” Lao động là hoạt động có mục đích của con người thông qua
Trang 9công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động để biến đổi chúng thành của cải vật chất cho nhu cầu của mình.
Mỗi ngành sản xuất khác nhau thì mang những đặc điểm khác nhau, vì vậy mà lao động trong ngành trồng trọt cũng mang đặc điểm riêng nhưng nhìn chung thì lao động trong ngành trồng trọt cũng mang những đặc điểm chung của lao động nông nghiệp
+ Lao động ít chuyên sâu: Điều này thể hiện là một lao động có thể làm nhiều việc khác nhau và nhiều lao động có thể thực hiện một công việc Đặc điểm này xuất phát từ thực tế hoạt động sản xuất nông nghiệp không đòi hỏi về trình độ tay nghề cao như trong sản xuất công nghiệp Ngoài ra, tập quán canh tác, tính chất công việc cũng ảnh hưởng đến tính chuyên sâu trong sản xuất nông nghiệp
+Việc sử dụng lao động mang tính thời vụ: Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có những thời kỳ không cần hoặc cần rất ít sự tác động của con người, nhưng lại cũng có những giai đoạn cần rất nhiều lao động Điều này làm cho nhu cầu về lao động trong nông nghiệp rất khác nhau trong từng giai đoạn của sản xuất, làm cho giá tiền công trong lao động nông nghiệp biến động nhiều
+ Lao động nông nghiệp diễn ra trong phạm vi rộng lớn, đa dạng về địa bàn và điều kiện sản xuất do hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra trên phạm
vi rộng lớn với đặc điểm phức tạp của từng vùng
+ Phần lớn lao động nông nghiệp ít được đào tạo: Do sản xuất nông nghiệp thường ít hấp dẫn trên phương diện đầu tư, chịu rủi ro cao nên việc thu hút lao động được đào tạo vào nông nghiệp là vấn đề rất khó khăn Điều này cũng gây ra những trở ngại và khó khăn rất lớn đến việc tiếp thu và đổi mới công nghệ trong sản xuất và việc thực thi các chính sách của nhà nước
* Các loại lao động trong sản xuất trồng trọt
Theo nguồn lao động thì lao động được phân làm 3 loại sau:
+ Lao động nông hộ hay lao động hộ gia đình là toàn bộ những người có
Trang 10khả năng lao động trong nông nghiệp của nông hộ đó, nguồn lao động này bao gồm những người trong tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng lao động Lao động của nông hộ biến động theo quy luật nhân khẩu của gia đình
+ Lao động đổi công: Từ đặc điểm của lao động nông nghiệp có thể thấy rằng, trong những thời vụ căng thẳng thì các nông hộ thường thiếu lao động và khi hết vụ thì nông hộ lại dư thừa lao động Để khắc phục tình trạng này thì nông
hộ thường tiến hành đổi công cho nhau
+ Lao động thuê ngoài: Đối với các nông trại có quy mô sản xuất khá lớn, quan hệ thị trường được mở rộng, tính chuyên môn hoá bắt đầu được quan tâm, lao động gia đình không đủ để giải quyết các công việc trong sản xuất thì lao động thuê ngoài thường chiếm một vị trí trọng yếu Mặc dù vậy, nhưng lao động thuê ngoài của nông hộ thường thấp hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp
c Vai trò của các yếu tố đầu vào trong sản xuất trồng trọt
Đầu vào là yếu tố rất quan trọng và không thể thiếu trong bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, muốn tiến hành sản xuất thì phải có các yếu
tố đầu vào Nhất là trong sản xuất trồng trọt đầu vào là yếu tố quan trọng và rất cần thiết nó bao gồm đất đai, lao động, vốn, công nghệ và các tư liệu sản xuất khác Sản xuất trồng trọt mang tính thời vụ cao do vậy việc sử dụng các yếu tố đầu vào đầy đủ, kịp thời sẽ quyết định thắng lợi của cả quá trình sản xuất Sử dụng đầu vào đúng lúc, hợp lý còn có thể giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất, tăng lợi nhuận và thu nhập cho người lao động
Các yếu tố đầu vào quyết định trực tiếp tới lượng sản phẩm đầu ra Trong sản xuất trồng trọt, sản lượng đầu ra (Q) là năng suất cây trồng đạt được trên một đơn vị diện tích, các yếu tố đầu vào (X1,X2,…Xn) là lượng giống, phân bón, thuốc BVTB, công lao động đầu tư trên đơn vị diện tích đó trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh Các đầu vào tuân theo quy luật hiệu suất cận biên giảm dần Mối quan hệ giữa các yếu tố đàu vào được biểu hiện thông qua hàm sản xuất: Q= f(X1,X2,…,Xn)
Trang 112.1.2.2 Lí luận về cung ứng
a Khái niệm cung ứng
Cung là số lượng hàng hóa dịch vụ mà người sản xuất (với tư cách là người bán) có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau (mức giá có thể chấp nhận được) trong phạm vi không gian và thời gian nhất định khi các
yếu tố khác không thay đổi
Cung ứng thực chất là hoạt động dịch vụ cung cấp sản phẩm hàng hoá cho thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu về sản xuất và tiêu dùng
Cung ứng là quá trình hoạt động kinh doanh bắt đầu từ khâu tạo nguồn hàng cho đến khâu giao hàng hoá dịch vụ đó đến tận tay người tiêu dùng Trong nền kinh tế mở như hiện nay thì việc cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng đang được các nhà sản xuất, kinh doanh đặc biệt quan tâm Cung ứng hợp
lý làm tăng sức mua của người dân, tạo động lực cho sản xuất phát triển, làm tăng sản lượng hàng hoá, tăng thu nhâp cho người lao động
Cung ứng sản phẩm là cầu nối trung gian giữa người bán và người mua Đối với người bán, nếu cung ứng tốt tức chuyển được nhiều sản phẩm hàng hoá tới người tiêu dùng và đạt được hiệu quả cung ứng cao, lợi nhuận thu được lớn,
có được độ tin cậy trên thị trường Còn đối với người mua, nếu hoạt động này có hiệu quả thì người mua sẽ mua được hàng hoá mà họ cần, họ không mất nhiều thời gian để tìm kiếm những sản phẩm mà họ cần Họat động cung ứng ngày càng nhiều thì người tiêu dùng không phải đi xa để mua những sản phẩm mà họ cần Để hoạt động cung ứng đầu vào trong sản xuất trồng trọt được thực hiện tốt cần phải qua các kênh bán hàng trung gian đó là các nhà phân phối, cấp đại lý, cấp ban buôn, cấp bán lẻ, phòng nông nghiệp huyện, hợp tác xã nông nghiệp, các
tổ chức xã hội ở địa phương… các và cuối cùng là đến tay người nông dân Để quá trình cung ứng tốt thì phải để sản phẩm của mình đến tay người tiều dùng nhanh nhất và tiết kiệm chi phí bán hàng nhất
Trang 12b Vai trò của cung ứng đầu vào trong sản xuất trồng trọt
- Trong sản xuất trồng trọt việc cung ứng đầy đủ, kịp thời các yếu tố đầu vào là rất quan trọng và cần thiết, tạo điều kiện để người dân có thể đạt được phương hướng sản xuất kinh doanh, thực hiện chuyên môn hóa sản xuất tốt, đầu
tư thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm
- Đáp ứng các yêu cầu về đầu vào cho sản xuất trồng trọt của các hộ nông dân, cung cấp cho người dân những giống mới, kỹ thuật mới có năng suất, chất lượng cao, tạo điều kiện để người dân thâm canh tăng năng suất, tăng cường hợp tác liên doanh, liên kết trong nông nghiệp, nông thôn
- Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu, mùa
vụ và đặc tính sinh thái của cây trồng, vật nuôi do vậy việc cung ứng đầu vào một cách đầy đủ, kịp thời sẽ quyết định thắng lợi của cả quá trình sản xuất, giảm bớt chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, tăng thu nhập cho người lao động
c Đặc điểm của cung ứng đầu vào trong sản xuất trồng trọt
Những đặc điểm của cung ứng đầu vào trong sản xuất trồng trọt gắn liền với những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và thị trường nông sản
- Mang tính thời vụ cao: Hoạt động cung ứng đầu vào diễn ra mạnh mẽ vào những thời điểm nhất định Chẳng hạn hoạt động tập huấn kỹ thuật, tham quan, hội thảo đầu bờ… diễn ra nhiều vào thời gian nông nhàn, hoạt động cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sôi nổi vào đầu và giữa vụ sản xuất
- Các đầu vào có quan hệ mật thiết với nhau trong sản xuất, sự tiêu hao đầu vào phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và tính chất vùng, vì vậy việc cung ứng chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện khí hậu Nhất là đối với đầu vào giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật dễ bị hư hỏng, giảm chất lượng trong quá trình bảo quản, vận chuyển
- Cung ứng đầu vào còn phụ thuộc vào phương hướng sản xuất của hộ
- Thu hồi vốn chậm do chu kỳ sản xuất trồng trọt dài
- Cung ứng mang tính phân tán, ít tập trung và có rủi ro cao
Trang 13Cung ứng đầu vào trong nông nghiệp Cung ứng đầu vào trong công nghiệp
- Không mang tính thời vụ-Thu hồi vốn nhanh
2.1.2.3 Các nguồn cung ứng đầu vào trong NN và chức năng của từng nguồn
a Các cơ quan về nông nghiệp: sở NN & PTNT, phòng NN & PTNT
Các cơ quan về nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân Thực hiện tập trung công tác chuyển dịch
cơ cấu cây trồng vật nuôi đưa các giống mới có tiềm năng, năng suất, hiệu quả kinh tế cao vào trong sản xuất như các giống lúa lai, ngô lai chịu hạn, lạc chịu hạn… và một số loại cây trồng có giá trị kinh tế cao khác góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tạo ra vùng sản xuất hàng hóa tập trung chuyên canh, thâm canh có năng suất, chất lượng cao Tăng cường công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật xây dựng triển khai thực hiện các mô hình trình diễn, phối hợp với trạm khuyến nông huyện, UBND các cấp, các tổ chức đoàn thể làm tốt công tác tập huấn kỹ thuật cho các hộ nông dân áp dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ mới; chuyển đổi diện tích lúa có năng suất thấp sang các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị cao Phối hợp chặt chẽ với Đảng uỷ, chính quyền các cấp, các ngành chức năng tổ chức triển khai có hiệu quả các dự án đầu
tư trong lĩnh vực nông nghiệp Tổ chức xây dựng mô hình đưa giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt vào sản xuất đồng thời thực hiện tốt các chính sách
hỗ trợ nông dân trong sản xuất nông lâm nghiệp
Phối hợp với các ngành chức năng, UBND các xã, thị trấn trạm bảo vệ thực vật, ban chỉ đạo sản xuất các cấp làm tốt công tác dự tính, dự báo đảm bảo
an toàn dịch bệnh cho cây trồng
Phối hợp với các công ty sản xuất vật tư nông nghiệp (phân bón, thuốc BVTV, giống…) tạo ra 1 kênh cung ứng vật tư uy tín, nhanh, gọn và hiệu quả đến tay người nông dân
Trang 14b Ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Trong điều kiện hiện nay, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, cơ
sở vật chất kỹ thuật lạc hậu Muốn cải thiện tình hình đó phải tăng cường các nguồn vốn tín dụng để đầu tư phát triển nông thôn Trên địa bàn nông thôn hiện nay có nhiều tổ chức tín dụng hoạt động, chủ lực như Ngân hàng NN & PTNT, Ngân hàng CSXH, các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể làm dịch vụ tài chính, các tổ tiết kiệm vay vốn , tạo thành một kênh huy động vốn và cho vay tại chỗ để chuyển tải vốn đến hộ nông dân Hoạt động tín dụng nhằm cung ứng vốn vay cho các yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, chế biến, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở khu vực nông thôn
Sự tham gia của của các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng nhằm cung ứng vốn kịp thời, lành mạnh tránh những tiêu cực của hoạt động tín dụng phi chính thống nạn cho vay nặng lãi bị đẩy lùi tiến tới xoá sổ Những ý nghĩa về xã hội như xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ bà con nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, vật nuôi, cây trồng, Hiện nay, các hộ nông dân vay vốn đã được giải quyết nhanh chóng, những thủ tục phiền hà đã giảm bớt, không còn tình trạng phải chờ đợi như những năm trước đây Đặc biệt là mức cho hộ vay đã nâng lên đến 10 triệu đồng
mà không phải thế chấp tài sản (đối với những vùng đặc biệt khó khăn, mức cho vay tối đa lên đến 100 triệu đồng), tạo cơ hội giúp hộ nông dân chủ động thực hiện phương án kinh doanh của mình
Ở các vùng nông thôn thì nông dân chủ yếu tiếp cận với Ngân hàng NN
và PTNT và ngân hàng CSXH Nó đã và đang đóng vai trò chủ đạo và chủ lực trong đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn Đáp ứng đầy đủ vốn cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần đáng kể cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Tổ chức thực hiện tốt chức năng hoạt động kinh doanh có hiệu quả gắn liền với chức năng phục vụ mục tiêu chương trình, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các địa phương
Bên cạnh đó, các hình thức tín dụng phi chính thống (vay bạn bè, họ hàng, vay lãi suất ngoài,…) cũng có vai trò quan trọng trong việc tăng cường nguồn
Trang 15vốn đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp Đặc bịêt là ở khu vực nông thôn, tín dụng phi chính thống là hình thức tín dụng truyền thống và được sử tương đối phổ biến Nông dân có thể tìm đến các nguồn cho vay lãi ngoài khi cần thiết, vay
họ hàng, bạn bè hay những người thân thiết hay họ cũng có thể tham gia chơi hụi, phường để tập trung nguồn vốn giúp nhau phát triển sản xuất Ngày 27/11, Thủ tướng ban hành Nghị định 144 về hụi, họ Lần đầu tiên, vấn đề chơi hụi, họ của người dân chính thức được pháp luật thừa nhận và bảo vệ về quyền và lợi ích hợp pháp của người chơi hụi, họ thì các hoạt động này sẽ ngày càng phổ biến hơn Như vậy các tổ chức tín dụng là một yếu tố kinh tế quan trọng tại địa phương, góp phần nâng cao đời sống thu nhập của người dân đem lại ổn định trật
tự chính trị, xã hội trên địa bàn, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế
c Các tổ chức đoàn thể xã hội
Là các tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức việt nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên, đáp ứng nhu cầu của từng nhóm hay cộng đồng trong việc tương trợ giúp đỡ nhau về đời sống, góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội Các tổ chức này gắn kết các thành viên và hoạt động theo pháp luật và những quy định của tổ chức đoàn thể Thông qua vai trò thành viên của một tổ chức, các cá nhân trở nên tích cực, tự giác hơn, họ sẵn sàng tham gia các hoạt động mang lại lợi ích thiết thân và cho các thành viên khác Ở khu vực nông thôn nước ta, các tổ chức Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh có vai trò tích cực trong các hoạt động khuyến nông, xoá đói giảm nghèo cho các thành viên trong hội, tín dụng, vận động các thành viên tham gia tích cực các hoạt động sản xuất Góp phần đẩy mạnh các phong trào, hoạt động của địa phương, hỗ trợ, bà con nông dân vươn lên làm giàu Trong đó hoạt động cung ứng, hỗ trợ đầu vào cho nông dân phục
vụ sản xuất đang rất được chú ý và có ý nghĩa quan trọng
- Hội nông dân: Có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ, giúp đỡ nông
dân cải hiện đời sống, phát triển sản xuất kinh doanh Thông qua các chương trình liên tịch với một số ban ngành, hàng năm Hội phối hợp với ngành nông
Trang 16nghiệp và các doanh nghiệp tổ chức lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ KHKT cho nông dân, xây dựng mô hình trình diễn giống cây, con mới và công nghệ tiên tiến vào sản xuất; tổ chức hội nghị, hội thảo đầu bờ, tham quan mô hình cho hộ nông dân tham gia Qua tập huấn, tham quan trao đổi với mô hình điển hình đã
có tác dụng củng cố niềm tin, khuyến khích các hộ mạnh dạn đầu tư vào sản xuất, nâng cao thu nhập XĐGN và vươn lên làm giàu, làm chuyển biến căn bản nhận thức trong phát triển kinh tế (xóa bỏ tập tục canh tác cũ, chuyển đổi tư duy sản xuất hàng hóa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thâm canh đạt năng suất cao
Để tạo điều kiện hỗ trợ vốn lãi suất thấp, vật tư cho hộ nông dân nghèo và cận nghèo có điều kiện để phát triển sản xuất, các cấp Hội chủ động liên doanh liên kết “4 nhà’ xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình dự án tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ trong nước và ngoài nước phối hợp với ngân hàng NN&PTNT, Ngân hàng chính sách xã hội thành lập các tổ vay vốn, vận động xây dựng quỹ hỗ trợ nông dân, trực tiếp hỗ trợ cho nông dân nghèo vay vốn phát triển sản xuất có hiệu quả Ngoài ra, Hội nông dân các cấp còn có những đóng góp rất lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo Hàng năm hội tổ chức những phong trào tạo khí thế thi đua lao động sản xuất ở các làng bản thôn, xóm như “Phong trào nông dân thi đua SXKD giỏi, đoàn kết giúp nhau XĐGN và làm giàu’ Thường xuyên đổi mới nội dung hoạt động, phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, bám sát thực tế giúp hội viên phát triển kinh
tế Giúp đỡ các hôị viên thông qua các hình thức như giúp ngày công lao động, giúp vay vốn, chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu hội viên tham gia các lớp tập huấn, tiếp thu tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Hội nông dân các cấp còn chủ động liên hệ và phối hợp với các công ty sản xuất phân bón, giống, phân bón
tổ chức cung ứng đầu vào cho nông dân theo phương thức trả chậm, giúp nông dân có điều kiện đầu tư cho sản xuất, nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng Nước ta đã gia nhập và cam kết thực hiện các quy định của tổ chức thương mại thế giới WTO, và Hội nông dân có trách nhiệm tuyên truyền nâng cao hiểu biết cho nông dân về những cam kết trong nông nghiệp và các thoả thuận, quy định của WTO Hội phải tăng cường đẩy mạnh hoạt động, phong
Trang 17trào của hội, đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, hỗ trợ nông dân về vốn, chuyển giao khoa học kỹ thuật Đẩy mạnh đào tạo nghề cho nông dân nhất là những nơi bị thu hồi đất, phát triển ngành nghề, làng nghề truyền thống ở địa phương
để tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân
- Hội phụ nữ là tổ chức chính trị - xã hội, tập hợp rộng rãi các tầng lớp
phụ nữ Việt Nam, hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Với chức năng đại diện chăm lo cho quyền lợi phụ nữ, các cấp hội phụ nữ đã tập trung chỉ đạo, triển khai nhiều phong trào, chương trình thiết thực hỗ trợ phụ nữ
và gia đình phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, các hoạt động hỗ trợ phụ nữ vay vốn phát triển kinh tế gia đình Phát động và tổ chức tốt các phong trào :
“phụ nữ giúp nhau làm kinh tế xóa đói giảm nghèo”, “phụ nữ sản xuất giỏi”,
“chương trình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập… Nguồn vốn hỗ trợ phụ
nữ phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo được các cấp hội tập trung khai thác từ ngân hàng, các tổ chức phi chính phủ, từ quỹ tiết kiệm của chị em Hội chủ động tín chấp với Ngân hàng NN&PTNT, thực hiện uỷ thác của Ngân hàng CSXH cho phụ nữ vay vốn với cách thức vay trả linh hoạt, phù hợp Không chỉ góp vốn các cấp hội còn tranh thủ nguồn lực để tổ chức tập huấn, hội thảo tham quan mô hình, chuyển giao khoa học kỹ thuật đã giúp chị em mạnh dạn chuyển đổi phương thức sản xuất trồng trọt, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống Ngoài ra các tổ chức đoàn thể khác như Đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh… cũng có vai trò đáng kể trong việc hỗ trợ giúp đỡ nông dân phát triển sản xuất
d Các doanh nghiệp, nhà máy
Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, phân phối cung ứng máy móc, vật tư đầu vào phục vụ sản xuất trồng trọt, hỗ trợ nguồn vốn, kỹ thuật và các sản phẩm khác cho nông dân Họ thường xuyên đổi mới công nghệ, cải thiện nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu sản xuất của nông dân
Trang 18Thường xuyên tạo ra các giống vật nuôi cây trồng mới có năng suất, chất lượng cao phù hợp với yêu cầu thị trường Tuy nhiên hiện nay việc cung ứng của các doanh nghiệp còn một số hạn chế, chưa có sự liên kết phối hợp giữa các công ty mạnh ai nấy làm, cung ứng còn manh mún, tản mạn, còn qua nhiều tầng nấc trung gian, triết khấu hoa hồng lớn làm tăng chi phí trung gian đẩy giá bán lên cao Kể cả một số doanh nghiệp Nhà nước được hỗ trợ đầu vào, có lợi thế cạnh tranh nhưng cũng chưa tổ chức được hệ thống kênh phân phối cung ứng hoàn thiện, đảm bảo giá bán đến nông dân và mang lại hiệu quả.
e.Các cửa hàng cung ứng vật tư
Ngày nay khi kinh tế mở cửa, dịch vụ phát triển thì hệ thống các đại lý bán buôn, bán lẻ, các cửa hàng vật tư nông nghiệp ngày càng phát triển ở các địa phương Đây là nguồn cung ứng đầu vào trực tiếp cho nông dân Nó có thể đáp ứng nhanh gọn, đầy đủ, kịp thời nhu cầu đầu vào phục vụ sản xuất do:
+ Mức độ cạnh tranh trong việc tiêu thụ vật tư nông nghiệp ngày càng cao, đồng thời nguồn vốn sản xuất của nông dân có hạn nên có nhiều cửa hàng bán vật tư nông nghiệp sẵn sàng cho khách hàng của mình thanh toán theo hình thức gối đầu, chậm trả,
+ Sự thuận tiện khi mua hàng hóa: Hầu hết các hộ nông dân không có phương tiện vận chuyển, do đó họ sẽ chọn mua ở những nơi thuận tiện, gần nhà Việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn phải được coi là có tầm quan trọng đặc biệt
2.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình cung ứng đầu vào
a Giá cả
Theo C.Mac, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá Trong hoạt động mua bán giá cả chính là phương tiện giải quyết mâu thuẫn về lợi ích giữa người bán và người mua hay nói một cách khác giá cả của hàng hoá là mức giá
ma cả người mua và người bán đều chấp nhận được
Trang 19Giá cả là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình cung ứng của sản phẩm, khi nhà kinh doanh ra quyết định về một mức giá nào đó nó sẽ tác động đến sức mua của người nông dân và niềm tin của họ vào mặt hàng đó Nếu giá quá cao so với khả năng thanh toán của người nông dân thì họ sẽ không mua, hoặc mua ít đi dẫn tới giảm lợi nhuận, giảm khả năng đáp ứng đầu vào cho nông dân của công ty Khi mức giá thấp có thể bà con nông dân có lợi nhưng có thể ảnh hưởng lợi nhuận của doanh nghiệp và người dân có thể nghi ngờ về chất lượng sản phẩm cung ứng
Theo tiến sĩ Đặng Kim Sơn thì thị trường vẫn là thách thức đối với người dân Việt Nam Giá dầu mỏ lên 50 năm tới có xu hướng tăng và cạn kiệt kéo theo
sự tăng giá phân bón, thuốc trừ sâu khiến đầu vào sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng Khi giá cả gia tăng, giá cánh kéo luôn nghiêng về phía bất lợi cho người sản xuất nông nghiệp và người dân Sản xuất nông nghiệp của chúng ta có khả năng tăng sản lượng do tăng vụ và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, mở mang thị trường tiêu thụ nhưng giá trị tăng thêm của một số sản phẩm không mang lại nhiều lợi nhuận bởi chi phí sản xuất tăng đồng hành và tăng nhanh hơn sản lượng
b Chất lượng và thương hiệu của đầu vào trong sản xuất trồng trọt
Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng sản phẩm là một trong những vũ khí cạnh tranh sắc bén, là một yếu tố góp phần vào việc khẳng định vị trí của người sản xuất trên thị trường Chất lượng đầu vào cao hay thấp đều tác động mạnh mẽ đến hoạt động cung ứng và tiêu thụ Đầu vào trong sản xuất trồng trọt chỉ được người nông dân chấp nhận khi chất lượng đảm bảo Các yếu tố đầu vào trong sản xuất trồng trọt thường phát huy hiệu quả nhanh chóng do vậy bà con nông dân
có thể dễ dàng thấy được tác dụng, vai trò và sử dụng các đầu vào có chất lượng cao Và các sản phẩm đã khẳng định được thương hiệu, uy tín về chất lượng sẽ là lựa chọn của các hộ nông dân Vì vậy, việc nâng cao chất lượng sản phẩm có vai trò rất quan trọng, nó không những nâng cao giá trị và thời gian sử dụng, tiết kiệm hao phí lao dộng xã hội mà đối với doanh nghiệp tạo điều kiện
Trang 20cho việc tiêu thụ sản phẩm thuận lợi, tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
c Tập quán và trình độ của người sản xuất
Các yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình cung ứng đầu vào phục vụ sản xuất Nông dân thường là những người có học vấn thấp hay bảo thủ, ít chịu tiếp thu những kỹ thuật mới Họ thường cho mình là đúng, thường làm theo những cái cũ, những cái truyền thống, những phương pháp đã in sâu vào cách thức sản xuất của họ Do vậy những cơ quan, tổ chức ở địa phương cần chú ý đến những đặc điểm này để có những phương pháp, cách thức cung ứng cho phù hợp
d Hệ thống chính sách vĩ mô của Nhà nước
Chính sách Nông nghiệp là tập hợp các chủ trương và hành động của Chính Phủ nhằm thay đổi môi trường cho Nông nghiệp Phát triển
Trồng trọt cũng như các ngành khác, muốn mở rộng quy mô và hiệu quả sản xuất nhất thiết phải có hệ thống chính sách kinh tế thích hợp tạo nhằm tạo dựng mối quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố với nhau để tạo ra hiệu quả kinh doanh cao nhất Kết quả sản xuất phụ thuộc nhiều vào chính sách kinh tế, các chính sách thích hợp sẽ khuyến khích sản xuất phát triển Các chính sách tác động trực tiếp hay gián tiếp tới việc cung ứng đầu vào phục
vụ sản xuất trồng trọt như: chính sách đất đai, chính sách tín dụng, chính sách thuế đầu vào, chính sách trợ giá đầu vào…Nhất là khi nước ta đã gia nhập tổ chức WTO phải thực hiện các cam kết thương mại thì nhân tố này càng trở nên quan trọng hơn
e Vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật
Trong hoạt động cung ứng đầu vào phục vụ sản xuất trồng trọt thì vốn
và cơ sở vật chất kỹ thuật cũng có ý nghĩa rất quan trọng Nó quyết định đến mức độ và khả năng cung ứng của các doanh nghiệp cũng như các cơ quan, tổ chức tham gia cung ứng Ngoài ra các yếu tố về cơ sở vật chất như: cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc…giúp lưu thông, tiêu thụ hàng hoá
Trang 21đầu vào, đầu ra, nhanh chóng thuận tiện Vốn là một điều kiện không thể thiếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp Đánh giá tác động của dịch vụ này là đánh giá khả năng tiếp cận vốn của người dân, việc sử dụng vốn đầu tư cho quá trình sản xuất như đầu tư mua giống cây, phân bón,…Qua đó ta biết được việc
sử dụng vốn của người dân có hiệu quả không? Đầu tư sản xuất có tăng năng suất không? Để từ đó có thể cung ứng vốn một cách có hiệu quả hơn
f Thời vụ
Đặc điểm của sản xuất trồng trọt là mang tính thời vụ do vậy cung ứng đầu vào phục vụ sản xuất trồng trọt cần chú ý đến đặc tính sinh học, mùa vụ, các thông số kỹ thuật khác của từng loại đối tượng sản xuất Ở các thời vụ khác nhau thì mức độ tiêu thụ các loại đầu vào có sự khác nhau do vậy việc cung ứng phải có sự khác biệt giữa các đối tượng và thời điểm sản xuất
tỉ USD, Ngân hàng Phát triển châu á (ADB) cho vay 3 tỉ USD với lãi suất ưu đãi Tổ chức Nông- Lương của Liên hợp quốc (FAO) đã giúp In-đô-nê-xi-a khoảng 150 dự án Chính phủ Indonesia quyết định hàng loạt biện pháp hỗ trợ như các khoản cho vay đặc biệt, tăng cường bù giá cho phân bón cũng như các loại cây và con giống, mở rộng diện tích trồng trọt… Chính phủ In-đô-nê-xi-a
Trang 22đã đẩy mạnh phát triển thị trường các yếu tố đầu vào sản xuất trồng trọt để giúp người sản xuất có thể tiếp cận với giống cây trồng có năng suất cao, phân bón và các đầu vào chủ yếu khác như: trợ cấp phân bón khoảng 75% giá phân bón được trợ cấp trực tiếp từ ngân sách nhà nước thông qua một tổ chức kinh doanh độc quyền của Nhà nước gọi là RUSRI (thành lập từ 1979) PUSRI nhận phân bón từ các nhà máy sản xuất trong nước cũng như thông qua nhập khẩu, sau chuyển về tỉnh, huyện, rồi bán cho các nhà buôn Tháng 10/1988, Chính phủ đã quyết định là việc lưu thông phân bón cho nông dân thông qua HTX (KUD) Giá cả phân bón thống nhất trong cả nước, giá phân bón ở Inđônêxia bán thấp hơn giá quốc tế, trước 50% nay là 20% Với một số chính sách cấp thiết và hữu hiệu, cùng với sự phát triển theo hướng đồng bộ hệ thống nghiên cứu, khuyến nông, tín dụng nông thôn, nông thôn Inđônêxia đang hướng tới tạo lập những tiền đề để đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển một ngành nông nghiệp toàn diện, tiên tiến, hiện đại Những năm 80 đến nay, kinh tế In-đô-nê-xi-a, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp đã phục hồi và có bước phát triển, sản lượng nông nghiệp tăng với tốc độ 4%/năm Đáng chú ý
là, từ năm 1984 Inđônêxia đã tự bảo đảm được nhu cầu về lúa gạo bằng sản xuất trong nước, không còn phải nhập khẩu gạo như trước đó
Trang 23trồng lại cây cao su (ORRAF) BAAC là tổ chức phân phối nhiều nhất trong khu vực công cộng, chiếm 80% trong tổng số của khu vực này Trước năm
1981, khoản tín dụng của BAAC không bao gồm các loại phân hoá học Sau
đó, BAAC đưa ra hệ thống tín dụng bằng hiện vật để cung cấp phân bón và các vật tư nông nghiệp khác cho khách hàng của mình Ngoài ra, MOF được thành lập từ 1975 như một công cụ để ổn định giá phân bón của thị trường trong nước Tổ chức này cung cấp phân bón cho nông dân và các hiệp hội HTX với giá trợ cấp, người nông dân phải chịu chi phí vận chuyển trong nước và chi phí bảo quản Khách hàng của MOF mua cùng một mức giá Và Chính phủ nước này cũng hết sức quan tâm đầu tư cho hệ thống nghiên cứu, triển khai, mời chuyên gia đến trao đổi kinh nghiệm, nhập nội các giống tốt
và các quy trình công nghệ tiên tiến: cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài, dành một khoản tiền lớn để thực hiện việc chuyển giao công nghệ đến hội nông dân, đến đồng ruộng…
2.2.2 Kinh nghiệm cung ứng đầu vào phục vụ sản xuất trồng trọt ở Việt Nam.
Trong thời kỳ đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đạt những thành tựu nổi bật, duy trì tốc độ tăng trưởng đều và ổn định, thể hiện được lợi thế so sánh của Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới Nông nghiệp đã thực
sự trở thành chỗ dựa nền tảng cho công nghiệp và dịch vụ, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm ổn định xã hội ở nước ta Trong những năm gần đây, nông nghiệp Việt Nam có những bước phát triển mạnh mẽ, sản lượng nông nghiệp tăng trên 4%/năm, nhiều mặt hàng nông sản, thực phẩm xuất khẩu khẳng định vị thế trên thị trường thế giới Tăng trưởng nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn gia tăng kim ngạch xuất khẩu, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên trong xu thế hội nhập để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững ngành nông nghiệp còn nhiều vấn đề cần giải quyết đặc biệt là vấn đề đầu tư cho phát triển nông nghiệp
Trang 24Kinh tế thị trường phát triển, nông nghiệp nông thôn và người dân khó khăn trong tiếp cận đầu vào đặc biệt là nguồn tài chính, tín dụng Theo Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn Tuy nhiên, thủ tục và điều kiện vay vốn rườm rà, mất nhiều thời gian, nhiều khi vay được vốn xong thì lỡ mất mùa
vụ, vì vậy mà người dân ít được tiếp cận với nguồn vốn này, hiệu quả của chính sách chưa cao Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì trong 5 năm (2003- 2007) Việt Nam đầu tư cho phát triển nông nghiệp chỉ đạt 113 nghìn tỷ đồng chiếm 8,7% vốn đầu tư Nhà nước và mới chỉ đáp ứng 17% nhu cầu của khu vực nông nghiệp Các ngành dịch vụ phục vụ nông nghiệp chưa phát triển, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch còn cao Sản xuất trồng trọt thiếu máy móc thiết bị, phân bón, thuốc BVTV, Dịch vụ hỗ trợ như tín dụng, vận tải, viễn thông tăng trưởng chậm Tổng Công ty máy động lực và máy nông nghiệp chỉ đáp ứng nhu cầu 25% thị trường trong nước Sản xuất phân đạm trong nước chỉ đáp ứng 30% - 40% nhu cầu, còn lại phải nhập khẩu Hiện nay chi phí đầu vào cho sản xuất trồng trọt rất cao, một trong những chi phí lớn nhất đối với sản xuất trồng trọt nói chung đó là phân bón Sản xuất trồng trọt nước ta hàng năm sử dụng khoảng trên 8 triệu tấn phân bón hoá học các loại trị giá hàng trăm nghìn tỷ đồng Chi phí cho việc vận chuyển, bốc xếp, lưu kho phân bón chiếm 10-15%.Tuy nhiên thời gian qua việc cung ứng phân bón còn có nhiều bất cập, cung ứng chưa có một mô hình kinh tế rõ rệt, mạnh ai nấy làm, cung ứng còn manh mún, tản mạn qua nhiều tầng nấc trung gian làm tăng chi phí đẩy giá bán lên cao Kể cả các doanh nghiệp Nhà nước được hỗ trợ đầu vào, có lợi thế cạnh tranh nhưng cũng chưa tổ chức được hệ thống cung ứng phân bón hoàn thiện, đảm bảo giá bán đến nông dân và mang lại hiệu quả
Tuy nhiên công tác chọn, tạo, đưa giống mới vào sản xuất lại có nhiều bước tiến mới Trong những năm gần đây ngành trồng trọt đã không ngừng đầu tư nghiên cứu tìm ra nhiều chủng loại cây, con giống mới phục vụ cho
Trang 25người dân Các giống lúa, bắp có năng suất cao, phẩm chất tốt chống chịu được sâu bệnh, chịu hạn tốt, chịu thâm canh đáp ứng kịp thời với những thay đổi bất thường của thời tiết, được tạo ra từ việc áp dụng các biện pháp lai tạo, nuôi cấy túi phấn, đột biến (giống lạc chịu hạn VL18, giống ngô chịu hạn…) Bên cạnh công tác tạo ra những công nghệ mới thì ngành còn rất chú trọng vào việc tập huấn, hội thảo đầu bờ… hướng dẫn cho bà con nông dân
sử dụng kĩ thuật tiến bộ đó một cách hiệu quả Đồng thời người dân cũng được tiếp cận với nhiều nguồn cung ứng đầu vào Các tổ chức như hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hợp tác xã các cấp đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ đầu vào giúp nhân dân cải thiện đời sống, phát triển sản xuất Hệ thống ngân hàng NN&PTNT, ngân hàng CSXH cũng đã phát huy được vai trò trong đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn, đáp ứng vốn cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh Việt Nam đã gia nhập và cam kết thực hiện những quy định của tổ chức WTO, có nhiều thách thức mới đặt ra cho người dân Việt Nam Theo các chuyên gia, điều quan trọng là sau khi Việt Nam gia nhập WTO cần đẩy mạnh đầu tư cho khoa học công nghệ Tuy nhiên vấn đề này cũng không hề dễ dàng bởi nông dân rất khó tiếp cận và làm chủ khoa học công nghệ
Trang 26III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Yên Mô là một trong những huyện có nền kinh tế đang trên đà phát triển của tỉnh Ninh Bình, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Ninh Bình
- Phía Đông giáp huyện Kim sơn
- Phía Bắc giáp huỵên Hoa Lư được ngăn cách bởi sông Vạc
- Phía Tây giáp Thị xã Tam Điệp
- Phía Nam giáp huyện Nga Sơn và huyện Hà Trung
Huyện Yên Mô nằm trên đường quốc lộ 1A, tỉnh lộ 480, đường sắt Thống Nhất chạy qua, đây là vị trí tương đối thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá với các vùng trong và ngoài tỉnh
- Dễ dàng giao lưu, trao đổi các sản phẩm đầu vào, đầu ra với các vùng, các địa phương khác
- Dễ tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật, các công nghệ mới ở những vùng lân cận, những địa phương phát triển hơn
Nhìn chung vị trí địa lý của huyện có nhiều thuận lợi cho việc cung ứng đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất trồng trọt trên địa bàn:
3.1.1.2 Địa hình
Địa hình Yên Mô tương đối phức tạp, chạy suốt sườn phía Tây và Tây Nam là dải núi Tam Điệp Địa hình dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và từ Tây Nam xuống Đông Bắc.Vùng phía đông nam tương đối bằng phẳng chủ yếu trồng các cây lương thực, cây hoa màu
Nhìn chung các đặc điểm về địa hình là điều kiện thuận tiện cho địa phương phát triển sản xuất nông nghiệp, hình thành những vùng chuyên canh quy mô vừa và lớn, phát triển các cây trồng có lơi thế so sánh (vùng trồng rau cần xuất khẩu, khu trồng dứa xuất khẩu) Tuy nhiên, do địa hình nhiều đồi núi nên việc đi lại, vận chuyển hàng hoá đầu vào, đầu ra cũng gặp không ít những khó khăn
Trang 273.1.1.3 Khí hậu và thủy văn
*Khí hậu
Nhiệt độ trung bình năm là 23,60C mùa đông nhiệt độ trung bình là 200C mùa hạ nhiệt độ trung bình là 270C Tổng lượng mưa trung bình năm là 1920mm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm, chủ yếu 5 đến tháng 10
là 75% đến 85% Độ ẩmtrung bình năm là 85% Mùa hè có gió Nam từ biển thổi vào nhiều hơi nước gây ra mưa và cũng là nơi có độ ẩm cao, lượng mưa lớn tạo điều kiện cho thực vật sinh trưởng Gió mùa Đông Bắc hoạt động mạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, gió thường khô hanh làm hạn chế sinh trưởng của cây trồng đồng thời sương muối và rét đậm kéo dài từ 21/12 năm nay đến 30/2 năm sau
* Thuỷ văn: Huyện Yên mô có con sông Vạc chảy qua góp phần tạo một
hệ thống kênh mương tưới tiêu làm tăng độ ẩm cho đất, độ ẩm không khí tạo thuận lợi cho các loài thực vật sinh trưởng và phát triển
Huyện Yên Mô nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa đây là khí hậu thuận lợi cho cây trồng, thực vật sinh trưởng và phát triển Nhưng nó cũng gây ra những hạn chế cho công tác cung ứng đầu vào phục vụ sản xuất nhất là trong khâu vận chuyển, bảo quản giống, vật tư nông nghiệp Do đó việc cung ứng đầu vào cần chú ý đến công tác giảm thiểu rủi ro
và tăng hiệu quả sử dụng đầu vào
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai
Trải suốt chiều dài huyện Yên Mô, được bao bọc bởi con sông Vạc, hàng năm cung cấp độ phì cao cho cây trồng Trong tầng đất canh tác những nơi cao chủ yếu là đất cát, đất thịt nhẹ thuận lợi cho phát triển các cây hoa màu; những nơi thấp chủ yếu là đất thịt, thịt nặng và pha sét thuận lợi cho phát triển cây lúa và chăn nuôi cá nước ngọt Qua bảng 3.1, Năm 2009, Huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 14441,1 ha và đất nông nghiệp luôn chiếm diện tích lớn nhất, và có xu
hướng giảm qua các năm năm 2007 là 60,02%, đến năm 2009 là khoảng 59,1%, bình quân mỗi năm giảm 0,465% do một phần đất nông nghiệp được xã
Trang 28quy hoạch để chuyển sang mục đích sử dụng khác.
Trong đất nông nghiệp thì đất sản xuất trồng trọt luôn chiếm trên 80% trong đó thì đất trồng cây hàng năm chiếm tỷ lệ lớn nhất Năm 2009 diện tích đất trồng cây hàng năm là 5583,15ha chiếm 65,3% tồng diện tích đất nông nghiệp Do đặc điểm đất đai, đặc điểm địa lý của huyện là một vùng chiêm trũng và truyền thống sản xuất cũ mà đa phần diện tích đất trồng cây hàng năm được sử dụng để trồng lúa Diện tích này luôn chiếm trên 70% trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, trong những năm gần đây diện tích này có xu hướng giảm khá nhanh, bình quân giảm 6,08%/năm do thời tiết khí hậu thay đổi, hạn hán kéo dài một số nơi địa hình cao không có nước
để trồng lúa nên chuyển sang trồng rau, màu Vì vậy mà trong 3 năm qua, diện tích đất trồng rau màu tăng khá nhanh Diện tích đất trồng rau năm
2008 chiếm 20,8%, đến năm 2009 tăng lến 27,44% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm
Đất trồng cây lâu năm của huyện chiếm diện tích nhỏ chủ yếu là trồng các loại cây ăn quả như: vải, nhãn, hồng , chuối… Và ở phiá tây nam, địa hình cao, với kết cấu chủ yếu là đất feralit vàng đỏ thành phần cơ giới nặng thích hợp với nhiều loại cây lâm nghiệp nhất là các loại cây keo như: keo lai, keo tai tượng, keo lá chàm…Năm 2009 diện tích đất lâm nghiệp là 1689,9ha chiếm 11,7% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó chủ yếu là rừng tự nhiên chiếm 97,7% tổng diện tích đất lâm nghiệp Bình quân 3 năm đất chuyên dùng tăng 0,62%, đất thổ cư tăng 0,19% Đất chưa sử dụng năm 2009 so với năm 2007 giảm đi 1,57% tổng diện tích đất tự nhiên do đất này được cải tạo và đưa vào làm đất ở hay đất chuyên dùng Hiện nay trên địa bàn toàn huyện còn có 647,5 ha đất chưa sử dụng, đây là phần diện tích mà huyện có thể khai thác, cải tạo để đưa vào sử dụng, và rất có tiềm năng để phát triển sản xuất trồng trọt
Trang 29Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Yên Mô (2007- 2009)
Trang 301.Nhân khẩu nông nghiệp Người 65352 92,75 65637 91.25 65377 90.22 100,43 99,6 100,01
(Phòng thống kê huyện Yên Mô)
Trang 31Dân số trong huyện tăng trong vòng 3 năm qua nhưng tốc độ tăng dân số không cao đạt bình quân là 0,69% Lực lượng lao động khá dồi dào, năm 2009
có 39126 người trong độ tuổi lao động chiếm hơn một nửa dân số trong đó số người được đào tạo nghề là 1555 người Số hộ nông nghiệp là 13650 hộ chiếm 88,90% tổng số hộ, tỷ lệ lao động nông nghiệp trong huyện có xu hướng giảm dần nhưng vẫn luôn ở mức cao trên 91% Số lao động phi nông nghiệp cũng tăng từ 7,26% năm 2007 lên 8,29% năm 2009 Xu hướng này có thể sẽ tiếp tục diễn ra trong các năm tới và điều này rất tốt cho quá trình phát triển kinh tế của huyện.Qua bảng 3.2 ta cũng thấy BQ diện tích đất nông nghiệp/nhân khẩu của huyện
ở mức thấp (0,118 ha), do đó nó có thể gây ra khó khăn trong quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa Do vậy trong thời gian tới huyện cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng nguồn lao động
- Số trạm truyền thanh cái 80 Phủ sóng truyền thanh đạt 95,4%
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Yên Mô)
Trang 32Toàn huyện có gần 250 km đường giao thông nông thôn trong đó 44,8 km đường nhựa, 174 km đường bê tông, 30,6 km đường cấp phối Đường nhựa, bê tông về tới 100% các trung tâm xã trong huyện; hầu hết các thôn, xóm đều có đường ô tô, đường ngõ đều được đổ bê tông, ngoài ra còn có hệ thống đường sắt, đường thuỷ Nhìn chung chất lượng đường tương đối tốt Đây là điều kiện thuận lợi của huyện trong vấn đề vận chuyển và giao lưu hàng hoá nói chung, hàng hoá nông, lâm sản nói riêng.
Hệ thống thuỷ lợi đã đáp ứng yêu cầu tưới tiêu của hầu hết các khu đồng; 43/73 km kênh mương cấp I đã được kiên cố hoá trạm thuỷ nông huyện quản
lý 5 trạm bơm, 2 máng tiêu và hệ thống kênh mương nội đồng đã được kiên
cố hoá Các trạm bơm này hoạt động khá thường xuyên và hiệu quả đảm bảo tưới tiêu cho tất cả các xã trên địa bàn huyện
Toàn huyện có 52 trạm biến áp với tổng công suất 9,840 KVA; 100% số
xã, thôn, xóm có điện với 99,72% số hộ dân được dùng điện phục vụ sinh hoạt
và sản xuất 100% số xã trong huyện đã có trạm bưu điện văn hoá; dịch vụ bưu chính viễn thông đã phủ sóng tới hầu hết các thôn; số người sử dụng điện thoại ngày càng tăng Về giáo dục: Yên Mô có tới 18 trường mầm non; 21 trường tiểu học; 18 trường THCS; 2 trường THPT; Về y tế: Yên Mô có 1 bệnh viện, 1 phòng khám khu vực và 18 trạm y tế xã, thị trấn
3.1.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh
Giá trị sản xuất nông nghiệp có sự thay đổi qua 3 năm, năm 2007 là 274015 triệu đồng, năm 2009 là 287896 triệu đồng, bình quân mỗi năm tăng 6940,5 triệu đồng, trong đó, chủ yếu vẫn là đóng góp từ ngành trồng trọt Năm 2009 giá trị sản xuất của ngành trồng trọt là 158045 triệu đồng chiếm 54,9% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Chăn nuôi chiếm 35,03%, dịch vụ nông nghiệp là 10,07% giá trị sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên theo xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiện nay thì tỷ trọng giá trị sản xuất ngành trồng trọt có xu hướng giảm liên tục giảm qua 3 năm bình quân mỗi năm giảm 2,66%
Trang 33Bảng 3.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện qua 3 năm (2007- 2009)
GT (trđ)
CC
CC (%)
GT (trđ)
III Dịch vụ nông nghiệp 63261 18,63 55059,9 22,61 54755 21,34 87,32 99,44 93,38
Trang 34Trong ngành trồng trọt thì cây hàng năm chiếm ưu thế, giá trị sản xuất cây hàng năm năm 2009 là 94077,4triệu đồng chiếm 90,97% tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt so với năm 2007 tăng 20837,4 triệu đồng tức tăng 25% Giá trị sản xuất của cây trồng lâu năm cũng tăng dần qua các năm, năm 2009 tăng 189 triệu đồng so với năm 2007, tức tăng 2,38% Bên cạnh đó thi giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi lại liên tục tăng qua các năm bình quân mỗi năm tăng 2,64%.
Nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh của huyện những năm qua đã có nhiều bước tiến mới, thu nhập BQ/lao động nông nghiệp đạt 7,2 triệu đồng/năm (2009) Và trong thời gian tới huyện cần có những chính sách đầu tư đúng mức cho các ngành sản xuất để có một cơ cấu kinh tế hợp lý, nâng cao thu nhập cho người dân
Trang 353.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu
Trong những năm gần đây kinh tế của huyện tuy đã có nhiều bước phát triển mới nhưng vẫn tồn tại không ít những khó khăn Đặc biệt là trong sản xuất trồng trọt nông dân đa phần trình độ học vấn thấp, còn thiếu các kiến thức về KHKT-CN mới Nguồn vốn đầu tư lại hạn chế nhất là vào mùa vụ nhiều việc dồn vào một lúc, gánh nặng đè lên vai người nông dân, việc tiếp cận các yếu tố đầu vào gặp khó khăn Chính những điều này đã gây ảnh hưởng rất lớn đến tình hình đầu tư, mở rộng sản xuất, nâng cao năng suất và hiệu quả lao động Bởi vậy đề tài chọn địa điểm là huyện Yên Mô để nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, đề tài căn cứ vào số lượng, quy mô, diện tích đất canh tác, đặc điểm từng xã; cách thức tổ chức sản xuất, bố trí các loại cây trồng; kết quả, xu hướng và tiềm năng về phát triển các loại cây trồng ở các xã Trong 19 xã đề tài chọn ra 3 xã đại diện là Khánh Thượng, Yên Thắng, Yên Từ, để tiến hành điều tra và nghiên cứu bởi các lý do sau:
- Khánh Thương: Là xã vùng trũng, thuận lợi để phát triển cây lương thực (lúa, ngô)
- Yên Thắng: Là xã vùng cao có nhiều đồi núi, đất đồi rất phù hợp để phát triển cây an quả (na, nhãn, vải…),
- Xã Yên Từ: là xã đồng bằng, địa hình bằng phẳng, chủ yếu là đất thịt nhẹ, thích hợp để phát triển cây rau, màu (bắp cải, xu hào, lạc, đậu tượng…)
Các xã trên đều có diện tích đất canh tác lớn Quy mô sản xuất của các hộ nông dân lớn hơn so với các xã khác, các hộ đang chuyển dần sang xu hướng sản xuất hàng hóa
Mỗi xã chon ngẫu nhiên ra 20 hộ, lấy theo tỷ lệ hộ khá, trung bình và nghèo, các hộ này đều tham gia sản xuất trồng trọt, nhằm thấy được sự khác nhau trong việc sử dụng đầu vào giữa các loại hộ, thấy được những thuận lợi, khó khăn
và nhu cầu của người dân trong việc tiếp cận đầu vào để phát triển sản xuất trồng trọt Đồng thời tìm hiểu ý kiến của người dân về tình hình cung ứng đầu vào trên địa bàn huyện
Trang 363.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
3.2.2.1 Thông tin thứ cấp
Phương pháp thu thập
1 Số liệu về tình hình cung ứng, tiếp
cận yếu tố đầu vào trong nông nghiệp ở
Việt Nam và một số nước trên thế giới
phục vụ cho phần tổng quan tài liệu
Sách, báo,Internet có liên quan Tra cứu,
chọn lọc thông tin
2 Số liệu về đặc điểm địa bàn nghiên
cứu: Tình hình phân bố đất đai, lao độn;
Tình hình phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng
Báo cáo UBND huyện, phòng thống kê, phòng nông nghiệp của huyện, phòng địa chính, các websites của địa phương
Tìm hiểu, tổng hợp từ các báo cáo
3.2.2.2 Thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp là những số liệu mới chưa được công bố, bao gồm cả
thông tin định lượng và định tính.Thông tin sơ cấp bao gồm số liệu phỏng vấn, điều
tra bằng bảng hỏi, số liệu phỏng vấn trực tiếp
a.Thiết kế phiếu điều tra
Thông qua sử dụng bảng hỏi được chuẩn bị sẵn phù hợp với đối tượng điều
tra
+ Phiếu điều tra hộ nông dân về các nhóm nội dung sau: Sự hiểu biết về
các lọai đầu vào, nguồn lực hiện có của hộ, khả năng tiếp cận các loại đầu vào của
hộ, chi phí đầu vào cho 1 dơn vị diện tích đất trồng trọt, tình hình sử dụng đầu vào
của hộ, năng suất cây trồng/đơn vị diện tích, những khó khăn mà hộ gặp phải trong
quá trình tiếp cận đầu vào và mong muốn của hộ ra sao? đánh giá của hộ về các
nguồn cung ứng đầu vào?
+ Bảng hỏi các đơn vị cung ứng đầu vào về các nội dung sau: Khả năng
cung ứng đầu vào; các đầu vào có đáp ứng kịp thời với nhu cầu của nông dân
không; có tổ chức các buổi tập huấn hướng dẫn bà con nông dân về cách sử dụng
đầu vào không? Những khó khăn gặp phải trong quá trình cung ứng đầu vào cho
bà con? Mục tiêu để thấy được khả năng cung ứng của các đơn vị trong quá trình
Trang 37cung ứng đầu vào phục vụ phát triển sản xuất trồng trọt của các hộ nông dân trên địa bàn huyện
b.Tiến hành thu thập thông tin
Để thu thập được những thông tin về tình hình sản xuất trồng trọt của các hộ nông dân trên địa bàn huyện cũng như đánh giá được tình hình cung ứng đầu vào và kết quả, hiệu quả đạt được khi được tiếp cận, sử dụng các nguồn đầu vào của các hộ nông dân và những khó khăn mà hộ đang gặp phải để từ đó có hướng giải quyết cho phù hợp Tôi tiến hành phương pháp thu thập thông tin chủ đạo phục vụ cho đề tài nghiên cứu là phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA – Participatory Rural Appraisal)
+ Cán bộ phòng thống kê ở 3 xã: Khánh Thượng, Yên Từ, Yên Thắng
+ Hội trưởng: hội phụ nữ, hội nông dân huyện
+ Cán bộ phòng thống kê của Ngân hàng NN& PTNT và ngân hàng CSXH huyện
+ Kế toán trưởng chi nhánh vật tư nông nghiệp huyện
•Sơ đồ VENN: Thể hiện mối quan hệ ảnh hưởng giữa các nhóm người, các
tổ chức và các cá nhân, xác định những tổ chức có vai trò quan trọng đối với hộ sản xuất trồng trọt
•Lich mùa vụ: Minh hoạ chu trình sản xuất nông nghiệp trong một năm,
gồm những thay đổi tự nhiên về khí hậu, lượng mưa, thời kỳ dịch bệnh đối với cây trồng và các hoạt động kinh tế như yêu cầu về lao động, cung ứng đầu vào và tiếp thị sản phẩm
•Cho điểm: Xếp hạng ưu tiên theo phương pháp cho điểm để so sánh, xếp
hạng các lựa chọn theo quan điểm của người dân, tìm ra lựa chọn được ưa thích nhất, ưa thích thứ hai,…
Trang 383.2.3 Phương pháp xử lý thông tin
Số liệu điều tra nông hộ sau khi thu thập đủ được chúng tôi tiến hành kiểm tra, rà soát, loại bỏ những thông tin bất hợp lý trong quá trình phỏng vấn và chuẩn
hoá lại các thông tin làm cơ sở cho việc thiết lập hệ thống số liệu có cơ sở khoa
học và thực tiễn
Phương pháp phân tích, xử lý số liệu được thực hiện với sự trợ giúp của bảng tính EXCEL trên máy vi tính
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin
- VENN: Sơ đồ VENN để xác định vai trò của các đơn vị, tổ chức trong việc
cung ứng đầu vào để phát triển sản xuất trồng trọt của các nông hộ, tìm được mối liên hệ giữa các tổ chức từ đó tìm khó khăn, và đưa ra giải pháp
- Cho điểm: Xếp hạng ưu tiên theo phương pháp cho điểm để so sánh, xếp
hạng các lựa chọn theo quan điểm của người dân, tìm ra lựa chọn được ưa thích nhất, ưa thích thứ hai,…
- Lịch muà vụ: Thể hiện chu trình sản xuất nông nghiệp trong một năm, gồm
những thay đổi tự nhiên về khí hậu, lượng mưa, thời kỳ dịch bệnh đối với cây trồng và các hoạt động kinh tế như yêu cầu về lao động, cung ứng đầu vào và tiếp thị sản phẩm
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
- Chi phí đầu vào bình quân/ ha
- Năng suất sản phẩm bình quân/ ha
- Giá trị sản xuất bình quân/ ha
Trang 394.1 Thực trạng hoạt động sản xuất trồng trọt trên địa bàn huyên Yên Mô từ năm (2007 – 2009)
4.1.1 Tình hình sản xuất trồng trọt của các hộ nông dân trên địa bàn
Với người nông dân, nông nghiệp là hoạt động sản xuất quan trọng nhất Việc chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường
đã làm cho người nông dân đối mặt với “thị trường các yếu tố đầu vào ” nhiều hơn Trong những năm qua cùng với sự cố gắng, nỗ lực của người dân và sự động viên, giúp đỡ của các cơ quan, đoàn thể, chính quyền địa phương mà kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp của huyện nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Trồng trọt vẫn là lĩnh vực được huyện tập trung phát triển với phương châm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng, nhằm tăng giá trị trên một đơn vị diện tích cánh tác Các xã Khánh Thượng, Yên Từ, Yên Phong tiếp tục mở rộng mô hình lúa -cá và kết hợp với phòng nông nghiệp huyện
hỗ trợ một phần kinh phí mua phân bón, mua giống cây trồng Nhất là việc mở rộng diện tích vụ đông, từng bước đưa vụ đông trở thành vụ sản xuất chính Sản xuất trồng trọt từng bước phát triển theo hướng hàng hoá, và có nhiều loại cây cho giá trị kinh tế cao như: Lạc, đậu tương, bí xanh Năm 2009 tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt đạt 102288,85 triệu đồng tăng 5,8% so với năm 2008
B iểu đồ 4.1 Biểu đồ về tình hình SXTT của huyện Yên Mô qua các năm
Nguồn: phòng thống kê nông nghiệp huyện Yên Mô
Trang 40Một số xã nằm ở khu vực phía đông nam địa hình thấp trũng, hàng năm được bồi đắp phù sa nên đất đai nơi đây màu mỡ là vùng trọng điểm phát triển sản xuất lúa và hoa màu Phòng NN&PTNT, Hội nông dân kết hợp với các công ty giống chuyển giao một số giống mới năng suất cao, chất lượng tốt, sạch bệnh, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chống chịu tốt trong điều kiện nóng, hạn vào địa bàn để bổ sung và thay thế dần cho các bộ giống lúa đang bị thoái hóa trên địa bàn như: Giống lúa DT38, XT28, XT33; giống ngô lai chịu hạn LVN15, ngô lai Bioseed 06, … Với kinh nghiệm sản xuất của người dân kết hợp với thâm canh tăng vụ cùng với các giống mới ngắn ngày, hàng năm thâm canh từ 2-3 vụ lúa, 3
vụ ngô làm diện tích gieo trồng cây lương thực của toàn huyện đạt 13928 ha (năm 2009), tăng 358 ha hay tăng 2,6% so với năm 2007 Bên cạnh đó với sự hỗ trợ nhiệt tình của chính quyền địa phương đã hoàn thiện của hệ thống cơ sở hạ tầng (đường giao thông nội đồng, công trình thuỷ lợi), Phòng NN & PTNT huyện kết hợp với công ty giống cây trồng, trạm khuyến nông huyện, hội nông dân huyện tạo thành một kênh phân phối có trách nhiệm, chuyển giao các giống mới cho năng xuất cao, chất lượng tốt, đã góp phần làm tăng sản lượng lương thực của huyện lên đáng kể Năm 2008 tăng 7,2 % so với năm 2007 Năm 2009 mức sản lượng có giảm so với năm 2008 là 1,45% do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, khí hậu bất lợi, dịch bệnh tuy nhiên sản lượng vẫn ở mức cao 85253 tấn tức 6,12 tấn/ha, bình quân mỗi năm mức sản lượng lương thực tăng 2,85% Cùng với sự gia tăng về sản lượng lương thực thì giá trị sản xuất lương thực của huyện cũng tăng dần qua các năm, năm 2009 giá trị sản xuất lương thực của toàn huyện là là 57761,4 tăng 29,43% so với năm 2007
Tiêu biểu nhất là xã Khánh Thượng, một xã thuần nông của huyện, sản xuất nông nghiệp chiếm trên 60% trong cơ cấu kinh tế của xã Hoạt động sản xuất chủ yếu là trồng trọt trong đó cây trồng chính là lúa và ngô, chiếm khoảng 83% tổng diện tích trồng trọt