1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.

67 707 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 415,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp : “Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng” là công trình nghiê

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp

Khóa học : 2010 – 2014 Giảng viên hướng dẫn : Th.S Trần Thị Ngọc

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp : “Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch

An, tỉnh Cao Bằng” là công trình nghiên cứu thực sự của bản thân, được

thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức chuyên ngành, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của cô giáo ThS Trần Thị Ngọc

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực, các nhận xét, phương hướng đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm có

Một lần nữa em xin khẳng định về sự trung thực và lời cam đoan trên

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Đinh Thị Dung

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khoá học ở trường em đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã

Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng với đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng”

Khóa luận được hoàn thành nhờ sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà trường

Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn, các thầy giáo, cô giáo trong khoa Đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo ThS Trần Thị Ngọc người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận này

Để hoàn thành được khóa luận này, em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Uỷ ban nhân dân xã Đức Long, các hộ trồng mía tại các thôn Bản Pò, Bản Mới và Nà Mản đã cung cấp cho em những nguồn tư liệu hết sức quý báu Trong suốt quá trình nghiên cứu, em nhận được sự quan tâm, sự động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi về cả vật chất và tinh thần của gia đình và bạn

bè Thông qua đây, em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến những tấm lòng và sự giúp đỡ quý báu đó

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014

Sinh viên Đinh Thị Dung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

2.1 Mục tiêu chung 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

4 Bố cục khóa luận 4

CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Cơ sở lý luận về hộ nông dân 5

1.1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 6

1.1.3 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất mía 11

1.1 Cơ sở thực tiễn………14

1.2.1 Tình hình sản xuất mía ở thế giới……….14

1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ mía ở Việt Nam 17

1.2.3 Tình hình sản xuất mía tại tỉnh Cao Bằng 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.2.Phạm vi nghiên cứu 20

2.2 Nội dung nghiên cứu 20

2.3 Phương pháp nghiên cứu 20

2.3.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 20

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 21

2.3.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 23

2.3.4 Phương pháp phân tích thông tin 23

2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 24

Trang 5

2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh quy mô sản xuất mía của các hộ điều tra 24

2.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mía 24

2.4.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất mía 25

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26

3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 26

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 29

3.1.3 Tình hình sản xuất mía của xã Đức Long 35

3.1.4 Những thuận lợi khó khăn trong quá trình sản xuất và phát triển cây mía 35 3.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất mía của các nhóm hộ 36

3.2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của các nhóm hộ điều tra 36

3.2.2 Tình hình sản xuất mía của các nhóm hộ điều tra 41

3.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất mía của hộ 43 3.2.4 So sánh hiệu quả kinh tế cây mía với cây ngô trên đất có thể trồng mía 49

CHƯƠNG 4 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT MÍA 50

4.1 Quan điểm, mục tiêu 50

4.1.1 Quan điểm phát triển 50

4.1.2 Mục tiêu phát triển 50

4.2 Phương hướng và một số giải pháp phát triển cây mía của xã Đức Long 50

4.2.1 Giải quyết tốt khâu giống 50

4.2.2 Tăng cường công tác khuyến nông, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân 50

4.2.3 Giải quyết tốt vấn đề vốn vay cho hộ nông dân 51

4.2.4 Phát huy những lợi thế về tự nhiên và xã hội 51

4.3 Kiến nghị 51

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất mía đường trên thế giới từ 2008 - 20012 15

Bảng 1.2 Top 10 Quốc gia sản xuất mía đường hàng đầu thế giới năm 2008 15

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất mía đường Việt Nam từ năm 2005 – 2012 18

Bảng 2.1 Phân loại hộ và số hộ điều tra của xã Đức Long năm 2013 22

Bảng 3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã Đức Long qua 3 năm 2011 - 2013 27

Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm 2011 - 2013 29

Bảng 3.3 Tình hình sản xuất của xã Đức Long qua 3 năm 2011 -2013 31

Bảng 3.4 Diện tích gieo trồng cây hàng năm của xã Đức Long qua 3 năm 2011 - 2013 33

Bảng 3.5 Tình hình sản xuất mía của xã Đức Long qua 3 năm 2011 - 2013 35 Bảng 3.6 Một số thông tin chung về các hộ điều tra 37

Bảng 3.7 Tình hình đầu tư chi phí cho sản xuất mía trong các hộ điều tra 39

Bảng 3.8 Diện tích, năng suất và sản lượng mía của các hộ điều tra 41

Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế sản xuất mía (tính bình quân cho 1 sào) 42

Bảng 3.10 Phân tích ảnh hưởng của tiếp cận khoa học kỹ thuật đến HQKT sản xuất mía (tính bình quân cho 1 sào) 43

Bảng 3.11 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế hộ gia đình đến hiệu quả kinh tế sản xuất mía (tính bình quân cho một sào) 44

Bảng 3.12 Ảnh hưởng của các liều lượng phân bón đến HQKT SX mía (tính bình quân cho 1 sào) 46

Bảng 3.13 Phân tích ảnh hưởng của mức bón phân chuồng đến HQKT SX mía (Tính bình quân cho 1 sào) 48

Bảng 3.14 So sánh HQKT SX của kinh doanh mía và ngô 49

Trang 7

10 HQKT Hiệu quả kinh tế

11 IC Chi phí trung gian

18 TTCN Tiểu thủ công nghiệp

18 UBND Ủy ban nhân dân

20 VA Giá trị gia tăng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nước ta là một nước có nền sản xuất nông nghiệp đang trên đà phát triển chiếm tỷ trọng cao so với các ngành khác và với khoảng 70% dân số sống bằng nghề nông nghiệp Vì vậy, nông nghiệp không chỉ đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân mà còn trong định hướng chiến lược phát triển nông nghiệp trong giai đoạn đổi mới hiện nay, mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định là “cần thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng”, “ hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến” nhằm khai thác tốt tiềm năng kinh tế - tự nhiên - xã hội vốn có của mỗi vùng, tạo ra khối lượng hàng hóa nông sản lớn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và phục vụ nhu cầu xuất khẩu, tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước, giải quyết việc làm cho người lao động đồng thời cải thiện và nâng cao đời sống cho người nông dân Cây mía được coi là một trong những cây nông sản đóng vai trò quan trọng trong việc đem lại hiệu quả kinh tế cao góp phần xóa đói giảm nghèo cho bà con nông dân

Cây mía (Đông y gọi là Cam giá vì cam là vị ngọt, cam giá là cái cây

có vị ngọt) là cây công nghiệp nhiệt đới có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của

Ấn Độ Trong thân cây mía có 8 - 18% đường, 0,22% protein, 0,5% chất béo, các chất khoáng: Canxi, photpho, sắt, kali, silit, mangane, manhezi, một số vitamin, các chất men và một số hoạt chất khác Trong mía có rất nhiều đường do đó trồng mía chủ yếu là làm đường (đường trắng, đường vàng, đường phèn, đường phổi, ) và còn dùng để làm mật, làm nước uống, làm thuốc, chế biến rượu, chế biến thực phẩm, Ở một số vùng đã dùng cả cây mía còn ngọn và lá để thờ trong 3 ngày Tết (đặt bên cạnh bàn thờ, mỗi bên một cây) [7]

Trang 9

Mía là cây trồng cung cấp nguồn nguyên liệu chính cho các ngành công nghiệp đường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay cũng như sau này Nó đã khẳng định vị trí của mình bằng việc thỏa mãn nhu cầu cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp đường, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Sản phẩm chính của cây mía là đường một trong những nhu cầu thiết yếu không thể thiếu được trong đời sống của nhân dân và là một loại gia vị cần có trong

cơ cấu bữa ăn hàng ngày cũng như một loại nước giải khát cung cấp nhiều năng lượng, ngoài ra nó cũng là loại nguyên liệu quan trọng của nhiều ngành sản xuất công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng: bánh, kẹo Ngoài ra các phụ phẩm của ngành công nghiệp đường còn là nguồn nguyên liệu quý báu cho các ngành công nghiệp giấy, bia rượu và cồn Khi đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, thì nhu cầu về bánh kẹo và việc sử dụng các sản phẩm làm từ đường cũng được tăng lên vì vậy việc phát triển ngành trồng và chế biến mía cũng tăng lên, hiện nay cây mía không những đáp ứng nhu cầu về nguồn nguyên liệu mà còn góp phần lôi cuốn một lực lượng lớn lao động ở khu vực nông thôn

Trong những năm qua, cây mía đã giúp nhiều địa phương xóa đói giảm nghèo Cây mía đã và đang mang lại cho bà con nông dân xã Đức Long, huyện Thạch An một nguồn thu đáng kể Là một xã miền núi, diện tích đất canh tác ít, từ lâu cây mía đã và đang là cây “mũi nhọn” để bà con nơi đây giảm nghèo, thực tế cây mía cũng đã giúp nhiều hộ gia đình vươn lên khá giả góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của xã Tuy nhiên, các hộ nông dân vẫn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất do điều kiện thời tiết khí hậu, giá cả thị trường không ổn định và giá cả vật tư nông nghiệp phục vụ hoạt động sản xuất mía tương đối cao Do đó, người nông dân không dám mạnh dạn đầu tư thâm canh dẫn đến hiệu quả sản xuất mía thấp

Trang 10

Để có những cơ sở đánh giá đúng hiệu quả sản xuất mía ở xã nhằm tạo

ra bước phát triển nhanh vững chắc cho cây mía trong thời kỳ tới là nhiệm vụ

rất quan trọng và cấp thiết.Vì vậy, tôi chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh

tế trồng mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng” Với mong muốn sẽ là cơ sở để góp phần đánh

giá đúng thực trạng, HQKT và đưa ra các giải pháp phát triển sản xuất mía hợp lý mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá được hiệu quả kinh tế cây mía của hộ nông dân tại xã qua đó đưa ra các giải pháp nhằm phát triển sản xuất mía, nâng cao thu nhập và đời sống cho hộ nông dân

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất mía

- Đánh giá tình hình sản xuất cây mía

- Đánh giá hiệu quả sản xuất cây mía tại xã

- Đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất mía

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Củng cố lý thuyết cho sinh viên

- Giúp rèn luyện kỹ năng, trang bị kiến thức thực tiễn, làm quen với công việc, phục vụ tích cực cho quá trình công tác sau này

- Xác định cơ sở khoa học, làm sáng tỏ lý luận về hiệu quả kinh tế sản xuất cây mía tại địa phương

- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trang 11

- Nắm bắt được tình hình sản xuất mía và vị trí của cây mía trong sự phát triển kinh tế địa phương Đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển cũng như hiệu quả kinh tế của cây mía

- Đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm phát triển việc trồng mía trên địa bàn xã Đức Long trong những năm tới góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp nông hộ

4 Bố cục khóa luận

Khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất mía

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Cơ sở lý luận về hộ nông dân

1.1.1.1 Khái niệm về hộ nông dân

Nghị quyết 10 của BCT (5/4/1988) ra đời đã khẳng định hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở Nông hộ được hiểu là hộ có phương tiện kiếm sống

từ ruộng đất và sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất Luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về cơ bản được đặc trưng tham gia một phần vào thị trường với mức độ chưa hoàn chỉnh

1.1.1.2 Đặc điểm của hộ nông dân

Theo tạp chí ngân hàng số 75/2003 quan điểm của giáo sư Frank Elis

và quan điểm của giáo sư Đào Thế Tuấn thì hộ nông dân có các đặc điểm sau:

- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dung

- Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dung biểu hiện ở trình độ phát triển của

hộ từ tự cung cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn Trình độ này quyết định quan hệ nông dân với thị trường

- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau, khiến cho khó có giới hạn thế nào là một hộ nông dân

- Khả năng của hộ nông dân chỉ có thể thỏa mãn nhu cầu tái sản xuất giản đơn nhờ sự kiểm soát tư liệu sản xuất nhất là ruộng đất và lao động

- Sản xuất kinh doanh chịu nhiều rủi ro, nhất là rủi ro khách quan trong khi khả năng khắc phục lại hạn chế

Trang 13

- Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống cho gia đình nông dân trước những thiên tai

- Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc tính nổi bật của

hộ nông dân Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các doanh nghiệp tư bản [1]

- “Người nông dân làm công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy” (Woly, 1996)

1.1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế

1.1.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế

HQ là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp đến nền kinh tế sản xuất hàng hóa HQ là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lụa chọn phương án hành động HQ được xem xét dưới nhiều góc độ và quan điểm khác nhau: HQ tổng hợp, HQ kinh tế, HQ chính trị xã hội, hiệu quả trực tiếp, HQ gián tiếp, HQ tương đối và HQ tuyệt đối,… Ngày nay, khi đánh giá hiệu quả đầu tư của các dự án phát triển, nhất là những dự án đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, đòi hỏi phải xem xét hiệu quả kinh tế trên nhiều phương diện

Theo GS.TS Ngô Đình Giao: “HQKT là tiêu chuẩn cao nhất cho mọi

sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý Nhà nước”[2] Còn theo P.samuelson và W.Nordhaus: “HQ sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hóa khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó”[3] Thực chất của hai quan

điểm này đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp, cũng như nền sản xuất xã hội Trên giác độ này rõ ràng phân bổ các

Trang 14

nguồn lực kinh tế sao cho đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất thì sản xuất có HQ

Theo Farell (1957) và một số nhà kinh tế học khác thì chúng ta chỉ tính

được hiệu quả kinh tế một cách đầy đủ theo nghĩa tương đối: “HQKT là một phạm trù kinh tế trong đó sản xuất đạt được cả HQ kỹ thuật và HQ phân phối”

HQ kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể

về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp Như vậy, HQ

kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất, nó chỉ ra một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm

HQ phân phối (hiệu quả giá) là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào Khi nắm được giá của các yếu tố đầu vào, đầu ra người ta sẽ sử dụng các yếu tố đầu vào theo một tỉ lệ nhất định để đạt được lợi nhuận tối đa Thực chất của HQ phân phối chính là HQ kỹ thuật có tính đến giá của của các yếu tố đầu vào và đầu ra, hay chính HQ về giá

Theo TS.Nguyễn Tiến Mạnh: “HQKT là phạm trù kinh tế khách quan phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định”

Mục tiêu ở đây có thể tùy vào từng lĩnh vực sản xuất, tùy vào từng doanh nghiệp Tuy nhiên mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận

Để đạt được điều này doanh nghiệp cần phải sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, vốn,…)

Như vậy, mặc dù còn có rất nhiều những quan điểm khác nhau về khái niệm HQKT nhưng chung quy lại chúng ta có thể hiểu: HQKT chính là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu,

Trang 15

nguyên vật liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để tối đa hóa lợi nhuận

1.1.2.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế

Trong nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường đang khuyến khích mọi ngành, mọi lĩnh vực sản xuất tham gia sản xuất kinh doanh để tìm kiếm cơ hội với yêu cầu, mục đích khác nhau nhưng mục đích cuối cùng là tìm kiếm lợi nhuận Nhưng làm thế nào để có HQKT cao nhất,

đó là sự kết hợp các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra trong điều kiện sản xuất, nguồn lực nhất định Ngoài ra còn phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu khoa học kỹ thuật và việc áp dụng vào trong sản xuất, vốn, chính sách,… quy luật khan hiếm nguồn lực trong khi đó nhu cầu của xã hội về hàng hóa, dịch vụ ngày càng tăng và trở nên đa dạng hơn, có như vậy mới nâng cao được HQKT

Quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra, là biểu hiện mối quan hệ giữa kết quả và HQ sản xuất Kết quả là một dạn lượng vật chất được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể Khi xác định hiệu quả kinh tế không nên chỉ quan tâm đến hoặc là quan hệ so sánh (phép chia) hoặc là quan hệ tuyệt đối (phép trừ) mà nên xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng tuyệt đối HQKT ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận

HQKT trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi phối:

- Quy luật cung - cầu

- Quy luật năng suất cận biên giảm dần

HQKT là một đại lượng để đánh giá, xem xét đến hiệu quả hữu ích được tạo ra như thế nào, có được chấp nhận hay không Như vậy HQKT liên quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất

Trang 16

Việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKT trong sản xuất nông nghiệp

là rất đa dạng vì ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có chi phí vật chất, lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất Việc đánh giá phụ thuộc vào quy trình sản xuất là sự kết hợp giữa các yếu tố đầu vào và khối lượng đầu ra, nó là một trong các nội dung hết sức quan trọng trong việc đánh giá HQSX Tùy thuộc vào từng ngành, quy mô, đặc thù của ngành sản xuất khác nhau thì HQSX được xem xét dưới góc độ khác nhau, cũng như các yếu tố tham gia sản xuất xác định các yếu tố đầu ra, các mục tiêu đạt được phải phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hóa sản xuất

ra phải được trao đổi trên thị trường, các kết quả đạt được là: Khối lượng, sản phẩm, lợi nhuận,… Xác định các yếu tố đầu vào đó là những yếu tố chi phí về vật chất, công lao động, vốn,…

Phân tích HQKT trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra gặp các trở ngại sau:

Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu vào: Tính khấu hao, phân

bố chi phí, hạch toán chi phí,… yêu cầu này phải chính xác và đầy đủ

Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu ra: Việc xác định các các kết quả về mặt xã hội, môi trường sinh thái, độ phì của đất,… không thể lượng hóa được

Bản chất của HQKT xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh

tế xã hội là thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần của mọi cá nhân, tổ chức xã hội.muốn như vậy thì quá trình sản xuất phải phát triển không ngừng về cả chiều sâu và chiều rộng như: vốn, kỹ thuật, tổ chức sản xuất sao cho phù hợp để không ngừng nâng cao HQKT của quá trình sản xuất

Để hiểu rõ phàm trù HQKT chúng ta cần phân biệt rõ ranh giới giữa hai phạm trù kết quả và HQ:

Trang 17

Kết quả là phạm trù phản ánh những cái thu được sau một quá trình kinh doanh hay một khoảng thời gian kinh doanh nào đó Như vậy kết quả có thể biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hoặc đơn vị giá trị Các đơn vị hiện vật cụ thể được sử dụng tùy thuộc vào đặc trưng sản phẩm mà quá trình kinh doanh tạo ra, nó có thể là tấn, tạ, kg, m2, m3, lít,… các đơn vị giá trị có thể là đồng, triệu đồng, ngoại tệ,…

Trong khi đó HQ là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất không thể đo lường bằng các đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị mà nó mang tính tương đối Ta có thể tính toán trình độ lợi dụng nguồn lực bằng số tương đối là tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực

Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt đối: Phạm trù này chỉ phản ánh mức độ đạt được về một mặt nào đó nên cũng mang bản chất là kết quả của quá trình kinh doanh không bao giờ phản ánh được trình độ lợi dụng nguồn lực sản xuất

1.1.2.3 Phân loại hiệu quả kinh tế

Hoạt động sản xuất của nền kinh tế - xã hội được diễn ra ở các phạm vi khác nhau, đối tượng tham gia vào các quá trình sản xuất và các yếu tố sản xuất càng khác nhau thì nội dung nghiên cứu HQKT càng khác nhau Do đó

để nghiên cứu HQKT đúng cần phân loại hiệu quả kinh tế

Có thể phân loại HQKT theo các tiêu chí sau:

* Phân loại theo phạm vi và đối tượng xem xét HQKT được phân theo các khía cạnh sau:

- HQKT quốc dân: Là HQKT tính chung cho toàn bộ nền nền sản xuất

xã hội của một quốc gia

- HQKT ngành: Là HQKT tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất nhất định như công nghiệp, nông nghiệp,…

Trang 18

- HQKT theo lãnh thổ: Tính riêng cho từng vùng, từng địa phương

- HQKT của từng quy mô tổ chức sản xuất - kinh doanh: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình,…

- HQKT từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố đầu vào sản xuất

* Phân loại hiệu quả theo bản chất, mục tiêu:

- HQKT phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu ích về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra, nó đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế của hoạt động kinh tế mang lại

- HQ xã hội: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả của các lợi ích về mặt xã hội do hoạt động sản xuất mang lại

- HQ kinh tế - xã hội: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả tổng hợp về mặt kinh tế - xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó như bảo vệ môi trường, lợi ích công cộng,…

- HQ phát triển và bền vững: Là HQ kinh tế - xã hội có được do tác động hợp lý để tạo ra nhịp độ tăng trưởng tốt nhất và đảm bảo những lợi ích kinh tế

- xã hội lâu dài

* Nếu căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất các nguồn lực và hướng tác động vào sản xuất thì chia HQKT thành:

- HQ sử dụng đất đai

- HQ sử dụng lao động

- HQ sử dụng các yếu tố tài nguyên như năng lượng, vốn,…

- HQ việc áp dụng khoa học - kỹ thuật như HQ làm đất, HQ bón phân,…

1.1.3 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất mía

1.1.3.1 ý nghĩa của việc phát triển sản xuất mía

Mía là một trong những cây trồng quan trọng của nước ta Trong những năm qua, cây mía giúp nhiều địa phương xóa đói giảm nghèo Đối với nông dân Việt Nam hiện nay thu nhập của họ chủ yếu từ những cây trồng, vật nuôi

Trang 19

phù hợp và dễ phát triển trên vùng đất mình Ngày xưa cây mía tạo ra thu nhập cho người nông dân với các sản phẩm mật mía, đường mía thì ngày nay, cây mía và ngành mía đường tại Việt Nam được xác định không chỉ là ngành kinh tế với mang lại lợi nhuận mà còn là một ngành kinh tế xã hội do nó có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống hàng nghìn người nông dân Ngoài ra mía còn là một thức uống Theo đông y dược thảo, cây mía tên khoa học là Sa offcinarum, họ Lúa gramicneal Khi bón đủ phân nước, mía cao hóa thành men rượu, cũng là vị thuốc có tác dụng diệt khuẩn trực trùng đường ruột, lọc sạch mô mỡ có trong máu

Viện sức khỏe cộng đồng Mỹ cho biết, cứ 100ml nước mía chứa 10% đường saccarose, 22% protein, 0,5% lipit, sap, 0,05% cacbon, 0,5% tro muối cali, natri, mangan, silic, sắt và magiê

1.1.3.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của xuất mía

a Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên

* Khí hậu:

- Nhiệt độ: Thích hợp trong phạm vi 20 - 25oC Nhiệt độ cao quá hoặc thấp quá ảnh hưởng đến sinh trưởng bình thường và giảm tốc độ quang hợp Thời kỳ đầu, từ khi đặt hom đến mọc mầm thành cây con, nhiệt độ thích hợp từ 20 - 25oC Thời kỳ đẻ nhánh (cây có 6 - 9 lá), nhiệt độ thích hợp

20 - 30oC Ở thời kỳ mía làm dóng vươn cao, yêu cầu nhiệt độ cao hơn để tăng cường quang hợp, tốt nhất là 30 - 32oC

- Ánh sáng: Rất cần cho sự quang hợp để tạo đường cho cây mía Khi cường độ ánh sáng tăng thì hoạt động quang hợp của bộ lá cũng tăng Thiếu ánh sáng cây mía phát triển yếu, hàm lượng đường thấp và cây mía dễ bị sâu bệnh Trong suốt chu kỳ sinh trưởng, cây mía cần khoảng 2.000 - 3000 giờ chiếu sáng, tối thiểu cũng 1.200 giờ trở lên

Trang 20

- Lượng nước và ẩm độ đất: Đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây mía Trong thân cây mía chứa nhiều nước (70% lượng) Lượng mưa thích hợp 1.500 - 2.000 mm/năm, phân bố trong khoảng thời gian từ 8 - 10 tháng, từ khi cây mía mọc mầm đến thu hoạch Cây mía là loài cây trồng cạn, có bộ rễ ăn nông nên rất cần nước nhưng không chịu ngập úng Ở vùng đồi gò đất cao cần tưới nước trong mùa khô Nơi đất thấp cần nhiều nước, ẩm độ thích hợp khoảng 70 - 80%, ở các thời kỳ khác cần ẩm độ

65 - 70%

* Đất: Mía có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất pha cát, đất cát đến đất sét nặng Riêng đối với một số loại đất như: Đất nhiều cát, ít chất mùn, ít giữ nước - phân, đất chua, nhiều phèn (sắt và nhôm); đất mất chất hữu

cơ, đất bị chai do tập quán đốt lá mía sau thu hoạch, ta phải cải tạo bằng cách bón phân chuồng (trâu, bò), tro rơm, tro trấu Có thể luân canh hoạch trồng xen canh cây họ đậu để làm đất tốt hơn [8]

b Nhóm yếu tố về kỹ thuật

- Thời vụ: Thời vụ trồng mía thường vào đầu và cuối mùa mưa

- Làm đất: Tiến hành vệ sinh đồng ruộng để diệt trừ cỏ dại, mầm mống sâu bệnh, làm cho đất tơi xốp thông thoáng Cày đất là khâu quan trọng giúp

bộ rễ mía ăn sâu, chịu hạn, chống đổ và tăng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây

Khoảng cách hàng trồng khoảng 0,8 - 1m Đào hộc: Rộng 20 - 30 cm, sâu 20 - 30 cm Bón lót toàn bộ phân nền hữu cơ, phân lân và thuốc Basudin trước khi đặt hom 1 - 2 ngày

- Chuẩn bị hom mía: chọn hom ta nên chọn hom không sâu bệnh, không lẫn giống, không xây xát, không quá già và cũng không quá non (tốt nhất là từ 6 - 8 tháng tuổi) Hom mía phải có từ 2 - 3 mầm tốt Ngâm hom trong nước 8 24 giờ đối với giống nảy mầm chậm Tiến hành chặt mỗi hom

Trang 21

hai mắt mầm, chặt ngang giữa long, không chặt sát mầm Hom chặt xong đem trồng ngay là tốt nhất

- Đặt hom: Giống chuẩn bị xong là có thể đặt ngay Hom đặt thành 1 hàng giữa rãnh mía, hai hom cách nhau từ 10 - 20 cm (tùy theo giống) Đối với nền đất ẩm khi đặt hom nên ấn nhẹ cho lún xuống nửa thân hom, để giữ

ẩm cho mầm và rễ dễ phát triển Ở nền đất khô, hom đặt xuống phải lấp một lớp đất mỏng để cố định hom và giữ ẩm

- Chăm sóc: Sau khi trồng 1 - 1,5 tháng tuổi nếu phát hiện chết hom (dài hơn 50cm) nên tiến hành trồng dặm để đảm bảo mật độ bên cạnh đó nên làm sạch cỏ ở giai đoạn cây con để cỏ không cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng với mía Thực hiện kết hợp với 2 lần bón phân

+ Đánh lá mía: có thể đánh lá 3 lần cho mía tương úng lúc mía khoảng

3, 6, 9 tháng tuổi (lúc này mía chuẩn bị thu hoạch) [8]

c Nhóm nhân tố về kinh tế

Cây mía đã thực sự góp phần tạo việc làm cho lao động nông thôn, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống nông dân Hiệu quả kinh tế mía là đòn bẩy vững chắc, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho nhiều hộ gia đình ở địa phương

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình sản xuất mía ở thế giới

Theo thống kê của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO, 2011), hiện nay có 111 quốc gia và vùng lănh thổ trên thế giới trồng mía và chế biến đường từ mía, hàng năm sản xuất được 1.683 triệu tấn mía Sản lượng mía toàn thế giới năm 2009 gấp 3,75 lần sản lượng năm 1961 Trong đó tăng nhiều nhất là vùng Nam Mỹ với 7,73 lần, chiếm 47,65% sản lượng thế giới, tiếp đến là Châu

Á với 3,48 lần, chiếm 35,76% sản lượng thế giới, trong khi đó sản lượng mía ở Châu Âu năm 2009 giảm chỉ còn 1,63% sản lượng năm 1961

Trang 22

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất mía đường trên thế giới từ 2008 - 20012

(triệu ha)

Sản lượng mía (triệu tấn)

Năng suất mía (tấn/ha)

Sản lượng mía thế giới tăng trước tiên do phát triển diện tích Trong thế

kỷ 20, nhất là ở nửa sau thế kỷ, nhiều nước ở Châu Á, Châu Phi, Nam Mỹ phát triển diện tích trồng mía và công nghiệp đường để thỏa mãn nhu cầu trong nước và tìm cơ hội xuất khẩu, nhất là sau khủng hoảng thiếu đường năm

1974 Trong 4 thập kỷ cuối thế kỷ 20, mỗi thập kỷ diện tích mía thu hoạch trên thế giới tăng bình quân hơn 2,5 triệu ha

Năng suất mía bình quân thế giới năm 1961 đạt 50,3 tấn/ha, đến năm

2009 đạt 70,9 tấn/ha, tăng cao hơn gần 41% Đến năm 2008, có 20 nước có sản lượng mía hàng năm đạt trên 9 triệu tấn, trong đó có Việt Nam Còn Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan và Pakistan theo thứ tự là 5 nước sản xuất mía đường lớn nhất thế giới

Bảng 1.2 Top 10 Quốc gia sản xuất mía đường hàng đầu thế giới năm 2008

STT Quốc gia Sản lượng mía (tấn)

Trang 23

Ở Ấn Độ, Viện Lai tạo giống mía Coimbatore (thành lập 1912) đã lai tạo và tuyển chọn ra nhiều giống mía tốt với ký hiệu Co Chỉ tính riêng từ

1918 đến 2000, Viện đã chọn tạo và phóng thích ra sản xuất được 2.077 giống mía mới, góp phần đưa năng suất mía bình quân ở Ấn Độ từ 45,58 tấn/ha vào năm 1961 lên đạt 64,77 tấn/ha vào năm 2009, tăng 42,1% Hiện nay các giống mía Co không chỉ được trồng và chiếm gần 100% diện tích trồng mía ở Ấn

Độ mà còn được xuất khẩu và trồng ở nhiều nước khác trên thế giới trong đó

có Việt Nam

Ở Đài Loan, công tác nghiên cứu thí nghiệm mía bắt đầu từ năm 1900 với việc thành lập vườn thí nghiệm mía đầu tiên Đến năm 1906 vườn thí nghiệm mía được đổi tên thành nông trại thí nghiệm mía và đến năm 1973 thì thành lập nên Viện Nghiên cứu Mía Đường Đài Loan Từ năm 1995 cho đến

2005, Viện đã lai tạo sản xuất được 64 giống mía mới có ký hiệu từ F135 đến F178 và từ ROC 1 đến ROC 27 Những giống mía này hiện vẫn đang được trồng phổ biến tại nhiều vùng trồng mía của Trung Quốc và một số nước khác trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có cả Việt Nam

Ở Cuba, với Viện Nghiên cứu Mía Đường Quốc gia Cuba thành lập từ

1909 và cùng 13 Trại vùng đã lai tạo và tuyển chọn được nhiều giống mía mới có ký hiệu là C, My, Ja

Ở Úc, Trung tâm nghiên cứu mía ở Queensland được thành lập từ năm

1900 với 5 Trại vùng (sau này tăng lên thành 17 trại) Năm 1951 Trung tâm được đổi tên thành Cục điều hành các trại nghiên cứu mía đường (BSES) Từ khi thành lập đến nay, BSES đã lai tạo và tuyển chọn được hàng chục các giống mía tốt mới có ký hiệu là Q (chữ cái đầu của từ Queensland), góp phần đưa năng suất mía bình quân của Úc tăng 29,3%, từ mức 62,16 tấn/ha vào năm 1961 lên đạt 80,39 tấn/ha vào năm 2009

Trang 24

Xã hội loài người càng phát triển, trình độ kỹ thuật công nghệ ngày càng cao thì giá trị kinh tế của cây mía càng được phát huy Không những là nguyên liệu để sản xuất đường từ nhiều thế kỷ; trong thế kỷ 21, cây mía còn

là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp thực phẩm, hóa phẩm, dược phẩm, chế biến cồn sinh học (Ethanol),… Ethanol là một nguồn nhiên liệu không gây ô nhiễm môi trường hay hiệu ứng nhà kính đang dần trở thành nguồn nhiên liệu thiết yếu thay thế cho dầu mỏ của nền kinh tế thế giới

Sản lượng mía đường trên thế giới nhìn chung luôn tăng do sự phát triển diện tích Nhiều nước ở Nam Mỹ, Châu Á, Châu Phi phát triển diện tích trồng mía và công nghiệp đường không những để thỏa mãn nhu cầu trong nước mà còn để xuất khẩu Trong 4 thập kỷ cuối thế kỷ 20, mỗi thập kỷ diện tích mía thu hoạch trên thế giới tăng bình quân hơn 2,5 triệu ha Ngày nay, cây mía còn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp thực phẩm, hóa phẩm, dược phẩm, chế biến cồn sinh học (Ethanol),… Ethanol là một nguồn nhiên liệu không gây ô nhiễm môi trường hay hiệu ứng nhà kính đang dần trở thành nguồn nhiên liệu thiết yếu thay thế cho dầu mỏ của nền kinh tế thế giới

1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ mía ở Việt Nam

Cây mía và nghề làm mật, đường ở Việt Nam đã có từ xa xưa (khoảng

từ 250 năm trước Công Nguyên), nhưng công nghiệp mía đường mới được bắt đầu từ thế kỷ thứ XX Đến năm 1994, cả nước mới có 9 nhà máy đường mía, với tổng công suất gần 11.000 tấn mía ngày và 2 nhà máy đường tinh luyện công suất nhỏ, thiết bị và công nghệ lạc hậu Năm 1995, với chủ trương

“đầu tư chiều sâu, mở rộng các nhà máy đường hiện có, xây dựng một số nhà máy có quy mô vừa và nhỏ ở những vùng nguyên liệu nhỏ Ở những vùng nguyên liệu tập trung lớn, xây dựng các nhà máy các thiết bị công nghệ tiên tiến hiện đại, kể cả liên doanh với nước ngoài, sản lượng đường năm 2000 đạt

Trang 25

khoảng một triệu tấn Chương trình mía đường được chọn là chương trình

khởi đầu để tiến hành công nghệ hóa, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn,

xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp Ngành

mía đường được giao “Không phải là ngành kinh tế vì mục đích lợi nhuận tối

đa mà là ngành kinh tế xã hội”

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất mía đường Việt Nam từ năm 2005 – 2012

Năm Diện tích mía

(ha)

Sản lượng mía (tấn)

Năng suất mía (tấn/ha)

1.2.3 Tình hình sản xuất mía tại tỉnh Cao Bằng

Tỉnh Cao Bằng cây mía được trồng nhiều nhất ở các huyện Quảng

Uyên, Phục Hòa và huyện Thạch An Trong 3 năm gần đây vùng nguyên liệu

mía phát triển khá ổn định và có tính bền vững diện tích sản lượng năm sau

tăng cao hơn năm trước cụ thể:

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (tấn)

Quảng

Uyên 625,96 62 38809,25 930,25 57 53024,25 1156,46 60 69387,6 Phục

Hòa 1600,53 60 96031,80 1925,8 65 125177 2002,03 62 124125,86 Thạch

An 168,78 60,5 10211,19 267,16 56 14960,96 316,25 60 18975

Trang 26

Diện tích trồng mía tăng qua các năm nhưng năng suất mía của các huyện lại có sự biến động, tăng giảm qua 3 năm Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất của mía:

- Bón phân chưa cân đối, trồng mía chưa theo qui trình kỹ thuật

- Quá trình chăm sóc mía gốc chưa theo qui trình: không cày xả luống vun mía gốc và thời tiết mưa nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển, đặc biệt là diện tích mía bị nhiễm bệnh than đen nhiều hơn do không có thuốc đặc trị các hộ nông dân chỉ cắt bỏ đi nên mật độ cây không đảm bảo cũng ảnh hưởng đến năng suất của mía [11]

Trang 27

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề kinh tế liên quan đến quá trình sản xuất, tiêu thụ mía của các hộ nông dân ở xã Đức Long, huyện Thạch

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Thực trạng về sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

- Hiệu quả kinh tế cây mía trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

- Đề xuất một số giải pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất mía của hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận vĩ mô: Nghiên cứu đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ mía trên địa bàn toàn xã Thu thập cả số liệu định tính và số liệu định lượng về sản xuất và tiêu thụ để có thể phân tích, đánh giá chính xác vai trò và giá trị của cây mía trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương Từ

đó rút ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất và tiêu thụ mía ở địa phương

Trang 28

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Sử dụng phương pháp kế thừa từ Ủy

ban nhân dân (UBND), thống kê của xã, hộ trồng mía Trên cơ sở các số liệu thu thập tiến hành phân tích, đánh giá tìm ra những yếu tố tác động, xu hướng phát triển sản xuất, tiêu thụ mía và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao HQKT trong sản xuất và tiêu thụ mía tại địa phương

- Thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp: Những tài liệu mới về sản xuất, tiêu thụ

và nâng cao HQKT vây mía, tổ chức sản xuất, bố trí cây trồng được tổ chức điều tra, phỏng vấn để có thể nhìn nhận về tình hình sản xuất, tiêu thụ mía ở xã một cách tổng quát, tổ chức nghiên cứu thực tiễn tại các vùng có diện tích trồng mía cành lớn của xã là các xóm Bản Pò, Bản Mới, Nà Mản

Để thu thập thông tin có hiệu quả tôi sử dụng sẵn nội dung tìm hiểu, hệ thống biểu mẫu và sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình, phỏng vấn bằng câu hỏi được lập sẵn Các thông tin sơ cấp thu thập tại các hộ bằng hệ thống phiếu điều tra

* Chọn mẫu điều tra:

- Chọn thôn: Chọn địa điểm nghiên cứu phải đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ địa bàn nghiên cứu Xã có 9 thôn trong đó có 6 thôn trồng mía căn cứ vào số lượng, quy mô, diện tích đất trồng mía, kết quả, xu hướng và tiềm năng

về nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây mía ở các thôn trong xã Tôi chọn ra 3 thôn để điều tra bởi lẽ: Đây là các thôn có diện tích mía cho thu hoạch lớn nhất của xã Đồng thời có trên 95% hộ dân trong thôn trồng mía

- Chọn hộ: Chọn 60 hộ điều tra, thôn Bản Pò có 64 hộ trong đó số hộ khá là :

11 hộ, hộ trung bình: 44 hộ và hộ nghèo có 9 hộ Chọn ngẫu nhiên 20 hộ điều tra theo nhóm Coi 20 hộ này là 100% số hộ của thôn thì ta có số hộ khá cần phải điều tra là 3/64 hộ Số hộ trung bình cần phải điều tra là 14/64 hộ Số hộ nghèo cần phải điều tra là 3/64 hộ Vậy thôn Bản Pò điều tra 3 hộ khá, 14 hộ trung bình và 3 hộ nghèo trong tổng số 20 hộ điều tra Thôn Bản Mới và thôn Nà Mản tương tự

Trang 29

Số hộ điều tra thôn Bản Pò

Thôn Bản Mới

điều tra thôn Bản Mới

Thôn

Nà Mản

điều tra thôn

Nà Mản

(Nguồn: Thống kê xã Đức Long)

Trong 60 hộ trồng mía được lựa chọn điều tra tại xã, tôi cũng tiến hành đồng thời điều tra hộ trồng ngô ở 3 thôn trên để so sánh HQKT sản xuất của cây mía với cây ngô Lý do tôi lựa chọn như vậy vì cây ngô là cây trồng trên đất có thể trồng mía Và cây ngô là cây trồng để phục vụ chăn nuôi trong gia đình Hình thức đầu tư, chăm bón có nhiều điểm tương đồng với cây mía

Các hộ này có kết quả, hiệu quả về sản xuất mía từ mức nghèo trở lên, có hiểu biết trong việc trồng cây mía hoặc có kỹ thuật canh tác và thâm canh cây mía đã gắn bó trong nhiều năm, các hộ mang tính chất đại diện cao

- Xây dựng phiếu điều tra: Phiếu điều tra là một tập hợp các biểu mẫu, được xây dựng phục vụ cho quá trình thu thập số liệu, thông tin cần thiết cho khóa luận gồm một số nội dung sau:

+ Những thông tin căn bản về hộ: Họ tên, địa chỉ của chủ hộ, tuổi, trình

Trang 30

+ Các tư liệu sản xuất khác: Bao gồm máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển v.v phục vụ cho sản xuất của hộ

+ Kết quả sản xuất kinh doanh của hộ: Các kết quả thu nhập về trồng trọt (trong đó có cây mía là chủ yếu),…

- Phương pháp điều tra: Phỏng vấn, đàm thoại nêu vấn đề, thảo luận, sử dụng hệ thống câu hỏi đóng và mở phù hợp với tình hình thực tế

Tại điểm nghiên cứu, sau khi tiếp xúc với người địa phương (với UBND

xã, các trưởng xóm) đã chọn ra các hộ gia đình đến thăm và phỏng vấn Trong quá trình thăm hỏi, phỏng vấn hộ, ngoài cá nhân nghiên cứu thường có một cán

bộ của xã và một đại diện cán bộ xóm cùng đi Việc phỏng vấn được cấu thành trong 3 phần chính Sau khi giới thiệu mục đích cuộc thăm hỏi, các câu hỏi về tình hình chung trong gia đình đã được đưa ra Tôi đã giành thời gian tìm hiểu mức độ chính xác và kiến thức kỹ thuật trong việc nâng cao HQKT trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm mía địa phương đã làm

2.3.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu

2.3.3.1 Đối với thông tin thứ cấp

Sau khi thu thập được các thông tin thứ cấp, tiến hành phân loại, sắp xếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng thông tin Đối với các thông tin là

số liệu thì tiến hành lập nên các bảng

2.3.3.2 Đối với thông tin sơ cấp

Phiếu điều tra sau khi hoàn thành sẽ được kiểm tra và nhập vào máy tính bằng phần mềm Excel để tiến hành tổng hợp, xử lý

2.3.4 Phương pháp phân tích thông tin

2.3.4.1 Phương pháp thống kê kinh tế

- Là phương pháp mô tả toàn bộ sự vật hiện tượng trên cơ sở các số liệu đã được tính toán Phương pháp này được thể hiện thông qua số bình quân

Trang 31

chúng với nhau từ đó tìm ra quy luật của hiện tượng nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp này dùng để so sánh tình hình sản xuất giữa các năm của hộ nông dân; so sánh thu nhập của hộ

- So sánh biến động về kinh tế - xã hội của xã Đức Long qua 3 năm (2011 - 2013)

2.3.4.3 Phương pháp phân tổ

- Phân thành nhóm hộ khá và giàu, hộ trung bình, hộ nghèo

2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh quy mô sản xuất mía của các hộ điều tra

- Diện tích gieo trồng, diện tích gieo trồng bình quân/hộ

- Mức đầu tư vốn cố định, vốn lưu động cho sản xuất và cho một đơn vị diện tích (ĐVDT) trồng trọt

2.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mía

- Tổng giá trị sản xuất (GO – Gross Output): Toàn bộ giá trị tính bằng tiền

của toàn bộ sản phẩm thu được trên 1 ĐVDT canh tác trong một chu kỳ sản xuất

Qi: khối lượng sản phẩm loại i xuất ra tính trên 1 ĐVDT canh tác

Pi: Đơn giá sản phẩm loại i (mía)

- Giá trị gia tăng (VA - Value Added) là phần giá trị tăng thêm của người

lao động khi sản xuất trên một đơn vị diện tích, nó được tính bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất và giá trị trung gian trong một chu kỳ sản xuất Nó chính là phần giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó

VA = GO - IC

- Chi phí trung gian (IC - Intermediate Cost): Chi phí trung gian là chi

toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ mua ngoài được đầu tư trong quá trình sản xuất như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật

Trang 32

Trong đó:

Cj: là chi phí thứ j trong quá trình sản xuất

- Thu nhập hỗn hợp (MI - Mix Income) là thu nhập thuần tuý của người

sản xuất, đảm bảo cho đời sống và tích lũy cho người sản xuất Bao gồm thu nhập của công lao động (lao động chân tay và lao động quản lý) và lợi nhuận thu được khi người sản xuất trên từng cây trồng trên một đơn vị diện tích trong một chu kỳ sản xuất

MI = [VA - (A +T)]

A: Giá trị khấu hao; T: Giá trị thuế nông nghiệp (nếu có)

- Lợi nhuận (Pr - Profit): Là phần thu được sau khi trừ đi toàn bộ chi phí

(TC), bao gồm chi phí vật chất, các dịch vụ cho sản xuất, công lao động và khấu hao tài sản cố định Công thức tính:

Pr = GO-TC

2.4.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất mía

- GO/IC: Thể hiện cứ một đồng chi phí trung gian được đầu tư tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất, hiệu suất càng lớn thì sản xuất càng có hiệu quả

- VA/IC: thể hiện cứ một đồng chi phí trung gian được đầu tư tạo ra bao nhiêu đồng giá trị gia tăng

- MI/IC: Thể hiện cứ một đồng chi phí trung gian bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp

Trang 33

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

+ Phía Đông giáp với Trung Quốc có đường biên giới dài 5,5 km

+ Phía Tây giáp với xã Danh Sỹ

+ Phía Nam giáp xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn + Phía Bắc giáp xã Mỹ Hưng huyện Phục Hòa [5]

3.1.1.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình của xã Đức Long chủ yếu là đồi núi, chiếm 76% tổng diện tích

tự nhiên toàn xã Trong đó:

- Núi đá: Được tạo thành một dải vòng cung từ phía Tây đến phía Đông

và từ phía Đông đến phía Bắc dãy núi này vừa là địa giới giữa xã Mỹ Hưng huyện Phục Hòa độ dài 9 km, độ cao 1000 m so với mực nước biển

- Núi đất: Xã có một dãy núi đất chính thoai thoải từ phía Tây về hướng Đông chia xã làm hai phần, đó là đông Dẻ Vàng và là nguồn sinh thủy phục vụ cho nhân dân dung nước sinh hoạt và làm ruộng

- Thung lũng: Nằm xen giữa các dãy núi với diện tích chiếm khoảng 24% tổng diện tích đất tự nhiên Đây là khu vực khá bằng phẳng, thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và xây dựng các công trình hạ tầng của xã [5]

3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu- thủy văn

- Khí hậu: Xã Đức Long mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa khu vực miền núi phía Bắc Khí hậu trên địa bàn xã phân thành hai mùa rõ rệt Mùa Đông lạnh, mưa ít, kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình 13,2oC - 13,5oC, có sương mù và sương muối Mùa hè nóng

ẩm, mưa nhiều kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình 24,7o

C - 25,5oC

- Thủy văn: Lượng mưa lớn (bình quân 1.736,9 mm/năm), trong đó lượng mưa lớn nhất vào tháng 8, thường trên 325,5 mm [5]

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình sản xuất mía đường trên thế giới từ 2008 - 20012 - Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất mía đường trên thế giới từ 2008 - 20012 (Trang 22)
Bảng 1.2. Top 10 Quốc gia sản xuất mía đường hàng đầu thế giới năm 2008 - Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Bảng 1.2. Top 10 Quốc gia sản xuất mía đường hàng đầu thế giới năm 2008 (Trang 22)
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất mía đường Việt Nam từ năm  2005 – 2012 - Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất mía đường Việt Nam từ năm 2005 – 2012 (Trang 25)
Bảng  3.2. Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm 2011 - 2013 - Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
ng 3.2. Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm 2011 - 2013 (Trang 36)
Bảng 3.7. Tình hình đầu tư chi phí cho sản xuất mía trong các hộ điều tra - Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Bảng 3.7. Tình hình đầu tư chi phí cho sản xuất mía trong các hộ điều tra (Trang 46)
Bảng 3.8. Diện tích, năng suất và sản lượng mía của các hộ điều tra - Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Bảng 3.8. Diện tích, năng suất và sản lượng mía của các hộ điều tra (Trang 48)
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế hộ gia đình đến hiệu quả kinh - Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế hộ gia đình đến hiệu quả kinh (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w