1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện cao phong tỉnh hòa bình luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp

112 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bản khuyến nghị phát triển HTX của Tổ chức Lao động quốc tế ILO được thông qua tại kỳ hợp thứ 90, diễn ra vào tháng 6/2002 tại Geneve Thụy Sỹ định nghĩa về HTX như sau: "HTX là một

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Thể

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ

để lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thế Anh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, cá nhân, cán bộ quản lý tại huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình, các thầy, cô giáo và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn tới TS Trần Văn Thể đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình để tôi

có thể hoàn thành đề tài này

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thống kê, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Cao Phong, chủ nhiệm các HTX đã hỗ trợ và giúp đỡ cung cấp thông tin và điều tra trong quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn đến các thầy, cô giáo Bộ môn Kế hoạch và Đầu tư, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn –Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đến bạn bè, gia đình luôn ở bên ủng hộ và giúp đỡ tôi

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn đến tất cả mọi người, sự giúp đỡ đóng góp

đó tạo nên sự thành công của đề tài

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thế Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của để tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa khoa học và đóng góp mới của luận văn 4

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển hợp tác xã nông nghiệp 5

2.1 Cơ sở lý luận đề tài 5

2.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 5

2.1.2 Nguyên lý về xây dựng hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới 6

2.1.3 Vai trò và đặc thù của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới 8

2.1.4 Hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới 15

2.1.5 Nội dung phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới 20

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới 22

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 25

2.2.1 Kinh nghiệm các nước trên thế giới về phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới 25

2.2.2 Thực tiễn về phát triển các hợp tác xã nông nghiệp của Việt Nam 33

Trang 5

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở

huyện Cao Phong 39

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 41

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 41

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 41

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 44

3.1.3 Về văn hoá - xã hội 46

3.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Cao Phong ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp 48

3.2 Phương pháp nghiên cứu 49

3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 49

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 50

3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 51

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 52

3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 52

Phần 4 Kết quả và thảo luận 54

4.1 Thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới tại huyện Cao Phong 54

4.1.1 Thực trạng về quy mô của các hợp tác xã nông nghiệp huyện Cao Phong 54

4.1.2 Thực trạng về phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và các loại hình dịch vụ khác tại các hợp tác xã huyện Cao Phong 55

4.1.3 Thực trạng tình hình tài chính và đất đai của hợp tác xã 57

4.1.4 Kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong 60

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới tại huyện Cao Phong 64

4.2.1 Cơ chế chính sách 65

4.2.2 Các yếu tố thuộc về nguồn lực của hợp tác xã 66

4.2.3 Các yếu tố thuộc thành viên hợp tác xã và cán bộ hợp tác xã 69

4.3 Một số giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong 72

Trang 6

4.3.1 Nâng cao chất lượng nhân lực cho hợp tác xã thông qua đào tạo tập huấn……74

4.3.2 Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý hợp tác xã và hộ nông dân……….… ……… 77

4.3.3 Tăng cường các hoạt động huy động vốn cho phát triển các hợp tác xã nông nghiệp………80

4.3.4 Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cho phát triển các hợp tác xã……….… 83

4.3.5 Tăng cường công tác tổ chức thực hiện và hoàn thiện cơ chế chính sách cho phát triển các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới……….85

4.3.6 Xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa tổ chức Đảng, chính quyền và hợp tác xã trên từng địa bàn……….87

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 90

5.1 Kết luận 90

5.2 Kiến nghị 91

5.2.1 Đối với cấp Trung ương 91

5.2.2 Đối với tỉnh Hòa Bình 91

Tài liệu tham khảo 92

Phụ lục 94

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa Tiếng Việt

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSH Đồng bằng sông Hồng

ĐHTV Đại hội thành viên

ĐHXV Đại hội xã viên

ICED Viện Phát triển kinh tế hợp tác

IPSARD Viện Chính sách và chiến lược phát triển Nông nghiệp

nông thôn

KHCN Khoa học công nghệ

LLSX Lực lượng sản xuất

SXKD Sản xuất, kinh doanh

SXNN Sản xuất nông nghiệp

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 So sánh hợp tác xã nông nghiệp trước đổi mới và hợp tác xã kiểu mới 14

Bảng 3.1 Biến động đất đai huyện Cao Phong qua các năm 2016 - 2018 43

Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế huyện Cao Phong các năm 2016-2018 44

Bảng 3.3 Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp huyện Cao Phong giai đoạn 2016 - 2018 45

Bảng 3.4 Thống kê dân số và lao động của huyện Cao Phong giai đoạn 2016 - 2018 47

Bảng 3.5 Nguồn và phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 50

Bảng 3.6 Số lượng mẫu điều tra 51

Bảng 4.1 Số lượng thành viên bình quân một hợp tác xã giai đoạn 2016-2018 tại huyện Cao Phong, Hòa Bình 54

Bảng 4.2 Tỷ lệ các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ nông nghiệp của các hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Cao Phong năm 2018 56

Bảng 4.3 Tình hình nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn của các hợp tác xã trên địa bàn huyện Cao Phong năm 2018 57

Bảng 4.4 Tình hình đất đai của các nhóm hợp tác xã trên địa bàn huyện Cao Phong Hòa Bình 59

Bảng 4.5 Kết quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã sản xuất, kinh doanh sản phẩm trên địa bàn huyện Cao Phong 60

Bảng 4.6 Kết quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và thương mại trên địa bàn huyện Cao Phong 61

Bảng 4.7 Kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trung bình ở 1 hợp tác xã 62

Bảng 4.8 Đánh giá của các thành viên hợp tác xã về cơ chế chính sách ảnh hưởng tới phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại huyện Cao Phong 65

Bảng 4.9 Tình hình sử dụng trang thiết bị, dây truyền công nghệ của các hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Cao Phong, năm 2018 67

Bảng 4.10 Trình độ của Giám đốc các hợp tác xã tại huyện Cao Phong năm 2018 69

Bảng 4.11 Trình độ của kế toán trưởng các hợp tác xã tại huyện Cao Phong năm 2018 70

Bảng 4.12 Trình độ của trưởng hội đồng kiểm soát các hợp tác xã tại huyện Cao Phong năm 2018 71

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức hợp tác xã chuyển đổi, hoạt động theo Luật hợp tác

xã 2012 15

Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã chuyển đổi, hoạt động theo Luật Hợp tác xã 2012 18

Hình 2.3 Sơ đồ tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã mới thành lập 19

Hình 2.4 Sơ đồ tổ chức hệ thống hợp tác xã tại Nhật Bản 26

Hình 2.5 Cơ cấu tổ chức phong trào hợp tác xã ở Thái Lan 30

Hình 4.1 Lợi nhuận của các nhóm hợp tác xã năm 2018 64

Hình 4.2 Ảnh hưởng của yếu tố cơ sở vật chất tới phát triển các hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Cao Phong 68

Hình 4.3 Ảnh hưởng của yếu tố nguồn lực tài chính tới phát triển các hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Cao Phong 68

Hình 4.4 Hiểu biết của các thành viên hợp tác xã về hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Cao Phong 72

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thế Anh

Tên luận văn: Phát triển hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh

Hòa Bình

Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 8340410

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong thời gian tới

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập thông tin thứ cấp từ các cơ quan có liên quan về thực trạng phát triển HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong Số liệu sơ cấp phục vụ nghiên cứu được thu thập từ điều tra, phỏng vấn 90 hộ và 30 cán bộ quản lý có liên quan đến phát triển HTX nông nghiệp ở Cao Phong Phương pháp phân tích số liệu sử dụng trong luận văn gồm: phương pháp phân tổ thống kê, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh nhằm làm rõ thực trạng phát triển các HTX

nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong

Kết quả nghiên cứu chính và kết luận:

Nghiên cứu làm rõ khung lý thuyết về phát triển HTX nông nghiệp gồm: một số khái niệm về HTX, HTX nông nghiệp kiểu mới, nguyên lý xây dựng HTX Nông nghiệp kiểu mới; Nội dung phát triển HTX nông nghiệp; xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển HTX nông nghiệp Nghiên cứu đã tổng quan kinh nghiệm của một số địa phương trong phát triển HTX nông nghiệp, từ đó rút ra một số bài học cho huyện Cao Phong trong phát triển HTX nông nghiệp trên địa bàn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tình hình sản xuất kinh doanh của các HTX nông nghiệp kiểu mới đã mang lại hiệu quả kinh tế cao năm 2018, lợi nhuận của các HTX nông nghiệp kiểu mới đạt 12.356,2 triệu Trong khi đó với nhóm HTX thuộc nhóm 3 chỉ có lợi nhuận 257,0 triệu và các HTX này hiện vẫn chỉ chuyển đổi theo đúng luật HTX nhưng bản chất thì vẫn không thay đổi Đối với những HTX thuộc nhóm có

số lượng thành viên ít nhưng tập trung, chất lượng thì có hiệu quả kinh tế cao Lĩnh vực hoạt động của HTX mang lại hiệu quả là sản xuất sản phẩm, bảo quản chế biến và tiêu thụ sản phẩm Bên cạnh đó, một số tồn tại của nhóm HTX chậm phát triển chưa thay đổi như: Trình độ của cán bộ HTX vẫn còn hạn chế, cán bộ chưa qua đào tạo còn chiếm

Trang 11

tỷ trọng lớn; Cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu; vốn hoạt động của HTX ít, việc tiếp cận vay vốn còn gặp nhiều khó khăn; nhận thực của cán bộ và các thành viên còn chưa được thông suốt… Vì vậy, một số HTX đã chuyển đổi theo luật về tên, cách gọi, các chức danh, tuy nhiên cách thức hoạt động, các lĩnh vực dịch vụ và hiệu quả hoạt động vẫn như trước khi chuyển đổi theo luận HTX năm 2012

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong gồm: Cơ chế, chính sách; Nguồn lực của HTX; Các yếu tố thuộc về năng lực của thành viên và cán bộ quản lý HTX Trong đó nhóm yếu tố thuộc về nguồn lực của HTX là quan trọng nhất, sau đó đến chất lượng thành viên và cán bộ HTX, những yếu tố này quyết định đến sự thành công của phát triển HTX nông nghiệp ở huyện Cao Phong

Một số giải pháp được đề xuất nhằm thúc đẩy phát triển HTX nông nghiệp một cách bền vững và hiệu quả ở huyện Cao Phong thời gian tới như sau: Tăng cường công tác tổ chức thực hiện và hoàn thiện cơ chế chính sách cho phát triển các HTX nông nghiệp kiểu mới; Tăng cường các hoạt động huy động vốn cho phát triển các HTX nông nghiệp; Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cho phát triển các HTX; Nâng cao chất lượng nhân lực cho HTX thông qua đào tạo tập huấn; Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý HTX và hộ nông dân; Xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa tổ chức Đảng, chính quyền và hợp tác xã trên từng địa bàn

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Author: Nguyen The Anh

Thesis Title: Development of agricultural cooperatives in Cao Phong district, Hoa Binh

province, Vietnam

Major: Economics management Code: 8340410

Educational Organization: Vietnam National University of Agriculture

General Objective

This study aims to assess the current situation of agricultural cooperatives development in Cao Phong district, Hoa Binh province, and to propose policy measures for developing agricultural cooperatives in Cao Phong district in future

Research Methods:

The study used secondary information gathered from relevant agencies on the status of agricultural cooperatives development in Cao Phong district Primary data for the study were collected from the survey, interviewing with 90 households and 30 managers/government officials related to the development of agricultural cooperatives

in Cao Phong Methods of data analysis used in the thesis include as: descriptive statistical methods and comparison methods to clarify the status of developing agricultural cooperatives in Cao Phong district

Main findings and Conclusions:

The study has clarified the theoretical framework for the development of agricultural cooperatives including: concepts of cooperatives, agricultural cooperatives, principles of building agricultural cooperatives; Contents of agricultural cooperative development; identifying factors affecting the development of agricultural cooperatives The study has reviewed the experiences of some localities in the development of agricultural cooperatives, thereby drawing some lessons for Cao Phong district in the development of agricultural cooperatives

The research results show that the production and business situation of agricultural cooperatives has brought high economic efficiency in 2018, the profitability

of the new agricultural cooperatives model reached 12,356.2 million VND Meanwhile, the type of agricultural cooperatives in group 3 only got profit of 257.0 million VND and these agricultural cooperatives are still only converted in accordance with the law of cooperatives but their nature remains unchanged For cooperatives in the group with few members but concentrated which had highly economic efficiency The field of

Trang 13

cooperatives operation having effectiveness were preserving, processing and marketing products Besides, a number of shortcomings of the developed cooperatives have not changed such as: The qualifications of the cooperative officials are still limited, the untrained officials still account for a large proportion; Facilities are poor and backward; The working capital of the cooperative is small, the access to loans is still difficult; The awareness of officials and members of agricultural cooperatives has not been clear Therefore, some agricultural cooperatives have changed according to the law in term of names, calling methods and titles, however the way of operation, service areas and trademarks Performance remains the same as before the transition under the Cooperative law in 2012

Research results showed that factors affecting the development of agricultural cooperatives in Cao Phong district including as: Mechanisms and policies; Resources of cooperatives; Factors belonging to the capacity of members and managers of cooperatives In which, the group of factors belonging to the resources of the cooperatives is the most important, then the quality of members and cooperatives members, these factors determine the success of the development of agricultural cooperatives in Cao Phong district

Some solutions were proposed to promote the development of agricultural cooperatives in a sustainable and effective manner in Cao Phong district in the coming time as follows: Strengthening the implementation and completion of policies and mechanisms for development of new agricultural cooperatives; Strengthening capital mobilization activities for the development of agricultural cooperatives; Increasing investment in building infrastructure for developing cooperatives; Improving the quality

of human resources for cooperatives through training; Strengthening the propaganda to raise awareness for cooperative managers and farmer households; Developing effective coordination mechanisms between Party organizations, authorities and cooperatives in each area

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI

HTX nông nghiệp là một tổ chức kinh tế có vai trò to lớn trong việc liên kết nông dân và doanh nghiệp, phát triển kinh tế hộ gia đình, góp phần xây dựng nông thôn mới tại các địa phương Đến nay, cả nước có 18.837 HTX với hơn 7,3 triệu thành viên; vốn điều lệ bình quân là 1.354 triệu đồng/HTX; doanh thu bình quân ước đạt 2.986 triệu đồng/HTX/năm Trong lĩnh vực nông nghiệp, cả nước

có 10.446 HTX nông nghiệp (HTXNN) với hơn 6,7 triệu thành viên (bình quân

641 thành viên/HTX) hoạt động trong các lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, thủy lợi, lâm nghiệp, diêm nghiệp và các dịch vụ phục vụ nông nghiệp (sau đây gọi tắt là HTX nông nghiệp) chiếm 55,5% tổng số HTX trong cả nước Đa số

các HTX nông nghiệp là các HTX kinh doanh tổng hợp khoảng 7.753 HTX,

chiếm 74,2% (Nguyễn Đình Chính, 2013)

Để tổ chức lại và tăng cường hoạt động của HTX, năm 2012, Luật HTX kiểu mới ra đời với những điểm mới như sau: Về tên gọi một số vị trí của HTX: Giám đốc HTX thay vì chủ nhiệm HTX; Hội đồng quản trị HTX thay vì Ban chủ nhiệm HTX; Thành viên HTX thay vì xã viên.Theo luật năm 2012 HTX hoạt động đúng theo luật HTX chứ không phải là loại hình doanh nghiệp; Mục tiêu của HTX kiểu mới là quan tâm đến lợi ích của các thành viên, khác với kiểu cũ là

vì lợi nhuận (Quốc hội, 2012)

Tỉnh Hòa Bình, ngay từ khi Luật HTX năm 2012 có hiệu lực thi hành, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách cụ thể để chỉ đạo phát triển kinh tế hợp tác, HTX kiểu mới Đến đầu năm 2017, toàn tỉnh đã thành lập mới được 80 HTX, chuyển đổi đăng ký lại 89 HTX, giải thể 74 HTX, chuyển đổi 53 HTX sang hoạt động tổ hợp tác và doanh nghiệp theo luật HTX kiểu mới Đến hết năm 2017, toàn tỉnh có 277 HTX, giảm 16,5% so với năm 2013, trong

đó có 155 HTX hoạt động hiệu quả, tổng doanh thu đạt trên 389 tỷ đồng, lợi nhuận bình quân trên 435 triệu đồng /HTX/năm; nộp ngân sách Nhà nước gần 9

tỷ đồng, thu hút khoảng 10.030 thành viên và người lao động, thu nhập bình quân

đạt khoảng 4 triệu đồng /người/tháng (Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình, 2017) Các

cơ chế, chính sách phát triển kinh tế hợp tác, HTX đã được quan tâm thực hiện, nhiều chính sách đi vào cuộc sống và hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của các HTX Trong tỉnh đã hình thành một số HTX sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm,

Trang 15

bước đầu hình thành các HTX liên kết giữa HTX, tổ hợp tác với doanh nghiệp Đặc biệt, trong tỉnh đã có mối liên kết 4 nhà gồm Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp và HTX Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế vẫn còn nhiều HTX chưa phát huy được hiệu quả, thậm chí đã ngừng hoạt động nhiều năm cần phải tiến hành giải thể Năng lực quản trị của các HTX, tổ hợp tác còn yếu, một số chính sách hỗ trợ phát triển HTX chưa phát huy lại hiệu quả, tổ chức chưa phù hợp, thiếu vốn và nguồn lực sản xuất (Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình, 2017) Do vậy cần có các nghiên cứu đánh giá để tìm kiếm các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy phát triển hoạt động của HTX theo luật HTX kiểu mới trong bối cảnh cả nước và tình thực hiện tái cơ cấu sản xuất các ngành kinh tế, nâng cao giá trị gia tăng

Đối với huyện Cao Phong từ khi chuyển đổi hoạt động HTX theo luật

2012, tổ chức hoạt động HTX kiểu mới đã có nhiều chuyển biến tích cực như đã xây dựng được nhiều HTX kiểu mới hoạt động có hiệu quả như: Liên minh HTX Cam Cao Phong; HTX Phúc Linh sản xuất, chế biến các sản phẩm liên quan đến cam Các HTX này đã góp phần rất lớn vào công cuộc xây dựng nông thôn mới của huyện, cải thiện năng lực sản xuất, phát triển kinh tế nông thôn và nâng cao thu nhập cho nông dân

Tuy nhiên, bên cạnh những HTX kiểu mới hoạt động có hiệu quả thì vẫn còn một số HTX đã chuyển đổi nhưng do năng lực yếu kém, trình độ còn thấp,

cơ sở vật chất nghèo nàn, nhận thức của lãnh đạo và các thành viên HTX về nội dung, phương thức hoạt động theo Luật HTX kiểu mới còn hạn chế dẫn đến hiệu

quả hoạt động chưa cao Hiện tượng “Bình mới, rượu cũ” còn xảy ra, chưa

mang lại những chuyển biến tích cực, phục vụ phát triển kinh tế nông thôn, đòi hỏi phải có những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực hoạt động và đóng góp của các loại hình HTX này

Từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phát triển HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình” nhằm phát huy

hiệu quả, năng lực hoạt động, nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới của huyện

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển của HTX nông nghiệp và đề xuất

Trang 16

các giải thúc đẩy pháp phát triển HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình thời gian tới

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Câu hỏi nghiên cứu đặt ra là:

- Hiện trạng phát triển của các HTX nông nghiệp ở huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình thế nào?

- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển HTX nông nghiệp tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình?

- Giải pháp nào cần được đề xuất để phát triển HTX nông nghiệp tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn phát phát triển HTX nông nghiệp theo luật HTX 2012

Đối tượng khảo sát gồm: Cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ quản lý HTX

và các xã viên của hộ tác xã

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại tất cả các HTX

nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

- Phạm vi về nội dung: Đề tài chủ yếu nghiên cứu thực trạng phát triển và

hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp và các HTX thương mại dịch vụ liên quan đến nông nghiệp từ đó đề xuất giải pháp phát triển HTX nông nghiệp,

Trang 17

HTX thương mại dịch vụ nông nghiệp kiểu mới hiệu quả hơn, theo luật HTX năm 2012

- Phạm vi về thời gian: Đề tài sử dụng số liệu nghiên cứu được thu thập

trong giai đoạn 2016-2018

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

- Về lý luận: Nghiên cứu làm rõ khung lý thuyết về phát triển HTX nông

nghiệp gồm: một số khái niệm về HTX, HTX nông nghiệp kiểu mới, nguyên lý xây dựng HTX Nông nghiệp kiểu mới; Nội dung phát triển HTX nông nghiệp; xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển HTX nông nghiệp Nghiên cứu đã tổng quan kinh nghiệm của một số địa phương trong phát triển HTX nông nghiệp, từ đó rút ra một số bài học cho huyện Cao Phong trong phát triển HTX nông nghiệp trên địa bàn

- Về thực tiễn: Đây là đề tài mang tính ứng dụng cao, khi được thực hiện

góp phần giúp các HTX nông nghiệp hiện nay, không chỉ các HTX trên địa bàn huyện Cao Phong nói riêng mà các HTX của tỉnh Hòa Bình và mở rộng hơn nữa

là trên phạm vi toàn quốc nói có thể ứng dụng và nhân rộng phát triển, giúp các HTX hoạt động có hiệu quả cao

Trang 18

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỀ TÀI

2.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài

2.1.1.1 Khái niệm hợp tác xã

Ngày 23/9/1945, Đại hội liên minh HTX quốc tế (ICA) lần thứ 31 tổ chức

tại Manchester (Vương quốc Anh) đã định nghĩa về HTX như sau: "HTX là hiệp

hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ chung và kiểm tra dân chủ"

Trong bản khuyến nghị phát triển HTX của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) được thông qua tại kỳ hợp thứ 90, diễn ra vào tháng 6/2002 tại Geneve (Thụy Sỹ) định nghĩa về HTX như sau: "HTX là một tổ chức tự chủ của những người tình nguyện liên kết lại với nhau nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn về kinh tế, văn hóa và xã hội thông qua việc thành lập một doanh nghiệp

sở hữu tập thể, góp vốn bình đẳng, chấp nhận việc chia sẽ lợi ích và rủi ro, với sự

tham gia tích cực của các thành viên trong điều hành và quản lý dân chủ"

Liên hiệp HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân,

do ít nhất 04 HTX tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của HTX thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý liên hiệp HTX

Ở nước ta, khái niệm HTX theo Luật HTX 2003: "HTX là tổ chức kinh tế

tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là thành viên HTX) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng thành viên HTX tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh

và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của

đất nước” (Quốc hội, 2003)

Với khái niệm này HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm

vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật

Trang 19

Khi Luật HTX 2012 được ban hành thì khái niệm HTX đã được thay đổi như sau: HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 7 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên

cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX

So với Luật HTX năm 2003 thì Luật HTX năm 2012 đã làm rõ được bản chất của HTX là một tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể thành lập trên tinh thần tự nguyện, nhằm lợi ích chung của các thành viên Luật HTX năm

2012 đã bỏ quy định “HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp”, quy định này đã gây ra hai luồng ý kiến Đa số ý kiến cho rằng, HTX là tổ chức kinh tế tự chủ do các thành viên tự nguyện thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu chung của mình mà từng thành viên đơn lẻ không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả hơn Một số ít ý kiến khác cho rằng: Cần khẳng định “HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp” như được quy định tại Luật HTX năm 2012 vì thực chất HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp đặc thù, cần được bảo đảm hoạt động bình đẳng với mọi loại hình doanh nghiệp khác và có quyền kinh

doanh một số ngành nghề mà pháp luật không cấm

2.1.1.2 Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới

Như đã phân tích ở trên, Luât HTX năm 2012 đã đưa ra khái niệm “HTX nông nghiệp kiểu mới là hình mẫu HTX hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực

nông nghiệp” (Quốc hội, 2012) Theo khái niệm này, HTX NN là hình mẫu hoạt

động có hiệu quả của một hình thức tổ chức sản xuất, nó mang tính đặc trưng của từng vùng, miền và từng ngành hàng nông sản

Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới là một hình thức tổ chức sản xuất, là một thể chế kinh tế nên không giống với một vật thể Do vậy, HTX nông nghiệp kiểu mới là hình mẫu của một thể chế kinh tế, trong đó luật chơi gồm khung pháp lý và các quy định không mang tính pháp lý và các HTX nông nghiệp kiểu mới chịu sự chi phối và điều chỉnh theo các khung pháp lý và các quy định này

2.1.2 Nguyên lý về xây dựng hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới

Theo quy đinh trong Luật HTX năm 2012, HTX nông nghiệp kiểu mới phải đảm bảo tuân thủ 4 nguyên tắc chủ yếu sau:

a Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới phải đảm bảo tuân thủ các quy định của hệ thống luật pháp hiện hành

Trang 20

Trước hết, đề xuất về HTX nông nghiệp kiểu mới phải đảm bảo tuân thủ đầy đủ các các quy định của hệ thống luật pháp hiện hành tại Việt Nam đối với tổ

chức HTX, cụ thể là phải tuân thủ Luật HTX 2012 (Quốc hội, 2012) và các Luật

có liên quan như: Luật phá sản ban hành 19/6/2014; Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi năm 2013 banh hành 19/6/2013; Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

2008 ban hành 03/6/2008; luật sửa đổi các luật về thuế 2014 ban hành 26/11/2014; Luật việc làm 2013 ban hành 16/11/2013; Luật đầu tư 2005 ban hành

29/11/2005 (còn hiệu lực đến 30/6/2015); Luật đầu tư 2014 ban hành 26/11/2014;

Luật thi đua khen thưởng sửa đổi 2013 ban hành ngày 16/11/2013; Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi năm 2013 ban hành 19/6/2013; các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành Luật như Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính

phủ về Quy định chi tiết một số điều của Luật HTX (Chính phủ, 2013)

b Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới đảm bảo tính khả thi

Hợp tác xã NN kiểu mới phải đảm bảo tính khả thi trong thực tiễn, với tôn chỉ hoạt động của tổ chức HTX là dịch vụ cho thành viên là chính, không đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu Trong thiết kế, HTX nông nghiệp kiểu mới cần sắp xếp ưu tiên các mục đích hoạt động theo thứ tự như sau: (i) Đáp ứng các dịch

vụ phục vụ thành viên với vai trò HTX là “bà đỡ” cho kinh tế hộ nông dân; (ii) Phát triển cộng đồng; (iii) Lợi nhuận hoạt động

Để đảm bảo tính khả thi, khi xây dựng HTX NN kiếu mới cần phải: (i) Xác định mục tiêu không xa vời thực tiễn nhưng không quá thực dụng và phải xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng; (ii) Các nội dung hoạt động của HTX phải

cụ thể, thiết thực; và (iii) Đảm bảo những đối tượng tham gia có được lợi ích cao hơn và bền vững trước khi tham gia (Nguyễn Thiện Nhân, 2015)

c Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới phải đảm bảo tính tiên tiến

Hợp tác xã NN kiểu mới phải đảm bảo tính tiên tiến hơn so với các HTX hiện tại Tính tiên tiến của được thể hiện trên các khía cạnh: (i) Đảm bảo quan hệ sản xuất phù hợp với với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp; (ii) Thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá, hình thành các chuỗi giá trị nông sản, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ để nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản, nâng cao thu nhập cho thành viên và lợi ích của HTX

d Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới phải có khả năng nhân rộng

Các tiêu chí đánh giá khả năng nhân rộng của là:

Trang 21

- Phù hợp với lộ trình phát triển kinh tế đất nước

- Hiệu quả hoạt động của cao, được đông đảo thành viên thừa nhận

- Có thể áp dụng rộng rãi tại các địa phương có điều kiện tương tự

e Khung pháp lý

Luật HTX 2012 là khung pháp lý cao nhất đối với tổ chức HTX Dưới Luật này hiện nay đã có Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ về Quy định chi tiết một số điều của Luật HTX

Bên cạnh Luật HTX 2012, các HTX với tư cách là một hình thức tổ chức sản xuất còn phải tuân thủ các quy định hiện hành khác trong hệ thống Luật pháp Việt Nam, trong đó có các bộ Luật liên quan nhiều nhất là: Luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật đầu tư, Luật Thương mại, Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Khoa học công nghệ, Luật chuyển giao khoa học công nghệ…

- Cơ chế phân phối

- Vai trò của Nhà nước và quan hệ của HTX với các thể chế kinh tế khác

2.1.3 Vai trò và đặc thù của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới

2.1.3.1 Vai trò của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới

Kinh tế hợp tác trong lịch sử được phát triển dưới nhiều hình thức từ thấp đến cao: từ tổ vân công, đổi công đến tổ đoàn kết sản xuất, chuyển sang các hình thức HTX dịch vụ, các HTX sản xuất hoặc các HTX vừa sản xuất vừa làm dịch

vụ Kinh tế hợp tác, HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng có vai trò

quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội (Chu Tiến Quang, 2012)

Hợp tác xã nông nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, làm được những việc mà từng người, từng hộ đơn lẻ không làm được hoặc làm không có hiệu quả HTX nông nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế hộ phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ trang trại liên kết, hợp tác, thành lập HTX HTX nông

Trang 22

nghiệp góp phần nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm được nhiều khoản chi phí trong đầu tư cho sản xuất, kinh doanh; huy động được nhiều vốn, nhiều nhân lực, chế ngự được thiên tai địch hoạ, đáp ứng kịp thời yêu cầu sản xuất, kinh doanh; cung cấp sản phẩm cho xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế, góp phần vào ngân sách nhà nước HTX nông nghiệp khai thác được tiềm năng trong dân

cư để mở mang ngành nghề, phát triển sản xuất, tăng nguồn hàng xuất khẩu, đóng góp vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã hội (Chính phủ, 2013)

Hợp tác xã nông nghiệp hỗ trợ người nghèo, giúp đỡ họ cùng phát triển Bởi lẽ HTX nông nghiệp không chỉ gắn bó các thành viên về kinh tế mà còn được hình thành và phát triển trên cơ sở tình làng nghiã xóm, góp phần thực hiện các chính sách xã hội trên địa bàn như cung ứng các mặt hàng chính sách cho vùng miền núi, dân tộc, vùng thiên tai bão lụt, tham gia xoá đói, giảm nghèo, khắc phục bần cùng hoá; phòng chống các tệ nạn xã hội Kinh tế hợp tác và HTX nông nghiệp còn tạo điều kiện cho những người lao động, những người sản xuất nhỏ phát triển marketing, nhờ đó những khả năng mở rộng được thị trường trong

và ngoài nước đảm bảo sự cân bằng và chẳng những có thể trụ vững trong thị trường cạnh tranh, mà còn không ngừng phát triển, không bị phá sản trở thành gánh nặng lao động thất nghiệp cho xã hội (Chu Tiến Quang, 2012)

Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức sản xuất có tính xã hội chủ nghĩa Trước hết, đó là các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, vệ tinh của các doanh nghiệp nhà nước; là đơn vị liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác

và có thể là đơn vị xuất nhập khẩu Tính xã hội của HTX nông nghiệp được thể hiện ở chỗ là một tổ chức kinh tế của những người lao động, tập hợp được đông đảo mọi người tham gia nhằm giúp đỡ lẫn nhau, tăng thêm sức mạnh trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập chính đáng

và ở việc HTX hỗ trợ người nghèo Trong mọi hoạt động của mình, HTX còn có nghĩa vụ giáo dục tinh thần hợp tác cho xã viên, khuyến khích sự hợp tác không chỉ trong nội bộ xã viên của HTX mà còn giữa các HTX Ngoài chăm lo về mặt kinh tế, HTX còn chăm lo cả về mặt tinh thần cho xã viên thông qua các hoạt động chung của HTX Tuy nhiên tất cả những hoạt động xã hội phải được tiến hành trên cơ sở hoạt động kinh tế có hiệu quả Những hoạt động này sẽ góp phần nâng cao trình độ dân trí của cộng đồng, góp phần dân chủ hoá đời sống xã hội,

ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng (Chính phủ, 2013)

Ngoài ra, HTX nông nghiệp còn có vai trò tạo điều kiện thuận lợi đưa tiến

bộ khoa học kỹ thuật, quản lý, công nghệ mới vào sản xuất Tiến hành chuyên

Trang 23

môn hoá, tập trung hoá, phát triển hợp lý các ngành sản xuất, dịch vụ và thâm canh khoa học Khai thác tiềm năng về vốn, lao động và công nghệ, đảm bảo môi trường sinh thái, có khả năng đào tạo và bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường

2.1.3.2 Đặc thù của hợp tác xã nông nghiệp

Qua nội dung Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Luật HTX năm 2012 (Quốc hội, 2012), đã thể hiện những đặc điểm cơ bản của HTX nông nghiệp kiểu mới và ưu

nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể mang tính xã hội cao bao gồm cả thể nhân, pháp

nhân (các tổ chức kinh tế - xã hội), cán bộ công chức, cả người ít vốn lẫn người

nhiều vốn, nhưng phải tuân theo những nguyên tắc chặt chẽ về gia nhập và ra khỏi, về tổ chức quản lý HTX theo luật định Mặt khác, HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự nguyện, có quyền tự chủ, bình đẳng với các loại hình kinh doanh khác trong quá trình hoạt động Chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính của mình đối với các tổ chức kinh tế khác theo thỏa thuận, hợp đồng đã kí kết Điều này đã khắc phục được tư tưởng HTX nặng về tổ chức xã hội và là công cụ của

chính quyền cơ sở như HTX trước đổi mới (Quốc hội, 2012)

b) Hợp tác xã nông nghiệp tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc tự nguyện: mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện

theo quy định của luật HTX, tán thành điều lệ HTX đều có quyền gia nhập HTX Thành viên có quyền ra khỏi HTX nông nghiệp theo quy định của điều lệ HTX Nguyện vọng của họ được tôn trọng, không bị cưỡng bức, gò ép Đây là nguyên tắc quan trọng, đảm bảo động viên được sự nhiệt tình của các đối tượng tham gia

- Nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và công khai: Xã viên có quyền tham gia

quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của HTX nông nghiệp; những vấn để lớn trong sản xuất, kinh doanh của HTX nông nghiệp đều phải được đại hội xã viên thảo luận dân chủ và thông qua; các xã viên đều có quyền ngang nhau trong biểu quyết theo hình thức mỗi người một phiếu bầu, giá trị mỗi phiếu như nhau, không phụ thuộc vào mức vốn góp; đồng thời, HTX phải thực hiện tốt việc công

Trang 24

khai cho xã viên biết theo định kỳ về phương thức, kế hoạch sản xuất - kinh doanh, công khai tài chính, phân phối, thu nhập của HTX Đây là nguyên tắc then chốt, liên quan đến sự tồn tại và phương hướng phát triển lành mạnh của HTX (Quốc hội, 2012)

- Nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX nông

nghiệp là tổ chức kinh tế, hoạt động với mục đích lấy lợi ích kinh tế là chính, bao gồm lợi ích các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời, coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên Trong thành lập và hoạt động, HTX có quyền được lựa chọn ngành nghề sản xuất - kinh doanh phù hợp mà pháp luật không cấm, theo ý chí, nguyện vọng của xã viên; hoàn toàn tự chủ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh

và tự chịu trách nhiệm trong cơ chế thị trường; liên doanh liên kết với các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế Trong phân phối lợi ích và giải quyết những vấn

đề có liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi, phải tuân thủ nguyên tắc cùng có lợi, hài hòa giữa xã viên và xã viên, giữa xã viên và HTX, HTX với lợi ích cộng đồng Nguyên tắc này đã xác định rõ điều kiện tồn tại và phát triển của HTX chính là ở vai trò, trách nhiệm làm chủ của các xã viên đối với HTX; chủ động phát huy các nguồn lực, nhất là nguồn lực sẵn có của xã viên; HTX năng động tìm kiếm cơ hội kinh doanh và cạnh tranh để tồn tại và phát triển

- Nguyên tắc hợp tác và phát triển cộng đồng: Là nguyên tắc và tiêu chí

mang tính đặc trưng của HTX nông nghiệp kiểu mới, gắn kết lợi ích kinh tế của các thành viên HTX với lợi ích xã hội và phát triển cộng đồng HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể, mọi hoạt động kinh tế của các thành viên tham gia với phương châm hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua khó khăn; tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của các thành viên tham gia Trên cơ sở đó, không ngừng nâng cao vai trò, tính chất xã hội của HTX

để giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần tích cực thực hiện chủ trương giải quyết công ăn, việc làm, xóa đói giảm nghèo, xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội, tăng cường tình làng, nghĩa xóm, đoàn kết cộng đồng, đó là nhân tố quan trọng để HTX nông nghiệp phát triển bền vững

c) Quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối trong hợp tác xã

- Về quan hệ sở hữu: Trong HTX kiểu cũ, một đặc điểm quan trọng nhất

quyết định các quan hệ khác là chế độ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất Người nông dân khi vào HTX phải góp ruộng đất, trâu bò, công cụ sản xuất chủ yếu; xóa bỏ sở hữu của hộ gia đình, sở hữu cá nhân không được thừa nhận Chính

Trang 25

điều này đã làm nảy sinh tình trạng vô chủ và sự thiếu trách nhiệm của nhiều xã viên đối với tài sản của HTX Trong HTX kiểu mới, sở hữu của HTX là sở hữu đan xen, đa dạng và linh hoạt, phù hợp với yêu cầu và đặc điểm của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, "dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu

tập thể" (Chu Tiến Quang, 2012)

Sở hữu của tập thể xã viên (sở hữu của HTX) là nguồn vốn tích lũy tái đầu

tư, các tài sản do tập thể mua sắm để dùng cho hoạt động của HTX và các quỹ không chia Những vốn, quỹ, tài sản thuộc sở hữu tập thể được khuyến khích tăng thêm cùng với sự phát triển của HTX nhằm tạo điều kiện củng cố, phát triển HTX Sở hữu thuộc cá nhân xã viên được tôn trọng, xã viên có toàn quyền sử dụng vốn, các phương tiện sản xuất thuộc sở hữu riêng để sản xuất - kinh doanh Nếu HTX có nhu cầu sử dụng các tư liệu sản xuất đó, thì phải thuê của xã viên Vốn góp của xã viên khi vào HTX được sử dụng cho hoạt động chung của HTX

và sẽ trả lại cho xã viên khi ra khỏi HTX Như vậy, HTX không tập thể hóa mọi

tư liệu sản xuất của các thành viên, tôn trọng sở hữu của các thành viên HTX kiểu mới làm cho xã viên thực sự là chủ nhân của HTX thông qua quy định về góp vốn, góp sức xây dựng HTX; quyền lợi, trách nhiệm của xã viên gắn liền với kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của HTX

- Về quan hệ quản lý: Trong cơ chế quản lý của HTX kiểu cũ, quan hệ

giữa xã viên với HTX là quan hệ phụ thuộc, xã viên bị tách khỏi tư liệu sản xuất, trở thành người lao động làm công theo sự điều hành tập trung của HTX; tính chất hợp tác đích thực trong HTX không còn, người lao động phụ thuộc, bị động, thiếu chủ động sáng tạo Đặc trưng của HTX kiểu mới là hoạt động sản xuất - kinh doanh của HTX không bao trùm toàn bộ hoạt động sản xuất - kinh doanh của xã viên, mà chỉ diễn ra ở từng công đoạn, khâu công việc nhằm bổ trợ, phát huy thế mạnh của từng xã viên Do đó, HTX kiểu mới phát huy được quyền làm chủ của họ Xã viên trực tiếp tham gia quản lý, giám sát hoạt động của HTX theo nguyên tắc quản lý dân chủ, xã viên quyết định các công việc quan trọng của HTX một cách bình đẳng, không phân biệt vốn góp ít hay nhiều Bộ máy quản lý HTX được tổ chức gọn nhẹ, hiệu quả, tách rõ chức năng quản lý với chức năng điều hành Tuy nhiên, tùy theo yêu cầu trình độ phát triển của HTX mà có thể thành lập bộ máy vừa quản lý, vừa điều hành hoặc thành lập riêng bộ máy quản

lý với bộ máy điều hành Ban quản trị HTX là bộ máy quản lý HTX do đại hội xã viên bầu trực tiếp Trường hợp HTX không tổ chức riêng bộ máy quản lý và bộ máy điều hành thì người đứng đầu bộ máy quản lý và bộ máy điều hành là chủ

Trang 26

nhiệm HTX, đồng thời là trưởng ban quản trị và phải là xã viên HTX, do đại hội

xã viên bầu Trường hợp HTX tổ chức riêng bộ máy quản lý và điều hành thì người đứng đầu bộ máy quản lý là trưởng ban quản trị và người đứng đầu bộ máy điều hành là chủ nhiệm HTX; ở trường hợp này, chủ nhiệm HTX có thể là người được thuê ngoài HTX, không phải là xã viên Theo Luật HTX năm 2003, người đứng đầu HTX được gọi là Chủ nhiệm HTX, theo Luật HXT năm 2012 được gọi

là Giám đốc HTX hoặc Tổng giám đốc HTX (Quốc hội, 2012)

- Về quan hệ phân phối: Trong các HTX kiểu cũ, chế độ phân phối mang

nặng tính bình quân, bao cấp, không khuyến khích xã viên tích cực, hăng say lao động; xã viên thiếu gắn bó với HTX, giành công sức làm kinh tế gia đình HTX kiểu mới "thực hiện phân phối theo nguyên tắc công bằng, cùng có lợi", người lao động ngoài tiền công được nhận theo số lượng và chất lượng lao động, còn được nhận lãi chia theo mức độ tham gia dịch vụ và lợi tức cổ phần theo vốn góp Lợi nhuận HTX càng cao, lợi tức cổ phần càng lớn, thu nhập của xã viên càng nhiều Đây là động lực khuyến khích xã viên hăng say làm việc, gắn bó với HTX Trong quá trình phân phối, HTX còn tạo ra các quỹ không chia; một mặt, để mở rộng sản xuất; mặt khác, tạo lên phúc lợi công cộng cho mọi thành viên trong HTX; kết hợp chặt chẽ lợi ích

cá nhân và lợi ích tập thể, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài (Quốc hội, 2012) d) Tổ chức và hoạt động của HTX không bị giới hạn về quy mô, lĩnh vực và địa bàn (trừ một số lĩnh vực có quy định riêng) với linh hoạt, đa dạng về hình thức, phù hợp với đặc điểm từng ngành, từng vùng, với nhiều trình độ phát triển từ thấp đến cao

Có những HTX chỉ hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu chung về một hay một số dịch vụ đầu vào đầu ra, dịch vụ chuyên ngành, dịch vụ tổng hợp đa chức năng; HTX sản xuất kết hợp dịch vụ, HTX sản xuất kinh doanh ở mức độ hợp tác

toàn diện; từ HTX phát triển thành các liên hiệp HTX (Quốc hội, 2012)

e) Hợp tác xã và kinh tế hộ tự chủ có mối quan hệ gắn bó, tác động tương hỗ,

cùng nhau phát triển

Nếu như trong HTX kiểu cũ, kinh tế cá thể, hộ gia đình không được chấp nhận hoặc chỉ được coi là kinh tế phụ và bị hạn chế trong một giới hạn nhất định, thì HTX kiểu mới được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế hộ HTX kiểu mới không thủ tiêu tính tự chủ sản xuất - kinh doanh của các thành viên, HTX chỉ làm những gì mà mỗi thành viên riêng lẻ không làm được hoặc làm không hiệu quả để hỗ trợ cho các thành viên phát triển Trong nông nghiệp, hộ nông dân

Trang 27

vừa là đơn vị kinh tế tự chủ, vừa là người chủ của HTX, là người tiêu dùng các dịch vụ đầu vào và bán sản phẩm cho HTX; do đó, kinh tế hộ càng phát triển, càng tạo ra những tiền đề kinh tế thuận lợi cho sự phát triển HTX; ngược lại, HTX phát triển để hỗ trợ, bổ sung cho kinh tế hộ phát huy hết khả năng của mình

trong sản xuất - kinh doanh (Quốc hội, 2012)

Có thể khái quát đặc trưng HTX nông nghiệp kiểu mới so với HTX nông

nghiệp thời kỳ trước đổi mới (bảng 2.1)

Bảng 2.1: So sánh hợp tác xã nông nghiệp trước đổi mới và hợp tác xã

ty vật tư nông nghiệp, công ty lương thực, công ty giống…) tức là được độc quyền hóa và hành chính hóa

Môi trường hoạt động đã khác hẳn, quan hệ hành chính, độc quyền được thay bằng quan hệ kinh tế đa phương, tự nguyện HTX phải tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự bù đắp, bảo toàn và phát triển vốn, phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế nhiều thành phần, giao lưu kinh tế, từng bước phát triển trên cơ sở luật pháp của nhà nước

Thành viên

tham gia Thể nhân Thể nhân, pháp nhân

Sở hữu Sở hữu tập thể trên cơ sở tập thể hóa tư liệu sản xuất Sở hữu chung trên cơ sở góp vốn, đan xen giữa sở hữu tập thể và sở

hữu cá thể của xã viên

Công tác cán bộ HTX được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy và chính quyền địa phương, các chức danh chủ chốt của HTX do Đảng ủy chỉ định và người trong nội bộ HTX nắm giữ

Chức năng quản lý và điều hành được tách biệt, rõ ràng Bộ máy quản lý của HTX bao gồm Ban quản trị, Ban kiểm soát, Ban chủ nhiệm Chủ nhiệm HTX có thể do Trưởng ban quản trị kiêm nhiệm hoặc là người do HTX thuê HTX được quyền tự chủ trong công tác cán bộ của mình, các chức danh chủ chốt không nhất thiết phải do đảng viên hay người trong nội bộ HTX nắm giữ

Trang 28

Phân phối Bình quân, bao cấp Theo vốn, lao động và mức độ sử dụng dịch vụ của HTX

Nội dung hoạt

động

Trực tiếp tổ chức sản xuất, lao động tập trung, thủ tiêu sự độc lập của kinh tế hộ

Nội dung hoạt động đa dạng có thể làm dịch vụ, hoặc vừa làm dịch vụ vừa sản xuất kinh doanh đa ngành nghề, song đều hướng vào hỗ trợ kinh tế hộ tự chủ phát triển

Các nguyên tắc HTX được tôn trọng

Nguồn: Dựa trên luật HTX 2003 và 2012

2.1.4 Hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới

2.1.4.1 Cơ cấu tổ chức

Theo Luật HTX 2012, Đại hội thành viên HTX bầu ra Hội đồng quản trị, Hội đồng kiểm soát hoặc kiểm soát viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị bầu ra Giám đốc HTX, nhân viên nghiệp vụ cũng có thế là thành viên HTX những cũng có thể thuê ngoài

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức hợp tác xã chuyển đổi, hoạt động

theo Luật hợp tác xã 2012

Nguồn: Quốc hội (2012)

Bầu/thuê

ĐẠI HỘI THÀNH VIÊN

Giám sát

Trang 29

a) Hội đồng quản trị hợp tác xã nông nghiệp

Tất cả các HTX điều tra đều có Hội đồng quản trị do Đại hội thành viên HTX bầu ra Số lượng thành viên Hội đồng Quản trị có 5-7 người tuỳ theo quy

mô thành viên của HTX, trong đó có Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng

và các thành viên Tuy nhiên, những HTX có ít thành viên HTX không bầu Phó

Chủ tịch hội đồng Quản trị (Quốc hội, 2012)

Hợp tác xã nông nghiệp hoạt động theo Luật HTX năm 2003 không có Hội đồng quản trị mà chỉ có Ban chủ nhiệm HTX Trong Ban Chủ nhiệm có Chủ nhiệm HTX và Phó Chủ nhiệm HTX chứ không có cơ cấu quản lý như hiện nay Hiện nay, các xã viên HTX được gọi là các thành viên HTX

b) Hội đồng Kiểm soát/Kiểm soát viên

Tại các HTX đều có Hội đồng kiểm soát hoặc kiểm soát viên Các HTX

có số lượng thành viên HTX đông thì bầu ra Hội đồng kiểm soát có 3 người gồm

1 Trưởng hội đồng và 2 thành viên Những HTX có ít thành viên chỉ bầu 1 Kiểm soát viên

c) Giám đốc hợp tác xã

Đối với các HTX chuyển đổi hoạt động theo Luật HTX 2012 thường có 1 Giám đốc và 1 Phó giám đốc Các HTX mới thành lập thì cũng có những HTX có Giám đốc và Phó giám đốc, có HTX chỉ có Giám đốc mà không có Phó giám đốc và

chỉ có một số lượng rất ít Giám đốc HTX là người thuê ngoài (Quốc hội, 2012) d) Cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ

Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ thường được biên chế thành các bộ phận đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Giám đốc gồm:

- Bộ phận văn phòng thường có 1-3 nhân viên gồm nhân viên phụ trách công tác văn thư, hành chính, nhân sự Những HTX có ít thành viên chỉ có 1 nhân viên phụ trách công tác này

- Bộ phận kế hoạch SXKD: Bộ phận này ít nhất cũng có 2 nhân viên, thông thường là nhiều hơn tuỳ theo quy mô hoạt động của HTX Các nhân viên trong bộ phận được Giám đốc phân công nhiệm vụ cụ thể trong các công việc: Lập kế hoạch SXKD; theo dõi, chỉ đạo thực hiện phương án SXKD; phụ trách việc cung ứng vật tư và thu mua nông sản

- Bộ phận kế toán: Gồm Kế toán trưởng, (ở các HTX có nhiều thành viên

Trang 30

hoặc có quy mô doanh thu lớn thì có thêm nhân viên kế toán tổng hợp), các kế

toán viên, nhân viên thủ quỹ và quản lý kho

Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế và tham khảo một số công trình nghiên cứu cho thấy nổi lên một số vấn đề như sau:

- Ở phần lớn các HTX chuyển đổi, hoạt động theo Luật HTX 2012 thì các hoạt động SXKD của HTX còn chịu sự chi phối của cấp uỷ Đảng, Chính quyền địa phương Một số lượng không nhỏ Giám đốc HTX là thành viên cấp uỷ Đảng Tình trạng này dẫn tới không tách bạch được nội dung hoạt động kinh tế của HTX (vì HTX là tổ chức kinh tế) với việc thực hiện nhiệm vụ xã hội của địa phương

- Trong quản lý, điều hành, ở không ít HTX đã chuyển đổi và hoạt động theo Luật HTX 2012 và các HTX mới thành lập, quyền lực của Giám đốc HTX còn cao hơn cả Hội đồng Quản trị HTX vì Giám đốc đồng thời là Trưởng hội đồng quản trị

2.1.4.2 Phương thức hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới

a) Đối với hợp tác xã chuyển đổi, hoạt động theo Luật Hợp tác xã 2012

Đa số HTX chuyển đổi hoạt động theo Luật hoạt động đa năng, tập trung

vào các khâu dịch vụ trước và trong sản xuất (làm đất, thuỷ nông, cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, cung ứng phân bón, thuốc thú y, dịch vụ BVTV, dịch

vụ thú y, sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phảm) Rất ít HTX tổ chức được khâu

dịch vụ làm đất vì không cạnh tranh được với tư nhân Cũng chỉ rất ít HTX tổ

chức được các khâu dịch vụ sau sản xuất (chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản)

Hiện tại chỉ có 2-3% số HTX có hoạt động chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản

(Nguyễn Đình Chính, 2011) Tổ chức hoạt động SXKD của các HTX chuyển đổi

theo Luật HTX 2012 được mô tả ở sơ đồ sau:

Trang 31

Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã

chuyển đổi, hoạt động theo Luật Hợp tác xã 2012

Nguồn: Quốc hội (2012)

b) Đối với hợp tác xã mới thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã 2012

Phần lớn HTX mới thành lập là các HTX chuyên ngành (đơn năng) nên

tính chuyên môn hoá cao hơn Tuy nhiên các HTX kiểu này lại có ít thành viên

và hoạt động theo kiểu doanh nghiệp (mục tiêu chính là lợi nhuận)

Tổ chức hoạt động SXKD phổ biến của các HTX mới thành lập, hoạt động theo Luật HTX 2012 được mô tả ở sơ đồ sau:

Trang 32

Hình 2.3 Sơ đồ tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh

của hợp tác xã mới thành lập

Nguồn: Quốc hội (2012)

Phương án tổ chức sản xuất phổ biến ở các HTX mới thành lập là HTX đại diện mua chung đầu vào cho thành viên và tổ chức dịch vụ chế biến hoặc bảo quản hoặc tiêu thụ sản phẩm cho thành viên Thành viên tổ chức sản xuất theo phương án SXKD đã được Đại hội thành viên quyết định Đối với các đối tác không phải là thành viên HTX thì HTX cung ứng dịch vụ đầu vào cho họ theo hợp đồng thoả thuận dịch vụ, không có ưu đãi Tuy nhiên, khảo sát thực tế cho thấy, trong số các HTX mới thành lập thì số lượng HTX tổ chức được khâu chế biến nông sản cũng không nhiều và cũng rất ít HTX hoạt động dịch vụ thuỷ nông

và dịch vụ làm đất vì cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật của hoạt động thuỷ lợi và cơ giới hoá làm đất đòi hỏi lượng vốn đầu tư rất lớn, các HTX mới thành lập không đủ tiềm lực Mặt khác, các công trình thuỷ nông hiện có chủ yếu là tài sản

Mua chung đầu vào

Phục vụ

Kinh doanh

Trang 33

công nên chính quyền địa phương giao cho HTX chuyển đổi để quản lý sử dụng

2.1.5 Nội dung phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới

2.1.5.1 Phát triển hợp tác xã nông nghiệp dựa trên quy mô sản xuất

Quy mô của HTX phụ thuộc vào số lượng thành viên tham gia vào HTX, theo luật HTX năm 2012 số lượng thành viên tham gia ít nhất 07 thành viên sẽ thành lập được một HTX Tuy nhiên, số lượng thành viên tham gia đối với HTX nông nghiệp thường là đông thành viên Ngoài số lượng thành viên thì quy mô của doanh nghiệp còn được thể hiện bằng vốn góp của các thành viên, vốn góp tối thiểu là số vốn mà cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân phải góp vào vốn điều lệ của HTX, liên hiệp HTX theo quy định của điều lệ HTX, liên hiệp HTX để trở thành thành viên, HTX thành viên

2.1.5.2 Phát triển hợp tác xã nông nghiệp dựa vào loại hình sản xuất

Đa số HTX chuyển đổi hoạt động theo Luật hoạt động đa năng, tập trung

vào các khâu dịch vụ trước và trong sản xuất (làm đất, thuỷ nông, cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, cung ứng phân bón, thức ăn chăn nuôi (TĂCN), thuốc BVTV, thuốc thú y, dịch vụ BVTV, dịch vụ thú y)

Đối với HTX nông nghiệp kiểu mới thì bên cạnh việc cung ứng các loại hình dịch vụ cho bà con nông dân thì hiện nay các HTX kiểu mới đang tham gia vào sản xuất các loại sản phẩm chủ yếu là sản phẩm nông nghiệp, những sản phẩm sạch có chất lượng cao, không chỉ liên kết với các doanh nghiệp tiêu thụ trong nước mà còn các doanh nghiệp nước ngoài Một số HTX nhập dây chuyền công nghệ hiện đại sản xuất sản phẩm, phục vụ cho việc xuất khẩu, mang lại hiệu quả kinh tế cao

2.1.5.3 Phát triển hợp tác xã nông nghiệp dựa vào nguồn tài chính, đầu tư,công nghệ và phân phối thu nhập

Nguồn vốn kinh doanh

Nguồn vốn kinh doanh do thành viên HTX đóng góp theo quy định của Luật HTX và theo điều lệ HTX Lượng vốn góp theo quy định của điều lệ HTX nhưng 1 thành viên chỉ được đóng góp tối đa dưới 20% tổng vốn điều lệ Trước kia không quy định mức góp vốn của các xã viên

Phân phối thu nhập

Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, thu

Trang 34

nhập của HTX được phân phối như sau:

- Trích lập quỹ đầu tư phát triển với tỷ lệ không thấp hơn 20% thu nhập; trích lập quỹ dự phòng tài chính với tỷ lệ không thấp hơn 5% thu nhập;

- Trích lập các quỹ khác theo quyết định của Đại hội xã viên (ĐHXV);

- Thu nhập còn lại sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính và trích lập các quỹ được phân phối cho xã viên theo nguyên tắc: (i) theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của xã viên, theo công sức lao động đóng góp của xã viên đối với HTX tạo việc làm; (ii) Phần còn lại được chia theo vốn góp; (iii) Tỷ lệ và phương thức phân phối cụ thể do điều lệ HTX quy định; (iv) Thu nhập đã phân phối cho xã viên là tài sản thuộc sở hữu của xã viên Xã viên, có thể giao thu nhập đã phân phối cho HTX quản lý, sử dụng theo thỏa thuận với HTX

Đầu tư và công nghệ của HTX

Để hoạt động có hiệu quả đòi hỏi các HTX phải đáp ứng được những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất kỹ thuật:

- HTX phải có đủ mặt bằng để tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: xây dựng trụ sở điều hành của HTX, xây dựng nhà xưởng, xây dựng hệ thống kho tàng bảo quản, dự trữ nguyên liệu và thành phẩm

- Để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, HTX phải có đủ trang thiết

bị, máy móc, dây chuyền công nghệ, phương tiện vận chuyển… Trang thiết bị, máy móc, dây chuyền công nghệ chế biến phù hợp với hoạt động sản xuất và yêu cầu chất lượng sản phẩm đầu ra Mức độ hiện đại của công nghệ phụ thuộc vào

khả năng đầu tư và phương án tổ chức hoạt động SXKD của HTX

2.1.5.4 Phát triển hợp tác xã nông nghiệp dựa trên kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Các yếu tố đảm bảo cho HTX nông nghiệp có thể hoạt động sản xuất kinh doanh tốt và phát triển được thị trường tiêu thụ sản phẩm là:

- Các hoạt động của HTX phải hướng đến phục vụ thành viên là chính, phải xác định thành viên là khách hàng chính sử dụng các dịch vụ của HTX

- HTX cần phải làm tốt được khâu tiếp thị để nắm bắt nhu cầu thị trường

cả về khối lượng, chất lượng và thị hiếu của nhiều loại thị trường: Các DN chế biến; các DN thương mại; người tiêu dùng cuối cùng

- Giá thành sản phẩm do HTX chế biến phải có sức cạnh tranh, khối lượng

Trang 35

Cơ chế chính sách tốt sẽ ảnh hưởng tốt đến phát triển các HTX nông nghiệp kiểu mới Cụ thể nhà nước tạo điều kiện về cơ chế vay vốn cho các HTX nông nghiệp sẽ giúp các HTX tiếp cận được với vốn, mở rộng được quy mô và chất lượng trong sản xuất kinh doanh; chính sách tạo điều kiện về mặt bằng, giúp các HTX nông nghiệp có mặt bằng thuận lợi để sản xuất kinh doanh ngược lại nếu cơ chế chính sách không tốt sẽ tác động tiêu cực đến phát triển các HTX nông nghiệp

Trong tình hình chung hiện nay, các HTX còn non yếu và khó khăn nhiều mặt Do đó, sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua hệ thống chính sách là hết sức quan trọng Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước bao gồm cả các chính sách tài chính và phi tài chính và cần tập trung giải quyết các vấn đề: i) Tạo điều kiện về mặt bằng cho các HTX; ii) Hỗ trợ HTX tiếp cận các nguồn vốn tín dụng thuận lợi; iii) Hỗ trợ đào tạo nhân lực, hỗ trợ khuyến nông; iv) Hỗ trợ công tác quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết; v) Quản lý thị trường; vi) Hỗ trợ phát triển thị trường và xúc tiến thương mại…

Hỗ trợ các HTX thông qua các chính sách: i) Hỗ trợ về đất đai, mặt bằng SXKD, ii) Ưu đãi về tài chính, tín dụng và thuế; iii) Hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật và khuyến nông; iv) Hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực bộ máy điều hành HTX, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho HTX; vi) Quản lý chặt chẽ thị trường vật tư nông nghiệp, chống buôn lậu và gian lận thương mại trong hoạt động cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm

2.1.6.2 Nguồn lực của hợp tác xã

a) Kinh phí hoạt động

Trang 36

Vốn đầu tư là điều kiện tiên quyết cho sự hình thành và hoạt động của HTX Vốn đầu tư có vai trò rất lớn trong phát triển các HTX nông nghiệp kiểu mới, các HTX nông nghiệp muốn phát triển, mở rộng sản xuất nhưng thiếu vốn

sẽ rất khó khăn trong việc phát triển

Qui mô vốn đầu tư của HTX phụ thuộc vào qui mô SXKD và khả năng đầu tư của HTX Để tổ chức hoạt động, HTX cần có về lượng vốn đầu tư khá lớn Trong điều kiện hiện nay, khi mà các HTX còn đang rất khó khăn về vốn tự

có (vốn góp của thành viên) thì việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng thuận lợi để vay vốn mua sắm trang thiết bị, công nghệ là hết sức quan trọng

b) Cơ sở vật chất

Đối với các HTX nông nghiệp kiểu mới thì cơ sở vật chất kỹ thuật đó là

hệ thống nhà xưởng sản xuất, hệ thống kho bảo quản, hệ thống nhà làm việc, văn phòng của HTX và cửa hàng kinh doanh, bên cạnh đó yếu tố kỹ thuật là hệ thống máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất sản phẩm hàng hóa của HTX Hệ thống

cơ sở vật chất đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh đối với các HTX rất quan trọng nó góp phần vào thành công trong hoạt động của HTX

Các HTX hiện nay cần phải có những sự đầu tư đúng đắn cho việc trang

bị cơ sở vật chất, đáp ứng yêu cầu sản xuất Để hoạt động có hiệu quả đòi hỏi các

HTX phải đáp ứng được những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất kỹ thuật:

Hợp tác xã phải có đủ mặt bằng để tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: xây dựng trụ sở điều hành của HTX, xây dựng nhà xưởng, xây dựng hệ thống kho tàng bảo quản, dự trữ nguyên liệu và thành phẩm

Để phát triển hoạt động chế biến/sơ chế lúa gạo, HTX phải có đủ trang thiết bị, máy móc, dây chuyền công nghệ, phương tiện vận chuyển… Trang thiết

bị, máy móc, dây chuyền công nghệ chế biến phù hợp với hoạt động yêu cầu chất lượng sản phẩm đầu ra Mức độ hiện đại của công nghệ phụ thuộc vào khả năng

đầu tư và phương án tổ chức hoạt động SXKD của HTX (sơ chế, chế biến ra bán thành phẩm, chế biến sâu…)

2.1.6.3 Các yếu tố thuộc về thành viên hợp tác xã

a) Nhận thức của các thành viên hợp tác xã và cán bộ hợp tác xã

Nhận thức của các thành viên HTX về cách thức hoạt động của HTX kiểu mới rất quan trọng Các thành viên HTX phải nhận thức rõ mục tiêu hoạt động

Trang 37

của HTX hiện nay là vì lợi ích của các thành viên chính vì vậy khi tham gia thành viên HTX họ được hưởng rất nhiều từ những lợi ích mà HTX mạng lại chứ không như theo HTX kiểu cũ là vì lợi nhuận, hiệu quả hoạt động không cao thì lợi nhuận được chia không nhiều nên nhiều người tham gia nhưng với trách nhiệm và vai trò không cao nên ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của HTX

b) Trình độ của cán bộ hợp tác xã

Để hoạt động SXKD của HTX đạt hiệu quả mong đợi, các HTX phải có

đủ đội ngũ lao động đủ đáp ứng các yêu cầu về quản lý, điều hành, và cần một đội ngũ lao động tinh thông các hoạt động trong khâu chế biến, tiêu thụ sản phẩm

và phát triển thị trường tiêu thụ

Trình độ của cán bộ HTX nông nghiệp kiểu mới ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát triển các HTX

Một HĐQT gồm những thành viên có phẩm chất tốt, có đủ năng lực sẽ xây dựng và ra quyết định phương án SXKD phù hợp với bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay

Một ban giám đốc gồm những thành viên năng động sáng tạo, đủ sức điều hành các hoạt động SXKD theo phương án được duyệt sẽ giúp HTX sản xuất kinh doanh đi đúng hướng

Một đội ngũ lao động kỹ thuật tốt sẽ đủ sức vận hành các trang thiết bị và dây chuyền công nghệ

c) Công tác tuyên truyền

Tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của thành viên về vai trò, lợi ích của HTX và chấp hành tốt điều lệ HTX tác động rất lớn đến nhận thức của các thành viên về HTX nông nghiệp kiểu mới từ đó giúp họ xác định rõ được lợi ích cũng như trách nhiệm của họ, giúp HTX nông nghiệp ngày càng phát triển mạnh hơn

Một số HTX còn lúng túng trong việc chuyển đổi bởi đây là mô hình mới

đã thay đổi căn bản về quan hệ sở hữu, quan hệ kinh tế, quan hệ phân phối, và mức vốn góp tối đa đối với các thành viên khi tham gia HTX kiểu mới

Nhiều cán bộ đảng viên và người dân còn mặc cảm với HTX kiểu cũ dẫn đến chưa thấy hết vai trò quan trọng của khu vực kinh tế tập thể, thậm chí hiểu chưa đúng bản chất, vị trí, vai trò, nguyên tắc hoạt động của HTX, chưa phân biệt

Trang 38

được sự khác nhau giữa HTX kiểu cũ với HTX kiểu mới

Vì vậy cần phải mời các chuyên gia, các tấm gương điển hình về xây dựng HTX ở các địa phương khác đã thực hiện thành công để nâng cao nhận thức của

người dân, thay đổi cách nhìn nhận về hoạt độngcủa HXT

2.1.6.4 Thị trường đầu vào, đầu ra cho nông nghiệp

Đối tượng sản xuất nông nghiệp là những sinh vật, cho nên cần phải theo dõi, chăm sóc tỉ mỉ, thường xuyên để đáp ứng đúng kỹ thuật, kịp thời các yêu cầu sinh học của cây trồng, vật nuôi Điều đó quyết định năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất nông nghiệp Chỉ có hình thái kinh tế gia đình với cơ chế “tự thuê mướn sức lao động của chính mình”, “tự bóc lột mình” và lấy công làm lãi, nhờ gắn trực tiếp lợi ích của mỗi người và cả cộng đồng gia đình vào kết quả cuối cùng của sản xuất nông nghiệp, đã tạo ra khả năng lớn hơn các loại hình doanh nghiệp khác trong việc vượt qua tình huống rủi ro do thiên nhiên hay do thị trường gây ra

Mặt khác, kinh tế nông hộ không thể tự thân trở thành một đơn vị kinh tế hàng hóa phát triển trong nền kinh tế thị trường trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của các doanh nghiệp lớn, trước hết trong dịch vụ “đầu vào”, “đầu ra” của kinh tế nông hộ Do vậy, tất yếu các nông hộ phải liên kết lại với nhau trong các tổ chức kinh tế hợp tác của mình, tạo ra sức mạnh mới cạnh tranh trong thị trường, tự bảo đảm hoạt động dịch vụ “đầu vào”,” đầu ra” cho kinh tế hộ đạt kết quả cao hơn Vì thế HTX nông nghiệp trở thành chỗ dựa vũng chắc để kinh tế hộ trở thành đơn vị sản xuất hàng hóa tự chủ có khả năng cạnh tranh đạt hiệu quả cao trong nền kinh tế thị trường

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.2.1 Kinh nghiệm các nước trên thế giới về phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới

2.2.1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản

* Tổ chức hệ thống HTX

a)Về cơ cấu tổ chức:

- Cấp quốc gia phân theo ngành kinh tế thì gồm: Liên đoàn thịnh vượng HTXNN quốc gia; Liên đoàn tín dụng HTXNN quốc gia; Ngân hàng nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; Liên hiệp HTXNN quốc gia Nhật Bản; Liên

Trang 39

đoàn Bảo hiểm HTXNN quốc gia, Tổng công ty du lịch Nokyo; ngoài ra còn có Liên đoàn xuất bản và thông tin HTXNN quốc gia, hiệp hội IE-NO-HIKARI về các hoạt động xuất bản, giáo dục và văn hoá (Vũ Duy Hưng, 2013)

- Cấp địa phương: Liên hiệp HTXNN và Liên đoàn HTX địa phương

(hoặc văn phòng của các Liên đoàn Quốc gia) là cơ quan quản lý của địa phương

thực hiện chức năng quản lý HTX nông nghiệp tại Nhât Bản

- Cấp thành phố, làng, xã, thị trấn thì có HTXNN đa chức năng sơ

cấp, ngoài ra trong HTXNN còn có Hội phụ nữ (nâng cao đời sống) và Hội thanh niên (khuyến khích thanh niên tham gia vào HTXNN)

Hình 2.4 Sơ đồ tổ chức hệ thống hợp tác xã tại Nhật Bản

Nguồn: Vũ Duy Hưng (2013)

Trong hệ thống ba cấp này, thông thường một giám đốc HTX cơ sở (JA)

sẽ được bầu làm giám đốc một liên đoàn/liên hiệp cấp tỉnh và có thể kiêm nhiệm

cả ở cấp quốc gia

Một trong những đặc điểm nổi bật trong quản lý kinh doanh của JA là một

hệ thống tích hợp trong đó các hoạt động được thực hiện một cách thống nhất và

song song với nhau, ví dụ như sự liên kết giữa các hoạt động kinh doanh (như tiếp thị và tiêu thụ) cùng với các hoạt động tín dụng và bảo hiểm Hệ thống tích

hợp này mang lại lợi thế cho các thành viên của HTX khi có thể được hưởng lợi

từ nhiều dịch vụ thông qua HTX

Mỗi mảng hoạt động của JA được kết hợp chặt chẽ và bổ sung cho các hoạt động khác, do đó nếu có thua lỗ phát sinh từ hoạt động tiếp thị và kinh

Cấp làng, xã, thị trấn, thành phố Cấp tỉnh Cấp quốc gia

Thành viên HTX:

- Thành viên thường xuyên

- Thành viên liên kết

HTX cơ sở (JA): Liên đoàn kinh doanh

Liên đoàn kinh doanh

Liên hiệp Liên hiệp

Trang 40

doanh thì sẽ được bù đắp từ các hoạt động thu lợi nhuận kinh doanh như tín dụng

và bảo hiểm Nhưng trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt của toàn cầu hóa, phương pháp này sẽ không mang lại hiệu quả lâu dài, vì vậy việc nghiên cứu thay đổi cách quản lý các hoạt động kinh doanh đã được thực hiện bởi JA trong một thời gian dài và hiện nay đang hướng tới việc độc lập tài chính cho từng hoạt động của HTX (Vũ Duy Hưng, 2013)

b) Thành viên tham gia hợp tác xã

Phần lớn nông dân Nhật Bản đều tham gia vào HTXNN Thành viên tham gia HTX có 2 loại:

- Thành viên thường xuyên: Nông dân, hộ nông dân, hội nông nghiệp, doanh nghiệp tham gia vào SXNN Việc quy định điều kiện trở thành thành viên HTX phụ thuộc vào Điều lệ của từng HTX, tuy nhiên HTX thường yêu cầu người xin gia nhập phải tham gia SXNN ít nhất 90 ngày/1 năm Các tổ chức tham gia SXNN cũng có thể trở thành thành viên HTX Các thành viên trong một gia đình có thể trở thành thành viên HTX nếu những thành viên này cũng là nông dân tham gia SXNN Tính đến năm 2008, có khoảng 9.490.000 thành viên

HTXNN tức là khoảng 12.330 thành viên/1 HTX (Vũ Duy Hưng, 2013)

- Thành viên liên kết: người dân cư trú trên địa bàn hoạt động của HTXNN Những thành viên này sử dụng dịch vụ của HTX tuy nhiên không có quyền biểu quyết trong Đại hội thành viên hoặc bầu hội đồng giám đốc HTX Dịch vụ cung cấp cho các thành viên này bị giới hạn ở mức độ 20% so với tổng dịch vụ HTX cung cấp

Ngoài ra, thành viên trong HTX có thể lập nên các nhóm thành viên: Thành viên trong HTX tập hợp trong các nhóm khác nhau theo nhu cầu chung của mỗi nhóm nhằm tạo sự liên kết mật thiết hơn trong HTX như các nhóm sản xuất theo địa bàn, nhóm sản xuất theo sản phẩm chung, Hội thanh niên, Hội phụ

nữ và các nhóm sử dụng dịch vụ khác của HTX

Trước đây, ở Nhật Bản, việc tham gia HTX là bắt buộc đối với nông dân, nhưng hiện nay có những nông dân không tham gia HTX, đa số những người không tham gia HTX là những người có kỹ thuật cao HTX chỉ là đại diện cho lớp nông dân trung bình và HTX ở Nhật Bản đã trở thành hoạt động độc lập như một DN tư vấn, chuyển giao, kết nối, tiêu thụ sản phẩm

c) Hoạt động sản xuất kinh doanh

Ngày đăng: 12/06/2021, 14:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm